We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 28 August 2013

Tổ Quốc của tôi là Việt Nam Cộng Hòa







NHA TRANG, NƠI BẠN TÔI NẰM ĐÓ
Kính tặng hương hồn gia đình HQ Trung tá Hà Ngọc Lương
Tôi vừa về, từ nhà thầy cô Bùi Ngoạn Lạc. Tôi xuống thăm và hoàn trả cô Lạc quyển Tư Nguyên thi tập III cô cho tôi mượn mấy tuần nay. Khi ra về, thầy Lạc đưa tặng tôi quyển Đặc san Khánh Hòa - Nha Trang. Một người học trò cũ đã gởi biếu thầy cô hai quyển, thầy tặng lại anh Thể và tôi một quyển khi biết chúng tôi chưa có Đặc san Khánh Hòa - Nha Trang Xuân Quí Mùi 2003 vừa mới phát hành từ Houston, Texas.
Về đến nhà, tôi ra mail box lấy thư vào. Thật là vui khi thấy một Đặc san Khánh Hòa - Nha Trang nữa do một chị bạn gởi tặng, chị Hà Lan Nha. Trước đây một tuần chị Lan Nha phone nói chuyện với tôi. Chị nói sắp đến ngày giỗ người anh đáng kính của chị là Trung tá Hà Ngọc Lương. Chị cảm thấy buồn nên chị gọi phone chia xẻ với tôi. Lại một lần nữa, chị Lan Nha nói lời cảm tạ chúng tôi đã tẩm liệm chôn cất gia đình anh Lương tất cả năm người gồm vợ chồng con cái. Trung tá Lương đã bắn vợ con rồi tự sát tại Trường Sinh Viên Sĩ Quan khi toàn Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang đã di tản vào Sàigòn. Qua phone, tôi biết chị sắp khóc, tôi tế nhị lái câu chuyện sang hướng khác vui hơn.
Nhìn hình bìa in nhiều thắng cảnh Nha Trang trên Đặc san, lòng tôi bâng khuâng xao xuyến nhớ về quê hương ngày cũ. Nha Trang, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Nha Trang, nơi đã gói tròn tuổi thơ và tuổi học trò đầy thơ mộng của tôi, với muôn vàn kỷ niệm tuyệt vời. Nha Trang, nơi tôi đã có mối tình tuyệt đẹp với một chàng sinh viên sĩ quan Hải quân Khóa 12, Đệ Nhất Song-Ngư (Hải Quân Thiếu tá Hà Tấn Thể). Trong những chuyến hải hành, nếu chiến hạm bỏ neo tạm nghỉ bến Cầu Đá, chàng Thiếu úy trẻ tuổi mới ra trường phóng nhanh lên Phương Sài gặp tôi, cô nữ sinh đệ 1 ban C đang học tại trường Võ Tánh (lúc đó Nữ Trung Học chưa có lớp đệ nhất). Rồi hai đứa chúng tôi, tay trong tay, dạo chơi trên bãi biển cát trắng phau mịn màng. Chúng tôi nói cho nhau nghe niềm thương nỗi nhớ. Hai năm sau chúng tôi kết hôn và chúng tôi giữ mối tình đẹp đó mãi đến bây giờ.
Tôi đã chứng kiến ngày Nha Trang thất thủ. Tôi có ý nghĩ, Nha Trang ví như cô thiếu nữ hiền lành xinh đẹp đang rơi vào tay tên cướp bạo tàn. Tội nghiệp Nha Trang thơ mộng xinh đẹp của tôi! Tôi yêu mến Nha Trang như yêu mến người tình thủy chung muôn thủa. Nha Trang ơi, làm sao tôi có thể quên Nha Trang được với dường ấy kỷ niệm, dù tôi đã xa Nha Trang tròn 18 năm chưa một lần về thăm.
Sau ngày Nha Trang lọt vào tay bọn cướp, bao nhiêu biến đổi đau thương đến với dân Nha Trang. Tôi cũng trôi giạt theo giòng đời tận cùng đau khổ như mọi người.
Nhìn lại hình bìa với những thắng cảnh Nha Trang thủa nào, tôi xúc động thở dài.
Tôi tưởng tượng đi từ hướng cầu Xóm Bóng, qua Tháp Bà độ hai cây số là đến Đồng Đế. Đồng Đế có nhiều địa danh đáng ghi nhớ. Có Trừơng Hạ Sĩ Quan. Có thắng cảnh Hòn Chồng với biết bao kỷ niệm đẹp in sâu trong lòng tôi. Có Bãi Dương xanh ngắt một màu, suốt ngày reo vui hòa nhạc cùng sóng biển Hòn Chồng.
Đồng Đế có hai nghĩa trang nằm dọc hai bên Quốc Lộ 1 . Dãy bên trái có em trai tôi đang yên nghỉ. Em lìa đời sớm, khi còn rất trẻ. Có con gái của chúng tôi, Hà Tấn Thảo Nguyên, đang yên giấc ngàn thu, gần phần mộ của bác sĩ Hà Thúc Nhơn. Nghĩa trang bên phải có cha chồng tôi nằm yên vĩnh viễn, mặc cho giòng đời trôi chảy. Cách đó vài trăm thước về hướng đông bắc có một dãy năm nắm mộ thấp lè tè hoang vu đầy cỏ daị vì lâu ngày không ai khói hương săn sóc. Nơi an nghỉ ngàn thu của bạn tôi đó, gia đình Hải Quân Trung tá Hà Ngọc Lương & Lê thị Kỳ Duyên và các con.
Trước khi đi vượt biên hai ngày (19/5/84), anh Thể và tôi từ Cam Ranh ra nghĩa trang Đồng Đế thăm viếng và nói lời từ biệt với bạn tôi lần cuối. Nếu hồn anh chị Lương linh thiêng, xin phù hộ cho gia đình tôi đi trót lọt trên bước đường trốn khỏi ngục tù Cộng sản. Chúng tôi phải vất vả tìm kiếm mới nhận ra 5 nấm mộ mà 9 năm trước anh Thể và ông Khánh (anh của chị Lương) chính tay đào huyệt chôn cất họ. Năm nấm mộ giờ đây chỉ là năm nấm đất thấp lè tè hoang vu đầy cỏ dại. Tấm bảng gỗ viết bằng sơn hàng chữ “NƠI AN NGHỈ CỦA GIA ĐÌNH HÀ NGỌC LƯƠNG & LÊ THỊ KỲ DUYÊN” đã ngã xuống mục nát từ bao giờ vì đã trải qua gần một thập niên phong ba bão táp. Thì giờ qúa eo hẹp, phải về Cam Ranh cho kịp chuyến xe đò, chúng tôi không có thời giờ sửa sang săn sóc chỗ nằm cho anh chị Lương và các cháu được, tôi thương cảm đứng khóc mùi. Anh Thể thì cố nén xúc động, tay cầm nén nhang đứng trước mộ anh Lương thì thầm tâm sự. Tôi tế nhị đứng tránh ra xa. Sau đó, tôi thấy anh Thể đưa tay gạt nhanh hàng nước mắt đang chảy tràn trên má, trước khi cắm nén nhang xuống đầu nấm mộ anh Lương.
Tôi tin có sự phù hộ giúp đỡ của anh Lương nên gia đình tôi đã đi trót lọt. Chúng tôi được định cư ở Mỹ vào tháng 3/85, taị San Jose, California.
Đầu thập niên 1990, tôi được tin từ Việt Nam, bạo quyền Cộng sản ra lệnh giải tỏa san bằng 2 khu nghĩa địa Đồng Đế để xây cao ốc. Ai có thân nhân chôn trong 2 khu đất đó phải đào lên cải táng hay hỏa táng.
Tôi biết tất cả họ hàng thân nhân anh Lương đều ở Sàigòn. Sau ngày Sàigòn thất thủ, thân nhân anh chỉ nghe phong phanh gia đình anh đã tự sát taị Nha Trang. Họ tuyệt nhiên không biết anh tự sát bằng cách nào, ai chôn cất và chôn tại đâu. Sau đó vài năm có người em trai anh Lương, ra Nha Trang dò la tin tức về cái chết gia đình người anh ruột mình. Nhưng chú ấy chẳng biết hỏi ai vì vào thời điểm đó anh Thể bị bọn Cộng sản cầm tù tại A30, Tuy Hòa. Còn tôi sau khi sanh cháu bé, đã dọn vào sinh sống tại Cam Ranh. Chú ấy cũng chẳng biết thân nhân của chị Kỳ Duyên ở đâu để mà thăm hỏi. Đó là lý do 9 năm sau, chúng tôi đến viếng mộ anh chị Lương lần cuối, thấy 5 nắm đất thấp lè tè đầy cỏ dại, chứng tỏ đã lâu lắm rồi không người viếng thăm hương khói. Có thể gia đình ông Khánh (anh của chị Kỳ Duyên) đã dời chỗ ở hay bị bắt buộc đi vùng kinh tế mới, không còn ở Nha Trang, nên chẳng săn sóc mộ phần gia đình người em gái được. Hơn nữa, sống dưới chế độ Cộng sản, con người làm quần quật còn không đủ cơm ăn áo mặc thì tiền bạc và thì giờ đâu mà lo cho người đã chết. Thế nên tôi nghĩ hài cốt của gia đình anh chị Lương chắc đã bị san bằng làm nền cao ốc. Tội nghiệp 5 nắm xương tàn của bạn và cháu tôi !
Lui về sáng ngày 1/4/75 tại cư xá Lê văn Duyệt, Nha Trang.
Trung úy Gia đem xe về đón những gia đình nào chưa xuống kịp chuyến chiều hôm qua để di tản vào Sàigòn vì tàu sắp nhổ neo. Chỉ còn sót lại 2 gia đình. Gia đình Trung tá Hà Ngọc Lương và gia đình Thiếu tá Hà Tấn Thể. Với ngôn ngữ nhà binh ngắn gọn, anh Lương đã nói với anh Thể, khi thấy anh Thể và tôi đang đứng buồn bã trước nhà:
- Sao Thiếu tá và chị còn đứng đây chưa lên xe? Túi xách và các cháu đâu?
- Gia đình tôi ở laị, không di tản, Commandant!
- Taị sao ?
- Như Commandant thấy đó nhà tôi mang bầu sắp đến ngày sanh, sợ chen lấn xuống tàu có thể nguy hiểm đến tính mạng cả mẹ lẫn con, không dám đi. Tôi không thể di tản khi không có vợ con tôi cùng đi.
Anh Lương nghe xong liền rút chùm chìa khóa trong túi ra quăng về phía anh Thể. Anh Thể chụp lấy. Cả hai không nói một tiếng nào. Trung tá Lương trong bộ quân phục, nhanh nhẹn nhảy lên xe ngồi bên cạnh tài xế. Tôi mang bụng bầu, cố nén xúc động, bước về phía cửa xe, đưa tay nắm tay chị Kỳ Duyên:
- Thôi, anh chị và các cháu đi. Nghe đồn chắc sẽ trung lập. Hy vọng sau này chúng mình sẽ gặp lại nhau.
Đó là lần cuối cùng chúng tôi nói chuyện và siết tay nhau. Tôi đâu có ngờ tối hôm đó (đêm 1/4/75 rạng 2/4/75) gia đình bạn tôi tất cả 5 người đều chết thảm. Trung tá Lương đã bắn vợ con rồi quay súng bắn vào đầu tự sát. Anh Lương đã thề không đội trời chung với Cộng sản thì nay anh đã thực hiện đúng lời hứa. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao gia đình anh Lương lại ở trong phòng làm việc của anh, phòng Văn Hóa Vụ, trong khi Trung úy Gia lại có mặt ở Sàigòn.
Mãi đến sáng ngày 5/4/75 chúng tôi mới được một người lính Hải quân làm việc tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang tới nhà nói cho biết có gia đình một sĩ quan cấp tá tự sát tại phòng Văn Hóa Vụ. Anh Thể nghe vậy cấp tốc xuống đó xem ai. Anh Thể về, mặt còn in nét kinh hoàng:
- Gia đình anh chị Lương, em ạ!
Tôi òa lên khóc:
- Trời ơi! Sao laị chết thảm thế này! Anh chị Lương và các cháu ơi!
Sau một hồi ôm đầu suy nghĩ, anh Thể ôn tồn nói với tôi:
- Chúng ta phải chôn cất gia đình anh Lương thôi em ạ. Xác đang sình lên, sắp rửa thối ra, phải chôn ngay thôi. Anh biết thân nhân anh Lương đều ở Sàigòn. Nhưng bên chị Lương, có ai ở Nha Trang không em ?
Nghe đến đây mắt tôi sáng lên, tôi đáp nhanh:
- A, có! Ông ta tên là Khánh, đang dạy học ở Võ Tánh. Có lần chị Lương đã nói với em như vậy.
- Vậy thì tốt qúa! Em lo đi liên lạc với ông Khánh xem sao. Để ông Khánh cùng anh lo việc mai táng. Anh đi đặt mua 5 cái hòm đây!
Sau khi anh Thể phóng xe Vespa ra cổng, tôi cũng lên chiếc xe đạp mini phóng nhanh đi tìm nhà ông Khánh, quên mình đang mang thai gần đến ngày sanh.
Giáo sư Lê Quốc Khánh là một người đàn ông thể chất ốm yếu, nhưng tình cảm thì chứa chan. Sau khi nghe tôi tóm tắt trình bày vụ tự sát, ông Khánh òa lên khóc nức nở. Ông ôm đầu rên rỉ:
- Kỳ Duyên ơi, sao em lại bị chết thảm như vầy! Các cháu tôi có tội tình gì hở trời! Chú Lương ơi, tuần trước chú chở vợ con đến thăm tôi. Chú nói nếu Cọng sản tràn vào, chú sẽ bắn vợ con rồi tự sát. Nhất quyết, chú không đội trời chung với Cộng sản. Cây Colt của chú, chú đã nạp đạn. Tưởng chú nói là nói vậy, ai ngờ chú làm thật! Thảm thiết qúa chú Lương ơi!
Tôi gạt nước mắt ôn tồn khuyên nhủ :
- Dù ông có than khóc đến đâu, anh chị Lương và các cháu cũng không sống laị được. Hãy nhìn vào thực tại, các thi hài cần được chôn cất ngay. Ông nên xuống ngay Trung Tâm Huấn Luyện, phối hợp với nhà tôi lo việc chôn cất. Anh Thể tôi đang đi mua hòm chở xuống.
Trung tá Hà Ngọc Lương là một sĩ quan hào hoa, tuấn tú và tài giỏi. Anh là thủ khoa khóa 9 Sĩ quan Hải quân Nha Trang (Hải Quân Trung tá HÀ-NGỌC-LƯƠNG, Thủ khoa Khóa 9 - Đệ Nhất NHÂN-MÃ). Anh gốc người Bắc, giọng nói ngọt ngào trầm ấm. Sau khi được chính phủ gởi đi du học tại Mỹ hai năm về, anh được điều về Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân giữ chức Trưởng Phòng Văn Hóa Vụ. Thiếu tá Hà Tấn Thể (Khóa 12, Đệ Nhất Song-Ngư) vào thời điểm đó, giảng dạy 2 môn Hàng hải và Thiên văn. Anh Lương cùng họ Hà với anh Thể nhưng không cùng chung một huyết thống. Hai anh chỉ là bạn cùng binh chủng, cùng đơn vị, nhà ở gần nhau, nên hai anh thân nhau. Anh Thể thương anh Lương vì nết, trọng anh vì tài. Anh Lương thương mến anh Thể như thương mến một người bạn thân, như anh em trong nhà.
Chị Lương nhũ danh là Lê thị Kỳ Duyên. Chị là một phụ nữ xinh đep, thân hình chị mãnh mai cân đối. Chị dong dõng cao, duyên dáng như cô Kỳ Duyên trong cặp MC Nguyễn Ngọc Ngạn & Nguyễn Cao Kỳ Duyên mà chúng ta thường thấy trên video Paris By Night. Trong cư xá, chị và tôi chơi thân với nhau. Chúng tôi thỉnh thoảng sang nhà nhau chơi, tâm tình đủ thứ chuyện. Buổi chiều, sau khi làm xong bữa cơm chiều, chị em chúng tôi đem ghế ra trước hiên nhà, nói chuyện chợ búa thời tiết trong lúc chờ đón anh Lương và anh Thể đi làm về. Đám con chị và lũ con tôi chơi đùa với nhau bên cạnh các bà mẹ. Thật là hình ảnh hạnh phúc vui tươi đẹp tuyệt vời!
Lúc anh Thể chở 5 cái hòm tới Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân thì anh thấy căn phòng trống trơn. Hỏi ra mới biết bọn bộ đội tưởng xác chết vô thừa nhận, sợ dơ dáy truyền nhiễm nên đã đem chôn sơ sài trên mô đất cạnh bờ biển. Anh Thể bàn với ông Khánh đào xác lên, tẩm liệm rồi bỏ vào áo quan đem ra Đồng Đế chôn để anh chị Lương có được nấm mồ nằm cho ấm áp. Ông Khánh thấy anh Thể hết lòng với bạn như vậy, mừng lắm đồng ý ngay.
Bà Khánh là một người đàn bà quyền biến khôn ngoan, lanh lẹ. Bà đi tìm thuê người đến giúp, nhưng chẳng ai nhận lời. Vậy là việc tẩm liệm chôn cất chỉ có anh Thể, ông bà Khánh và một cậu thanh niên nhỏ tuổi . Chắc hẳn là con hay cháu gì của họ.
Lúc đào xác lên để tẩm liệm, anh Thể thương mến và kính trọng bạn, nên anh quyết định chôn bạn mình theo nghi thức của một vị anh hùng chết vì bất khuất. Lúc bạn anh sống, chiến đấu cho lá cờ nào, binh chủng nào thì khi bạn anh nằm xuống phải được chôn theo màu cờ, sắc áo đó. Anh Thể về mở tủ nhà anh Lương, lấy bộ đại lễ trắng của binh chủng Hải quân đem xuống mặc cho bạn. Nhưng lúc đó xác anh Lương đã sình lên, quần thì mặc được nhưng cúc quần cài không được. Chiếc áo đại lễ có gắn nhiều huy chương trên ngực áo, anh Thể mặc vào cho niên trưởng anh cũng không vừa . Anh Thể đành đắp chiếc áo đó lên thi thể chiến hữu anh. Chiếc mũ “cát” cấp tá, anh trang trọng đội lên đầu người bạn cùng binh chủng với anh. Lúc đó Nha Trang đã rơi vào tay Cộng sản nên anh Thể không tìm ra đâu được lá cờ vàng ba sọc đỏ để phủ lên quan tài bạn.
Hôm đi chôn, năm mộ huyệt đào chiều hôm trước, đã đầy nước vì trận mưa tối hôm qua. Quan tài bỏ xuống cứ nổi lềnh bềnh. Anh Thể phải khấn vái anh chị Lương rồi đứng lên quan tài để quan tài thấm nước chìm xuống rồi mới lấp đất.
Trên dãy mộ mới lấp đất, anh Thể đóng tấm gỗ mang hàng chữ “NƠI AN NGHỈ CỦA GIA ĐÌNH HÀ NGỌC LƯƠNG & LÊ THỊ KỲ DUYÊN”. Trời gần tối công việc tạm xong, họ gạt nhanh những giọt nước đọng trên mặt. Họ chẳng cần biết đó là những giọt mồ hôi hay nước mắt. Chắc là cả hai. Mọi người buồn bã lủi thủi ra về.
Tập hồi ký “Lối Thoát Cuối Cùng” tôi viết từ năm 1985 sau chỉ vài tháng sau ngày định cư trên đất Mỹ. Nhưng vì nhiều lý do tế nhị, tôi không muốn gởi đăng đâu cả. Cho mãi đến giữa năm 2002 tôi mới gởi đăng trên tập san Đệ nhất Song Ngư kỷ niệm 40 năm thành lập khóa, để phổ biến cái chết anh hùng niên trưởng của phu quân tôi. Một chị thuộc gia đình Hải quân, gởi “Lối Thoát Cuối Cùng” in trên Đặc san Lướt Sóng cho chị Hà Lan Nha đọc vì chị ấy biết chị Hà Lan Nha là em gái anh Hà Ngọc Lương. Tôi hơi ngạc nhiên vì tôi không hề gởi “Lối Thoát Cuối Cùng” cho Lướt Sóng. Tôi đoán chắc các anh Song Ngư muốn phổ biến rộng rãi cái chết dũng cảm của Trung tá Hà Ngọc Lương nên gởi cho đăng trên tập san Lướt Sóng. Điều này cũng tốt thôi. Chị Hà Lan Nha sau khi đọc “Lối Thoát Cuối Cùng”, chị mới biết tường tận gia đình người anh ruột chị tự sát như thế nào, ai chôn cất và chôn ở đâu. Chị Hà Lan Nha xúc động quá, lên World Net tìm chúng tôi để nói lời cảm tạ. Sau đó chị Hà Lan Nha và chúng tôi đã gặp nhau.
Lần đầu gặp chị Lan Nha, tôi nhận biết chị là em gái anh Lương ngay vì chị rất giống anh Lương. Khuôn mặt chị tròn phúc hậu, nụ cười tươi tắn và giọng nói dịu dàng ấm áp như người anh.
Trước khi đọc “Lối Thoát Cuối Cùng”, chị Lan Nha chỉ nghe mơ hồ về cái chết gia đình người anh, vì chị rời Việt Nam khi Saigòn chưa thất thủ, ngày 28/4/75. Chị Lan Nha đã và đang làm cho Bank of America tại Saigòn, nên gia đình chị được chính phủ Hoa Kỳ bốc ưu tiên sang Mỹ. Phu quân chị, Thiếu tá Không quân Vũ Ngô Dũng, cũng được đi cùng vợ con. Nếu không, kẹt lại, chắc cũng phải 10 năm trong ngục tù Cọng sản vì anh là “giặc lái” chuyên lái F5. Anh Dũng vóc dáng cao lớn, mặt mũi trông rất “ngầu” như mấy tay cao bồi trong phim Mỹ. Khi đó biết đâu bọn “cái nồi ngồi trên cái cốc” chẳng ngứa mắt “bonus” cho anh 2 năm nữa cho tròn một giáp!
Nha Trang, nghĩa trang Đồng Đế, nơi bạn tôi nằm đó yên giấc nghìn thu. Ngày đêm tiếng xe chạy trên Quốc lộ 1 chắc đã làm cho bạn tôi bớt quạnh quẻ trong nhiều năm. Nay thì năm nắm xương tàn đó chắc đã bị san bằng để làm nền cao ốc. Nghĩ đến đây tôi không cầm được nước mắt.
Nha Trang ơi, gia đình bạn tôi đã gởi nắm xương tàn tại đó. Xin đất mẹ Nha Trang thương yêu ấp ủ những nắm xương đó cho đến khi tan biến vào lòng đất nghe. Xương thịt những người tôi thương mến này từ cát bụi mà có, nay hòa tan trong lòng đất cũng là điều tự nhiên thôi. Nhưng mà sao tôi cũng thấy buồn !
Với tâm trạng buồn thương tiếc nuối đó, tôi viết bài này coi như một nén nhang thắp muộn cho bạn tôi, nhân ngày giỗ thứ 28. Anh cũng là chiến hữu của phu quân tôi, anh đã tìm cái chết để khỏi phải sống chung với bọn Cọng sản tàn ác, thật là nghĩa khí anh hùng! Tôi thật lòng kính phục anh. Thôi nhé, anh chị và các cháu nằm yên an nghỉ. . . . Mắt tôi lại cay cay đây rồi.
 Nguyễn thị Thể-Lý; 2010/04/13
----
QUÊ HƯƠNG AI CHẲNG MUỐN VỀ


Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Trăm nhớ ngàn thương lệ ướt đằm
Thấm cả vào thơ, từng chữ nghẹn
Lời sầu, nghĩa tủi, ý băn khoăn...

Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Bà mẹ đường gân những vết bầm
Máu bán từng ngày khô cạn máu
Ngã vùi bên lộ buổi đầu năm

Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Áo gấm khoe sang giữa bụi lầm
Trí tuệ khoe giầu, khoe hạnh phúc
Khoe quyền, khoe lực, chẳng khoe tâm !

Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Em gái mười ba đã má hồng
Phủ lớp son sầu lên tuổi ngọc
Thả đời trên đỉnh ngọn cuồng phong

Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Em bé mồ côi góc chợ nằm
Bà lão chực chờ tô nước phở
Và người khách lạ thản nhiên ăn

Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Khi giới công nhân lệ rớt thầm
Bởi bọn cầm quyền và đám chủ
Dập vùi,  bóc lột quá  vô tâm !

Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Nghĩa địa thành ra chỗ nhảy đầm
Ruộng lúa, vườn cây thành khách sạn
Âm sầu, dương hận đã bao năm

Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Ôi lệ hờn đau khó thể cầm
Người lính cô đơn  ôm chiếc nạng
Bị thương thời Việt cộng xâm lăng ...

Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Bản Giốc, Nam Quan đã nát bằm !
Hỏi có đau lòng khi đất nước
Tây Nguyên, Hoàng Ðảo ngập hờn căm ?

Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Ngặt nỗi oan khiên chửa lấp bằng
Ðời sống dân ta đầy tủi nhục
Ta về, thấy cảnh, có vui chăng???


Ngô Minh Hằng

QUÊ HƯƠNG: TRỜI ƠI ! DUYÊN DÁNG VIỆTNAM !!

 TRỜI ƠI ! DUYÊN DÁNG VIỆTNAM !!

Duyên dáng áo dài Nữ sinh Hưng Yên dịu dàng bên cánh đồng hoa cải- Mấy người?
- Bốn, hai Việt Kiều với hai Việt Cộng!
Đó là câu đối đáp giữa nhóm người vừa bước vào tiệm phở với ông chủ tiệm. Cách ăn nói ở Việt bây giờ coi mòi tự nhiên và hình như họ không còn e dè gì nữa.
Về nước, mặc bộ đồ lao động, da được phơi nắng hai ba tuần nám đen cho giống người VN, tôi ung dung ngoắc chiếc xe ôm và oách như người Di cư 54:
- Đi Thủ Đức!
Gió chiều lồng lộng trên xa lộ Biên Hoà, tôi mỉm cười đắc chí, lẩm bẩm ca bài "Từ bắc vô nam tay cầm bó rau.... đay, còn tay kia... chúng ông dắt con cầy..."
Chạy ngang khoảng Cát Lái, chú xe ôm bắt chuyện: - Anh ở lước lào về?
Ô hay, sao lại "lước lào về" xế lày?
Tôi hỏi: - Anh tưởng tôi là Việt Kiều à? Tôi quê ở ngoài Hà Lam Linh đấy.
Anh nhất định tôi chẳng lừa được anh.
Có đời nào người trong "lước" mà lại ra đường đứng ngẩn ngơ ngó trời ngó đất, ngó cái bảng hiệu, ngó tùm cây bông giấy và ngó... con gái đi đường, y hệt đám bộ đội hồi mới vô nam năm 75!
Anh giải thích thêm: - Ra đường, cứ thấy ai băng qua lộ mà thập thò như con nít, nắm tay nhau hai ba người như dân quê lần đầu ra tỉnh, chắc trăm phần trăm họ là Việt Kiều đấy.
Hôm về quê, vợ chồng tôi ra chợ, cũng được chào đón một câu rất niềm nở:
- Mời anh chị Việt Kiều mua cho em ít rau.
Tôi ngạc nhiên, nhưng con em giải thích: - Ai đời vào chợ mà mặt mày ngơ ngáo, chợ quê có ai đi cả hai vợ chồng như thế, mà có đi chăng nữa cũng nguời đầu chợ kẻ cuối chợ lo mua đồ mà về cho sớm, chứ có đâu dẫn nhau đi vô hàng rau, nhìn quả khổ qua, ngó thúng cà pháo, ngó cả bó rau dền.
Nhớ lúc mới bước xuống phi trường, tôi mắc cười ngay cái bảng ghi hàng chữ "Tổ Lái", người đi bên cạnh hỏi nhỏ:
- Cười gì thế?
- Cái bảng ghi Tổ Lái.
- Kệ họ, đó là lối đi dành riêng cho tiếp viên và phi công, mình đi lối bên này.
Khi về tới đò Vàm Cống gần Long Xuyên, vợ tôi lại chúm chím cười với hàng chữ: Cụm Phà Vàm Cống.
Thằng em tôi thấy thế nói rằng: - Ăn thua gì, ở SG còn có một cơ quan đề là Cụm Cảng Hàng Không Phía nữa kìa.
Từ đường lộ vào nhà Má tôi còn hai cây số nữa, khi bước xuống đò, tôi thấy hàng chữ sơn trên một tấm tôn treo toòng teng: Đừng cột ghe xập nhà.
Em tôi lại phải giải thích là nhà làm de ra phía trên sông, nếu người ta cột ghe vào mấy cây chống sàn nhà, khi tàu lớn chạy ngang sẽ tạo ra sóng nhồi xóc chiếc ghe, thì nó sẽ giật tung lên và đổ nhà là cái chắc.
Bao nhiêu năm xa nhà, về lại thì cái gì cũng lạ và dễ tức cười, mà người ở nhà họ cũng cười cái lạ của mình. Tôi ra phố chợ, đặt tiệm da giầy một cái bao điện thoại theo ý mình, đeo vào, thằng bạn lắc đầu cười:
- Y như cái bao đựng đạn súng lục.
Mặc cái áo sơ mi kiểu Hawaii định ra phố, bà chị nói: - Trông cậu y như phường tuồng!
Tôi ở Garden City, KS. muốn về VN phải lên Wichita để đón máy bay, lái xe hơn ba tiếng đồng hồ. Khi đi, mùa hè oi ả, mặc chiếc quần ngắn cho nó mát, lên đến nơi, gặp bạn bè nói chuyện đến khuya, gần nửa đêm chuẩn bị áo quần để sáng mai ra phi trường sớm mà về VN, lục quần áo mới thấy "sự cố" là không có cái quần dài nào cả, vội vàng ra chợ Walmart kiếm cái quần vào lúc nửa đêm. Walmart bán đủ mọi cỡ áo quần, duy chỉ có size của tôi nó lại không bán, cuối cùng cũng lựa được một cái tạm hài lòng: lưng rộng hơn hai số, bù lại, chiều dài ngắn đi một số.
Hôm sau tôi mặc vào cảm thấy nó làm sao ấy, nhưng lỡ rồi, mặc đại, đi đường cứ lâu lâu lại phải ôm nó mà xốc lên vì dây lưng cũng quên tuốt ở nhà.
Về đến SG, bà chị tôi nhìn em thương hại quá, cứ xuýt xoa hoài, tội nghiệp nó ở Mỹ mà quần áo xốc xếch, xộc xệch!
Trời mùa hè VN nóng thật, con tôi không muốn đi giầy nên tôi dẫn nó ra chợ Thái Bình mua đôi dép Nhật, tôi định tập cho nó trả giá cho quen. Hỏi giá thì bà hàng nói 4,500 đồng, thằng bé ngơ ngác không hiểu nên tôi phải thông dịch từ tiếng Việt qua tiếng Việt:
- Giá bốn mươi lăm trăm đó con, trả giá đi.
Thằng bé nói: - Đâu cần trả đâu, được rồi, rẻ quá mà.
Những người chung quanh cười um lên, xúm lại coi thằng Việt Kiều con mua đồ.
Có bữa kia ngồi ở quán cóc đầu ngõ uống cà phê, đứa em thò cổ vô gọi: - Anh ra đây xem Việt Kiều Con bị đày.
Tôi ngạc nhiên không hiểu nó nói gì, ra xem thì thấy một bà già kè hai đứa nhỏ khoảng dưới sáu tuổi, ăn mặc có vẻ tươm tất lắm, không biết là đi nhà trẻ hay ra công viên chơi nhưng mặt tụi nó ỉu xìu.
Thì ra hai đứa bé đó có cha mẹ làm Nail ở Mỹ, không hiểu sao lại giao chúng về cho bà ngoại nuôi, cả xóm này gọi tụi nó là hai thằng Việt Kiều Con Bị Đày!

MỜI BẠN CÙNG TÔI KHÁM PHÁ SỰ ĐỔI MỚI CỦA VN TRONG 3 TUẦN THĂM QUÊ CỦA TÔI.
Xe Đò Nằm: Hồi này có một loại xe đò (xe khách) gọi là xe đò nằm. Đi xe này hành khách không ngồi ghế như xe đò thường, mà được nằm dài ra.. Xe có ba dãy giường, mỗi dãy ba chiếc giường sắt và lại còn chồng lên một tầng nữa, vị chi là 24 cái giường.
Đây là loại giường hiện đại điều chỉnh được, tựa như giường ở trong bệnh viện.
Xe có điều hoà không khí và mở nhạc vàng nghe thoải mái. Mỗi người lên xe đều được phát một chiếc mền để đắp vì xe mở máy lạnh.
Hành khách mua vé qua điện thoại, tài xế sẽ bốc khách hẹn trước tại bất cứ khúc đường nào trên tuyến xe sẽ chạy qua.
Xe chạy khá đúng giờ, giá vé cũng tương đối hạp với túi tiền, thí dụ tuyến Rạch Giá-Vũng Tàu là 125,000 một lượt (chưa tới 8 đô la). Lơ xe rất điệu nghệ, phục vụ hành khách rất lịch sự và tận tình.
Hôm đó, nằm kế tôi là một cô nhìn dễ thương lắm, nhưng hai giường lại cách nhau đến nửa thước. Tôi ước ao lần sau họ ghép giường gần nhau hơn, để hành khách có thể nằm mà dòm nhau, âu cũng là cách rút ngắn thời gian trên đường dài.
Ai cũng biết xe đò VN có cái tật là hễ thấy khách đón xe thì không cần biết họ muốn đi tới đâu, anh lơ nhảy xuống kéo ào lên xe, miệng la "Tới luôn bác tài".
Chuyến tôi đi, có hai cha con ông kia lên xe, xe chạy một quãng thì lơ xe mới khám phá ra "có vấn đề". Ông già có tính tiết kiệm, đặt mua vé có một giường, mà lại dẫn theo cô con gái. Ông cãi với lơ xe:
- Hai người ngồi trên giường thì cũng choán chỗ y như một người nằm chớ gì.
Mặt nạ lịch sự của anh lơ xe bèn rớt xuống, anh ta với ông già xổ tiếng Đức với nhau một hồi, rồi sau cùng ông già nhượng bộ trả thêm 20,000 để cô con có thể ngồi ké ở phía cuối giường.
Tôi rất tội nghiệp mà không thể mời cô ngồi qua phía giường tôi, hoặc là mua cho cô một vé, vì hôm đó tôi đang đi chung với "con gấu yêu dấu" của tôi!

*Ăn Uống : 
Nghệ thuật ẩm thực VN thì quá siêu đẳng rồi, tôi xin không đề cập đến những chuyện uống máu rắn, ăn bò cạp hoặc trích mật gấu ..., mình chỉ làm một người bình thường ăn những món ăn bình thường.
-Bạn muốn xài tiền triệu?
Mời vào tiệm C. Steak House ở đường Đinh Công Tráng (chợ Tân Định), một miếng T Bone 6oz… giá rất nhẹ nhàng là 250,000 (tiệm này có vẻ kỳ thị nặng, trên bảng giá đề: Thịt bò Mỹ: 250.000 thịt bò Úc: 225.000, thịt bò nội địa :180.000)..
Miếng steak ăn vào, nuốt đến đâu, thấy nó nghẹn nghẹn đến đó, vì giá cả là một, nhưng cũng tại vì nó giống như miếng thịt được bỏ trong Microwave!

- Bạn muốn xài tiền lẻ?
Mời bạn đi ăn cháo lòng bình dân với tôi.
Tôi biết cô bán cháo lòng ở quê, trước 1975 cô thuộc loại sắc nước hương trời, nhưng hồng nhan đa truân, cô đã kẹt lại. Quán cô chỉ là một cái bàn làm bằng gỗ tạp nho nhỏ, trên để mấy chai lọ lỉnh kỉnh như muỗng đũa, nước mắm, ớt... ngang chỗ cô ngồi là một nồi cháo đang sôi ọc ạch đặt trên cái cà ràng lửa liu riu.
Là khách đặc biệt nên tôi được cô vồn vã hỏi thăm và ân cần đưa cho một đôi đũa không nằm trên ống đũa "dân gian" trên bàn, cô lau cẩn thận bằng một miếng giẻ và nói:
- Anh dùng đũa này sạch hơn.
(Đũa của cô có nhiều loại: Sạch, sạch vừa, sạch hơn)
Cháo bán giá từ 3 ngàn một tô, dĩ nhiên khách muốn thêm thịt, thêm lòng thì sẽ tính thêm tiền.
Tôi ngồi ăn cháo mà ái ngại cho cuộc đời cô, vì cách đây hơn hai mươi năm, thấy cô đi ngoài đường thì tôi "chỉ nhìn mà không dám nói" vì nghĩ tới cái thân phận "quản chế" của mình.
Chợt một bà đi ngang phía trước, bà bước bỗng một chân và né sang phía trái, tôi ngạc nhiên khi thấy động tác của bà nên chú ý nhìn xuống mặt đường thì - eo ơi một đống phân chó nằm thù lù ở đó. Khiếp đảm, tôi bèn gài tờ giấy bạc vào dưới tô rồi cám ơn cô chủ quán để vọt gấp. Dợm đứng lên thì cũng vừa lúc cánh cửa sắt phía sau lưng cô hàng mở ra, một mùi nồng nặc xộc vào mũi tôi, thì ra đây là cửa hàng bán phân bón và thuốc trừ sâu rầy, mà cô hàng chỉ thuê phía trước chái hiên để bán buổi sáng. Khách hàng của cô cứ tự nhiên ăn uống kề bên những bao phân và những chai thuốc sâu độc hại, có điều mỗi lần xe đò chạy ngang, bụi tung lên mù mịt nên mùi phân bón cũng vì thế mà bớt đi phần nào!

Tham Dự Phiên Toà Lưu Động

Đang lững thững gần chợ Kinh 8 để ngó ông đi qua bà đi lại thì tôi nghe "loa cột đèn" thông báo hôm nay có phiên toà lưu động xử vụ ăn cắp trong chợ cách đây ít lâu, phòng xử ở ngay trong trường tiểu học Đông Thọ, Tân Hiệp, Kiên Giang.
Trong sân trường có một xe công an, phía trước có hai anh công an đang đọc báo, thiên hạ xầm xì rằng hai người bị còng ngồi phía sau là một cặp vợ chồng, tôi nhìn thấy tụi nó nhóc quá, chừng mười bảy mười tám tuổi là cùng.  Viên chức toà án, nhân viên an ninh và ấp đội chộn rộn chạy lăng xăng trong sân trường.
Tới giờ xử, bị cáo được dẫn từ xe vào trong trường, rồi thủ tục rất rườm rà, nào là trình diện bị cáo, nào là giới thiệu thành phần các cấp dự phiên toà và tuyên đọc quyền hợp pháp của bị cáo ..
Theo cáo trạng, hai vợ chồng trẻ vì túng tiền nên len lỏi vào chợ bấm dây chuyền của một đứa bé mà má nó đang bồng trên tay, bị phát hiện thì cô vợ đưa tang vật cho chồng, anh này nuốt ngay vô bụng.  Họ bị bắt đem vào nhà thương rọi X ray và bị truy tố.
Phiên toà bắt đầu bằng cảnh thư ký toà đọc tên tuổi, lý lịch của bị cáo, cáo trạng bị truy tố ... sau đó là phần chất vấn giữa Công Tố Viên và bị cáo:
- Bị cáo tên gì?
- Tên là Hoa, ông có tên tui ở trong miếng giấy ở trên đó.
- Bị cáo bị tội gì có biết không?
- Dạ bị chi tố tội chôm đồ, bấm dây chiền.  (bị truy tố tội chôm đồ, bấm dây chuyền)
- Bị cáo tả lại cảnh âm mưu đi bấm dây chiền như thế nào.
- Đâu có âm mưu gì đâu, hết tiền nói đi vô chợ kiếm tiền xài với trả nợ thôi.
- Bị cáo hãy kể rõ, ở nhà hai vợ chồng bàn tính âm mưu như thế nào để giựt dây chiền trong chợ.
- Ông đổ oan, chứ đâu có mưu gì, làm sao ở nhà mà biết có đứa nhỏ ở trong chợ có dây chiền mà âm mưu.
- Bị cáo không quí trọng sức lao động, không chịu làm ăn lương thiện mà tối ngày cứ lo đi giựt đồ là làm sao, bị cáo có muốn nói gì không?
- Đâu có tối ngày đi giựt đâu, lâu lâu mới làm một lần, giờ muốn xin dìa.
- Bị cáo phạm tội, bị cáo lại xin về, bị cáo nói vậy nghe có được không?
- Chứ lỡ rồi biết làm sao giờ, ở tù rồi ai nuôi con, nó còn nhỏ híu mới chín tháng hà.
- Cha bị cáo bao nhiêu tuổi? Làm nghề gì?
- Tuổi hổng nhớ, nghề đi ghe.
- Tuổi cha mà không nhớ, hay dữ, đi ghe mà làm nghề gì?
- Đã nghề đi ghe là nghề đi ghe chứ ai mà biết làm gì.
- Bao lâu về một lần?
- Dạ vô chừng, ổng có bà nhỏ, về vô chừng lắm.
Quan toà đúng là Phụ Mẫu Chi Dân nên quay qua hỏi thân nhân bị cáo có ai muốn nói gì không, thì một bà quấn khăn rằn đứng lên xưng là mẹ bị cáo:
- Ông có cách gì coi cho nó dìa sớm sớm một chút tui đội ơn, nó là "con ních" đâu có làm hại ai bao giờ, tự tay giựt dây chiền mới bị bắt có một lần hà.
Quan toà rất thông cảm, cười cười rồi nói: - Mới bị bắt có một lần, còn thoát được mấy chục lần rồi?
Thằng chồng đen thui, chắc gốc Miên, không thấy nó nói gì ngoài những câu trả lời về lý lịch khi toà hỏi, đa số là con vợ nói xen vô.
Thằng bạn tôi thì thầm: - Đàn bà ở đâu cũng lắm mồm, kể cả khi ra toà.
Phiên toà toàn là những câu đối đáp cù cưa như trên, nghe cũng buồn cười và giải trí được chốc lát.
Phiên toà kết thúc bằng một bản án 36 tháng tù dành cho mỗi người.
Dân trí ở miền quê hình như còn quá mộc mạc, họ không coi phiên toà ra gì, hoặc họ lì rồi nên coi như một trò hề trong phiên xử.
Nhìn cảnh anh Trung uý Công An đeo quân hàm oai vệ, bước bẻ góc ở ngoài sân khi trình diện bị cáo với quan toà, rồi nghe những lời đối đáp giữa quan toà và bị cáo, giống như hai cảnh ở hai nơi, bị ép duyên vào một màn kịch bi hài.

Đi Thăm Mộ Ngô Tổng Thống

Báo chí hải ngoại đưa tin rằng anh em ông Diệm được cải táng rồi đem chôn ở Lái Thiêu, nên tôi hỏi người bạn:
- Ông biết nghĩa trang Lái Thiêu có mộ anh em ông Diệm ở đâu không?
- Ai nói với ông là ông Diệm chôn ở Lái Thiêu?
- Thấy báo nói vậy.
- Lầm tuốt. Ba anh em họ Ngô và thân mẫu của họ đều chôn ở nghĩa trang Vườn Ngâu - Thủ Đức, chỗ này còn có tên là Thừa Thiên Tương Tế.i vì bên kia xa lộ có cái bảng đề là Lái Thiêu nên người ta tưởng lầm vậy, chứ phía bên này đường là thuộc về quận Thủ Đức.
Anh xe ôm ở gần nhà cãi lại: - Hổng dám đâu. Mộ ông Diệm chôn cùng chỗ với ông Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn đó… Họ đều là người Huế hết mà, ngay nghĩa trang Gò Dưa gần đây chớ đâu xa.
Thế là tôi và ba người quen được anh ta hướng dẫn đi thăm.
Trời chiều mưa sụt sùi, nhưng nghĩa trang không có không khí ảm đạm, coi cũng khá đẹp. Chúng tôi đứng nhìn mộ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trang trí như một hòn non bộ lớn.
Lúc chúng tôi đứng chụp hình thì anh xe ôm lội cùng khắp mà không kiếm ra mộ ông Ngô Đình Diệm, anh ta tẽn tò nói tụi tôi ra ngồi chờ ở quán cà phê rồi xách xe đi kiếm. Cả tiếng đồng hồ sau mới quay trở lại và cho biết người bạn tôi đã nói đúng: Họ được chôn ở nghĩa trang Vườn Ngâu chứ không phải Gò Dưa.
Chạy xe khoảng 5 cây số nữa mới đến nơi, người ta chỉ cho ngôi mộ ông Diệm đề là Gioan Baotixita Huynh, mộ kế đó là của bà mẹ, tức là bà Ngô Đình Khả, rồi mới tới mộ ông Nhu đề là Giacôbê Đệ. Ngay kế bên là một ngôi mộ có hình một người mặc quân phục VNCH, mang một sao hai bên cổ áo, đề tên Trần Văn Ân. Cách đó dăm ngôi mộ mới là mộ ông Ngô Đình Cẩn, phía trước đề tên là Cẩn, nhưng phía sau lưng bia lại đề tên Can.  Những người giữ nghĩa trang kể cho tôi nghe rằng tháng trước có người đặt một tấm bia mới đề tên là Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, rồi đem tới gắn lên ngôi mộ, đang làm thì công an tới bắt đập bể ra, còn người thì bắt đi làm kiểm điểm.
Ngày còn ở lính, tôi không hề nghe tên Chuẩn Tướng Trần Văn Ân bao giờ, hay đây là Đại Tá Ân, có bà vợ cũng là Nữ Quân Nhân, hai vợ chồng tử nạn khi bay trên chiếc trực thăng C&C trong một cuộc hành quân trên vùng Cao Nguyên (?)

 Cuộc Sống Xã Hội

Hồi thời kỳ chống Mỹ cứu nước, cứ ra đến ngõ là gặp anh hùng, còn bây giờ đến quán cà phê, vô tiệm phở hay lúc đến thăm người quen, đều nghe người ta nói về những tỷ phú!
Hầu hết là chuyện nhà cửa đất đai, nào là giá một mét vuông đất từ một triệu vọt lên năm triệu, mà có người sở hữu đến dăm ngàn mét vuông; lại nghe ông kia mua một miếng đất năm bảy chục ngàn cách đây mấy năm, bây giờ nếu bán cũng được ít nhất hai ba tỷ!
Tôi đang ngồi ở quán cà phê, một anh cò đất xề tới gạ: - Bên kia có miếng đất 3 ngàn mét, nếu anh trả chừng 500 ngàn một mét (một tỷ rưỡi) nó bán ngay, bảo đảm với anh, chỉ tháng sau là anh sẽ bán được 3 tỷ, nếu không dô mánh như vậy, thằng này xin làm con anh.
Trời ơi, nhìn cặp mắt láo liên của nó, tôi đã ngán rồi, nó lại còn xin làm con tôi nữa thì xin chạy mất dép.
Cứ chỉ nghe nói không thôi, thì tiền ở VN sao dễ kiếm quá.
Vậy mà hễ cứ "giúp vốn" cho đứa cháu nào, thì cứ y như rằng năm sau cụt vốn, nó nói "Làm ăn ở VN bây giờ khó lắm chú ơi !  Chú ở xa không biết ..." Tôi quát lên:
- Làm ăn ở đâu không khó ?  Chỉ có nằm ngửa ăn sẵn mới dễ thôi.
Hôm tôi lại nhà người thân, anh đã đặt cọc để mua một miếng đất 40 ngàn đô, thì có một anh bá vơ chạy xe tới đưa cho coi một bản đồ qui hoạch, mà trong đó chỉ rõ miếng đất kia đã bị qui hoạch làm công viên và nhà thể thao. Anh ta nói:
- Thấy anh tính mua thì thương mà báo cho biết vậy, mai mốt có mất đất thì đừng trách là thằng em không báo trước.
Trời ạ, bây giờ còn biết tin ai ?  Lên hỏi Địa Chính thì họ cũng trả lời mờ ớ.  Hay là thằng cò kia nói thế để mình nản, đi mua miếng đất của nó ở chỗ khác (?).
Bên cạnh những người nói chuyện tiền tỷ, thì lại có những cảnh lầm than quá sức.
Gia đình tôi có làm bữa tiệc đãi bà con họ hàng lối xóm nhân dịp chúc thọ mẹ tôi được 90 tuổi. Sau bữa tiệc, có một số lon bia bán ve chai. Tôi thấy con cháu gọi chị mua đồ nhôm vô, hai người nói gì đó rồi chị ta tất tả ra đi, và khoảng hai giờ sau trở lại. Chị nhờ tôi phụ đếm số lon bia đã uống hết, chứa trong mấy cái thùng giấy. Tôi hỏi:
- Chị tính đếm từng lon hay sao?
- Dạ, vì mỗi lon giá đến 200, nếu lộn thì lỗ.
Tôi nhìn đống lon bên trong chứa lẫn lộn tàn thuốc lá lẫn xương gà.
- Con cháu tôi nói với chị là bao nhiêu lon?
- Dạ cô nói là 24 két, mỗi két 24 lon, nhưng chắc không còn đủ vì có nhiều người uống rồi lấy luôn lon.
- Hồi nãy thấy chị vô rồi đi luôn, tưởng chị không mua.
- Dạ không có, tại không đủ tiền nên phải về vựa vay thêm.
- Vựa ở đâu? Vay như thế nào?
- Dạ cũng gần, cách đây 5 cây số, đi xe ôm có ba ngàn đồng hà, vay rồi chiều về bán lại, trả họ tiền lời.
- Sao hồi sáng chị không đem về bán cho họ rồi mai đem tiền vô trả?
- Dạ sợ cô nhỏ không chịu.
Tôi thấy chán đời cho cô quá, tính ra số tiền chưa tới trăm ngàn, nếu không ngồi đếm với cô thì có vẻ bất nhẫn, mà ngồi đếm đống lon hôi rình đó thì tôi chẳng hào hứng tí nào. Tôi nói:
- Thôi, khỏi đếm nữa, cô cứ đưa cho con nhỏ 20 ngàn thôi, thiếu bao nhiêu tôi bù.
Cô ngước lên nhìn tôi rồi ứa nước mắt nói nhỏ:
- Cám ơn anh.
Vừa lúc đó mẹ tôi bước ra hàng hiên vì có tiếng người đàn bà la chói lói ở phía trước bờ sông, rồi một người chạy như bay vô sân:
- Cứu mạng! Cứu mạng! Bà ngoại ơi, ngoại có thuốc gì cho đứa con của con mấy viên, không thôi nó chết.
Mẹ tôi hỏi:
- Con chị bị đau gì mà đến nỗi chết? Mà tôi đâu biết thuốc gì mà cho.
- Dạ, nó đang giựt đùng đùng dưới ghe kìa, hông có thuốc chắc nó chết.
Tôi xen vào:
- Ở nhà chỉ có thuốc cảm thôi chứ có thuốc gì mà cho, sao chị không đưa nó lại Trạm Y tế coi.
- Dạ thuốc cảm cũng được chú Hai, ở Trạm Y Tế họ đâu có cho cái gì đâu.
- Tôi chỉ có thuốc cảm người lớn thôi chứ không có thuốc con nít.
- Dạ chú Hai cho con đi, con dìa bẻ làm hai cho thằng nhỏ uống cũng được mà.
Tôi vô lục túi lấy chai thuốc Tylenol đưa cho chị nhưng vẫn ngần ngại nói: - - - Thuốc này là thuốc người lớn, tôi sợ con chị uống không hạp.
Chị ta sợ tôi đổi ý nên chụp vội chai thuốc trên tay tôi rồi nói: - Dạ không sao đâu, con cho nó uống mỗi lần nửa viên.
Những người thợ gặt mướn tạm trú bên bờ kinh, hay ngủ dưới ghe, họ ra ruộng từ khi còn tối trời, mang theo cả đứa con mới sanh chưa đầy tháng, thằng bé nằm chổng chân ngọ ngoạy trong cái thúng, phơi nắng cả ngày mặc dù có tấm mủ cao su che phất phơ trên đầu, chắc là đang tập làm Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ ngày xưa. Thỉnh thoảng nó khóc ré lên thì bà mẹ chép miệng:
- Chắc thằng nhỏ bị kiến lửa chích!
Cô em gái tôi kể một chuyện khó tin nhưng có thật: - Thằng bé mười ba tuổi vào nhà bà ngoại với chiếc giỏ đeo toòng teng trên ghi đông xe. Bà già hỏi:
- Mày có cái gì đem vô cho tao đó Tèo?
- Dạ không có gì cho ngoại hết, má con nói đem em con vô nhờ ngoại chôn giùm!
Thì ra má nó nghèo quá không có đất chôn con, nên mới bỏ đứa nhỏ vô cái bị cói, kêu nó đem vô nhờ bà ngoại chôn.

Ấp Văn Hoá

 Khắp miền quê, đâu đâu cũng thấy nhiều khẩu hiệu, thỉnh thoảng có tấm áp phích lớn đề là Ấp Văn Hoá.  Đây là những ấp đã đạt đủ những tiêu chuẩn gì đó về nếp sống văn minh, tiến bộ, xoá nạn mù chữ...
Tôi đến nhà bạn chơi, cũng là một Ấp Văn Hoá, chứng kiến cảnh hai đám người chửi lộn nhau to tiếng, họ dùng toàn những lời lẽ "thầy chạy" luôn. Tôi chọc bạn tôi:
- Dân xóm mày chửi tục quá.
Nó nói:
- Họ không phải dân ở đây, họ ở ấp Văn Hoá bên kia, qua đây để gặt mướn.
Tôi diễu:
- Ở ấp Văn Hoá mà còn chửi nhau hả?
Nó cười:
- Càng ở Ấp Văn Hoá, càng chửi tục điệu nghệ hơn.

Đi Câu Giải Trí

 Gọi một chiếc Taxi, tôi nhờ anh tài xế đưa đến một nơi câu cá giải trí, anh ta cam đoan biết rõ một hồ câu có lý lắm, lại có tiếp viên phục vụ và ngồi nói chuyện hết xẩy.  Rồi ông chở tôi vào khu giải trí Thanh Đa.  Chỉ là một cái hồ nông toen hoẻn rộng chừng một công đất, nước đục ngầu và có váng phèn.  Từ cổng vào có ít bụi dừa nước đứng xơ rơ còi cọc.  Chung quanh hồ có trồng một ít cây ăn trái như dừa, xoài và ít bụi tre, cứ cách vài ba bước lại làm một cái lều dã chiến, lợp lá, treo mấy cái võng.  Có tiếp viên thật, nhưng là những anh thanh niên từ miền Bắc vào, họ lăng xăng mắc võng, dưa cần câu tới rồi mắc mồi bằng những miếng đậu hũ chiên vàng, nếu cá dính câu thì họ sẽ gỡ cá, bỏ vào giỏ hoặc đem đi chiên nướng theo yêu cầu của khách. .
Câu hơn nửa ngày, khách câu khoảng 50 người mà tôi thấy chỉ có một cần dính cá, nản quá tôi bảo anh phục vụ:
- Anh làm thế nào thì làm, mồi câu nào tốt nhất thì cứ móc vô cho tôi, nếu câu dính một con cá tôi tặng riêng anh 10 ngàn.
Thánh thật !  Chỉ một lát là đầu cần câu tôi nhúi xuống, tôi gặc mạnh cần rồi ra sức quay vào, con cá khá lớn lao trên mặt nước nhủi qua kéo lại làm rối nùi dây câu của những người gần đó, thế là từng tràng tiếng chửi thề vang lên.
Tôi hết hứng, bỏ dở buổi câu mà lòng chán nản.
Thương Quá Em Bé Việt Nam
 
Ăn sáng ở lề đường Phan Thanh Giản, một em bé chừng mười hai mười ba tuổi cứ quẩn quanh mời tôi mua vé số, gương mặt và ánh mắt trông rất tội nghiệp.  Tôi từ chối vài lần vì biết nếu mình mua của em này, thì vô khối người khác sẽ đổ xô vào mời mua thì rất kẹt, nhưng khi nhìn đến ánh mắt van lơn của em, lòng thương người rất hiếm hoi của tôi nổi dậy, tôi muốn mua giúp em để hôm nay em có thể về sớm một bữa. Tôi hỏi:
- Bình thường em bán đến mấy giờ thì hết xấp vé số này?
- Dạ thường thì ít khi hết lắm, nhưng nếu còn dư thì em phải đem về trả cho đại lý trước 3g chiều, nghĩa là trước khi sổ số.
Em nói từ sáng tới giờ mới bán được có 3 tấm, còn lại 97 tấm. Tôi kêu em đếm lại coi còn bao nhiêu tấm tôi mua hết cho, để hôm nay có thể về nhà nghỉ. Trong lúc tôi ăn thì em ngồi đếm từng tờ và nói còn đúng 97 tấm, giá 5 ngàn 1 tấm, vị chi là 485 ngàn. Tôi móc 500 ngàn ra đưa luôn, nói khỏi thối.
Thằng bé sung sướng nói cám ơn rồi lách vào dòng người xuôi ngược trên phố đông nghẹt những xe và người.
Đúng là: Sáng nay tươi hồng, trời không có mây... tôi tiếp tục bữa ăn sáng tuyệt vời.
Ở Mỹ mỗi lần mua vé số dĩ nhiên tôi mong mình trúng, mà trúng là trúng lớn để tôi có thể điềm nhiên lật ngửa cái xe cà tàng của tôi lên mà đốt, tuy nó có vẻ hơi bạc bẽo, nhưng để giã từ cái sự không sung sướng của kiếp nghèo, nếu không trúng đi nữa thì âu cũng là mua một niềm vui trong chốc lát, vì đời chỉ vui khi có hy vọng.
Đọc bài essay của một sinh viên nói về mua vé số, tôi thấy cũng có lý, vé số giúp cho mọi người trúng.
Này nhé: Ngân sách nhà nước hưởng 40%, người bán lẻ và giới quảng cáo 20%, người trúng hưởng 40% .. và ngay cả chúng ta cũng trúng luôn vì ta chỉ bỏ ra có mấy đồng, mà mua được niềm hy vọng, rẻ quá đi ấy chứ.
Những tín đồ các tôn giáo đã bỏ ra bao nhiêu tiền của, cũng chỉ là mua lấy một hy vọng mai sau có về cõi trời được hơn người khác, mà niềm hy vọng này chưa được ai kiểm chứng cụ thể cả, còn mua vé số thì có người trúng thật rồi.
Hoan hô những người mua số như tôi là những người thông minh.
Lần này mua số ở VN, tôi lại thêm được cái lợi nữa là làm cho một em bé dễ thương vui được một ngày.
Ông Trương Quang Nhơn viết bài kể chuyện ông bị thằng đánh giầy lấy đinh đục cho thủng giầy rồi đòi tiền vá. Tôi nghi ông này vẫn còn thù Cộng Sản nên đặt chuyện viết "linh tinh".
Buổi chiều về nhà, tôi móc xấp vé số ra cho các cháu, tụi nó đang ồn ào chia chác thì có đứa hỏi:
- Bác mua bao nhiêu tấm?
- Thằng nhỏ biểu là 97 tấm.
- Bác có đếm không?
- Đếm làm gì?
- Thế thì bác bị nó lừa rồi, chỉ có 75 tờ thôi bác ạ.
Tôi suy nghĩ và tội nghiệp cho thiếu niên VN bị thất học, ngần ấy tuổi rồi mà đếm có mấy chục tấm vé số hãy còn sai.
Bọn nhóc trong nhà vừa cười vừa la:
- Ê, bác Việt Kiều bị thằng bán vé số nó lừa!
Tôi phân vân: Không lẽ thằng nhỏ đó nó nỡ lừa tôi, mà sao nó nghĩ cái kế lừa tôi mau như vậy được. Có lẽ nó đã lừa nhiều quả như vậy rồi.

Sách Báo
 
Tôi vào nhà sách mua một số sách báo mới xuất bản năm 2006.
Trong thời chiến tranh, nếu phải viết để tuyên truyền thì không nói làm gì, nhưng bây giờ đâu cần làm vậy nữa, vậy mà có những câu chuyện hay ký sự về thời chiến đã không được thi vị hoá một chút nào, toàn nói những chuyện mà người đọc bình thường cảm thấy tội nghiệp cho tác giả, bà Mã Thiên Đông viết cuốn Chuyện Giờ Mới Kể, nói về những cuộc khủng bố hay những toán đặc công đột nhập vào SG khoảng thập niên 60 hay Tết Mậu Thân. Tôi có cảm tưởng bà ta bị bệnh hoang tưởng hay là xã hội đã làm cho bà và một thế hệ cùng thời có những suy nghĩ như vậy.
Bà kể cứ chỗ nào mà đám xung kích nội thành có mặt thì bên phe Quốc Gia kể như "Tàn đời cô Lựu". Chỉ có nửa tiểu đội đặc công tấn công vào Đài Phát Thanh mà họ tả xung hữu đột, bắn cháy một xe nồi đồng, quân địch chết 38 người còn lính bị thương thì nằm la liệt khắp các nơi. Các chiến sĩ còn rất trẻ mới 17 hoặc 18 tuổi.
Ban đầu thì tôi tưởng rằng bà tả nhân dân anh hùng của SG nổi dậy nên họ rành rẽ đường đi nước bước như thế, nhưng tác giả tiết lộ đó là những du kích ở làng Trung Hoà Hạ, dưới miệt Củ Chi - Hậu Nghĩa. Trước giờ nổ súng 15 phút họ còn cách Đài Phát thanh 100 thước, với lời hứa hẹn là Đại quân sẽ tiếp viện, chỉ cần họ giữ vững 15 phút mà thôi.
Bà Mã Thiên Đông còn viết một cuốn sách quái đản: Kẻ Bị CIA Cưa Chân Sáu Lần.
Chuyện kể Mỹ dùng 10 chiếc trực thăng đổ quân để chặn bắt một anh Giao Liên ở trong rừng, họ thiệt hại một máy bay lên thẳng và chết mấy chục quân. Bắt được anh Giao Liên họ mừng lắm, chở ngay về SG cho ở trong một biệt thự tráng lệ, hứa hẹn nếu anh chịu khai báo thì sẽ tưởng thưởng cặp lon Trung Tá, cho 100 ngàn đô la với 10 người con gái đẹp phục vụ ngày đêm.
Dĩ nhiên câu chuyện lâm li ở chỗ là cái anh Vẹm con này đã thấm nhuần lý tưởng của Bác và đảng, nên từ chối những thứ kia, thế là CIA đem anh đi cưa chân đến 6 lần, mỗi lần một khúc. Một anh Bác sĩ Nguỵ còn doạ đểu, khi cầm cái cưa dứ dứ và nói cắt đến chỗ này, chỗ này... để cho anh sợ mà khai hết bí mật ra.
Đọc xong những "Đại tác phẩm" này tôi lẩm bẩm: - Sách báo như thế này mà cũng bày đặt viết rồi xuất bản.
Bà xã tôi cười mũi: - Sách vớ vẩn như vậy mà cũng có người mua đọc, rồi tức mới hay

Người Xưa Lối Cũ

Có người về VN thăm thắng cảnh quê hương, có người về kiếm thế hưởng thụ ăn chơi, cũng có người về vì tình cảm sâu đậm đối với thân nhân bạn bè năm cũ, thoáng đâu đó, có người tìm về để ôn lại một mối tình xưa.
Tôi theo người bạn đi đến nhà người xưa của nó. Bước chân vào con hẻm cụt có bóng mấy cây khế rợp mát, chân nó bước líu ríu như lê không nổi. Đến trước căn nhà có cây ngọc lan toả bóng, thấy có người đàn bà đang quét lá, tôi với tay bấm chuông, chứ thằng Thịnh như người mất hồn. Người đàn bà hỏi:
- Hai ông kiếm ai?
Thịnh buột miệng nói liền: - Thưa bác, cô Hằng có ở nhà không ạ?
Người đàn bà vừa mở cổng vừa ngờ ngợ: - Anh là ai mà biết Hằng?
- Trời ơi, bác không nhớ cháu hay sao? Cháu là thằng Thịnh hồi trước đây có kèm cho Hằng lúc cô thi Tú Tài đó.
Cây chổi rớt xuống đất cái xẹp, hai tay bà ôm chầm lấy Thịnh và tiếng khóc oà ra:
- Trời ơi anh Thịnh, em là Hằng đây mà.
Thì ra qua hơn 30 năm, Hằng ngày xưa nay đã hơn 50 rồi. Thời gian nó tàn phá chẳng chừa một ai.
Hôm tôi về Rạch Giá, vừa bước xuống con đò ngang thì đã có cả hơn chục người đứng ngồi dưới đò, ai cũng đưa mắt nhìn tôi, miệng cười cười như chào hỏi, nhưng tôi không nhận ra mặt ai quen, bỗng có một người đàn ông chừng 50 tuổi nhưng tóc còn loe hoe có mấy sợi phất phơ trước gió, vồn vã:
- Anh mới về chơi ạ, anh còn nhớ em không?
Đầu óc tôi bây giờ tây ta lẫn lộn, chỉ nhớ mang máng hình như anh này là Khanh Khờ. Và để tỏ ra là người nhiều tình cảm, chẳng bao giờ quên anh em bạn bè, tôi tiến tới vỗ vai rồi cả quyết:
- Quên thế chó nào được, cậu là thằng Khanh Khờ đây mà!
Nguyên cả chuyến đò cười ngặt nghẹo, có người ôm bụng rũ xuống cười suýt rớt xuống sông. Tôi sượng trân, còn người đàn ông hem hễ kia nói như than:
- Em là Đĩnh đây, nhưng mà thằng Khanh mới bị khờ, còn em thì bình thường mà anh.
Tôi chỉ còn biết xin lỗi anh ta vì cái tài nhớ dai của mình.
Về đi lại trên bờ con kinh xưa, tôi gặp một thiếu phụ bồng con trên tay, thôi đúng là người vợ của bạn tôi rồi, tôi xăng xái hỏi:
- Xin lỗi, chị là chị Độ phải không? Anh chị hồi này khoẻ chứ?
Cô ta ngơ ngác vài giây rồi lí nhí: - Dạ thưa, Độ là tên của bố mẹ cháu ạ.
Ôi! Từ Thức về trần, tôi quên béng đi là mình đã xa quê hương một thế hệ rồi.
Ngày còn nhỏ, thập niên 50, tôi thường nghe bản Gạo Trắng Trăng Thanh khi nghe tiếng cắc cụp đều đều ở quê tôi, vùng suối rừng Thủ Dầu Một. Người dân vần công giã gạo cho nhau, cũng là dịp trai gái hẹn hò gặp gỡ qua công việc và lời ru tiếng hát:
"Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ta hát vang trong đêm trường mênh mang. Ai đang xay, chày buông lơi nghe tiếng vơi tiếng đầy ".
Bây giờ không còn cảnh giã gạo đêm trăng nữa, nhưng bạn tôi, một ông Pilot 69A - Ông Đông Nguyên (thi sĩ Điên Ngông) - cũng trong tâm trạng Từ Thức về trần như tôi, nặn ra được một bài thơ có thể làm Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phiền lòng:
Ta về giã lại cối xưa
Nửa đêm trăng tỏ bóng dừa ngả nghiêng
Thấy trong gạo trắng ưu phiền
Thương em hạt gạo còn nguyên nỗi buồn

 
Vận nước xoay vần, có những người đi xa, có những người còn ở lại, bài Tình Già của Phan Khôi sao mà thấm thía quá thể:
Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ trong gian nhà nhỏ
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở...

 
Để rồi:
Hai mươi bốn năm sau
Tình cờ QUÊ CŨ gặp nhau
Đôi mái đầu đều bạc
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được...

 
Người ta nói "Quê hương là chùm khế ngọt", ngọt như vần điệu ca dao và ngọt như nụ hôn người tình.
Vài vần thơ lạc điệu, xin gửi cho ai có những kỷ niệm khó quên của cây khế quê nhà:
Năm xưa có cây khế ngọt
Quả non đeo nhẹ trên cành
Tay trần anh đưa muốn hái
Em cười: Khế hãy còn xanh
Hôm nay anh cầm trái khế
Muốn cắn vào năm cánh hồng
Nhưng rồi nâng niu tay khẽ
Ôm ấp chuyện xưa vào lòng…


 (Khuyết danh)

-----
 

Uất Hờn : « Kiếp Cầm Chim »

Tác giả dùng thể văn trào phúng để kể lại cuộc đời mình, nhưng cũng là để nói lên cái thảm của xã hội VN sau 75. Phần kết luận thật chính xác. Tất cả những ai đã một thời mang hia đội mão, và hay về VN hưởng thụ phải đọc bài naỳ. Đọc baì viết này chúng ta sẽ cười nhưng pha trộn với nước mắt.

 « Kiếp Cầm Chim »

Tôi được sanh ra trong cái ngày chẳng có nhà thương nào mở cửa ở Sài Gòn cả . Bệnh nhân lại còn bị đuổi về nhà nằm chờ thời ! Mỗi năm tới ngày sinh nhật của tôi , cả nước Việt Nam ăn mừng . Từ ông lớn tới thằng con nít đều được nghỉ lễ . Đó là ngày toàn dân miền Nam bị « phỏng giái » ... 30/04/1975 .
 Ngày năm đó mọi sinh hoạt lộn tùng phèo khi bộ đội miền Bắc « giải phóng » thành phố Sài Gòn , cứ điểm cuối cùng của miền Nam , một thời vang danh là Hòn Ngọc Viễn Đông . Dân chúng ồ ạt kiếm đường chạy ra ngoại quốc bất kể nơi đâu . Người ở lại , lòng hoang mang tột độ vì con đường sống u tối mở ra trước mắt .
 Bố mẹ tôi lúc đó đang ở tại khu Ngã Ba Chú Ía , Xóm Mới , quận Gò Vấp , gần khu nhà Chứa « chị em ta » , nói rõ ra là nghề « làm đĩ » . Bố là lính Nhảy Dù bị thương , quân đội cho giải ngũ . Bố xin được việc làm vệ sinh trong Tổng Y Viện Cộng Hoà . Mẹ có cái xe nhỏ bán thuốc lá lẻ và vé số ngoài cổng . Cuộc sống đang ung dung nhàn hạ , bây giờ chẳng biết ra sao ?
 Mấy ngày nay súng nổ đì đùng khắp nơi trong thành phố . Nhà giầu lo chạy ra nước ngoài . Nhà nghèo thì hè nhau đi lượm đồ đạc của các gia đình « hốt hoảng ra đi bằng mọi giá » này .
 Từ sáng sớm hàng xóm rủ nhau lên bến Bạch Đằng hoặc ra phi trường Tân Sơn Nhất để lượm xe Honda , xe hơi mà những người « bỏ của chạỵ lấy người » quyết tâm tránh « thiên đàng Cộng Sản » vất lại đầy đường . Có người vào các trại lính Việt Nam Cộng Hoà cũ bỏ trống , lục lọi trong các két sắt để kiếm tiền , dụng cụ văn phòng nào khiêng được là cứ việc khiêng về nhà .
 Trong khi đó bố tôi lo chạy đôn chạy đáo , hỏi thăm kiếm bà mụ để đở đẻ cho mẹ tôi . Khi ông mang về được cô y tá bị « lính giải phóng » tống cổ ra đường thì mẹ tôi đã « rặn » ... lòi ra tôi rồi . Cô y tá bất đắc dĩ trở thành bà mụ này cuối cùng cũng làm mọi việc hoàn tất trong điều kiện ngặt nghèo , không một tí thuốc men gì hết ! Số tôi cũng hên , « cô mụ » xài nước muối đun sôi mà tôi cũng không bị nhiễm trùng !
Bố nói , sau khi tôi được sanh ra , mẹ không có sữa vì mẹ tôi thuộc loại đàn bà « vu khống » tức là « không ... vú » . Bố không tìm đâu ra được một cửa hàng tạp hoá mở cửa để mà mua . Mà dù họ có , họ cũng không bán . Ngày mai không biết thế nào , ai cũng đóng cửa chờ thời . Mẹ đành nấu nước cháo cho tôi bú . Những ngày tháng tiếp theo cả nước đói « rã họng » nên tôi cứ « hạnh phúc ... triền miên » bú nước cháo đường ! ! !
 Nghe hàng xóm mách nước , bố đưa mẹ tôi ra phường cho ông cán bộ y tá « chẩn bệnh » để ông cấp giấy cho mẹ tôi được mua sữa nhà nước . Mẹ phải đi tới đi lui 3 lần , ông cán bộ « khám » ngực rất kỹ . Ngày thứ 4 mới biên cho mẹ được mua 3 hộp sữa . Bố về nhà tức mình chửi toáng lên : ĐM cái thằng cán ngố , hai tay nó bóp tới bóp lui muốn nhão cái ngực vợ tao mà nó chỉ cho được có 3 hộp !
 Vài tháng sau , tình hình mới tạm ổn . Sau khi bố bị kêu gọi đi học tập 3 ngày rồi cho về , cán bộ phường khóm cứ khuyến khích gia đình tôi đi kinh tế mới .
 Bố tôi lấy tiền dành dụm mua một chiếc xích lô , chạy kiếm cơm hàng ngày . Thời buổi khó khăn , tranh tối tranh sáng , ai cũng lo thủ thân , không ai dám ăn tiêu phung phí nên bố kiếm chẳng đủ tiền lo cho gia đình ăn sung mặc sướng như xưa nữa .
 Nhờ Trời thương tôi vẫn « èo uột » lớn lên . Cái khó nó bó cái khôn , tự nhiên con nít xã hội chủ nghĩa lại khôn « ngang xương » trước tuổi . Năm lên 3 , tôi đã biết đi sắp hàng dành chỗ cho mẹ tôi mua nhu yếu phẩm mà nhà nước « ưu ái » bán cho mọi gia đình mỗi tháng một lần gồm 9 KG gạo cho một người , ít xà bông , bột ngọt , đường và 1 KG thịt .
 Tôi khoái nhất là miếng thịt này . Cả tháng bố mẹ và tôi chỉ ngày 2 bữa vỗ bụng rau ... bình bịch , hoạ hoằn lắm mới được miếng cá con nếu ba tôi kiếm được thêm chút đỉnh . Thời buổi này ai cũng « rách » hết , bất khả kháng họ mới đi xích lô .
 Miếng thịt đối với tôi lúc đó nó « vĩ đại » vô cùng . Mẹ mang về mua thêm 2 trái dừa khô , lấy cùi xắt từng lát mỏng rồi bỏ vào nồi kho chung với thịt . Bố mẹ thì ăn dừa , tôi được ăn thịt . Tuy rằng mỡ nhiều hơn nạc nhưng tôi nhai miếng thịt sao nó béo ngậy trong họng , đã quá chừng . Chỉ tiếc rằng cơm có hạn , bố mẹ cũng nhường cho tôi mà tôi cũng ăn không đủ no .
 Bố tôi chỉ là Binh Nhì bị thương được cho giải ngũ đã lâu mà Đảng vẫn liệt ông vào hàng Nguỵ . Ông biết tương lai của tôi mù tịt nên ông không tha thiết gì cho tôi đi học . Đến khi « hội phụ nữ » phường nhắc nhở mẹ tôi , ông đành phải cho tôi đến trường với bộ quần áo cũ tôi vẫn mặc hàng ngày .
 Được đi học , tôi vui lắm . Những ngày đầu , cô giáo dạy tôi học ca . Về nhà tôi « rống cổ » hát biểu diễn cho bố mẹ tôi nghe : Ai yêu bác Hồ chí Minh hơn chúng em nhi đồng ...
 Tôi chẳng thấy bố mẹ khen mà mặt hai ông bà bí xị . Bố nói : bố nghe cái loa phát thanh ngoài đường hát mỗi ngày , bố đầy lỗ tai rồi , con làm ơn đừng hát nữa .
 Khi tôi lên học lớp 8 , có trí khôn , tôi mới biết nguyên do tại sao bố buồn . Tôi mặc cảm và thù cái gốc « Nguỵ » của bố . Dẫu vậy tôi vẫn thương yêu bố mẹ tôi lắm . Từ từ tôi tập quên những bài học sặc mùi chiến tranh từ khi còn hỉ mũi chưa sạch . Nào là thằng đế quốc Mỹ , thằng Nguỵ , anh giải phóng quân , anh bộ đội vượt Trường Sơn , anh hùng này anh hùng nọ . Có cả B52 , pháo , tăng ... mà tôi chẳng hiểu gì hết .
 Tôi cũng chẳng còn cố gắng phấn đấu để vào Đoàn với Đảng nữa . Cái khăn quàng đỏ trên cổ bắt đầu ám ảnh tâm trí tôi . Nhiều lúc tôi quá chán nản , muốn nghỉ học cho xong . Đêm đêm cầu xin có người cho tôi việc làm có tiền là tôi nghỉ học ngay .
 Từ khi được « đổi đời » bố mẹ tôi quyết định không sanh thêm . Trời « thương » kẻ bần hàn , bố mẹ bị bể « kế hoạch » hai lần nên tôi lại có thêm 2 thằng em trai « gốc Nguỵ » nữa ! ! !
 Thỉnh thoảng trong bữa cơm tối , bố hay kể cho chúng tôi nghe về đời sống quân ngũ của bố , những trận đánh hào hùng của đơn vị Nhảy Dù kiêu hùng trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà . Trong giây phút đó tôi mới thấy mặt bố rạng rỡ , chứ lúc nào mặt bố cứ như người bị trĩ kinh niên ...
 Mặc dù thiếu ăn thường trực , năm 15 tuổi thân thể tôi đã phát triển đầy đủ 3 vòng rõ rệt , chứ không « vu khống » như mẹ , mặt mũi giống bố nên đẹp hơn mẹ nữa . Năm đó tự nhiên không biết Đảng nghĩ sao mà lại ra chính sách đổi mới kinh tế . Dân đen có quyền làm ăn cá thể , không còn phải thắt lưng buộc bụng như trước .
 Bây giờ ai cũng làm có tiền nhiều hơn . Cái đám dám ăn xài có 2 loại : một là gia đình có thân nhân ngoại quốc gởi tiền về , hai là đám cán bộ tham nhũng ăn hối lộ trên đầu trên cổ dân đen . Mỗi ngày thức dậy , ai cũng nghĩ cách làm sao hôm nay kiếm ra tiền để tiêu xài , hưởng thụ . Không cần nghĩ đến lương tâm , bà con họ hàng thân thuộc . Lừa được ai để kiếm tiền cứ việc « hân hoan » mà lừa . Từ từ tệ nạn trộm cắp , đĩ điếm cũng theo trào lưu « đổi mới » tràn lan khắp nơi . Lúc này chỉ có đám công an , từ « ông con » tới « ông nhớn » là ngồi mát ăn bát vàng ...
 Mẹ bây giờ lại đem cái xe bán thuốc lá lẻ ra trước Nhà Thương làm tiếp . Mặc dù bà phải lo lót cho anh công an khu vực ở đó nhưng thỉnh thoảng cũng bị công an quận « hốt » như thường . Rừng nào cọp đó mà !
 Một hôm , bữa cơm chiều không thấy bố về , cả nhà đang lo lắng . Tới tối ông về nhà , đầu quấn băng trắng hếu .
 Ông sụt sùi kể lại việc bị tụi du đảng ăn cướp cái xe xích lô . Ông đánh nhau với tụi nó bị lỗ đầu phải vô nhà thương băng bó vết thương . Suốt đêm ông lên cơn sốt rên hừ hừ làm tôi đứt từng khúc ruột . Tôi quyết định nghỉ học luôn .
Sáng hôm sau tôi lặn lội đi gõ cửa nhà giàu , xin ở đợ kiếm tiền giúp bố . Tôi đi cả ngày cũng chả ai dám mướn .
 Mấy tuần nay bố nằm nhà than vắn thở dài không biết làm cái gì để sống . Mọi chi tiêu trong nhà đều nhờ vào cái xe bán thuốc lá và vé số của mẹ , chẳng đủ mua gạo mà ăn . Hai đứa em đói nheo nhóc , khóc lóc suốt ngày .
 Tôi cầm lòng không được , bèn âm thầm qua bên cái động đĩ gần nhà , xin bán trinh . Bà chủ động hẹn tôi 3 ngày , sẽ dẫn mối cho tôi .
 Thế là cái « đáng giá ngàn vàng » của tôi bây giờ nó rẻ như bèo , bán được có 1 chỉ thôi . Sau 3 đêm tê buốt , rã rời từ tâm hồn đến thể xác trong vòng tay của ông cán bộ nhà nước ham hố , hùng hục như con hổ đói , tôi như người sắp chết . Ông lại đáng tuổi bố , càng khiến tôi ghê tởm những dấu ấn của ông để lại trên thân thể tôi .
 Ba ngày liền , cả nhà không ai biết tôi đi đâu . Sáng ngày thứ 4 tôi thất thểu mò về , tay cầm chiếc nhẫn vàng một chỉ đưa cho bố và thuật lại mọi chuyện . Mẹ ôm tôi khóc nức nở như chưa bao giờ được khóc . Bố mắt trợn ngược muốn đứng tròng , nghiến răng rào rạo . Tôi không còn giọt nước mắt nào nữa cả vì đã khóc suốt 3 ngày rồi ...
 Cuối cùng tôi khuyên ba nên đi mua cái xe xích lô khác để làm kiếm cơm cho gia đình . Ông không nói gì , mặt cứ đằng đằng sát khí chỉ muốn ăn tươi nuốt sống ai đó . Ông say xỉn suốt 2 ngày liền . Tới ngày thứ 3 ông đem về cái xe xích lô cũ . Đằng sau lưng xe ông kẻ bảng hiệu tên Ngàn Vàng do chính tay ông nắn nót viết lên bằng hộp sơn màu đỏ chói . Tôi ôm bố khóc ròng . Ông cũng siết chặt tôi mà khóc mùi mẫn theo . Lần đầu tiên cả nhà mới thấy được giọt lệ của bố ... !
Sau chuyện này bố mẹ thấy tôi trưởng thành trước tuổi nên không muốn dạy bảo khuyên lơn tôi như xưa . Bố mẹ cũng chẳng lo được gì cho tương lai đời sống anh em tôi nên ông bà cứ để tôi muốn làm gì thì làm .
 Bà chủ động thì cứ dụ dỗ tôi đi theo con đường « làm điếm » vừa nhàn vừa có nhiều tiền . Tôi vẫn để ngoài tai . Đến khi em tôi bị sốt xuất huyết vô nhà thương , không có tiền lo lót cho bác sĩ y tá nên họ không chịu tận tình chữa trị .
 Tôi đành qua mượn tiền bà chủ động để thi hành « thủ tục đầu tiên » ( tiền đâu ) của dân đen khi tới « cửa quyền nhà nước » Tôi hứa với bà khi nào em tôi « xuất viện » , tôi sẽ đi làm cho bà .
 Tôi còn quá trẻ . Trang điểm lên trông tôi đẹp mê hồn . Bà chủ động xếp tôi vào hàng gái gọi , chỉ dành cho khách sộp nhiều tiền , hầu hết là đám cán bộ nhà nước . Khi nào có mối bà mới điện thoại cho tôi « đi khách » .
 Tôi kiếm bao nhiêu tiền đều dành dụm để lo cho em tôi ăn học đàng hoàng . Bạn bè cùng nghề cứ rủ tôi cờ bạc , hút thuốc , chích choác giải sầu , tôi dứt khoát không hùa theo .
 Họ cứ hay nói đùa với tôi rằng : tụi mình làm cái nghề hạ cấp này nó có « số kiếp » cả , thoát ra không được đâu .
 Ca sĩ có cái « kiếp cầm ca » , còn tụi mình thuộc loại « kiếp cầm chim » ... ! Nói xong họ cười thoải mái . Tôi cười không nổi . Tôi nhất quyết , lòng bảo dạ , sau khi dành dụm khá tiền , em tôi học hành tới nơi tới chốn , tôi sẽ bỏ nghề , kiếm người chồng tánh nết như bố , không cần đẹp trai , để xây dựng tương lai .
 Tôi đưa tiền cho mẹ nhưng mẹ nhất định không lấy . Mẹ bảo : nếu bố mẹ nhận tiền này của con , làm sao bố mẹ dám nhìn bàn thờ tổ tiên đây . Con cứ giữ để lo cho thân con . Bố mẹ luôn cám ơn con đã lo cho các em và phụ giúp cái ăn cái mặc cho gia đình ! ! !
 Năm 20 tuổi , thân hình tôi « xuống cấp » , tôi không được làm gái gọi nữa mà trở thành gái thường trực trong động , túc trực ngày đêm để sẵn sàng « ứng chiến » . Tiền thu nhập lại ít đi , không biết chừng nào tôi mới thoát kiếp ...
 Hai năm sau tôi gặp một « mối thường trực » . Lần nào vào động , anh cũng kiếm tôi . Trông anh có vẻ bụi đời , chắc sấp xỉ tuổi tôi . Người Bắc rặc « 75 » , ốm tong teo như người bị sốt rét kinh niên .
 Sau vài lần « hùng hục » với nhau , anh rủ tôi đi ăn , đi chơi mỗi đêm khi nào tôi rảnh . Từ từ anh khai ra hết cái gia phả nhà anh vì anh muốn cưới tôi làm vợ .
 Bố anh là bộ đội vượt Trường Sơn . « Giải phóng » xong ông được làm Phó Giám Đốc cơ quan . Có chức , có quyền và nhất là có tiền tham nhũng hối lộ , ông « cuỗm » được một em « khoái tiền » , sạch nước cản , người Sài Gòn chính hiệu . Hàng ngày em « ra chiêu » độc đáo trên giường làm ông quên mẹ nó vợ con ông đang ngày đêm mong ngóng tin tức người chồng đã đi B hơn 10 năm trời , không tin tức .
 Vô tình có người bạn cùng làng về Bắc thăm nhà , nói cho vợ ông biết . Bà buốn lắm , bèn xin chuyển công tác vào Nam để xem sự thật ra sao . Hơn nữa bạn bà nói trong đó kiếm tiền dễ lắm . Đời sống sung túc , tiện nghi vật chất hơn ngoài Bắc nhiều . Bà càng háo hức ôm giấc mộng làm giàu . Dẫu rằng bà đang có chức lớn trong cơ quan , bà cũng dứt khoát vào Nam .
 Bà ôm con vào Nam , được Đảng « bố trí » cho làm chủ nhiệm hợp tác xã . Bà còn được cấp cho 1 căn nhà cũ do tên « ôm chân đế quốc » bỏ lại . Căn nhà 2 tầng đúc tuy nhỏ nhưng đối với mẹ con bà sao nó lại « hoành tráng » đến thế !
 Chỉ sau 1 tháng là các đồng chí của bà bàn với bà cách « kiếm tiền » bỏ túi . Đời sống bà thay đổi hẳn . Nhà cao cửa rộng , tiền bạc rủng rỉnh , bà cũng quên bố nó thằng chồng khốn nạn bỏ mẹ con bà ...
 Bà cứ ở vậy kiếm tiền nuôi con làm giàu . Vả lại cũng chẳng có ma nào thèm lấy bà vì bà cũng thuộc loại « hăng rô » , răng cỏ cứ như là hàng rào ấp chiến lược của « thằng Diệm » vậy . Bà biết đứa nào mà ngó tới bà là nó ngó cái túi tiền của bà thôi . Bà cưng thằng con lắm . Nó chẳng chịu học hành gì . Tối ngày chỉ xin tiền bà đi chơi . Bà chửi nó chừng nào nó đi nhiều chừng đó . Bà thấy nó ốm yếu nay đau mai đau cũng làm ngơ cho nó chơi nhưng bà không ngờ là nó « chơi bời đĩ điếm » tới bến luôn ...
 Anh thú nhận với tôi là mẹ anh không biết anh đi chơi gái vì thấy anh ốm yếu quá . Ngày nào anh cũng chơi , chỉ toàn gái phế thải đứng đường , gặp tôi thì anh ngưng , chỉ biết có tôi thôi .
 Một hôm anh đưa cho tôi 3 lượng vàng . Anh nói anh mới cạy tủ của mẹ anh và bỏ nhà đi luôn để sống với tôi . Thời gian qua , tấm chân tình của anh cũng làm tôi cảm động . Mặc dù biết tôi làm đĩ nhưng anh vẫn muốn lấy tôi làm vợ , vì thế tôi xiêu lòng , đồng ý sống với anh như vợ chồng mà lòng thì không yêu anh .
 Tôi không dám đưa con « kẻ chiến thắng » về trình diện « ông chiến bại » , sợ bố nổi cơn uất hận mất nước mà chết nghẹn trong lòng thì lại khổ cho tôi . Hai đứa tôi mướn căn phòng trọ rẻ tiền để sống . Anh chẳng biết làm ăn gì , tôi tính sao anh nghe vậy . Tôi tính tới tính lui , thử buôn bán vặt ngoài lề đường . Vốn cứ từ từ bay mất . Cuối cùng tôi lại trở về
 cái kiếp cầm chim ! Ngày ngày anh lại chở tôi đi làm nuôi anh .
 Mấy lần anh về thú thật với mẹ là anh đã có vợ người Nam , xin bà cho anh làm đám cưới . Bà thuộc loại « răng đen mã tấu , ăn chắc mặc bền » chỉ sợ thêm đứa con dâu phá của nữa thì căn nhà này với 2 đám đất được Đảng « chia chác » cho , sẽ từ từ bay mất khi bà nằm xuống . Bà nói với anh , bà đã chọn vợ cho anh rồi . Bà chỉ tin gái Bắc thôi . Anh nhất
 định không chịu và tiếp tục bỏ nhà ra đi .
 Mấy năm sau anh bàn với tôi xin đứa con trai về nuôi rồi đem về nói dối mẹ anh đó là con ruột , xin bà nhận cháu nội .
 Không ngờ « cái đòn tình cảm » này lại « ăn tiền » . Nhìn đứa bé kháu khỉnh , bà nghĩ nó giống tôi , trông đẹp quá nên bà cũng mê tít thò lò ... Hơn nữa trên 5 năm qua , con bà bỏ bà cô quạnh một mình , những lúc ốm đau bà lủi thủi một mình , tủi thân lắm , chỉ mong anh trở về , bà sẵn sàng tha thứ tất cả .
 Thế là bà đồng ý cho chúng tôi về ở chung . Không có cưới hỏi , chỉ làm hôn thú mà thôi . Anh nói với tôi để từ từ anh tính vì trước sau gì tài sản này cũng thuộc về anh . Tôi thấy gia sản của bà cũng phát thèm ...
 Bố mẹ tôi khi nghe anh thuộc con cháu « bên thắng cuộc » , ông nhất định không thèm kết thông gia . Dù chịu bao đắng cay của người « bên thua cuộc » bị kẹt lại , ông vẫn hiên ngang ngẩng mặt nhìn đời , cố gắng giữ chút phẩm cách cuối cùng của người chiến sĩ Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà . Bố vẫn nói : mình nghèo thật nhưng lúc nào cũng phải giữ lấy tư cách của con người . Ông còn cầu mong cho chúng tôi bỏ nhau nữa .
 Mẹ anh muốn đưa tôi vào làm với bà , tôi không chịu . Cuộc sống tôi « nhàn hạ » quen rồi , không chịu cực nổi . Tôi xin bà mở cho tôi cái tiệm cà phê hoặc cửa hàng bán tạp hoá . Bà thấy tốn tiền quá , bà không chịu chi tiền cho tôi làm ăn nuôi con bà .
 Cuối cùng bà cho được vài chục triệu , tôi mở cái sạp bán cà phê nước ngọt như mẹ tôi trước cửa nhà thương . Bán lời không bao nhiêu mà ăn tiêu phung phí đã quen nên tôi vừa bán vừa « chài » mấy tên mê gái nuôi tôi . Khi kiếm được « con mồi » tôi lại giả bộ về thăm mẹ tôi để lén đi chơi với người tình . Anh vẫn tin tưởng tôi , không nghi ngờ gì hết .
 Từ ngày tôi về ở chung với mẹ chồng , anh được bà « vổ béo » để sinh cho bà 1 thằng cu nữa . Bà đâu biết rằng « chim » con bà đã biếng « hót » từ lâu . Càng ngày anh càng tiều tuỵ , lờ đờ như thằng chết rồi . Bà có thằng con duy nhất nối dõi tông đường của thằng chồng « mất nết » , bà chỉ sợ nó « ngủm củ tỏi » nên chạy thầy chạy thuốc cho nó hết mình . Cứ nghe ông lang nào hay là bà hốt thuốc về cho anh uống ...
 Hằng ngày tôi đem thằng con nuôi ra chơi với tôi , đóng vai « gái 1 con trông lột tròng con mắt » để câu « cá mập » . Tôi cũng mới hơn 30 tuổi đầu , phấn son « đậm đà » một chút , trông cũng còn trẻ đẹp chán .
 Vậy mà mấy năm sau mới có « một thằng dính chấu » . Con cá này hết xảy : Việt Kiều Mỹ . Anh về VN thăm thân nhân nằm nhà thương . Trong khi ngồi uống cà phê chờ tới giờ mở cửa , thấy chàng cũng đáng tuổi cha tôi mà cứ « địa » vào cái cổ áo khoét sâu hết cỡ trên ngực tôi một cách lộ liễu , tôi bắt đầu « tấn công con mồi » . Nhìn cách ăn mặc của chàng tôi biết chàng chắc chắn thuộc loại « Việt Kiều yêu ... gái » .
 Tôi ngồi sát bên chàng cho mùi nước hoa ngọt dịu bay vào mũi chàng , mắt buồn vời vợi nhìn chàng cất tiếng « hót » , thảm não ca bài « kiếp nghèo » do tôi sáng tác , đã thuộc nằm lòng trong bụng tôi từ trước :
 « Em bị chồng bỏ đã lâu . Sáng sớm em phải đem con ra đây để buôn bán kiếm cơm nuôi nó . Đâu có ai đưa nó đi học mẫu giáo . Buôn bán lại cứ bị công an thỉnh thoảng hốt hết về đồn , vừa mất vốn còn phải đóng phạt . Nhiều khi em muốn tự tử cho xong nhưng thấy cháu còn nhỏ nên em lại thôi ... » .
 Vừa nói tôi vừa cố « nhỉ » ra vài giọt nước mắt . Gái VN coi phim Đại Hàn đã quen nên đóng cảnh khóc dễ dàng lắm .
 Không ngờ chàng cũng thuộc loại « dê gác chuồng » , chàng đặt tay lên vai tôi xoa xoa , không nói lời nào , mắt nhìn tôi đắm đuối pha lẫn chút xót xa .
 Tôi chỉ chờ có dịp này là ngả đầu vào ngay ngực chàng « khóc rống » lên , cứ như bố tôi mới « lăn đùng » ra chết vậy ...
 Các bà bạn hàng bên cạnh thấy tôi đóng kịch quen rồi nên chẳng ai thèm để ý , còn chàng thì ôm lấy tôi thủ thỉ :
 - Thôi em đừng khóc nữa chiều nay anh sẽ tới đón mẹ con em đi chơi . Mấy giờ em nghỉ bán ?
 Tôi « mở cờ » trong bụng , sụt xịt thì thầm : em còn lòng dạ nào buôn với bán nữa hả anh ? ? ? Em sẽ dẹp về sớm đây .
 Thế là chàng phụ tôi dọn dẹp , gởi đồ trong nhà của người gác cổng . Chàng điện thoại cho người nhà trong bệnh viện , nói cho họ biết , buổi chiều chàng mới tới được . Chàng vẫy taxi đưa tôi về hotel chàng ở . Trên đường đi tôi kêu chàng ghé qua nhà tôi để gởi đứa con . Tôi cũng lén điện thoại cho chồng tôi biết là sẽ ở bên Ngoại chơi vài ngày .
 Tôi dối chồng đi « vi vút » với chàng cả tháng trời , được cho đi Thái Lan , Singapore , Malaysia chơi nữa . Bố tôi hay nói khi xưa các nước này không thể nào so sánh với Sài Gòn được . Thế mà bây giờ trông thấy nước người ta đồ sộ quá chừng . Tôi lại càng phải quyết tâm « ôm cứng » chàng hơn nữa để mong có ngày được theo chàng qua Mỹ .
 Bao nhiêu « ngón nghề » tôi trổ ra hết , làm chàng « ngất ngư con tàu đi » , không kịp thở ! ! ! Ngày chàng sắp lên đường trở về Mỹ , chàng mới thổ lộ hết tâm tư cuộc sống của chàng cho tôi biết . Cha mẹ chàng đã chết hết ở VN . Chàng là Chuẩn Uý Bộ Binh đóng ở Phú Quốc . Sau ngày 30/04/1975 chàng theo tàu đi di tản mà ở nhà cứ tưởng chàng chết .
 Ở Mỹ chàng đã có vợ . Con cái chàng đã lớn , đều ra ở riêng . Gần 60 tuổi đầu nhưng chàng vẫn phải đi cày nuôi thân .
 Chàng hứa sẽ chu cấp cho tôi chút đỉnh sống qua ngày , chờ chàng kiếm cách bảo lãnh cho tôi qua . Ngày chàng cất bước lên đường về Mỹ , tôi lo buồn khóc thật vì sợ mất chàng ...
 Cuộc tình « chồng già vợ trẻ là tiên trên ... giường » của tôi cũng được hơn 4 năm rồi . Mỗi năm chàng về « chơi » với tôi 1 tháng . Chàng mê tôi như điếu đổ . Về Mỹ , mỗi ngày chàng đều điện thoại cho tôi nói chuyện anh anh em em ngọt như « mía lùi » . Khi nào kẹt tiền ăn diện tôi mới điện thoại cho chàng . Tôi thường nói dối với chàng khi thì tôi đau , khi thì
 con ốm để xin tiền . Đôi lúc nghe chàng xưng hô mày tao là tôi biết có « sư tử Hà Đông » của chàng bên cạnh .
 Tôi biết chàng thực lòng muốn lấy tôi làm vợ . Chàng phải làm thêm buổi tối để có tiền chu cấp cho tôi . Mỗi lần chàng về VN du hí , tôi lại phải nói dối chồng , xin dẫn con về Ngoại chơi cả tháng để tôi « hầu hạ » chàng . Chồng tôi không dám qua nhà tôi vì bố mẹ tôi quyết không « đội trời chung » với giòng họ nhà anh . Cũng may cho tôi quá chừng !
 Bố cũng không ưa chàng Việt Kiều của tôi . Ông bảo đúng là thằng già không nên nết . Bố vẫn nuôi hy vọng một ngày nào đó , các cấp chỉ huy của bố ở Hải Ngoại sẽ tranh đấu cho xứ sở này được tự do như xưa . Từ khi cái ông Tướng Tàu Bay từng hô hào sẽ ở lại chiến đấu tới cùng , qua hôm sau lại xách đít lên máy bay bỏ trốn ra nước ngoài , bây giờ
 về « nâng bi » mấy thằng đánh Ông chạy có cờ thuở xưa để kiếm chút tiền đút túi , bố nhục lắm ...
 Bố vẫn mong có ngày gặp thằng nào từ ngoại quốc về , ngồi xích lô của bố mà cứ vỗ ngực xưng tên , ta đây hồi xưa là Tướng Tá , bố sẽ đứng nghiêm , chào một phát rồi chửi vào mặt ngay . Tôi rất thông cảm nỗi khổ của bố .
 Năm vừa rồi chàng nhờ một người bạn Mỹ về VN làm bảo lãnh cho tôi . Tôi cứ tưởng chàng sẽ ly dị vợ , không ngờ chàng cũng thuộc loại « chơi chịu » , « vừa chơi vừa run » . Tôi cũng không màng nghĩ chuyện đó làm gì , miễn sao tôi được ra khỏi nước VN là OK rồi . Gái VN bây giờ đi Tàu Cộng mà họ còn muốn đi huống hồ gì đi Mỹ . Con cái cán bộ gộc cũng còn ham muốn « qui Mã » kia mà ... !
 Chàng nói với tôi khoảng 1 năm sẽ xong , cứ yên tâm chờ đợi . Tôi định làm thủ tục ly dị với chồng sẵn , để khi được kêu phỏng vấn xuất ngoại , mọi chuyện tiến triển nhanh hơn . Bạn bè lại cản tôi , nhỡ phỏng vấn không xong thì sao ?
 Tôi mà để mất cái gia sản của Đảng « ban cho » nhà chồng của tôi thì ... uổng lắm . Tôi thấy có lý nên không làm .
 Trong khi chờ đợi , tôi đi khám sức khoẻ tổng quát , soạn sẵn giấy tờ , nếu toà đại sứ Mỹ kêu phỏng vấn sẽ đem nộp ngay . Khi cầm cái giấy thử máu , tôi rụng rời tay chân : kết quả dương tính với AID .
Tôi khóc lóc vật vã mấy ngày trời với cái án tử hình trước mắt . Tôi không còn tha thiết gì cuộc đời này nữa . Chồng tôi cũng không biết tại sao , cứ hỏi tại sao em buồn . Tôi không muốn nói cho anh biết , có thể anh cũng dính như tôi .
 Bây giờ trông anh như con mắm khô , cân cả lông lẫn củ chỉ chừng 40 KG .
 Tôi định kêu anh đi thử máu . Suy đi nghĩ lại , tôi lại thôi . Thà lăn đùng ra chết còn sướng hơn mang án tử như tôi .
 Đêm đêm nằm thức trắng khóc thầm , tôi tiếc cho cuộc đời quá ngắn của mình .
 Chúng tôi sinh ra không đúng lúc đúng thời , chỉ là nạn nhân của 2 chủ thuyết Cộng Sản và Tự Do đấu đá nhau . Không may cho chúng tôi Cộng Sản lại thắng nên cuộc sống xã hội đã đưa đẩy tôi tới cái kết quả tất yếu của « kiếp cầm chim » khốn khổ này ...
 Hôm qua chàng Việt Kiều điện thoại cho tôi biết , tháng tới chàng với vợ về VN thăm gia đình . Chàng sẽ cố kiếm cách đi chơi với tôi . Không biết chàng có dính không , tôi thấy thương chàng quá . Dẫu rằng kỳ này tôi khoẻ , không phải nói dối chồng để ngủ với chàng , lòng tôi chẳng còn háo hức vui thú như trước nữa . Chàng hẹn tôi ở phi trường để chàng
 được lén nhìn tôi cho thoả lòng mong nhớ hơn 9 tháng qua . Đời oái oăm quá !
 Bây giờ tôi mới nghĩ tới Chúa . Cha mẹ tôi rất ngoan đạo , còn anh em tôi được Đảng giáo dục « vô thần » nên không tha thiết tới đạo nghĩa . Hằng đêm tôi vẫn tha thiết cầu xin Chúa cho tôi trước khi chết , được một lần « ôm chân đế quốc » coi cái miếng « bơ thừa sữa cặn » nó ra sao mà thiên hạ cứ nao nức để đi .
 Một tháng trôi nhanh . Hôm nay tôi trang điểm thật kỹ để đi đón chàng . Tôi muốn chàng giữ mãi hình ảnh đẹp nhất của tôi lần cuối . Không biết sang năm tôi có còn sống để gặp chàng nữa không ?
 Gần tới phi trường , tôi nhận được điện thoại của mẹ chồng cho biết chồng tôi té xỉu trong nhà , đang nằm phòng cấp cứu . Tôi lái xe trở về , vào bệnh viện thăm anh ngay . Tôi túc trực bên anh suốt mấy ngày . Anh vẫn mê man cho tới khi ngừng thở . Bác sĩ chẩn đoán anh bị bịnh Aid đã lâu . Anh chết vì kiệt sức .
 Tôi ôm anh khóc lóc thảm thiết . Không biết tôi khóc thương thân anh hay thương chính thân tôi . Vậy là anh lây bệnh cho tôi từ lâu !
 Người đau khổ nhất chính là mẹ anh . Bà vật vã khóc lóc mấy ngày trời . Bà cũng giống như hầu hết các cán bộ gộc khác , khi nghèo thì vô thần , theo chính sách của Đảng , lúc giầu sợ chết nên trở thành hữu thần . Bà lo cúng kiến , cầu khẩn Trời Phật cho bà sống lâu để hưởng thụ . Cục con cưng của bà mất , tâm hồn bà cũng chết theo .
 Bà đã về hưu mấy tháng nay . Bây giờ cô quạnh một mình , bà chán đời , ngày ngày tụng kinh gõ mõ , ăn năn sám hối tội lỗi của mình , cầu mong khi chết bà được lên cõi Niết Bàn . Từ một cán bộ trung kiên , tự nhiên trở thành một ni cô tại gia , tôi thấy thương bà lắm .
 Không biết bà nghĩ sao lại viết di chúc giao hết tài sản cho thằng cháu đích tôn của bà . Nó chỉ là đứa con nuôi của vợ chồng tôi . Nếu nó lớn lên , tìm được nguồn cội của nó , tài sản của bà đúng là « của Thiên trả Địa » ...
 Bà khẩn khoản xin tôi đứng trung gian « hoà hợp hoà giải dân tộc » với bố tôi . Tôi cứ chần chờ mãi . Tôi biết bố tôi giờ đây cũng chẳng hận thù gì bà . Ông chỉ chán nản cho một kiếp người phải sống trong một nước nhược tiểu mà thôi .
 Từ ngày có internet , bố rất chịu khó đọc tin tức thế giới . Bố vẫn ngày đêm tìm hiểu tại sao miền Nam đang đánh đấm ngon lành lại buông súng đầu hàng . Từ từ sự thật phơi bày , bố chán đời tìm quên trong ly rượu hàng đêm .
 Bây giờ bố biết thằng Mỹ đi tới đâu nó quậy tanh banh nước người ta rồi bỏ về , mặc kệ mày sống chết ra sao , miễn sao quyền lợi của nó không sứt mẻ là OK . Bố hận Mỹ lắm , thế mà ông vẫn nuôi hy vọng cho tôi được qua đó để làm lại cuộc đời , thoát khỏi cái « kiếp cầm chim » . Nếu bố biết tôi đang mang bản án tử hình , chắc bố chết mất !
 Từ khi chàng tình già « Việt Kiều yêu ... gái » của tôi , về với vợ thăm quê nhà , không liên lạc được với tôi , chàng như con thú điên . Về Mỹ chàng điện thoại tới tấp cho tôi . Hết trách móc , dỗi hờn đến năn nỉ , tôi vẫn cương quyết khuyên chàng hãy quên tôi đi vì tôi đã có chồng .
 Sau khi chồng chết , tôi thấy cuộc đời thật trớ trêu . Chồng tôi giết tôi mà anh vẫn không biết . Khi biết thân tôi bị bệnh quái ác này , tôi làm sao đang tâm giết người khác cho được . Tôi đành phải dối chàng để chàng xa tôi .
 Thật ra tôi chỉ cầu mong chàng chưa bị lây nhiễm . Lòng tôi luôn cảm động trước tấm chân tình của chàng vì chàng quá yêu tôi . Làm sao tôi có thể để chàng lây bệnh của tôi mà chết cho đành . Đối với tôi chàng chẳng có tội tình gì . Đối với bố tôi lại khác : thằng sĩ quan « Nguỵ » nào về đây ăn chơi đều có tội hết .
 Tội của chàng cũng giống như bao nhiêu người đã trốn chạy trong ngày định mệnh 30/04/1975 , họ chưa được hưởng cái thiên đường Xã hội chủ nghĩa nên không có nỗi « uất hờn » như bố tôi . Bây giờ họ hân hoan đem tiền về đây để hưởng thụ trên những nỗi đau của người kẹt lại . Họ vẫn không cảm thấy hổ thẹn với lương tâm bao giờ vì toàn là bọn mất tư cách mang hình thù con « dê gác chuồng » , họ có tư cách đâu mà mất !
Đời chàng không may , đụng phải con nhỏ mang « kiếp cầm chim » như tôi . Nếu chàng cũng bị dính Aid , chàng có còn thương xót cái thân bọt bèo của tôi nữa không ?
 Vĩnh biệt chàng ! ! !



 Khảm Rỗ
Tháng 3-2013

Bài Xem Nhiều