We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 3 September 2013

Đại âm mưu: Hồi Hai



1


Tôi cứ tưởng chỉ bài viết ngắn Đại Âm Mưu cũng đủ nói lên mưu mô gian trá của cọng sản và bọn tay sai cựu việt cọng nằm vùng Đằng - Nhuận nhằm dựng lên kịch bản Dân chủ – Xã hội tô vẽ cho chế độ toàn trị cọng sản sắt máu đỏ lòm đổi thành màu nửa đỏ, nửa xanh để đánh lừa công luận hầu giúp cho chế độ cọng sản kéo dài ách thống trị.
 
Chẳng ngờ rằng đọc thấy bài viết của lý thuyết gia cọng sản Nguyễn Thanh Giang “Hãy để ước nguyện Lê Hiếu Đằng thành hiện thực” nên chẳng đặng đừng mà phải viết thêm một đoạn.
 
Sau khi ca ngợi không tiếc lời những người gọi là cọng sản “phản tỉnh” và cách riêng tên phản bội Miền Nam Hiếu Đằng, Giang đấm ngực xưng tội:
 
“Phải dũng cảm và chân thành mà nhận rằng hầu hết tất cả chúng ta, trong đó có tôi và quý vị nói chung đều có tội đối với dân tộc, với đất nước; đều đã lầm lỗi. Lầm lỗi do tự lầm lẫn. Lầm lỗi do bị lường gạt.”
 
Vừa nói xong lời nhơn nghĩa bà tú để là y giở giọng dối trá lưu manh rặt nòi cọng sản:

 
“Người Cộng sản từng lầm lỗi. Người Chống Cộng cũng từng lầm lỗi.”
Người cọng sản, trong đó có Thanh Giang dự phần , gây ra không biết cơ man nào là tội ác chớ không phải chỉ là lầm lỗi.
 
Đem đánh đồng người chống cọng với cọng sản là chạy tội cho bọn cọng sản giết người cướp của từ già hồ cho tới bọn phản quốc, bán nước cầu vinh hiện đương đè đầu cướp bóc dân lành ngày nay.
Người chống cọng làm gì mà lầm lỗi? Người chống cọng không tiếc máu xương chiến đấu cố giữ cho được nửa mãnh dư đồ của tổ tiên khỏi lọt vào tay Nga- Tàu, quốc tế cọng sản.
250 ngàn tử sĩ Miền Nam đem máu đào tưới thắm mãnh đất quê hương, giữ tự do, no ấm cho 18 triệu đồng bào được 21 năm! Họ có gì mà lầm lỗi?
Họ đâu có giết người tập thể, tiêu biểu 175 ngàn nhân mạng trong cải cách ruộng đát, 4- 5 ngàn đồng bào vô tội trong tổng tấn công Mậu Thân ở Huế nơi những mồ chôn tập thể!
 
Ngày nay những người cọng sản miệng nói phản tỉnh trong bụng vẫn là: Vì độc lập Dân tộc đánh Tây, đánh cho Mỹ cút ngụy nhào, phủ nhận sạch trơn vết tích tội ác khi đương quyền tại vị. Người cọng sản Gorbachev nói: Cọng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.


 
Đánh đồng người Quốc gia với cọng sản sát nhơn là dối trá.
 
Thanh Giang phủ nhận tư cách cọng sản, báng bổ người chống cọng, chỉ giữ lại tư cách đầu nậu Việt Tân:
 
1/ Trần Khải Thanh Thủy tuyên bố: Nguyễn Thanh Giang giới thiệu y thị vào đảng Việt Tân.

2/ Trên vài blog có người viết tố cáo Nguyễn Thanh Giang khấu bớt tiền do Việt Tân gởi về trợ giúp.
 
Tuy vậy bài viết nầy của tay tắc kè Xanh cũng tiết lộ vài chi tiết lý thú về kịch bản Đại Âm Mưu trong câu kết “ hoành tráng ”:
 
“Đề nghị ông hãy mau liên kết với nhiều thành phần, nhiều cá nhân không chỉ trong mà cả ngoài Đảng, đặc biệt là giới trẻ để gấp rút hình thành tổ chức và sớm công bố được bản cương lĩnh của đảng Xã hội Dân chủ Việt Nam trên cơ sở tham khảo các văn bản của “Phong trào Con đường Việt Nam” ở trong nước và của “Tập hợp Dân chủ Đa nguyên” ở ngoài nước.”
 
Té ra Giang ta rao Nam, rao Bắc một hồi chỉ là để xuống xề mối lái tuồng tích cho hai tên hề già Đằng - Nhuận mót lập đảng mà lạng quạng chưa nặn ra được cương lĩnh.
 
1/ Phong trào Con đường Việt Nam là của ai? Nó là của bộ ba Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Công Định, tức nhóm Chấn ( Hưng VN ), chi bộ Việt Tân trong nước, tiền thân Dân chủ – Xã hội thất bại.

2/ Tập hợp Dân chủ Đa nguyên là của ai? Nó là của tay tổ Hòa hiệp, hòa giải Nguyễn Gia Kiểng ở bên Tây.
 
Cái phần hai của Đại Âm Mưu nầy do con tắc kè Thanh Giang tò le xem cũng chẳng ra chi, bởi vì nó cũng từa tựa như dzụ Phong trào Liên Kết Trong Ngoài, Đối lập-Đối kháng do TS. Nguyễn Bá Long bên Canada thủ diễn theo kịch bản của sư phụ Vũ Quốc Thúc hồi năm 2000.
Chỉ khác có chút xíu là thay vì Câu lạc bộ Kháng chiến Nguyễn Hộ bên trong thì nay là Nhóm cựu việt cọng nằm vùng Miền Nam do Hú Đằng giả bịnh đứng mủi chịu sào.
 
Rốt cuộc, cái Đại Âm Mưu nầy là gì?
 
Thì nó vẫn cứ là: “Quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù, hòa hiệp, hòa giải, xây dựng tương lai.
 
Thì Nó vẫn cứ là: Xóa bỏ Làn Ranh Quốc Cọng!
 
Thì Nó vẫn cứ là: Người cọng sản chân chính cũng yêu nước (sic), vì độc lập dân tộc đánh Tây, đuổi Mỹ...
 
Viết tới đây nản chí quá rồi, xin gởi lại mấy câu vè để đọc giả giải khuây:
 
Tuồng Dân chủ Xã hơi
 
Cò mồi chủ là việt gian Lê Hiếu Đằng

Đánh trống , khua chiêng Hòn Ngọc Nhuận

Chỉ đường là Trần Huỳnh Duy Thức

“Con Đường Việt gian”

Theo đóm ăn tàn là “Tập hợp Da con chó vá ”

Cây da Kiểng già cốc đế

Tò le ngậu xị là ma cô Giang

Còn chạy hiệu là những ai…?

Phen nầy đảng vẹm diễn tuồng

Đại nhạc hội tạp lục Tùng Lâm

Vịt tìm, khỉ, vượn hầm bà lằng

Triệu chứng sắp sửa vãng tuồng cọng sản

“Đến đây chấm dứt chương trình
tạp lục của ban Tùng Lâm”
 
Nguyễn Nhơn

ĐẠI ÂM MƯU : Hồi Một



1
 Đại Âm Mưu!

Đây không phải là Thuyết Đại Âm Mưu ( Great Conspiracy Theory) Mỹ. Đây là nói về toan tính chuyển đổi từ cọng sản toàn trị An nam sang dân chủ xã hội theo kiểu Bắc Âu.
 
Mấy ngày gần đây, thiên hạ ồn ào về “hiện tượng“Lê Hiếu Đằng, cựu Việt cộng nằm vùng nói mơ trong những ngày nằm bịnh về cái mô hình Dân chủ Xã hội Bắc Âu. Con cu gáy phản chủ VNCH Hồ ngọc Nhuận giựt mình hô khẩu hiệu:
 
“ Lòng dân đang dậy sóng. Cả nước đang mong chờ Đảng mới phất cờ hành
động để cứu nước.
Đảng Dân Chủ Xã Hội Việt Nam mới nhất định thắng lợi.
Dân tộc Việt Nam nhất định thắng lợi.
Đất nước Việt Nam nhất định tự do, dân chủ thật sự và giàu mạnh.” (Phá xiềng)
 
Đặt ra một bên những tranh luận ồn ào, nhìn lại cho kỷ thì thấy rằng: Hiện tượng diễu dở của cặp hề già vc nằm vùng Đằng – Nhuận chỉ là cái chóp nhỏ xíu của tảng băng chìm sâu bên dưới.
 
Chìm sâu bên dưới là kịch bản cùng tên Dân chủ Xã hội của các lý thuyết gia công sản và phi cọng sản phục vụ đảng như các đấng kể sau:
 
Trên diễn đàn Quansuvietnam vừa rồi đăng tải bài viết của hai tác giả Lê Bảo Sơn-Phan Trọng Hùng với phần mở đầu như vầy:
 
“ Năm nhà trí thức phát biểu về “Con đường xã hội – dân chủ” ở nước ta
Chuyên đề “Con đường Xã hội-Dân chủ : Tìm hiểu hai trường phái của chủ nghĩa xã hội”

Trong những tháng cuối năm 2004, Ban Tổ chức Trung ương của ĐCSVN đã thực hiện chương trình khoa học KX. 10 [1] nhằm phục vụ cho Đại hội X của Đảng. Đây là một công việc mang tính chất “nội bộ”, nghĩa là hoàn toàn bí mật đối với công luận. Đáng lý chúng ta không được biết gì về những nội dung được trình bày. Tuy nhiên, có hai bài phát biểu đã lọt ra ngoài, gây xôn xao trong dư luận.
1.      Trước hết là bài phát biểu của Giáo sư Phan Đình Diệu, thuộc Viện Đại học Quốc Gia Hà Nội, nhan đề “Một số suy nghĩ về con đường tiếp tục đổi mới của đất nước ta’’. …. Về chính trị–xã hội, ông cho rằng mô hình “chủ nghĩa xã hội khoa học” theo kiểu Marx-Lenin vốn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý và cơ giới luận đã “bị thực tiễn bác bỏ”. Trong khi đó: “Một mô hình khác của chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa xã hội dân chủ, từng bị phê phán là tay sai của chủ nghĩa tư bản, kẻ phản bội cách mạng vô sản, đã chứng tỏ là có sức sống hơn, và trong chừng mực nào đó đã thành công ở các nước Bắc Âu và có ảnh hưởng to lớn đến thế giới ngày nay.”

2.      Bài phát biểu thứ hai có đề cập đến mô hình xã hội–dân chủ là của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh,nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, một chuyên gia kinh tế hàng đầu của Đảng CSVN, từng giữ vai trò cố vấn cho nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam như các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Duy Trinh.

…. Việc ông Lê Đăng Doanh ca ngợi mô hình xã hội–dân chủ một cách khéo léo trong cùng một chương trình nghiên cứu khoa học với ông Phan Đình Diệu cho thấy hai trí thức tiêu biểu (một ngoài Đảng, một trong Đảng) đã đồng thuận với nhau ở một điểm: coi mô hình dân chủ-xã hội là mô hình có thể thay thế cho mô hình cộng sản đã sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới.”
 
Còn ba "nhà" nữa là các ông Lữ Phương, Nguyễn Xuân Nghĩa và Nguyễn Xuân Tụ ( tức Hà sĩ Phu ) cũng lập luận na ná nên xin lược qua.
 
Từ bấy đến nay đã được non chín năm. Phụ nữ thập ngoạt hoài thai. Đảng ta nghiền ngẫm kiến giải của các nhà mưu sĩ như vậy là quá lâu. Đến nay, sau những kêu gọi “ đột xuất lý luận “ của Trọng bí lú không ai đáp ứng gì được nên mới lôi cái mô hình dân chủ xã nghĩa ngày cũ ra cho ê kíp cựu vc nằm vùng liều mạng nhấp thử.
 
Nói cho thật, trong khi tình cảnh xã hội bức bách quá rồi, những giải pháp cò mồi cải lương như: Khai dân trí – chấn dân trí – hậu dân sinh theo khẩu hiệu các tiền bối thời đầu thế kỷ 20 hay xã hội dân sự theo thuật ngữ hiện  đại đều không theo kịp biến chuyển nhanh như chớp của thời đại truyền thông điện tử nên phải gấp rút tìm giải pháp để đảng ta còn tồn tại, cai trị tiếp.
 
Khốn nỗi, mấy đấng chống cọng “ cực đoan “ tuy hiền lành tử tế, nhưng bị cọng sản lưu manh lừa gạt mãi nên cũng rút kinh nghiệm, phán đoán bén nhạy lật tẩy quá sớm cho nên chưa chánh thức kéo màn mà xem chừng rã đám.
 
Nói ra thì nghe nó cũng kỳ, thường thì các nhà tuyên giáo cọng sản rất bén nhạy trong việc bắt mạch quần chúng để theo đà giở  trò xu mị. Không hiểu sao trong mưu tính thay tên, đổi màu lần nầy lại hớ hênh làm vậy?!
 
Họ không biết rằng bốn chữ Xã hội chủ nghĩa ngày nay trong con mắt của đông đảo người dân giống như ôn dịch, nào là xuống hố cả nút, nào là xạo hết chỗ nói và vân...vân...Lại đi đặt tên cho cái đảng của đấng “ tiên phong trong tiến trình dân chủ VN “ ( tước phong do tiến sĩ Dạ Lan ban cho Hiếu Đằng ) là đảng Dân chủ – Xã hội, phạm phải điều húy kỵ của đại chúng như vậy!?
 
Có lẽ chú Đằng cũng nhận biết như vậy, nhưng nếu minh giải cho ắt sự khác nhau như trời với vực giữa dân chủ xã hội thứ thiệt phi Mác xít và xã hội chủ nghĩa mác xít thì e là đảng giựt mình lo sợ nên mới chêm một câu thòng trấn an: 
“ Trong cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” ông đại tá nói thời kỳ Mao già rồi cũng nghiêng về khuynh hướng dân chủ xã hội của Đệ nhị Quốc tế, rồi bản thân ông cũng đề nghị như vậy.”
 
Thật ra cái câu nhẹ hều nầy mới là then chốt tiết lộ âm mưu thay tên, đổi họ, đổi màu từ đỏ lòm cọng sản quốc tế 3 sang màu hoen hoét nửa đỏ, nửa xanh Quốc tế 2 cọng sản. Hay nói theo thuật ngữ Mác xít chính tông là xuống thang từ giai đoạn xã hội chủ nghĩa tiền cọng sản bước xuống giai đoạn dân chủ nhân dân. Nghĩa là từ kinh tế Quốc doanh độc quyền + Độc tài đảng trị bế tắc trở lại Kinh tế nhiều thành phần + Đa nguyên, đa đảng giả hiệu theo kiểu thời “minh trị” già hồ mà các đấng chống cọng mệnh danh là cọng sản “ Đời đầu!”

Đó là toan tính manh nha từ 9 năm nay, bây giờ thử đem ra trắc nghiệm, theo mưu lược muôn thuở nhất tiễn xạ song điêu:
Một là vỗ yên dân chúng đang sục sôi, lăm le nổi dậy.
Hai là thỏa mãn áp lực quốc tế về dân chủ,  nhân quyền
Cho nên mới nói đây là Đại Âm Mưu thay tên đổi họ từ cọng sản thành Dân chủ – Xã hội ( giả danh ). Từ Độc tài toàn trị sắt máu đỏ lòm sang Dân chủ xã hơi dõm màu da cam hoen hoét.
 
    Nguyễn Nhơn

 ------------------
ĐẠI ÂM MƯU : Hồi Hai

Tiên học lễ, hậu học văn


thlhhv-305.jpg
 
Thật bất ngờ ! Đang lang thang, dạo chơi tại Nha Trang bỗng thấy câu " Tiên học lễ, hậu học văn " được chăng tại sân chơi của một trường học. Lâu lắm rồi mới thấy lại câu nói của thời xa xưa. Xưa ơi là xưa. Xa lắc xa lơ. " Tiên học lễ, hậu học văn " dắt tôi về thăm lại cái lớp năm trường tiểu học Quang Trung năm 1949-1950 ngoài Hà Nội.
Tôi nhớ trường Quang Trung, bố mẹ quen gọi là trường Hàng Kèn, nằm tại ngã tư Trần Quốc Toản và Quang Trung. Gần hồ Ha-Le (Halais, tên cũ của hồ Thiền Quang). Từ nhà, 112 phố Lê Lợi, đến trường cũng không xa lắm. Đủng đỉnh qua ngã năm Gia Long, xuống hết cái dốc Trần Quốc Toản là đến.
Trường có một toà nhà chính, sân chơi, thêm một gian ở góc sân. Văn phòng của thầy hiệu trưởng (ông giáo Thành mặc áo dài ta, bố mẹ bảo ông có họ với Mợ Cả) và các lớp học khác chia nhau " chiếm " toà nhà chính. Trừ lớp năm, bị đẩy ra ở cái gian cuối sân. Một mình một cõi.
Tôi không nhớ năm ấy mình có được bao nhiêu " đồng môn ". Chắc cũng xấp xỉ 60 đứa. Nhiều quá. Sao không chia ra hai lớp ? Vẽ vời ! Từ tiểu học cho đến hết trung học, ngoài Bắc cũng như trong Nam, chưa năm nào tôi có dưới 50 bạn học. Chẳng phải lớp học nước ta vĩ đại, chứa được nhiều tài năng tương lai. Tất cả chỉ là nhờ vào bàn tay khéo sắp xếp, nhồi nhét của người kê bàn, đặt ghế.
Có nghe ai phàn nàn lớp đông đâu. 100% cha mẹ có con học trường công, trường nhà nước đều hài lòng. Ai điên mới chê cái này, đòi hỏi cái kia. Ăn mày đòi xôi gấc.
Cái lớp học " ấm cúng " ấy có gì hay ho, dễ thương hơn các lớp khác không ? Nếu được phép nói thẳng, nói thật thì tôi nói huỵch toẹt là không. Tất cả mọi chuyện đều bình thường. Nhưng tôi thích cái lớp học bình thường ấy.
Buổi học đầu tiên, thầy Ân cầm thước chỉ vào câu " Tiên học lễ, hậu học văn " dán phía trên cái bảng đen. Rồi thầy giảng nghĩa. Cả lớp há hốc mồm ngồi nghe. Giảng xong, thầy gõ thước xuống bàn, dặn cả lớp :
- Ở nhà phải lễ phép với bố mẹ, ra đường phải lễ phép với mọi người. Học lễ phép trước, rồi mới học những cái khác. Nghe chưa?
- Dạ, nghe rồi ạ !
Suốt tháng đầu tập đọc, tập viết. Trọ trẹ. Sai lên sai xuống. Giun bò, gà bới lem nhem trang vở. Tháng sau tiến lên... viết chính tả, tập đặt câu. Rồi ì ạch leo lên đỉnh cao của... tính cộng, tính trừ. Bù đầu với mấy con số. Vất vả quá.
Ngoài ra, chẳng có gì đặc biệt để khoe. Thế mà cách xa gần nửa trái đất, hơn nửa đời người, tại sao đôi lúc vẫn còn nhớ ? Bốn năm học ở trường Quang Trung, chỉ nhớ một mình cái lớp ấy. Nhớ thầy Ân. Nhớ thằng Việt, thằng Huyền... Chập chờn. Lung linh.
Nhớ cả hai cái thước của thầy. Cái to để kẻ hàng bảng đen. Cái nhỏ để... đánh học trò ! Eo ơi ! Đứa nào cũng sợ cái thước này. Không tin cứ hỏi thằng Việt.
Thằng Việt to lớn nhất lớp. Nó cao hơn tôi cả cái đầu. Chẳng mấy đứa ưa thằng này vì nó cậy khoẻ hay bắt nạt bạn bè.
Hôm ấy cũng như những ngày khác. Giờ ra chơi, sân trường ồn ào như vỡ chợ. Chỗ này chơi bi, chơi quay. Chỗ kia đánh đáo, đuổi nhau. Thằng Việt không chơi gì cả. Nó kéo " đàn em " đi phá thối. Ván bi của tôi đang sôi nổi hào hứng thì thằng Việt từ đâu chui ra, lững thững đi ngang chỗ chơi. Nó " lỡ " đụng văng hòn bi của tôi. Thằng mất dạy toét miệng ra cười... xin lỗi. Trông thật là đểu. Một lát sau nó lại đi qua. Lại đụng văng bi của tôi. Tức quá, tôi chồm lên vừa chửi vừa đấm một cú vào mặt nó. Nhưng, có lẽ nó đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ chờ dịp để ra tay. Lập tức nó vung tay trái siết cổ tôi, tay phải đấm liên tiếp ba bốn quả vào má vào mồm tôi. Đau quá. Chỉ còn nước khóc gào lên để cầu cứu. Thấy vậy, cả đám đứng xung quanh xúm vào ôm thằng Việt, gỡ tôi ra. Cà cuống chết đến đít còn cay, tôi mắm môi, lấy hết sức thụi một cú vào mồm thằng... đáng ghét. Nó vùng vằng định đấm tôi thì may quá...
Một hồi trống nổi lên. Hết giờ chơi. Xếp hàng vào lớp.
Tôi vừa đi vừa thút thít khóc. Mồm sưng to. Phải tìm cách trả thù thằng Việt mới được. Phen này ông cho mày... biết tay ông. Xin lỗi, đang viết hồi kí nên dễ hăng tiết vịt, nói phét... vô tội vạ. Xin sửa lại cho đúng. Mày vừa cho ông... biết tay mày. Ông đau lắm. Phen này ông cho mày... biết tay thầy. Trong đầu tôi ló ra một diệu kế! Mày chạy đằng trời cũng không thoát. Hạ hồi sẽ biết tay nhau!
Tất cả lục đục vào chỗ ngồi. Thầy gõ thước lên bàn. Cả lớp im lặng.
Tôi bắt đầu độc diễn trò... khóc. Không to quá, không nhỏ quá. Vừa đủ... để thầy nghe. Quả nhiên, thầy trợn mắt nhìn tôi. Thế là trúng kế! Chết mày rồi, Việt ơi. Thầy đập thước xuống bàn, quát to :
- Dư, tại sao khóc ?
- Thưa thầy, anh Việt đánh con.
- Có ai thấy anh Việt đánh anh Dư không ?
- Thưa thầy có ạ. Anh Việt cậy khoẻ bắt nạt anh Dư, đánh anh Dư sưng vù cả mặt.
(Cám ơn nhân chứng đã nói lên sự thật. Không sợ thằng Việt đánh).

- Việt, lên đây !
Hoá ra thằng Việt cao to, khoẻ như thế mà cũng biết sợ. Nó cúi mặt, lấm lét đi lên, khoanh tay đứng trước mặt thầy.
Thầy mắng :
- Đi học bắt nạt bạn, mai sau ra đời bắt nạt, ức hiếp người khác. Như thế gọi là người có học mà không có hạnh. Có học mà không có hạnh thì chỉ là một lũ khôn vặt, lưu manh. Là người xấu. Từ nay cả lớp phải nhớ không đứa nào được bắt nạt bạn. Có học phải có hạnh. Nghe chưa?
- Nghe rồi ạ !
Thầy bắt thằng Việt chìa bàn tay ra.
- Bắt nạt bạn, bị phạt ba thước.
Thước đầu, thằng Việt nhăn mặt, xoa xoa bàn tay bị đánh vào mông. Thước thứ hai, nó vừa xoa vừa khóc rống lên. Nó khóc có lẽ còn to hơn tôi khóc lúc bị nó đánh. Thước thứ ba, cả lớp im phăng phắc nhìn thằng Việt co rúm người. Khóc không ra tiếng. Bàn tay bị đánh rơi thõng xuống, nó phải lấy tay kia đỡ lên.
- Lần sau còn bắt nạt bạn sẽ bị phạt gấp đôi, nghe rõ chưa !
Thằng Việt mặt tái mét, mếu máo, gật đầu lia lịa.
Sau trận đòn, nó đổi tính. Hết hung hăng. Hiền lành... như cục đất. Cả lớp, không còn đứa nào dám bắt nạt đứa nào.
Thầy nghiêm. Phạt nặng. Khôn hồn thì đừng đùa với kỉ luật của thầy.
Tôi thích cái lớp học ấy có lẽ vì cảm thấy được an toàn, được cái thước của thầy bảo vệ. Từ ngày không còn sợ bị bắt nạt, tôi đâm ra... thích đi học. Nhưng phải nói ngay rằng thích đi học vì đến trường được chơi bi, đánh đáo chứ không phải để cắm đầu vào học.
Thằng Việt bị bạn bè ghét bao nhiêu thì ngược lại thằng Huyền được bạn bè thích bấy nhiêu. Thằng Huyền hay cười, viết chữ đẹp. Thầy cho nó làm trưởng lớp.
Gần đến Tết ông Công ông Táo, thằng Huyền đưa ra ý cả lớp chung tiền mua bánh chưng, mứt, hạt dưa, " mừng tuổi " thầy. Mỗi đứa đóng một đồng. Đứa nào không có đủ thì đóng năm hào cũng được. Không đóng thì thôi, không sao cả. Mấy ngày sau, thằng Huyền đưa tiền nhờ mẹ mua các thứ.
Cuối buổi học tất niên thằng Huyền giơ tay xin phép thầy. Rồi " phái đoàn " do nó bàn tính, sắp đặt, lễ mễ bưng đồ lên chúc Tết thầy. Thằng Huyền ấp úng nói :
- Cả lớp xin kính chúc thầy sang năm mới khoẻ mạnh bằng năm bằng mười năm nay để tiếp tục dạy dỗ chúng con.
Thầy cám ơn. Giọng thầy hơi run run. A ha, học trò được thầy cám ơn. Làng nước ơi, trẻ con được người lớn cám ơn kia kìa. Mặt mày đứa nào cũng hớn hở. Thầy chúc tất cả sang năm mới chăm học, ngoan ngoãn bằng hai bằng ba năm nay.
Buổi học đầu năm mới thầy mang một gói kẹo to tướng đến mừng tuổi cả lớp. Thằng Việt được thầy sai phát cho mỗi đứa hai cái. Việt ta hãnh diện lắm. Có ngoan mới được thầy để ý như thế chứ ! Thầy bảo cất kẹo vào túi. Tan học mới được ăn.
Gần cuối năm học, phải học thuộc lòng một bài dài :
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Thầy nói núi Thái Sơn ở bên Tàu. Cao lắm. Đứa nào cũng thuộc làu làu bài Công cha. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa biết, nói đúng hơn là không cần biết, núi Thái Sơn nằm ở đâu, cao bao nhiêu. Người Việt có một đặc tính là hay tự hào. Tự hào có non sông gấm vóc. Tự hào có rừng vàng biển bạc. Người Việt tự hào dùng hàng Việt. Đề nghị thêm tự hào dùng sông núi Việt để dạy trẻ con Việt. Dạy rằng :
Công cha như dãy Hoàng Liên
Nghĩa mẹ như nước Hương, Tiền chảy xa
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Dãy núi Hoàng Liên (Hoàng Liên Sơn, Phăng-Xi-Păng) thuộc tỉnh Lào Cai miền Bắc. Núi cao 3142m. Cao nhất Việt Nam. Cao hơn cả ngàn lần núi Pi của các nhà Toán học (Pi = 3,14). Sông Hương thơ mộng của thành phố Huế, miền Trung. Sông Tiền tấp nập tàu ghe của thành phố Mỹ Tho, miền Nam. Công cha, nghĩa mẹ Việt Nam bao trùm cả ba miền đất nước. Khỏi phải dùng hàng Made in China.
Năm 1954 gia đình tôi di cư vào Sài Gòn. Được đi máy bay. Máy bay thật chứ không phải máy bay giấy.
Lớp nhất trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây, Thị Nghè không đủ chỗ để nhận hết đám Bắc kì. Phải... thi tuyển. Lần đầu đi thi. Hồi hộp. Rồi cũng xong. Cũng trót lọt. Tôi háo hức hội nhập. Học nói giọng Sè-Goòng. Bập bẹ học vồ cá bụi tre (vocabulaire, ngữ vựng). Chả vồ được con nào. Chữ cô trả cô.
Hết năm học phải thi bằng tiểu học. Thi vào đệ thất Trần Lục. Thi hoài dzậy ! Tập tễnh bước sang một thế giới khác. Thế giới của người lớn làm chính trị. Học trò làm... hậu thuẫn. Đi truất phế Bảo Đại. Đi bài phong, đả thực. Đi tố Cộng. Đi đón Lý Thừa Vãn...
Thứ hai hàng tuần thầy Cương mặc đồng phục Thanh Niên Cộng Hoà, làm lễ chào cờ, suy tôn Ngô Tổng Thống.
Rồi thời gian lặng lẽ trôi... Mọi chuyện bình thường. Không vấp váp. Thằng chột làm vua trong đám mù. Học được thói hợm hĩnh, vênh váo với... hàng xóm.
Cho đến một ngày... " thuyền đợi khách, nhưng khách lên thuyền khác rồi ". Thôi nhé từ nay... " con chó con "!
Tháng 10 năm 1964, tôi tình nguyện "bị tống cổ " đi du học bên Pháp.
Tấp tểnh người đi tớ cũng đi. Hoàn toàn xa lạ. Ù ù cạc cạc. Bố Mẹ ơi ! " Ai bảo đi tây là khổ, Đi tây sướng lắm chứ ! ". Con bị ba khuyết tật " câm, điếc, túi rỗng " thì... phải chờ đến Tết Công Gô mới sướng.
Giữa mùa đông, tuyết trắng xoá thì nhận được thư Bố. Bố kể chuyện nhà. Cuối thư Bố viết : " Lúc này có nhiều sinh viên không chịu được đời sống bên Pháp, lục đục trở về Sài Gòn. Cậu Mợ đã vét hết tiền mua vé máy bay cho mày đi. Bây giờ mày có muốn về cũng không có tiền cho mày về. Dư ơi, chịu khó học hành để được chuyển ngân. Cậu Mợ phải bán chợ đen mới nuôi mày được. Nếu mày học không được thì phải tự xoay xở mà sống ".
Đọc thư, tôi vừa sợ vừa tủi thân, thương Bố Mẹ. Vừa rớm nước mắt vừa bủn rủn chân tay ! Đâm lao phải theo lao. Dư ơi, chỉ còn một lối thoát là... học! Chưa bao giờ tôi tự khuyên nhủ mình như vậy.
" Gặm một khối tủi buồn trong thư viện. Ta ngáp dài, nhìn sách vở chồng cao ".
Nhờ biết sợ, biết thân phận hèn kém, biết tủi nhục, nên học hành... trôi chảy. Được đời ưu đãi cho làm nghề " gõ đầu kĩ sư tương lai " của Pháp [*]. Gõ cho đến ngày về hưu.
***
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Bấm đốt tay đếm năm tháng, bỗng giật mình. Người khác thì phải thuê nhà rộng mới đủ chỗ để chứa những cái sàng khôn học được. Còn mình thì... sao vẫn chưa khôn ? Uổng cơm cha mẹ. Uổng bánh mì của Pháp. Nhưng cũng tự an ủi, vớt vát một tí. Không học được cái khôn nhưng thỉnh thoảng cũng học được cái hay của thiên hạ. Có lần, học được một bài học đáng đồng tiền bát gạo.
Lần ấy, bài làm đúng mà lại bị điểm xấu. Chuyện gì lạ vậy ? Làm sai mới... được điểm tốt à? Sống ở hành tinh nào vậy? Xin báo cáo như sau :
Bài toán tôi làm đúng, ban đầu được 16 điểm. Nhưng bị ông trợ giáo châu phê (ghi bằng mực đỏ), giống bài của X, hạ xuống còn 8 điểm. Mất một nửa. Thấy tôi ngạc nhiên, ông nói:
- Tôi biết là bạn anh chép bài của anh. Nhưng hai bài giống nhau thì cả hai người đều có lỗi. Tôi phạt đồng đều cả hai.
Tôi bực mình thằng X đã " sao y bản chính ", nhưng đành cứng họng với ông trợ giáo. Ông có lí. Tôi phải trả cái giá (rẻ như bèo) của một bài học hay. Học được một điều :
- Thằng ăn hối lộ và thằng đút lót, cả hai cùng có tội. Phải trừng phạt (thật nặng) như nhau. Không có lửa làm sao có khói.
" Tiên học lễ, hậu học văn " ngày xưa đã bị nhiều người xấu lợi dụng.
- Người ta ở đời nhờ có cha mẹ sinh ra mình, lại phải nhờ có thầy dạy cho mình thì mình mới khôn biết việc này việc nọ, mới nên con người, cho nên học trò ở với thầy cũng như con ở với cha mẹ, ấy cũng là một mối luân thường của Á Đông ta.
Song cũng vì tục trọng sư đạo ấy mà sinh ra mấy thói dở. Kìa như các bực đáng mặt mô phạm, có công dạy dỗ, có ân đức giáo hoá nhuần thấm đến người thì người ta không nên quên đã đành. Còn như mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách, văn chương chưa thuộc đủ lề lối, mà đã đi về các vùng nhà quê tìm nơi thiết trướng, gõ đầu năm ba đứa để hộ khẩu cho qua đời. Vậy mà cũng dám lên mặt đạo mạo, động một tí thì bổ cho đồng môn, nào khi nhà thầy có giỗ, nào khi thầy có việc mừng vui, nào khi thầy lấy vợ, nào khi thầy lên lão làng cũng lôi đồng môn ra mà bắt gánh vác, ấy lại là cái mọt của thiên hạ(1).
Mấy thầy khôn vặt, sinh sống bằng nghề bắt nạt học trò. Thật đốn mạt ! Con sâu làm rầu nồi canh.
Đến thời bị Pháp cai trị, các ông làm nghề godautre (gõ đầu trẻ) cũng được xã hội coi trọng. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng làm nghề này trong một thời gian dài.
Người ta không biết rõ Nguyễn Công Hoan hồi nhỏ được các thầy dạy dỗ ra sao. Đến lượt chính mình đi dạy học thì thầy Hoan dạy dỗ học trò những gì ? Người ta chỉ biết Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có tài, tác giả của rất nhiều truyện ngắn, truyện dài nổi tiếng.
Sau này Nguyễn Công Hoan có dịp viết hồi kí. Thể loại khác, bút pháp cũng đổi khác. Viết hồi kí Nguyễn Công Hoan hay dùng lối nói đốp chát thẳng thừng, có lúc quên cả " Tiên học lễ, hậu học văn ". Điển hình là một đoạn viết liên quan đến lịch sử nước ta :
- Khải Định là một thằng vô học, chỉ chơi bời. Năm 1919, nó đã " ngự giá Bắc tuần ".
Nó nghĩ ra cách ăn mặc rất ngộ nghĩnh : Vàng từ đầu đến chân.
Nón lợp vải vàng, có đính long ly quy phượng bằng vàng. Khăn vàng. Áo màu vàng, thêu kim tuyến, ngắn trên đầu gối.
Hai vai đeo ngù quan binh Pháp bằng vàng. Thắt lưng to bản giát vàng. Ghệt đính vàng. Giày tây da vàng, có gài cái sắt thúc ngựa bằng vàng. Tay đeo bốn chiếc nhẫn vàng mặt đá màu lớn.
Ra Hà Nội, nó ngồi cùng xe với toàn quyền Sa-rô. Mình cứ tưởng đống rơm, không biết là người.
(...)
Nó ra Bắc để ký nhường cho Tây Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng làm nhượng địa"(2).
Trong cùng cuốn sách, ở một trang khác Nguyễn Công Hoan lại viết "Ngộ nghĩnh nhất là bộ quần áo nó (chỉ vua Khải Định) mặc ra thăm Bắc Kỳ năm 1917, gọi là ngự giá Bắc tuần ".
Nguyễn Công Hoan nhớ hai năm khác nhau, 1917 và 1919. Tôi tò mò muốn biết vua Khải Định ngự giá Bắc tuần năm nào? Khải Định nhường Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng cho Pháp ngày nào?
Về chuyện nhường đất, sử nhà Nguyễn chỉ chép vắn tắt :
- Tháng 8 năm Mậu Tý(1888) đem xứ Hàn (Tourane) làm đất nhượng địa Đại Pháp (3).
Trần Trọng Kim chép đầy đủ hơn :
- Tháng 8 năm Mậu Tí (1888) Triều đình ở Huế ký giấy nhường hải cảng Đà Nẵng, thành thị Hà Nội và Hải Phòng cho nước Pháp để làm đất nhượng địa nghĩa là từ đó việc cai trị và pháp luật ở ba thành thị ấy thuộc về nước Pháp, chứ không thuộc về nước Nam nữa (4).
Tài liệu của Pháp cho biết rõ ràng :
- Ngày 1/10/1888, vua Đồng Khánh kí giấy nhường đứt Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng cho Pháp (5).
Chuyến tuần thú Bắc hà (inspection impériale) của Khải Định được Orband tường thuật chi tiết từ ngày đầu đến ngày cuối.
Xe lửa chở phái đoàn rời Huế lúc 12g30 ngày 19/4/1918, đến ga Hà Nội lúc 17g ngày 26/4 và trở về đến Huế vào chiều ngày 9/5/1918 (6).
Sử của ta cũng chép đầy đủ chuyến ngự giá Bắc tuần của vua Khải Định. Chuyến đi diễn ra từ ngày mồng 9 tháng 3 đến ngày 29 tháng 3 năm Đinh Tị (1918) (7).
Vua Khải Định ra Bắc năm 1918 (chứ không phải 1917 hay1919 như Nguyễn Công Hoan nhớ). Mục đích của nhà vua là tham quan, thăm dân cho biết sự tình.
Vua Khải Định ra Bắc không phải để kí nhường cho Pháp ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng làm nhượng địa. Vua Đồng Khánh (cha Khải Định) đã kí từ 30 năm trước rồi (1888).
Có lẽ vì nóng giận, mất bình tĩnh, Nguyễn Công Hoan đã vu oan cho vua Khải Định.
Ngoài thằng vô học Khải Định, Nguyễn Công Hoan còn điểm mặt một xâu những thằng tai to mặt lớn khác như thằng công sứ Thái Bình Minault, thằng chánh lục lộ Đông Dương Puyane, thằng toàn quyền Sarraut...
- Cụ nào mà ăn nói hăng thế? Giậu đổ bìm leo, đánh võ miệng thì ai đánh chả được! Đánh giặc mà đánh tay không, Thà về xó bếp giương cung bắn mèo.
Bọn trẻ sinh sau đẻ muộn không có được cách xưng hô của nhà văn viết hồi kí, kể chuyện chống phong kiến, thực dân, đế quốc.
Thời Pháp còn tạm chiếm Hà Nội tụi nhóc con phải ê a:
Hỡi các cậu bé con
Đang lúc tuổi còn non
Các cậu phải chăm học
Có học mới nên khôn.
Muốn nên khôn thì phải học. Dạ. Muốn học thì phải nhờ thầy. Dạ. Không thầy đố mày làm nên. Dạ. Trở về làng cũ học cày cho xong. Không được ! Sao thầy khinh nhà nông thế. Tay chân thầy như thế kia thì cày bừa cái gì ? Không biết chữ thì chỉ phải chịu tiếng ngu. Không có ăn thì thầy cũng chết nhăn răng.
Phong kiến cho thầy ngồi chiếu cao. Thôi thì... trăm sự nhờ thầy. Thầy ra thầy thì may ra trò nên người. Thầy không ra thầy thì... bỏ mẹ cả lũ.
Xưa cũng như nay, nhà nào phúc đức thì gặp được " Nhất tự vi sư, bán tự vi sư ". Vô phúc thì vấp phải " Nhất tự...tiên sư, bán tự... tiên sư nhà thầy" !
Có người nghĩ rằng xã hội bây giờ tiến nhanh quá, " đổi mới " chóng cả mặt. Tuổi trẻ thích ứng không kịp. Vì vậy, cần phải đặt ra xóm " văn hoá ", tuyến phố " văn minh " tại các thành phố để động viên mọi người.
Dò hỏi thì được biết  gia đình nào vợ chồng không chửi nhau, không đánh nhau, con cái học hành tử tế thì được tặng danh hiệu gia đình văn hoá. Xóm nào không có trộm cướp, không chửi nhau, chém giết nhau thì được gọi là xóm văn hoá. Văn minh là không vứt rác, không đái bậy, không lấn chiếm lề đường... Lối sống văn minh, có văn hoá như vậy dường như ngày xưa đã được Quốc văn giáo khoa thưLuân lý giáo khoa thư giảng dạy cho trẻ con.
Nhiều phụ huynh trẻ ngày nay bỡ ngỡ trước câu " Tiên học lễ, hậu học văn ". Ta đã mất nhiều thời gian, nhiều thế hệ mới phá bỏ được tàn tích của phong kiến. Bây giờ lại có người muốn đi giật lùi sao?
Không ai muốn đi giật lùi đâu. Phải tiến, phải " chồm lên phía trước " chứ. Miễn là đừng chồm như ngựa bất kham.
Nguyễn Dư (Lyon, 7/2013)

(1)- Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Tổng Hợp Đồng Tháp tái bản, 1990, tr. 212.
(2)- Nguyễn Công Hoan, Nhớ và ghi về Hà Nội, Trẻ, 2004, tr. 140-142.
(3)- Cao Xuân Dục, Quốc triều sử toát yếu, Văn Học, 2002, tr. 526.
(4)- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, tập 2, Miền Nam tái bản, tr. 345.
(5)- Philippe Papin, Histoire de Hanoi, Fayard, 2001, tr. 225).
(6)- Richard Orband, Voyage de S.M. Khải Định dans le Nord-Annam et au Tonkin, BAVH, Juillet-Septembre 1918.
(7)- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh, Khải Định chính yếu, Thời Đại, 2010, tr. 275-276.

[ * ] - Chú thích của BBT CVCN  : Tác giả Nguyễn Dư , Tiến sĩ Khoa học, nguyên là Giáo sư Trường Kĩ sư "Ecole Centrale" , tại Lyon - Pháp, cho đến khi về hưu.

France:Nhà Thờ Đức Bà Paris (Notre Dame de Paris)






Nhà thờ Đức Bà tại Paris, Pháp quốc, là một trong những nhà thờ nổi tiếng trên toàn thế giới. Lịch sử nhà thờ được ghi lại rất nhiều trên cả trăm ngàn trang điện tử qua nhiều thứ tiếng. Qua nhiều thăng trầm nhà Thờ Đức Bà vào đầu thế kỷ thứ 19 là một di tích đáng thương qua những tàn phá của thời gian và chiến tranh. Nhưng như có một phép lạ, vào năm 1831 văn hào Victor Hugo viết cuốn sách chuyện Chàng Gù Nhà thờ Đức Bà, và chính ông đã là động lực gây sự kêu gọi chính quyền tu bổ di tích lịch sử quan trọng này của thành phố Paris. Cuốn sách được tán thưởng nhiệt liệt và chỉ trong một thời gian ngắn sau đó kiến trúc sư Viollet-Le-duc đã được đô thành mướn để trùng tu nhà thờ.
Tóm lược lịch sử Nhà thờ Notre Dame de Paris.
Nhà thờ Đức Bà Paris, một nhà thờ Thiên Chúa giáo nằm ở phía tây của đảo Ile de la Cité giữa dòng sông Seine, trong quận 4 của thành phố Paris, Pháp, mang biểu trưng cho kiến trúc Gothic, được xây dựng bắt đầu từ năm 1163 do ông Maurice de Sully, Giám mục của thành phố Paris khởi xướng vào năm 1160 dưới thời trị vì của vua Louis XII.
Giám mục Maurice de Sully đã thấy được công trình hoàn tất những phần chính như chính điện, hành lang chính điện, hai cánh cuối, hai gian bên và một phần mặt ngoài cửa chính hướng Tây. Năm 1196, Giám mục Eudes de Sully tiếp tục cho hoàn tất mặt ngoài, hai gian đầu của nhà thờ, hành lang thượng, hai tháp mặt tiền phía Tây. Việc xây dựng kéo dài từ năm 1163 đến sau năm 1300 mới được coi như hoàn tất.
Nhà thờ Đức Bà mới với kiểu kiến trúc Gothic đã xây trên khoảng đất san bằng của nhà thờ Cơ Đốc Sainte Etienne (St Stephens) trước đó. Nhà thờ Cơ Đốc St Stephens này lại là thoát hình từ nguyên thủy của một cái đền theo kiểu Pháp cổ-Lamã (gallo-romain), rồi một đền Công giáo rồi biến hình thành Nhà thờ cấu trúc kiểu Latin Sainte Etienne. Sau cùng, nhà thờ mới có tên là Nhà Thờ Đức Bà từ sự hoàn toàn cống hiến cho Đức Mẹ.
Nhà thờ có chiều dài 130 m, chiều ngang 48 m, có thể chứa đuợc từ 6500 đến 8000 người. Ðược xem như một thời cực thịnh của Cơ Đốc giáo, dân chúng thành phố Paris thời đó dốc lòng ủng hộ tài chính và nhân lực.
Kiến trúc Gothic
Kiến trúc Gothic là một hình thể kiến trúc rất thịnh vào giữa và cuối thời kỳ Trung cổ. Nó là chuyển tiếp giữa kiến trúc La mã và kiến trúc thời Phục hưng
Đặc điểm tiêu biểu của kiến trúc Gothic là có khung vòm nhọn (pointed arch), có sườn chống đỡ khung vòm trần nhà (ribbed vault)và có cuốn bay -cột trụ vòng cung áp tuờng chịu đựng ở phía ngoài (flying buttress). Kiểu kiến trúc này nhấn mạnh vào những hình khối cao theo chiều thẳng đứng, những cột thanh, và có trần cao. Nhờ kiến trúc mái vòng cung đầu nhọn, cộng với hệ thống cửa sổ bằng kính lớn nên những ngôi nhà thờ theo kiến trúc này có nhiều ánh sáng.
Những đặc điểm chính của kiến trúc Gothic như sau:
- Thường có chiều cao từ 38-42 mét, riêng tòa tháp có thể cao đến 60m, cửa sổ kính mầu ở mặt cửa vào chính phía tây có thể lớn tới 8-12 mét.
- Công trình kiến trúc với nhiều cửa sổ rộng, đón ánh sáng vào bên trong nhà thờ.
- Có thể có cửa sổ kính tròn rất lớn làm bằng kính ở mặt Tây, và hai bên cánh Nam và Bắc.
- Mặt Tây có cửa vào được trang trí lộng lẫy nhất; ở phần Hậu cung phía Đông thường có những gian thờ nửa đường tròn.
- Chiều cao của nhà thờ kiểu Gothic là do chiều cao thật cộng chiều cao do ảo giác, ảo giác này là do những cột cuốn, gờ sống và vòm trần gây nên.
Mặt đứng phía Tây (mặt chính) của kiến trúc nhà thờ Gothic tuân theo những quy chế như từ dưới lên trên được chia làm ba tầng: tầng dưới cùng là cửa, thường có ba hốc cửa rất sâu và cao. Tầng giữa ở chính giữa có cửa sổ tròn to bằng kính tô điểm màu sắc; tầng ba trên cùng có hai vòm cuốn lớn, hành lang và hai tòa tháp chuông. Mặt sau là một ngọn tháp cao 90m.
Hệ thống kiến trúc nhà thờ Gothic là một hệ thống không gian lớn, dùng khung chịu lực bên trong và bên ngoài, tách biệt rõ rệt giữa cấu trúc chịu lực và cấu trúc ngăn cách; với những phần chính từ trần mái đổ xuống gồm vòm mái hình múi có gờ, cuộn nhọn có múi đỡ, và cuốn bay chịu đựng phía ngoài.
Nhà thờ Đức Bà là một trong những công trình đầu tiên xây cất với cuốn bay hay gọi là những cột trụ vòng cung áp tường chịu đựng phía ngoài (flying buttress). Cuốn bay là một thành phần quan trọng của hệ thống cấu trúc nhà thờ Gothic, chia xẻ với cột tải trọng lượng của vòm trần, làm giảm tiết diện của cột đỡ khiến cho tòa nhà có nhiều chỗ để dựng cửa sổ lớn. Cấu trúc cuốn bay bao gồm những cái đà nghiêng trong không trung và những bệ cột đứng. Cuốn bay, trải rộng đến 15 m, cũng giống như những cột trụ phụ lực, được xây dựng dùng để đỡ những lực đạp ở mặt bên. Cuốn bay cũng góp phần liên kết giữa nhịp lớn ở giữa và nhịp biên, mang lại kiến trúc rất đẹp và lạ khi nhìn toàn diện nhà thờ ở phía sau.
 
Cửa trái (bắc) mặt Tây có khung 
Hệ thống kết cấu nhà thờ kiểu Gothic tiết kiệm được nhiều vật liệu cho nhà vòm, chiều dày của vòm mỏng hơn, chỉ còn khoảng 25-30cm, vòm mái hình múi có sống còn hết hợp được nhiều loại mặt bằng khác nhau.
Một chút chi tiết về nhà thờ Đức Bà Paris. Kích thước nhà thờ Notre Dame.
Chiều dài: 130 m/427 ft long
Transept dài: 2.25 m/14 ft
Chiều rộng: 48 m/158 ft wide
Nóc mái cao: 43 m
Trần nhà vòm: 35 m/115 ft
Chiều cao tháp nhọn đằng sau: 96 m
Chiều cao tháp đôi: 69 m/226ft
Cửa khung nhọn cao trên 16 m/50ft 
Chuông tháp phía Nam: 13 tons, lưỡi chuông nặng 500kg
Tất cả nhà thờ rộng khoảng: 4,800 m²
Đường kính hai cửa kính tròn hai phía nam và bắc là 13.1 m/42½ ft
Đường kính cửa hồng tròn chánh tây là: 9.70 m.
Ước lượng số gỗ cây sồi để làm nhà thờ là 1,300 cây, cỡ 21 hecta rừng.
Nhà thờ có kiến trúc cửa mặt chính hướng Tây, mặt hậu hướng Đông. Phía mặt tiền nhà thờ (hướng Tây) có một cấu trúc thăng bằng. Ba cửa lớn không bằng nhau, cửa giữa cao nhất và rộng hơn hai cửa kia. Cửa bên trái có khung. Sáu cánh cửa lớn được trang trí bằng những cốt sắt uốn nắn và những hình tượng các thánh điêu khắc trên cạnh những vòm cong. Phía trên ba khung cửa lớn ở ngoài mặt tiền nhà thờ, có một hàng 28 bức tượng đặt trong hốc hiện thân của những vua Judah và Do Thái. Năm 1793 nhóm cách mạng lâm thời lật đổ vương quyền, họ tưởng những tượng đá trên là biểu tượng của vua chúa Pháp, nên mang chặt đầu trước sân nhà thờ và đập phá một số tượng khác. Những phá hủy này đã được kiến trúc sư đảm trách trùng tu Nhà thờ tên Eugène Emmanuel Viollet-le-Duc sửa chữa và tu bổ lại như thấy hiện nay.
Cửa vòm phía bên trái của mặt tiền chính Tây (cửa góc tây bắc) là cửa của Đức Mẹ Đồng Trinh, mô tả cảnh Hoàng đạo (Zodiac) và cảnh đăng quang của Đức mẹ. Phần cửa giữa có Cảnh Phán Xét Cuối Cùng (Last Judgment) chia làm ba tầng, tầng thấp nhất miêu tả thói xấu và tính tốt, tầng giữa có cảnh chúa Jesus cùng các Tông đồ, tầng trên cùng là cảnh khải hoàn của Chúa sau khi Phục Sinh. Phần cửa bên phải là cửa Thánh Anne, diễn tả cảnh Đức mẹ và Chúa Hài đồng lên ngôi Vương. Bên góc trái phía sau cửa tây bắc là một cầu thang có 402 bậc dẫn lên tháp chuông, nơi mà văn hào Victor Hugo đã viết nên câu chuyện Chàng Gù Nhà Thờ Đức Bà. Tháp phía tây nam (bên phải) là nơi để một cái chuông lớn tên Emmanuel cân nặng 13,000kg và một cây để rung chuông nặng 500kg.
Ba cửa chính (Tây)
Cửa Bắc (Quasimodo)/Cửa Nam Hoa hồng
Nói chung, nhà thờ hay Thánh đường Cơ đốc giáo thường có sàn cấu trúc như hình dấu thánh giá. Đầu thánh giá hướng về phương Đông/East (hướng về Jerusalem). Phần transept là phần đi ngang qua thân chính của nhà thờ với cánh bắc và cánh nam, đôi khi có cửa. Chân của dấu thập thánh giá nằm cuối phương Tây/West, là nơi có đặt cửa vào chính điện.
 
Vào thời xa xưa, đạo giáo có một uy thế quan trọng trong xã hội, những biến cố quan trọng đều cần có sự thông qua bằng một buổi lễ hợp thức hóa tại nhà thờ. Trong lịch sử lễ hội tại nhà thờ Đức Bà là những buổi lễ hoàn toàn có tính cách tôn giáo như đăng quang Đức Giám Mục, Giáo hoàng, cử hành hôn lễ, cầu nguyện danh nhân qua đời v.v.., nhà thờ Đức Bà còn nơi tuyên bố trắng án tà đạo và tha bổng nữ anh hùng dân tộc Pháp Joan of Arc (07-July 1456). Một trong những sự kiện lịch sử quan trọng là lễ lên ngôi vua của Napoleon ngày 02/12/1804 do đức Giáo hoành Pius VII cử lễ. Lễ đăng quang của Napoleon đã được họa sĩ Jacque Louis David vẽ lại trong một bức họa vĩ đại vào năm 1807, hiện nay trưng tại viện bảo tàng Louvre (ngoài ra còn một bản thứ hai thực hiện trong những ngày J.L. David lưu vong hiện trưng tại Điện Versailles). Cũng tại nhà thờ này mà Jean of Arc được phong thánh chức vào ngày 16 tháng 5, năm 1920.
  Thánh Joan of Arc
Đức Mẹ /Lễ Đăng Quang Napoleon

Chuyện "Chàng Gù Nhà Thờ Đức Bà" của Victor Hugo
Chàng Gù Nhà Thờ Đức Bà là một cuốn chuyện tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Victor Hugo viết bắt đầu từ năm 1829 và hoàn tất vào tháng Hai năm 1831, đề cập tới đời sống dưới thời Vua Louis XI (1423-1483). Cuốn truyện đã lên án xã hội, đã chồng chất các đau khổ lên đầu các nạn nhân, điển hình là chàng gù Quasimodo và người con gái gypsy tên là Esmeralda. Dưới đây là phần tóm tắt cốt chuyện.
Câu chuyện kể bắt đầu vào ngày Lễ những kẻ Điên (Feast of Fools) vào đầu năm 1482 tại Paris, Pháp với nhân vật chính Quasimodo -một chàng gù hình dạng bất thường, khuôn mặt quái dị và là kẻ rung chuông Nhà thờ Đức Bà, được bầu làm Giáo hoàng của những kẻ Điên.
Chuyện chuyển qua giới thiệu nhân vật thứ hai, cô gái dân du mục Gypsy tên Esmeralda, một thiếu nữ xinh đẹp, có trái tim rộng lượng, tốt bụng được nhiều đàn ông ngưỡng mộ như Captain Phoebus, nhà thơ nghèo không nhà cửa Pierre Gringoire, và Quasimodo, cùng ngay cả người cha đỡ đầu nuôi duỡng Quasimodo là Claude Frollo, Phó Chủ giáo (Archdecon) của nhà thờ Notre Dame. Frollo bị dằng xé giữa tình yêu ám ảnh tội lỗi với Esmeralda và luật lệ nghiêm khắc của giáo hội, ông ra lệnh Quasimodo bắt cóc nàng nhưng chàng gù không may bị Phoebus và lính canh bắt được đồng thời cứu thoát Esmeralda.
Vì tội bắt cóc Esmeralda, Quasimodo bị xử tội phát 50 roi quất và phải quay bánh xe nặng giữa công trường cho dân chúng xem cộng thêm một giờ giăng nắng. Đau đớn và khát nước, Quasimodo kêu gào xin nước và nàng Esmeralda động lòng trắc ẩn mang nước cho uống. Quasimodo từ đó hoàn toàn tri ân và ngưỡng vọng nàng.
Chuyện cũng kể về Pierre Gringoire vì hoàn cảnh đã bị nhóm dân du mục bắt và vì không muốn Gringoire bị treo cổ nên Esmeralda đã nhận lời lấy Gringore làm chồng hờ.
Esmeralda sau khi được Phoebus cứu thì tri ân và mê anh ta. Frollo theo dõi Esmeralda và biết Esmeralda và Phoebus có tình ý với nhau. Frollo ghen tuông điên cuồng nên sai người giết Phoebus khi hai người hẹn hò gặp nhau và sắp sửa ân ái làm Phoebus suýt chết. Sau đó Esmeralda bị kết tội âm mưu giết Phoebus và bị xử án chết bởi treo cổ. Khi Esmeralda đứng trên đài xử quyết thì Quasimodo đu dây thừng từ Nhà thờ, cứu nàng, và mang nàng trú ẩn trong nhà thờ, như thế Esmeralda được bảo vệ dưới luật hộ quyền bất khả xâm phạm.
Frollo sau đó báo cho Gringoire biết rằng Nghị viện đã có quyết định trục xuất Esmaralda ra khỏi Nhà thờ và nàng sẽ bị tử hình. Thủ lãnh của nhóm du thủ du thực Truands (nhóm này bị xem như những kẻ tội phạm), tên Clopin nghe được tin này nên đã tìm cách hô hào cả nhóm bao vây, tấn công Nhà thờ để cứu nàng.
Nhưng Quasimodo nghĩ rằng nhóm bạo động muốn hại Esmeralda nên anh ta hết sức chống lại để bảo vệ nàng. Ngược lại, anh ta nghĩ rằng người của nhà Vua muốn cứu nàng nên đã giúp họ tìm Esmeralda. Frollo cứu Esmeralda thoát khỏi đám đông nhưng vì nàng nhất quyết cự tuyệt tình yêu của Frollo nên bị Frollo trao cho nhóm quân lính bắt giữ và sau đó Frollo đứng trên cao từ trong Nhà Thờ nhìn nàng đang bị hành quyết ở phía xa. Khi Frollo đang cười như điên cuồng trong đau khổ thì bị Quasimodo đẩy từ trên cao Nhà thờ xuống mặt đất chết ngay. Quasimodo sau đó tìm đến nơi để xác Esmeralda sau khi hành quyết, nằm cạnh nàng không rời cho đến chết. Khoảng 18 tháng sau khi khu hành quyết được mở ra thì người ta thấy chỉ còn xuơng. Khi có người muốn gỡ rời hai bộ xương ra thì thì xương Quasimodo biết thành bụi.
Cuốn tiểu thuyết Chàng Gù Nhà Thờ Đức Bà là cuốn sách đầu tiên viết bao quanh cuộc đời từ vua nước Pháp cho đến chuột cống rãnh Paris. Victor Hugo đã diễn tả câu chuyện như một kịch trường vĩ đại về lịch sử thời đó, hiện thân qua bối cảnh nhà thờ, xã hội như nhân chứng và chủ xướng thầm lặng. Đây cũng là cuốn chuyện đầu tiên nói đến những kẻ nghèo hèn, hành khất, những kẻ bị coi như thành phần bất hảo, được xem như là những kẻ chủ xướng.
Cuốn tiểu thuyết ra mắt năm 1831 đã thu hút quần chúng mãnh liệt và là động lực khơi mào sự tu bổ những kiến trúc bị tổn hại theo thời gian và chiến tranh. Tối hậu đã dẫn đến sự trùng tu và xây dựng một kho để Thánh vật cho Nhà Thờ Paris vào giữa thế kỷ thứ 19 bởi chính quyền thời vua King Louis-Philippe I. Công việc trùng tu được giao cho Kiến Trúc sư Jean-Baptiste Lassus và Eugene Viollet-le-Duc thực hiện bắt đầu vào năm 1844. Sau khi Lassus qua đời năm 1857 thì Viollet-le-Duc là người duy nhất tiếp tục công việc.
Viollet-le-Duc là một người có đầu óc phóng khoáng, ông đã có lời như sau: "bảo trì, tu bổ một tòa nhà lớn không phải chỉ là duy trì nó, sửa chữa nó, hay làm lại nó, mà là công việc tái thiết lập để nó trở nên một trạng thái hoàn tất có thể chưa từng hiện hữu ở một thời điểm nhất định nào đó".
Viollet Le-duc đã biến một Nhà Thơ đổ nát điêu tàn thành một nhà thờ như chúng ta hiện thấy.
Ngoài những máng xối thoát nước có hình thú hả miệng (gargoyles) ra thì kiến trúc sư Villolet Le-Duc thêm vào một số quái vật mình sư tử đầu thú (chimieres) được trưng ở tầng hai giữa hai tòa tháp. Một tòa tháp nhọn ở phía đông của nhà thờ cao 90 m cũng được xây lại. Một vài điểm lý thú chung quanh công việc tu bổ bảo trì Nhà Thờ Notre Dame của Le-Duc đã được biết đến. Chung quanh ngọn tháp nhọn cao vút này có trưng tượng của nhiều thánh. Tất cả các tượng đều quay lưng vào tháp nhọn, hướng mặt xuống phía dưới, riêng một tượng ở cửa Nam (tượng St Thomas) thì trong tay phải cầm một thước vuông, lại quay mặt nhìn lên ngọn tháp mà khuôn mặt thánh này giống kiến trúc sư Le-Duc. Mời quan sát hình đính kèm xem có đúng không nhé.
 
Tượng Các Thánh
Thánh Thomas

Tượng Quasimodo (*)
Mốc Zero km
(*) Tượng Quasimodo có thể thấy trong hậu cảnh tấm hình cửa Bắc phía trên
Ông Le-duc là một người rất hâm mộ chuyện của Victor Hugo với Chàng Gù Nhà Thờ Đức Bà. Chúng ta có thể đã biết như trên rằng Le-Duc là người đã xây cái ngọn tháp cao vút (spire), và có tượng thánh St Thomas, tay cầm một cái thước vuông, ngửng mặt ngưỡng mộ nhìn lên ngọn tháp, công trình xây dựng của chính ông, mà khuôn mặt thánh St Thomas giống hệt khuôn mặt của Le-Duc; nhưng có mấy ai biết rằng trên một góc vách cao bên cửa Bắc (trên Rue du Cloitre Notre Dame) có hình một tượng bán thân nhân vật gù Quasimodo trong chuyện Chàng Gù nhà thờ Đức Bà ? Và tượng này được đặt ở đó sau khi Le-duc đã hoàn tất việc tu trì nhà thờ Notre Dame ? Tượng Quasimodo rất nhỏ, nằm trên cao và lại ở trong góc giữa hai bức tường nên ít ai chú ý đến.
 
Chàng Gù Nhà Thờ Đức Bà (Notre Dame de Paris)
Nhà thờ cổ kính tại Paris
Có chuyện chàng gù thật dị kỳ
Ẩn náu đời buồn đầy tuyệt vọng
Yêu thầm chết thảm ngập lâm li.
Hugo viết chuyện tình lưu vết (1)
Le-Duc tu trì dấu vẫn ghi (2)
Góc vách cheo leo nhìn tuyệt vọng
Ngày đêm nắng gió hứng sầu bi.
          Sóng Việt Đàm Giang
          01/17/2013
(1) Victor Hugo
(2) Eugène Emmanuel Viollet-le-Duc
Tưởng cũng nên nhắc đến cái mốc tròn có ghi là mốc zero km nằm ở công trường phía trước nhà thờ; tất cả các khoảng cách từ Paris đi các nơi trong nước Pháp đều được đo từ mốc này. Và gần đây nhà thờ cũng đã được thay một loạt chuông mới vào dịp lễ Phục sinh năm 2013.
Tạm Kết Tóm lại, nhà thờ Notre Dame là một nơi mà hầu như mọi người đến Paris đều ghé thăm.
Cũng như tại nhiều di tích lịch sử khác, công trình tu bổ bảo trì luôn luôn được tiếp diễn từ năm này sang năm khác, tháng này sang tháng khác. Đi thăm Notre Dame, ngoài chụp hình để kỷ niệm, chúng ta nên dành thì giờ để thăm viếng, quan sát kỹ lưỡng những hình ảnh tiêu biểu lịch sử của nhà thờ từ chung quanh bên ngoài, đến bên trong với những vòm trần, tượng thánh, cửa kính màu cùng lắng nghe chuông gióng trầm bổng tuyệt vời. Notre Dame de Paris là một địa danh sống mãi trong lòng tất cả những người yêu mến Paris.
Sóng Việt Đàm Giang
(Hè 2013)
Ghi chú. Hình bản đồ Nhà thờ và ông Le-Duc thu thập trên Wikipedia/internet. Số hình còn lại thuộc bộ hình riêng của người viết. Lịch sử Nhà thờ Notre Dame một phần thu thập ngày 28 May, 2013/ trích dịch từ trang: http://www.notredamedeparis.fr/spip.php?article38

Bài Xem Nhiều