We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 24 September 2013

Chuyện Con Rể: Thằng Gà Chết

Thằng Gà Chết

 
ho_hang_nha_ga
Ông Niết tuổi đã bảy mươi, nói với anh con rể:
“Mầy phải biết vùng lên một chút chứ! Sợ vợ như mầy, làm tao cũng nhụt chí anh hùng theo!”
Anh rể khoảng bốn mươi tuổi, cười hề hề:
“Thôi Ba ơi. Chúng ta phải thanh toán cho xong dĩa tiết canh nầy, rồi thu dọn chiến trường, dấu kín tàn dư, chứ chốc nữa vợ con và Má về, biết được thì ồn ào lắm. Khi vui, ba đừng tiết lộ cho Má biết con lén mua tiết canh về cho Ba ăn nghe!”
“Tao có ngu đâu. Mầy biết tao thèm tiết canh nên mua, chứ mầy đâu quen ăn cái thứ nầy! Vợ mầy biết chuyện, thì cũng khổ cho mầy đó!”
Hai bố con miệng mồm dính tiết đỏ lòm, hành lá màu xanh dắt trong răng, nhồm nhoàm nhai khoái trá. Mặt đã đỏ bừng vì mấy chai bia. Giọng ông Niết lè nhè:
“Ừ. Mầy ‘chơi’ thêm chai nữa đi! Tao cũng làm một chai nữa. Có mấy khi được tự do như hôm nay?”
“Sợ mặt đỏ, vợ con về biết!”
“Mặt mầy đã lỡ đỏ như ráng trời rồi, không thể đỏ hơn được. Uống đi, sợ cóc gì? Kỳ thật, đàn bà thấy tiết canh là la lên í-oái. Cấm đoán. Mấy khi có được thứ ngon như thế nầy! Không ăn, cũng uổng lắm sao?”
Ông Niết uống cạn ly bia khà một tiếng, anh rể cũng nốc ực. Ông Niết lặp lại:
“Mầy phải vùng lên, ‘hỡi giai cấp bị trị’ hãy vùng lên dành lại tự do, công bằng.Vợ chứ đâu phải ông trời đâu mà mầy cứ chịu lép một bề hoải?”
“Ba vùng lên trước, rồi con sẽ theo chân Ba mà vùng.”
“Tao đâu có bị vợ đè nén ức hiếp mà phải vùng lên? Mầy biết, bà ấy coi tao như ông trời. Có khi nào tao bị sai bảo, chạy cho có cờ đâu. Bà nói gì mặc, tao đâu có nghe, chẳng làm. Rồi cũng thôi. Làm gì tao được?”
Anh rể cười hì hì: “Con nghe nói ông Trời cũng biết sợ vợ đó Ba à’”
Ông Niết tiếp: “Có ai như mầy đâu? Đi làm việc một ngày mười tiếng đã bở hơi tai. Chiều nào tan sở về cũng phải ghé ngang chợ, vợ điện thoại nhờ mua đủ thứ.   Thế mà cũng cứ bị chê rau không tươi, thịt không ngon, trái cây lựa chưa kỹ. Hạch xách đủ thứ. Rồi thứ bảy, chủ nhật sai mầy chở tao và má mầy đi cả trăm dặm thăm người nầy, người kia, Việc gì cũng đổ lên đầu mầy cả. Đôi khi tao cũng bực lắm, thương mầy chịu đựng. Tao mà như mầy, thì...thì...”
“Thì sao hở Ba?”
“Thì sao? Tao cũng chưa biết. Nhưng phải vùng lên, đấu tranh. Ừ, nhưng mà thế hệ của mầy văn minh hơn, nên kiên nhẫn, chịu để cho vợ đè sát ván. Tao không binh con gái, thấy việc bất bình thì phải nói ra. Hừ, nam nữ bình quyền, bình cái con khỉ. Đã cưỡi lên đầu người ta, mà vẫn kêu gào là bị đàn áp chưa bình quyền.”
“Ba say rồi đó!”
“Đúng. Tao say, nhưng còn nói điều sáng suốt.”
Ông Niết chịu bán cái dinh cơ có vườn rộng mênh mông sáu mẫu đất tại một tỉnh nhỏ của một tiểu lạnh miền đông bắc Mỹ, dọn về nam California ở với vợ chồng người con gái cho ấm áp và đỡ cô đơn trong tuổi già.
Cái nhà năm phòng ngủ của người con gái được thiết kế lại, chia làm hai phần riêng biệt, cửa vào riêng, nhưng có cửa sau thông nhau. Phần ông bà Niết cũng có đủ hai phòng ngủ, phòng khách, phòng ăn, chỉ thiếu cái bếp, vì cô con gái muốn cùng bố mẹ cùng ăn chung cho tiện. Hàng tháng ông bà đóng góp rộng rãi tiền nhà, tiền ăn, vì không muốn mang tiếng nhờ vả con. Ông bà Niết gạt ra ngoài tai lời khuyên của các bạn già đã có kinh nghiệm quý báu, rằng không nên ở chung với con dâu con rể. Bất tiện và đôi khi tủi thân lắm. Những khi dâu rể nó vô tình đóng cửa mạnh, hay lỡ to tiếng với con cái chúng, mình cũng ái ngại, không biết nó có buồn giận chi mình chăng. Vợ chồng nó cũng có lúc bất hoà cãi cọ nhau, nghe cũng mất vui. Tự do của mình cũng bị hạn chế. Trong nhà, mình cũng phải ăn mặc đàng hoàng, lịch sự, không được tự do đánh trần mang xà lỏn, phơi cái bụng phệ. Ở riêng là tiện và sướng nhất. Biết rõ ý bố mẹ vợ, anh con rể ngăn đôi căn nhà. Khi muốn chung thì cũng chung được, khi muốn riêng biệt thì cũng hoàn toàn riêng. Không ai phiền hà ai.
Bà Niết thường hay to nhỏ cùng chồng: “Anh đừng nêu gương xấu cho thằng rể, làm hư nó, con gái mình có phước, lấy được một thằng chồng hiền như đất cục, biết cưng chiều, hết sức nhịn vợ và chăm sóc cho gia đình. Khó mà kiếm ra được một thằng như vậy lắm”.
Ông Niết cự nự lại: “Thế nào là nêu gương xấu? Tôi đã làm gì sai? Ít sợ vợ là nêu gương xấu chăng? Tôi chưa thấy thằng đàn ông nào ỉu xìu, sợ vợ như nó. Vợ chứ đâu phải cọp beo chi mà sợ đến thế? Nếu nó là con trai của bà, chắc bà đã giãy nảy lên mà xỉa xói, kêu là thằng đàn ông râu quặp, đội vợ lên đầu. Bà phải xử sự công bằng.”
“Không công bằng gì cả. Nó tự nguyện, chứ con gái mình có ức hiếp đâu? Nó cảm thấy sung sướng hạnh phúc được phục vụ gia đình. Đừng nói là ‘sợ vợ’ nghe chướng tai, phải nói là thương vợ mới đúng! Em không có phước bằng con gái, nó được chồng thương hơn.”
Ông Niết cười khà khà; “Tôi không là con gà chết.”
Mỗi ngày đi làm về, anh con rể len lén đặt nhẹ lên bàn mấy tờ báo Việt Nam, rồi liếc nhìn ông già vợ, miệng hơi mỉm cười. Ông Niết biết nó mua cho ông, chứ chưa bao giờ thấy nó đọc báo. Sau đó, anh rể ra xe, ôm nhiều bao bì đầy cả hai tay vào bếp. Vợ nó dặn sẵn, trên đường về ghé chợ mua các thứ nầy.
Những khi có việc đi qua phố, anh con rể thường dẫn ông Niết vào các tiệm sách, la cà tìm kiếm. Thấy ông có vẻ ưa thích cuốn nào, thì nó mua liền. Ông Niết nói không đọc thì đừng mua. Nó bảo cứ mua để đó, khi có thì giờ thì đọc. Biết nó mua cho ông, nên định dành trả tiền, mà nó nhanh nhẩu hơn, trả tiền trước, làm ông cứ áy náy mãi.
Một lần bà Niết nhận xét cái máy truyền hình trong phòng ông bà không được rõ nét và đẹp bằng cái ở phòng khách. Chủ nhật hôm đó, anh con rễ mang về một cái máy truyền hình mới, màn dẹp, khổ lớn, đem vào phòng ông bà. Ông Niết la lên:
“Chết, chết, đem trả lại đi. Cái máy cũ cũng đã tốt lắm rồi. Mua máy mới làm chi cho tốn kém. Ba không chịu cái máy mới nầy đâu.”
“Ba không chịu, nhưng mẹ chịu. Cái màn hình lớn, màu đẹp, rõ nét, xem sướng con mắt hơn máy cũ nhiều lằm. À, mà Ba Mẹ đã xem hết mấy cái dĩa phim truyện chưa? Con đi đổi bộ phim khác. Nghe nói có mấy bộ phim Đại Hàn mới, chuyện cảm động lắm. Mấy bạn con có cả trăm bộ phim hay chọn lọc chứa trong “ổ cứng”, hôm nào con mượn về sang ra, để dành mà xem.”
Ông Niết không muốn phiền anh con rể, gạt ngang: “Thôi, thôi, đủ rồi. Chừng đó dĩa phim xem mãi, mờ con mắt ra, cũng chưa xong.”
Bà vợ ông gắt: “Thôi sao được mà thôi? Ông không xem thì để tôi xem.”
Ông Niết nháy bà vợ, nói nhỏ: “Đủ rồi, đừng quá lợi dụng lòng tốt của nó.”
Cứ vài ba hôm, anh con rể mua món nhậu ngon về cùng bố vợ khề khà với vài chai bia trước khi ăn cơm chiều. Mấy lần mua được thịt bê thui, anh con rể vui vẻ nói lớn:
“Hôm nay qua chợ, thấy có thịt bê thui còn nóng, mới giao hàng, trông ngon lắm, con mua mấy lạng, về hai bố con mình nhậu cho vui.”
“Không chờ vợ con và mẹ ăn luôn sao?.”
“Con có để phần rồi. Mình lai rai làm vài chai bia trước. Bê mới thui, thịt tươi rói, mới nhìn thôi cũng đã cảm được cái vị ngọt trong miệng rồi!
Hai bố con đem bàn ra vườn, ngồi nhai lai rai. Ông Niết cười, nói đùa:
“Mầy tập cho tao hư rồi đó! Uống bia nhiều, cái bụng cứ to thêm mãi. Khi ở trên miền Bắc, không có bạn nhậu, lâu lắm mới uống một chai bia. Uống một mình, không thấy vui, chẳng cảm được cái vị ngon.”
“Lâu lâu mới có một bữa mà Ba! Tội chi không vui với những cái hạnh phúc nho nhỏ nầy? Trời cho mà không nhận, cũng uổng! Con biết Ba ưa ăn ngon, nhưng lại sợ bị bệnh tim, gan. Cứ ăn tưới đi, tới đâu thì tới. Năm ba bữa, làm một chầu cho đời lên hương, đừng ngày nào cũng say sưa là được!”
Cô con gái ông Niết đi làm về, mở cửa nhìn ra sân sau, làm anh con rể giật bắn mình quay lại nhìn vợ. Cô nói lớn: “Mỗi người một chai bia thôi nghe!”
“Ưà! Một chai thôi.” Anh con rể đáp lời vợ, quơ tay xuống bàn, giấu mấy vỏ chai vào góc kẹt, rồi nháy ông Niết mà cười.
Mùa hè trời nắng nóng, buổi chiều ngày nghỉ, anh con rể thường đưa cả nhà ra bãi biển, trải tấm khăn lớn, quây quần dọn thức ăn ra, chung vui. Thằng bé con lăn lộn vọc cát. Ông Niết đi bộ ven theo bờ nước nghe sóng vỗ rì rào. Bà vợ không muốn ông đi một mình, sợ ông ham ngắm nhìn những thân thể lồ lộ mập mạp của các bà ít vải che trên thân thể. Bà cứ kêu ông trở lại, không cho đi xa.
Bà nguýt ông và nạt: “Con mắt cứ láo tiên như mèo thấy mỡ.”
Ông phản ứng ngay: “Ra đây bà bắt tôi phải nhắm mắt lại sao? Nói thế, con cháu nó cười cho.”
          “Cười ông chứ cười ai? Già rồi mà chưa chịu yên!”
Anh con rể đưa tay bí mật bấm ông Niết làm dấu. Ông liếc nó mà mỉm cười.
Trăng vàng sáng vằng vặc trên bãi biển. Ông Niết nằm ngữa nhìn lên trời và nhớ về quê hương xa xôi, có những đêm trăng sáng trên đường quê, trai gái rộn ràng ca hát vui chơi. Tiếng nhạc du dương êm đềm từ các quán nước văng vẳng mơ hồ. Ông Niết nhắm mắt, thiếp đi một giấc ngắn. Mộng thấy còn nằm trong lao tù cải tạo. Khi thức giấc, ông giật mình hoảng hốt, nhìn quanh xem có thực đang ở trên đất Mỹ, có vợ con bên cạnh hay không. Thấy dáng điệu lạ của chồng, bà vợ hỏi có sao không? Ông trả lời là không sao hết. Những lúc như thế nầy, ông bồi hồi, cảm thấy sung sướng, hạnh phúc dâng tràn. Ông cám ơn nước Mỹ, đã dang rộng vòng tay ra cho ông có nơi dung thân, cám ơn vợ, con đã đem lại cho ông tháng ngày bình an sung sướng nầy. Ông nghĩ đến những người anh em bên kia chiến tuyến mà thương cho họ. Họ đã khởi động cuộc chiến, xua quân xuống miền Nam, tấn công chinh phục. Thế mà họ lại còn hận thù chất ngất nạn nhân của họ. Biết bao nhiêu xương máu đã đổ ra, chỉ để được nghèo đói hơn, bị áp bức hơn, và thiếu tự do hơn. Ông thầm nhủ, thôi quên đi, phe nào cũng tội nghiệp cả. Lỗi lầm của lịch sử.
Nhiều khi anh con rể đưa cả gia đình về một khu thương mãi lớn, ngồi trên sân rộng, có gần cả trăm bàn vây quanh sân khấu thấp, nghe nhạc sống, đàn trống xập xình vang vang. Ban nhạc đầy đủ đàn lớn, đàn nhỏ, kèn, tiêu, sáo hoà âm rộn ràng. Ca sĩ già trẻ thay phiên nhau ca hát. Người nghe ngồi gật gật thưởng thức với cái hạnh phúc toát ra trên những khuôn mặt vui tươi. Những sinh hoạt nầy không có ở thành phố vắng vẻ nơi ông ở trước đây. Không cần hỏi trước, anh con rể băng qua bên kia, mua về cho mỗi người một ly kem mát lạnh, ngọt và ngon. Khi thấy nhiều cặp già trẻ đứng lên nắm tay nhau bước theo điệu nhạc, anh rể kéo ông Niết đứng lên:
“Ba ra nhảy với con vài bản cho ấm người thông máu”
Ông Niết gạt tay anh con rể: “Nhảy nhót gì, mấy chục năm chưa nhảy lại lần nào. Mà già rồi, kỳ lắm.”
Anh rể cười cười: “Ba nhìn qua bên kia kìa, hai cụ cũng gần chin chục tuổi, còn muá may lia lịa. Ba đứng dậy đi! Má chịu rồi đó.”
Ông Niết ra muá may với anh con rể trong tiếng nhạc dập dồn. Bước tới, bước lui, tay hoa, chân đá, uốn éo. Hai cha con vờn nhau trong tiếng trống, tiếng kèn. Khi nhạc dứt, trở về ghế ngồi. Anh con rể nói:
“ Ba dấu nghề kỹ quá. Ba nhảy bay bướm mà lạ lắm.”
“Bay bướm cái con khỉ. Tao múa võ đó, đi theo bài quyền ‘Thập Bát La Hán’ Múa theo điệu nhạc, thì ‘khiêu võ’ cũng thành ‘khiêu vũ’ vậy.”
Bà vợ ông xì một tiếng dài.
Ông Niết thấy dọn về nơi nầy, tìm được nhiều thú vui hơn. Có khi cả tuần, ông chưa hề nói một câu tiếng Mỹ. Nhưng ông cũng bực, vì bị bà vợ và con gái bao vây, chăm sóc cho ông quá kỹ, không cho ông lái xe nữa, lấy lý do ở đây thành phố đông đúc, xe cộ như mắc cữi, mà thì ông đã già, chậm, mắt kém, dễ gây tại nạn. Ông nói hai mươi mấy năm nay đã lái xe trên đất Mỹ, mà có sao đâu? Thế nhưng vợ và cô con gái đồng thanh bảo, nơi đây là đô hội, chỗ ở trưóc kia là thành phố nhỏ quê mùa, hai bên khác nhau. Ông đòi mua xe đạp, cũng ngăn cản, không cho. Những khi ông đi bằng xe buýt, thì ở nhà bà lo lắng, quýnh quáng, chốc chốc kêu điện thoại di động kiểm soát xem ông có gặp trắc trở gì không. Vợ và con gái canh chừng ông như chăm nom đứa trẻ con. Ông cũng biết vì tình thương mà vợ và con lo lắng và ngăn cản ông.
Những khi cần thăm bạn bè ở xa, ông Niết muốn dùng xe công cọng cho khỏi nhờ vả ai. Nhưng cô con gái ông không muốn bố mẹ đi đường chờ đợi cực khổ, nên nhờ chồng đưa đi. Ông Niết phải cương quyết: “Thôi, bố mẹ ở nhà, không cần đi nữa.”
Anh con rể dịu dàng nói: “Con cũng cần đi qua vùng đó có công chuyện, nhân tiện chở Ba Mẹ đi luôn.”
Ông biết anh con rể có lòng tốt, nói vậy cho ông khỏi áy náy, ông nhất quyết khước từ. Bà vợ ông thì không chịu hiểu, cứ nằng nặc đòi đi. Ông thở dài: “Thôi, nếu muốn thì bà đi một mình. Tôi mệt nằm nhà.”  
Bà vợ gắt: “Vô duyên chưa! Bạn của ông mà tôi đi thăm một mình được sao?”
Những khi anh con rể đi vắng, ông Niết có dịp ngồi riêng với cô con gái, ông thường nhỏ nhẹ:
“Con cũng nên xét lại cách cư xử với chồng cho hợp lý hơn. Cứ sai nó việc nầy, việc kia lu bù, bắt nó chạy cho long tóc gáy, lại còn chê bai, giận hờn, nạt nộ. Chống chứ đâu phải là đầy tớ, hay nô lệ? Một ngày kia nó ý thức được bất công, rồi vùng lên, thì không tốt đâu!”
“Con có làm gì quá đáng đâu? Con chưa hề nghe anh ấy kêu khổ hoặc than thở bao giờ! Con không hiểu Ba muốn nói gì!”
Một hôm, con gái ông ngồi chơi đùa với đứa cháu ngoại bảy tuổi. Khi cô ôm con vào lòng và hỏi:
“Sau nầy lớn lên con sẽ làm gì?”
“Con sẽ sợ vợ, như bố sợ mẹ!”
“Không. Không. Không được. Con của mẹ phải mạnh dạn, hùng dũng, không sợ ai cả. Mà ai dạy cho con câu nói nầy?”
Thằng bé đáp rất tự nhiên:
“Ông ngoại.”  ./.
Tràm Cà Mau

Viên Đạn Khởi Đầu Đặng Ngọc Viết: Đồng Nai - 1 tên bán muối - 2 tên bị thương

Cái giá của thảm trạng Đặng Ngọc Viết

 




A. Nguyên nhân đưa tới Thảm trạng Đặng Ngọc Viết


Để che dấu bản chất gian manh lừa lọc hầu cướp Của bán Nước, đảng CSVN đã đề ra Chủ trương Lộn Sòng: “Đảng Lãnh đạo, Nhà nước Quản lý, Nhân dân làm Chủ”. Tại sao lại Lộn Sòng?


Thưa: Lộn Sòng ở chỗ đảng CSVN đã lật ngược thế cờ ngàn xưa trong xã hội: với xảo thuật đại Bịp và kỹ thuật bạo động bằng nhiều hình thức khủng bố tinh vi, những người lãnh đạo CSVN đã nấp sau bóng Công Nông được dùng làm Đa số đánh bại Thiểu số Địa chủ, Tư sản, những Chất gia CS (ít học) đã lật nhào thành phần Văn gia (học cao), bằng coup (đảo chánh) “Hồng hơn Chuyên”, nhờ vậy mà những người CSVN Nghèo hóa Giàu bằng nước Bọt, những người CSVN Ít học biến thành Thông minh qua lối gian manh. Những dòng dưới đây giúp ta hiểu tiến trình cách mạng Vô sản chuyên chế.


I. Đảng lãnh đạo.


Chỉ có những đảng Độc tài chuyên chế mới vận dụng tới việc Lãnh đạo để dùng bạo lực mà giết Người cướp Của và tệ hại nhất là âm thầm Bán Nước. Nếu là chính quyền của một chế độ “Quân chủ vương đạo” hay “Dân Chủ chân chính” thì Chính quyền chỉ là công bộc của dân. Ông Hồ Chí Minh cũng đã hô hoán rằng Chế độ ông ta chọn là chế độ Dân chủ và nhà cầm quyền do đảng CSVN lãnh đạo là Đầy tớ của Nhân Dân, nhưng đảng CSVN do ông gầy dựng lại đánh tráo vị trí: “đảng leo lên làm Chủ đè đầu cỡi cổ người Dân, đẩy Nhân dân xuống làm Nô lệ!”.


Để được như thế, đảng CSVN đã dùng cả một hệ thống Kìm kẹp và Loa Đài từ Địa phương tới Trung ương:


Ở Địa phương họ thiết lâp những Tổ dân phố để kiểm soát chặt chẽ cuộc sống người dân giống như kiểu “Ngũ gia liên báu” lúc xưa bên Tàu, buộc người Dân phải suy nghĩ và hành động giống như Xít, Mao, Hồ, có như vậy thì bất cứ việc gì Nhân Dân cũng nhất trí 100% với đảng, lối cai trị này gọi là Thượng đồng, nghĩa là người dân buộc phải luôn đồng ý với cấp trên, thế là đảng CSVN đã theo Mao Trạch Đông thăng cấp từ Thiên tử phong kiến Tàu lên ngôi Thượng Đế trần gian để tước đoạt Thiên tính Trời ban cho loài người!


Khắp nước thì dùng tiền thuế của Nhân dân nuôi vô số loại Công an: Từ mặt đường của thôn xóm, làng xã, thị thành, đâu đâu cũng nhan nhản các loại mệnh danh công an Nhân dân, nào áo vàng, áo lục... nào là loại công an đặc biệt mặc thường phục giả dạng côn đồ để ném đá dấu tay, khi mạt vận lại dùng đến lối lộn sòng hạ cấp này! Tất cả mọi loại Công an đáng lẽ phải bảo vệ nhân dân, lại đàn áp nhân dân.


Hành động trắng trợn này làm lộ diện bản chất côn đồ của đảng CS.


Còn ở Trung ương và các cấp Chính quyền đều có thứ công an đặc biệt mang mặt nạ Công lý, để bảo vệ chính sách cướp bóc của đảng, đó là Ngành Tư pháp với những Luật sao chép cùng với những Nghị định man rợ để bảo vệ hành động Bất công của Đảng cướp!


Đặc biệt có một đội ngũ Tuyên giáo vô cùng đông đảo, một mặt họ ca tụng đảng lãnh đạo tài tình, đảng quang vinh muôn năm bất diệt, mặt khác chuyên môn viết lời dối trá, tìm mọi cách xuyên tạc, bôi bẩn sự Thật để phá hoại, tiêu diệt Tôn giáo, bôi bẩn Chính nghĩa Quốc gia, che lấp Sự thật bằng làn sương mù gian trá, khiến cho nhân dân ít học không biết đàng nào mà rờ, chỉ biết è cổ ra mà chịu đựng bất công!


Ngoài ra còn có vô số loại Báo, Đài hợp “đồng tác chiến” cùng các Loa nơi thôn xóm phố phường, ra rả hàng ngày về cái" đảng quang vinh, Bác Hồ cứu tinh của dân tộc, đảng Lãnh đạo tài tình"!


Đảng còn nặn ra thành phần “đảng cử dân bầu” nơi Nghị trường, họ lén lút nhét điều 4 và quyền Quản lý “Tài sản Nhân dân” vào Hiến pháp để hợp thức hóa quyền lãnh đạo, giúp đảng ngang nhiên lãnh đạo việc tước đoạt Nhân quyền - quyền Tự do làm Người - cùng tước đoạt Dân quyền tức là quyền Tư hữu – nguồn sống vật chất của người Dân -, thiếu hai nguồn sống Thiên Bẩm đó thì con Người hết còn là Người!


Thảm họa của Dân tộc là do cả một hệ thống Kìm kẹp và đại Bịp khổng lồ của đỉnh cao trí tuệ “hợp đồng tác chiến” gây nên.


Sống dưới chế độ có một hệ thống từ thấp lên cao “vừa bóp cổ vừa la làng giải phóng Nhân dân” như thế đã diễn ra gần thế kỷ, phỏng có Quốc nạn và Quốc nhục nào của Dân tộc thê thảm hơn?


II. Nhà nước quản lý


Có nghĩa là mọi thứ từ Vật chất đến Tinh thần của Dân tộc đều do đảng CSVN “xử lý” theo đường lối của đảng, nghĩa là đảng muốn xài cách nào hay cướp bóc theo kiểu gì đều là quyền của đảng, hễ ai đụng tới cái đảng lãnh đạo tài tình này thì tống vào xà lim cho mạt kiếp, rồi hành hạ dài dài cho đến thân tàn ma dại, để không ai còn dám đụng tới cái đỉnh cao trí tuệ đểu cáng sơn cùng thủy tận này.


Quản lý Vật chất để tước đoạt quyền Tư hữu hầu diệt sự sống Nhân dân từng ngày, quản lý Tinh thần là đoạt Tự do cho mất Nhân phẩm biến con Người thành trâu bò kéo cày, việc gì cũng triệt để “đào cho tận Gốc, trốc cho tận Rễ” để giữ vững lập trường, cái mặt của đảng viên lúc nào cũng đằng đằng sát khí! Có việc gian ác nào trên quả đất này quái đản hơn việc "đảng kiên định lập trường ba đời vô sản?"


III. Nhân Dân làm Chủ


Theo ý CSVN có nghĩa là “Trách nhiệm phải làm mọi Việc” là của toàn Dân, vì Dân được mang “Tiếng” là Chủ, còn “Miếng” Quyền lợi do dân làm ra thì đảng phải gánh vác vai trò công bộc để Quản lý giùm, việc Quản lý đã do dân cậy nhờ, thì “làm ra sao” là việc riêng của đảng. Đảng đã từng vỗ ngực là Đỉnh cao Trí tuệ cũng như Đỉnh cao Lương tâm Nhân loại, làm sao mà đảng sai lầm, mọi điều sai lầm về chính sách Quốc gia đều do cán bộ cấp dưới hết!


Do đó mà đảng thôi thúc nhóm Tuyên giáo phải luôn gào thét là đảng lãnh đạo tài tình, không quên cảnh giác về tình trạng kẻ địch bủa vây khắp nơi chống đối chế độ bằng Diễn biến hòa bình, cố hù dọa để không ai dám mở miệng đòi thay thế vai trò lãnh đạo của đảng quái ác này được!


Khốn thay! Trong mọi hoạt động xã hội mọi thứ đều do bàn tay người Dân, họ đã đổ mồ hôi sôi nước mắt làm nên tất cả, thảm nhất là trong hai cuộc chiến làm Nô lệ quốc tế Liên Xô và Tàu cộng, từ nhân tài vật lực đều là của nhân dân. người dân phải xung phong và tiên phong góp mồ hôi, nước mắt và xương máu, còn đảng CSVN "có công lớn" là vay nợ Vũ khí của CS quốc tế nhất là của Tàu cộng để cổ võ đồng bào hai miền Bắc Nam chém giết nhau, nhờ chém giết triệt để theo Xít, Mao, Hồ, nên món nợ CSVN vay quá khổng lồ, nhân dân không trả nổi, giúp Trung cộng có cớ đeo vòng Kim Cô vào cổ đảng CSVN, tới nay hễ Trung cộng xiết một nấc vòng Kim Cô là CSVN ký giấy nhường Đất bán Biển, nhường địa điểm chiến lược cho Tàu cộng trấn giữ cũng như cho Dân Tàu di cư qua lập làng sinh sôi nảy nở mà Hán hóa với mật kế “Tĩnh vi Dân, động vi Binh”, họ là những “tay trong nổi dậy cướp nước” đang đợi thời cơ. Việc cho Hán nô xâm nhập vào mọi cơ chế xã hội cũng như cho dân Tàu đi lại Tự do, để giúp cho Tình Báo tràn ngập hầu nắm vững tình hình cả nước VN để khống chế. Đặc biệt thực phẩm tẩm chất độc từ Trung cộng tràn qua để diệt chủng nhân dân Việt Nam, nay nhân dân trong nước ăn thứ gì cũng run, vì không còn thứ nào không nhiễm độc! Có tội ác nào mà "người bạn vàng 4 tốt cùng đảng CSVN quang vinh" của Thiên triều không làm để tiêu diệt dân Việt Nam?


Còn nhiệm vụ chính của đảng CSVN thì chỉ luôn dùng nước bọt cao rao tài lãnh đạo, lẽo đẽo theo sau mà sai khiến. Vây nhân dân làm Chủ như trâu bò, bị cái ách “chủ trương lộn sòng” của CS quàng vào cổ mà kéo cày, đảng CSVN chỉ một tay cầm cái “tay cày tức là chính sách lộn sòng” và tay kia cầm cái roi (mọi thứ Công an và Loa Đài cùng loại Đảng cử Dân bầu) đi sau quất roi mà lãnh đạo Nhân dân" đi cho đúng đường Vô sản chuyên chính mà tiến nhanh lên XHCN"!

Thế là, dưới quyền lãnh đạo của đảng CSVN, là Nhân thì con người mất Nhân quyền tức là mất Tự do, là Dân thì người Dân mất Dân quyền, tức là mất quyền Tư hữu, họ chỉ có Trách nhiệm, còn Quyền lợi từ Tinh thần tới Vật chất ngày càng bị đảng tước đoạt, mục đích của đảng là thi hành chính sách “bần cùng hóa và ngu dân” để cho đảng CSVN trường tồn mà Độc trị!


Qua cuộc cướp phá gần thế kỷ nay, đầu tiên là diệt các thành phần Ái quốc Quốc gia, thành phần Trí thức, giai cấp Địa chủ, Phú nông, thành phần Công thương nghiệp ở miền Bắc, sau 1975, CSVN lặp lại mọi thứ như thế ở miền Nam, những người bị hại phần nhiều là tinh hoa của Dân tộc.


Khi đã hết chỗ cướp bóc, đảng CSVN mới lần tới việc bóc lột nốt thành phần cột trụ Công Nông đã đem đảng CSVN lên ngôi mà ngồi chễm chệ trên đầu Dân tộc. Khi đã phá nát Thượng tầng kiến trúc và Hạ tầng cơ sở của Quốc gia rồi, thì đến lúc CSVN học theo Giang Trạch Dân tiến lên nền Kinh tế ba thành phần cho đảng Viên CSVN làm giàu, tiếp đó là “Quy hoạch mặt bằng” để giúp cơ hội “vỗ béo đàn em” địa phương, đồng thời rải bùa lú “còn Đảng còn Ta” để bảo vệ thành trì “Kách mạng vô sản chuyên chính”. Cứ nhìn vào hành tung triệt hạ tận nền của CSVN thì nhận biết tại sao ngày nay Nhân Dân dân Việt Nam không còn bao nhiêu anh hùng và bất khuất như Tổ tiên xưa?


Tóm lại: Hai thứ quý nhất của con Người là Tư hữu và Tự do, là Nguồn sống của Dân tộc, thế mà đảng CSVN đã tìm cách hủy diệt cho tận cùng để cho Dân tộc trở nên đớn hèn, hầu duy trì sứ mạng cúc cung phục vụ Thiên triều của "đảng quang vinh"!


B. Mục tiêu đấu tranh của ông Đăng Ngọc Viết


Nhờ xảo thuật lãnh đạo mà đảng CSVN ăn cướp dài dài mọi thứ, cái gian manh và độc ác nhất là tước đoạt quyền Tư do làm Người, quyền này bị cướp thì con người trở thành trâu bò, khiến người Chủ biến thành Nô lệ, khi bị cướp đoạt Tài sản là cầm chắc mạng sống người Dân trong tay, muốn họ phải làm gì hay cho sống chết thì chỉ thắt bao tử họ lại là xong!


Thành phần yêu nước tranh đấu cho nền Dân chủ hiện nay, đang phải đối diện với cuộc sống ô nhục và cơ cực này!


Đảng viên CSVN chẳng đã khoe khoang cách cai trị của đảng tài tình, cách này giống như cách nuôi đàn gà, cứ để cho gà đói, chỉ cầm một nắm thóc, miệng kêu tục tục, là tất cả đàn gà chạy tới, ngay khi chỉ có nắm tay không!


Có Tư hữu nghĩa là có của ăn thì con người mới sống, khi sống mà mất Tự do thì con người chỉ là con vật, hai thứ đó thuộc về Thiên bẩm không ai từ chối để làm Người mà tồn tại và phát triển được. Tước đoạt hai thứ nền tảng của con người này là chống lai Nhân loại và chống cả Trời Đất, khi đã “Hoạch tội vu Thiên” thì không ai có thể tha thứ!


Tự do và Tư hữu cũng là nền tảng của chế độ Dân chủ, một chế độ Dân chủ mà thiếu nền tảng này thì là thứ Dân chủ cuội, trá hình độc tài, độc tài thì khát máu vì Tham, Sân, Si luôn sục sôi trong lòng xúi dục cướp phá, mà đã cướp thì phải giết Người mới yên.


Trong mọi thứ quý nhất thuộc Tư hữu của Nông dân là Đất đai và Nhà cửa, vì đây là mồ hôi nước mắt và xương máu của mỗi cá nhân lao động. Có Nhà ở thì mới an cư lạc nghiệp, không nhà ở thì phải phơi thân cùng gió sương nơi góc xó vệ đường, gầm cầu,... lại thêm không có Đất đai ruộng vườn để có kế sinh nhai thì phải đi hành khất, lượm rác, thậm chí trộm cắp.... Đất đai là nguồn sinh lợi lâu dài trong nông nghiệp, cũng như nghề chuyên môn là nguồn sinh lợi của công nhân trong nền Công nghiệp, khi bị tước mất thì cũng chẳng khác nào bị xử tử cho chết dần mòn!


Một gia đình nông dân mà bị cướp mất Nhà cửa và ruộng vườn thì kể như họ đã bị cướp mất nguồn sống, nên sẽ chết lần mòn cơ khổ theo ngày tháng. Không biết cơ man Gia đình Việt Nam đã phải sống trong thảm cảnh này suốt hơn 70 năm!


Đó là nguyên nhân dồn Ông Đặng Ngọc Viết chống tụi cướp nhà đất, khi giết họ rồi phải tự sát để khỏi bị đày đọa thêm, nhưng họ chỉ là cái Tay, là kẻ thù phụ, kẻ thù chính là cái Đầu tạo ra chủ trương lộn sòng, chính danh thủ phạm là đảng CSVN, đảng CSVN là Tổ chức cướp Quốc gia trong hệ thống cướp Quốc tế, nên chính đảng CSVN là kẻ thù của toàn dân và nhân loại!


C. Giá cái Chết của Ông Đặng Ngọc Viết


Ông Đặng Ngọc Viết đã chiến đấu cho sự công bằng của cá nhân và gia đình là việc làm chính nghĩa, cũng như gián tiếp đóng góp phần mình cho việc thực thi công lý xã hội, và cũng góp công cho nền tảng chế độ Dân chủ. Ông đã nổ phát súng lệnh để cảnh giác toàn dân về tai họa đất nước, hy vọng toàn dân phải cùng nhau đứng lên tranh đấu cho Đại Nghĩa, tức là sự công bằng xã hội bằng cách “diệt bạo trừ gian”, ông đã chỉ điểm đúng kẻ thù, ông đã diệt mấy tay thừa hành “còn Đảng còn Ta” để triệt hạ tay chân của cái Đầu, để làm lay chuyển, làm rúng động Tâm Can chai đá của những cái Đầu - kẻ chủ mưu-. Nay CSVN đang tứ bề thọ địch: Địch trên đầu trên cổ là Trời Đất, Tổ tiên, Địch cấp trên là kẻ thù truyền kiếp Tàu cộng, Địch xung quanh là toàn dân tràn ngập oán thù, Địch cũng xâm nhập sâu vào trong lòng đảng, trong lòng mỗi đảng viên, họ cũng đang xâu xé nhau về quyền lợi và địa vị, tất cả là do loại Địch “Tham, Sân, Si” trong Tâm của đảng, Địch đang bủa vây khắp chốn, khiến họ đang đấu đá nhau, thanh toán nhau, nên mười cửa Tử may ra chỉ còn một cửa Sinh. Lối thoát của đảng CSVN chỉ là độc đạo: “Họ phải thực tâm quay đầu về với Dân tộc, thay đổi bản chất Tham tàn, đoạn tuyệt hành động Cường bạo, đái Tội lập Công, cùng nhân dân thực hiện Chính nghĩa Quốc gia, may ra mới xuống ngựa được”. Công Tội ra sao đã có công lý soi sáng.


Để phải liều mình làm như thế, ông Đặng Ngọc Viết đã phải trải qua những ngày nát bấy tâm can về sự khốn cực của người cha đang lâm trọng bệnh phải nằm liệt giường, về vợ con đang phải sống nheo nhóc hàng ngày, về các con nhỏ đang thất học mất dần tương lai, về sự bất lực chính mình trước nan đề của gia đình vô phương giải quyết, về hàng hà sa số những người dân đi khiếu kiện qua hàng thập kỷ mà chỉ như kiến chưa kiện được củ khoai, về tình trạng đất nước trên bờ vực thẳm....


Những niềm đau xé nát tâm can này khiến ông Đặng Ngọc Viết liều mạng mình, nổ lên tiếng súng lệnh cảnh tỉnh cho cả Dân tộc, uy hiếp tinh thần tụi đầu sỏ cũng như cảnh tỉnh thành phần Vô cảm và thiếu Tinh thần Trách nhiệm Liên đới!


Nghĩ lại ông cũng chỉ là một anh hùng cô độc, vì bị đẩy tới chân tường nên bạo động, thật tội nghiệp cho ông và gia đình ông, chúng ta nên đốt cho ông một nén hương cầu xin cho ông siêu thoát, vì sau khi đã nổ súng, ông đã trăn trở sám hối trước Đức Bà Quan Âm, cũng như cầu xin cho gia đình ông chóng thoát được nghịch cảnh khó khăn hàng ngày.


D. Kết luận


Cái chết của ông Viết đã gửi tới toàn dân Lời Nhắn Nhủ tha thiết, rằng là toàn dân phải cùng nhau kết đoàn chung Lòng, chung Trí, chung Sức Trừ Gian Diệt Bạo để cho Đại Nghĩa hay Chính Nghĩa Quốc Gia được thể hiện mà cứu dân cứu nước.


Đối với thành phần nông dân và công nhân nghèo đói, hàng ngũ Lãnh đạo trong các Tôn giáo và Trí thức trước đây đã thất bại không ngăn cản được việc CSVN lừa đảo họ, nay cũng chưa động viên được toàn dân vùng lên cứu nước vì các ngài là đầu tàu của Dân tộc, các ngài không thể quên lãng trách nhiệm liên đới này! Cái chết đau xót của ông Đặng Ngọc Viết có gây được xúc cảm nào cho toàn dân không? Câu hỏi đang cần được trả lời bằng hành động chính nghĩa!


Thật ra, sự sống và sự chết không thuộc phạm vi quyền hạn của chính mình và ngay của cha mẹ ông bà mình, mình cũng không có quyền đó với chính mình, quyền đó thuộc về Đấng tối cao đã sáng tạo ra muôn loài. Không những chúng ta phải trợ sinh mà còn phải trợ tử nữa, nên hành động của ông Đặng Ngọc Viết đã làm như thế, dầu là Chính Nghĩa, nhưng vẫn chưa phải là câu giải đáp thỏa đáng cho mọi người về đường Chính Nghĩa, nhưng điểm tích cực là việc làm này có liên đới tới Trách nhiệm toàn dân.


Ông Đặng Ngọc Viết đã ra đi lủi thủi một mình với niềm đau tận cùng của Dân tộc!


Nếu toàn dân biết kết đoàn với nhau đứng lên dẹp bất công xã hội thì phỏng CSVN và Tàu cộng có đủ nhà giam và đạn dược để tiêu diệt hết không, ông Đặng Ngọc Viết và bao nhiêu đồng bào có bị chết cô đơn thảm thiết như thế không? Không nói toàn dân, mà chỉ các tín đồ các tôn giáo có tổ chức cũng có thể đóng góp phần quyết định.


Những vụ khiếu kiện của dân oan khắp nước, những bản án về súng hoa cải của anh em ông Đoàn Văn Vươn, những cái chết bằng súng lục của ông Đặng Ngọc Viết... được kế tục từ năm 1945, khởi từ tiếng súng “Khủng bố Đầu tiên” bằng súng Carbine (của Pháp) gọi là “Diệt cường hào ác bá” nơi mỗi làng ở miền Trung ngay khi cướp chính quyền, tới bao nhiêu xương máu tang tóc chất chồng từ đó tới nay, tất cả đã gầm thét lên những lời oán than ngập trời, những ác nghiệp tràn đất, tất cả cứ chập chờn như những tảng đá vô hình đè nặng triền miên lên kiếp người cả Dân tộc, nên tiếng súng lệnh (súng lục Trung cộng mà ông Đặng Ngọc Viết đã dùng) này có khả năng thức tỉnh toàn dân vùng lên vực dậy để làm Người. Sở dĩ chưa bảo vệ quyền sống chung của Dân tộc được là vì đa số trong Dân tộc còn Vô cảm và thiếu trách nhiệm Liên đới, quả là họ đã trở nên thành phần bị Lạc Hồn Thiêng Sông Núi Việt, quên mất Tình Nghĩa Đồng bào!


Thê thảm thay cho Dân tộc gần 90 triệu người mà để cho đa số côn đồ trong 3 triệu CSVN khống chế gần thế kỷ!


Kính mong tất cả chúng ta giúp nhau hồi tỉnh mà lo việc chung, lối sống “Khôn độc dại đàn” đã đưa đất nước chúng ta đứng trên bờ vực thẳm!


Vì vậy:


Cái chết của ông Đặng Ngọc Viết không chỉ là vấn đề Cá nhân, mà sâu xa hơn là vần đề Quốc nạn, vì có liên quan mật thiết đến sự sống của toàn dân. Nếu muốn sống làm Người thì không ai có thể thiếu hai viên ngọc “sinh tử”: - quyền Tự do và quyền Tư hữu -, hai thứ đó giúp cho con Người sống xứng với phẩm giá con Người, giúp toàn dân có đủ Nội lực để Cứu nước, Dựng nước và Bảo vệ nước. Do đó mà không trừ một ai, tất cả đều phải góp tay Trừ Gian Khử Bạo, để không một ai trong toàn dân bị tước đoạt mất sự sống, nên toàn dân, nhất là thành phần “đã và sẽ phản tỉnh” phải sát cánh cùng nhân dân đấu tranh cho Chính Nghĩa (chứ không phải thanh toán nhau bằng Hận thù) mà giành lại quyền sống một cách chính đáng.


Nay là thời gian cấp bách, nếu không vùng lên vực dậy kịp thời thì không những phải Nô lệ thêm hàng ngàn năm mà Dân tộc còn có cơ bị tiêu diệt!


Trân trọng,


Nguyễn Quang


------


-
BỊ BẮN TẠI TRẠM, MỘT THIẾU TÁ VC TỬ VONG
Tin Ðồng Nai -- Tối ngày 22 tháng 9 vừa qua, thiếu tá cảnh sát giao thông (CSGT)Trần Ngọc Sơn đã tử vong do vết thương quá nặng. Trần Ngọc Sơn là trạm phó trạm CSGT Suối Tre và 2 tên khác là đại úy Ngô Văn Vinh , thượng úy Ðoàn Thanh Phú bị bắn tại trạm Suối Tre, Ðồng Nai. Cả ba được đưa vào bệnh viện đa khoa để cấp cứu nhưng Trần Ngọc Sơn đã chết sau đó. Tin từ bệnh viện cho biết Vinh và Phú đã được cứu sống, nhưng vết thương quá nặng và hiện đang được điều trị tại bệnh viện.

Tại buổi họp báo, đại tá Nguyễn Văn Kim – PGÐ Công an Ðồng Nai cho biết, các vết thương trên thân thể của ba sĩ quan công an CSVN này hầu như đều bị bắn từ phía sau. Ngoài ra, các nguồn tin khác nhau còn cho biết một người tên Trúc là bạn của thiếu tá Sơn bị thương nhẹ, nhưng không phải là công an.

Trong ba nạn nhân, thiếu tá Sơn đã chết, thượng úy Phú và đại úy Vinh bị thương nặng, đang trong tình trạng rất yếu nên chưa thể cho biết nguyên nhân đưa đến vụ nổ súng. Ðại tá VC Nguyễn Văn Kim nói với báo chí rằng công an đang điều tra và truy tìm thủ phạm, còn quá sớm để biết ai là người nổ súng bắn công an. Vụ án mạng xảy ra tại trạm công an và công an không cho phép báo chí điều tra nên tin tức chỉ là những thứ do công an cung cấp.

Tuần trước, một vụ án mạng xảy ra tại Thái Bình. Ông Ðặng Ngọc Viết đã cầm súng đến cơ quan có tên gọi là Trung Tâm Phát Triển Quỹ Ðất tỉnh Thái Bình, văn phòng đặt bên trong trụ sở Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thái Bình, để bắn vào các cán bộ của Trung Tâm. Ông Ðặng Ngọc Viết, 42 tuổi, nguyên quán huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình,  đã bắn 5 cán bộ của Trung Tâm Phát Triển Quỹ Ðất (Trung Tâm). Những người bị trúng đạn là:

- Võ Ngọc Dũng, Phó Giám Ðốc Trung Tâm
- Nguyễn Thanh Dương, cán bộ Trung Tâm
- Vũ Công Cương, cán bộ Trung Tâm
- Bùi Ðắc Xuân, cán bộ Trung Tâm
- Phan Thị Lan Anh, Phó Giám Ðốc Trung Tâm

Sau đó, xác ông Ðặng Ngọc Viết được tìm thấy ở chùa Ðông Sơn, chết dưới chân tượng Phật Bà Quan Thế Âm và công an CSVN nói là kẻ sát nhân đã tự vận bằng cây súng trước đó đã dùng để bắn cán bộ.(FVN)
-

Chủ Đề 50 Năm Tưởng Niệm CỐ TỒNG THỐNG :VÒNG HOA TƯỞNG NHỚ

(1)   VÒNG HOA TƯỞNG NHỚ
 
     ...Thương thay, ba anh em ông Diệm đã bị bọn phiêu lưu chính trị tay mơ thanh toán tàn bạo, nghịch thường với đạo lý Khổng Mạnh, với truyền thống hiền hòa, ân nghĩa của dân tộc...Ông nằm xuống mà hồn non sông rung động !...
       "Không vì tình riêng mà quên phép nước", lúc còn thủ đắc quyền lực, TT Diệm đã một lần trực tiếp ra lệnh cho Phòng Quan Thuế Phi Trường Tân Sơn Nhất khám xét kỹ càng hành lý của Đại Sứ Ngô Ddình Luyện khi ông này từ chuyến du ngoạn Hồng Không trở về lại Sài Gòn.  Kết qủa bất ngờ là không một món hàng lậu thuế nào được tìm thấy để biến thành ngòi nổ cho một xì căng đan chính trị ầm ỹ.  Chuyện tưởng nhỏ và tầm thường ấy lại đặc biệt mang ý nghĩa quan trọng, đáng cho mọi người suy nghĩ vì cách đối xử nghiêm minh nội trong gia đình họ Ngô và việc thi hành nghiêm chỉnh luật pháp Quốc Gia.
     Thân danh là bào đệ của một vị cố Tổng Thống, lại là cựu đại sứ tại Anh Quốc, thế mà không một chút ngượng ngập, ông Luyện nhỏ nhẹ thổ lộ với cựu Đại Tá Duệ rằng đã trên mười năm ông vẫn chưa để dành đủ tiền để may sắm bộ quần áo mới cho tươm tất mỗi khi ra ngoài xã hộị Trong chuyến đi liên lục địa từ Âu Châu qua Mỹ, ông Luyện may mắn được một Mạnh Thường Quân ở Nữu Ước tặng vé máy baỵ  Suốt thời gian ở San Diego thăm bà con và dự lễ cầu hồn cho bào huynh, ông Luyện tá túc tại nhà tác gỉa hồi ký (tức Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ).  Được khoản đãi và được đài thọ mọi chi phí ăn uống di chuyển.  Rời California lên Missouri thăm Tổng giám mục Ngô Đình Thục đang lâm trọng bệnh, ông lại được tác gỉa bỏ tiền riêng mua vé.  Trên máy bay vào phòng vệ sinh xong, lúc ra thình lình dây lưng qúa cũ phựt đứt khiến ông phải túm vội lấy quần không cho tụt xuống, trong lúc khẩn cấp tác gỉa mau mắn rút giây lưng của mình đưa biếu ông Luyện thắt ta.m.  Ngày chia tay về lại Pháp, rút ví kiểm tiền tổng cộng được $600 (sáu trăm đô) đô la y nguyên lúc ra đi, ông Luyện bùi ngùi xin được chia xẻ số tiền nhỏ nhoi ấy với tác gỉa.  Bằng một cử chỉ đẹp cuối cùng, tác gỉa từ chối không nhận đồng nào mặc dù ông Luyện khẩn khoản. Chiếc thắt lưng kỷ niệm ân tình được ông Luyện gìn giữ đến ngày cuối đời.  Chuyện kể lại mủi lòng qúa đổi !
     Tình cảnh bần hàn của ông Luyện đã làm nổi bặt nếp sống thanh bạch, không hối mại quyền thế, không tham nhũng vơ vét của mấy anh em ông khi họ còn tại chức.  Ghê gớm thay và cũng chán chường biết mấy trò bẩn thỉu ngậm máu phun người !
     Cuộc đời của nhà ái quốc bất đắc kỳ tử Ngô Đình Diệm bàng bạc huyền thoạị  Cuộc đời ấy giống như một cuốn sách tuyệt vời lôi cuốn nhiều thế hệ tương laị  Những người yêu nước thật sự, yêu dân tộc, yêu quê hương, thiết tha mong muốn nghiên cứu sự nghiệp của ông sẽ  hiểu thật rõ lịch sử sóng gío Việt Nam thời cận đạị
     Quanh năm nằm phản gỗ không nệm, sống bằng cá kho, canh đậu, hút thuốc Basto rẻ tiền, áo quần dăm bộ, màu xám cho mùa đông, màu trắng cho mùa hè, với chiếc mũ phớt, cây ba toong, con người uy vũ bất năng khuất ấy chỉ thích đây đó kinh lý các khu trù mật, dinh điền, thống khoái trước cảnh sung túc của đồng bào chất phác nơi thôn dã, lâm tuyền.  Sống kiếp thầy tu, không vợ con, lấy anh em, giòng họ, người thân cận chung quanh, đồng bào nghèo khó khắp nơi làm nguồn vui gia đình.  Hộp thuốc lá cũ  hư hỏng cũng không muốn vứt bỏ, đưa nhờ sĩ quan quân cụ cố sửa lại dùng tiếp, không phí phạm, không tơ hào của công một xu, đó có phải là đức tính của mẫu người Á Đông không ?  Ý muốn cuối đời trước khi bị thảm sát, sẽ từ bỏ địa vị và danh vọng  khi hết nhiệm kỳ hiến định, sẽ nghĩ hưu về Huế phụng dưỡng mẹ gìa, sẽ vào dòng tu Chúa cứu thế nếu mẹ gìa qua đời trước, sẽ quanh quẩn bên các "Quốc gia nghĩa tử" con cháu những vị anh hùng hy sinh vì đất nước....  Toàn những tình cảm nhân ái trong một con người phi thường !
     Giết ông xong, bọn cách mạng gỉa hiệu 1/1/1963 chỉ tìm thấy hai triệu tám trăm ngàn tiền lương và phụ cấp do Chánh Văn Phòng Võ  Văn Hải và linh mục Nguyễn Văn Toán, hai người thân nhất cất giữ.  Những nhà cách mạng rởm năm xưa, có phút giây nào ăn năn, hối lỗi không ??
     Tự nhiên tôi xót xa ứa lệ !... (Bác Sĩ Nguyễn Anh Tuấn)
 
              ======================================
 
     2)  Ông Đại Sứ Hoa Kỳ  Frederick Nolting trong cuốn "From Trust To Tragedy" của ông ta, đã viết về Tổng Thống Ngô Đình Diệm như sau:
     "Tôi đã có đọc lịch sử Việt Nam, và đã biết các cuc chiến tranh giành độc lập của xứ sở này, và cũng đã biết là ông Diệm hiểu biết tường tận, thấu đáo vấn đệ.  May mắn là tôi cũng đã có một căn bản hiểu biết đáng kể về  triết học và khoa tôn giáo đối chiếu.  Nhưng tôi hoàn toàn không được chuẩn bị để nghe những điều như thế nàỵ  Càng nghe tôi càng thích thu’.  Tôi đặt những câu hỏi.  Mỗi câu hỏi lại mở ra một chương mới, và sau một thời gian tôi nhận ra sữ dấn thân tận hiến và lòng say mê của con người này, là người đã hiến trọn đời mình để giữ cho bằng được căn cước lịch sử của dân tôc của ông  ta và ông ta hiểu nó, yêu thích nó.
     ....Cho đến lúc này cáo buộc quan trọng nhất của ông ta là người Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam.  Ông ta (TT Diệm) không muốn người Mỹ đoạt lấy trách nhiệm của VN.  Ông ta không muốn quân lực Mỹ chiến  đấu cho nền đc lập và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN.
     Ông bảo tôi: "Nếu chúng tôi không tự mình thắng cuộc chiến này với sự viện trợ vô gía của qúy quốc thì như vậy chúng tôi sẽ thua và thua là đáng đời". Ông ta vô cùng cương quyết trong vấn đề này và ông ta cảm thấy rằng nếu chính phủ Nam VN trở nên lệ thuộc vào Hoa Kỳ thì như vậy chứng tỏ luận cứ của Việt cộng là đúng.  Việt cộng thường nói rằng: "Nếu các anh cúi đầu thần phục Hoa Kỳ thì các anh sẽ thấy các anh đúng chỉ là thuộc địa của Mỹ cũng như 75 năm về trước VN đã từng là thuộc địa của Pháp". Về điểm tế nhị này tôi đã có thể trấn an ông ta, vì toàn bộ ý niệm của những khuyến cáo cho toán đặc nhiệm cũng như những huấn thị cho tôi do TT Kennedy ban hành, là phải giúp Nam VN tự bảo vệ nền độc lập tự Do của họ cho chính họ" (Đại Sứ Hoa Kỳ Frederick Nolting trong cuốn "From Trust To Tragedy").
     3)  "... Gần như tất cả các sách báo Mỹ và Tây Phương viết về nền đệ Nhât Cng Hòa đều kết tội ông Nhu là một người tuy thông minh, tài giỏi nhưng tàn ác, qủy quyệt, khát máụ  Tuy vậy nếu đem so sánh ông Nhu với các lãnh tụ độc tài khi phải đối phó với địch thủ nguy hiểm như CS thì không thấm vào đâu.  Tướng Franco sau khi chiến thắng CS Tây Ban Nha đã đem ra xử tử hàng vạn đảng viên nên Tây Ban Nha mới được yên,  tướng Suharto đã giết hơn 1 triệu đảng viên CS Nam Dương trong vụ đảo chính 1965 (nhờ có CIA giúp sức), khi đem quân sang Đài Loan tỵ nạn thì Tưởng Giới Thạch cũng giết hơn 1 vạn dân địa phương biểu tình chống lại Quốc Dân dảng.
     Nếu đem so sánh với Stalin, Mao, Hồ chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Khải Phiêu, Lê Duẩn ...vv.. thì qủa thực hai anh em ông Diệm và Nhu đã qúa hiền lành, trung hậu nên mới mắc na.n.  Ngay cả Hồ chí Minh khi được báo chí hỏi về cái chết của ông Diệm cũng phải khen ngợi "ông ta (Ngô Đình Diệm) là một người yêu nước, tuy rằng ông ta có đường lối riêng của ông ta".
     Trong một cuộc chiến sống còn với một kẻ thù nguy hiểm như CSVN thì bên cạnh mt quân đội thống nhất và thiện chiến như quân đi VNCH mà không có một bộ máy Mật Vụ tinh vi, một ý thức hệ riêng biệt, một hệ thống đảng phái để yểm trợ cho chính phủ thì  làm sao có  thế thắng CS được ?  Các chính phủ ở Trung Nam Mỹ khi bị CS khuấy rối ở bên trong đã phải nhờ đến các đảng bí mật như "La Man Blanco" hoặc Justicialist để chống lại theo kiểu dĩ đc trị đc.  Nhờ tổ chức La Guardia Civil nên tướng Franco đã dẹp tan được CS.  Ngay cả Mỹ và các nước Tây Phương cũng phải trông cậy vào những cơ quan tình báo như CIA, FBI, Phòng Nhì, Intelligence Service và trước đây Đức thì có Gestapo, Nhật có Kempetai, đảng Hắc Long để chống lại CS. (Điểm Sách: Những Ngày Tháng Với  TT Ngô  Đình Diệm của Nguyễn Hữu Duệ, Xuân Sơn, Văn Nghệ Tiền Phong số 669, trang 52)
 
     "...Cu. (Ngô Đình Diệm) sống giản dị, không ăn cao lương mỹ vị, Cụ nằm phản không nệm, Cụ không xa hoa phung phí, khi đương thời Cụ chỉ lo cho Quốc Gia, chẳng lo gì cho bản thân, nay Cụ được chôn ở đây (Lái Thiêu), nghĩa trang sơ sài này, cạnh đồng bào nghèo khổ của Cụ, chắc Trời định vậy để hợp với đức tính khiêm nhường của Cụ.  Con mừng vì nơi Thiên Đàng Cụ ở, Cụ cũng còn thấy nhiều người nhớ đến Cụ và đến thăm viếng Cụ.  Con từ nơi xa xôi về đây viếng mong  Hồn Cụ có thiêng, xin phù hộ cho tổ quốc thâny yêu."
 
 
(Trương Phú Thứ)

Bài Xem Nhiều