We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 4 October 2013

Trăm năm bất biến


       
xue-cctv-400x246
Hình: ông Charles Xue

Tuy chế độ Trung Cộng mới 64 tuổi (1949-2013), và chế độ Việt Cộng, 38 (1975-2013), nhưng cả hai cùng có chung một nét đặc thù mang tính chất “trăm năm bất biến”: nét đặc thù đó là thủ đoạn. Gặp khó khăn, họ không tìm giải pháp để dứt khoát giải quyết vấn đề, mà lại dùng thủ đoạn để tạm gác khó khăn qua một bên.
Điển hình là việc Trung Cộng giải quyết việc ông Charles Xue – Tiết Man Tử, một nhà đầu tư vào kỹ nghệ mạng online, và cũng là ngòi bút chính trong cái blog Sina.com do ông làm chủ.
Cảnh sát Bắc Kinh cho biết ông Tiết bị bắt tại Bắc Kinh hôm 24 tháng Tám; trang mạng của cảnh sát loan tin bắt giữ một người họ Tiết 60 tuổi và một cô gái 22. Mạng web cảnh sát viết, “Hai người này đã thú nhận tội mua và bán dâm”. Mạng cảnh sát còn nói chính dân địa phương mật báo với họ – điều mọi người biết là không đúng.
Tiết Man Tử là một trong những blogger nổi tiếng tại Trung Quốc với hơn 12 triệu người theo dõi bài viết của ông mỗi ngày trên mạng Sina weibo – mạng xã hội tương tự như Twitter của Mỹ.
Theo AFP, ông Tiết từng ủng hộ chiến dịch đòi hỏi minh bạch thông tin về ô nhiễm ở Trung Quốc cũng như cảnh báo nạn buôn bán trẻ em. Chống ô nhiễm, là chống chính phủ Trung Cộng, vì Trung Cộng chủ trương chấp nhận ô nhiễm để giữ giá thành của công, kỹ nghệ phẩm thấp, hầu giữ mối hàng, cạnh tranh với công kỹ nghệ các nước nhỏ cũng sản xuất hàng do các công ty Âu, Mỹ đặt cho họ làm, như họ vẫn đặt làm tại Trung Cộng.
Chủ trương để mặc cho môi trường ô nhiễm, nhưng chính phủ Trung Cộng không trực tiếp chủ trương việc bán trẻ con – business này là việc làm ăn riêng của những viên chức chính phủ.
Chống đối cả việc công, kỹ nghệ gia làm ô nhiễm môi trường, lẫn việc viên chức chính phủ buôn bán trẻ em, mà lại chống ngay trên mạng -việc làm mang tầm vóc đại chúng, và ồn ào- Tiết Man Tử trở thành cái gai nhức nhối ngay trên mặt của chính phủ, nên chính phủ cần nhổ gai, bất chấp gốc quốc tịch Mỹ của cái gai.
Tiết Man Tử bị bắt, cùng với 26 người khác tại chúng cư Anhuili, vùng bắc Bắc Kinh, và hiện đang bị tạm giam để điều tra. Thời gian “tạm giam” kéo dài đã gần một tháng, mà ông Man Tử vẫn chưa được hưởng quy chế tại ngoại.
Tội mua dâm cũng không có nhiều chi tiết để khai báo, hầu chứng minh việc tạm giam. Cảnh sát nói ông bị bắt hôm thứ Sáu 24 tháng Tám cùng với một thiếu phụ 22. Trong lúc bị bắt, Man Tử nói cới cảnh sát ông là người Mỹ, và luật sư của ông sẽ tiếp xúc với cảnh sát. Ông vẫn bị xúc về đồn cảnh sát, bất chấp căn cước Hoa Kỳ của ông.
Cô Giang, người thiếu phụ tòng phạm, khai cô bán dâm cho Man Tử từ đầu tháng Tám và mỗi lần hành lạc ông trả cô 1,000 đồng nhân dân tệ ($163.4); hôm bị bắt cũng là hôm Man Tử tăng giá thù lao cho cô thêm 500 đồng nữa.
Cảnh sát nói chỉ trong 5 tháng mới nhất, Man Tử cũng đã hành lạc với 10 cô điếm; các cô này nói họ không biết tên ông và chỉ nhận diện, nhìn ra ông khi cảnh sát cho họ thấy Man Tử.
Các cô khẳng định với cảnh sát là Man Tử thường xuất hiện tìm gái giang hồ mới và đẹp. Tú Bà họ Mã khai, hôm bị bắt Man Tử “o đờ” 4 cô nhưng chỉ làm tình với 3 cô.
Ông xác nhận với cảnh sát là ông có làm tình với những cô gái chuyên nghiệp; cảnh sát làm đúng thủ tục bang giao, thông báo cho tòa đại sứ Mỹ biết việc họ tống giam một công dân Mỹ -ông Man Tử. Một viên chức tòa đại sứ đã đến trại giam thăm ông, và một phát ngôn viên tòa đại sứ Mỹ -ông Justin Higgins, nói với phóng viên Global Times, “Chúng tôi biết việc một công dân Mỹ bị bắt giam, và đang cung cấp mọi hỗ trợ cần thiết cho ông ta”.
Sự hỗ trợ quan trọng nhất mà có thể ông Man Tử đang chờ được Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc giúp ông là quyền nghi can được luật sư vấn kế và giúp đỡ trong địa hạt pháp lý; quan trọng nhất trong thời điểm này là quyền đóng thế chân tại ngoại.
Tội mua dâm chỉ là tội tiểu hình rất nhẹ, không một công dân Mỹ nào bị giam tại Mỹ không cho tại ngoại về tội này; Man Tử không chỉ bị giam vô lý, mà ông còn bị làm nhục qua cuồn video “10 phút tường thuật về Tiết Man Tử”.
Cuồn video được phổ biến trên nhiều đài truyền hình, cảnh ông Man Tử, tay bị còng, miệng phải phát ngôn những lời xác nhận nhục nhã. Ông xác nhận ông tìm ra tình trạng nguy hiểm của hoạt động mạng, nếu mạng không được chính phủ kiểm soát.
“Lòng tự cao, tự đại của tôi đã được thỏa mãn với hoạt động trên mạng,” Man Tử nói trong băng video. “Ảnh hưởng của tôi rất lớn qua hoạt động này; quan điểm của tôi trở thành sức mạnh, … và tôi tự quên mình, không còn biết tôi là ai nữa”.
Còng tay Man Tử, và bắt ông phải tự xỉ nhục như vậy, chắc chắn chính phủ Trung Cộng đã vi phạm nhân cách, nhân quyền của ông ta. Bênh vực ông, luật sư phải kiện chính phủ Trung Cộng về việc phổ biến đoạn băng video đó.
Nhiều người sẽ cho vụ con kiến đi kiện củ khoai là vô ích; quan điểm này hoàn toàn sai, vì nếu được phát động, và đứng đắn theo đuổi, vụ Man Tử >Bắc Kinh sẽ tạo ra rất nhiều dư luận có lợi cho giới bloggers toàn cầu.
So sánh thái độ của tòa đại sứ Mỹ hụ hợ “giúp đỡ một công dân Mỹ” với câu tuyên bố của cô bé Phương Uyên trong lúc đứng đối diện với viên chức tư pháp Việt Cộng, chúng ta phải thấy Phương Uyên giỏi hơn người Mỹ nhiều lắm.
Cô nói, “Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần tòa xử đúng người, đúng tội. Tôi cho rằng chống đảng Cộng Sản không phải là chống phá đất nước, dân tộc”.
Trở lại với cái đặc tính “trăm năm bất biến” của cả 2 đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam, chúng ta thấy Việt Cộng không phản bác được lý luận của Phương Uyên, “chống Đảng Cộng Sản không phải là chống phá đất nước, dân tộc”; trong lúc Trung Cộng không giải quyết được 2 tệ đoan, làm ô nhiễm môi trường, và bán trẻ con, do Man Tử công kích.
Việt Cộng làm lơ, giả điếc, trong lúc Trung Cộng đánh lạc hướng công kích bằng cách giết người phát thơ xấu, đả kích, làm nhục người đả kích chúng -blogger Man Tử. Ngồi tử thủ trong pháo đài quyền lực, dù có gỡ mấy chục quyển lịch nữa, Cộng Sản cũng vẫn không tìm ra giải pháp cho một vấn đề khó; chúng chỉ dùng thủ đoạn, gác khó khăn qua một bên.
Nguyễn đạt Thịnh

ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA

 

RevolutionĐây không phải là Đại Cách mạng Văn hóa Mao xếnh xáng , bước tiến nhảy vọt chệt 1967. Đây là nói về cuộc Cách mạng sáng chói của nước Nga 1989 làm sụp đổ cả Đế quốc Nga xô viết và khối cọng sản Đông Âu.
 
Trước nay, bàn về nguyên do sụp đổ của Liên xô, người ta thường viện dẫn lý do suy thoái kinh tế, về chi phí chiến tranh Afghanistan và về sau học giả Brzezinski còn lưu ý về yếu tố thanh niên Nga không biết sợ cọng sản như thế hệ cha anh nên đứng lên lật đổ chế độ Xô viết Nga.
 
Mới đây, bạn gởi cho bài viết cũ của Leon Aron, Foreign Policy ( Bản dịch Hồ Ngọc Cư ) đưa ra một quan điểm khác hẳn về nguyên do thực tế của cuộc cách mạng Nga 1989.
 
Về nguyên do kinh tế, tác giả luận giải:
Không có một thước đo thành tích kinh tế chủ yếu nào trước năm 1985 cho thấy một thảm họa đang lù lù xốc tới. Từ năm 1981 đến năm 1985 mức tăng trưởng GDP của Liên Xô, mặc dù có chậm lại so với thập niên 1960 và thập niên 1970, nhưng cũng đạt được 1,9% một năm. Chính cùng một mô hình dù suy yếu nhưng không đến nỗi thảm khốc này còn kéo dài cho đến hết năm 1989. Nạn thiếu hụt ngân sách, một yếu tố kể từ thời Cách mạng Pháp được coi là tín hiệu quan trọng cho một cuộc khủng hoảng có thể đưa đến cách mạng, chưa lên tới 2% GDP vào năm 1985. Mặc dù có gia tăng nhanh chóng, nạn thâm thủng ngân sách vẫn ở dưới mức 9% GDP cho đến hết năm 1989 — một con số mà hầu hết các nhà kinh tế cho là hoàn toàn có thể xoay trở được (manageable).”
 
Về chiến phí Afghanistan, tác giả nhận xét:
Thật vậy, mặc dù gánh nặng tài chính khổng lồ do việc duy trì một đế quốc về sau trở thành một vấn đề chính trong các cuộc tranh luận sau năm 1987, nhưng bản thân những chi phí cho cuộc chiến Afghanistan không làm cho quốc gia kiệt quệ: Được ước tính vào khoảng 4 đến 5 tỉ đôla vào năm 1985, đó là một phần không đáng kể trong tổng sản lượng nội địa (GDP) của Liên Xô.”
 
Câu hỏi đặt ra là, trong tình hình kinh tế, tài chánh tương đối ổn định như vậy, tại sao Liên xô bỗng nhiên sụp đổ mà cả giới học giả Nga lẫn các nhà nghiên cứu quốc tế đều bị bất ngờ, không tiên liệu được?

Theo tác giả có một lý do có thể nhận thấy là:
 “ Việc các chuyên gia phương Tây không tiên liệu được sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử quan xét lại (historical revisionism) — tạm gọi là khuynh hướng bài chủ nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) — một khuynh hướng phóng đại sự ổn định và tính chính danh của chế độ Xô viết.”
 
Vậy thì nguyên do đích thật của cuộc cách mạng Nga 1989 là gì?

Ngày nay, sau khi nghiên cứu lại các dữ kiện lịch sử, tác giả nhận thấy nhiều phát biểu của các nhân vật có tham dự vào tiến trình ấy, từ Gorbachev,  Aleksandr Jakovlev, ngoại trưởng Eduard Shevardnadze...đều chú trọng vào tình cảnh phi đạo lý, dối trá và khủng bố của thời kỳ chế độ Xít ta lin nít đưa tới tình trạng xã hội tồi tệ không còn chịu đưng được như lời phát biểu của ngoại trưởng Shevardnadze:
Bộ trưởng Ngoại giao Eduard Shevardnadze, cũng khổ tâm không kém vì tình trạng thiếu luật lệ và tham nhũng đều khắp. Ông nhớ lại đã nói với Gorbachev vào mùa đông 1984-1985: “Mọi thứ đã thối nát. Phải thay đổi thôi”.
 
Và chính Gorbachev đã kết luận:
Mô hình Xô-viết không những bị đánh bại trên bình diện kinh tế và xã hội; nó bị đánh bại ngay trên bình diện văn hóa. Xã hội chúng ta, nhân dân chúng ta, những người có học vấn nhất, những người có trí thức nhất, đã bác bỏ mô hình ấy trên bình diện văn hóa vì nó không tôn trọng con người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.”
 
Về phía giới trí thức Nga, tác giả viết:
 “ Những người đã gieo vào xã hội “chuyển biến ngoạn mục về ý thức” không ai khác hơn là những kẻ đã từng châm ngòi cho các cuộc cách mạng tiêu biểu khác của thời hiện đại: đó là, các nhà văn, nhà báo, và giới nghệ sĩ.
 
Cuối cùng, từ các tác động kể trên, tâm thức người dân Nga chuyển biến như tác giả Aron nhận xét:
Đối với họ, việc phục sinh đạo lý là thiết yếu. Điều này có nghĩa là không những chỉ rà soát lại các hệ thống chính trị và kinh tế Xô-viết, không những chỉ lật ngược các qui phạm xã hội (social norms), mà còn là một cuộc cách mạng trên bình diện cá nhân: một sự thay đổi trong nhân cách của người dân Nga.
 
Và như vậy, cuộc cách mạng Nga 1989 lừng lẩy khởi phát, giống y như những cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập sau nầy.
 
  • TRÔNG NGƯỜI LẠI NGẨM ĐẾN TA
 
Trích dẫn đôi hồi về cuộc cách mạng Nga từ hai mươi mấy năm về trước để chiếu rọi vào tình cảnh nước nhà hiện nay.
 
Nhớ hồi năm 1994, khi Mỹ bãi bỏ cấm vận, thiết lập bang giao với csvn, chừng đôi ba chục đồng bào tị nạn cọng sản ở thành phố San Jose, dưới sự điều động của Ban Đại diện cộng đồng đầu tiên dược bầu lên, tụ tập trước trụ sở Liên Bang trên Đường 1 biểu tình phản dối bãi bỏ cấm vận, lập bang giao với vc.
Vì mục tiêu biểu tình thuộc về chánh sách của chánh phủ Liên bang nên đồng bào Tỵ Nạn Cộng sản ít chú ý nên cuộc biểu tình mới có ít người tham dự như vậy!
 
Trước tình cảnh ấy, các người làm chánh trị cơ hội mới toan tính bắt tay với vc thỏa hiệp chia chác quyền lực, nói thác là chống cộng bằng cách khác để né đòn.

Chẳng ngờ rằng bị công luận phát hiện, lật tẩy, chống đối mạnh mẻ: Các cuộc mưu toan đối thoại , thỏa hiệp với vc đều bị đồng bào biểu tình phản đối dữ dội.
 
Vì vậy mà những người Hòa hợp, hòa giải, đối thoại với vc mới hô hoán là “ chống cộng cực đoan, quá khích “, thậm chí “ độc quyền chống cộng. “
 
Người chống cộng mới phản bác rằng: Đối thoại, thỏa hiệp với vc chẳng những không phải là chống cộng mà còn là Chống - chống cộng ( Anti – anti – communism ) như thuật ngữ kể trên:
 “ Việc các chuyên gia phương Tây không tiên liệu được sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử quan xét lại (historical revisionism) — tạm gọi là khuynh hướng bài chủ nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) — một khuynh hướng phóng đại sự ổn định và tính chính danh của chế độ Xô viết.”
 
Ngày nay sự thể vẫn còn y như vậy:
 
Các quý ông làm chánh trị cù cưa vẫn cứ kiến nghị, thỉnh nguyện xin “ đảng “ cho cải sửa, tức Xin - Cho! Rấn lên mức nữa là: “ Phản biện trong phạm vi cơ chế .” Gần đây là Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh và xây dựng xã hội dân sự và vân vân...Họ hành xử như vậy vì họ nghĩ rằng chế độ toàn trị cọng sản vững vàng không thể lay chuyển được nên chỉ còn con đường cải lương, hợp tác với cs sửa đổi lần hồi, viện cớ là tránh làm cách mạng “ gây đổ máu, tàn phá!”
 
Nói về đổ máu thì như vầy: Theo blogger Hùynh Ngọc Chênh, hàng năm có 35,000 người chết vì tai nạn giao thông. Con số thương tật thì gấp đôi gấp ba. Dưới nền y tế xã nghĩa ta, khi bệnh nhân 4 gười nằm một giường, có khi nằm tràn ra cả hành lang thì bị thương tật, sống không bằng chết. Cho nên cứ tính đổ đồng hàng năm có 100 ngàn thương vong vì tai nạn giao thông.
 
Cuộc chiến chống độc tài Assad, Syria hơn hai năm nay có 100,000 người mất mạng. So với con số ấy thì người Việt Nam chết vì tai nạn giao thông dưới sự cai trị “ chết sống mặc bây, tiền thầy bỏ túi “ của bọn cs An nam nhiều hơn số người Syria chết vì chiến đấu chống độc tài Assad gấp hai lần!
 
Cựu vc nằm vùng Lê Hiếu Đằng nói rằng: Xin đảng cho nó ra Dân chủ – xã hội đối lập công khai thì “đảng” vẫn cứ “ khống chế “ nền chánh trường VN 30 năm nữa. Như vậy thì con số người chết vì giao thông đến lúc ấy lên tới 3 triệu là già nửa tổng số người chết trong Chiếnh Thế giới lần I là 5 triệu!
 
Bây giờ nói về tàn phá: Chắc chắn trong khi nổi dậy sẽ có việc đập phá cơ ngơi làm ăn của bọn tư bản đỏ, tức là đảng viên cs hoặc họ hàng cs. Đó là của ăn cướp trên mồ hôi nước mắt của người dân. Cho nên của đó đáng lẽ sau cách mạng sẽ phán xét trả về cho người dân thì nếu có tổn hại ít nhiều thì cũng do người dân chung chịu chớ chẳng phải của ông, của cha gì của cọng sản và đồng bọn.

Không ai dư nước mắt khóc thương của ăn cướp bị hư hại.
 
Huống chi ngày nay, tình thế Việt Nam còn tồi tệ hơn xã hội Liên xô ngày trước hàng trăm lần. Trí thức dù chấp nhận cách mạng hay không, người dân lâm vào cảnh đường cùng sẽ tự thân hành động:
 
Tiếng súng hoa cải Nhà họ Đoàn, Tiên Lãng nả thương 6 ưng Khuyển côn an, bộ đội chống cưỡng chế cào nhà, cướp đầm vườn.

Hào kiệt Đặng Ngọc Viết, Thái Bình vì dân trừ bạo, vì nghĩa vong thân!

Tiếng bom chai Molotov, plastic cảnh cáo cường quyền tiếp tục nỗ vang.
 
Đó là chỉ dấu tiền cách mạng Dân tộc: Khi người dân thức tỉnh, nhận thức truyền thống nhân nghĩa của tổ tiên bị sói lang cọng sản mà hủy hoại, sẽ vùng lên đòi lại đạo lý và nhân phẩm cũng giống như dân tộc Nga và Ả Rập thực hiện: Đại Cách mạng VĂN HÓA – DÂN TỘC.
 
  • Sấm trạng

Show More
"Hùm gầm khắp nẻo gần xa
Mèo kêu rợn tiếng quỉ ma tơi bời
Rồng bay năm vẻ sáng ngời
Rắn qua sửa soạn hết đời sa-tăng
Ngựa lồng quỉ mới nhăn răng
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời
Chín con rồng lộn khắp nơi ”
 
Giáp ngọ là năm 2014
Hẹn nhau Saigon 2015
 
Nguyễn Nhơn
 
*
*       *

Tài liệu tham khảo

Một biến cố lạ lùng đáng kinh ngạc.
 
MỌI ĐIỀU BẠN TƯỞNG BIẾT VỀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ LÀ SAI LẦM.

Và vì sao việc này trở nên quan trọng trong một thời đại cách mạng như hiện nay?

Leon Aron, Foreign Policy
Trần Ngọc Cư dịch 
                                                                                     
Mọi cuộc cách mạng đều tạo ra kinh ngạc. Tuy vậy, cuộc Cách mạng Nga gần đây nhất phải được kể là một trong những kinh ngạc lớn nhất. Trong những năm trước 1991, gần như không một chuyên gia, học giả, viên chức chính quyền, hay chính trị gia phương Tây nào thấy trước được sự sụp đổ sắp xảy ra của Liên Xô, và kéo theo nó một chế độ độc tài độc đảng, một nền kinh tế do nhà nước làm chủ, và cả sự kiểm soát của Điện Cẩm Linh đối với đế quốc Liên Xô và Đông Âu. Với một ngoại lệ duy nhất, tất cả những nhà bất đồng chính kiến Xô viết cũng như chính những nhà cách mạng tương lai — nếu ta xét qua hồi ký của họ – cũng không tiên đoán được sự kiện này. Khi Mikhail Gorbachev trở thành tổng bí thư Đảng Cộng sản vào tháng Ba năm 1985, không một nhân vật đồng thời nào của ông dự kiến một cuộc khủng hoảng có thể dẫn đến cách mạng. Mặc dù người ta không đồng ý nhau về tầm mức nghiêm trọng của những vấn đề nội tại trong chế độ Xô Viết, nhưng không ai coi những vấn đề này là đang đe dọa sinh mệnh của chế độ, chí ít trong tương lai gần.

Vậy, do đâu mà có sự thiển cận đều khắp lạ lùng đến thế? Việc các chuyên gia phương Tây không tiên liệu được sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử quan xét lại (historical revisionism) — tạm gọi là khuynh hướng bài chủ nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) — một khuynh hướng phóng đại sự ổn định và tính chính danh của chế độ Xô viết.

 Tuy nhiên, một số nhân vật khác vốn không được coi là mềm dẻo đối với chế độ cộng sản cũng không kém kinh ngạc trước sự cáo chung của chế độ này. Một trong những người thiết kế chiến lược Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh, ông George Kennan, viết rằng, trong khi nhìn lại toàn bộ “lịch sử các sự vụ quốc tế trong thời hiện đại”, ông nhận thấy rằng “thật khó nghĩ ra một biến cố nào lạ lùng, đáng kinh ngạc, và mới thoạt nhìn không thể giải thích nỗi, hơn sự tan biến đột ngột và toàn bộ…của đại cường mệnh danh kế tục nhau là Đế quốc Nga rồi đến Liên Xô”. Richard Pipes, có lẽ là sử gia Mỹ hàng đầu về nước Nga và cũng là một cố vấn của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, cho rằng cuộc cách mạng gần đây của Nga là “bất ngờ”. Một tuyển tập gồm các bài tiểu luận viết về sự cáo chung của Liên Xô trong một số báo đặc biệt năm 1993 của tạp chí bảo thủ National Interest (Lợi ích Quốc gia) có tựa đề là “Cái chết lạ lùng của chủ nghĩa Cộng sản Xô viết”.

Nếu có thể hiểu được dễ dàng hơn, thì sự thiếu phán đoán mang tính tập thể này có thể đã được an toàn xếp vào một hồ sơ trí tuệ gồm những điều kỳ lạ và phù phiếm của khoa học xã hội rồi bị lãng quên. Tuy nhiên, thậm chí ngày nay, với khoảng cách 20 năm, giả thuyết cho rằng Liên Xô vẫn có thể tiếp tục tồn tại trong tình trạng lúc đó hay bất quá cuối cùng nó sẽ bắt đầu một cuộc suy tàn kéo dài khá lâu, có vẻ là một kết luận không kém phần hợp lý. 

Thật vậy, vào năm 1985 Liên Xô gần như vẫn có đủ nguồn lực thiên nhiên và nhân sự của 10 năm về trước. Chắc chắn là, mức sống tại đây còn thấp hơn tại Đông Âu khá xa, nói chi đến phương Tây. Tình trạng thiếu hụt hàng hoá, hạn chế lương thực, những hàng người dài trước các quầy hàng, và nạn nghèo khổ khắc nghiệt diễn ra đều khắp xã hội. Nhưng Liên Xô đã từng trải qua nhiều đại họa to lớn hơn thế và đã có thể đối phó mà không hề mất một mảy may quyền kiểm soát của nhà nước đối với xã hội và nền kinh tế, lại càng không hề từ bỏ quyền lực này.

Không có một thước đo thành tích kinh tế chủ yếu nào trước năm 1985 cho thấy một thảm họa đang lù lù xốc tới. Từ năm 1981 đến năm 1985 mức tăng trưởng GDP của Liên Xô, mặc dù có chậm lại so với thập niên 1960 và thập niên 1970, nhưng cũng đạt được 1,9% một năm. Chính cùng một mô hình dù suy yếu nhưng không đến nỗi thảm khốc này còn kéo dài cho đến hết năm 1989. Nạn thiếu hụt ngân sách, một yếu tố kể từ thời Cách mạng Pháp được coi là tín hiệu quan trọng cho một cuộc khủng hoảng có thể đưa đến cách mạng, chưa lên tới 2% GDP vào năm 1985. Mặc dù có gia tăng nhanh chóng, nạn thâm thủng ngân sách vẫn ở dưới mức 9% GDP cho đến hết năm 1989 — một con số mà hầu hết các nhà kinh tế cho là hoàn toàn có thể xoay trở được (manageable).
 
Giá dầu lửa rơi cực nhanh, từ 66 đôla một thùng năm 1980 xuống 20 đôla một thùng năm 1986 (trong số 2000 giá cả) chắc chắn là một đòn nặng nề đánh vào tài chính Xô-viết. Tuy vậy, nếu điều chỉnh theo nạn lạm phát, thì vào năm 1985 giá dầu lửa trên thị trường thế giới vẫn cao hơn năm 1972, và chỉ thấp hơn toàn thập niên 1970 một phần ba mà thôi. Nhưng đồng thời, mức thu nhập của người dân Xô viết gia tăng hơn 2% vào năm 1985, và sau khi điều chỉnh lạm phát, đồng lương của họ còn tiếp tục gia tăng trong 5 năm liền cho đến hết năm 1990 ở mức độ trung bình trên 7% mỗi năm.

Vâng, tình trạng đình đốn kinh tế của Liên Xô là hiển nhiên và đáng lo ngại. Nhưng như giáo sư Đại học Wesleyan, ông Peter Rutland, đã chỉ rõ, “Dẫu sao, những chứng bệnh kinh niên của Liên Xô không nhất thiết đe dọa sinh mệnh của nước này”. Ngay cả nhà nghiên cứu hàng đầu về các nguyên nhân kinh tế của cuộc cách mạng này, ông Anders Aslund, cũng ghi nhận rằng từ năm 1985 đến năm 1987, tình hình “là không mảy may sôi động”.

Từ quan điểm của chính quyền, tình hình chính trị lúc bấy giờ thậm chí ít đáng lo ngại hơn trước. Sau 20 năm liên tục đàn áp đối lập chính trị, gần như tất cả những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng đã bị cầm tù, lưu đày (như trường hợp Andrei Sakharov từ năm 1980), buộc phải ra sống ở nước ngoài, hay chết trong các trại cải tạo và nhà giam.

Cũng gần như không có bất cứ một dấu hiệu nào khác báo trước một cuộc khủng hoảng tiền cách mạng (pre-revolutionary crisis), kể cả một nguyên nhân truyền thống thường được coi là có thể dẫn đến sự suy sụp của một quốc gia – đó là sức ép từ bên ngoài. Trái lại, thập niên trước đó được các học giả đánh giá đúng đắn là thời kỳ Liên Xô “đã thực hiện được tất cả những tham vọng quân sự và ngoại giao quan trọng”, như nhà sử học và ngoại giao Mỹ, ông Stephen Sestanovich, đã viết. Tất nhiên, lúc bấy giờ Afghanistan ngày càng cỏ vẻ là một cuộc chiến lâu dài, nhưng đối với một quân lực gồm 5 triệu binh sĩ như của Liên Xô, sự thiệt hại tại đó là không đáng kể. Thật vậy, mặc dù gánh nặng tài chính khổng lồ do việc duy trì một đế quốc về sau trở thành một vấn đề chính trong các cuộc tranh luận sau năm 1987, nhưng bản thân những chi phí cho cuộc chiến Afghanistan không làm cho quốc gia kiệt quệ: Được ước tính vào khoảng 4 đến 5 tỉ đôla vào năm 1985, đó là một phần không đáng kể trong tổng sản lượng nội địa (GDP) của Liên Xô.

Hoa Kỳ cũng không phải là một lực tác động cho cuộc cách mạng. “Học thuyết Reagan” bao gồm nỗ lực chống lại và, nếu có thể, đảo ngược những bước tiến của Liên Xô trong Thế giới Thứ ba quả có tạo được sức ép chung quanh đế quốc này, ở những nơi như Afghanistan, Angola, Nicaragua, và Ethiopia. Tuy nhiên, những khó khăn của Liên Xô ở đó cũng chẳng có gì nghiêm trọng để trở thành một nguy cơ cho chế độ.

Trong một màn giáo đầu cho một cuộc chạy đua vũ trang có tiềm năng gây ra nhiều tốn kém cho đối phương, Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược [hay lá chắn nguyên tử] do Reagan đưa ra thực sự có ý nghĩa  nghiêm trọng – nhưng đề xuất này không hề báo hiệu một sự thất bại quân sự cho Liên Xô, vì Điện Cẩm Linh biết chắc rằng việc triển khai hữu hiệu hệ thống phòng thủ không gian của Mỹ cũng mất vài thập kỷ nữa mới thực hiện được. Tương tự như thế, mặc dù cuộc nổi dậy chống cộng sản bất bạo động của công nhân Ba Lan là một tình hình rất bức xúc cho giới lãnh đạo Xô viết, làm nổi bật sự mong manh của đế quốc của họ tại châu Âu, nhưng vào năm 1985 Phong trào Đoàn kết (Soliditary) tỏ ra đã kiệt lực. Liên Xô hình như thích nghi được với việc tung ra các “đợt bình định” đẩm máu cứ 12 năm một lần – Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Ba Lan năm 1980 — bất chấp dư luận thế giới.

Nói thế khác, đây là một Liên Xô đang ở trên đỉnh cao quyền lực và thanh thế toàn cầu của mình, theo quan điểm của chính nó lẫn quan điểm của thế giới còn lại. Sau này, sử gia Adam Ulam đã nhận xét “Chúng ta thường quên rằng vào năm 1985, không một chính phủ của một quốc gia quan trọng nào tỏ ra có quyền lực vững chắc và có đường lối chính sách rõ ràng như chính quyền Liên bang Sô viết”.

Hẵn nhiên, có nhiều lý do thuộc về cơ chế — kinh tế, chính trị, xã hội – cho biết tại sao Liên Xô phải sụp đổ như nó đã sụp đổ; tuy nhiên, những lý do này không thể giải thích đầy đủ biến cố này diễn ra như thế nào và diễn ra khi nào. Nghĩa là, làm sao trong một thời gian từ năm 1985 đến năm 1989, trong lúc không gặp phải những tình trạng tồi tệ gay gắt về kinh tế, chính trị, dân số, và các vấn đề cơ chế khác, mà nhà nước và hệ thống kinh tế Xô viết bỗng dưng bị một quần chúng đủ đông đảo coi là ô nhục, thiếu tính chính danh, và hết chịu nỗi để phải sụp đổ?

Gần như hầu hết mọi cuộc cách mạng hiện đại, cuộc cách mạng Nga gần đây nhất được khởi động bằng một tiến trình tự do hóa khá do dự “từ trên xuống” – và lý do căn bản của nó vượt quá nhu cầu sửa sai nền kinh tế hoặc làm cho môi trường quốc tế tốt đẹp hơn. Cái cốt lỏi trong sáng kiến của Gorbachev là rất lý tưởng, đó là điều không thể chối cãi: Ông muốn xây dựng một Liên Xô có đạo lý hơn.

Vì mặc dù chiêu bài đưa ra là cải thiện kinh tế, nhưng rõ ràng là Gorbachev và những người ủng hộ ông trước hết muốn sửa chữa những sai lầm đạo lý hơn là sai lầm kinh tế. Hầu hết những điều họ tuyên bố công khai trong những ngày đầu của chương trình tái cơ cấu (perestroika), bây giờ nhìn lại, có vẻ chỉ là một cách biểu lộ nỗi khổ tâm của họ về sự suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại Xít-ta-lin. Đó là bước khởi đầu của một sự liều lĩnh đi tìm kiếm những câu trả lời cho các vấn nạn to lớn mà mọi cuộc cách mạng vĩ đại thường bắt đầu: Thế nào là một cuộc sống tốt đẹp, hợp với nhân phẩm? Cái gì tạo ra một trật tự kinh tế và xã hội công chính? Một nhà nước chính danh và đàng hoàng là như thế nào? Quan hệ của một nhà nước ấy với xã hội dân sự phải như thế nào?

“Một không khí đạo lý mới mẻ đang thành hình trên đất nước ta”, Gorbachev đã nói như thế trước Ủy ban Trung ương Đảng trong phiên họp tháng Giêng 1987, nơi ông tuyên bố rằng glasnost (chủ trương cởi mở) và tự do hóa sẽ làm nền tảng cho perestroika (chủ trương tái cơ cấu)  xã hội Xô-viết của ông. “Việc thẩm định lại các giá trị và xét lại chúng một cách sáng tạo đang được tiến thành”. Sau này, khi nhắc lại cảm tưởng của ông rằng “chúng ta không thể tiếp tục như thế thêm nữa, và chúng ta phải triệt để thay đổi lối sống, dứt khoát với những sai trái trong quá khứ”, ông gọi đó là “lập trường đạo lý” của ông.

Trong một bài phỏng vấn vào năm 1989, “người cha đỡ đầu của glasnost”, ông Aleksandr Yakovlev, nhớ lại rằng, vào lúc trở về Liên Xô sau 10 năm làm đại sứ tại Canada, ông cảm thấy đã đến lúc người dân phải tuyên bố, “Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta…Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống như chúng ta đã sống trước đây — một cách nhục nhã, ngoài mức chịu đựng”.

Theo ý kiến của vị thủ tướng của Gorbachev, ông Nikolai Ryzhkov, “tình trạng đạo lý [nrastennoe] của xã hội vào năm 1985 là nét đặc trưng “hãi hùng nhất”:

[Chúng ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra — từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên.

Một thành viên khác trong nhóm thân cận sơ khởi và rất ít ỏi của Gorbachev gồm những nhân vật chủ trương tự do, Bộ trưởng Ngoại giao Eduard Shevardnadze, cũng khổ tâm không kém vì tình trạng thiếu luật lệ và tham nhũng đều khắp. Ông nhớ lại đã nói với Gorbachev vào mùa đông 1984-1985: “Mọi thứ đã thối nát. Phải thay đổi thôi”.

Trở lại thập niên 1950, một vị tiền nhiệm của Gorbachev, ông Nikita Khrushchev, đã lần đầu thấy rõ sự mong manh của cái nền tảng của ngôi nhà mà Stalin đã xây lên trên sự khủng bố và dối trá. Nhưng thế hệ thứ năm này của giới lãnh đạo Xô-viết cảm thấy tin tưởng hơn về sức bật của chế độ. Gorbachev và các đồng chí của ông tỏ ra tin tưởng rằng những điều đúng cũng là những điều có thể quản lý được dễ dàng về mặt chính trị (politically manageable). Gorbachev tuyên bố rằng chủ trương dân chủ hóa “không phải là một khẩu hiệu nhưng là tinh túy của perestroika”. Nhiều năm về sau, ông đã trả lời phỏng vấn như sau:
Mô hình Xô-viết không những bị đánh bại trên bình diện kinh tế và xã hội; nó bị đánh bại ngay trên bình diện văn hóa. Xã hội chúng ta, nhân dân chúng ta, những người có học vấn nhất, những người có trí thức nhất, đã bác bỏ mô hình ấy trên bình diện văn hóa vì nó không tôn trọng con người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.

Sự thể những cải tổ đã đưa đến cuộc cách mạng năm 1989 phần lớn cũng phát xuất từ một nguyên nhân “lý tưởng” khác: bản thân Gorbachev rất ghét bạo động và, vì thế, ông cương quyết không sử dụng việc áp bức quần chúng (mass coercion) khi tầm mức của các biến chuyển bắt đầu vượt quá ý định ban đầu của ông. Triển khai các lực lượng đàn áp kiểu Xít-ta-lin cho dù để “duy trì chế độ” cũng sẽ là một hành động phản lại niềm tin tưởng son sắt nhất của ông. Một chứng nhân nhớ lại Gorbachev đã nói vào cuối thập niên 1980, “Chúng ta được dạy là chúng ta phải đấm bàn”, rồi ông nắm tay lại, minh họa cú đấm. Viên tổng bí thư phát biểu tiếp: “Nói chung, việc này có thể thực hiện. Nhưng chúng tôi không thích làm như vậy”.

Vai trò của tư duy và lý tưởng trong việc mang lại cuộc cách mạng Nga xuất hiện rõ nét hơn khi chúng ta nhìn vào những diễn biến bên ngoài Điện Cẩm Linh. Một ký giả Xô-viết hàng đầu và về sau trở thành một tiếng nói nhiệt tình đối với chủ trương glasnost, ông Aleksandr Bovin, đã viết vào năm 1988 rằng những lý tưởng của perestroika đã “chín muồi” giữa lúc nhân dân ngày càng “bức xúc” trước nạn tham nhũng, ăn cắp của công trắng trợn, trước những láo khoét, và những cản trở chặn đứng việc làm của người lương thiện. Những dự kiến “về một cuộc đổi thay có thực chất đang bàng bạc trong không gian”,  một chứng nhân khác nhớ lại, và những người mang kỳ vọng này đã tạo nên một khối cử tri rõ nét (appreciable constituency) đang đòi hỏi những cải tổ triệt để. Thật vậy, những kỳ vọng đã đón chào Gorbachev khi ông lên cầm cầm quyền là rất mãnh liệt và ngày càng gia tăng đến độ chúng có thể định hình cho chính sách thực sự của ông. Đột nhiên, chính các tư duy đã trở nên một yếu tố có cấu trúc, có thực thể trong cuộc cách mạng đang diễn ra.

Theo cách nói của Yakovlev, cái uy tín của ý thức hệ chính thống, vốn ràng rịt toàn bộ hệ thống chính trị và kinh tế của chế độ Xô-viết “như những niền thép”, đang rã rệu nhanh chóng. Nhận thức mới đã giúp người dân thay đổi thái độ đối với chế độ và tạo ra “một chuyển biến trong hệ thống các giá trị”. Dần dần, tính chính đáng của các sắp xếp chính trị [cơ chế chính trị] bắt đầu bị chất vấn. Trong một trường hợp điển hình của “định lý Thomas” bất hủ mà [nhà xã hội học] Robert K. Merton xây dựng thành lý thuyết – “Nếu người ta tin rằng một tình thế là có thực, thì tình thế đó sẽ trở thành hiện thực trong hậu quả của nó”– sự suy đồi thực sự của nền kinh tế Xô-viết chỉ mang lại hậu quả nghiêm trọng sau khi và bởi vì có một chuyển biến cơ bản trong cách người dân cảm nhận và đánh giá thành tích của chế độ.

Viết cho một tạp chí Xô-viết năm 1987, một độc giả Nga gọi những gì ông chứng kiến chung quanh ông là một “sự dứt khoát triệt để trong ý thức của người dân”. Chúng ta biết độc giả này nhận xét đúng vì cuộc cách mạng của Nga là cuộc cách mạng vĩ đại đầu tiên mà tiến trình của nó được vẽ thành biểu đồ trong các cuộc thăm dò dư luận quần chúng ngay từ đầu. Vào cuối năm 1989, cuộc thăm dò dư luận tiêu biểu đầu tiên đã cho thấy dân chúng nhiệt liệt ủng hộ các cuộc tuyển cử có tính cạnh tranh và việc hợp pháp hóa các đảng phái ngoài Đảng Cộng sản Xô-viết – sau bốn thế hệ dưới chế độ độc tài độc đảng và trong lúc các đảng phái độc lập vẫn còn bất hợp pháp. Giữa thập niên 1990, hơn nửa số người được thăm dò trong một vùng nước Nga đồng ý rằng “một nền kinh tế lành mạnh” có khả năng phát triển nhanh hơn “nếu chính phủ cho phép tư nhân làm ăn theo ý họ muốn”. Sáu tháng sau, một cuộc thăm dò trên toàn nước Nga cho thấy 56% hậu thuẫn một cuộc chuyển đổi nhanh chóng hay tuần tự sang một nền kinh tế thị trường. Thêm một năm sau thì số người ủng hộ kinh tế thị trường tăng đến tỉ lệ 64%.

Những người đã gieo vào xã hội “chuyển biến ngoạn mục về ý thức” không ai khác hơn là những kẻ đã từng châm ngòi cho các cuộc cách mạng tiêu biểu khác của thời hiện đại: đó là, các nhà văn, nhà báo, và giới nghệ sĩ. Như Alexis de Tocqueville nhận xét, những con người này “giúp tạo ra một ý thức chung về sự bất mãn như vậy, một công luận được kiên định như vậy, rồi hai yếu tố này … lại tạo ra những đòi hỏi hữu hiệu cho các chuyển biến có tính cách mạng”. Đột nhiên, “toàn bộ việc giáo dục” trên cả nước trở thành “công tác của những người cầm bút”.

Tại Nga Xô cũng vậy. Những hàng người dài trước các sạp báo – đôi khi các đám đông phải xếp hàng quanh một khu phố từ lúc 6 giờ sáng, vì lượng báo ra hàng ngày thường bán sạch chỉ trong vòng 2 tiếng đồng hồ — và số người đặt mua ngày càng đông các báo nổi tiếng có chủ trương tự do đã chứng minh sức công phá của những nhà bình luận nổi tiếng thuộc khuynh hướng glasnost, hay xin mượn cụm từ của Samuel Johnson, “những bậc thầy truyền giảng chân lý” (teachers of truth): kinh tế gia Mikolai Shmelyov; các triết gia chính trị như Igor Klyamkin và Alexandr Tsypko; các tiểu luận gia như Vasily Selyunin, Yuri Chernichenko, Igor Vinogradov, and Ales Adamovich; các ký giả Yegor Yakovlev, Len Karpinsky, Fedor Burlatsky, và chí ít trên hai chục nhà văn nữa.

Đối với họ, việc phục sinh đạo lý là thiết yếu. Điều này có nghĩa là không những chỉ rà soát lại các hệ thống chính trị và kinh tế Xô-viết, không những chỉ lật ngược các qui phạm xã hội (social norms), mà còn là một cuộc cách mạng trên bình diện cá nhân: một sự thay đổi trong nhân cách của người dân Nga. Như Mikhail Antonov tuyên bố trong một tiểu luận rất sáng tạo năm 1987, với tiêu đề “Vậy thì việc gì đang đến với chúng ta?” trên tạp chí Oktyabr, phải “cứu” lấy nhân dân – không phải để họ thoát khỏi các mối nguy từ bên ngoài, nhưng “chủ yếu để họ thoát khỏi chính mình, thoát khỏi các tiến trình phi luân đang giết chết những phẩm chất cao quí nhất của con người”. Cứu nhân dân bằng cách nào? Bằng cách làm cho tiến trình dân chủ hóa còn sơ sinh trở thành con đường định mệnh, không thể đảo ngược – không phải bằng “một đợt băng tan” ngắn ngủi của Khrushchev, nhưng bằng một cuộc thay đổi khí hậu. Và việc gì sẽ đảm bảo cho tình hình không thể đảo ngược này? Trên hết, đó là sự xuất hiện của con người tự do, một con người “không bị lây nhiễm trước các sự kiện lặp đi lặp lại của chế độ nô lệ tinh thần”. Tuần báo Ogoniok, một tạp chí quan trọng thuộc chủ trương glasnost, đã viết vào tháng Hai năm 1989 rằng chỉ có “con người không có khả năng làm chỉ điểm cho công an, không có khả năng phản bội và láo khoét, bất luận nhân danh ai hay tổ chức nào, mới có thể cứu chúng ta khỏi sự xuất hiện trở lại của một nhà nước độc tài”.

Lối lý luận vòng vo này — để cứu nhân dân, người ta phải cứu lấy perestroika, nhưng người ta chỉ cứu được perestroika nếu có thể  thay đổi đựợc con người “từ bên trong” — gần như không hề làm cho ai khó chịu. Những người phát biểu tư duy về những vấn đề này gần như đã cho rằng việc cứu nước bằng chủ trương perestroika và việc kéo người dân khỏi bãi sình lầy tinh thần là hai nỗ lực đan kết chặt chẽ, có lẽ không thể tách rời nhau, và họ dừng lại ở đó. Vấn đề quan trọng là phải đưa nhân dân trở về “địa vị công dân” từ vị trí “nông nô” và “nô lệ”. “Đủ lắm rồi!” là một lời tuyên bố của Boris Vasiliev, tác giả của một tiểu thuyết bán rất chạy trong giai đoạn này về Thế chiến II, một cuốn truyện được đóng thành phim và được khán giả yêu chuộng không kém. Ông nói: “Đủ lắm rồi những láo khoét, đủ lắm rồi tinh thần nô lệ, đủ lắm rồi sự hèn nhác. Sau cùng, chúng ta phải nhớ rằng tất cả chúng ta đều là công dân. Những công dân tự hào của một đất nước tự hào!”

Nhìn kỹ vào những nguyên nhân của Cách mạng Pháp, de Tocqueville có nhận xét nổi tiếng rằng, các chế độ bị cách mạng lật đổ thường thường ít áp bức dân chúng hơn các chế độ trước đó. Tại sao? Vì, theo suy đoán của de Tocquevile, mặc dù người dân “có thể ít khổ sở hơn”, nhưng họ lại “cảm thấy bị xúc phạm nhiều hơn”.

Thông thường, Tocqueville có khuynh hướng bàn về những

Chủ Đề 50 Năm Tưởng Niệm CỐ TỒNG THỐNG : Chiêm ngắm hình ảnh quý hiếm của Vị Tổng Thống trung quân ái quốc của dân tộc Việt Nam.

118 HÌNH ẢNH QUÝ HIẾM CỦA CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM CÙNG CÁC TƯỚNG LÃNH VÀ NHÂN SỸ ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA

























































































































http://quynhtramvietnam.blogspot.co.uk/2013/01/118-hinh-anh-quy-hiem-cua-co-tong-thong.html

Bài Xem Nhiều