We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 19 October 2013

Flu Season : NGỪA CÚM

NGỪA CÚM 2013-2014


Chúng ta đã bước vào tháng 10. Ngày tháng thoi đưa!

Năm nay, tháng 10 là tháng tốt nhất để ngừa cúm 2013-2014. Tại Mỹ, cúm được xem như chuyện thời sự lớn trong hai mùa thu và đông. Bị cúm cực lắm, có khi còn nguy cả tính mạng!

Lời khuyên của CDC (www.cdc.gov, Cơ Quan Kiểm Soát và Ngừa Bệnh) về việc ngừa cúm mỗi năm mỗi khác, dựa vào những gì y học mới khám phá thêm, hoặc những diễn biến của dịch cúm.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization), mùa Đông hàng năm, bệnh cúm đến thăm 20% dân số địa cầu, gây ra 5 triệu trường hợp bệnh nặng, và ít nhất 250.000 - 500.000 cái chết trên khắp thế giới.

Ngừa cúm

Phương pháp trị cúm hữu hiệu nhất vẫn là dùng thuốc ngừa cúm. Với bệnh cúm, quả “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Vài năm nay, ngoài thuốc chích để ngừa như hàng năm, còn có thêm thuốc ngừa Flumist, xịt vào mũi, hữu hiệu ngang ngửa với thuốc chích. Tiếc thay, Flumist hiện chỉ xài được cho người khỏe trong khoảng 2 đến 49 tuổi, vì siêu vi được dùng để chế thuốc xịt còn sống, chỉ bị làm yếu đi, vẫn có khả năng gây bệnh cho người lớn tuổi.

Thuốc chích ngừa cúm làm khoảng 9 tháng, chế từ các siêu vi cúm A và B đã gây bệnh trong mùa cúm năm trước và được tiên liệu có thể sẽ tấn công chúng ta nữa vào mùa thu, đông sắp tới năm nay. Chúng được cấy vào trứng, cho sinh sôi nảy nở, sau đó bị giết đi để không thể gây bệnh, nhưng vẫn có khả năng tạo kháng thể (antibody) cho người được chích. Kháng thể sẽ chỉ tồn tại 4-6 tháng hay hơn; ở các vị cao niên kháng thể không tồn tại lâu bằng ở người trẻ.

Nếu sự tiên liệu trong việc chế thuốc ngừa đúng (đoán đúng được các siêu vi sẽ gây bệnh trong mùa thu và đông sắp tới), sau khi chích ngừa, dù sự bảo vệ không 100%, ít ra cũng 50-80%. (Các siêu vi cúm chúng quỉ lắm, biết thay hình đổi dạng, nên cũng có năm người ta chế thuốc ngừa không đúng được với lũ siêu vi gây bệnh.) Người được chích ngừa rủi vẫn bị cúm, có triệu chứng thường nhẹ hơn, ít nóng sốt, ít sưng phổi, và dễ tránh được tử vong hơn người không chích ngừa.
Thuốc chích và cả thuốc xịt Flumist đều dùng trứng làm chất đệm, nên những người ăn trứng có phản ứng (egg allergy: nổi mẩn đỏ, lên cơn suyễn, chóng mạt, xỉu, ...), không nên chích ngừa hoặc dùng Flumist. Gần đây đã có thuốc ngừa dùng siêu vi cấy trong các tế bào động vật, như vậy không phải phụ thuộc vào kỹ nghệ sản xuất trứng, và người phản ứng với trứng có thể chích ngừa, song hiện giờ loại thuốc này chưa phổ biến lắm.

* Những ai cần chích ngừa cúm?

Kể từ năm 2010, CDC khuyên ngừa cúm cho tất cả các trẻ em từ 6 tháng trở lên và mọi người lớn chúng ta, nếu đủ thuốc.

Trường hợp không đủ thuốc, ưu tiên ngừa cúm dành cho các trẻ em từ 6 tháng trở lên và những người lớn bị nguy hiểm nếu nhiễm cúm, do cao tuổi hoặc vì đang mang bệnh làm cơ thể yếu sẵn:

- Người lớn từ 50 tuổi trở lên.

- Trẻ em từ 6 tháng đến 5 tuổi.

- Phụ nữ có thể sẽ mang bầu, hoặc đang mang bầu trong mùa cúm.

- Người lớn dưới 50, không mang thai, nhưng đang có các bệnh kinh niên như bệnh tim, bệnh phổi (kể cả suyễn), bệnh thận, bệnh tiểu đường, thiếu máu nặng, bệnh AIDS, v.v., hoặc người đang phải dùng những loại thuốc khiến sức kháng cự của cơ thể suy giảm (như thuốc Prednisone), thuốc chống ung thư.

- Người đang ở trong các viện chăm sóc đặc biệt (nursing homes).

- Các bác sĩ, y tá và nhân viên y tế, có nhiệm vụ trực tiếp săn sóc những người thuộc các thành phần kể trên, cả người nhà (household contacts) nữa, cũng nên chích ngừa để tránh nhiễm cúm rồi lây lại cho người thuộc các thành phần cần được chích ngừa cúm kể trên.

- Người mang bệnh tinh thần hoặc thể xác có thể ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, hoặc không tự săn sóc mình được khi bị cúm (rối loạn nhận thức, chấn thương cột sống, bệnh kinh phong, bệnh thần kinh bắp thịt) cũng cần chích ngừa.
Năm nay, thuốc chích có vẻ đầy đủ, không thiếu đâu, mọi người lớn chúng ta, và các trẻ từ 6 tháng trở lên đều nên chích ngừa.

* Chích ngừa cúm lúc nào tốt nhất?

Ở Mỹ, thường dịch cúm bắt đầu vào tháng 11, 12, có năm đến sớm tháng 10. Cúm hay tấn công mạnh nhất khoảng tháng giêng (1) và tháng hai (2), sau đó có thể vẫn còn hoành hành cho đến tháng 4 khi đã vào Xuân.

Khoảng 2 tuần sau khi chích ngừa, cơ thể ta bắt đầu có kháng thể (antibody) chống cúm; kháng thể tồn tại 4-6 tháng hay hơn. Việc chích ngừa thường được thực hiện trong khoảng các tháng 9, 10, 11 và 12, năm nay tốt nhất trong tháng 10. (Sau đó, dù cúm đã đến, nếu may còn thuốc, vẫn nên tiếp tục cho đến hết mùa cúm.)

* Thuốc ngừa cúm có gây phản ứng gì quan trọng?

Với người ăn trứng không bị phản ứng, chích ngừa cúm ít khi gây phản ứng quan trọng, trừ hơi đau một chút thôi ở chỗ chích độ 1-2 ngày. Nếu có nóng sốt, uể oải, đau nhức các bắp thịt sau khi chích ngừa, các triệu chứng này cũng chỉ kéo dài 1-2 ngày.

Cho những vị chưa kịp chích ngừa mà cúm đã đến, hoặc vì nhạy ứng với trứng nên không thể chích ngừa, có thể dùng thuốc uống Tamiflu hay thuốc xịt Relenza để ngừa. Song, hai thuốc này không nên được dùng để thay cho chích ngừa, trong những trường hợp cần và có thể chích ngừa.

Chích ngừa cúm có ngừa được cảm?

Cảm là cảm (cold), cúm là cúm (flu), chúng ta chưa có “thuốc chích ngừa cảm cúm”. Cảm xảy ra quanh năm, do những siêu vi trùng khác. Chích ngừa cúm không ngừa được cảm. Chích ngừa cúm người cũng không ngừa được cúm gà thỉnh thoảng còn xảy ra. Về chơi vùng Đông Nam Á, bạn vẫn cần cẩn thận, tránh tiếp xúc, ăn các gia cầm, kể cả món tiết canh vịt khoái khẩu.

Trụ sinh không trị được các bệnh siêu vi (virus), chỉ chữa bệnh vi trùng (bacteria). Cách trị các bệnh siêu vi tốt nhất là ngừa bằng thuốc, nếu đã có thuốc ngừa.

Bệnh cúm quan trọng, và có lẽ cuộc chiến chống cúm hàng năm sẽ không bao giờ chấm dứt. Kể từ năm 2010, có lời khuyên từ CDC, nếu đủ thuốc, tất cả các trẻ em từ 6 tháng trở lên và mọi người lớn chúng ta đều nên ngừa cúm.

Tháng này, chúng ta rủ nhau đến bác sĩ ngừa cúm, bảo vệ bản thân chúng ta, và nghĩ cả đến những người khác trong gia đình, ngoài cộng đồng, bảo vệ luôn họ; chúng ta nhiễm cúm có thể không chết, song lây người khác, họ bị biết đâu họ sẽ mất mạng./.



 Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

Nói Lái Trong Ngôn Ngữ & Văn Học Việt Nam



Theo định nghĩa chung chung của một số nhà Ngôn ngữ học thì Nói lái là nói bằng cách giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của hai âm tiết để tạo thành nghĩa khác hẳn và cho rằng đây là một trong những đặc trưng của tiếng Việt , nhằm mục đích đố chữ , bông đùa , chơi chữ hay châm biếm . Thí dụ như « lộng kiếng » nói lái thành « liệng cống » hay « đầu tiên » thành « tiền đâu » , « đơn giản » thành « đang giỡn » ...
Có người còn cho rằng Nói lái là một đặc điểm độc đáo của tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác không có , khi nói lái người ta phải chọn một nhóm hai hoặc ba tiếng rồi hoán vị các phụ âm hoặc các thanh của những tiếng đó cho nhau . Chẳng hạn như « Vũ như Cẩn » thành « vẫn như cũ » hay « Nguyễn y Vân » thành « vẫn y nguyên » hoặc « bảng đỏ sao vàng » thành « bỏ Đảng sang giàu » ...
Lại có người giải thích : Nói lái là cách đánh tráo vần , thanh điệu ... giữa hai hoặc ba tiếng với nhau , nó không rườm rà không phức tạp mà rất đơn giản dễ vận dụng để tạo thêm nghĩa mới phù hợp với mục đích giao tiếp và cho rằng nếu không có những cách nói lái này , quá trình giao tiếp sẽ kém sinh động hơn , đơn điệu hơn nhưng tựu chung , khi nói lái , người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói ; mà người nghe vì không tinh ý , nhất thời không nhận ra nên xảy ra nhiều giai thoại vô cùng lý thú .
Như chúng ta đã biết , một chữ gồm hai phần : phụ âm và âm . Chẳng hạn như chữ thung gồm phụ âm th và âm ung . Chúng ta lại có thêm sáu thanh : sắc , huyền , hỏi , ngã , nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc , chỉ cần khác dấu , chữ được phát âm khác nhau : thung ( thung dung ) , thúng ( cái thúng ) , thùng ( cái thùng ) , thụng ( áo thụng ) , thủng ( lỗ thủng ) và tất nhiên có nghĩa khác nhau , và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt , nên người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát vậy . Thêm vào đó , tiếng Việt vốn đơn âm nên có thể Nói lái dễ dàng mà vẫn có nghiã : Cái biệt thự nầy bự thiệt ! Bí mật coi chừng bị bật mí hoặc kháng chiến lâu ngày sẽ khiến chán hay muốn đầu tư nhưng không biết từ đâu , và đã tháo giầy nhưng chưa thấy giàu ! Theo con Hương vì thương con heo cô ấy ...
Đặc biệt , đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái , tuỳ theo gốc gác hoặc sinh hoạt ở Bắc , Trung hay Nam mà cách nói lái có khác nhau đôi chút .
- Nói Lái theo cách ngoài Bắc : người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ , đồng thời đổi luôn hai dấu ( nghĩa là đổi âm sắc ) .
Thí dụ như chữ tượng lo nói lái thành lọ tương ( lo đổi chỗ cho tượng , lấy dấu nặng thành lọ , tượng đổi chỗ cho lo , mất dấu nặng thành tương ) .
Chữ đấu tranh nói lái lại là tránh đâu ( tranh đổi chỗ cho đấu , lấy dấu sắc của đấu thành tránh , đấu đổi chỗ cho tranh , mang dấu của tranh vì không dấu nên thành đâu ) .
- Nói lái theo kiểu trong Nam : theo cách nói lái trong Nam , âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau , phụ âm giữ nguyên vị trí .
Thí dụ như chữ cá đối nói lái thành cối đá ( phụ âm ghép với âm ối của đối thành cối , và phụ âm đ ghép với âm á của cá thành đá ) . Và cứ như vậy mà cờ Tây thành Cầy tơ , Thầy tu thành thù Tây , hiện đại thành hại điện , Thứ Lễ thành Thế Lữ , trò chơi thành trời cho ...
Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ , thì chỉ hoán đổi hai chữ đầu và cuối nhưng giữ nguyên chữ giữa . Chẳng hạn như : « Trần bá Cương » thành « Trương bá Cần » , « Chín bến đò » thành « chó bến Đình » , « Âu cái Đằng » thành « ăn cái đầu » , « Hương bên đèo » thành « Heo bên đường » ...
Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn . Thí dụ chữ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành chính biên . Do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng : tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh .
Cũng như trong trường hợp trên , những chữ trùng âm như nhân dân , lù đù , lật đật ... không nói lái được .
Tuy nhiên , Nói lái là lối nói mà chỉ cảm nhận được chớ không công thức hoá được . Nếu nói lái mà đơn giản như đang giỡn ( có thêm chữ g và dấu hỏi thành dấu ngã ) thì không thể áp dụng công thức nào vào đây cả .
Đặc biệt là người miền Nam thường phát âm phụ âm cuối không chính xác như c # t , n # ng , y # i , dấu hỏi đọc như dấu ngã . Chẳng hạn như chữ Cắt và Cắc , Đan và Đang , Thai và Thay , suy nghĩ và nghỉ ngợi ... họ đều phát âm giống nhau , khó mà phân biệt . Vì vậy khi người miền Nam nói lái thì rất dễ dàng , nhanh chóng do biến đổi bằng nhiều cách khác nhau nhưng khi viết ra thành chữ thì nhiều khi không đúng vào đâu cả ( tức là sai Chánh tả ) . Thí dụ như sao vàng nói lái thành sang giàu nhưng viết đúng theo âm luật là sang vào thì không phải là ý của người muốn nói ; bởi vậy , người ta nói nói lái chớ không ai nói viết lái . Tuy nhiên , có nhiều câu thơ , bài thơ không những nói lái mà còn viết lái rất tài tình , chúng tôi sẽ giới thiệu phần sau .
Sau đây , chúng tôi xin mời quý vị bước vào thế giới của ngôn ngữ Nói Lái qua các câu đố , câu hò , câu đối , giai thoại trong dân gian và cả những bài thơ mang tính cách Văn học Nghệ thuật hoặc đã có từ lâu trong nền Văn học Việt Nam . Dĩ nhiên , theo như ý kiến của Hoàng Lão Tà trong bài « Ăn tục nói phét » thì « môn nói lái rất thần sầu quỷ khiếp đa dạng , đa năng mà ngay trong thi ca kim cổ đều sử dụng . Lúc nào nói lái được là chớp ngay cơ hội . Và nói lái phải tục mới vui , mới cười được , chứ nói lái thông thường thì chả có gì hấp dẫn » .
1 - Nói Lái trong Câu Đố

Cũng như Ca Dao , Tục Ngữ , Thành Ngữ ... Câu đố cũng là một hình thái của Văn học dân gian Việt Nam . Người ta sử dụng Câu đố trong các buổi họp mặt vui chơi hoặc trong lúc lao động chân tay để quên đi mệt nhọc hay thử tài trí giữa hai bên nam nữ . Những câu đố Nói lái thường rất dễ đáp nhưng vì bất ngờ hay bị tròng tréo chữ nghiã mà đôi khi không đáp được .
- Lăng quằng lịt quịt ... lăng quằng trứng , là cái gì ? ( Đáp là cái Lưng quần trắng )
- Lăng quằng lịt quịt ... lăng quằng rừng , là cái gì ? ( là cái Lưng quần rằn )- Trong nhà chạy ra hỏi cái gì bán , là cái gì ? ( là cái giàn bí )
- Vừa đi vừa lủi , vừa mổ , là cái gì ? ( là cái lỗ mũi )
- Mẹ thương con , con gầy , là cái gì ? ( là cây gòn )
- Trên trời rơi xuống cái mau co , là cái gì ? ( là cái mo cau )
- Cầm đục cất đục là cái gì ? ( là Cục đất )
- Ghe chài chìm giữa Biển Đông ,
Ván phên trôi hết cái cong nó còn’’ là cái gì ? ( là con còng )
- Khoan mũi , khoan lái , khoan lai ,
Bò la , bò liệt đố ai biết gì ? ( là củ khoai lang ) .
- Hít vào , hít ra , hít một là cái gì ? ( là hột mít )
- Cà vô , cà ra , cà nhột , là cái gì ? ( là cột nhà )
- Cúng trên núi , cúng mê , cúng mải là cái gì ? ( là cái mủng )
- Cú trong nhà cú ra , cú hãi là cái gì ? ( là cái hũ )
- May không chút nữa thì lầm
Cau dày không bẻ bẻ nhầm cau ranh , là cái gì ? ( là canh rau ) ...
- « Sáng nay đi hỏi chị Năm ,
Có đi ra chợ chuộc dùm đôi bông » là cái gì ? ( là trái chùm ruột )
- Cái gì ở cạnh bờ sông ,
Cái mui thì nát cái cong thì còn ? ( là con còng )
- Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng , là gì ? ( là ngón chưn cái )
- Khi đi cưa ngọn , khi về cũng cưa ngọn , là gì ? ( là con ngựa )
- Miệng bà Ký lớn , bà Ký banh
Tay ông Cai dài , ông Cai khoanh . Là cái gì ? ( là canh bí và canh khoai
Ngoài ra , còn có câu đố về các con vật , câu đố đặt ra là từ hai con vật nầy khi Nói lái sẽ thành hai con vật khác , đã được giải đáp như sau :
- Con Cua con Rồng lái là Con Công con Rùa
Con Cáo con Sóc lái là con Cóc con Sáo .
Con Trai con Rắn lái là con Trăn con Rái ( cá )
Con Cò con Báo lái là con Cáo con Bò
Con Sáo con Bò lái là con Sò con Báo
Con Sếu con Ngao lái là con Sáo con Nghêu ...
- con Sâu con Dế –> con dê con sấu
con Ngao con Sán –> con ngan con sáo
con Ong con Kiến –> con yến con công
con Ốc con Kiến –> con yến con cóc
con Trai con Rắn –> con trăn con rái
con Ốc con Nhện –> con ếch con nhộng
- Con SÁO nói với con BÒ ,
Có con SÒ BÁO : bên kia Hội chùa .
Con CÔNG nghe rũ con RÙA ,
Con CUA thấy vậy , mới khua con RỒNG .
Cả bọn kết lại thật đông ,
Con CÒ , con SÓC cũng mong theo cùng .
CÓC , SÒ xúm lại đi chung ...
- Cô Công nói với Cậu Rùa ,
Rồng ở dưới đất , còn Cua trên trời .
Ốc gào Nhện hỡi , nhện ơi :
Ếch bơi phố núi , Nhộng chơi ao làng .
Gió chiều nhẹ thổi mênh mang ,
Tao nhân mặc khách lang thang bên đường ...
2 - Nói Lái trong Câu Hò đối đáp
Hò đối đáp vốn là một loại hình thức dân ca phổ biến khắp ba miền đất nước . Nó thường xảy ra trên cánh đồng hay dòng sông , nam và nữ thường hò đối đáp với nhau để xua đi nỗi mệt nhọc trong công việc . Điều đáng ngạc nhiên là họ có thể dễ dàng sáng tạo và hò đối đáp ngay tại chỗ . Những người này rất nhanh nhẹn và thông minh đến mức ngay cả những người có học đôi khi cũng phải khâm phục họ và đôi khi phải bỏ cuộc . Có nhiều cặp trai gái trở thành chồng vợ sau những cuộc hò nầy .
Những câu hò đối đáp thông thường thì rất nhiều nhưng dùng cách nói lái để hò đối đáp thì rất hiếm quý .
# Thông thường thì bên con gái cất cao câu hò đối trước :
« Hò hơ ... Con cá đối nằm trên cối đá ,
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo .
Anh mà đối đặng ... ơ . . ờ
Hò hơ ... Anh mà đối đặng , dẫu nghèo em cũng ưng » .
# Sau khi phân tách và tìm câu trả lời , bên con trai hò đáp :
« Hò hơ ... Chim mỏ kiến( g ) đậu trên miếng cỏ ,
Chim vàng lông đáp dựa vồng lang .
Anh đà đối đặng ơ ... ờ
Hò hơ ... Anh đà đối đặng , hỏi nàng có ưng chưa ? »
Và như thế , bên nầy đối , bên kia đáp cứ kéo dài không dứt cuộc tranh tài đầy lý thú của hai bên nam nữ để lại dân gian những câu hò Nói lái độc đáo đầy sáng tạo :
- Con sáo sậu chê cô xấu xạo ,
Con chó què chân bị cái quần che .
- Con bé mập ú nhờ bà mụ ấp ,
Thằng bé ốm tong vác cái ống tôm .
- Chiều chiều cụ Mão lên rừng cạo mũ ,
Sáng sớm bà Hạc đi bán bạc hà .
- Cô nàng dâu Hứa đi mua dưa hấu ,
Thằng rể bảnh trai ngồi cạnh bãi tranh .
- Người mặc áo xanh chính là anh xáo ( anh Sáu ) ,
Miếng thịt băm nát trong bụng bác Năm .
- Chàng trai sứt môi ngồi ăn xôi mứt ,
Cô gái mồm to lặn lội mò tôm .
- Con cóc cái ngồi trên cái cốc ,
Con cầy tơ đứng dưới cờ Tây .
Bên cạnh đó còn có những câu Nói lái mà đôi trai gái khéo léo gởi gắm tình cảm cho nhau mà người ngoài vì vô tình không hiểu được . Trước hết , người con gái thố lộ :
- « Cam sành nhỏ lá thanh ương ,
Ngọt mật thanh đường nhắm lớ , bớ anh ! »
Cảm thương vì « thương anh » mà « nhớ lắm » của nàng nên chàng hứa hẹn :
- « Thanh ương là tuổi mong chờ
Một mai nhái lặn chà quơ , quơ chà » .
( Có nghiã : Qua muốn « nhắn lại » với bậu là nếu « thương anh » mà bậu « chờ qua » thì « qua chờ » bậu ) .
3 - Nói Lái trong câu đối

Câu đối là cách chơi chữ và là một trong những thú tiêu khiển của người xưa . Người ta thường viết câu đối trong dịp Tết hay trong các lễ mừng thượng thọ , thăng quan tiến chức , đỗ đạt hay tân hôn , sinh nhật ... . Người viết câu đối phải là người văn hay , chữ tốt và nhất là ý nghiã của câu đối phải phù hợp với trọng tâm của buỗi lễ . Cho nên , viết câu đối rất khó mà nói lái trong câu đố thì lại càng khó hơn nữa . Vậy mà trong dân gian Việt Nam vẫn có nhiều câu đối nói lái .
Thảm thương cho cuộc sống thiếu thốn , đói nghèo của nghề giáo dưới chế độ Xã hội Chủ nghiã , người ta than thở qua bài « Buồn đời giáo-chức » :
Thảm kịch của thầy giáo , phải tháo giầy ,
Tháo luôn cả ủng , thủng luôn cả áo .
Làm giáo chức , nên phải giứt cháo ,
Thảo chương rồi , để được thưởng chao ,
Lấy giáo án đem dán áo .
Cùng với một câu đối bất hủ như sau :
- Chiều ba mươi , thầy giáo tháo giày ra chợ bán
Sáng mùng một , giáo chức dứt cháo đón xuân sang .
Tuy vậy , vẫn còn một câu đối khác nghe chỉnh hơn :
- Thầy giáo ... tháo giầy , tháo cả ủng , thủng cả áo , đem giáo án ra ... dán áo .
Mèo con ... .còn meo , còn léo nhéo , kéo lòn nhòn , ngậm xương cá về ... ca xướng .
Còn đây là câu đối Tết dành tặng cho những tên keo kiệt , coi trọng đồng tiền hơn bất cứ mọi thứ trên đời ( xin nói lái từng cặp chữ thì sẽ thấy ) :
- Thiên tường , tác biệt ,
Hiền tạ , thu sương .
Ngoài ra , còn có những câu đối không dùng trong mục đích nào cả mà chỉ để thoả mãn tánh trào phúng và tài Nói lái của mình :
- Kia mấy cây mía trên xe chú ,
Có vài cái vò dưới nhà cô .
- Thầy giáo tháo giầy , vấy đất vất đấỵ
Thầy tu thù Tây , cầu đạo cạo đầu .
- Trai Thủ Đức năm canh thức đủ ,
Gái Đồng Tranh sáu khắc đành trông .
- « Trai Thủ Đức năm canh thức đủ ,
Gái Gò Công sáu khắc gồng co » .
- Gái Hóc Môn vừa hôn vừa móc ,
Trai Gò Công vừa gồng vừa co .
- Thầy giáo Bản Giốc , vừa bốc vừa giảng ,
Tử tù Cổng Trời , bị cởi bị trồng .
- Con trai Bắc Ninh , vừa binh vừa nắc ,
Con gái Hà Đông , hồng diện đa dâm .
- Đại học Suối Máu , sáu tháng muối cơm ,
Giáo khu Thừa Thiên , cửa thiền thưa thớt .
- Dân nhậu Chu Lai , uống chai uống lu ,
Người dân Đập Đá , bị đá bị đập .
- Rượu thuốc Bạch Hổ , uống bổ như hạch ,
Con gái Đà Nẵng , tứ đẳng nõn nà .
- Nhà văn Nhật Tiến bảo học tiếng Nhật là tiện nhất .
Luật sư Ðức Tiến không biết tiếng Ðức nên tức điếng .
- Con cá rô cố ra khỏi rá cô !
Chú chó mực chực mó vào chõ mứt .
- « Vợ nuôi chó , chồng chén cầy ; tứ đốm tam khoanh , cây còn hoá ra là nhà Tuất .
« Ngưòi bảo heo , kẻ kêu lợn ; ba bầy bảy mối , lớn lại thành đích thị họ Trư .
Còn về câu đối « Gái Củ Chi , chỉ cu , hỏi củ chi ? » thì có các câu :
- Trai Giồng dứa , trồng dừa giống , trên giồng dứa .
- Trai Láng Hạ , lạ háng người Láng Hạ .
- Trai Thành Đông , đồng thanh hét thành đồng .
Sau hết , có một người thích nói lái , tức cảnh sinh tình đưa ra câu đối sau đây , xin mời chư quý vị tìm cho câu đáp :
- « Xuân Cali lạnh lẽo , nghe gọi heo , gọi lợn , gọi chó , gọi cờ tây , chạnh thèm bát giả cầy ... » .
4 - Nói lái trong các giai thoạ
Giai thoại được hiểu là câu chuyện thú vị làm cho người nghe phải hào hứng , vui thích . Từ xưa , có rất nhiều giai thoại , đặc biệt là giai thoại trong văn chương thì không những được người đời truyền tụng qua những cuộc trao đổi trong giới Văn gia , trí thức mà còn được ghi vào sách vở . Tuy nhiên , có những giai thoại Nói lái thì ít người quan tâm , thỉnh thoảng họ cũng có nghe qua nhưng rồi bỏ , xem đó như là những câu chuyện dân gian . Vì vậy , những giai thoại nầy trở thành loại văn chương truyền khẩu , mặc ai muốn kể sao thì kể , muốn thêm thắt thế nào cũng được miễn đáp ứng được sự cảm nhận của người nghe là được .
A - Chuyện Đại Phong
Chuyện thế này : hai anh hề trên sân khấu tuồng ngoài Bắc , trong lúc diễu giúp vui , anh A đố anh B : Đại phong là gì ?
- « Thì đại là lớn , còn phong là gió , đại phong là gió lớn » , anh B giải thích .
Anh A bảo : « Đại phong có nghiã là lọ tương đấy . Nầy nhé , Đại phong là gió lớn , mà gió lớn thì chùa đổ , chùa đổ thi tượng ( Phật ) lo , tượng lo là lọ tương .
Có người còn cho rằng chuyện Đại phong xuất xứ từ Trạng Quỳnh . Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh , sinh quán Nghệ An dưới thời Lê Trung Hưng ( 1530-1540 ) , là người hay chữ , thông minh xuất chúng , với bản tính nói ngông hay châm chọc vua chúa quan quyền thời bấy giờ . Một hôm Quỳnh dâng lên chúa Trịnh một lọ thức ăn khoác lác là một món ăn tuyệt hảo , ngoài có đề hai chữ Đại Phong . Sau khi ăn thử , chúa Trịnh vì bị Trạng lừa bỏ đói , ăn rất ngon miệng nên cật vấn về món ăn lạ , thì Trạng giải thích rằng Đại Phong là gió to , gió to thì tượng lo , tượng lo nói lái là lọ tương .
Ngoài ra , Trạng Quỳnh còn có một câu nói lái khác mà người ta cho rằng để chọc bà Đoàn thị Điểm ( ? )
- Nắng cực lúa mất mùa , đứng đầu làng xin xỏ ,
Nỡ lòng nào chị chẳng cho .
B - Chuyện Trạng Quỳnh – « đá bèo » và « ngoạ sơn »
Một bà Chúa có nhan sắc mà tính kiêu ngạo , đi ra chơi phố phường thấy ai trái ý là sai lính bắt đánh liền . Quỳnh lững thững đi chơi , gặp kiệu Chúa , thấy gần đấy có cái ao bèo , vội vàng chạy xuống cầu ao nhằm đám bèo mà đá tứ tung . Chúa biết Quỳnh , thấy chơi lẩn thẩn như thế mới hỏi :
- Ông làm gì đó ?
Quỳnh ngẩng lên thưa :
- Tôi ở nhà buồn quá , ra ao đá bèo chơi ạ !
Chúa đỏ mặt tía tai , đánh kiệu bỏ đi .
Một buổi trưa nọ , Quỳnh định vào nội phủ thăm Chúa nhưng biết là Chúa đang ngon giấc ở dinh bà Chính cung , Quỳnh cụt hứng lui gót . Trên đường về , Quỳnh đề lên vách phủ hai chữ « Ngoạ Sơn » . Khi Chúa gọi vào hỏi , Quỳnh trả lời :
- Khải Chúa , « Ngoạ Sơn » nghĩa là nằm ở trên núi , có thế thôi ạ ! Tiện tay , thần viết chơi , chẳng có gì để Chúa bận tâm cả .
Sau đó , Chúa thấy hai chữ « Ngoạ Sơn » xuất hiện la liệt trên các vách tường , cửa nhà ngoài phố ... Chúa truyền gọi một người đến hỏi duyên cớ . Người kia run lẩy bẩy , thưa :
- Chúng con là kẻ hèn mọn dốt nát , đâu dám sính chữ . Việc này chẳng qua chỉ tại Trạng Quỳnh đấy ạ ! Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ , về mách với chúng con là Chúa đang bận « Ngoạ Sơn » , rồi giải thích rằng : Ngoạ là nằm , nằm lâu thì phải ngủ , ngủ thì phải ngáy . Sơn là núi , mà núi thì phải có đèo . « Ngáy Đèo » nói lái lại là ... , con không dám nói ra đâu . Không ngờ bọn trẻ con nghe lỏm được lời Trạng , buồn tay viết bậy bạ lung tung . Xin Chúa tha cho con !
Hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện này là do Quỳnh , có làm lớn chuyện ra chỉ tổ thêm xấu hổ nên bỏ qua .
C - Chuyện Đại Điểm Quần Thần
Một giai thoại về Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm được lưu truyền ở miền Nam như sau : hồi Thủ Tướng Tâm còn là Quận Trưởng Cai Lậy ( có biệt danh là Hùm Xám Cai Lậy ) lúc ăn mừng tân gia , có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại Điểm Quần Thần rất đẹp và giải thích Quần thần là người bề tôi , Đại điểm là điểm lớn , ý nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn trong quan trường . Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong phòng khách . Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn , rồi xin quan lớn dẹp đi . Quan ngạc nhiên hỏi , người ấy giải thích : người viết liễn đã cố ý châm biếm quan lớn , mà quan không biết . Bốn chữ trên dịch từng chữ : Đại điểm là chấm to ; Quần thần là bầy tôi . Đại Điểm Quần Thần là Chấm To Bầy Tôi nói lái lại là Chó Tâm Bồi Tây . Chẳng biết quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay chăng , nhưng có lẽ vì không muốn làm lớn chuyện mà thêm xấu hổ , nên ỉm luôn .
D - Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói lái

Trước khi chết , Trạng Trình ( 1491-1585 , thời Lê Mạc ) có làm một tấm bia căn dặn con cháu khi nào chết nên đem tấm bia nầy chôn trước mộ , tấm bia được khắc chữ bên trong nhưng sơn bít bên ngoài . Sau đó chừng 100 năm , cha con ông Khả đem bò tới đó cho ăn mà lại cột nhằm mộ bia của Trạng . Hôm đó nhằm lúc trưa nắng , vì quá khát nước nên bầy bò đụng với nhau , chạy tán loạn làm gẫy tấm bia , sập xuống . Làng xã hay tin biết cha con ông Khả làm hư mồ mả của Trạng nên bắt về trị tội . Cha con ông Khả năn nỉ quá , xin cho đi vay bạc hỏi tiền làm lại tấm bia khác thường cho Trạng . Làng xã thấy tội nghiệp nên ưng thuận . Sau khi vay mượn và bán hết đồ đạc trong nhà thì chỉ được có một quan tám , nhưng được bao nhiêu cũng phải tiến hành sửa chữa . Đến chừng đập bia ra vừa tróc lớp ô dước bên ngoài thì thấy có hàng chữ như thế nầy : »Cha con thằng Khả làm ngã bia ta , Làng xã bắt đền tam quán » . Thì ra tam quán nói lái thành quan tám , đúng như lời tiên tri của ông Trạng .
Đ - Chuyện về ông Thủ Thiệm ( theo « Thủ Thiệm Đất Quảng » của Hoàng Quốc )
Thủ Thiệm người xứ Bình Định , xã An Hoà thuộc phủ Hà Đông sau đổi thành Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam . Ông sinh năm 1854 mất vào năm1920 tại quê nhà . Lúc nhỏ , Thủ Thiệm có tên là Nhơn , khi lớn lên đi học và đi thi , ông lấy tên chính thức là Thiệm . Theo phong tục xưa , Thủ sắc là người giữ các sắc phong của Vua ban cho làng , chức này thường được Hội đồng kỳ mục tín nhiệm giao cho các nhà Nho , hoặc ít ra cũng là người có chữ nghĩa thánh hiền ở trong làng đảm nhận . Có lẽ nhờ thông Hán học mà Thiệm được giao làm Thủ sắc của làng . Từ đó , người làng gọi ông là Thủ Thiệm , tức đem ghép chức Thủ sắc vào tên ông . Ông là người hoạt bát , nhanh nhẹn , thông minh , ứng đối tài tình nên có nhiều giai thoại để đời :
- Một đám cưới nọ tổ chức rất linh đình , hơn nữa số lễ vật của khách đến chúc mừng cũng để bù đắp vào các khoản chi phí , đó là chưa nói đến trường hợp gia chủ được lãi , nếu có chủ tâm tính toán trước . Thủ Thiệm ghét cay ghét đắng cái thói này . Tương truyền có một chuyện như vầy : Khi đi dự đám cưới , Thủ Thiệm mua một tấm lụa , viết lên đó ba chữ Hán thật to : »Miêu Bất Toạ » làm quà tặng đám cưới . Trong tiệc rượu , nhiều người nhờ Thủ Thiệm giải thích mấy chữ đó . Thủ Thiệm chép miệng : – Chà có rứa mà mấy ông cũng hỏi ! « Miêu » là mèo , « Bất » là không , « Toạ » là ngồi . « Miêu Bất Toạ » là mèo không ngồi , mà mèo không ngồi tức là mèo đứng . Các ông các bà mừng « Bách niên giai lão » , « Bách niên hạnh phúc » , còn tui thì « Mèo Đứng » cũng vậy mà thôi chứ có khác gì đâu . Nhìn thấy tấm lụa có chữ « Miêu Bất Toạ » treo trang trọng giữa phòng chính , ai cũng bấm bụng cười thầm .
- Có cậu con trai học dốt , thi trượt nhưng người cha đã bỏ tiền mua chức cửu phẩm văn giai , mở tiệc đãi cả làng mừng con trai đỗ đạt . Mừng cháu có thành tích , Thủ Thiệm cho câu đối Nôm :
« Cha ở nhà đại du
Con đi thi đậu tru »
Câu đối Nôm dán trên cột nhà khiến chủ nhà bật ra tiếng chửi đổng , còn khách khứa tủm tỉm cười thầm .
- Trong ngày đám tang vợ , Ông đề trên lá phướn vợ chữ khuynh địa có nghĩa là méo đất , và khóc vợ , rồi kể lể thờ dài : « Lúc thiếu « cái nớ » thì làm răng mà các dì giúp tui được , phải không các dì ? » khiến bà con chòm xóm « lỡ khóc , lỡ cười » với ông chủ nhà trong lúc tang ma bối rối .
E - « Méo Trời và Méo Đất »
Có một ông thợ hớt tóc goá vợ nên đã quan hệ « già nhân nghĩa , non vợ chồng » với một bà goá chồng . Có hai câu thơ ông tự « vịnh » về mối quan hệ của chính mình thực đáng ghi nhớ :
Yêu em từ độ méo trời ,
Khi nào méo đất mới rời em ra ( ! )
Yêu từ thuở « méo trời » đã hay , nhưng công khai thừa nhận sẽ hết yêu khi « méo đất » dẫu có hơi ác nhưng cách dùng từ thì quả thực tinh quái và thông minh hết chỗ chê .
G - Bài thơ Tác Hợp ( theo « Quảng Nam Nói Lái » của Huỳnh Ngọc Chiến )
Ở xứ Quảng Nam có ông Dương Quốc Thạnh , biệt hiệu Sơn Hồ , chuyên làm thơ nói lái theo thể Đường luật , đối nhau chan chát trong từng câu từng chữ . Có một cậu công nhân gốc Hội An làm việc ở Phú Ninh quan hệ với một cô thợ may ở địa phương mang bầu . Cậu về thú thực với gia đình và xin cưới gấp nhưng ba mẹ không chịu . Ông lại là người quen biết cả hai bên nên nhà gái nhờ ông thuyết phục bên nhà trai . Cuối cùng đám cưới vẫn được diễn ra với cô dâu mang bụng bầu 6 tháng ( ! ) . Không khí nặng nề giữa hai họ được giải toả hoàn toàn khi ông , với tư cách chủ hôn , đọc bài thơ này và nhà trai thực sự vui vẻ khi tuyên bố nhận con dâu .
Ai bàn chi chuyện đã an bài ,
Trai khiển đồng tình gái triển khai .
Cứ sợ cho nên thành cớ sự ,
Mai than mốt thở lỡ mang thai .
Tính từ ngày tháng vương tình tứ ,
Khai ổ bây giờ báo khổ ai .
Cưỡng chúng ông bà nghe cũng chướng ,
Thôi đành để chúng được thành đôi !
Bài thơ quả thật vô cùng sâu sắc và lý thú . Chuyện đã rồi thì thôi đừng bàn ra tán vô làm chi . Do chàng trai điều khiển nên cô gái mới phải chìu theo nhưng lỗi là do cô đồng tình nên cũng không thể trách ai . Vì quan hệ lén lút nên mới xảy ra « cớ sự » . Bây giờ đã sắp đến ngày sinh nở rồi , sắp đến lúc « khai ổ » rồi mà đám cưới không thành thì sẽ làm khổ cho cả hai bên nhà trai nhà gái lẫn hai người trong cuộc .
Thêm một chuyện khác là ở Quận Đại Lộc cũng thuộc Quảng Nam có anh Trần Hàn xấu trai , mặt thì rỗ , lại thêm chột hết một mắt , nhưng anh ta hát hay nổi tiếng . Nhưng « Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị » , vì khi anh xuống làng La Qua , quận Điện Bàn , gặp một cô gái hát chỉ hai câu mà không tài nào đối được , đành bỏ nghề hát , tuyệt tích giang hồ . Câu hát rằng :
Trần ai gặp lúc cơ hàn
Rổ đan mặt mốt , xuống ngàn đổi khoai .
Cái chữ khó của câu hát là chữ « Rổ » đan mặt mốt , nghĩa trắng là nghèo quá phải đan rổ tre long mốt để đựng khoai , nghĩa đen lại là mặt rỗ hoa mè lại đui một mắt ( mặt mốt nói lái là một mắt ) .
H - Tranh đấu bị trâu đánh
Ở một cơ quan nọ ( dĩ nhiên là cơ quan của Việt cộng ) có hội nghị họp chống tham nhũng cửa quyền . Gần kết thúc cuộc họp có một chị công nhân cũ của nhà máy đòi đứng lên phát biểu . Chị vừa nói vừa khóc : « Chúng tôi cũng muốn đấu tranh đòi quyền lợi lắm , nhưng như tôi đây , đấu tranh thì không biết tránh đâu , chưa kịp tránh đâu thì đã bị trâu đánh . Vì vậy bây giờ tôi đang thất nghiệp !
I - Một mẩu đối thoại :
A : Bên đó thế nào ?
B : Ồ , có đại phong .
A : Làm gì thì làm , nhớ thủ tục đầu tiên đấy nhé !
B : Vâng , biết rồi , khổ lắm nói mãi . À , anh thấy cô ấy thế nào ?
A : Người đẹp có đôi chân thảo bình nên hình chụp tôi lộng kiếng rồi !
B : Anh thì lúc nào cũng tếu , cũng vũ như cẩn vậy .
A : Thôi chào , chúc anh mạnh sự lòi ! ! !
( Chú thích : – Thảo bình , theo nghiã Hán Việt , thảo là cỏ , bình là bằng . Thảo bình là cỏ bằng . Cỏ bằng nói lái là cẳng bò . – Mạnh sự lòi nói lái là Mọi sự lành ) .
K - Bài thơ chú Phỉnh :
Tạp chí Xưa Nay số 298 ( 12/2007 ) , nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của Quách Tấn ( một nhà thơ sở trường Thơ Đường luật có tên trong « Thi nhân Việt Nam » ) có bài viết về tác giả bài thơ nói lái Chú Phỉnh nổi tiếng . Bài thơ nói lái như thế này :
Chú phỉnh tôi rồi Chính phủ ơi ,
Chú khiêng đi mất chiến khu rồi !
Thi đua sao cứ thua đi mãi ,
Kháng chiến như vầy khiến chán thôi !
Theo ông Quách Tạo , tác giả bài thơ nói lái này là Hồ Đệ , người đã gây dựng vào năm 1954 ở Quảng Nam tổ chức Hậu Quốc Dân Đảng phối hợp với nhóm các chức sắc Cao Đài do Cao Hữu Chí đứng đầu để chống Việt Minh và đã bị Toà án Liên khu V xử .
Không hiểu sao về sau người ta lại cứ nghĩ tác giả bài thơ nói lái này là nhà thơ Quách Tấn , có thể vì theo lý luận của hỏi-cung-viên Cao Kế : « Bài thơ Đường này anh không làm thì ai vô đây mà làm ? » .
Về chuyện này , năm 1991 , Quách Tấn , khi đó đã mù , nói với Quách Tạo : « Việc đời cũng lạ . Văn của mình thì họ chê nhưng lại đem chép hàng vài chục trang sách của mình rồi ký tên , xuất bản làm tác giả . Còn văn bá láp và phản động thì họ lại quả quyết đó là của mình để tìm cách buộc tội » .
Cùng với tư tưởng « phản động » nầy , trong bài « Nói lái » của Đỗ Thông Minh cũng có ghi bài thơ « chú Phỉnh » tuy có khác đi đôi chút :
Kháng chiến thôi rồi khiến chán ôi ,
Chiến khu để lúa chú khiên rồi !
Thi đua chi nữa thua đi quách ,
Anh hùng ? Chỉ tổ ung hành thôi !
...
Rõ ràng , chính vì bài thơ được phổ biến bằng cách truyền miệng nên tình trạng « tam sao thất bổn » là không thể tránh , mặc dù nội dung không thay đổi nhiều lắm .
L - Câu ró và Câu rạo :
Có anh chàng nọ trước kia để râu trông rất đẹp nhưng sau đó không biết lý do gì , cạo đi hàm râu của mình làm cho cô bạn gái nhận không ra . Chàng bèn làm thơ nói lái như vầy để than thở :
Xưa kia câu ró ngó xinh ,
Bây giờ câu rạo vô tình ngó lơ !
M - Nói lái để hẹn hò :
Trai gái miền Trung hẹn hò gặp gỡ nhau , sợ có người nghe nên tìm cách nói lái vẩn vơ về ruộng đồng , rơm rạ để hiểu ngầm với nhau .
Chàng nói bâng quơ : « bị môn , bị khoai , bị nưa » . Nàng chưa có cơ hội nên khất : « cau khô , trầu héo , tái môi . » hay « nón cụ , quai thao , tốt mối , xấu cuồng » hoặc « bưởi đỏ , cam sành , tốt múi » ...
Người qua đường không thể hiểu rằng bị nưa là bựa ni ( tức là bữa nay ) , tái môi là tối mai , tốt mối xấu cuồng là tối mốt xuống cầu , tối múi là túi mốt ( tức là tối mốt ) .
N - Đặt tên con :
Biết Tú Đạp là dân học thức nên có người quen nhờ đặt tên cho đứa con trai vừa mới sinh . Sau mấy ngày suy nghĩ , anh đề nghị người quen nên đặt tên con là Gia Bảo vì cái tên này nói lên rằng cả gia đình rất quí cậu bé .
Sau khi làm giấy khai sinh cho cậu bé được mấy ngày , ông bố đến gặp Tú Đạp giận dữ hỏi :
- Tại sao anh biết là hồi đó chúng tôi mua phải loại bao giả , hả ? Bao nội địa thì có khi bị rách , chớ làm gì có bao giả ! ! ! ( Gia Bảo nói lái là Bao giả ! )
O - Thuyền ta lái gió :
Biết nói lái , biết trò chơi chữ để thưởng thức cái của trời cho mà còn để tránh ... làm phiền người nghe vì lời thật mất lòng . Nhưng cũng có trường hơp ngược lại , người nói vô tình nói lái làm khổ cả người nói lẫn người nghe .
Số là , có một ông thầy giáo khi đọc đề thi về bài thơ « Đoàn thuyền đánh cá » của Huy Cận , thay vì đọc câu « Thuyền ta lái gió với buồm trăng » đã vô tư đọc thành « Thuyền ta ló giái với buồm trăng » , khiến cả lớp cười rần lên làm ông thầy sượng chết người . Ôi , tiếng Việt đáng yêu mà cũng đáng sợ quá !
P - Đít mấy lỗ :

Việt Nam thời chưa mở cửa , người dân sử dụng xe gắn máy phải mua xăng ở những cây xăng chui vì không có tiêu chuẩn để mua ở cửa hàng quốc doanh . Dấu hiệu của cây xăng chui là một cái chai đặt trên cục gạch nằm bên lề đường . Người khách dừng xe lại gần nơi đó sẽ có người đến chào hàng :
- Chành ao ! Đít mấy lỗ ?
Nếu là khách quen , sẽ trả lời đúng điệu :
- Chèm ao ! Đít hai lỗ .
Vậy là việc mua bán diễn ra một cách êm xuôi bằng những câu nói lái chuyên nghiệp ( Đó là : Chào anh , đổ mấy lít ? Chào em , đổ hai lít ! ) .
Nguyễn Văn Hiệp

Cụ Cao Xuân Vỹ : Một nhân chứng lịch sử của VNCH đã qua đời

Một nhân chứng lịch sử nữa ra đi

Hôm 11.10.2013, ông Cao Xuân Vỹ, một nhân chứng lịch sử của VNCH đã qua đời tại tư gia ở Orange County, California, hưởng thọ 93 tuổi.
Trước khi ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh và trong khi ông Diệm cầm quyền, có rất nhiều nhân vật nổi tiếng đã tham gia chính quyền của ông Điệm hay Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng. Chúng tôi xin kể tên một số nhân vật cốt cán:
Trong chính quyền: Nguyễn Ngọc Thơ, Trần Văn Đỗ, Vũ Văn Mẫu, Vũ Quốc Thông, Trần Trung Dung, Bùi Văn Thinh, Phạm Xuân Thái, Trần Hữu Phương, Trần Chánh Thành, Nguyễn Hữu Châu, Lương Trọng Tường, Nguyễn Dương Đôn, Trần Ngọc Liễn, Phạm Duy Khiêm, Hồ Thông Minh, Bùi Kiện Tín, Huỳnh Văn Nhiệm, v.v.
Trong ban lãnh đạo Đảng Cần Lao có trụ sở ở số 23 đường Phùng Khắc Khoan, Quận 1, Sài Gòn: Trần Văn Trai, Phạm Văn Nhu, Lý Trung Dung, Trần Kim Tuyến, Võ Như Nguyện, Lương Như Ủy, Lê Văn Đồng, Thái Mạnh Tiến, Huỳnh Văn Lang, Bùi Kiện Thành, Cao Xuân Vỹ, Đỗ La Lam, v.v.
Nhưng sau khi ông Điệm và ông Nhu bị giết, người ta chỉ thấy còn một người duy nhất tự nhận mình là đảng viên Đảng Cần Lao, tiếp tục công khai đứng ra tuyên dương không mệt mỏi những công trạng mà ông Diệm đã làm cho đất nước nhưng bị Mỹ giết vì không đồng ý để cho Mỹ đem quân vào miền Nam Việt Nam, người đó là ông Cao Xuân Vỹ. Vậy ông Cao Xuân Vỹ là ai?
VÀI NÉT VỀ ÔNG CAO XUÂN VỸ
 
Ông Cao Xuân Vỹ sinh ngày 1.2.1920 tại làng Thịnh Mỹ, xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông thuộc dòng dõi của ông Cao Xuân Dục (1843 – 1923) vốn là Thượng Thư Bộ Học (1905) dưới thời vua Thành Thái và Cơ Mật Viện Đại Thần - Phụ Chính Đại Thần dưới thời vua Duy Tân. Theo gia phả, ông Cao Xuân Dục sinh ông Cao Xuân Tiếu, ông Tiếu sinh ông Cao Xuân Tảo và ông Tảo sinh ông Cao Xuân Vỹ.
Lúc nhỏ ông Vỹ học trung học tại Nghệ An và đại học tại Hà Nội, nhưng học chưa xong thì năm 1945 Việt Minh cướp chính quyền, ông phải nghỉ học. Năm 1946, khi thương lượng với Pháp bất thành, ngày 18.12.1946 Việt Minh ra lệnh tản cư, rút khỏi thành phố Hà Nội. Ông Cao Xuân Vỹ đã cùng với 36 trí thức, sinh viên và thanh niên tản cư về Liên Khu IV gồm các tỉnh Thanh Hòa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông Vỹ cho biết những người cùng đi với ông lúc đó có các ông Trần Chánh Thành, Trần Hữu Dương, Hồ Đắc Điềm, Phạm Thành Vinh, Nguyễn Duy Quang, Phan Huy Xương (anh của bác sĩ Phan Huy Đán tức Phan Quang Đán), Tôn Thất Trạch v.v...
Đầu năm 1953, theo lệnh của Stalin và Mao Trạch Đông, Việt Minh bắt đầu thi hành chế độ giảm tô và cải cách ruộng đất, nhiều địa chủ và trí thức bị giết nên ông và nhiều người phải tìm cách trốn khỏi Liên Khu IV. Nhờ có người chú họ ở trong tổ chức Việt Minh cấp cho một giấy thông hành, ông trốn qua Phú Nhạc, Phát Diệm, nơi có khu an toàn của người Công Giáo. Từ đó ông ra Hà Nội và gặp lại các ông Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát… là những người đã từng hoạt động chung với ông thời 1945.
Cuối năm 1953 ông vào Sài Gòn gặp lại ông Trần Chánh Thành. Lúc đó ông Thành đang tập sự hành nghề luật sư với Luật Sư Trương Đình Du, làm tờ báo Xã Hội với ông Ngô Đình Nhu và tham gia Phong Trào Đoàn Kết Quốc Gia vì Hòa Bình do ông Nhu thành lập. Ông Thành đã giới thiệu ông với ông Nhu. 
Ngày 16.6.1954 Quốc Trưởng Bảo Đại ký Sắc Lệnh cử ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng thay ông Bửu Lộc. Ngày 25.6.1954 ông Diệm về nước chấp chánh. Ngày 6.7.1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ và ngày 7.7.1954 bắt đầu nhận chức.
Tháng 8 năm 1954, Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng được chính thức thành lập. Ông Cao Xuân Vỹ gia nhập tổ chức này. Ban lãnh đạo Đảng có 5 phòng. Ông Vỹ tham gia vào Phòng 4 đặc trách về kinh tài. Phòng 4 có 5 người là các ông Huỳnh Văn Lang, Bùi Kiện Thành, Cao Xuân Vỹ và Đỗ La Lam.
Trước năm 1945, ông Cao Xuân Vỹ có dự một khóa huấn luyện về thể dục và thể thao ở Phan Thiết do Tổng Cục Thể Dục, Thể Thao và Thanh Niên tổ chức. Đây là tổ chức thuộc quyền điều hành của Thiếu Tá Maurice Ducoroy, Tổng Ủy Viên Thể Thao và Thanh Niên tại Đông Dương của Pháp. Do đó, năm 1958 ông Diệm đã cử ông Vỹ đi làm Tổng Giám Đốc Thanh Niên và Thể Thao trực thuộc Bộ Lao Động và Thanh Niên do ông Nguyễn Tăng Nguyên làm Tổng Trưởng. Khi ông Nhu thành lập Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa, ông Nhu làm Thủ Lãnh, còn ông Cao Xuân Vỹ làm Phó Thủ Lãnh kiêm Trưởng Đoàn. Trong thực tế, việc tổ chức và điều hành Thanh Niên Cộng Hòa đều do ông Vỹ.
MỘT NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ
 
Thời ông Ngô Đình Diệm cầm quyền, tôi còn là một sinh viên nên không biết được chính xác những chuyện gì đã thật sự xảy ra bên trong chính quyền. Nhưng phương pháp luật học và kinh nghiệm trong ngành luật đã chỉ cho tôi cách thức truy tầm và đánh giá các tài liệu lịch sử.
Bộ “Foreign Relations of the United States” (FRUS) do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lần lượt ấn hành gồm mấy chục cuốn, công bố hầu hết các văn kiện liên hệ đến cuộc chiến Việt Nam từ 1945 đến 1967 là những tài liệu chính đã giúp chúng ta nắm vững chính sách từng giai đoạn của Hoa Kỳ và các sự việc đã xảy ra. Hàng chục ngàn trang tài liệu được giải mã tiếp theo đã giúp làm sáng tỏ hơn nhiều bí ấn của lịch sử.
Căn cứ vào các tài liệu này, chúng tôi bắt đầu phỏng vấn các nhân chứng xem những điều mô tả trong sử liệu có thật sự đúng như vậy không, những chuyện gì sử liệu chưa nói hết hay nói không đúng, v.v. Ông Cao Xuân Vỹ là một trong những người giúp tôi rất nhiều trong việc tìm hiểu các biến cố dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Ròng rã trong 15 năm, tôi phải lui tới gặp ông nhiều lần để làm sáng tỏ một số vấn đề. Có những vấn đề ông không nắm vững, ông đã giới thiệu các nhân chứng khác cho tôi phỏng vấn.
Từ việc ông Điệm được Bảo Đại đưa về chấp chánh, đến việc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ quyết định Pháp phải rời khỏi miền Nam, truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp, thành lập một chế độ độc đảng như Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Đài Loan ở miền Nam Việt Nam để chống Cộng Sản… đến việc giết ông Diệm để đổ quân vào miền Nam, đều được đem ra thảo luận. Rất nhiều sự kiện do sử liệu tiết lộ hoàn hoán khác với những gì thường được viết trên báo chí hay sách vở.
Có hai câu chuyện do ông Vỹ tiết lộ đã gây nhiều tranh luận, đó là việc ông Ngô Đình Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy và việc ông Ngô Đình Diệm rời khỏi Dinh Gia Long tối 1.11.1963. Chúng tôi xin nói qua hai vấn đề này.
CHUYỆN ÔNG NHU GẶP PHẠM HÙNG
Chuyện ông Ngô Đình Nhu gặp Phạm Hùng tại Bình Tuy được Tướng Trần Văn Đôn viết trong cuốn “Việt Nam nhân chứng” xuất bản năm 1989. Nhưng Tướng Đôn viết sai cả ngày tháng lẫn sự kiện vì ông chỉ “nghe nói”. Chuyện này được ông Cao Xuân Vỹ kể lại cho ông Minh Võ nghe trong cuộc phỏng vấn ngày 14.6.2012 khi đầu óc ông không còn minh mẫn vì tuổi già.
Cuối năm 1962, Hà Nội được tin Mỹ sẽ can thiệp quân sự vào Việt Nam nên tìm cách thỏa hiệp với chính phủ Ngô Đình Diệm để ngăn chận sự can thiệp này. Diễn biến của cuộc vận động này đã được nói rất rõ trong cuốn “The War of The Vanquished” của Mieczyslaw Maneli và cuốn “A Death in November. The Struggle for Indochina” của bà Ellen J. Hammer, nhất là trong phúc trình ngày 26.9.1963 của CIA. Căn cứ vào các tài liệu đó, chúng tôi có phỏng vấn ông Cao Xuân Vỹ về việc ông tháp tùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy. Câu chuyện ông kể lại không gióng những gì đang được nhóm Giao Điểm lưu truyền.
Chính ông Mieczyslaw Maneli, Trưởng Đoàn Ba Lan trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến là người làm trung gian giữa hai bên. Người đứng ra thúc đẩy chuyện này là Tổng Thống De Gaule qua Đại Sứ Lalouette của Pháp ở Sài Gòn. Nhưng ông Nhu biết rõ âm mưu của Hà Nội, nên  cuối cùng ông nói rằng “Người Mỹ là người duy nhất trên trái đất dám giúp Nam Việt Nam” (The Americam are the only people on the earth who dare to help South Vietnam) và ông từ chối đề nghị của Tổng Thống De Gaule.
Đại Sứ Lalouette rất thất vọng khi nghe tin này. Vì đoán chắc Mỹ sắp loại bỏ ông Diệm và ông Nhu, ông đã nói với ông Maneli:
“Nếu ông ta (ông Nhu) không từ bỏ những ảo ảnh này, ông ta sẽ mất. Đó là một sai lầm thê thảm.”
(If he does not rid himself of these illusions, he will be lost. It is a tragic mistake.)
Đại Sứ Lalouette đã tiên đoán rất chính xác. Ông Ngô Đình Nhu vì không còn con đường nào khác là bám theo Mỹ nhưng lại muốn bảo vệ chủ quyền quốc gia nên đã bị giết.
CHUYỆN RỜI KHỎI DINH GIA LONG
Ông Vỹ kể lại khi cuộc giao tranh bắt đầu, ông Nhu khuyên ông Diệm nên rời khỏi Dinh Gia Long một thời gian, nhưng ông Diệm nói: “Tổng Thống không có đi trốn”. Bổng ông Cabot Lodge gọi đến nói với ông Diệm rằng ông lo cho sự an toàn của Tổng Thống và nói nếu ông có thể làm gì xin cứ gọi ông. Ông Diệm liền trả lời: “Tôi đang cố gắng tái lập trật tự”.
Sau khi nói chuyện với ông Cabot Lodge, ông Diệm cho gọi ông Nhu vào và bảo: “Đi thì đi!”
Chuyện xẩy ra quá bất ngờ nên ông Cao Xuân Vỹ trở tay không kịp. Ông liền gọi điện thoại cho Trung Tá Nguyễn Hữu Phước, Phó Đô Trưởng Nội An, bảo đem đến Tòa Đô Chánh ngay một chiếc xe. Trung Tá Phước tưởng ông Vỹ cần xe chờ đồ nên cho Đại Úy Trang Khánh Hưng lái một chiếc xe fourgonnette đến. Ông Vỹ bảo tắt máy xe rồi cùng Đại Úy Hưng đẩy băng qua đường Pasteur, vào cửa bên hông của Dinh Gia Long để tránh sự chú ý của các binh sĩ trong dinh.
Ông Diệm bảo ông già Ẩn lên lấy chiếc cặp cho ông. Khi đi ra xe, ông Diệm còn lầu bầu: “ĐI NHƯ RI LÀ MẤT NƯỚC!”. Không ngờ lời nói đó đã trở thành một lời tiên tri!
Ông Vỹ bàn với Trung Tá Phước về nơi đầu tiên ông Diệm và ông Nhu sẽ đến là Trung Tâm Sinh Hoạt Thanh Niên Quận 5 (khu Đại Thế Giới cũ) ở Chợ Lớn. Trung Tá Phước liền báo tin cho ông Vũ Tiến Tuân, Đô Trưởng Sài Gòn biết. Nhưng ông Tuân thấy ông Diệm không thể ở lâu nơi đó được nên gọi ông Mã Tuyên, Phó Thủ Lãnh Thanh Niên Cộng Hoà Quận 5 và đề nghị cho ông Diệm và ông Nhu tạm ở nhà ông Mã Tuyên. Ông Tuyên đồng ý ngay.
Đại Úy Thọ cho biết: Tổng Thống Diệm, ông Nhu, Đại Úy Bằng, ông Cao Xuân Vỹ và anh ta chui ra khỏi hầm. Theo sau còn có Đại Úy Lê Châu Lộc và Đại Úy Lê Công Hoàn. Tất cả đi ra mặt tiền đường Gia Long. Một chiếc xe “deux cheveaux” loại fourgonnette đã đậu sẵn. Đại Úy Thọ lên ngồi ghế cạnh tài xế. Ông Cao Xuân Vỹ mở cửa sau. Tổng Thống Diệm lên xe trước, ngồi xuống sàn phía bên tài xế, ông Nhu lên sau và ngồi xuống sàn phía bên Đại Úy Thọ.
Ông Cao Xuân Vỹ cho biết vì thấy xe không có ghế ngồi, ông đã vội chạy vào Dinh lấy cái nệm, nhưng khi ông trở ra thì xe đã chạy mất rồi. Lúc đó là khoảng 7 giờ 30 tối. Như vậy trên xe chỉ có 4 người: Ông Diệm, ông Nhu, tài xế và Đại Úy Thọ.
Xe ra ngả đường Pasteur, nhưng vì đường Pasteur một chiều không thể chạy ngược xuống đường Lê Lợi được, nên những người đi theo sau xe phải đẩy xe ngang qua đường Pasteur để vào Toà Đô Chánh bằng cửa bên hông, rồi từ đó tài xế lái xe ra cửa trước ở đường Lê Thánh Tôn và quẹo vào đường Nguyễn Huệ phía trước rạp Cinéma Rex, sau đó quẹo phải vào đường Lê Lợi. Xe chạy về phía đường Trần Hưng Đạo, đến đường Đồng Khánh rồi vào Trung Tâm Sinh Hoạt Thanh Niên Quận 5, nơi đang đặt bộ tư lệnh tiền phương của Trung Tá Phước. Theo sau xe Tổng Thống là một chiếc xe Dodge 4x4, chở các dụng cụ truyền tin để Thổng Thông có thể liên lạc với những nơi khác.
Câu chuyện còn dài, chúng tôi sẽ kể vào một dịp khác.
NGUYỆN VỌNG CHƯA THÀNH
Ông Vỹ cho biết sau khi ông Diệm bị giết, Tướng Mai Hữu Xuân đã ra lệnh bắt ông và những người khác có liên hệ đến chế độ Ngô Đình Diêm. Ông bị tra tấn rất dã man, nhưng họ không hỏi gì về những công việc đã làm, mà chỉ hỏi tiền bạc đang được cất giữ ở đâu. Họ cho ông biết muốn được thả ra phải nộp 20 triệu. Ông không có tiền nộp nên bị giam đến năm 1967, khi cuộc bạo loạn của Phật Giáo bị dẹp tan, ông và nhiều người khác mới được thả. Hầu hết những người khác cũng bị như ông, ngoại trừ những người chạy tiến như Nguyễn Cao Thăng, Bùi Kiện Tín, v.v.
Ra hải ngoại, ông Vỹ lập Hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại và làm Chủ Tịch cho đến ngày ông qua đời. Năm nào vào đầu tháng 11, ông cũng tổ chức lễ tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm và các chiến sĩ quốc gia vị quốc vong thân.
Mặc dầu là “cận thần” của nhà Ngô, ông Cao Xuân Vỹ đồng ý với chúng tôi rằng bây giờ những tài liệu lịch sử đã được công bố hết rồi nên những chiến dịch chống Ngô hay bênh Ngô đều trở thành vô nghĩa. Công việc bây giờ là phải làm sáng tỏ lịch sử: Tìm hiểu xem người Mỹ đã xây dựng rồi phá sập chề độ Ngô Đình Diệm như thế nào để rút kinh nghiệm lịch sử. Ông mong tôi xuất bản một tập sách viết theo đường lối đó. Nhưng rất tiếc tập sách chưa ra mắt thì ông đã ra đi.
Chân thật nghĩ là chân thật, phi chân biết là phi chân, cứ tư duy một cách đứng đắn, người như thế mau đạt đến chân thật.”
Xin dùng lời kinh Pháp Cú này để tiễn đưa ông.
Ngày 17.10.2013
Lữ Giang

ÔNG TƯỚNG HUYỀN THOẠI: Bắt sinh tiền phải sinh tiền, cho ra đi mới được quyền ra đi.



     Nàng Kiều đẹp thì đẹp thật: khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang…… ai nhìn thấy mà không mê? Thế nhưng, “chữ tài liền với chữ tai một vần.” Cụ Nguyễn Du trình bầy lý thuyết “tài mệnh tương đố” của cụ qua cuộc đời truân chuyên của nàng Kiều quả thật là khắc nghiệt:
“Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”
Con Tạo thật là trớ trêu và ác nghiệt! Nhưng đấy là chuyện của những xã hội duy linh, tin có Trời Phật. Xã hội duy vật thì lại khác.

     Trong xã hội xã hội chủ nghĩa không có Con Tạo (vô thần) thì đảng thay quyền Con Tạo nắm giữ lẽ sống, chết của con người. Dù con người là một ông đại tướng quyền uy cũng không nằm ngoài qui luật của đảng. Hình như từ lâu lắm, có khi cả đến hơn một năm rồi, ông Võ Nguyên Giáp bệnh liệt đã trở thành như một cái cây trồng ngoài vườn. Ông sống bằng cách truyền chất dinh dưỡng vào trong cơ thể. Nghĩa là bộ não đã chết hẳn, ông sống được qua việc chuyền oxy vào phổi và chất dinh dưỡng vào mạch máu. Ông phải sống kiếp thực vật như thế vì đảng thấy chưa thuận tiện để cho ông chết. Bây giờ mới là lúc ngày lành tháng tốt đảng cho phép ông đại tướng được ra đi để gặp thằng bác của ông và mấy gã râu xồm, mắt xanh, mũi lõ, thầy của những tên cộng sản như ông. Võ tướng quân là người tuyệt đối trung thành tuân theo mọi mệnh lệnh của đảng cho dù trong việc sống, chết của chính mình. Xem như vậy, riêng với tướng Giáp thì, đảng:
bắt sinh tiền phải sinh tiền,
cho ra đi mới được quyền ra đi.

     Một con nhà tướng thiếu ý chí và dũng khí như thế, điều khiến người ta ngạc nhiên là làm sao lại gọi là tướng tài. Ông tướng có tự chủ và tự quyết được cái gì bao giờ đâu, kể cả sự sống, cái chết của mình. Nhất nhất cái gì cũng đều do người khác quyết định cho ông cả. Cả cái tên Nguyên Giáp của ông xem chừng như cũng trôi dạt từ đâu lại. Nên đổi lại là Banh Giáp có lẽ thích hợp hơn.

     Tướng quân Banh Giáp chết đi để lại trần thế cả núi lời khen tiếng chê. Bọn báo chí Pháp Mỹ vốn ưa khoa trương và thích giật gân, viết về ông khá nhiều. Có anh gọi ông là tướng huyền thoại. Chữ huyền thoại cũng là một vấn đề đáng nói, bởi vì chữ nghĩa VN nhiều khi hơi lắt léo. Xin kể ra một sự lắt léo điển hình để làm tin kẻo có kẻ lại bảo người viết hồ đồ. Này nhá, mấy vị thông luật pháp người ta gọi là luật gia. Người bay vào không gian để khám phá vũ trụ gọi là phi hành gia. Nhà soạn kịch gọi là kịch tác gia. Người giầu có, quyền quí được gọi là đại gia…Thế nhưng, người viết nhạc mà gọi là nhạc gia thì đổ nợ là cái chắc. Giả sử có anh chàng nào đó tự nhiên gọi ông Phạm Duy là nhạc gia thì rất có thể Thái Hiền, Thái Thảo sẽ vả cho gẫy răng không chừng. Nhà soạn nhạc gọi là nhạc sĩ mới đúng, vì nhạc gia có nghĩa là ông bà già vợ. Chữ nghĩa lắt léo là thế. Anh nhà báo Mỹ gọi Võ đại tướng là huyền thoại không biết có ý đồ gì. Với từ ngữ huyền thoại đầy hào nhoáng và bóng bẩy, không hiểu anh ta có ý khen thật hay khen đểu ông tướng? Nếu anh là phe ta thì có thể hiểu là khen thiệt. Nhưng nếu anh ta là người của một thế lực thù địch nào đó thì ắt hẳn là phải có ý đồ. Chữ huyền thoại tiếng Mỹ là legend, nghĩa là chuyện đồn thổi, chưa chắc đã là thật. Mà quả thật, cuộc đời binh nghiệp của ông Giáp thêu dệt bằng đủ mọi thứ huyền thoại. Xin kể chơi vài ba chuyện làm thí dụ.

-  Trận Điện Biên Phủ, ông nằm trong núi cách xa mặt trận 3,4 chục cây số, không pháo nào bắn tới, để điều binh khiển tướng. Tác chiến đã có mấy gã cố vấn Tầu khựa ra kế hoạch và chỉ đạo. Quân lương có Đinh Đức Thiện lo. Tướng Navarre của Pháp chẳng ngu gì kéo đại quân vào cái lòng chảo Điện Biên hẻo lánh cho ông Giáp làm thịt, mà là muốn thẩy ra một cái mồi nhử Việt Minh bu lại để dùng không quân tiêu diệt một mẻ cho đã. Chỉ vì Eisenhower không cho máy bay đến dội bom như đã hứa nên De Castries mới thua trận và bị bắt. Thế là Giáp nổi tiếng thế giới. Sách báo của lũ truyền thông lề phải không hề đả động đế yếu tố Tầu khựa và chi tiết Mỹ thất hứa trong chiến dịch Điện Biên, nên vinh quang một mình ông tướng ôm trọn. Nước Pháp cay Mỹ kể từ đó trở đi. Và đến nay Tầu khựa bật mí ra phần nào người ta mới biết được.
-  Trận Tết Mậu Thân 1968, đến lúc biết sắp thua, Giáp bỏ đi Đông Âu chữa bệnh. Trách nhiệm đứa khác chịu. Cái hào quang “tướng bách chiến bách thắng” của ông vẫn nguyên si, không hề bị hư hao, sứt mẻ.
-  Chiến dịch có tên Hồ Chí Minh năm 1975 thì ông biết rõ quá mà, Mỹ cố tình thua để giết chết chế độ VNCH và tiêu diệt QLVNCH, chứ có phải ông thắng đâu. Miền Nam thua. Hào quang trên đầu ông tự nhiên lại ngời sáng thêm. Cho dù là một chiến thắng giả tạo, nhưng thế giới vẫn ghi nhận sự oanh liệt của cái huyền thoại bất chiến tự nhiên thành tài tình của ông Giáp.

     Vài ba thí dụ thế thôi thiết tưởng cũng đủ để bạn đọc đánh giá được lời khen của anh nhà báo Mỹ là khen thực hay khen đểu.

     Người dân Việt, nạn nhân của đoàn quân đánh thuê của ông Giáp phê phán ông đã đành rồi, nhưng cũng không thiếu người lính dưới quyền ông đã bầy tỏ nỗi uất ức vì chiến thuật nướng người không thương tiếc của ông tướng. Nhất tướng công thành vạn cốt khô chỉ là chuyện bình thường trong binh nghiệp. Trường hợp của ông, vì muốn trở thành một danh tướng, ông đã nướng hàng triệu người trong các trận đánh của ông. Từng thế hệ VN trẻ được dùng để đốt lên ngọn lửa thắp sáng cho cái hào quang của ông, chúng không phải con ông, ông không đau xót cũng là đúng. Con cái ông còn phải bận đi du học kia mà. Điều khôi hài là có cả mấy anh trí thức chồn lùi và một anh cựu đại sứ ta khi nghe tin ông chết, cũng nước mắt ngắn, nước mắt dài để tỏ lòng thương tiếc ông. Chúng khóc ông như cha chết, mẹ chết không bằng. Bọn vong thân và vong mạng này không tiếc lời ca tụng tài cán của ông. Tài của ông tướng chúng tôi đã kẻ sơ qua ở trên rồi.

     Thôi cũng được đi. Tự do mà! Trong tang lễ của bố, con trai trưởng của Võ đại tướng là Võ Điện Biên cám ơn khách khứa, nói rõ rằng: quí vị ca tụng bố cháu là ca tụng bác hồ và các đồng chí lãnh đạo đảng đấy. Không sai. Văn từ chính thức của cái đảng cướp chả viết là gì: …đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc của bác hồ.  Sự thể đúng với câu cách ngôn của Tây: Tel maitre tel valet (thầy nào trò nấy.) Bởi thế, bất cứ cái gì gọi là công trạng của bố Giáp cũng đều là do công lao của thầy Hồ của bố cháu Điện Biên mà ra cả. Căn cứ vào lời minh xác của Võ Điện Biên, nếu có ông triết gia nào làm một phép suy luận syllogism sau đây thì bộ mặt thật của mấy anh trí thức tỵ nạn chồn lùi ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản sẽ lòi chành ra ngay:
-  Tiền đề:   Ca tụng Võ Nguyên Giáp là ca tụng bác hồ và ca tụng lãnh đạo đảng.
-  Phản đề:  ĐS Cu Đẹp, TS Chui Ngược, BS Thích Múa ca tụng Võ Nguyên Giáp.
-  Tổng đề:  Ergo, Cu Đẹp, Chui Ngược, và Thích Múa ca tụng hồ chó đẻ và bọn đầu gấu tập đoàn Việt gian bán nước.

     Đúng không? Cãi vào đâu được?
     Người dân VN rất đúng khi kết tội tướng Giáp đẩy thanh niên VN vào hai cuộc chiến gọi là chống Pháp, chống Mỹ. Cả hai cuộc chiến chẳng đáng tí nào và Giáp chẳng có công cán gì. Thật vậy, đến nay thì rõ ràng là Mỹ không phải là anh đế quốc đi chiếm đất, và Pháp thì không cần đánh cũng phải trả đất đai lại cho VN. Nhìn các thuộc địa của Pháp thì biết. Quân đội của Giáp đánh nhân dân VN để chiếm cứ đất nước ta là đánh cho quan thầy Liên Sô và cho Tầu cộng. Cái này thì rõ như ban ngày rồi. Xếp của Giáp là thằng TBT Lê Duẫn khẳng định không úp mở rằng: Ta đánh là đánh cho Liên Sô, cho Trung Quốc. Giáp là tướng cầm quân đánh trận theo lệnh của Lê Duẫn. Vậy chứ không phải Giáp đánh cho Nga, cho Tầu khựa thì là đánh cho ai? Giáp nắm quân trong tay mà. Nếu Lê Duẫn nói láo tại sao Giáp không đính chính? Lại là thiếu cái dũng của con nhà tướng nữa rồi.

     Bọn đàn em của Giáp trong nước, những đứa đang được chia phần lợi lộc thì ngậm tăm trước cái chết của ông thầy vì sợ mất miếng ăn. Những tên bị đá ra rìa, mất phần ăn thì tức tối vô cùng, tố cáo đảng tàn nhẫn. Chỉ một chữ “anh hùng” nhỏ xíu trong bài điếu văn thôi mà đảng cũng bủn xỉn hà tiện đối với đại tướng thì có đáng ghét không kia chứ! Một người có công lớn đối với đảng, với cả cái tập đoàn Việt gian bán nước kia mà. Kể cũng tội nghiệp cho Giáp. Nhưng đây còn là điều rất đáng nói về ông tướng huyền thoại này. Tướng Giáp có xứng đáng được gọi là anh hùng không là một vấn đề rất nên bàn.

     Người viết không biết trong các từ điển, người ta định nghĩa chữ Anh Hùng ra sao, nhưng biết có một em học trò tiểu học miền Bắc xã hội chủ nghĩa định nghĩa chữ anh hùng khá lý thú và chính xác dễ sợ. Xin kể sơ qua. Trong một đoản văn từ trong nước gởi ra có tiêu đề là “Văn Hóa Đéo,” cô giáo hỏi một em học trò của mình anh hùng là gì. Em trả lời tout de suite, không suy nghĩ: Là đéo sợ.

     Rất đúng. Anh hùng là một con người dũng cảm, không sợ bất cứ cái gì. Không sợ chết, không sợ khổ, sợ khó, không sợ bọn cường quyền, không sợ kẻ tiểu nhân v.v. như thế là anh hùng. Với định nghĩa này thì tướng Giáp không thể gọi là anh hùng, vì như người ta thấy, ông Giáp cái gì cũng sợ. Suốt cuộc đời ông là một nỗi lo sợ triền miên bất tận. Cầm quân nhưng ông ở cách xa mặt trận súng bắn không tới vì sợ chết. Chưa nghe ai nói tướng Giáp can đảm xông pha trước hòn tên mũi đạn cùng với lính tráng bao giờ. Khi Việt Minh mới nổi lên, Giáp được lệnh Hồ truy nã để thủ tiêu những người yêu nước không phải Việt Minh. Giáp là một hung thần rất tận tụy với công tác này vì sợ bị Hồ khiển trách. Đàn em Giáp còn ca tụng ông là một nhà văn hóa, nhưng khi vụ Nhân Văn Giai Phẩm xẩy ra, trong đó có người là đồng chí của ông bị kết án phản động, Giáp tránh họ như tránh hủi. Ông sợ cũng bị kết án phản động như họ. Trong đợt Hồ thanh lọc quân đội gọi là rèn cán chỉnh quân, rất nhiều đàn em, đồng chí, và thuộc hạ dưới quyền của Giáp bị khai trừ đảng tịch, bị mất chức, bị tù đầy, tướng Giáp cũng không hề nói lên được nửa lời công đạo, dù biết họ vô tội. Ông sợ mất địa vị như họ. Lê Duẫn thua kém ông về tất cả mọi mặt, nhưng khi làm TBT, Duẫn khai trừ ông ra khỏi bộ chính trị, giáng xuống cho đi làm công tác cai đẻ cho phụ nữ. Giáp cúi đầu vâng lệnh không nửa lời than trách. Ông sợ Lê Duẫn hơn sợ cọp. Bọn Mười-Anh hợp đồng cho đàn em tố cáo Giáp là con nuôi của tên cò mật thám Pháp, làm tay sai cho CIA. Ông im lặng chịu đòn, không dám phân trần, thanh minh một tiếng. Ông tướng sợ bị số đông đè ông chết non.

     Còn nhiều lắm, nhưng thế thiết tưởng đã đủ để kết luận rằng Võ Nguyên Giáp đã thực sự banh giáp, không có gì đáng gọi là anh hùng cả. Trong chế độ VGCS toàn trị, hầu như mọi người đều biết sợ để được sống. Nhà Văn Nguyễn Tuân tác giả Vang Bóng Một Thời, rất biết sợ. Nhạc sĩ Văn Cao tác giả bản Tiến Quân Ca, quốc ca của VGCS, cũng biết sợ. TGM Nguyễn Văn Bình tổng giáo phận Saigon, thế mà cũng sợ muốn té đái. Ở tướng Giáp, người ta thương hại ông, cho là ông NHẪN chứ không phải SỢ. Mút đường của chữ Nhẫn là chữ Hèn. Cuộc đời của tướng Giáp đã đi đến điểm cuối cùng của chữ Nhẫn. Nhiều người cho là ông hèn, hơn nữa còn quá hèn, bởi vì ông là tướng Tổng Tư Lệnh của một quân đội vốn tự hào là thắng Pháp, thắng Mỹ. Một khai quốc công thần như Võ Nguyên Giáp, với các công lao cống hiến cho Hồ và cho đảng như thế, đáng lẽ ra phải đứng trên cả Phạm Văn Đồng và Trường Chinh, nhưng Hồ chỉ cho Giáp đứng cao nhất là hàng thứ 5 trong thứ tự đảng cấp, chức cao nhất là phó thủ tướng trong chính quyền.

     Nếu phong tướng Giáp tước hiệu anh hùng thì có lẽ cũng thuộc loại anh hùng rơm trong chế độ VGCS. Một chị phụ nữ ngửi kít không biết thúi, ngày ngày lấy tay khuấy kít để làm phân bón ruộng. Thế là hợp tác xã phong chị là anh hùng: anh hùng lao động. Một thằng bé nhân lúc tối trời lén mò vô chỗ Tây đóng quân ăn cắp đồ bị Tây bắn chết được phong là anh hùng chống Pháp. Ngày còn bé tí teo, tôi rất ngường mộ anh hùng Kim Đồng và thuộc lòng bài hát Kim Đồng: … Anh luôn luôn tiến tiến tiến đi theo dò quân xâm lăng. Anh xông pha chốn khắp chốn đi tuyên truyền trong dân quân. Kim Đồng tên anh muôn thuở không mờ. Kim Đồng, tên anh lừng lẫy chiến khu.

     Chính vì chế độ sản sinh ra quá nhiều anh hùng nên mới có chữ anh hùng rơm. Nghĩa là anh hùng nhiều như rơm rác không kể xiết. Chuyện kể rằng có lần Fidel Castro sang thăm VN. Hồ dẫn Castro lên Phú Thọ thăm một hợp tác xã trà, có dẫn Nông Thị Xuân theo như một đệ nhất phu nhân để có chất tươi. Castro được giới thiệu đủ loại anh hùng lao động của hợp tác xã. Anh râu xồm hứng chí buột miệng khen: VN nhiều anh hùng quá, tôi sang đây bước ra ngõ là gặp anh hùng. Nông Thị Xuân vốn đang bực bội vì xin lên chức chánh cung hoàng hậu mà Hồ không cho, tiện dịp bèn hạ Hồ một quả phạt đền trước mặt Castro: Toàn anh hùng rơm cả đấy ông ơi. Castro là tay già chính trị và khôn khéo, hắn rửa mặt cho Hồ: Thưa phu nhân, theo thiển kiến thì rơm hay rạ gì không cần biết, miễn anh hùng xã hội chủ nghĩa là tốt rồi. Cuba chúng tôi không được như các bạn. Vậy mà về sau, bọn Tầu khựa có tính ưa nhái đồ, Đặng Tiểu Bình thuổng câu này của Fidel Castro, biến chế thành một chủ trương trong việc kết nạp đảng viên của đảng CS Tầu khựa: mèo đen, mèo trắng không quan trọng, miễn là mèo biết bắt chuột. Có nghĩa là: tốt xấu gì không cần biết, miễn là rành việc cướp của, giết người là OK.


San Jose ngày 19-10-2013
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

TB. Tướng Giáp nổi danh chống Pháp, chống Mỹ và chống tham nhũng. Việc chống tham nhũng của ông cũng hào hùng lắm, nhưng đáng tiếc, rất ít được người ta chú ý. Chúng tôi có viết về việc chống tham nhũng của tướng Giáp trong một câu truyện có tên là “Chuyện Nước Xích Quỉ” trích trong cuốn truyện ngắn mới xuất bản của chúng tôi “Đồng Chí Tư Lù.’ Chúng tôi có attach kèm theo bài viết này. Nếu có thì giờ, xin mời quí bạn đọc mở xem. Xin thành thực cám ơn.

Bài Xem Nhiều