We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 22 October 2013

Mỹ Yên, vùng đất chưa yên!



Mỹ Yên,
Một vùng đất vẫn bình Yên
Một hôm giặc cộng đến,
Mỹ Yên thành vùng đất chẳng yên.


Trong bài “Cồn Dầu, nắng mới vươn lên” vào tháng 10-2011, tôi có viết là: GM Nguyễn thái Hợp đã không nhân danh GM Vinh, không nhân danh HĐGMVN. Nhưng nhân danh một người dân, là GM tại Vinh, là chủ tịch UBCL / HB trực thuộc HĐGMVN mà lên tiếng. Trong sự kiện lên tiếng, Ngài không có ý bênh vực cho giáo dân Cồn Dầu, nhưng là đặt ra vấn đề Công Lý xã hội với nhà nước trong việc hành xử trách nhiệm của họ với đồng bào Việt Nam, mà Cồn Dầu, chỉ là một thí dụ điển hình! Cũng như trước đó, khi giáo dân và TGM Hà Nội đi đòi lại Công Lý thì nào có phải là đi đòi đất, đòi Công Lý và Sự Thật về cho một cá nhân nào đâu. Có chăng là vì quyền sở hữu của người dân mà họ dấn thân!

Sụ việc hiển nhiên là thế. Văn thư chẳng có gì biểu tỏ cho mình. Trái lại, chỉ là những lý lẽ đoan chính như là một đề nghị, một ý kiến, gởi đến phía nhà lãnh đạo hơn là một bài trong giáo khoa thư. Thẳng thắn đề nghị chính quyền địa phương và Trung ương, nên theo nguyên tắc hành xử trong nền Công Lý của Con Người trong các xã hội nhân bản, tiến bộ, để đem lại phúc lợi cho người dân. Bởi vì, nhà nước có được chính quyền trên cả nước hôm nay, dù chiếm bằng bạo lực hay bằng, “dân chủ kiểu áp đặt” của mình thì trong đó người dân Việt vẫn cần có quyền để sống và sống với phẩm giá làm người. Họ không phải là “tập đoàn” nô lệ mà là những con người, là những phần tử ưu tú Việt Nam! Chính nhà nước đã nhiều lần, ngay trong bản văn gọi là Hiến Pháp, cũng khẳng định nhân dân là những người làm chủ đất nước. Phần các cán bộ, đảng viên chỉ là những đầy tớ! Như thế, đã là thành phần của dân tộc, gánh chung một gánh giang sơn Việt Nam thì dù là quan, là quân hay dân đều phải tôn trọng quyền làm người và cuộc sống của nhau.

Điều ấy ai cũng biết. Bởi trong tương quan về nhân sinh, cổ ngữ cũng đã chỉ ra rằng “Khi vua quan coi dân như cỏ rác, người dân sẽ coi vua quan như kẻ thù” (MT). Dĩ nhiên, không ai muốn tình trạng này xảy ra cho đất nước mình hay thời mình đang sống. Bởi đó là họa, không phải là phúc cho cả đôi bên. Theo đó, nếu vì an ninh, trật tự của đất nước, Nhà nước có nhu cầu thu hồi đất đai, là tài sản vốn thuộc về người dân theo truyền thống, theo luật định thì cũng phải ứng xử theo nhân cách làm người. Nó không thể là một thứ quy hoạch với phương cách chiếm đoạt hay bồi thường theo dạng bố thí trên mồ hôi, nước mắt và máu của đồng bào. Nó càng không thể là một cuộc diễn tập bằng súng đạn, xe kéo và chó nghiệp vụ đến ủi bừa theo lệnh của nhà nước. Để một bên thì vênh vang trong chiến thắng hoành tráng, một bên thì mất nhà mất nghiệp, thậm chí vào tù! Trái lại, nó phải được đối thoại, đáp ứng với sự hài hòa của một nền công lý pháp trị.

Nhìn lại văn thư, cũng như trường hợp trước đó với TGM Kiệt, mọi người đều thấy là, văn thư, lời nói ấy như một khát vọng, khởi đi từ những tâm hồn lớn vì quê hương, vì đất nước và vì dân tộc của mình. Không một ai có thể nghi ngờ, hoặc phủ nhận về lòng trung trinh của các vị này trong việc họ muốn góp phần xây dựng, kiến tạo một đất nước, một xã hội phồn vinh trên nền tảng của công lý, của tự do, nhân quyền, ngõ hầu mang lại phúc lợi, no cơm ấm áo, tiến bộ cho người dân. Tiếc rằng, những thiện chí của họ, vẫn có những cái nhìn thiếu đứng đắn để đưa một số người đọc, người hữu trách đến những ý nghĩ thiển cận, xấu xa, tiềm ẩn trong bụng hay là lộ ra bên ngoài. Chà, những “cái gai” này nhọn quá, để lâu sẽ đâm thủng cả tim gan của đảng mình đây!

Nay lại đến lá thư mang tính cảm nghiệm hay lời chứng của GM Oanh ở Kontum, viết gởi đến chính quyền Nghệ An, nhân vụ chính quyền sở tại vừa muốn chiếm đoạt tài sản của người, lại còn vu chụp cho các nạn nhân nhiều thứ “tội” khác. Nhà nước sẽ nghĩ gì, làm gì khi nhận được lá thư này? Phần cá nhân, tôi nhớ đến một câu chuyện trong Hán Sở tranh hùng. Đoạn nói về việc Hàn Tín, viên “chấp kích lang” nhận lệnh của Hạng Vũ đưa Hàn Sinh ra chợ, nấu vạc dầu vì cái tội dám trực ngôn để... can vua! Trên đường bị dẫn giải, Hàn Sinh không sợ hãi, còn bảo với những người đứng bên đường xem đoàn tù bị áp giải vào vạc dầu là: “Hỡi người Hàm Dương ta ơi, Ta vì trung với nước mà bị nấu dầu, chứ xét chẳng có tội chi. Ta chắc không quá một trăm ngày nữa, quân Hán Vương sẽ ra đánh Tam Tần, lấy Hàm Dương, chừng ấy các người sẽ thấy chuyện loài khỉ đội mũ.”

Nghe thế, chẳng một ai trả lời, riêng quan chấp kích lang Hàn Tín trước khi hành hình Hàn Sinh đã bảo:
- Xin quan Gián Nghị chớ nói nữa. Ông bảo là bị chết oan ư? Nhưng theo tôi, Ngài có ba tội đáng chết!

- Tại sao ta lại có tội đáng chết?

Hàn Tín trả lời:
- Thứ nhất. Ngài làm chức quan Gián Nghị, sao lúc giết tướng Tống Nghĩa, ông không can? Thứ hai, lúc chôn hai mươi vạn hàng binh sao ông không can? Lúc giết Tử Anh, đào mả Thủy Hoàng, đốt cung A phòng ông cũng không can. Nay bệnh trạng đã quá trầm trọng, dẫu trời cũng chẳng cứu được thì ông lại nhảy vào mà can!
Lời luận tội nghe ra ê chề, đau đớn làm sao chứ! Kết quả, Hàn Sinh bị luộc trong chảo dầu, và quân Hán Vương thì sau đó một thời gian ra đánh lấy Tam Tần. Hạng Vũ đã không giữ được nghiệp mà còn mất mạng bên bờ sông Cai Hạ!

Trở lại chuyện nước ta. Chuyện cái “Gai Nhọn” ở Vinh, không phải đến hôm nay mới có! Nhưng từ khi nhà nước qua chuyến gọi là “đến thăm, hòa giải với Tổng Giám Mục Kiệt của TT Dũng” rồi lừa dối Ngài, nuốt trửng khu TKS, kế đến là chiếm gọn linh địa Thái Hà, phá Thánh Giá Đồng Chiêm, chiếm đoạt luôn đất đai của giáo xứ Tam Tòa, Loan Lý... Cồn Dâu. Sau đó, còn cho cánh báo chí, truyền thông, lên diễn đàn phỉ báng một chính nhân là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt thì cái gai ở Vinh bắt đầu lộ diện. Từ kịch bản của tuyên giáo đảng - ở đâu cũng thấy đoàn sinh viên học sinh Công Giáo thuộc giáo phận Vinh xuất hiện, phản kháng nhà nước! Nay chuyện Thái Hà, mai chuyện Đồng Chiêm, mốt chuyện Tam Tòa. Đã thế, Tòa GM Xã Đoài còn vận động, đưa hàng chục ngàn người rầm rập kéo nhau về Xã Đoài mà lên án cái bạo lực của nhà nước dưới thời của GM Nguyễn Ngọc Thuyên! Còn “bao che” cho hàng chục sinh viên khác kéo nhau xuống đường, biểu tình chống nhà nước, lên án Tàu cộng xâm lăng nước ta, với mưu đồ phá hỏng tình hữu nghị đời đời giữa hai bên! Với những “tội riêng”, “tội chung” ấy, nhà nước có khi nào quên! Nhà nước không quên, nên chuyện xứ Mỹ Yên, yên thế nào được! Nói cách khác, cái gai ở Hà Nội, ở Vinh không thể để nó nhọn thêm. Trái lại phải tìm cách cắt bỏ nó đi.

Vì nhà nước CHXHCN/VC vốn đã có một ý đồ như thế. Nên không lạ gì việc họ cứ lần lượt, hết chỗ này, rồi đến chỗ khác, luôn theo vết dầu loang mà làm càn. Hết đất của tôn giáo ở nơi này, lại đến đất của tư nhân như ở nơi khác (như đầm tôm với Đoàn Văn Vươn hay ở Văn Giảng, Văn Điển). Bài bản “đánh” xem ra giống hệt nhau. Chẳng một nơi nào mà không có công an, xe ủi, chó nghiệp vụ. Những thứ này xem ra nhà nước nuôi nhiều, nếu không cho ăn, không cho tập dượt, chúng bị chồn chân! Kết quả, chuyện ủi càn, làm bừa là chân lý của nhà nước nên không bao giờ có thể ngừng lại, hay thay đổi được.

Chuyện nhà nước CS không thể dừng bạo lực và gian dối lại, thật ra không khó hiểu. Trước hết, đây là một trong những phương châm cơ bản của cộng sản là phải luôn tạo ra sự bất ổn, hoặc tạo ra chiến tranh. Khi không có chiến tranh để tạo ra những khẩu hiệu hỏa mù, lừa bịp. Họ bó buộc phải tự tạo ra những cuộc chiến cục bộ, dù là cuộc chiến cướp giật đất đai của người dân, phải luôn đẩy người dân vào thế bị động, bất ổn. Nhờ đó, cộng sản mới có cơ hội dùng bạo lực để tạo ra hoang mang, sợ hãi trong dân để nuôi sống chế độ. Kế đến, tiêu diệt tôn giáo luôn là một sách lược hàng đầu khác của cộng sản. Chừng nào các nhà thờ còn kinh lễ, còn các cố đạo rao giảng về đạo đức về luân lý, về niềm tin, về nhân bản xã hội thì ngày ấy sách lược gây hấn với nhà thờ này, hay nhà thờ khác vẫn được CS tiếp tục thi hành. Các chùa chiền, các nơi thờ phượng tôn nghiêm của các tôn giáo khác cũng chung số phận. Nơi đâu có những nhà tu chân chính đem được niềm tin, gây được ảnh hưởng vào đời sống đạo nghĩa của xã hội, đối nghịch với nền “đạo đức” vô luân, vô đạo của Hồ chí Minh trong phương cách đối xử với đồng bào, với cha mẹ, với chính vợ con mình như HCM đã từng làm, là nơi đó bị dòm ngò, bị bóp nghẹt, bị triệt hạ.

CS phương tây, tuy với chủ trương vô tôn giáo, nhưng họ còn biết phân biệt lằn ranh giữa tôn giáo và chính trị. Theo đó, dù là Lê Nin, Stalin, hay những kẻ tôn thờ cộng sản điên cuồng, cũng không bao giờ toan tính tới việc đưa những thành phần này vào nhà thờ, vào các nơi thờ phượng nghiêm trang của tôn giáo. Nhưng một thứ cộng sản vay mượn, kiểu thiếu văn hóa như ở Việt Nam lại khác. Chúng không ngừng tìm phương cách để đem cái đầu lâu của Hồ Chí Minh lọt vào khu vực nhà thờ nhà chùa. Tại sao lại có sự kiện CS muốn đưa ác quỷ dựa hơi thần thánh?

Câu hỏi đã gói ghém nửa câu trả lời. Bởi cái bản chất của nó là tồi tệ, là xấu xa nên ai ai cũng phải xa lánh. Phần còn lại là, Trung cộng và có thể, một số chóp bu đời trước trong tập đoàn CS Việt Nam biết Hồ chí Minh không phải là Nguyễn Tất Thành, mà là Hồ Tập Chương, do Tàu xây dựng, tác tạo. Bởi bút tích của Hồ chí Minh vẫn còn đây. Vào tháng giêng 1949, trong tạp chí “ sinh hoạt nội bộ” Hồ chí Minh viết dưới bút hiệu Trần Thắng Lợi đã viết bài “đảng ta”. Sau này nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã đưa “đảng ta” của Hồ chí Minh vào trong “Hồ chí Minh toàn tập” tập 5, trang 547, có ghi rõ ràng như sau: “Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng. Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.. ”. “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi” ("Nguyễn Ái Quốc đồng chí hòa ngã" trong "Hồ Chí Minh sinh bình khảo"). (Hồ chí Minh: đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, Trần Việt Bắc). Tôi đây chính là Hồ tập Chương, là Hồ chí Minh sau này, là một trong tám ủy viên đầu tiên trong đại hội ở Hương Cảng. (chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau).

Vì Hồ chí Minh có một cái gốc như thế, nên CS, đặc biệt là Tàu cộng, không ngừng thúc đẩy CSVN phải biến HCM thành một nhân vật thần thánh của tôn giáo, và xây dựng cho Y thành một “cha già dân tộc” như cuốn sách của Trần Dân Tiên đạo diễn. Khi hai ngôi vị này đã yên, Hồ đã được vào các chùa, vào nhà thờ, dù chỉ là năm bảy nơi thôi, thì sẽ không còn một ai dám động đến Y, không còn một ai dám lên tiếng đòi Chôn Nó Đi nữa. Dĩ nhiên, xây dựng xong việc này thì Tàu đã là chủ thể của Việt Nam mà chả cần phải đánh đấm xâm lấn làm chi cho tốn hơi tốn sức. Hãy nhìn Việt Nam hôm nay, xem ra đã có câu trả lời. Với dáng cong lưng, quỳ không mỏi của tập đoàn cộng sản tại VN, con đường Tàu hóa đã đi được nửa vời. Người Hoa kiều tự do ra vào Việt Nam, tự do xây dựng làng mạc riêng, chợ búa, khu phố riêng mà chả có một tên cán cộng nào dám hé răng nói ra nửa lời. Nếu cứ thế mà đi, qua vài ba thế hệ nữa, Việt Nam còn không?

Tại sao lại đi như thế được? Tại vì đa phần dân ta nhắm mắt lại. Trong khi đó, cái hệ thống Tàu đã ăn chặt vào lòng tổ chức của đảng CSVN 80 năm qua. Ngậm miệng thì có quyền có lộc, há miệng ra thì chết. Kết quả là, từ trên xuống dưới đều phải thi hành chỉ đạo của Tàu. Vẽ, tạo cho HCM vai tuồng thần thánh. Coi tôn giáo là cái bình phong để bảo vệ nhà nước bằng cách “quy hoạch” rồi đưa cái đầu lâu của Hồ Chí Minh vào nhà thờ, vào các chùa chiền, vào các nơi thờ phượng, nơi trang nghiêm mà thêm lộc. Chẳng một đảng viên nào dám đi ngược đường. Trừ khi là bỏ đảng cộng.

Với chủ trương trước sau như thế, nên không bao giờ CS ngừng lại việc gian dối và bạo hành. Bởi lẽ, nếu đất nước Việt Nam có cuộc sống của hòa bình, của yên ổn, của pháp trị, của công lý, giá trị nhân bản và luân lý của xã hội được tái tạo, Cộng sản tức khắc bị tiêu diệt. Đó cũng là lý do tại sao những lá thư bằng cả khát vọng của dân tộc kia, không có giá trị với cộng sản. Trái lại, nó như những cái gai, những chướng ngại trên con đường xây dựng chủ nghĩa gian dối, vô đạo. Họ phải nhổ đi.

Trở lại Mỹ Yên, lá thư của GM Oanh ở trên đỉnh cao nguyên Kontum gửi phó Chủ tịch tỉnh Nghệ An, nơi được nhà nước cộng sản ưu ái gọi là cái nôi đẻ ra chế độ cộng sản ở Việt Nam, ra sao? Mở đầu, ngài viết là “không ngỡ ngàng” mà thật ra, qua ba lần nhắc lại dòng chữ “không ngỡ ngàng” Ngài đã làm cho mọi người đọc, không phải chỉ ngỡ ngàng, nhưng còn là một bàng hoàng đáng quan ngại nữa! Ngài viết:
“Không ngỡ ngàng: vì chúng tôi đã theo dõi biến cố Mỹ Yên và gặp nhiều nhân chứng trong cuộc nhân dịp ra dự lễ tấn phong GM phụ tá hôm 4. 9. 2013.
Không ngỡ ngàng, vì chúng tôi đã từng là nạn nhân của những vụ việc như Mỹ Yên như vụ nhà thơ Hiếu Đạo, vụ nhà thờ Ninh Đức... hay vụ Dak Pran, mãi tới nay vẫn chưa ổn. Chỗ nào, lúc nào cũng giống nhau; phía chính quyền luôn tốt, luôn đúng. Còn dân thì “phạm đủ mọi thứ tội” như quấy rối, chống người thi hành công vụ, âm mưu lật đổ chính quyền...

Không ngỡ ngàng, nhưng rất cảm thông, vì ở vào cương vị phó chủ tịch tỉnh, cũng như các cộng sự viên trong chế độ hôm nay. Quý vị không thể nói khác, viết khác và làm khác. Bao lâu vẫn còn chủ trương các quyền của con người là ân huệ “ban cho”, bấy lâu còn những vụ như Mỹ Yên”.


Quả thật, Ngài đã làm ngỡ ngàng người đọc, khi ngài mô tả những hành động chăn dân, lãnh đạo của nhà cầm quyền như những thói quen, như những hành động vô cảm không hề thay đổi. Nghĩa là những việc làm của nhà nước này đối với người dân của mình giống như việc làm tắc trách của một gã tá điền hung bạo, hay của một tên đầy tớ bất lương khi họ hằn học, đặt cái ách vào cổ con trâu, con bò. Rồi nhắm mắt lại, hành hạ một con vật đang giúp chính bản thân y có một cuộc sống no ấm hơn, nhàn nhã hơn bằng cái roi cứng ở trong tay. Bắt nó lầm lũi kéo cày, kéo xe, không được nghỉ ngơi, không kể gì ngày mưa, ngày nắng. Không kể gì những lúc nó yếu đau, bụng đói. Mặc, cứ dùng cái roi vô lương trong tay như là một thứ bạo lực sắc bén nhất để buộc nó kéo cày theo hiệu lệnh! Không hề tìm hiểu xem vì lý do gì hôm nay nó bước đi không nổi. Và không hề có lấy một chút lòng thương xót cho nó. Cứ dục đi, đi cho đến lúc nó gục xuống mới thôi.

Hãy hỏi thử xem. Hành động ấy tốt xấu ra sao? Hãy hỏi xem, khi cái ách được tháo bỏ ra. Chuyện gì sẽ đến? Tên đầy tớ bất lương kia sẽ bị chủ nhân của nó trách mắng, sa thải chăng? Tên đầy tớ sẽ ăn năn, hối hận chăng? Hay có khi nào, tên đầy tớ bất lương kia nhận được cú trả đòn từ cặp sừng cứng như thép là sức lực cuối cùng của con trâu khi nó vừa đứng lên chăng? Nếu có, cái kết quả ấy có là ngỡ ngàng không?

Như thế, câu chuyện của những lá thư hay chính bản thân của TGM Kiệt, GM Hợp và nay là GM Oanh, không phải là sự muộn màng lên tiếng. Trái lại, nó luôn hiện diện và chỉ ra ý nghĩa cao cả, bao dung, tương trợ và đồng hành vì tương lai của đất nước và của dân tộc. Những lá thư ấy rõ ràng không dành cho riêng ai. Không cho anh, không cho tôi, nhưng cho mọi người. Đặc biệt là cho những người đang giữ trách nhiệm với đất nước tự hiểu. Phần các vị, có tiếc chi chính bản thân mình trong công cuộc bảo vệ cho Công Lý, cho Hòa Bình, cho Sự Thật? Có chăng là một sẵn sàng hy sinh. Tuy nhiên, các Ngài không hề muốn nhìn thấy cảnh máu đổ lệ rơi làm tổn hại máu xương của đồng bào Việt Nam. Ai chả biết, “Tự Do, Nhân Quyền” không tự nhiên mà có. Nhiều khi nó phải trả bằng nhiều máu xương mới có được. Nhưng không có nghĩa là bắt buộc phải trả bằng máu xương, vì người ta vẫn có thể mở ra một con đường đối thoại bằng sự “Từ Bỏ”, bằng “Thay Đổi” để đưa đất nước một lối đi tốt đẹp.

Tôi viết thế, không có nghĩa là tôi ủng hộ hay muốn nói đến việc hòa giải, hòa hợp với cộng sản. Cũng không có ý bẻ cong những Văn Thư, những lời nói của các Ngài thành những mềm yếu “Xin Cho”, hoặc cho rằng các Ngài ủng hộ hay muốn sống chung với cộng sản. Trái lại, là một truyền đạt rõ ràng, dứt khoát. Phải là một sự thẳng thắn trong cuộc Từ Bỏ và Đổi Thay toàn diện. Bởi vì, điều ấy đã được dẫn giải, được chỉ đường bằng Boris Yelsin, bằng Mikhai Gobachev, bằng Putin... những bậc thầy, đẻ ra cả cái chủ nghĩa mà đảng và nhà nước cộng sản tại Việt Nam đang tôn thờ hôm nay. Điều ấy không tốt hơn là đổi bằng máu xương ư? Điều ấy không tốt hơn là việc đẩy nhau vào cuối đoạn đường? Nhà nước đương cuộc tiếp tục dùng bạo lực với Tam Tòa, Cồn Dầu, Mỹ Yên, Đầm Tôm, Văn Giảng... coi cuộc sống của người dân như cỏ rác. Tiếp tục bắt bớ và tù đày những thanh niên, sinh viên Việt Nam yêu nước như 14 bạn trẻ ở Vinh, như Lê Quốc Quân, như Minh Hạnh, Điếu Cày, Duy Thức, Việt Khang, Nguyên Kha, Phương Uyên... thì có khác chi chính họ đã buộc người dân phải nhìn đảng cộng sản và nhà cầm quyền của đảng này như là một loại ký sinh đáng phải loại trừ ra khỏi xã hội. Phải chôn nó đi.

Tại sao phải loại trừ nhau, phải chôn nó đi ư? Có lẽ nào, nhà nước này không biết rằng, họ không thể vay mượn được sức mạnh qua những lần đi Tây đi Mỹ, hoặc giả, là đi Trung quốc với phương thuốc: “bốn tốt, mười sáu chữ vàng” hay theo kiểu “ môi hở răng lạnh” để tiếp tục đặt ách lên cổ người dân? Có lẽ nào họ không hiểu rằng, không có một sức mạnh nào lớn hơn, mạnh hơn mà không đến từ người dân, dù trong tay họ không có lấy một tấc sắt? Nếu họ chỉ muốn nương tựa vào sức mạnh từ ngoại bang để chà đạp nhân dân thì cái chuyện con trâu bị gục xuống trên cánh đồng chắc phải đến. Khi ấy sẽ là bi thảm không? Có thế là một bi thảm. Nhưng sẽ là cái bi thảm cuối cùng để người dân Việt Nam và con cháu của họ bước sang một cuộc sống đáng sống. Cuộc sống yên ổn trong một đất nước có chủ quyền. Ở đó người dân có được sự Tự Do, và những quyền hạn của con người được công lý bảo vệ. Hơn thế, ở nơi đó không còn bóng tối của gian dối và bạo lực của cộng sản phù lấp lên cuộc sống của người dân.

Đó là kết quả phải đến, kết quả từ bài học từ TKS, Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, Mỹ Yên, Văn Giảng, Tiên Lãng... là những bài học bằng máu và nước mắt mà người dân đã học được. Tuy thế, máu và nước mắt ấy sẽ không là đau thương hận thù. Trái lại là một sức sống mãnh liệt, bao dung và nhân ái, có khả năng giúp dân tộc ta trưởng thành, vững mạnh trong công việc xây dựng lại đất nước trong ngày mai.


Bảo Giang

Chủ Đề 50 Năm Tưởng Niệm CỐ TỒNG THỐNG : Nhân ngày ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà 26-10-1956

Nhân ngày ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà 26-10-1956 nghĩ về: SỰ HÌNH THÀNH NỀN CỘNGHOÀ VÀ CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HOÀ TẠI VIỆT NAM


Vận động trưng cầu dân ý năm 1955 đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền
   
· Thấm thoát mà đã 56 năm (1956-2012), nền cộng hoà được thiết lập tại Việt Nam với bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956 tại Miền Nam Việt Nam, đối kháng với chế độ độc tài toàn trị cộng sản Bắc Việt mang bảng hiệu giả mạo “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”, bảng hiệu mà Hồ Chí Minh đã dựng lên sau cái gọi là Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 cướp được chính quyền bằng xảo thuật.
· Giả mạo về một nền dân chủ cộng hoà, vì trước sau đều chỉ nhằm mục đích lừa bịp công luận thế giới để tìm hậu thuẫn quốc tế, ru ngủ nhân dân, trong khi thực chất cũng như thực tế vẫn là độc tài cộng sản phản dân chủ.
· Và vì vậy, có thể nói nền cộng hoà thực sự đã chỉ được thiết lập và thực hiện tại Việt Nam kể từ khi Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà được ban hành ngày 26-10-1956. Vì nền cộng hoà ấy đã là nền tảng cho một chế độ chính trị chủquyền thuộc về toàn dân, một chế độ dân chủ cả hình thức lẫn nội dung, dù phôi thai còn nhiều khuyết tật, song đã phản ánh đúng ý nghĩa của từ ngữ Cộng Hòa và ý nguyện của toàn dân Việt Nam.
Hôm nay, nhân ngày 26-10- 2012, nghĩ về Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956, chúng tôi muốn gửi bài viết này đến quý độc giả người Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nước, đề cùng tự hào với quá khứ rằng chúng ta đã chọn đúng nền tảng một chế độ chính trị phù hợp với ý nguyện của toàn dân và tin tưởng mãnh liệt ở tương lại, rằng nhất định chúng ta sẽ thiết lập được một chế độ dân chủ trên nền tảng cộng hoà đã được xác lập 56 năm qua tại Việt Nam.Nội dung bài viết lần lượt trình bầy:
1.- Bối cảnh hình thành Nền Cộng Hòa tại Việt Nam.
2.- Nền Cộng Hòa và Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
3.- Nền Cộng Hòa và các bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa.
4.- Nền Cộng Hòa và các chế độ Việt Nam Cộng Hòa (Đệ nhất và Đệ Nhị VNCH)
I/- BỐI CẢNH HÌNH THÀNH NỀN CỘNG HÒA TẠI VIỆT NAM.
Như quý độc giả đã biết, sau Thế Chiến Hai, chủ nghĩa thực dân cũ đã buớc vào thời kỳ suy tàn,xu thế giải thực đã buộc các đế quốc từng có nhiều thuộc địa như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan ….. đã phải lần lược trao trả độc lập cho các nước bị trị. Điển hình là một số nước trong vùng như Ấn Độ và Hồi Quốc được Đế Quốc Anh trao trả độc lập năm 1947; Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949; Triều Tiên được Nhật trao trả độc lập năm 1945; Lào và Cao Miên Pháp trao trả độc lập năm 1953. . . Do đó, theo nhận định của nhiều sử gia và học giả nghiên cứu chính trị và lịch sử, thì chẳng cần cuộc kháng chiến gian khổ 10 năm do đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) phát động và chủ đạo tiến hành (1945- 1954) làm hao tổn nhiều xương máu nhân dân, tàn phá tài nguyên đất nước vô ích, để có được cái gọi là “Chiến thắng Điện Biên lịch sử” (7-5-1954), thì thực dân Pháp sớm muộn cũng phải trao trả độc lập cho Việt Nam cũng như nhiều thuộc địa khác. Chẳng qua Hồ Chí Minh và Cộng đảng Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh này, chỉ là lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, dùng chiêu bài độc lập dân tộc để chiếm quyền thống trị đất nước, để áp đặt chế độ độc tài đảng trị CS, theo chủ trương bành trướng lãnh thổ, nhuộm đỏ tòan cầu của cộng sản quốc tế, đứng đầu là hai tân đế quốcĐỏ Nga – Tầu.
Thật vậy, trên thực tế, trước áp lực của xu thế giải thực, thực dân Pháp đã phải lùi từng bước, trao trả độc lập từng phần cho Việt Nam, qua các Hiệp Định Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948,“đề cử” hòang đế Bảo Đại làm Quốc Trưởng, và Pháp thừa nhận Việt Nam dưới sựlãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại như là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 8 tháng 3 năm 1949 Tổng Thống Pháp Vicent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại đã ký “Thỏa Ước Elysée”.Theo đó, Pháp hứa sẽ xây dựng cho Việt Nam một quân đội quốc gia chống cộng. Đây là khởi điểm của sự thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, gốm có các binh lính và sĩ quan “Khố Xanh Khố Đỏ”của Pháp chuyển qua. Chính những sĩ quan có xuất thân này, đã nắm vận mệnh quốc gia sau khi đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm, cho đến ngày Miền Nam mất vào tay cộng sản (30-4-1975).
Thề rồi, cuối cùng thực dân Pháp cũng đã phải trao trả độc lập hòan tòan cho Việt Nam. NhưngViệt Nam có số phận không may đã rơi vào thế gọng kìm của một chiến lược quốc tếmới, với cuộc chiến tranh ý thức hệ (cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa), nên đất nước bị qua phân theo Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954, do sự áp đặt của các cường quốc, trái với nguyện vọng quốc dân Việt Nam.
Hệ quả là một nửa nước Miền Bắc rơi vào tay đảng Cộng sản Việt Nam, thiết lập “Nền Chuyên Chính Vô Sản”, trên đó xây dựng chế độ độc tài tòan trịcộng sản, với quyền thống trị độc tôn, độc quyền của đảng CSVN, một công cụchiến lược của hai tân đế quốc đỏ Nga-Tầu. Nửa nước Miền Nam Việt Namđược trao trả cho chính quyền chính thống quốc gia Việt Nam, thiết lập nền Cộng Hòa trên đó xây dựng chế độ tự do dân chủ, tức Việt Nam Cộng Hòa, với sự hổ trợcủa Hoa Kỳ và các đồng minh Thế Giới Tự Do trên nguyên tắc, song trên thực tế đã bị Hoa Kỳ biến thành công cụ chiến lược của mình, một công cụ ngay tình khác với công cụ tri tình cho Nga- Tầu của Cộng đảng VN và chế độ Cộng sản Bắc Việt. Vì đảng Cộng sản Việt Nam vốn là một công cụ bành trướng của cộng sản quốc tế,đứng đầu là Nga Tầu lúc đó, nên đã phát động và tiến hành cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn để thôn tính Miền Nam Việt Nam.
Chính quyền chính thống quốc gia và nhân dân Miền Nam,trong thế chẳng đặng đừng đã phải làm tiền đồn chống cộng cho Hoa Kỳ và Thếgiới tự do, buộc lòng phải thực hiện cuộc chiến tranh tự vệ để ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh xâm lược đó của Cộng sản Bắc Việt, để bảo vệ phần đất tựdo Miền Nam, trong ý hướng giữ vững độc lập quốc gia, chủ quyền dân tộc, để vừa chiến đấu chống cuộc xâm lăng của CSBV, vừa nỗ lực xây dựng thành công chế độdân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa, tiến tới thống nhất đất nước, không phải bằng bạo lực quân sự, mà bằng sự ưu thắng của chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa và nền kinh tế phát triển phồn vinh ở Miền Nam, trên chế độ độc tài tòan trị CS và nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu ở Miền Bắc . Nghĩa là Việt quốc chúng ta, muốn tiến tới tình trạng như Nam Bắc Hàn hiện nay, mà sự thống nhất Hàn Quốc một cách hòa bình, với sự ưu thắng của Nam Hàn dân chủ phồn vinh trên Bắc Hàn độc tài cộng sản nghèo đói và lạc hậu, chỉ còn là vấn đề thời gian.
Chính vì mục tiêu và lý tưởng vừa nêu, Nền Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam, trên đó xây dựng chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa thay thếcho chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại nhiều thế kỷ trước đó tại Việt Nam.
II/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM:
Theo tự điển Hán Việt của học giả Đào Duy Anh, Cộng Hòa (Republic:Cộng đồng, dân chúng) có ý nghĩa như là nền tảng cho một chế độ dân chủ, “Chế độ Cộng Hòa”(Repubican Regime) với “Chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân”. Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm được coi là người khai sáng Nền Cộng Hòa như thế tại Việt Nam.
Sử liệu cận đại Việt Nam ghi nhận các sự kiện có ý nghĩa sau đây: ngày 7 tháng 7 năm 1954, chí sĩ Ngô Đình Diệm đang sống lưu vong ở hải ngọai đã về nước chấp chánh theo sự ủy thác của Vua Bảo Đại trong ngôi vị Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam, để chống cộng và nếu cần chống cả thực dân và phong kiến để bảo vệ tổ quốc (Như hồi ký của cựu hòang Bảo Đại đã viết). Vì xu thế thời đại, Thủ Tướng Diệm không thể duy trì thể chế quân chủ chuyên chế, nên với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ đứng đầu phe Thế giới tự do (Thời kỳ chiến tranh ý thức hệ) 18đòan thể chính trị (Hội Đồng Cách Mạng Quốc gia), họp tại Dinh Độc Lập đã quyết định thiết lập chế độ Cộng Hòa, theo xu thế thời đại, đáp ứng ý nguyện của quốc dân, qua cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 truất phế vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nền quân chủ chuyên chế Việt Nam thiết lập nhiều thế kỷ trước đó, tôn vinh Thủ Tướng Ngô Đình Diệm là Tổng Thống đầu tiên chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Để có căn bản pháp lý, ngày 26-10-1955 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã ban hành HiếnƯớc Tạm Thời Số 1, và ngày 23 tháng 1 năm 1956 đã ký ban hành Dụ Số 8 thiết lập Quốc Hội Lập Hiếnđịnh hướng cho chế độ Cộng Hòa sẽ được xác lập. Trên căn bản các văn kiện pháp lý hành chánh này, nhân dân Miền Nam lần đầu tiên được cầm lá phiếu với tư cách là người dân một nước độc lập, bầu người đại diện vào Quốc Hội Lập Hiến để thay mặt mình sọan thảo ra một bản hiến pháp dân chủ trên nền tảng Cộng Hòa đầu tiên. Trong vòng 9 tháng sau, Quốc hội do dân bầu này đã hòan thành bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa và ngày 26 tháng 10 năm 1956,Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã ký ban hành bản hiến pháp đầu tiên làm căn bản thíêt lập các định chế quốc gia, với tam quyền phân lập và cơ cấu của một chính quyền cộng hòa với chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân.
III/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Như trên đã trình bầy Nền Cộng Hòa là nền tảng của một chế độ chính trị với chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân, theo học thuyết chính trị dân chủ Phương Tây, tương tự quan niệm dân chủ PhươngĐông “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, đều lấy “Dân làm gốc”. Tiếc rằng, quan niệm dân chủ này chỉ có trong sách vở trong chế độ “Quân chủ chuyên chế”, thực tế Vua vẫn là tối thượng, chủ quyền quốc gia thuộc về vua, chứ không phải của tòan dân. Cũng như trong “nền chuyên chính vô sản” chủ quyền quốc gia thuộc về đảng cộng sản, quyền “Làm chủ của nhân dân” chì là bánh vẽ.
Vì vậy muốn chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân, cần xây dựng một chế độ dân chủ trên nền tảng Cộng Hòa. Để thiếtđịnh chế độ Dân Chủ Cộng Hòa này, cẩn có một bản Hiến Pháp, một văn kiện pháp lý căn bản qui định rõ quyền lợi nghĩa vụ người dân và chính quyền, trong tương quan với các cơ quan công quyền, với các viên chức được người dân ủy quyền qua lá phiếu trong các cuộc bầu cử tự do, cử người đại diện cho dân, làm nhiệm vụcông bộc ăn lương của nhân dân, điều hành guồng máy công quyền quốc gia, từthượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, theo ý nguyện của người dân, sao cho xã hội ổn định, phát triển, quốc gia phú cường, mọi tầng lớp nhân dân có điều kiện phát triển đồng đều, “cộng đồng đồng tiến”, có đời sống sống ấm no, tự do mưu cầu hạnh phúc riêng (cá nhân) cũng như chung (tập thể).
Trong ý hướng trên, bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên được sọan thảo và ban hành ngày 26-10-1956 và bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa thứ hai đuơc ban hành ngày 1-4-1967. Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956 được sọan thảo dựa trên hai nền tảng triết lý và chính trị. Nền tảng triết lý là triết học duy tâm, lấy con nguời là trung tâm, là chủ thể xã hội và là đối tượng phục vụ của xã hội.Nền tảng chính trị là chủ nghĩa nhân vị, trên đó thiệt lập chế độ cộng hòa với chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân, các quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền được tôn trọng và bảo vệ. Chủ đích của các nhà lập hiến khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị làm nền tảng cho chế độ Cộng Hòa để soạn thảo ra Hiến Pháp hữu thần Việt Nam Cộng Hòa là để đối kháng với triết học duy vật và chủ nghĩa Cộng Sản vô thần, là nền tảng hiến pháp của chế độ vô thần Cộng sản Bắc Việt, vốn coi con nguời là sản phẩm, là công cụ của xã hội, cá nhân phải phục vụ xã hội và quyền lợi cá nhân phải hy sinh cho quyền lợi tập thể (thực chất cũng như thực tế là hy sinh cho quyền lợi của một tập đòan thống trị là Đảng CSVN), trong một xã hội mà những nguời cộng sản muốn thiết lập, đó là xã hội “Xã hội chủ nghia”, giai đọan đầu của xã hội cộng sản.
Tham vọng của các nhà lập hiến Việt Nam khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị làm nền tảng cho chế độ Cộng Hòa đối kháng với chủ nghĩa cộng sản Bắc Việt làm nền tảng cho chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (giả hiệu) như là một võ khí lý luận để đánh bại đối phương về mặt ý thức hệ, song song với nỗ lực quân sự đập tan cuồng vọng xâm lăng Miền Nam của Cộng sản Bắc Việt lúc bấy giờ, và nỗ lực xây dựng phát triển chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật,văn hóa, xã hội để chứng tỏ tính ưu việt của chế độ Cộng Hòa dân chủ ở Miền Nam trên chế độ độc tài đảng trị cộng sản ở Miền Bắc.  
Với võ khí lý luận là chủ nghĩa Nhân Vị và chế độ Cộng Hòa, các nhà lập hiến Việt Nam Cộng Hòa tin rằng, nguời dân sẽ thấy đuợc hai con đuờng “Nhân vị chủ nghĩa” “Cộng sản chủ nghia” dẫn đến mục tiếu tối hậu hòan tòan trái nguợc: Chủ nghia nhân vị Xây dựng một xã hội vì con nguời,tôn trọng phẩm giá con nguời và xã hội phải phục vụ lợi íchtối thuợng của con nguời”. Trong khi chủ nghĩa cộng sản xây dựng một xã hội Vì đảng cộng sản, nô dịch và xã hội hóa con nguời, biến con nguời thành công cụ phục vụ xã hội (thực chất là phụng vụ giai cấp thống trị), nhân vị bị hạ thấp ngang tầm lòai vật" (theo lý luận và thực hành Duy vật biện chứng của CS).
Đồng thời, chủ nghĩa Nhân Vị sẽ là nền tảng cho chế độ chính trị Cộng Hòa, để bảo đảm được nhân vị và các nhân quyền căn bản của người dân. Trong bối cảnh cuộc chiến tranh chống cộng bảo vệ nền Cộng Hòa và chế độ dân chủ VNCH, chủ nghĩa Nhân Vị giúp nguời dân phân biệt đuợc mục tiêu và lý tuởng tranh đấu tối hậu của nguời Việt Quốc gia là thiết lập cho kỳ đuợc một chế độdân chủ cộng hòa là vì nhân vị và phẩm giá con người, vì hạnh phúc của nhân dân, quyền dân chủ dân sinh và nhân quyền được bảo đảm với tam quyền phân lập, trái nguợc với chế độ độc tài tòan trị cộng sản độc tài, độc tôn và độc quyền thống trị của đảng CSVN, vì quyền lợi của giai cấp thống trị là các cán bộ đảng viên CS.
Chính vì vậy mà chủ thuyết nhân vị đuợc xác tín qua phần “Mở Đầu” của Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 26-10-1956 như sau:
Tin tuởng ở sự truờng tồn của nền văn minh Việt Nam, cần có trên nền tảng duy linh mà tòan dân đều có nhiệm vụ phát huy;
“Tin tuởng ở giá trị siêu việt của con nguời mà sự phát triển tự do. Điều hòa vàđầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi họat động quốc gia. . .”.
Nhưvậy, chính trên nền tảng chủ nghĩa Nhân Vị, Quốc hội Lập Hiến đầu tiên của Quốc Gia Việt Nam đã sọan ra bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên, (hòan tòan khác với cái gọi là Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Cộng sản Bắc việt “ngụy cộng hòa”),và đã đuợc Thủ Tướng Ngô Đinh Diệm, sau trở thành vị Tổng Thống đầu tiên chế độViệt Nam Cộng Hòa, đã ký ban hành ngày 26-10-1956.
Nội dung Bản Hiến Pháp này,ngòai phần“Mở Đầu”, gồm 10 Thiên và 98 Điều thể hiện rõ Nguyên tắc phân quyền: Thiên thứnhất quy định những “Điều khỏan căn bản”; Thiên Thứ Hai: “Quyền lợi và Nhiệm vụnguời dân”; Thiên thứ ba:“Tổng Thống”; Thiên thứ tư: “Quốc Hội”; Thiên thứ năm“Thẩm Phán”; Thiên Thứ sáu “Đặc biệt Pháp Viện”; Thiên Thứ Bẩy “Hội ĐồngKinh TếQuốc gia”; Thiên thứ tám “Viện Bảo Hiến”; Thiên Thứ Chín “Sửa Đổi Hiến Pháp” và Thiên Thứ muời “Các Điều Khỏan Chung”.
Cuộc đảo chánh quân sự ngày 1-11-1963, với sự trợ giúp của ngọai bang đãđưa đến cái chết thảm thương cho Cố Tổng Thống Ngô Đinh Diệm, nguời có công khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 26-10-1956 bị hủy bỏ cùng với sự cáo chung nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.
Sau những năm bất ổn chính trị, xã hội xáo trộn do các phe phái chính trị quân sự tranh giành quyền lực (1963-1967) Bản Hiến Pháp Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa đã được Quốc Hội Lập Hiến thông quan ngày 18-3-1967 và đã được Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong tư cách Chủ Tịch Ủy Ban LãnhĐạo Quốc gia ban hành ngày 1-4-1967. Cuộc bầu cử ngày 3-9-1967 đãđưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên ngôi vị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, là vị Tổng Thống thứ hai của nền Cộng Hòa Việt Nam.
Ngày 5-4-1975,truớc áp lực của ngọai bang và biến chuyển của tình thế, Tổng Thống Thiệu đã phải từ chức và trao quyền cho Phó Thổng Thống Trần Văn Hương theo qui định của Hiến Pháp. Chưa đầy một tháng sau, ngày 28-4-1975, Tổng Thống Trần Văn Huong, vị Tổng Thống thứ ba và cũng là vị Tổng Thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa theo Hiến Pháp, do áp lực của tình thế, đã lại phải từ chức để trao quyền ngoài dự liệu của Hiến Pháp cho Tướng Dương Văn Minh làm nhiệm vụ khai tử chế độ đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa theo sự đạo diễn, sắp xếp của ngọai bang, như ông ta đã từng theo lệnh ngọai bang cầm đầu nhóm đảo chánh phá đổ chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, sát hại Tổng Thống Diệm, người khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam 12 năm trước đó (1963-1975).
Nếu so sánh tổng quát hai bản Hiến Pháp chế đô đệ nhất và đệnhị Việt Nam Cộng Hòa, cả hai có nền tảng chung là Cộng Hòa, cùng vận dụng nguyên tắc phân quyền theo học thuyết chính trị dân chủ Phương Tây, trong việc thiết lập và điều hành các định chế quốc gia và guống máy công quyền, nhằm thểhiện “Quyền lực quốc gia thuộc về tòan dân” và bảo đảm các nhân quyền và dân quyền cơ bản của công dân được tôn trọng, bảo vệ và hành xử.
Nhưng khác là Hiến pháp 26-10-1956 dựa trên hai nền tảng chủ nghĩa nhân vị và học thuyết dân chủ Phương Tây để thiết lập chế độ Cộng Hòa, với nguyên tắc phân quyền,còn bản Hiến Pháp 1-4-1967, chỉ dựa trên nền tảng chủ thuyết chính trị dân chủ Phương Tây để thiết lập chế độ Cộng Hòa.
Nếu so sánh nội dung thì Hiến pháp VNCH ngày 1-4-1967 hòan chỉnh hơn Hiến Pháp 26-10- 1956, với các định chế quốc gia và cơ cấu tổ chức chính quyền có nhiều điểm giống Hiến Pháp Hoa Kỳ nên có tính dân chủ cao hơn, như phân định rõ Tổng Thống nắm quyền hành pháp, Quốc Hội lưỡng viện (Thượng viện và Hạ viện)lập pháp và Tối cao Pháp Viện nắm quyền tưpháp, thể hiện rõ quyền lực quân bình của nguyên tắc tam quyền phân lập. Trong khi, Hiến pháp 26-10-1956, chỉ có quyền hành pháp mạnh (Tổng Thống) và lập pháp yếu(Quốc Hội) là thể hiện qua cơ chế, còn tư pháp chỉ quy định như một đòan thể (Thẩm phán đoàn) không có tính cơ cấu mạnh. Thế nhưng, việc vận dụng Hiến Pháp vào thực tế thì có lẽ, Hiến Pháp VNCH 26-10-1956 có thể là phù hợp hơn trong bối cảnh đất nước đang có chíến tranh lúc bấy giờ(cần một hành pháp mạnh), với trình độ ý thức dân chủ người dân chưa cao và đối phương CS có thể lợi dụng quyền dân chủ rộng rãi để lũng đọan chính quyền, quân đội và các lực lương an ninh của VNCH, như thực tế cho thấy.
IV/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Như vậy nền cộng hòa thể hiện rõ mục tiêu chống cộng bấy lâu nay của người Việt Quốc gia hay là người Việt Nam không cộng sản là để nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu là xây dựng một chế độ dân chủ đích thực, chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam, đánh dấu bằng sự ra đời của bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956. Chế độ đó là chế độ đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa kế tiếp nhau (1956-1975).
Ngày 30-4-1975, cộng sản Bắc Việt đã cưỡng chiếm Miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris ngày 27-1-1973 , tức vi phạm luật pháp quốc tế, trước sự đồng lõa, phủi tay của đồng minh Hoa kỳ, và sự làm ngơ của quốc tế, cụ thể là các cường quốc đế quốc đóng vai trò trung tâm quyền lực thế giới bảo đảm việc thực thi Hiệp Định Paris, thông qua tổ chức Liên Hiệp Quốc, vốn là công cụ của họ, do họ dựng lên và vì quyền lợi ưu tiên của họ, nhân danh nền hòa bình thế giới áp chế các dân tộc nhược tiểu.
Sau đây là nguyên văn Điều 15, Chương V. “Vấn đề thống nhất Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam”(Bản tiếng Việt) của Hiệp Định Paris ngày 27-1-1973:
Điều 15:Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngòai. Thời gian thống nhất sẽ do Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam thỏa thuận.
Trong khi chờ đợi thống nhất:
a) Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ thuyến thứ mười bẩy chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ, như quy định trongđọan 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ năm một nghìn chín trăm năm mươi tư.
b) Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam sẽtôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời..
c) Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam sẽsớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời.
d) Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam sẽ khôngtham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngòai có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn.
quânsự và nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm một nghìn chínm trăm năm mươi tư về Việt Nam quy định.”
Đọc Điều 15 trên đây, người ta không khỏi liên tưởng đến việc tiếp xúc bí mật giữa Cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu và Phạm Hùng, một lãnh tụ Cộng Đảng Việt Nam lúc đó đang làm nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, vào thời điểm Chính quyền Ngô Đình Diệm bị áp lực nặng nề nhất của Hoa Kỳ (62-63), muốn mưu tìm một giải pháp thương lượng hòa bình giữa người Việt (Quốc gia) và người Việt (Cộng sản). Việc làm này có thể chỉlà động tác giả của ông Nhu như môt thủ thuật chính trị nhằm cảnh cáo Hoa Kỳ rằng nếu ép chúng tôi quá, chúng tôi sẽtrực tiếp nói chuyện với đối phương, trên tinh thần người Việt nói chuyện với người Việt để chấm dứt xung đột,(bằng sự duy trì nguyên trang qua phân lãnh thổ tạm thời, với hai chế độ trên hai miền hiệp thương tương tự như quy định của Điều 15 Hiệp Định Paris vừa nêu, chứkhông nhất thiết phải “Dâng Miền Nam cho CSBV” như sự gán ghép chủ quan để kết tội và làm lý cớ lật đổ của một số người có định kiến với cá nhân TT. Diệm và chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa) . Đây có thể coi là một viễn kiến có giá trị thực tiễn, tương tự như ý hướng quy định trên của bản Hiệp Định Geneve 1954. Nhưng việc làm này đã là quá sớm đối với Hoa Kỳ, nên đã bị Hoa Kỳ kết án và làm một trong những lý cớ xúi dục nhóm Tướng tá làm cuộc đảo chánh lật đổ và sát hại Tổng Thống Diệm và bàođệ Ngô Đình Nhu như mọi người đã biết.
Vì lúc đó người Mỹ chưa muốn chấm dứt mà muốn mở rộng và trực tiếp tham chiến và chỉ đạo chiến tranh, để những nhà tưbản quân sự, quốc phòng Mỹ có thêm thời gian tiêu thụ cho hết những vũ khí đạn dược còn tồn đọng sau Chiến tranh Thế Giới II và cần môi trường thử nghiệm thêm các lọai vũ khí mới. Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người tha thiết và cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, không muốn chiến tranh lan rộng có hại cho đất nước, không muốn đối phương xuyên tác chính nghĩa chống cộng của chính quyền quốc gia, song đã là bức cản trở mà Hoa Kỳ cần phải lọai trừ bằng mọi cách, với những lý cơ giả tạo, như các tài liệu được giải mât sau này cho thấy.
Như thế là Chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã bịcưỡng tử về mặt thực tế, song chúng tôi cho rằng vẫn tồn tại về mặt pháp lý căn cứ theo Điều 15 và nhiều điều khỏan khác trong Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam. Chế độ Việt Nam Công Hòa chỉkhông tồn tại trên đất nước Việt Nam trong tư thế một quốc gia với đầy đủ ba yếu tố cấu thành: lãnh thổ, chính quyền và dân chúng, song vẫn tồn tại về mặt pháp lý, với thực tế là hầu hết bộ phận đầu não chính quyền, và một số khá đông (nay ước chừng 3-4 triệu) các thế hệ quân, dân, cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã kịp di tản ra nước ngòai trước ngày 30-4-1975, hay chậy trốn chế độ CS sau này, trong thân phận lưu vong, vẫn không bỏ cuộc, đã quy tụ lại tại hải ngọai tiếp tục cuộc chiến đấu chống cộng, với cùng mục tiêu đánh đổ chế độ độc tài cộng sản, thànhđạt mục tiêu tối hậu là tái lập chế độ Dân Chủ trên nền Nền Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam từ năm 1956;và hiện vẫn tồn tại trên đất nước Việt Nam, trong lòng hơn 85 triệu nhân dân Việt Nam với khát vọng tự do dân chủ, vì các quyền tự do, dân chủ, dân sinh, nhân quyền đã và đang bị “nền chuyên chính vô sản” với chế độ“Độc tài tòan trị cộng sản” cướp đọat và chà đạp. Khát vọng này đã và đang được nhân dân trong nước thể hiện ngày một lan rộng và mạnh mẽ qua các cuộc đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh, nhân quyền, tức đòi tái lập nền Cộng Hòa đã được xác lập trước đây,bởi chính quyền Quốc gia chính danh,kế thừa lịch sử dựng nước và giữ nước của tiền nhân; trái với chính quyền cộng sản ngụy danh, kếthừa lịch sử bành trướng quyền thống trị thế giới của cộng sản quốc tế, phản dân hại nước, như mọi người đều biết qua việc làm của họ, kề từkhi những môn đồ đầu tiên, đứng đầu là Hồ Chí Minh tình nguyện làm môn đồ của cộng sản quốc tế, du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, tụ đảng từ ngày 3-2-1930 làm công cụ thực hiện nghĩa vụ quốc tế cộng sản để mở mang bờ cõi cho các tân đếquốc đỏ Nga-Tầu, phá họai tòan diện đất nước, để lại hậu quả nghiêm trọng nhiều mặt, lâu dài cho dân tộc Việt Nam, mà mai hậu sẽ mất nhiều thời gian và công sức dọn dẹp, tái tạo.
KẾT LUẬN:
Tóm lại, như vậy là cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Miền Nam bảo vệ chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa đã thất bại, song chỉ là thất bại tạm thời, có tính giai đọan. Vì sau đó và cho đến nay, cuộc chiến đấu chống cộng sản độc tài để tái lập chế độ cộng hòa trên cả nuớc vẫn đang tiếp diễn. Đây là giai đọan chống cộng cuối cùng vì dân chủ, cho nền cộng hòa Việt Nam của nguời Việt Quốc gia hay là nguời Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngòai nuớc. Thực tế đã và đang ngày một khẳngđịnh chính nghĩa “Cộng Hòa”(Chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân) tất thắng ngụy nghĩa “Cộng sản” (Chủ quyền quốc gia thuộc về đảng CSVN).
Nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thiết lập đuợc nền “ĐệTam Cộng Hòa” trên tòan cõi Việt Nam trong một tương lai không xa, với một Bản Hiến Pháp Cộng Hòa “thể hiện đuợc nguyện vọng của nhân dân (Việt Nam), từMũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan”, như từng đuợc khẳngđịnh trong lời “Mở Đầu” của bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa tiên khởi ngày 26-10- 1956.
Năm mươi sáu năm qua, mục tiêu chống cộng để thực hiện lý tướng thiết lập cho kỳ được môt chế độ dân chủ cộng hòa trên quê hương đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta vẫn kiên định. Chúng ta tạm thời thất bại trong giai đọan chiến đấu bảo vệ chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh Quốc-Công vừa qua (1954-1975), song không chỉ có niềm tin mãnh liệt mà cả thực tế đã và đang ngày một khẳng định: Chân lý tất thắng, chính nghĩa quốc gia tất thắng ngụy nghĩa cộng sản. Nền cộng hòa nhất định sẽ thay thế nền độc tài chuyên chính cộng sản hiện nay tạiViệt Nam trong tương lai không xa.
Kỷ niệm 56 năm ngày thành lập nền Cộng Hòa Việt Nam vào thời điểm này, ngòai mục đích tưởng niệm và ghi ơn những người đã có công thiết lập nền cộng hòa Việt Nam, như Cố TổngThống Ngô Đình Diệm và các dân biểu Quốc Hội Lập Hiền đã sọan thảo ra bản Hiến Pháp Việt Nam Công Hòa ngày 26-10-1956, chúng ta còn tưởng nhớ và ghi ơn hai vịTổng Thống kế nhiệm Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương ( dù các vị Tổng Thống ai cũng có những khiếm khuyết sai lầm về lãnh đạo khi còn tại chúc, song đều một lòng thực tâm bảo vệnền Cộng Hòa Việt Nam), cũng như các Tướng lãnh, quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu hy sinh để bảo vệnền Cộng Hòa non trẻ ấy. Đồng thời, cũng là dịp nhắc nhở chúng ta về mục tiếu chống cộng để thành đạt lý tưởng xây dựng môt chế độ dân chủ cộng hòa đích thực trên quê hương Việt Nam hậu cộng sản, chứ không nhằm thay thế chế độ độc tài cộng sản bằng một chế độ độc tài không cộng sản.
Vì thực tế, đã có những biểu hiện cho thấy một số cá nhân và một số chính đảng quốc gia, đòan thể chống cộng ở Hải ngọai nói chung, Houston nói riêng, dường như đã coi nhẹ mục tiêu tối hậu này của sự nghệp chống cộng. Do đó đã có những chủ trương, họat động và cách ứng xử thiếu khôn ngoan, có tính “Độc tài không cộng sản” với những chiến hữu và đồng hương cùng bè quốc gia dân tộc, phái tự do dân chủ cộng hòa, có chung mục tiêu chống cộng với mình, chỉ vì khác quan điểm và phương thức chống cộng.
Thực tế điều này đã tác hại rất lớn đến sức mạnh đòan kết, niềm tin tất thắng vào “Chính nghĩa Quốc gia” của quần chúng và các lực lượng lãnh đạo công cuộc chống cộng ở hải ngọai cũng như trong nước. Do đó cần phải được chấn chính kịp thời,nếu chúng ta, những cá nhân hay đòan thểmuốn chống cộng vì dân chủ và chống cộng để thắng cộng, chứ không phải chống cộng để lấy tiếng, chống cộng mà chơi, chống cộng chỉ để cho vơi bớt thù hận, dù cộng sản thực tế quả đã gây và để lại quá nhiều thù hận trong lòng mỗi người Việt chúng ta. Nhưng chúng ta không chống cộng vì thù hận mà vì lòng yêu nước muốn đem lại những điều tốt đẹp cho Đất nước, cho tự do, dân chủ và hạnh phúc thật sự cho quốc dân Việt Nam thế hệ hiện tại cũng như tương lai, và cho sự trường tồn của Dân Tộc Việt.
Thiện Ý
Houston, ngày 26 tháng 10 năm 2011.
Hiệu đính ngày 26-10-2012
----------
 

Tiếc Thương Cụ Ngô

 
Lòng con thành kính tri ân
Cụ Ngô Đình Diệm cứu Dân, Nước mình
khỏi rơi vào cảnh điêu linh
để miền Nam (1) sống thanh bình, ấm no...
Năm xưa, còn tuổi học trò,
mừng Ngày Quốc Khánh: Tự Do đã về,
lòng con sung sướng tràn trề,
nhớ ơn của Cụ trăm bề, Cụ ơi!
Nông dân Nam Việt thảnh thơi
nhìn đồng lúa chín: hết đời lầm than!
Dân Di Cư sống an nhàn...
Miền Nam mở hội (2) chứa chan Tình Nhà:
Đồng Bào hát bản “Quốc Ca”,
“Suy Tôn Tổng Thống” (3) tài ba vô cùng!
Cụ là Lãnh Tụ bao dung (4)
để người lầm lạc đứng chung dưới Cờ
màu vàng, sọc đỏ nên thơ:
gọi hồn Quốc Tổ, Âu Cơ, Lạc Hồng,
Ngô Quyền, Hưng Đạo, Tổ Tông,
Anh Hùng Hội Nghị Diên Hồng năm xưa
cho nên lũ giặc không ưa
Cụ Ngô Tổng Thống làm vừa lòng dân!
Thế rồi, vận Nước xoay vần...
Đô-la của Mỹ hơn Dân Tộc mình!
Cái ông Trung Tướng tên Minh,
học trò của Cụ, bạc tình, vong ân!
Hội Đồng Cách Mạng (5) ngu đần:
giết Anh-Em Cụ vì cần đô-la!!!
Chao ôi, Nam Quốc Sơn Hà
cớ sao có lũ đốt Nhà, hại Dân?
Giờ Văn Hóa Việt mất dần,
Đồng Bào cả Nước ngàn lần tiếc thương
Cụ là Lãnh Tụ can trường
bài trừ phong kiến và phường mưu mô!
Mai kia, dựng lại Cơ Đồ,
Danh Thơm của Cụ điểm tô Sơn Hà!
Làm thơ dâng Cụ, lệ sa...
Gọi tên các Cụ (6), xót xa lòng này...
Phan văn Phước

Ghi chú:

1. Bảo Đại mời Cụ tới ba lần về làm Thủ Tướng. Cụ về mới được chừng hai tuần thì Miền Bắc đồng lõa với Nga, Tàu, Pháp, Mỹ để chia đôi Đất Nước. Dù không ký vào Hiệp Định Genève, Cụ vẫn tôn trọng các điều khoản của Hiệp Định và chờ ngày Tổng Tuyển Cử tự do. Nhưng miền Bắc đã vi phạm Hiệp Định ấy bằng nhiều hình thức như cho Bộ Đội lén lút trở lại miền Nam và cản trở làn sóng di cư. Cho nên, ước mơ của Cụ không thành ở bên kia Vĩ Tuyến 17!

2. Chỉ sau vài năm, Cụ Ngô đã biến Saigòn thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” là Mỹ Danh Thế Giới tặng! Có ông bạn Đức nói với tôi: “Hồi còn Ông Diệm, ba mình làm việc tại Tòa Đại Sứ Đức nên mình sang VN ở với ba mình. Mình chỉ nghe nói đến Tokyo và Saigòn, chứ không nghe ai nhắc tới Hongkong!” Dưới thời của Cụ Ngô, Thanh Bình “ngự trị” khắp miền Nam. Về mùa hè, ban đêm ngủ, không cần đóng cửa nhà vì không sợ mất đồ.

3. Một Tín Đồ Phật Giáo là Tác Giả Ca Khúc “Suy Tôn Ngô Tổng Thống”. (Tôi không nhớ tên Tác Giả ấy.)

4. Cụ kêu gọi Quân Đội của các Đảng Phái chống Cụ, về hợp tác với Cụ. Cụ ra lệnh tha chết cho anh Việt Cộng ám sát cụ.

5. Tức là Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Sau này, Tổng Thống Johnson gọi Tướng Lãnh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một lũ du côn!!!

6. Các Cụ là: Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn.

Qua bao thế hệ, Đồng Bào Việt vẫn nghe các câu truyền tụng như sau: “Đày Vua: không Khả! Đào mả: không Bài! Hại Dân: không Diệm!” Ngay cả khi được hỏi: “Tại sao không thủ tiêu Ngô Đình Diệm?”, ông Hồ Chí Minh phải trả lời bằng câu thứ ba vừa nêu bởi vì ông ta sợ Dân.

Cụ Khả và Cụ Diệm đều chống Pháp nên từ chức Quan Lớn Triều Đình Huế vì Bảo Đại là vua bù nhìn. Còn Cụ Diệm, khi được ông Hồ Chí Minh mời tham chính, đã trả lời: “Làm sao tôi có thể cộng tác với người đã giết Anh của tôi?” (Cụ Ngô Đình Khôi)

Chủ Đề 50 Năm Tưởng Niệm CỐ TỒNG THỐNG : Ngô Đình Diệm Và Phật Giáo

Tổng Thống Ngô Đình Diệm Và Phật Giáo

  photo
 
 
 Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam Việt Nam trở thành một Quốc Gia dưới chính thể Cộng Hoà. 
   Một Quốc Gia có đầy đủ chủ quyền, độc lập, tự chủ và tự quyết, được cộng đồng quốc tế công nhận và nể vì.  Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã gầy dựng nước Việt Nam Cộng Hoà từ một đống tro tàn và những hệ lụy của những năm tháng chinh chiến điêu linh, những tàn tích của thực dân phong kiến. 
   Chỉ trong một thời gian ngắn, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ổn định được cuộc sống cho gần một triệu người từ miền Bắc di cư vào Nam tránh nạn cộng sản.
  Toàn thể lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà đã được bình định.  Bên cạnh những ổn định chính trị và quốc phòng, các lãnh vực kinh tế, giáo dục được chú trọng và phát triển một cách nhịp nhàng, với những thăng tiến  xã hội. Người dân từ phía Nam vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mâu sống trong cảnh thanh bình - no ấm.
   Bản Hiến Pháp ngày 26 tháng 10 năm 1956 của Việt Nam Cộng Hoà, đã ghi dấu một bước tiến lịch sử, trên hành trình xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ và tự quyết trong tinh thần tự do dân chủ.  Hiến pháp 1956, được soạn thảo với những kế hoạch và dự liệu nhằm phục vụ nhân phẩm và quyền sống của con người.
   Lý thuyết Nhân Vị bảo vệ và Thăng Tiến đời sống của người dân, được chuẩn nhận và triển khai như là một nền tảng của tất cả những chương trình phát triển.  Tài năng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một lãnh tụ ngoại hạng, đã vượt qua bao khó khăn hiểm nguy. 
   Đạo đức của Tổng Thống, một lãnh tụ liêm khiết - thanh bần, đã chinh phục ngay cả những thù địch.  Trong tinh thần tuyệt đối tôn trọng nền tảng đạo đức dân tộc và luật pháp.
  Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã uy dũng hiên ngang xây dựng cơ đồ cho sự trường tồn của một nước Việt Nam thực sự tự do dân chủ. 

 Từ sau ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát, nhiều gia đình, hội đoàn, hàng năm đều xin lễ cẩu hồn cho hai Ông, để tỏ lòng thương tiếc và mến mộ. Đến khi mất nước, hàng triệu người Việt Nam phải sống đời lưu vong trên khắp thế giới. Nơi nào có người Việt Nam sinh sống, hàng năm đều có tổ chức lễ cầu hồn, tưởng niệm Tống Thống Ngô Đình Diệm. Đó là việc làm đúng với đạo lý, lễ giáo Việt Nam. Chúng ta cần và phải làm. Nhưng với Tông Thống Ngô Đình Diệm, những việc làm này chưa đáp ứng tâm nguyện của Ông. Vì lúc sinh thời, tại nhiều  nơi. Trước nhiều cơ quan, đoàn thể, Quân trường … mỗi  khi thuận tiện, Ông đều nhắn nhủ:

-Tôi tiến. Hãy tiến theo tôi!
-Tôi lui. Hãy giết tôi!
-Tôi chết. Hãy nối chí tôi!
  Ông đã bị giết!  Ông đã chết!  Chết đau đớn!  Chết tức tưởi!  Chỉ vì quyết bảo toàn Danh Dự của Dân Tộc và Chủ Quyền của Quốc Gia Việt Nam! »
   Trên đây, là những dòng của Ông Lê Châu Lộc; nguyên Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và là Thượng Nghị Sĩ thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã viết về những điều mà chính Ông đã chứng kiến, mắt thấy, tai nghe trong suốt thời gian ở bên cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ năm 1959 cho đến ngày 1-11-1963 trên trang:  ngodinhdiem.net
    Người viết là kẻ hậu sinh. Vì thế, trước khi viết bài này, tôi đã phải gọi sang Hoa Kỳ để được nghe chính những lời của Thượng Nghị Sĩ Lê Châu Lộc truyền đạt qua điện thoại viễn liên Mỹ - Pháp về những điều mà chính Ông Lê Châu Lộc đã biết - nghe - thấy trong  suốt thời gian là Tùy Viên ở bên cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Mỗi lần hầu chuyện với Ông Lê Châu Lộc, tôi đều được Ông nhắc lại nhiều lần, để phải ghi nhớ những điều Ông đã nói. Đăc biệt, Ông đã nói về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Phật Giáo.
   Như mọi người đã biết, từ trước và sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã Vị Quốc Vong Thân, thì  Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã từng mang tiếng là « kỳ thị Phật giáo ».
   Nhưng như thế nào để gọi là « kỳ thị Phật giáo »? Bởi, Phật giáo do Đức Thích- Ca-Mâu-Ni khai sáng, khác hẳn với Phật giáo Ấn Quang và cũng là « Phật Giáo Xã Hội Đảng » tại Việt Nam, là một tổ chức đã được mang nhãn hiệu là  « Phật giáo », để hoạt động cho mục đích chính trị, với cuồng vọng là tóm thâu « Sơn Hà Xã Tắc » vào trong tay, như ngày xưa « sư » Vạn Hạnh đã làm.
  Chính vì thế, nên ngày nào Phật giáo Ấn Quang chưa tóm thâu được hết thiên hạ, thì ngày đó Phật giáo Ấn Quang vẫn cứ còn « tranh đấu ».
  Tuy nhiên, vì «Cứu cánh biện minh cho phương tiện », cho nên, Phật giáo Ấn Quang đã là một tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Hà Nội. Bằng chứng là  những hành vi của Phật giáo Ấn Quang như đã đốt nhà, đánh giết người, dập đầu, treo cổ các vị là Quân-Cán-Việt Nam Cộng Hòa, và cả trẻ thơ trong cuộc thảm sát ở hai Phường Thanh Bồ-Đức Lợi tại Đà Nẵng, ngày 24-8-1964. Đem bàn thờ Phật xuống đường vào mùa hè 1966, tại miền Trung, với mục đích để thành lập « Chính Phủ Miền Trung » để liên hiệp với cộng sản. Và trước ngày 30-4-1975, Phật giáo Ấn Quang đã đưa những đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước cộng quân vào các thành phố tại miền Nam tự do ; và đã hạ thủ giết chết nhiều vị là Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa trong lúc giao thời, như tôi đã nêu lên đầy đủ bằng chứng trong bài: 30-4-1975: Máu Và Nước Mắt.
   Và để biết được tấm lòng Cao-Khiết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo như thế nào ; thì không gì bằng những nghĩa cử của Tổng Thống đã làm qua những lời kể của nhân chứng sống là Ông Lê Châu Lộc.
  Vì vậy, với bài này, tôi chỉ ghi lại riêng về chuyện Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Phật giáo, theo những lời kể của Thượng Nghị Sĩ Lê Châu Lộc ; mặc dù đã cao tuổi, song Ông vẫn rất minh mẫn, khi nói về các sự kiện đã qua, tôi xin tóm lược như sau:
   Vào năm 1959, khi đắc cử Tổng Thống nhiệm kỳ 2. Sau khi có kết quả bầu cử,  Tổng Thống Ngô Đình Diệm gọi Sĩ quan Tùy viên Đại úy Lê Châu Lộc cùng đi theo. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đến các chùa trong khu vực nội và ngoại thành Sài Gòn, để cảm ơn khối Phật giáo đã ủng hộ Tổng Thống. Trong đó, có chùa Ấn Quang.
   Hôm ấy, có thượng tọa Thích Quảng Liên đến chào Tổng Thống, và nói lời cảm ơn vì đã được Tổng Thống đặc biệt gửi đi học tiến sĩ giáo dục tại Michigan State University. Sau đó, trong khi đón tiếp Tổng Thống thì Thượng tọa Thích Thiện Hòa đã trách Tổng Thống rằng:
    - Tổng Thống có chuyện vui, mà không cho anh em chúng tôi biết, để chúng tôi cùng được chung vui với Tổng Thống.
  Nghe vậy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã nói:
   - Có chuyện chi vui, mà tôi giấu các Thầy mô? 
   - Dạ, thưa Tổng Thống, qua Tăng đoàn Tích Lan, chúng tôi được biết Tổng Thống đã tặng Đức Đạt Lai Lạt Ma một số tiến lớn.
  Sau khi nghe Thượng tọa này nói, Tổng Thống ngồi lặng thinh một lúc, rồi nói:
   - Vì là một việc tế nhị, tôi không muốn cho ai biết, chứ không phải tôi giấu các Thầy. Tôi có nhận được Giải thưởng Leadership Magasaysay  15.000 đô la, (giải thưởng dành cho người lãnh đạo xuất sắc tại Á Châu). Tôi thì không có nhu cầu chi. Gặp lúc này, Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị tượng trưng cho sự tranh đấu bất khuất để bảo vệ niềm tin, bảo vệ tôn giáo của dân tộc Ngài, đang gặp nạn, phải sống lưu vong, cần nhiều sự giúp đỡ. Tôi thấy mình có bổn phận phải giúp Ngài, nên tôi nhờ Thủ tướng Nerhu chuyển số tiền này cho Ngài, nhưng Ông khước từ, có lẽ Ông ngại mất lòng Trung cộng. Tôi phải nhờ qua ngã Cơ Quan Tỵ Nạn để chuyển số tiền này đến tay Ngài. Các Thầy cũng biết, mình đang phải chống lại một chủ nghĩa vô thần rất tàn bạo. Nên chỉ có niềm tin tôn giáo, mới có đủ sức mạnh chống lại được với chủ nghĩa tai hại này. Vì thế, đối với việc phát huy, cũng cố, bảo vệ niềm tin tôn giáo, bất câu là tôn giáo nào, mình cũng có bổn phận phải khuyến khích và giúp đỡ.
   Ngoài ra, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã giúp đỡ để xây cất nhiều chùa ; trong đó, có chùa Xá Lợi. Người đứng ra nhận tiền và xây cất là Cư sĩ Mai Thọ Truyền.
   Cũng tương tự như thế, người viết muốn nhắc lại: Riêng chùa Nam Thiên Nhất Trụ (Chùa Một Cột tại miền Nam) ; thì chính « Hòa thượng » Thích Trí Dũng là người đã nhận tiền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm ; để rồi sau đó, Thích Trí Dũng đã biến ngôi chùa này và chùa Phổ Quang là nơi ở của tên Thiếu tướng Việt cộng Trần Hải Phụng. Đồng thời, đã nuôi giấu cả «Lữ đoàn 316 - Biệt Động Thành Sài Gòn - Gia Định », với những tên nổi tiếng như Nguyễn Văn Bá … v…v…Và chính Thích Trí Dũng đã công khai trên sách báo, với cái tựa đề:
« Nam Thiên Nhất Trụ: Người Dựng Chùa Một Cột tại Miền Nam ». Thích Trí Dũng đã viết: 
« Trong cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, chùa Phổ Quang là nơi khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất ».
  Kính mời quý độc giả hãy đọc lại bài: Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân: 1968-2008 ; để biết rõ những điều mà chính « Hòa thượng » Thích Trí Dũng đã viết công khai về những hành vi cộng sản của một « cao tăng » của Phật Giáo Ấn Quang.
    Trở lại với chuyện Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Phật giáo. Thực ra, không hề có cái gọi là « kỳ thị Phật giáo ». Bởi nếu thế, thì làm gì có chuyện Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã gửi trọn số tiền 15.000 đô la, của Giải thưởng Leadership Magasaysay để giúp Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng??? Cũng như đã cung cấp tiền cho « Hòa thượng » Thích Trí Dũng để xây dựng chùa Nam Thiên Nhất Trụ, chùa Phổ Quang … và giao tiền cho Cư sĩ Mai Thọ Truyền để xây dựng chùa Xá Lợi, và nhiều chùa khác nữa???
   Đến đây, thiết tưởng đã quá đủ, để cho những ai còn nghĩ Tổng Thống Ngô Đình Diệm « kỳ thị Phật giáo » sẽ có một cái nhìn khác hơn.
  Hãy trả công đạo cho Người đã có đại công nghiệp: Khai sinh ra Nền Cộng Hòa Việt Nam và đã xây dựng được một nước Việt Nam Cộng Hòa dân chủ-tự do-thanh bình-no ấm cho người dân tại miền Nam, mà một thời đã được thế giới công nhận là Hòn Ngọc Viễn Đông.
   Cuối cùng, tôi xin thành kính tri ân những lời chỉ giáo của Thượng Nghị Sĩ Lê Châu Lộc. Ông thường nói lên những ước muốn, là mong tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính, biết đặt Tổ Quốc và Dân Tộc lên trên hết, thì hãy đồng tâm, quyết chí kết hợp lại thành một đại khối Dân Tộc, hầu tìm ra phương hướng để đấu tranh cho một nước Việt Nam Tự Do-Dân Chủ không cộng sản. Đồng thời, để đánh đuổi giặc Tầu, là kẻ thù truyền kiếp của Dân Tộc, quét sạch bọn chúng ra khỏi bờ cõi Việt Nam.
  Và người viết cũng không quên những lời của thượng Nghị sĩ Lê Châu Lộc luôn luôn nhắc nhở về Di Huấn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm:
- Tôi tiến. Hãy tiến theo tôi!
- Tôi lui. Hãy giết tôi!
- Tôi chết. Hãy nối chí tôi!
 
29-5-2011
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
-------------------------------------------------------------

photo


Saigon 1961


photo


Saigon 1961


photo


Saigon 1961


photo


Saigon Jul 01, 1961 - Vietnam Pres. Ngo Dinh Diem receiving delegation of Buddhist monks at Presidential Palace on 7th anniv. as president.


Ngày 1 tháng 7 năm 1961- TT Việt Nam Ngô Đình Diệm tiếp phái đoàn các tu sĩ Phật giáo tại Dinh Độc Lập nhân dịp kỷ niệm 7 năm cầm quyền 1955-1961.

 

Bài Xem Nhiều