We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 7 November 2013

Thú rong chơi của dân Anh


Великобритания лондон снег зима погода
Người viết vừa trở về Luân Ðôn sau hai tuần đi chơi tại Trung Quốc. Một trong những điều đáng ngạc nhiên là trong số những khách du lịch gặp gỡ tại hầu như mọi nơi ở Trung Quốc con số người Anh rất nhiều. Và số người Anh sinh sống tại nơi này cũng không nhỏ.
Ðây quả là một chuyện đáng ngạc nhiên. Về dân số, dân Anh không cao lắm, chỉ bằng một phần năm nước Mỹ (60 triệu do với 300 triệu) nhưng số người Anh sinh sống ngoài nước Anh so với dân số vượt xa hơn nước Mỹ. Theo các thống kê của Bộ Ngoại Giao Anh, có đến 14 triệu người Anh - gần một phần tư dân số, sống ít nhất là một phần của năm tại nước ngoài. Và bất kể mọi lúc bao giờ cũng có khoảng 4.5 triệu người mang thông hành Anh ở nước ngoài.

Trên một phương diện nào đó, những con số này cho thấy Anh quốc là nước có một cộng đồng dân chúng của mình sống ở nước ngoài lớn nhất trong thế giới của những nước phát triển. Và những người này chắc chắn không phải là loại như anh chàng lái taxi tại Luân Ðôn mà cứ hăm he sẽ dọn nhà sang Tây Ban Nha để thoát khỏi bọn ngoại quốc ở Luân Ðôn, hoặc là con số khoảng 200,000 người Anh dọn nhà sang khu Dordogne của Pháp và thấy rằng cả nửa miền Bắc Âu cũng có mặt tại đó.

Sự thật là tinh thần phiêu lưu của dân Anh vốn đã là một yếu tố lịch sử từ nhiều thế kỷ nay, hoặc là vì lý do chinh phục hoặc chiến tranh (Anh là một trong những nước đóng góp nhiều người nhất cho các cuộc Thập Tự Chinh thời Trung Cổ) hoặc là vì thói tò mò hoặc vì thể hiện quyền tự do cá nhân. Dưới thời Nữ Hoàng Victoria của thế kỷ thứ 19, đối với giới quý tộc hoặc là tư sản thượng lưu một chuyến di dài ngày tại các nước Châu Âu (đặc biệt là Ý và Hy Lạp) gọi là Grand Tour of Europe là một điều bắt buộc trong quá trình trở thành một nhân vật của xã hội thượng lưu. Giai đoạn đế quốc cũng cho hàng trăm ngàn người Anh một cuộc sống ưu đãi như là giai cấp thống trị tại các thuộc địa ở Châu Á và Châu Phi, (sau Thế Chiến Thứ Hai chẳng hạn khi quân đội Anh cho giải ngũ hàng triệu binh sĩ, người ta nói các hạ sĩ quan thì di cư sang Rhodesia nay là Zimbabwe còn các sĩ quan thì di cư sang Kenya - và đó là lý do tại sao cuộc chiến tranh giành độc lập tại hai nước này phức tạp và đẫm máu).

Trong giai đoạn đen tối của những năm hậu chiến thời 1950, số người Anh bỏ nước ra đi nhiều đến nỗi người ta sợ rằng tình trạng gọi là “chảy máu não” (brain drain) sẽ khiến nước Anh không còn những người giỏi nhất và thông minh nhất nữa. Nhưng những năm 60 huy hoàng với Luân Ðôn trở thành một trung tâm thời thượng đã giúp cho giới trẻ lưu lại tại Anh nhiều hơn, tuy rằng những thống kê cho thấy cho tới vài chục năm sau - phải đến những năm 1980 - số người bỏ nước ra đi vẫn nhiều hơn số người nhập cư: lưu vong là một lựa chọn tự nhiên đối với những ai muốn tìm một chân trời mới hấp dẫn hơn, hoặc là không chắc chắn về vị thế của mình tại quê hương hoặc là muốn làm lại từ đầu cuộc đời.

Bây giờ sau mấy chục năm di dân giảm sút, người Anh có vẻ lại bị thúc đẩy bởi ước vọng phiêu lưu. Ðúng vào lúc mà nước Anh bắt đầu nhận hàng triệu những người di dân mới từ các nước Ðông Âu (trong mười năm qua, riêng Ba Lan đã có 600,000 người di dân sang Anh) người Anh bắt đầu bỏ ra ngoại quốc càng ngày càng nhiều.

Theo những con số chính thức năm ngoái có đến 359,000 người Anh di cư ra nước ngoài, tăng một phần ba so với cách đây mười năm. Và theo một cuộc thăm dò được đài BBC thực hiện thì con số người Anh dự trù di cư ra nước ngoài đã tăng gần gấp đôi so với năm ngoái (13% so với 7%).

“Di cư ra nước ngoài là vế bên kia mà thường không được để ý đến của phương trình về di dân,” đó là nhận định của Danny Sriskandarajah, phó giám đốc viện nghiên cứu Institute for Public Policy Research. “Vào lúc này người Anh di cư ra nước ngoài với con số kỷ lục. Hiện có nhiều người Anh sống ở nước ngoài hơn là người nước ngoài sống ở Anh.”
Tại sao họ di cư? Và họ đi những nơi nào?

Có nhiều lý do và không phải chỉ thuần vì những lý do kinh tế. Ngoài ra còn di sản của đế quốc cũng để lại dấu ấn trong các con số tỷ như con số 175,000 người có thông hành Anh sống ở Nam Phi mà hầu như đã sống ở đây từ lâu và chỉ giữ thông hành Anh như là một phương tiện bảo vệ để ra đi nếu cần. Các con số của Bộ Ngoại Giao Anh cũng cho thấy có 800,000 người mang thông hành Anh sống tại Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông), một di sản của việc cai trị của Anh tại Hồng Kông. Nước mà dân Anh sống di cư nhiều nhất là Úc với 615,000 người sau đó là Hoa Kỳ với 500,000. Tây Ban Nha và Pháp là hai nước Châu Âu mà dân Anh sang sinh sống nhiều nhất, mỗi nước có khoảng 200,000.

Còn một lý do sâu xa nữa đẩy những người Anh ra khỏi nước của mình. Ðó là trong linh hồn người Anh bao giờ cũng chen lẫn một cảm giác mâu thuẫn; một mặt họ tự hào về những thành quả lịch sử của mình, đất nước sản xuất ra Shakespeare và mở đầu cuộc cách mạng kỹ nghệ, nhưng mặt khác người Anh lại có một một mặc cảm tự ti sâu đậm rằng người Mỹ thì lớn hơn bạo trợn hơn; rằng người Ý lịch sự hơn trong cách ăn mặc; người Pháp tinh vi hơn trong cách hành xử và ăn uống trong khi người Ðức thì có hiệu năng cao hơn.

Thành ra và lúc này nước Anh có thể là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất tại Châu Âu với một tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá nhà đất phục hồi. Nhưng nó cũng là đất nước của các hãng máy bay rẻ tiền; của những chuyến đi ra nước ngoài nhằm giải thoát khỏi những kềm kẹp của xã hội: những ước vọng của những kẻ bất mãn muốn đến một nơi nào khác.

Nhưng có lẽ vì vậy mà khi người Anh di cư sang một nước khác, chưa chắc là họ đã có được hạnh phúc. Theo cuộc khảo sát của đài BBC thì Úc là nước mà dân Anh di cư ưa thích nhất. Nhưng cũng chính tại nước Úc, người Úc đã có câu thành ngữ “whingeing pommies” (cái bọn Ăng Lê hay cằn nhằn) để chỉ những người mới đến từ hòn đảo xa xôi này.

 Lê Mạnh Hùng

Sáng Đôi Mắt Mù

  
01 SangMat

Dạo đó, khi cả miền Nam đang bấn loạn lên, vì cuộc chiến tranh mấy mươi năm sắp đến hồi kết cuộc. Bắc quân hồ hởi tiến mau như chẻ tre. Nam quân rút bỏ, tan rả mau chóng. Những người không am hiểu tình hình chính trị quốc tế thì ngỡ ngàng, ngạc nhiên, không tin được về sự thực đang xẫy ra trên đất nước nầy.

Dân miền Nam đua nhau bỏ chạy ra biển, chưa biết sẽ trôi nổi về đâu, cũng chưa biết sẽ đi nơi nào, làm gì mà sống, sống có được hay không. Không cần biết. Cứ chạy trốn đã. Những người nầy, đã có một ít hiểu biết hoặc kinh nghiệm sống với cọng sản, nên liều chết ra khơi. Mấy cụ già miền Nam vuốt râu nói:

“Cọng sản cũng là người Việt Nam mình với nhau, việc chi mà sợ? Cọp nó còn chưa ăn con, huống hồ chi họ với mình cùng tổ tiên, cùng giòng giống. Miền Bắc hay miền Nam đều là anh em với nhau cả mà. Chạy đi đâu làm chi cho mệt.”

Những người trong chính quyền miền Bắc chắc cũng không hiểu nổi, tại sao nhân dân miền Nam sắp được “giải phóng”, sắp được sung sướng, sao mà lại bỏ chạy. E rằng, họ bị Mỹ Ngụy tuyên truyền đầu độc, nên dại dột dong thuyền ra khơi. Họ cho rằng, những người bỏ trốn họ, là loại trây lười, sợ lao động, sợ khổ.

Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh sắp tàn. Bạn của Tâm hối hả đến tận nhà lo lắng nói :

“Anh sửa soạn hai bộ áo quần. Đem theo một ít thức ăn khô, một chai nước. Tôi đã ghi danh cho anh được xuống xà lan ở Tân Cảng, và sẽ được kéo ra khơi hôm nay hoặc ngày mai.”

Tâm trầm ngâm:

“ Không đi đâu cả. Tôi sinh ra trên quê hương nầy, và sẽ sống và chết với quê hương.”

“Anh chấp nhận sống với cọng sản.?”

“Anh chưa hiểu ý tôi. Nếu phải chọn tự do và cọng sản, thì tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ một chính thể tự do. Nhưng nếu phải chọn quê hương và một nơi vô định khác, thì tôi chọn quê hương. Đất nước mình đã chịu chiến tranh tàn phá ba mươi năm nay. Tan tác, đổ vở quá nhiều. Bây giờ là lúc toàn dân cần góp tay xậy dựng lại quê hương thân yêu của chúng ta. Tôi đã chuẩn bị tinh thần rồi. Chấp nhận đi tù vài, ba năm, nếu phải đi đập đá Trường Sơn, thì đá đó cũng để xây dựng đường sá và nhà cửa cho quê hương nầy. Đi ra ngoài, dù có làm được gì, thì cũng là làm cho người ta. Tôi chấp nhận mọi gian khổ để đổi lấy cuộc sống còn có quê hương.”

Người bạn nhìn Tâm với ánh mắt u buồn:

“Tôi ước mong sao ý nghĩ của anh là đúng, và sau nầy không ân hận”

Tâm quả quyết:

“ Tôi sẽ không bao giờ ân hận với chọn lựa nầy. Tôi chọn quê hương.”



Nửa tháng sau ngày miền Bắc thắng trận, một ông chú của Tâm, là cán bộ có vai vế, từ Hà Nội vào tiếp thu Sài gòn. Ông  ghé lại nhà thăm. Ông nầy đã hăng hái tham gia cuộc kháng chiến từ thời khởi đầu năm 1945. Trong tình thân gia đình, ông bực bội hỏi:

“ Sao không bỏ chạy, mà giờ nầy còn ở đây? Thế thì khổ đời anh rồi.”

Tâm ngỡ ngàng, nhưng cũng quả quyết nói:

“ Cháu ở lại, để góp một tay xây dựng lại quê hương đổ vở. Chỉ mong làm một hạt cát nhỏ trong công cuộc tái thiết đất nước nầy”

Ông chú cười buồn mà nói:

“Ai cho anh xây dựng mà hòng? Anh tưởng dễ lắm sao?”

“ Cháu không hiểu hết ý của chú.”

“ Rồi anh sẽ hiểu. Anh phải “kinh qua” mới thấm và hiểu. Chưa thực sự sống trong chế độ, thì dù cho có đọc ngàn cuốn sách, anh cũng còn mơ hồ và đầy ảo vọng.”

Tâm mạnh dạn nói mà không sợ ông chú buồn lòng:

“ Nếu cháu không lầm, thì chú cũng đang là một rường cột của chế độ nầy. Với cái vai vế của chú, thì chú cũng có thể tạo điều kiện cho những người yêu mến quê hương nầy có cơ hội phục vụ đất nước. Quê hương nầy là của chung, gia sản của tổ tiên nhiều đời gây dựng lại, không của riêng ai, không của riêng đảng phái nào.”

Ông chú cười, ánh mắt có vẻ thương xót người cháu, ông nói:

“Không. Anh nói vậy là chưa hiểu chi về xã hội chủ nghĩa cả. Chú cũng chỉ là một bánh xe trong guồng máy đang vận hành. Bánh xe nào không hoàn toàn ăn khớp, thì bị loại ra ngay. Bị vứt bỏ không thương tiếc. Bị chà đạp, bị hành hạ, sống không được, chết không xong. Anh không có quyền yêu mến quê hương theo tâm ý của anh. Phải yêu theo lối của người khác vạch ra, hoàn toàn đi trong đường lối đó, nếu anh muốn sống còn. Tôi xin anh, đừng có nói cái giọng điệu quê hương là gia sản chung cho ai khác nghe, mà không có lợi cho bản thân anh.”

Tâm thở dài. Một lúc sau ông chú nói tiếp:

“Điều cần thiết nhất chú dặn anh, là đừng có dại mà thành thật khai báo lý lịch và tội lỗi của mình.  Anh đã ở miền Nam, thì dù anh có làm gì, hay không làm gì, cũng có tội với cách mạng cả. Phải tự nhận là có tội, và chỉ nhận những tội khơi khơi thôi.  Chuẩn bị một bản lý lịch cá nhân. Cái gì không lợi thì đừng khai. Cái gì giấu được thì giấu. Viết càng ngắn, gọn, rõ ràng càng tốt. Khai cho y hệt nhau, đừng sai chạy.  Đó, chú chỉ giúp anh được chừng ấy thôi, anh nhớ cứ làm theo , thì bớt được vận hạn khó khăn.”

Tâm chấp nhận đi tù cải tạo với sự bình tỉnh, không chút lo lắng buồn phiền. Anh đã chuẩn bị trước, và đây là chuyện phải đến. Tâm cũng không có ảo vọng đi “học tập” một tháng hay hai tuần như thông cáo do chính quyền phổ biến. Nhưng Tâm vẫn mong rằng, anh nghĩ sai. Anh đã chuẩn bị cho một cuộc đời tù tội lâu dài. Mang theo những vật dụng thật bền, chắc chắn. Những tuần đầu trong trại cải tạo, Tâm thấy bạn bè xài phí những vật dụng mang theo, anh nói với các bạn trong một buổi họp tổ:

“Các anh nên tiêu xài tiết kiệm lại một chút. Đâu đã chắc một tháng là được về ngay !”

Các bạn anh nhao nhao phản đối :

“ Cánh mạng trước sau như một. Anh không tin tưởng chính sách của cách mạng sao? Anh còn tư tưởng lạc hậu lắm. Cách mạng nói một tháng, là một tháng, không sai chậy đâu.”

Thấy tất cả bạn bè đều phản đối dữ dội, và nếu cán bộ quản giáo biết được, hay có người báo cáo thì bất lợi cho bản  thân, Tâm vội vàng cười giả lả:

“ Thôi mà, tôi nói chơi cho vui, mà làm anh em sợ. Nói đùa , anh em bỏ qua đi.”

“Đùa làm đứng tim người ta. Cách mạng không bao giờ nói sai cả.”

Tâm biết anh em sợ, không dám nghe nói sự thực. Muốn nuôi ảo tưởng là một tháng sẽ được tha về, nên phản đối lời khuyên của Tâm.

Sau ba tuần mà chưa thấy “bài vở và học tập” chi cả. Đám tù lao nhao tiên đoán rằng, cách mạng sẽ khoan hồng cho về, mà không cần học tập lôi thôi. Đoán rằng, họ sẽ phát tài liệu cho anh em đọc, vì ai cũng đã có trình độ học vấn khá, không cần phải giảng dạy. Tâm chỉ cười, và mong sao cái mơ ước hão huyền của anh em đúng sự thực, chứ trong lòng Tâm, không hề có ảo tưởng nào. Nhiều đêm, khi chín giờ, đèn điện tắt, có tiếng tắc kè kêu vang dội rất rõ trên đồi cao: “ Tắc kè. Tắc kè.” Anh em diễn dịch ra là có điềm tốt thông báo, nên tắc kè kêu là “ Sắp về. Sắp về.” Có nhiều anh loan tin rằng, mấy đêm nay xem thiên văn, thấy nhiều sao chiếu đồng quy về hướng Sài gòn, bởi vậy, anh em cũng sắp được tha về nay mai.

Nhiều tháng sau vẫn chưa được tha về, mà thời gian tù không xác định. Tiếng tắc kè được diễn dịch lại là “Đếch về. Đếch về.”

Một người bạn nói với Tâm:

“ Cán bộ luôn luôn nhắc nhở là “yên tâm cải tạo”, làm sao mà yên tâm, khi gia đình còn lắm việc bộn bề, vợ con không biết sinh sống ra làm sao, ngày ra trại chưa được xác định. Thì làm sao mà yên tâm cải tạo được?”

Tâm cười và trả lời:

“Yên tâm cải tạo. Đúng. Mấy ông cán bộ nói đúng. Yên tâm đi, ngày về còn xa lắm lắm.  Đừng nôn nóng, vô ích. Không yên tâm, thì cũng không được gì. Bận lòng thêm khổ. Chúng ta bị mắc bẩy rồi, cứ đừng hy vọng, đừng mong ước gì cả. Yên lòng. Nếu có một ngày nào đó, được kêu tên cho ra về, thì sung sướng lắm. Nếu chưa đưọc về, cũng đừng mong. Có mong là có bồn chồn, có khổ tâm. Hãy yên tâm đi, yên tâm cải tạo”

Mấy người bạn Tâm bây giờ đã bớt ảo tưởng, nhưng vẫn chưa tắt niềm hy vọng. Họ thường tỏ vẻ bực bội khi nghe các bạn khác đọc các câu thơ: “Bao giờ cọc sắt nở hoa. Bà Đen hết đá thì ta mới về” hoặc “Khi đi vợ mới mang bầu. Ngày về con đã bạc đầu như cha.”

Nhờ lời khuyên của ông chú đã từng kinh qua dày dạn trong chế độ, là đừng dại dột thành thật khai báo, nên Tâm được tha tù, về nhà sớm hơn bạn bè cùng trang lứa, cũng mất hơn ba năm, gần với thời gian anh đã  tiên đoán và chấp nhận.

Trong thời gian nầy, tình hình lương thực vô cùng khó khăn. Cả nước đều đói vàng mắt, nhà nhà ăn độn khoai sắn, bo bo, mì sợi. Bụng dạ mọi người khi nào cũng lưng lửng, nhột nhạt, có kiến bò. Miệng thì luôn thòm thèm. Đời sống thường ngày vô cùng khó khăn. Ít còn ai đủ dại để tin tưởng vào tương lai tươi sáng hạnh phúc. Không biết ai bày, mà bọn trẻ con hàng xóm thường ngêu ngao hát bài ca sửa lời: “...tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá, kể từ giải phóng vô đây, ta ăn độn dài dài, kê từ giải phóng vô đây, ta ăn độn toàn khoai…”

Một lần nghe cuộc bàn cãi giữa hai ông cậu, ông cậu nhỏ là người đi tập kết ở miền Bắc về, nói với ông cậu lớn tuổi rằng:

“ Anh chưa ‘giác ngộ cánh mạng’ thì anh đừng nói, đừng bàn luận về xã hội chủ nghĩa. Phê bình mà chưa biết rõ bản chất, thì đừng nên nói, không có lợi cho anh và gia đình.”

Ông cậu lớn tức tối nói:

“ Làm sao mà tôi giác ngộ cách mạng của các người được? Còn bản chất của xã hội chủ nghĩa, không nói ra, ai cũng biết là cái gì rồi.”

“Anh có biết giác ngộ cách mạng là gì không? Giác ngộ nghĩa là biết rõ, biết đến nơi đến chốn, không phải biết lơ mơ như các anh. Biết cái gì? Biết cách mạng vô cùng nghiêm khắc, tàn bạo, không khoan nhượng. Nghĩa là biết sợ cách mạng trù dập, sợ bị thanh toán, thủ tiêu, sợ bị giam đói, bị bao vây kinh tế, bao vây tình cảm. Tóm lại, giác ngộ cách mạng là biết sợ cách mạng, sợ vô cùng, không dám hó hé chi cả. Cách mạng nói sao, mình  nghe vậy, nói theo y như vậy, đừng sai chạy mảy may, đừng để cái lý trí phán đoán sai đúng xen vào. Người giác ngộ cách mạng sẽ dễ sống, dễ thở, và an toàn hơn trong cái xã hội chủ nghĩa.”

Ông cậu lớn nói với giọng chán nản:

“ Thế thì giác ngộ cách mạng là phải biết hèn nhát, nói như vẹt, mềm như bún. Không kể gì đến sĩ khí, nhân cách nữa sao?”

Ông cậu ‘cách mạng’ trả lời:

“Hừ, sĩ khí và nhân cách để làm gì nếu cái bao tử trống không, đói khát hành hạ, vợ con nheo nhóc, xóm giềng xa lánh, hất hủi mình vì sợ liên lụy?”

Ngừng một lát, ông nầy nói tiếp:

“ Thời nầy, tốt nhất là bịt tai, nhắm mắt mà sống. Đừng bao giờ nói ý nghĩ trung thực của mình  cho ai nghe. Có lẽ, tốt hơn hết là đừng có ý kiến chi khác với mọi người. Ai sao mình vậy. Đúng hay sai, thật hay giả, không cần biết đến làm chi. Đó là thái độ khôn ngoan nhất.”

Ông cậu lớn tuổi lắc đầu:

“ Không được. Phải can đảm nhìn thẳng vào sự thật, và đừng tự dối lòng để giả tin vào lời lừa mị láo khoét. Nếu ai cũng dám nhìn thẳng vào sự thực, nói lên sự thực, thì bọn dối trá sẽ không còn đất sống, và không còn cơ hội ức hiếp, áp bức kẻ hiền lương. Người miền Bắc và miền Trung khôn ngoan quá, cẩn trọng quá, nên gắng nhịn nhục để sống còn, bởi vậy nên bị ức chế, bị chà đạp, bị dày xéo, không còn thể thống chi cả. Chú ra ngoài chợ Sài gòn mà xem, hay chú lên xe đò mà nghe các bà chữi cho nát mặt, nát mày, có dám bỏ tù hết cả nhân dân miền Nam nầy không? Ban đầu, các anh ‘cách mạng’ cũng hung hăng, doạ dẫm, định áp đặt chính sách cai trị hà khắc như cai trị dân miền Bắc lên vùng đất nầy. Nhưng không ai sợ cả, không ai hùa theo lời nói láo khoét. Mấy anh bị hố. Dân miền Nam không hèn nhát đâu.”

Ông cậu ‘cách mạng’ hạ thấp giọng:

“Nhân dân miền Nam nầy ăn nói phản động, không có lợi lộc gì cả, mà lại hại đến bản thân, gia đình. Nói lời phản động, để được cái gì chứ? Anh tưởng chúng tôi đều ngu muội, mù quáng cả, không nhìn thấy và phân biết được sự thực và dối trá sao? Sống theo nếp sống mới thì phải biết ‘nói điều mình không tin, và tin điều mình không dám nói’ Đó là thái độ khôn ngoan, thức thời.”

Mỗi ngày từ sáng tinh mơ, loa đã oang oang kêu gọi dân chúng sống theo nếp sống văn minh. Tâm không biết nếp sống văn minh của xã hội chủ nghĩa ra làm sao, đem hỏi ông một ông chú ‘cách mạng’ khác. Ông hạ giọng thầm thì:

“Cái gì người ta thiếu, thì nói nhiều đến cái đó. Văn minh bây giờ là xe chạy bằng than củi, ăn cơm độn khoai sắn, xới vườn hoa trồng rau khoai rau dền, nuôi heo trên tầng lầu chúng cư, áo quần xám xịt một màu, ăn nói một lời giống nhau y hệt. Văn minh mà nhà nước ta đang nhắm đến là làm sao cho miền Nam tiến kịp miền Bắc trong tiêu chuẩn … nghèo đói.”

Tâm cười: “Các ông bà con đi tập kết về khuyên đừng ăn nói phản động. Thế mà lời của chú, nghe ra còn phản động hơn ai hết. Thế thì hai mươi mấy năm đi theo cách mạng, chú đã làm được công trạng gì trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa?”

Nét mặt ông chú có vẻ tức tối: “Công trạng cái con khỉ. Vì chú không biết a dua, không hèn nhát nói theo lời lếu láo dối trá của bọn chúng, nên chú bị bao vây, bị cô lập, bị bỏ đói trong hai mươi năm tập kết ra Nghệ An. Chú kiếm sống bằng nghề ‘hớt tóc chui’. Cả nước đã đói cho vàng mắt ra, gia đình chú còn đói hơn ai cả. Con cái không được nhận vào trường, thất học cả đám. Chẳng bị tù rục xương là may mắn lắm rồi cháu à.”

“Thế thì xin chú cho cháu một lời khuyên, để sống còn trong xã hội mới nầy.”

Ông chú lắc đầu: “Không còn cách nào để cho các thành phần như cháu sống còn cả. Ngoại trừ… ngoại trừ bỏ nước ra đi. Chỉ có con đường đó thôi.”

Một năm sau, Tâm đến được bến bờ tự do sau bao lần suýt bỏ mạng trên biển cả. /./.


 
 
Con người cần điều gì  ?- cần đôi mắt sáng, cần có ánh sáng. Đôi mắt và ánh sáng như là phương tiện cho cuộc sống mỗi con người.
 
 Tràm Cà Mau  

Tham luận: TUỔI TRẺ VIỆT NAM HẢI NGỌAI CÓ THỂ LÀM GÌ CHO CỘNG ĐỒNG VÀ CHO QUÊ MẸ VIỆT NAM.




        Khi nói tuổi trẻ việt nam hải ngọai, chúng tôi muốn nói đến cac bạn trẻ vốn là con em thế hệ cha chú, những người có căn cước chung tỵ nạn cộng sản, đã hiện diện tại Hoa Kỳ cũng như trên nhiều quốc gia khác ở hải ngọai, không phải vì lý do kinh tế, mà vì lý do chính trị: Không chấp nhân chế độ độc tài cộng sản, mà cha chú họ đã phải rời bỏ Việt Nam bằng mọi cách, dù nguy hiểm đến tính mạng, để đi tìm tự do. Những người trẻ mà dù muốn hay không cũng đã chọn quốc gia mình đang sống là quê hương thứ hai sau Quê Mẹ Việt Nam, là Tổ quốc thứ hai, sau Tổ Quốc Việt Nam.Vậy thì, những Ban trẻ này có thể làm gì cho Cộng Đồng, Cho Quê Mẹ Việt Nam, trong hiện tại cũng như tương lai?
        Muốn trả lời câu hỏi này, tuổi trẻ Việt Nam hải ngọai cần biết những nhu cầu của các Cộng Đồng Việt Nam hải ngọai, cũng như của Quê Mẹ Việt Nam trong hiện tại cũng như tương lai.
         Đối với các Cộng Đồng và Quê Mẹ Việt Nam, muốn biết những nhu cầu trong hiện tại và tương lai, các Bạn Trẻ Việt Nam cứ nhìn vào những gì tốt đẹp mà thế hệ cha chú đã và đang làm, từ quá khứ đến hiện tại ở các cộng đồng Việt Nam hải ngọai, và biết được những ước vọng tương lai của thế hệ cha chú cho Cộng Đồng Việt Nam trong lòng quốc gia đang sống và cho Đất nước Việt Nam mai hậu.Biết những việc làm tốt đẹp và ước vọng tương lai của thế hệ Cha Chú để cùng tham gia, tiếp nối, biến những ước mơ tương lai thành hiện thực.
         Vậy những việc làm tốt đẹp và những ước mơ tương lai của thế hệ cha chú là gì?
         Từ quá khứ đến hiện tại ở các cộng đồng Việt Nam hải ngọai, thế hệ cha chú đã thực hiện những điều tốt đẹp cho tổ chức cộng đồng, cũng như những họat động trên  các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… nhằm thực hiện hai nghĩa vụ căn bản đối với Cộng Đồng và đối với Đất nước Việt Nam.
       Về tổ chức Cộng Đồng, thế hệ cha chú đã không ngừng xây dựng, duy trì, củng cố và phát huy các tổ chức Cộng Đồng Việt Nam luôn đòan kết, thống nhất, ngày càng vững mạnh,uy tín và phồn vinh, để tạo uy thế cho một cộng đồng sắc dân thiểu số trong lòng quốc gia đang sống. Từ thế và lực mạnh, có thể bênh vực, bảo vệ hữu hiệu các quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mọi đồng hương sống chung và gắn bó nhau trong cộng đồng. Và vì vậy, giới trẻ, ngòai thời gian và nỗ lực thăng tiến nghề nghiệp, lo cho đời sống cá nhân, gia đình, cần tiếp nối bằng cách tham gia vào cơ chế lãnh đạo và điều hành các họat động công ích của Cộng Đồng, như ứng cử vào các chức vụ Hội Đồng hay Ban chấp hành Cộng Đồng; hoặc tham gia vào các Ban, ngành trong cơ chế vận hành của Cộng Đồng, để trong tương lai thay thế hòan tòan vai trò tổ chức, lãnh đạo các họat động công ích trong Cộng Đồng. vì dù muốn hay không thế hệ cha chú rồi đây cũng phải về hưu khi tuổi già sức yếu, chí thì còn, song lực bất tòng tâm.
       Về các họat động tốt đẹp của thế hệ cha chú,trên lãnh vực chính trị, các bạn trẻ cần tham gia tích cực các họat động đấu tranh chống cộng vì mục tiêu dân chủ hóa Việt Nam, tạo tiền đề cho công cuộc xây dựng, phát triển Quê Mẹ Việt Nam đến giầu mạnh, văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hóa chung của nhân lọai. Một mục tiêu cao cả, vì đồng bào trong nước và vì Tổ Quốc Việt Nam, mà thế hệ cha chú đã hy sinh xương máu, chiến đấu từ nhiều thập niên qua, cho đến nay vẫn không bỏ cuộc, vì niềm tin tất thắng của chính nghĩa đấu tranh của mình.
      Nhiệm vụ của giới trẻ Việt Nam hải ngọai, không chỉ tiếp nối các họat động và truyền thống đấu tranh này, để sớm thành đạt mục tiêu tối hậu cho Quê Mẹ Việt Nam, mà còn phải nỗ lực thăng tiến Cộng Đồng mọi mặt, tích cực đi vào dòng sinh họat chính của quốc gia đang cưu mang mình, bằng tài năng, nỗ lực cá nhân, thành đạt các chức vụ dân cử hay công cử  các cấp, các ngành,để trong hiện tại cũng như tương lai có vị thế có thể tạo được ảnh hưởng thuận lợi, tốt đẹp cho Cộng Đồng và phần nào cho Quê Mẹ Việt Nam.Thành quả này nếu có được không chỉ là vinh dự, lợi ích cá nhân, mà còn là niềm tự hào dân tộc Việt, niềm hãnh diện của Cộng Đồng Việt Nam gốc thiểu số trong lòng Quốc gia bản địa.
        Về các họat động tốt đẹp trên lãnh vực văn hóa, nhằm bảo tồn và phát huy chữ Việt, Tiếng Việt, truyền thống lịch sử và văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt , bao lâu nay đã là một trong những mối ưu tư hàng đầu của thế hệ cha chú. Trên thực tế hầu hết các cộng đồng Việt Nam tỵ nạn tại hải ngọai từ lâu đã có những việc làm cụ thể như: Mở các lớp dậy căn bản tiếng Việt và lịch sử, văn chương Việt, dành cho các tuổi thanh thiếu niên Trung học, do các Giáo hội hay hiệp hội tổ chức.Một số nơi như Houston do sáng kiên của hội đòan, như Hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam, mở các khóa học chuyên đề độc lập, hay các bậc thức giả, đã xin mở bộ môn giảng dậyTiếng Việt, lịch sử, văn hóa, văn chương Việt Nam, tại các đại học cộng đồng địa phương cho các sinh viên Việt Nam.
         Mặt khác, trong các cộng đồng Việt Nam, đã hình thành các đòan thể văn hóa xã hội, điển hình như các Hội Đền Hùng, Hội Bảo Tồn Lịch sử Văn Hóa Việt, Hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam, Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam… với các sinh họat đều nằm mục đích chung là bảo tồn những truền thống văn hóa, những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, để giữ vững  bản sắc dân tộc cho các thế hệ trẻ hải ngọai hiện tại cũng như tương lai.Tất cả những nỗ lực và họat động này, thiết tưởng giới trẻ cần tham gia, tiếp nối, ngõ hầu duy trì được mãi mãi bản sắc dân tộc và căn tính Việt Tộc, dù trải qua bao thế hệ sau này sống nơi các quốc gia tại hải ngọai.
        
              Tựu chung, một khi thấy được những việc làm tốt đẹp, cho những mục tiêu cao đẹp trong hiện tại và hiểu được ứơc muốn tương lai của thế hệ cha chú, các bạn trẻ Việt Nam có thể tự nhận biết mình có thể làm gì cho Cộng Đồng đang sống và Quê Mẹ Việt Nam trong hiện tại cũng như tương lai. Thực tế từ lâu bậc cha chú đã có những nỗ lực thể hiện qua các họat động cá nhân hay đòan thể nhằm thành đạt ước muốn chung. Hiệu quả thấy được là nhiều bạn trẻ, dù chưa đông, đã tham gia vào các sinh họat Cộng Đồng trên mọi lãnh vực tổ chức, sinh họat Cộng Đồng về chính trị, văn hóa, phúc lợi xã hội và công ích …..
         Vì vậy, thiết tưởng, cả hai thế hệ già cũng như trẻ trong hiện tại cũng như tương lai cần kết hợp, đẩy mạnh, phát huy các thành quả trong hiện tại, để thành đạt các mục tiêu ích thiện trước mắt cũng như lâu dài cho Cộng Đồng và cho Đất nước Việt Nam. Các Bạn Trẻ, ngòai những việc cần phải làm để giúp ích cho Cộng Đồng và cho Quê Mẹ Việt Nam, cần luôn ý thức rằng, là người Việt Nam, dù sống ở bất cứ nơi đâu tại hải ngọai, các bạn trẻ thế hệ hiện tại cũng như các thế hệ mai sau, đừng quên nguồn gốc mình là người Việt Nam, đừng quên Quê Mẹ Việt Nam, luôn tự hào là người Việt Nam. Mỗi bạn trẻ, tùy năng lực, cần tự giác tự nguyện trợ giúp trên mọi lãnh vực cho Tổ Quốc Mẹ Việt Nam, góp phần làm cho dân tộc Việt Nam hùng cường, đất nước phát triển giầu mạnh và văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hóa chung của nhân lọai, để người Việt Nam, qua mọi thời đại, được sống tự do, ấm no, hạnh phúc.

Thiện Ý
Houston, ngày 17 tháng 10-2009
Houston, ngày 6 Tháng 11 năm 2013

Bài Xem Nhiều