We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 19 November 2013

Cuộc chiến với SỰ THẬT


Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt 38 năm, nhưng một cuộc chiếc khác vẫn đang tiếp tục trong cộng đồng người Việt hải ngoại do hậu quả của cuộc chiến thứ nhất đem lại, đó là Cuộc Chiến với SỰ THẬT.
Đây là vấn đề đã được chúng tôi nêu lên vào tháng 10 năm 2011. Nay nhân kỷ niệm 50 Hoa Kỳ dùng biến cố Phật Giáo và “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (danh từ của Tổng Thống Johnson) lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm để đổ quân vào miền Nam, chúng tôi xin cho phổ biến lại bài này với ước mong những người làm truyền thông, nhất là đài BBC và vi.wikipedia.org, cẩn thận hơn, đừng để những thành phần bất chính biến thành công cụ.

Lữ Giang.
                               Cuộc chiến với SỰ THẬT

Hàng năm, cứ vào khoảng tháng 10 dương lịch, khi gần đến ngày kỷ niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị Hoa Kỳ ra lệnh lật đổ và hạ sát, trên báo chí và nhất là trên Internet, “cuộc chiến” lại diễn ra giữa phe “bênh” và phe “chống” ông Diệm. Phe “bênh” tổ chức lể truy điệu và viết bài ca tụng “công đức” của ông Diệm, còn phe “chống” kể “tội ác” của ông Diệm và Thiên Chúa Giáo. Hiện tượng này phát xuất từ mặc cảm tội lỗi của một số người trước đây vì có những tham vọng ngông cuồng, đã bị cả CIA lẫn Việt Cộng lừa và biến thành công cụ, xử dụng xong rồi loại bỏ, đưa Phật Giáo vào đất nước vào những ngày đen tối, nên chơi trò đánh lận con đen để “rửa mặt” và “chạy tội”!
Dĩ nhiên, cả hai bên tranh luận đều không quan tâm đến sự thật lịch sử. Bên “chống” viết “Bản Cáo Trạng”: Đi lượm bất cứ sự kiện hay quan điểm nào chống ông Diệm và Thiên Chúa Giáo rồi phổ biến, không cần biết đúng hay sai. Có khi họ còn phịa ra những chuyện ít ai có thể tưởng tượng nổi, như chuyện ông Diệm khi làm Tuần Vũ ở Ninh Thuận đã dùng đèn cầy đốt vào đít Việt Cộng để tra tấn chẳng hạn! Bên “bênh” ở vào thế thụ động, thường viết “Biện Minh Trạng”: Đưa ra những sự kiện và lập luận không có hệ thống để chống lại đối phương và ca tụng “công đức” của ông Diệm. Thỉnh thoảng mới có một vài bài có lý luận sắc bén. Có thể coi đây là cuộc chiến với SỰ THẬT.
LỰC LƯỢNG CỦA HAI BÊN
Nhìn vào “chiến trường”, chúng ta thấy phe chống ông Diệm gần như thắng thế hơn phe bênh ông Diệm vì các lý do sau đây:
Lý do thứ nhất: Phe chống có lãnh đạo.
Những thành phần chống ông Diệm đã hình thành được một nhóm chủ đạo luân phiên gây chiến như Trần Chung Ngọc, Cao Huy Thuần, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Cung, Vũ Ngự Chiêu, Hoàng Văn Giàu (Hoàng Nguyên Nhuận), Nguyễn Mạnh Quang, Charlie Nguyễn (đã chết), Bùi Kha, v.v. Còn các thành phần trợ chiến như Nguyễn Hữu Ba, Trần Quang Diệu, Bảo Quốc Kiếm, Võ Văn Sáu, Lê Nguyên Long, Lê Xuân Nhuận… nhiều vô số kể.
Trái lại, những thành phần bênh ông Diệm không có tổ chức, chỉ hành động theo sáng kiến cá nhân. Như chúng ta đã biết, nhóm Cần Lao đã hoàn toàn bị tan rã sau khi ông Diệm bị giết. Những thành phần Cần Lao nồng cốt được ông Diệm tin cậy như Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Thiệu, Tôn Thất Đính, Lê Văn Nghiêm, Đỗ Mậu… đã bị CIA mua chuộc, biến thành “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (cụm từ của Tổng Thống Johnson), làm đảo chánh lật đổ và giết ông Diệm, sau đó làm mất miền Nam. Số còn lại lo đi kiếm chỗ để yên thân. Trái lại, rất nhiều người không liên hệ gì đến Đảng Cần Lao hay chế độ Ngô Đình Diệm, có người còn chưa sinh ra khi ông Diệm bị giết, thấy những chuyện nhiễu nhương, đã nhảy ra đòi “phục hồi” uy tín cho ông Diệm, nhưng họ hầu hết là “tay ngang”, không có lãnh đạo, thường suy nghĩ và hành động theo cảm tính, nên thường bị phe chống ông Diệm đưa vào “mê hồn trận”.
Lý do thứ hai: Phe chống có nhiều phương tiện
Đa số các bài viết của nhóm chống ông Diệm và chống Công Giáo đều được in thành sách hay đưa lên các websites như sachhiem, giaodiemonline, chuyenluan, Virtual Archivist, talavas blog, v,v,. Một số websites của các trung tâm Phật Giáo cũng đã yểm trợ cho phe này như quangduc.com, buddismtoday.com, thuvien-thichnhathanh.org, old.thuvienhoasen.org, v.v.
Phe chống ông Diệm cũng biết Bách Khoa Toàn Thư Mở “vi.wikipedia.org” (phần tiếng Việt) của Wikimedia Foundation, Inc., gồm đa số các thành phần trẻ, biết rất ít về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Họ làm theo quan thầy chỉ bảo, cứ thấy có sự kiện được dẫn chứng là cho phổ biến, không cần biết đúng hay sai, nên phe chống ông Diệm đã mượn diễn đàn “vi.wikipedia.org” để phổ biến nhiều tài liệu bịp bợm chống VNCH, nhất là Đệ Nhất Cộng Hoà. Tôi đã lưu ý Wikimedia Foundation, Inc., nhiều lần, nhưng vẫn còn rất nhiều bài bịp bợm được phổ biến trên đó.
Sau khi được “vi.wikipedia.org” phổ biến như tài liệu tham khảo, phe chống ông Diệm lại quy chiếu vào những tài liệu bịp bợp đó để viết bình luận (như trường hợp Đào Văn Bình)!
Trái lại, phe bênh ông Diệm gần như không có phương tiện nào để phổ biến các tài liệu và quan điểm của họ, ngoại trừ các diễn đàn Internet.
Lý do thứ ba: Phe chống hành động có chiến thuật.
Chiến thuật quen thuộc nhất của phe chống ông Diệm là luôn liên kết các hoạt động của ông Diệm với Thiên Chúa Giáo để kích động lòng hận thù tôn giáo. Trong chiến tranh Việt Nam, Thích Trí Quang và nhóm Phật Giáo đấu tranh luôn dùng chiến thuật này để kích động Phật tử đứng lên đấu tranh. Sau chiến tranh, khối Phật Giáo đấu tranh ngày càng tan rã, nhóm chống ông Diệm lại càng phải kích động lòng hận thù tôn giáo để thu hút các thành phần Phật Giáo cực đoan còn lại đứng về phía họ để kéo dài sự tồn tại.
Chiến thuật thứ hai của phe chống ông Diệm đã được chúng tôi cảnh cáo nhiều lần trên các diễn đàn Internet: Chiến thuật của nhóm này là đưa ra những sự kiện hay vấn đề vớ vẫn để cho những người thiếu bản lãnh “tức khí” nhảy ra tranh luận. Khi nói vấn đề này chưa xong, chúng lại bày ra chuyện khác, đưa “đối phương” vào “mê hồn trận,” kéo dài trận chiến ra vô tận. Có những vấn để trả lời dứt khoát rồi, chúng lôi ra lại!
Một thí dụ cụ thể là những điểm chính nói về Phật Giáo theo Cộng Sản trong cuốn “Biến Động Miền Trung” của Liên Thành đều đúng cả, chỉ có một vài chi tiết sai, nên chúng cứ dựa vào mấy chi tiết đó để “chọi đá đường rầy xe lửa” liên tục, không bao giờ ngừng nghỉ. Dĩ nhiên là chúng không bao giờ dám sờ tới những điểm chính. Nhưng càng chọi, Liên Thành bán sách càng mạnh. Tôi nghe nói đã bán trên 50.000 cuốn rồi!
Tài liệu chứng minh nhóm Phật Giáo đấu tranh đã bị CIA rồi Cộng Sản biến thành công cụ, xử dụng xong rồi loại bỏ, được tìm thấy quá nhiều, cuốn “Biến Động Miền Trung” của Liên Thành chẳng nhằm nhò gì.
Năm nay, tạp chí Đất Mẹ của ông Nguyễn Phi Thọ ở Houston, đã mời phe chống ông Diệm và Thiên Chúa Giáo như Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, Võ Văn Sáu, Lê Nguyên Long, Lê Xuân Nhuận, v,v., đến Houston dự một buổi tranh luận về một số đề tài mà các ông ấy nêu lên. Tạp chí Đất Mẹ cam đoan sẽ đài thọ vé máy bay và nơi ăn chốn ở đàng hoàng cho những người được mời, nhưng không ai dám nhận lời. Ông Nguyễn Phi Thọ kết luận:
Chuột cống sợ bóng người,
Đười ươi thích làm trò khỉ.
Lý do thứ tư: Có sự tiếp tay của Đảng CSVN.
Nhóm chống ông Diệm còn được nhà cầm quyền CSVN ở trong nước tiếp tay rất đắc lực. Cho đến nay Đảng CSVN vẫn còn cay cú về chuyện chế độ Ngô Đình Diệm đã quét sạch gần như toàn bộ hệ thống nằm vùng và tình báo của họ. Chỉ từ tháng 7–1955 đến tháng 2–1956, mật vụ của ông Diệm đã thanh toán được 93.362 đảng viên và cán bộ nằm vùng được để lại. Lê Duẩn phải bỏ chạy ra Bắc. Hai tên trùm điệp báo và quân báo là Mười Hương và Lê Câu bị tóm gọn, các cơ sở từ Quảng Trị đến Cà Mau bị phá vỡ, v.v. Do đó, các văn công Việt Cộng đã được lệnh viết rất nhiều bài mô tả chế độc Ngô Đình Diệm là ác ôn, gia đình trị. Nhóm Phật Giáo tiếp tay cho họ dĩ nhiên được hoan nghêng và yểm trợ tích cực.
Cuốn “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” của nhóm Đỗ Mậu và cuốn “Giáo Sĩ Thừa Sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam” của Cao Huy Thuần đã được nhà cầm quyền CSVN cho in lại và phổ biến rộng rãi trong nước, một số được đưa ra hãi ngoại. Mới đây, các cơ quan truyền thông hải ngoại đã phát hiện: Bùi Hồng Quang, một trong những người chủ trương tạp chí Giao Điểm, đã được Cục An Ninh Xã Hội thuộc Tổng Cục An Ninh ở trong nước cho phép in tạp chí Giao Điểm ở trong nước và cấp Giấy phép mang số 1020/A41(P4) ngày 20.12.2007 cho đưa ra nước ngoài với mục đích được ghi rõ là “tuyên truyền vận động đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta”.
Các báo chí và websites ở trong nước cũng đã và đang phổ biến nhiều bài của nhóm chống ông Diệm ở trong nước cũng như hải ngoại, chẳng hạn như các bài sau đây: Bất Ngờ, Sinh Viên Huế 1963 – Hồi Ức của Nguyễn Đắc Xuân, Mùa Phật Đản Đẫm Máu 63 của Vũ Ngự Chiêu, Cuộc Cách Mạng 01-11-1963 của Hoành Linh Đỗ Mậu, Ngựa Non Háu Đá của Trần Đình Hoàng, Nhân Dân Miền Nam Hân Hoan Chào Mừng Cách Mạng 1/11/63 của Chuyển Luân, Kenedy là Người Đằng Sau Cái Chết Của Ngô Đình Diệm của Nguyễn Văn, Phong Trào Phật Giáo Miền Nam Năm 1963 của Lê Cung, v.v.
Nhìn chung, chúng ta thấy Đảng CSVN vẫn tiếp tục dùng nhóm Phật Giáo quá khich làm công cụ đánh phá như trước năm 1975.
TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
Tôi còn nhớ cách đây mấy năm, trong một buổi họp đầu tiên của “Ban Tổ Chức Lễ Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Các Chiến Sĩ Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa” tại thành phố Westminster, California, tôi có đến tham dự. Sau khi nghe các đại diện phát biểu, nhất là ông Lê Châu Lộc, tôi có trình bày như sau:
Giai đoạn chống hay bênh ông Diệm đã qua rồi. Bây giờ các tài liệu liên quan đến cuộc chiến Việt Nam, nhất là dưới chế độ Ngô Đình Diệm, đã được giải mã và công bố gần hết. Đọc các văn kiện này, chúng ta sẽ thấy từ việc truất phế Bảo Đại, thành lập một chính phủ mạnh để chống cộng, đến việc làm suy yếu chính phủ Ngô Đình Diệm để lật đổ và đưa quân Mỹ vào miền Nam… đều không gióng như những gì chúng ta đã tưởng từ trước đến nay.
Vậy đã đến lúc không còn có thể tiếp tục bôi bác hay huyền thoại hóa ông Diệm nữa, mà trả lại sự thật cho lịch sử: Cái gì ông Diệm làm đúng, phải nói là đúng, cái gì ông Diệm làm sai là nói sai.
Riêng đối với chiến dịch bôi bác chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà đã lan rộng trong nhiều năm qua, chỉ cần công bố các tài liệu đã được giải mã là nó sẽ tự tan biến ngay. Bản phúc trình điều tra của Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc Tìm Hiểu Thực Tế (Report of the United Nation Fact-Fiding Mission) là một tài liệu quan trọng phải được dịch ra tiếng Việt và phổ biến.
Trong phòng họp lúc đó tôi thấy có Giáo Sư Hà Như Chi và Bác Sĩ Hà Thúc Như Hỹ là những người biết và chứng kiến rất nhiều biến cố đã xẩy ra dưới thời của chính phủ Ngô Đình Diệm, đã đồng ý với chúng tôi, nhưng đa số không quan tâm đến những gì chúng tôi đã trình bày, họ chỉ nghĩ đến tổ chức lể truy điệu và đọc diễn văn.
THÍCH XÀI ĐỒ CỔ
Sau cuộc họp nói trên, tôi có đến tham dự một cuộc hội thảo nói về biến cố truất phế Bảo Đại năm 1955. Tôi thấy cả thuyết trình viên lẫn người tham dự đều không nắm vững chuyện gì đã thật sự xẩy ra lúc đó, không biết những tài liệu đã được giải mã. Họ xài toàn đồ cổ.
1.- Có đến hai cuộc truất phế Bảo Đại!
Nhìn vào các biến cố đã xẩy ra năm 1955, chúng ta thấy có đến hai cuộc truất phế Bảo Đại. Cuộc truất phế thứ nhất do các đại diện đoàn thể và giáo phái họp tại Phòng Khánh Tiết của Dinh Độc Lập ngày 29.4.1956 thực hiện. Các tổ chức này đã công bố quyết định: “Tuyên bố truất phế Bảo Đại kể từ ngày 29.4.1955, ủy nhiệm chí sĩ Ngô Đình Diệm thành lập một chính phủ lâm thời quốc gia Việt Nam kể từ ngày 29.4.1955”. Hội nghị đã thành lập Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng Quốc Gia và ra trước Tòa Đô Chánh Sài Gòn hạ hình Bảo Đại xuống và đọc nghị quyết của hội nghị.
Cuộc truất phế thứ hai do chính phủ Ngô Đình Diệm thực hiện qua cuộc trưng cầu dân ý ngày 23.10.1955. Tại sao lại phải có thêm cuộc truất phế Bảo Đại lần thứ hai này?
Tôi đã hỏi những người có tham dự hội nghị truất phế Bảo Đại ngày 29.4.1955 như Giáo Sư Phạm Việt Tuyền, Giáo Sư Lê Thành Trị, ông Cao Xuân Vỹ, ông Đỗ La Lam, ông Nguyễn Hữu Khai, v.v., họ đều nói rằng vì Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng Quốc Gia có khuynh hướng muốn nắm quyền lãnh đạo quốc gia nên ông Diệm phải tổ chức trưng cầu dân ý. Nhưng khi tài liệu bí mật được giải mã, chúng tôi lại khám phá ra một sự kiện mới.
Như mọi người đã biết, ông Diệm đã về chấp chánh ngày 7 tháng 7 năm 1954 và ngày đó được gọi là ngày Song Thất. Chỉ 44 ngày sau đó, tức ngày 20.8.1954, Hội Đồng Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ đã họp mật và đưa ra Nghị Quyết số NSC 5429/3 gồm một số điểm chính như sau: “Pháp phải trao trả hoàn toàn độc lập (kể cả quyền rút lui khỏi Liên Hiệp Pháp) cho Việt Nam và ủng hộ một chính phủ bản xứ mạnh. Diệm phải mở rộng căn bản chính phủ, bầu cử quốc hội, soạn thảo hiến pháp và truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp.”
Quốc Trưởng Bảo Đại, chính phủ Ngô Đình Diệm, các tổ chức chính trị và giáo phái ở Việt Nam lúc đó chẳng ai hay biết gì về nghị quyết này. Nhưng Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn có nhiệm vụ phải thi hành nghị quyết đó là “truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp” (legally derhrone Bao Dai). Các viên chức Toà Đại Sứ đã lưu ý ông Diệm về chuyện này. Ngày 3.5.1955, sau khi các đoàn thể và giáo phái quyết định truất phế Bảo Đại, chính Tướng Collins, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã đến gặp ông Diệm lúc 20 giờ và cho biết: “Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rằng nếu truất phế Bảo Đại theo yêu cầu của Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng Quốc Gia, tình hình sẽ rất nguy hiểm.”
Ông Ngô Đình Nhu đã nghĩ ra một giải pháp là triệu tập đại diện các hội đồng hành tỉnh tại Dinh Độc Lập vào ngày 6.5.1955 để bàn về tình thế. Hội nghị đã đưa ra nghị quyết trao toàn quyền cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình thế và triệu tập Quốc Dân Đại Hội trong vòng 6 tháng. Ngày 26.9.1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thông báo cho Đại Sứ Reinhardt biết sẽ tổ chức trưng cầu dân ý để truất phế Bảo Đại vào ngày 23.10.1955.
Những chuyện này, đa số những người tranh luận về chuyện truất phế Bảo Đại đều không hay biết gì cả!
2.- Việc thành lập Đảng Cần Lao
Chuyện lập Đảng Cần Lao cũng rắc rối không kém gì chuyện truất phế Bảo Đại. Ngoài Nghị Quyết số NSC 5429/3 ngày 20.8.1954 của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ là “Ủng hộ một chính phủ bản xứ mạnh” (a strong indigenous government), giữa Pháp và Mỹ còn ký một Nghị Định Thư ngày 29.9.1954 “ủng hộ ông Ngô Đình Diệm để thành lập một chính phủ mạnh, quốc gia và chống cộng.” Thi hành hai văn kiện này, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ muốn chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập tại miền Nam một chế độ độc đảng theo khuôn mẫu của Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch. Tướng Lansdale đã nói rất rõ :
“Đảng Cần Lao không phải là ý kiến của nhà Ngô; “trước tiên nó được đề xướng bởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ” để loại bỏ cộng sản ra khỏi đất nước.”
(The CLP was not their idea; it “was originally promoted by the U.S. State Department” to rid the country of communists).
[United States-Vietnam Relations, 1945 – 1967, Book 11, tr. 1 – 12.]
Việc hình thành một chế độ độc đảng tại miền Nam đã gây ra cuộc tranh luận giữa Tướng Lansdale và Bộ Ngoại Giao. Tướng Lansdale đã về Washington để trình bày, nhưng Bộ Ngoại Giao nói rằng chính sách đã được quyết định, cứ phải thi hành như thế. Muốn biết cuộc tranh luận này như thế nào, xin đọc cuốn “In the Midst of War” của Tướng Edward G. Lansdale, trong phạm vi một bài báo, chúng tôi không thể trình bày được.
Tuy nhiên, khi muốn lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm để đổ quân vào, Hoa Kỳ lại đổi giọng, đòi thực thi dân chủ để được lòng dân và thắng Cộng sản! Đai sứ Elbridge Durbrow đã mở cuộc tấn công mạnh vào Đảng Cần Lao và muốn đảng này phải giải tán.
Trên đây là hai vấn đề đã được tranh luận trong suốt 48 năm qua, nhưng đó là hai cuộc tranh luận giữa những người điếc theo kiểu “ông nói gà bà nói vịt”, chẳng ai muốn tìm hiểu sự thật lịch sử đã được diễn biến như thế nào.
SỰ THẬT SẼ GIẢI THOÁT CHÚNG TA.
Cho đến nay, cả phe chống lẫn phe bênh ông Diệm đều rất sợ những SỰ THẬT LỊCH SỬ được công bố vì nó thường khác với những suy nghĩ và những sự kiện họ đã từng đưa ra. Sự thật còn có thể xoá bỏ những hận thù mà họ đã cố gắng tạo ra để che đậy những mặc cảm tội lỗi.
Những người bênh và những người chống chế độ Ngô Đình Diệm cần biết rằng không phải chỉ những suy nghĩ và những tư tưởng của họ đã lỗi thời, mà đa số sách của các sử gia, học giả và nhà chính trị đã viết ra trước khi các tài liệu bí mật được giải mã, cũng đang bị lịch sử bỏ lại đàng sau. Các thế hệ tới sẽ không dựa vào các sự kiện và các quan điểm mà họ đã đưa ra nữa, mà dựa vào những sự thật được khám phá ra. Nhờ những kinh nghiệm lịch sử này, chúng ta có thể nhìn các biến cố đã xẩy ra, đang xẩy ra và sẽ xẩy ra một cách thông suốt hơn.
Rất khó mà nói về “SỰ THẬT” với những người đang ôm chặt những thành kiến trong 48 năm qua. Họ chỉ muốn ôm nó xuống thuyền đài. Nhưng Thánh Kinh nói: “Veritas liberabit vos” (Sự thật sẽ giải thoát các người) (John 8:32).
Ngày 18.10.2011
Lữ Giang

Thầy Năm Chén

Thãm sát tập thể tại Huế năm 1968

Sau trận Tết Mậu Thân (1968) ở Huế, gia đình ông thầy thuốc Nam đó chết hết, chỉ còn lại có hai cha con. Nhà cửa tiêu tan, sự nghiệp tiêu tan, thầy không muốn ở lại cái vùng đất mà thầy cho là còn gần với quân xâm lăng miền Bắc. Thầy gạt nước mắt, dẫn thằng con trong tuổi quân dịch đi vô Nam. Thầy nói: “Ở trong nớ tuy tứ cố vô thân nhưng chắc chắn là mình được yên ổn lâu dài”.
Trên chuyến xe vào Sài Gòn, ông bắt chuyện với một sư ông lên xe ở trạm Nha Trang. Thì ra sư ông cũng là thầy thuốc Nam nữa. Nhờ vậy, tâm sự được dàn trải dễ dàng. Sư ông trụ trì ở chùa Thiền Lâm Gia Định, vừa làm phật sự vừa bắt mạch vừa bốc thuốc. Sư ông nói:
- Tôi làm không xuể.
- Bịnh nhân có đông không ?
- Tùy mùa. Nói chung chung thì cũng nhiều. Với tôi, phật sự là chánh, còn chữa bịnh là phụ. Vì không đủ thời giờ nên tôi đành từ chối bịnh nhân … Thấy cũng tội nghiệp !
Khi sư ông biết tình cảnh của cha con ông thầy thuốc Nam, sư đề nghị:
- Nếu ông anh không chê thì tôi xin mời ông anh về tá túc với chúng tôi. Mình sẽ phụ nhau chữa bịnh cho đồng bào thì thật là hoan hỉ.
Trong cảnh ”tứ cố vô thân”, đề nghị của sư ông như một cái phao. Ông thầy nhận lời và cám ơn rối rít. Sư ông nói:
- Đời sống trong chùa đạm bạc như thế nào chắc ông anh cũng đoán biết, không cần phải giải bày. Duy chỉ có điều này là cần nói rõ: bịnh nhân đến chùa phần đông là đồng bào nghèo, mà chùa thì không có khả năng tài chánh để chữa thí, vì vậy, mình chỉ lấy tiền thuốc thôi.
- Ngoài nớ, gặp bịnh nhân nghèo, tôi cũng làm như rứa. Đôi khi còn không lấy tiền.
- A di đà Phật …… Chùa Thiền Lâm nằm giữa một nghĩa trang vây quanh bởi một bức tường rào xây bằng gạch bờ-lóc không có tô và cũng không quét vôi. Nhiều nơi tường bị nứt dài, gạch bể lỗ đỗ. Dọc theo mặt tiền là mấy “tiệm” hớt tóc (Không biết gọi là gì cho đúng. Mấy anh thợ hớt tóc, trước đây hớt tóc dạo, bây giờ … đóng đô ở đó bằng cách đóng lên tường mấy cây đinh rồi móc tấm ni-lông hay tấm vải trắng cỡ thước rưỡi bề ngang, có mấy cây trúc chống căng ra như một mái nhà. Bên dưới, đặt hai ghế đẩu – một cho khách, một cho thợ hớt tóc – và trên tường treo ngang tầm mắt người ngồi ghế đẩu là tấm kiếng cỡ hai trang giấy lớn. Trên tường cũng có viết nguệch ngoạc bằng sơn dầu các kiểu tóc và giá cả. Chiều, họ gỡ hết đem đi. Sáng, họ trương lên, ngồi đánh cờ tướng với nhau hay hút thuốc rung đùi … đợi khách !). Cổng vào nghĩa trang, bằng sắt rỉ sét xiêu vẹo, mang một bảng gỗ đã mục nhiều nơi, lớp sơn tróc rơi để lòi sớ gỗ, nhưng cũng còn vừa đọc vừa … đoán ra được hàng chữ: “Nghĩa trang Hội Tương tế X…”. Từ ngoài ngõ chạy thẳng vô chùa là đường đất đỏ nằm giữa hai hàng cây điệp. Vây quanh chùa là mả thấp mả cao xếp hàng dài dài 
Chùa là một ngôi nhà cất theo kiểu xưa: nền cao, nóc bánh ích, cột kèo gỗ, ba gian hai chái, hàng ba thật rộng. Không có mái cong chạm rồng chạm phụng gì hết. Mới nhìn tưởng là nhà ở chớ không phải chùa ! Biết là chùa nhờ có tấm bảng nằm dưới mái hiên: “Thiền Lâm Tự” ! Bên trong không có “năm ngăn bảy nắp đầy dẫy tượng Phật, tượng Bồ Tát sơn son thếp vàng” như mấy chùa nổi tiếng. Nhưng cũng có đầy đủ ngôi tam bảo với các vật dụng cần thiết để làm phật sự. Ở đây, đúng là một cảnh chùa nghèo. Tuy nhiên, theo lời sư ông, những ngày rằm ngày vía, phật tử đến cúng bái khá đông. Phần lớn là đồng bào ở trong vùng và những người không thích “chùa nhà giàu” – chính họ nói như vậy.
Về chùa Thiền Lâm, sư ông phân công rõ rệt: sư ông và người đệ tử lo phật sự và trông nom trong ngoài, còn cha con ông thầy thì lo phần chữa bịnh kể cả việc đi bổ thuốc. Cái chái phía bên phải xưa nay vẫn là phòng mạch, bây giờ giao hẳn cho ông thầy tự do sắp xếp. Cha con ông được cho một căn buồng ở hậu liêu, có cửa sổ nhìn ra vườn rau cải của chùa. Lâu lâu, có ai rước sư ông đi làm đám ở đâu thì cha con ông thầy lãnh phần đèn nhang cúng bái thường nhựt …
Ông thầy chữa bịnh mát tay nên bịnh nhân càng ngày càng đông. Thầy bắt mạch, rờ trán, xem lưỡ i… rồi bốc thuốc gói từng thang bằng giấy báo. Khi trao thuốc lúc nào thầy cũng dặn: ”Đổ vô năm chén nước, sắc còn một chén uống”. Thang nào của thầy cũng là năm chén nước và không thang nào là không đi kèm với câu dặn dò trên. Vì vậy, bịnh nhân và người trong vùng gọi ổng là ”thầy năm chén”. Lâu ngày thành tên luôn, làm như thầy thứ Năm và tên Chén vậy ! Cho nên, về sau, khi nói chuyện với thầy, bịnh nhân gọi thầy bằng “thầy Năm” rất tự nhiên. Không thấy thầy ngạc nhiên hay cải chánh gì hết !
Thằng con thầy Năm Chén, tên Kiệt, thông minh học giỏi cần cù. Kiệt thi đậu vào trường kỹ thuật Cao Thắng. Mấy năm sau, chưa ra trường đã phải nhậpngũ, đi công binh. Lâu lâu được kỳ phép, về chùa giúp cha bổ thuốc bốc thuốc, giống như thời mới vào Nam với hy vọng “nơi ni mình sẽ được yên ổn lâu dài”…
… Vậy rồi có ngày 30 tháng tư 1975…
Hồi thời Tết Mậu Thân, thầy còn chạy vô Nam. Bây giờ, thầy không biết chạy đi đâu nữa. Thầy thở dài: “Đúng là cái số !”. Bản chất thầy hiền hòa mộc mạc như các vị thuốc Nam của thầy, cho nên sự miền Nam mất vào tay cộng sản, thầy nghĩ rất đơn giản: ”Tại ông Trời ! Nhơn bất thắng Thiên, ông bà mình dạy như rứa. Khi ổng đã định, mần răng mà cãi được !”. Hồi xưa, thầy học “chữ thánh hiền” trước khi thầy học thuốc. Chữ thánh hiền đã cho thầy có cái nhìn rất khiêm tốn khi thầy chữa bịnh: “Chẳng qua là phước chủ may thầy …”. Bây giờ, sống trong nghĩa trang, ngày ngày nhìn mấy lô mả to mả nhỏ nằm im hàng hàng, thầy càng tin ở số mạng.Cái số thầy phải bỏ xứ để vô Nam, cái số thầy phải ở chùa bốc thuốc, rồi bây giờ cái số thầy ”bị mất nước; sống mần răng với bọn cộng sản đây ?”. Nghĩ đến đó, thầy tự an ủi: “Chừ, mình sống giữa những người chết, chắc bọn nó để cho yên …”.
Kiệt đi học tập mấy hôm rồi về chùa phụ sư ông quét dọn trong ngoài, bởi vì bên phòng mạch bịnh nhân cũng vắng. Làm như người ta lo sợ quá rồi … quên bịnh !Trái lại bên phía chùa thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như bây giờ người ta chỉ còn biết … dựa vào Phật!
Thời gian sau, Kiệt tìm được việc làm ở Khánh Hội, trong một ga-ra nằm cạnh bờ sông, chuyên sửa máy xe hơi máy tàu. Thầy Năm Chén và sư ông lâu lâu đóng cửa phòng mạch, đóng cửa chùa để đi học tập chánh trị. Bởi vì “tư tưởng Mác Lê là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại”, phải thông suốt để về chùa làm phật sự cho đúng … “tác phong cách mạng” và về phòng mạch kê toa bốc thuốc cho hợp với …”yêu cầu đấu tranh giai cấp” !
Một hôm, mấy cán bộ thành vào viếng nghĩa trang. Sau khi đi một vòng, họ khen … hai hàng phượng đẹp ! Cuối cùng, họ nói:
- Theo quy hoạch của thành phố, nơi này sẽ là công viên cây xanh, để đồng bào quanh vùng có nơi thư giãn. Việc bốc mộ sẽ có thông cáo. Mấy người được ở lại đây để trông chừng việc bốc mộ cho đến thời hạn ấn định trong thông cáo là phải dọn đi ngay. Rõ chứ ?
Sư ông làm thinh. Thầy Năm Chén cũng làm thinh. Nói cái gì bây giờ ? Đối với những người không biết luật pháp, đối với chế độ  CS không có luật pháp, thì nói “ừ” hay nói “không” cũng đều là vô nghĩa ! Bởi vì họ không chấp nhận sự đối thoại.Ngoài ra, họ kiêu căng đến mức độ có thể viết một câu tổ bố và lố lăng quá mức mà ai cũng thấy trên đường đi Bến Lức – câu này dân chúng chuyền miệng cho nhau nghe từ mấy tháng nay và chính mắt thầy Năm Chén đã đọc khi đi bổ thuốc ở vùng đó - ”Thằng trời đi chỗ khác chơi; Để cho Nông Hội tiến lên làm mùa”.Thì … còn lời gì để nói?
Nhưng sự “làm thinh” của sư ông và thầy Năm Chén không phải chỉ đơn thuần ở chỗ ”hết nước nói”, mà còn là cách để tỏ thái độ của hai ông: làm thinh là khinh miệt bọn chúng, những thằng không đáng để nói chuyện, những thằng mất gốc, tổ tiên không thờ đi thờ hai thằng tây mũi lõ Mác gì gì Lê gì gì đó không biết nữa. Sự làm thinh của hai ông – sự làm thinh của kẻ sĩ – có giá trị gấp mấy lần những lời thóa mạ chửi bới, vậy mà mấy cán bộ CS lại cho là “thành quả của giác ngộ cách mạng” !
Mấy hôm sau, thầy Năm Chén kéo thằng con ra góc nghĩa trang, thấp giọng nói:
- Cha có chuyện ni muốn nói với con. Nhưng con phải giữ kín.
- Dạ.
- Con nên tìm đường đi chui đi.
- Cha nói chi lạ rứa ?
- Không có chi lạ hết. Cha không muốn con ở lại xứ ni. Mình không còn đất đứng nữa, con à.
Nói đến đây, giọng thầy nghẹn lại. Thầy không nhìn con. Thầy nhìn ra mấy lô mả. Thầy chớp mắt thật nhanh để nước mắt đừng đọng thành giọt. Rồi thầy thở dài …
Mồ mả sao mà an bình chi lạ. Rồi sẽ không còn được như vầy nữa, nay mai … Chế độ không để cho ai được yên, kể cả người chết !
Kiệt nhìn cha, bồi hồi. Con người đó xưa nay hiền hòa, an phận. Vậy mà bây giờ lấy một quyết định có tánh cách chống đối dầu là tiêu cực, chứng tỏ ông ”chịu đựng hết nổi”.
- Nghèo như mình thì lấy vàng mô mà đi chui, cha ?
- Cha nghe nói có nhiều người làm việc trên tàu. Họ đi được.
- Nhưng đó là họ đi một mình. Đi đánh cá, gặp dịp là đi luôn.
- Thì cha cũng muốn con tìm cách làm như rứa. Con cũng một mình chớ mấy mình.
- Không ! Con còn có cha nữa.
- Đừng lo cho cha. Cha già rồi. Tương lai là con, mô phải là cha.
- Gia đình mình chết hết, còn lại có hai cha con. Con đâu thể nào bỏ cha được, cha.
- Chính bởi vì cha chỉ còn lại có mình con mà cha muốn con phải đi khỏi xứ ni. Cha không muốn thấy con làm tôi mọi cho một lũ ngu dốt. Cha muốn thấy con được sống trong một xứ tự do. Có nghèo cũng nghèo trong tự do. Mà rủi có … rủi có chết cũng chết trong tự do,con à.
Đến đây thì Kiệt không dám nhìn cha, bởi vì gương mặt héo hon đó vừa nhăn nhúm lại như một miếng cau khô. Lòng quặn thắt, Kiệt nhìn đi nơi khác.
Mồ mả sao mà an bình chi lạ. Đằng kia, hai hàng phượng trổ bông đỏ ối. Màu đỏ trong nghĩa trang, xem vừa lạc lõng vừa vô duyên, không hợp tình hợp cảnh chút nào. Vậy mà bao lâu nay Kiệt không hề để ý. Làm như phải lâm vào một nghịch cảnh, người ta mới nhìn thấy rõ những nghịch cảnh chung quanh ! Bây giờ thì đến phiên Kiệt thở dài …
… Từ ngày có thông cáo dán trên cổng nghĩa trang, đồng bào tới lui chùa nườm nượp. Làm như thiên hạ muốn gần Phật thường hơn, đều đặn hơn, lâu hơn … trong những ngày những tháng còn lại này. Bởi vì Phật sẽ không còn được ở đây nữa, mặc dầu – theo lời ông già bà cả trong xóm – Phật đã được an vị ở chùa này gần ba mươi năm, hồi thời chưa có nghĩa trang, hồi thời bà phủ S. chưa bán đất cho Hội Tương tế X. Họ nói với nhau: ”Nhà Nước CS này ngang ngược không nể nang ai hết. Có ngày sẽ bị Trời Phật trừng phạt cho coi !”.
Bên phòng mạch, bây giờ, lúc nào cũng đông người. Có bịnh nhân đến xem mạch và có những người không phải đến xem mạch nhưng đã từng uống thuốc của thầy Năm Chén. Những người này, sau khi cúng bái bên chùa, bước qua đây ngồi nói chuyện cà kê. Làm như để hỗ trợ tinh thần thầy vậy. Có người hỏi:
- Rồi thầy dọn đi đâu?
- Biết đi mô chừ!
- Quân gì mà vô nhân đạọ Muốn đuổi ai thì đuổi. Muốn lấy của ai thì lấy. Mà mở miệng ra là “cho nhân dân, vì nhân dân”.
- Tại cái số của tôi như rứa, mấy ông à. Nói mần chi?
Bây giờ, thầy Năm Chén, sau khi trao mấy thang thuốc cho bịnh nhân, không phải chỉ nói vỏn vẹn câu quen thuộc “đổ năm chén nước, sắc còn một chén uống”, mà còn dặn dò thêm phải ăn uống như thế nào, phải kiêng cữ những gì bởi vì “cái tạng ni dễ bị bịnh khi trái gió trở trời”… Thầy còn nói: “Khi mô thấy bắt đầu khó chịu thì lấy bao nhiêu lá gì với lá gì kèm theo bao nhiêu bông gì với bông gì … sắc uống cho nó chận”. Thầy làm như ngày mai thầy sắp đi xa. Và chắc đi lâu lắm, bịnh nhân cần bảo trọng lấy thân. Người nào cũng cảm động khi nhận mấy thang thuốc của thầy, mấy thang thuốc không phải chỉ có những vị này vị nọ, mà có cả tình người nằm trong đó. Chất liệu trân quí này, trong thời buổi này, thật hiếm hoi. Cho nên, khi cầm trên tay mấy thang thuốc, cử chỉ của họ bỗng trở nên trang trọng. Và người nào cũng nghĩ: “Tội nghiệp ! Người hiền hậu như vậy, bảy tám năm nay giúp đỡ đồng bào bịnh nhân ai cũng mang ơn … Vậy mà nhà cầm quyền CS cũng không để cho yên !”.
… Ít lâu sau, Kiệt được một người bạn có tàu đánh cá rủ đi chui bởi hắn đang cần người xếp máy. Kiệt về chùa cho cha hay. Thầy Năm Chén mừng rớt nước mắt:
- Rứa là lời cầu nguyện của cha đã được Ơn Trên chứng giám. Khi mô đi ?
- Mười hôm nữa.
- Ờ … Chừ thì mình vô thắp nhang lạy tạ Trời Phật, đi con.
Năm hôm sau, bỗng thầy Năm Chén than ”khó thở”, “tỳ vị bất thông”. Thầy không ăn được cơm, thầy ăn cháo. Cháo với chao, tương, rau luộc. Không ăn được những món cứng như dưa leo, dưa cải, củ cải muối … những món thường dùng trong bữa cơm chay lạt ở chùa. Không thấy thầy uống thuốc. Thầy nói: “Cứ ăn cháo vài hôm là khỏi”. Sư ông thương hại, an ủi: “Họ đuổi thì mình đi. Thầy lo làm chi cho sanh bịnh. Chừng hết hạn bốc mộ, tôi sẽ đưa thầy về quê tôi ở Nha Trang. Ở đó, cũng có một ngôi chùa nhỏ như vầy. Mình sẽ tiếp tục giúp đồng bào như đã làm lâu nay. Thầy yên tâm đi. A di đà Phật…”.
Ngày thứ mười, cha con thầy Năm Chén qua chùa lạy Phật. Xong, thầy đưa cho Kiệt một gói bằng vải đỏ đã phai màu nhỏ bằng đầu ngón tay cái, cột làm nhiều gút, nói:
- Cha cho con cái ni. Con giữ kỹ trong người để hộ thân.
Kiệt cho vào túi áo trên ngực, cẩn thận gài miệng túi bằng cây kim tây, nhìn cha cảm động, nghĩ: ”Cha thật chu đáọ Còn nhớ cho mình bùa ngải để hộ thân nữa”.
Chia tay mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghĩa trang. Sợ người ta để ý. Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý! Thầy chỉ thở dài. Thời buổi bây giờ, chỉ có thở dài là không thấy ai để ý. Bởi vì, ai cũng thở dài hết!

… Thời gian sau, thầy Năm Chén theo sư ông về chùa ở ngoại ô Nha Trang. Thầy lại bốc thuốc giúp đồng bào nghèo. Kiệt đi chui, lọt. Rồi định cư ở Canada …
Một hôm, sực nhớ gói bùa ngải của cha, Kiệt tò mò mở ra xem: đó là ba cái răng vàng, loại răng cấm. Thì ra thầy Năm Chén đã cạy ba cái răng vàng của mình để cho con làm của hộ thân! Không còn răng để nhai cơm, thầy chịu ăn cháo suốt phần đời còn lại. Nhớ cha, thương cha, Kiệt cầm ba cái răng vàng trong tay mà khóc hết nước mắt …
 Truyện ngắn Tiểu Tử

Bài Xem Nhiều