We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 22 November 2013

MẢ MẸ NÓ!



MẢ MẸ NÓ!
Cuộc đời đẫm nước mắt của người phụ nữ ‘có mả theo trai’
T
hời Việt Nam Cộng Hòa hầu như các đơn vị quân đội đều có khu gia binh.
Tại một khu gia binh nọ, có khoảng hai mươi dãy nhà dài, được làm bằng khung tiền chế, vách ván, mái tôn. Mỗi dãy có mười căn nhà cấp phát cho mười gia đình.
Cách thiết kế trong mỗi căn nhà dành cho một đơn vị gia đình như sau. Phòng trước có thể dùng làm phòng khách, căn phòng phía sau rộng hơn được dùng làm phòng ngủ. Sau phòng ngủ là một khoảng trống được dùng làm nơi nấu nướng, ăn uống, tắm giặt và cầu tiêu. Đối với một gia đình binh sĩ, nay đây mai đó, thì nơi tạm trú như vậy được gọi là tương đối khang trang đầy đủ.
Sau khi Việt cộng chiếm trọn miền Nam, khu gia binh này bị bỏ trống một thời gian và trở nên tiêu điều xơ xác, vì bị dân cư ngụ chung quanh xâm nhập, gỡ đi một số ván ép và tôn. Thấy tài sản bị tẩu tán, bọn cầm quyền Cộng sản địa phương đành đem cấp phát cho bộ đội phục viên và cán bộ có gia đình, đang phục vụ trong các cơ quan sở tại mỗi người một căn.
Khổ một điều: ngày xưa mỗi căn được ngăn cách nhau bằng một bức vách hai lần ván ép, nên những tiếng động giữa căn này và căn kia hầu như không nghe thấy, hoặc nếu nghe được thì cũng rất nhỏ, còn bây giờ thì khác. Khi cấp phát, bọn cầm quyền Cộn sản địa phương chỉ biết cấp phát theo đơn, mà không có một chút quan tâm đến việc sửa chữa phòng ốc trước khi cấp phát. Chúng nại lý do rằng vì "hoàn cảnh khó khăn của đất nước" nên người được cấp phát chỗ ăn chỗ ở phải tự sửa chữa lấy.
Vì việc sửa chữa phòng ốc do khả năng tự túc nên đã tạo ra một cảnh nhà bị chấp vá, nghèo nàn. Có những bức vách ngăn giữa căn này với căn kia còn nguyên vẹn hai lớp ván ép, thường thường hai gia đình có chung bức vách ấy thỏa thuận với nhau để cạy bớt đi một lớp để dùng vào việc khác hoặc bán đi để kiếm tiền bỏ túi. Lại có những bức vách ván ép bị gỡ đi một phần hoặc tháo gỡ trống hoàn toàn, những gia đình có chung bức vách như vậy muốn khỏi bị đụng chạm, họ phải tìm cách che kín lại để phân định ranh giới. Vì khả năng tự túc tu bổ có giới hạn, nên vật liệu sửa chữa thường là những miếng ván vụn chắp vá lại với nhau, hoặc vài tấm tôn, thiếc rỉ sét hay những mảnh giấy cạc-tông từ những vỏ thùng đựng đồ.
Ở dãy thứ hai, căn đầu tiên thuận tiện nhất, người ta dành cho gia đình lão thiếu tá phục viên và căn thứ hai, người ta cấp cho vợ chồng gã phó trưởng đồn công an phường. Vì là những gia đình có nhiều công lao với "cách mạng", nên bức vách ngăn cách giữa hai gia đình tương đối còn khá. Lớp ván ép bên lão thiếu tá phục viên còn nguyên vẹn còn lớp phía bên kia đã bị cạy đi mất một miếng.
Gia đình lão thiếu tá dọn tới trước, hai vợ chồng lão quan sát căn bên cạnh, thấy bức vách ngăn còn một lớp nữa. Thế là chẳng nói chẳng rằng, vợ chồng lão tức tốc gỡ hết lớp ván bên mình và chở đi bán. Khi gỡ gần hết lớp ván phía bên mình, lão nhận thấy có một điều bất tiện, đó là bức vách ngăn bên kia bị trống một chỗ. Lúc đầu, lão định chừa một miếng để đem đóng vào chỗ trống ấy cho kín, nhưng vợ lão bảo: Đằng nào thì cái gia đình sẽ nhận căn bên đó cũng phải sửa chữa. Vậy chi bằng vợ chồng lão cứ kiếm tạm ít thùng giấy cạc-tông đóng kín lại là đủ. Và lão đã nghe theo lời vợ.
Ba tuần lễ sau, vợ chồng gã phó đồn công an dọn đến. Vợ chồng gã còn trẻ. Gã lo kê giường chiếu và sắp xếp chỗ ăn, chỗ nằm và hình như không chú ý tới chỗ vách vá bằng cạc-tông. Có lẽ gã cho rằng sự ngăn cách giữa hai bên gia đình như thế là đủ kín đáo, mặc dù căn bên này có thể nghe rõ mồn một những âm thanh nhỏ nhất của căn bên kia.
Ngay từ những ngày đầu, cũng như phần đông bọn cán bộ miền Bắc, vợ chồng lão thiếu tá phục viên, có ý coi thường vợ chồng gã phó đồn trưởng công an phường, khi biết rõ họ là cán bộ người miến Nam. Lão thường chê bọn cán bộ gốc miền Nam vừa dốt về chính trị, lại chẳng có công cán gì! Sở dĩ chế độ phải dùng tạm là để nhân dân miền Nam khỏi bất mãn. Chứ theo ý riêng lão, lão mà có quyền thì lão sẽ đuổi hết về nhà coi gà cho vợ. Lão tự cao tự đại nên không thèm hỏi thăm người hàng xóm mới lấy một câu. Trong khi đó lão lại bực tức khi vợ chồng gã phó đồn công an gặp vợ chồng lão mà cứ phớt lờ đi chẳng thèm chào hỏi.
Sự coi thường mang đầy tính chất xung khắc ấy, bắt nguồn từ thành kiến Nam-Bắc, lão đã trên năm mươi, còn vợ lão xấp xỉ bốn mươi. Lão đã ở bộ đội nhiều năm, mang quân hàm thiếu tá và từng leo lên đến chức phó chính ủy trung đoàn nhờ thành tích phục vụ Đảng tận tụy. Vợ lão cũng là một bộ đội có nhiều thành tích và đã mang quân hàm thượng sĩ quân đội nhân dân. Cả hai đều đã phục viên. Ông chồng bị phục viên bất đắc dĩ. Theo lý do của Bộ Quốc Phòng cho biết, lão bị phục viên vì thiếu sức khỏe, vì tuổi lớn, nhưng vợ lão nhận thấy lý do chồng mụ bị Đảng thải hồi khỏi quân đội, chỉ vì chồng mụ kém khả năng, thiếu vây cánh, mặc dù có tuổi đảng cao và thành tích phục vụ tích cực. Thấy Đảng và Nhà nước chẳng đếm xỉa gì đến công lao và còn bạc đãi với chồng như vậy nên mụ bất mãn, xin phục viên theo.
Còn người hàng xóm kế bên của lão là cặp vợ chồng trẻ, có cái tên khá anh chị: Ba Râu. Lão biết vợ chồng Ba Râu là người miền Nam qua giọng nói của họ. Chẳng hiểu thành tích cách mạng của Ba Râu tới đâu mà gã lại được ở trong ngành công an và làm tới chức đồn phó. Sau một thời gian tìm hiểu, vợ chồng lão biết rõ ngọn ngành, lai lịch của Ba Râu như sau:
Hồi xưa, cha của Ba Râu đi tập kết. Má của Ba Râu là người mẹ tốt, bà không lấy chồng mà ở vậy nuôi con. Bà trung thành với chồng nhưng bất mãn với chồng về điểm chồng bà thản nhiên đi tập kết, mà chẳng đếm xỉa gì đến vợ con. Cuộc đời bà từ đó trỏ thành lỡ dở. Bà hận lòng vì lỡ yêu và lỡ có con với chồng. Tuy nhiên với bản chất người phụ nữ Việt Nam, bà cũng không nỡ phản bội chồng và phụ rẫy con. Bà tần tảo nuôi con, bằng tất cả sự nhẫn nhục đảm đang hiếm có.
Ba Râu là đứa bé tính tình hung hãn, bạc bẽo. Mới mười bảy tuổi, Ba Râu đã cầm đầu một đám du đảng ở vùng Bà Chiểu. Bà mẹ khuyên can nhưng gã để ngoài tai. Một bữa, có người từ xa tới, cho Ba Râu biết rõ lai lịch của cha hắn. Thế là ngay buổi chiều đó, gã cãi lộn với mẹ. Chẳng biết dồn sự bực tức vào đâu, hắn liền đâm chết một chàng thanh niên trong xóm, khi gã thấy gai mắt để thỏa cơn giận. Bị truy nã gắt gao về tội giết người, Ba Râu trốn chui, trốn nhủi. Chính thời gian này, người từ phương xa tới, đã kết nạp hắn để công tác nội thành, dưới dạng một tên ma cô canh sòng bài và gác cửa mấy động chơi bời hạng sang.
Sau ngày Việt cộng chiếm Sài Gòn được mấy hôm, Ba Râu trở về xóm, lần trở về này của Ba Râu không phải lén lút, lẩn tránh như một tên tội phạm có tiền án giết người, hay một tên ma cô, chuyên sống bám vào bọn gái giang hồ, nhưng hắn trở về với tiền hô, hậu ủng của những tên cán bộ đàn em. Hắn về xóm với một tâm hồn "lương thiện đầy đạo đức cách mạng"; bởi chẳng ai còn dám nghĩ hắn là một tên đã từng giết người; mà nếu có người nào đó, còn dám nghĩ Ba Râu là một tên bất lương, thì ý nghĩ đó phải được chôn chặt trong lòng và không bao giờ được hé lộ ra ngoài; bây giờ với chiếc nón cối trên đầu, với bộ đồ vàng, với đôi dép râu, với chiếc xà cột và "chó lửa"(tiếng lóng để chỉ súng ngắn) đeo kè kè ngang hông. Đó là những món đồ chế độ trang sức, từ đầu đến chân, để Ba Râu trở thành người lương thiện và có đạo đức cách mạng.
Người trong xóm cảm thấy rằng, giá phải nuốt cục cứt rồi khen ngon, có lẽ còn dễ hơn phải nhìn nhận Ba Râu là con người lương thiện, một chiến sĩ cách mạng yêu nước.
Khi Ba Râu về đến đầu xóm, lũ con nít và những người có tính tò mò, liền đổ xô ra đường đứng nhìn Ba Râu tận mắt. Họ nhìn Ba Râu với con mắt họ vẫn nhìn con dã nhân hay cọp, beo trong sở thú. Nhưng nếu có một phóng viên của tờ nhật báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân hay Saì Gòn Giải phóng.v.v...thấy cảnh đón Ba Râu trong xóm, chắc họ sẽ tả rằng: "Đây là cảnh bà con trong xóm, nô nức rủ nhau ra đón một chiến sĩ cách mạng, một người "con yêu tổ quốc" trở về.v.v...
Ngược lại với một số người trong xóm, bà mẹ của Ba Râu không ra ngoài nhà để đón hắn. Khi bước vào nhà, Ba Râu thấy mái tóc của mẹ hắn đã bạc phơ. Mẹ hắn già đi quá nhiều. Bà ngồi xoay mặt trong vách, không thèm tiếp chuyện với con, mặc dù Ba Râu năn nỉ, cuối cùng bà quát lênrong đau khổ cùng cực:
- Mày hãy đi ra khỏi nhà của má... cha con mày đã làm khổ má...cho đến giờ phút này má phải nói thật những điều má chôn kín trong lòng từ hơn hai mươi năm nay...Ba mày cũng đánh chết người rồi bỏ đi làm "cách mạng"...Thời gian theo VC, ba mày mê con mẹ trong bưng, và rủ nhau đi tập kết ra Bắc, mà không màng đến chuyện vợ con còn ở lại...dễ thường bây giờ mày cũng có mấy đứa em khác mẹ rồi nữa đấy! Rồi đến mày...má mong nuôi con nên người...Ai dè! Mày cũng thành người "cách mạng" giống cha, cũng giết người, làm ma cô và theo "cách mạng"...Vậy ra, cái con đường cách mạng của cha con mày là thế ư? Giết người? Ma cô? Đĩ điếm? Mà nó bất nhân như thế thật! Ngay cả cái ông Trường Chinh, tổ sư của hai cha con mày cũng còn đem cả cha mình ra đấu tố kia mà! Giả thử cha con mày là người ngu dốt, thất học mà theo con đường bất nhân thì má không hận. Đàng này cha con mày có chút ít học vấn kia mà. Thôi! Mày đi khuất mắt cho má bớt khổ...Ba Râu ơi!...
Kể từ hôm đó, hắn hiếm khi ghé tạt qua nhà, bởi hắn không thể chịu đựng được quan niệm đạo đức của má mình. Hắn muốn má hắn phải có quan niệm đạo đức mới mẻ, cách mạng giống như ông Trường Chinh. Đừng thấy ông Trường Chinh đấu tố cha mà kết tội ông ấy bất nhân. Hắn lý luận rằng: "Bố ông Trường Chinh là địa chủ, là thành phần giai cấp bóc lột và có nợ máu với nhân dân.Việc đấu tố cha của đồng chí ấy là việc làm rất lô-gíc, sao lại gọi là bất nhân? Còn má, má không chấp nhận con đường của chồng, của con và lại xua đuổi con đi, không nhìn sau bao năm xa cách. Ta không đem bả ra đấu tố giống đồng chí lãnh tụ, hoặc cãi vã với bả là quá đẹp rồi. Thôi! Cách tốt nhất; ta cứ coi như bả đã chết."
Gã sống và làm việc trong ngành công an ngay tại Sài Gòn. Cấp trên cử hắn xuống làm phó trưởng đồn công an nhân dân phường Xóm Củi
Những ngày hắn làm việc ở đây là chuỗi ngày ăn nhậu, đấm đá, hét ra lửa. Dân buôn lậu và những gia đình có dính líu với chế độ cũ, là nguồn cung cấp tiền hối lộ để hắn tiêu xài. Những người đi phất phơ làm gai mắt hắn là bị hắn túm cổ vào đồn, mặc sức nổi máu anh chị.
Tuy có tiền rủng rỉnh và bạo lực nắm trong tay, nhưng hắn vẫn cảm thấy cuộc đời trống trải, buồn rầu. Hắn còn mẹ nhưng tự hắn coi như đã mất. Hắn đã gặp người cha tập kết trở về, nhưng ông ta đã có một lũ con nói nói rặt giọng Bắc. Hắn chán luôn cả ông già, vì ổng quá ngoan ngoãn với bà vợ bé. Những lần hắn đến thăm cha, thường mang nhiều tính cách xã giao hơn là tình thâm gia đình, ấy chỉ còn cách duy nhất là lấy vợ. Vợ hắn là Chín Lài, hoa "khôi" phường Xóm Củi.
Chín Lài có một vẻ đẹp lồ lộ, ít học, mê cải lương, đồng thời cũng rất mê tiền. Trong xóm có vài cậu con nhà đàng hoàng, có học, đẹp trai để ý nhưng Chín Lài đều chê. Hàng xóm thường khuyên khéo Chín Lài rằng: "Nó là đứa tốt phúc nhất trong xóm, vì được cậu này cậu kia vừa có học, vừa đẹp trai để ý". Nhưng Chín Lài thường bỉu môi và cho rằng: "Có học, đẹp trai; hơn người thường ở chỗ bên trong sơn son thếp vàng chắc?" Theo Chín Lài, có học và đẹp trai mà không có oai quyền và nhiều tiền cũng chỉ là thứ vứt đi.
Thấy Ba Râu muốn túm cổ ai bắt giam cũng được, lại thấy cách ăn xài vung vít, không tiếc tiền của hắn, Chín Lài đâm mê mẩn ngưỡng mộ và ngầm quyến rũ Ba Râu. Chỉ cần một lần làm bộ sơ ý, không cài hai nút ngực áo, Chín Lài đã khuất phục được ngay Ba Râu, cuối cùng Ba Râu phải khẩn khoản, nài nỉ xin Chín Lài làm vợ. Hai người đã lấy nhau. Ba Râu đã giống cha về đường sự nghiệp, giờ lại giống chặp hai của cha về đường vợ con. Nghĩa là Ba Râu cưới Chín Lài về để có người cai quản, sai khiến hắn. Còn hắn là con rối, chỉ biết làm theo những gì Chín Lài muốn.
Khi biết rõ lai lịch và quá trình cách mạng của Ba Râu, vợ chồng lão thiếu tá bộ đội phục viên càng không có cảm tình. Trước mắt họ, vợ chồng Ba Râu không phải là đồng chí của họ, không muốn coi gia đình Ba Râu là gia đình cách mạng. Trong thâm tâm họ, họ coi giá trị vợ chồng Ba Râu chỉ cao hơn những con điếm và những thằng điếm chảy một chút. Họ không dám hạ gía trị vợ chồng Ba Râu xuống thấp hơn, bởi vợ chồng Ba Râu được chế độ liệt vào những gia đình có công lao với cách mạng, cũng được xếp nơi cư ngụ ngang hàng với họ và cũng được gọi là cán bộ như họ.
Mặc cho vợ chồng lão bộ đội phục viên có coi khinh, có bực bội khó chịu trong lòng, nhưng vợ chồng Ba Râu đã dọn tới đây để ở căn bên cạnh và là hàng xóm của lão, vợ chồng lão phải thấy sự ngang hàng của Ba Râu, cả về giá trị lẩn đẳng cấp, lão thừa biết sự ngang hàng của Ba Râu chỉ là thứ ngang hàng "chó nhảy bàn độc" nhưng lão không đủ quyền lực để phủ nhận sự ngang hàng đó. Sự ngang hàng đó là một thực tế hiển nhiên của chế độ, bởi Ba Râu là người của Đảng và "cách mạng" đã đào tạo, đã đẻ ra những "chiến sĩ yêu nước" cỡ như Ba Râu. Lão bộ đội phục viên cảm thấy buồn rầu, vì trong hàng ngũ cán bộ Đảng lại đem những người như Ba Râu trộn vào và lão phải đứng chung một hàng với con người tồi tệ như Ba Râu.
Riêng mụ Dậu vợ lão phục viên thì khác. Mụ có vẻ thực tế hơn. Mụ khó chịu vì ghen tức khi thấy Ba Râu có một quá khứ không tốt lành, công lao không nhiều như vợ chồng mụ nhưng được Đảng ưu đãi cho giữ chỗ thơm, trong một ngành có nhiều đặc quyền, đặc lợi. Tuy ghen tức, nhưng mụ cũng thừa biết, Đảng vốn bất công trong cách xử dụng người như vậy. Nhìn vào khoảng vách trống đã được ông bộ đội phục viên vá kín bằng thùng giấy cạc-tông, mụ than lên có vẻ hơi nuối tiếc: "Mình cũng còn hơi ngu. Phải biết trước cái thằng bên cạnh của mình là thứ người như thế này, mình bảo chồng cạy thêm vách bên phía nó vài miếng nữa cho bỏ ghét. Làm như thế mình vừa có tiền mà thằng cớm đó phải cất công sửa chữa, cho đáng cái đời nhà nó."
Tuy có vẻ tiếc, nhưng mụ cũng thấy thỏa mãn, vì vợ chồng mụ dọn tới trước gia đình thằng công an có mấy tuần, mụ đã nhanh tay gỡ trọn vẹn số vách ván phía bên nhà mụ, và đã kiếm được một số tiền từ những miếng ván ấy. Mu lẩm nhẩm trong đầu: "Thôi! Cứ kệ thây thằng cớm kia. Nó là cái giống gì mình cứ mặc nó, phần mình phải lo mà kiếm chác. Hơi sức đâu mà cứ phải bận tâm về thằng cớm ấy. Vả lại mình có đạo đức hơn gì thằng cớm ấy đâu! Ngay cả cấp lãnh tụ Đảng, quá trình của họ cũng một duộc, na ná quá trình thằng công an bên cạnh kia mà. Vậy mình cứ mặc thây thiên hạ là cách tốt nhất."
Từ ngày gia đình Ba Râu dọn về sống căn bên cạnh gia đình lão bộ đội phục viên cũng đã khá lâu rồi, nhưng chưa bao giờ hai gia đình có sự qua lại, ngay cả những giao tế tối thiểu là sự chào hỏi.
Thường ngày cũng giống như những gia đình khác trong chung cư công nhân viên này, hai vợ chồng lão bộ đội phục viên cũng đi làm vào những giờ hành chánh. Họ làm cùng một cơ quan. Lão bộ đội phục viên được thí cho chức phó trưởng phòng, một chức ngồi chơi xơi nước và chẳng có quyền hành gì. Đó là cái chức của Đảng dành cho lão thiếu tá bộ đội phục viên để gọi là chế độ ưu đãi cho người có công với cách mạng. Còn bà vợ, mụ Dậu, trước kia đã từng là thượng sĩ, chị nuôi của một đơn vị quân y, nay mụ được làm trưởng ban đời sống, lo việc ăn uống, tiếp liệu cho cơ quan.
Nhờ có chút chức vụ, cứ tối tối hai vợ chồng, sau khi cơm nước xong, lại rì rầm tính tiền. Họ tính những món tiền cóp nhặt được từ những món hàng ăn chặn, hoặc thuổng được từ trong cơ quan và đem bán ra ngoài. Họ bòn nhặt, tích cóp những cái có thể lấy hoặc ăn chặn được, và cứ thế, đêm đêm, đếm đi đếm lại trong sự cẩn trọng và bí mật. Sự vắng nhà của họ lúc ban ngày cũng như sự có mặt của họ vào lúc ban đêm đều giống nhau. Giống nhau về sự im lặng. Im lặng đến độ tưởng như căn nhà bị bỏ trống.
Trái lại, căn bên cạnh của thằng Ba Râu lúc nào cũng ồn ào và đầy tiếng động.
Vào lúc ban ngày, chung cư trở nên vắng vẻ, vì phần lớn, họ là công nhân viên nhà nước, phải đi làm trong giờ hành chánh. Ngay cả thằng "cớm cách mệnh" chồng của ả Lài cũng phải đi làm việc, còn lại một mình ở nhà, Chín Lài thường nằm khềnh trên võng và bắt đầu hát nghêu ngao những bản cải lương. Chị ta phục lăn giọng ca Út Bạch Lan và Ngọc Giàu. Chị ta cũng thích sắc đẹp của Thanh Nga. Thấy mình có chút nhan sắc, Chín Lài mơ một ngày đẹp trời nào đó, mình bỗng dưng nổi tiếng. Sẵn có sắc đẹp không thua gì Thanh Nga, chỉ cần có giọng ca hay như Út Bạch Lan hoặc Ngọc Giàu là được. Vì vậy khi ở nhà một mình, Chín Lài cố nghêu ngao và rên ư ử cho thật giống Út Bạch Lan và Ngọc Giàu.
Nằm ca chán, Chín Lài nhổm dậy. Trong bộ đồ thật mỏng, cô ả nhỏng nhảnh đi ra mấy hàng ổi, hàng cóc mua về một mớ ngồi ăn nhóp nhép. Hoặc chán hơn nữa, Chín Lài rủ mấy con bạn về phòng nói chuyện tục tĩu cười giỡn ồn ào.
Đến buổi tối, trong lúc hai phòng bên cạnh lặng lẽ bao nhiêu thì phòng của cặp vợ chồng Ba Râu ồn ào bấy nhiêu. Ngoài những tiếng léo nhéo vòi tiền tiêu ngày mai, Chín Lài còn mách nước cho chồng những thằng nào có tì vết với chế độ và cuối cùng, cô ả thấp giọng nói rì rầm góp ý, để chồng moi tiền những người có tên trong sổ bìa đen vừa đề cập đến.
Sau một hồi xầm xì là những tiếng xô đẩy, đùa giỡn, tiếng đồ đạc rớt hoặc đổ ngã, xen lẩn những tiếng rú hoặc những tiếng cười sằng sặc.
Lúc đầu, lão bộ đội già ở phòng bên cạnh,nằm với vợ, ông rất khó chịu về những tiếng động ấy. Ông cho rằng bọn cán bộ trẻ không có tác phong và đạo đức cách mạng. Lâu ngày sự khó chịu ấy cũng bớt dần và nhường chỗ cho sự tò mò một cách thích thú. Cả hai vợ chồng già, cứ tối đến, sau khi cơm nước, sau khi đếm tiền và cất tiền là họ leo lên giường nằm lặng lẽ để theo dõi tiếng động ở phòng bên kia.
Một bữa nọ, vợ chồng mụ Dậu đang nằm rầm rì nói chuyện, bỗng nghe tiếng đẩy cửa rất mạnh ở phòng bên cạnh. Quen như thường lệ, mụ Dậu khẽ khều ngón tay vào ngực chồng ra dấu, rồi thì thào nói bên tai chồng:
- Thằng nỡm ấy về tới rồi đấy.
Ông cán bộ già ừ hử rất nhỏ như thể sợ vợ chồng Ba Râu sẽ phát giác ra sự rình mò theo dõi của vợ chồng lão.
Từ gian phòng bên kia vọng sang tiếng anh chàng cớm rổn rảng:
- Em đang làm gì đấy?
- Đang nấu cháo cá. Chờ anh từ tối đến giờ. Đi đâu mà về trễ vậy?
- Đi công chuyện chứ đi đâu. Cần tiền không? Lại đây, anh thưởng cho hai trăm mà tiêu vặt nè. Lại đây anh cưng một cái. Đi suốt ngày nhớ quá.
Vợ ông bộ đội già nằm nghe nói đến tiền mà ham. Không ham sao được, trong lúc lương tháng của bà ta cũng chỉ có hai trăm một tháng. Thế mà thằng nỡm kia đưa cho vợ nó hai trăm chỉ để tiêu vặt.
Tiếng vợ thằng nỡm nhỏng nhẽo:
- Đi cho đã rồi về đóng kịch phải không? Muốn thưởng thì vô đây! Em còn bận canh nồi cháo.
Bước chân của anh chàng công an huỳnh huỵch đi vào bếp. Có lẽ hắn đã uống chút rượu nên giọng hắn hơi lè nhè đùa bỡn:
- Gọi ra ngoài không ra à? Được, muốn vào thì vào ngay thôi. Í dà!...
Có tiếng hai người xô đẩy, đụng vào vách ván ở dưới bếp. Tiếng một chiếc soong rớt xuống đất lăn kêu loong coong. Rồi chị vợ trẻ cười rú lên và cự nự:
- Buông ra nào! Người ta còn đang coi nồi cháo. Giỡn chi mà kỳ cục dzậy!?...
Không thấy tiếng thằng nỡm trả lời, chỉ nghe hắn cười hăng hắc.
Một lát sau, cả hai cùng im lặng. Bên này, hai vợ chồng ông bộ đội già vẫn nằm im gần như nín thở, để theo dõi xem có pha nào gay cấn xảy ra không?
Bỗng phòng bên kia cả hai vợ chồng gã công an trẻ lại vụt cười lên sằng sặc, có vẻ rất "thống khoái". Rồi tiếng chị vợ la lên:
- Phát ớn cả lên!...Người ta đang làm bếp, đúng đấy mà địt được à?
Vợ ông bộ đội phục viên, tuy đã gần bốn mươi nhưng lại đang ở tuổi hồi xuân. Mụ chửi thầm: "Cái thằng chết tiệt bên kia! Nó làm ăn gì mà lạ lùng vậy? Người ta đang làm bếp mà nó cũng không tha!?" Tuy đầu nghĩ như vậy nhưng trong lòng mụ ta lại khác, mụ cũng mong mình được giống như vợ thằng nỡm kia. Mụ lay lay ông chồng và ghé tai thì thào:
- Này ông?
- Thằng bên kia nó đang làm trò khỉ, ông có biết không?
- Biết.
- Vậy ông thử... bắt chước nó xem sao!?
Ông bộ đội phục viên cũng cảm thấy điều gì đó như vợ, nên ông cũng nhất trí với vợ để "hạ quyết tâm" một phen.
Nửa giờ sau, phòng vợ chồng thằng Ba Râu có tiếng xối nước tắm, tiếng vợ thằng nỡm eo éo gọi chồng lên ăn cháo. Tiếng cửa phòng tắm bị đẩy ra đụng tường đánh ầm một tiếng. Rồi hình như gã công an đã ngồi vào bàn ăn. Tiếng muỗng chạm vào chén sứ xen lẩn tiếng húp soàn soạt. Bỗng có tiếng ken của cái muỗng rơi xuống bàn. Tiếng gã công an cười hăn hắc. Lần này vợ gã không cười nhưng chị ta cự nự một cách khó chịu:
- Rõ thật, người với ngợm. Đang ăn mà cũng địt được. Không biết mắc cở à!?
Nằm bên này, mụ Dậu lầm bầm rủa thầm trong bụng, nhưng lần này mụ không rủa thằng nỡm, mà là rủa vợ hắn không biết điều. Mụ lẩm nhẩm trong đầu: "Kẻ ở cõi tiên thường hay vẽ sự, thích chuyện dưới trần. Cỡ mày mà cứ cho ở với một thằng liệt dương thử xem mày còn nỏ mồm mắng mỏ chồng con nữa không!?" Rủa thầm xong, mụ ta lại thì thầm yêu cầu ông bộ đội phục viên "hạ quyết tâm" thêm một lần nữa để "kiên định lập trường". Khi được bà vợ thì thầm yêu cầu, lão bộ đội phục viên đã cảm thấy mình nhọc lắm rồi. Ông ráng nhắm mắt lại để tự khuyến khích mình rằng: "Mình dành cho ông Hồ cả tuổi thanh xuân thì được. Còn vợ mình xin chút sức tàn của mình tại sao mình lại không cho?" Nghĩ vậy ông lại vận dụng hết tinh thần phấn đấu để "khắc phục" thêm một lần nữa.
Sau lần "khắc phục" đó ông tưởng đâu mình vừa đi kéo pháo lên núi để đánh trận Điện Biên Phủ như phim tuyên truyền của nhà nước Hà Nội sản xuất. Trong phim đó có cảnh cây pháo tuột dốc và một gã bộ đội ngu xuẩn đã lấy thân mình chèn bánh xe pháo để làm cho cây pháo đứng lại. Phim đã đề cao hành động ngu xuẩn thiếu căn bản khoa học. Với một khẩu pháo nặng nề như thế mà tuột dốc thì dù có lấy tảng đá chặn cũng không thể làm ngừng sức tuột dốc của nó, huống chi lấy thân người!
Riêng ông bộ đội phục viên, sau lần thứ hai đáp lời yêu cầu của vợ, ông cảm thấy chân tay, mình mẩy rũ liệt, cơ hồ như ông bị chính cây pháo lăn đè lên người ông. Có lẽ đó là hình ảnh sống động nhất trong lúc này. Ông nằm thiêm thiếp để nghỉ ngơi và cảm thấy sung sướng, khi đời ông đã phục vụ hết mình cho Đảng cũng như cho vợ.
Có lẽ cả một giờ trôi qua, lão bộ đội phục viên nằm tiêm thiếp và bất động. Gian nhà kế bên hình như vợ chồng thằng công an cũng lên giường đi ngủ. Còn lại mình mụ Dậu tĩnh thức, bỗng lại nghe thấy tiếng Chín Lài cười rúc rích và cự nự:
- Khiếp! Địt gì mà địt dữ dzậy!?
Bấy giờ thằng chồng vừa cười vừa nói:
- Mắc địt thì địt cho nó sướng. Tội tình gì mà phải nín. Đại khái giống như mắc đi cầu em có nhịn được không?
Tiếng thằng Ba Râu vừa trả lời dứt, mụ Dậu lại nghe tiếng con Lài nũng nịu phản đối:
- Nhưng mình đi ngủ rồi! Anh làm hoài như vậy em không chịu nổi đâu. Phải nín đi chứ?!
Tiếng thằng công an cười hăng hắc:
- Nín thế nào được mà nín!
Vợ gã bỗng rú lên cười sằng sặc và phụng phịu dỗi:
- Đó anh lại nữa rồi.
Rồi y thị đánh độp một phát vào lưng chồng và cả hai cùng cười.
Nằm ở phòng bên này, mụ Dậu thấy lão bộ đội phục viên nằm ườn ra như một con cá ươn. Mụ lay chồng dậy mấy lần. Lão bộ đội phục viên chỉ ư hử. Không cần biết lão đã tĩnh hẳn hay chưa, mụ ghé vào tai chồng thì thào:
- Này, thằng nỡm bên kia lại bắt đầu làm "trò khỉ" thêm một làn nữa. Mình cố phấn đấu "khắc phục" như nó thử xem sao? Đảm bảo, thêm lần này nữa là đủ chỉ tiêu rồi. Tôi không dám làm phiền mình thêm nữa đâu.
Nhưng lão bộ đội phục viên hình như chẳng còn biết gì nữa. Lão đã chìm trong giấc ngủ say và hơi thở mệt nhọc.
Càng theo dõi tiếng động phòng bên cạnh, mụ Dậu càng cảm thấy bất mãn với chồng, chồng mụ đã đem cả tuổi thanh xuân của lão để phục vụ cho cái đảng chết tiệt một cách tận tình thì được. Còn mụ là vợ lão, mụ chỉ xin lão cho mụ được mãn nguyện, trong lúc tuổi đời của mụ đang sắp sửa đi vào buổi hoàng hôn, thế mà lão chẳng đếm xỉa gì đến và cứ nằm ì ra ngủ. Như vậy có tức mình không? Tinh thần phấn đấu và khắc phục của lão ngày xưa dành cho Bác và Đảng bây giờ lão để ở đâu? Tại sao không "phấn đấu, khắc phục" cho mụ? Càng nghĩ mụ càng ấm ức muốn điên lên. Mụ lại quay ra nghĩ lan man đến chuyện ngày xưa. Lúc mụ còn đang làm chị nuôi cho một đơn vị quân y.
Hồi đó, mụ là thượng sĩ trông coi việc bếp núc cho một đơn vị quân y. Dưới trướng của mụ, có khoảng gần chục người, vừa anh nuôi, vừa chị nuôi để mụ sai phái.
Trong số anh chị nuôi, mụ thương nhất một thằng binh nhất, tên hắn là Cu Lé. Nó kém mụ tới mười hai tuổi. Lúc ấy mụ ba mươi còn Cu Lé mới vừa mười tám.
Cu Lé có thân hình to lớn dềnh dàng, mặt mũi đen đúa, mắt lé, răng hô nhưng tính tình hiền lành, ít nói.
Nhờ Cu Lé nhỏ tuổi, xấu xí, tính tình dễ thương nên mỗi khi mụ dẫn Cu Lé đi đâu một mình với mụ chẳng ai để ý hoặc dị nghị, ngay cả lúc mụ rủ Cu Lé cùng ra suối tắm. Trái lại trong đơn vị ai cũng khen Cu Lé là thằng tốt phước, vì được cấp chỉ huy trực tiếp thương như bà chị thương cậu em út.
Vào một buổi trưa hè nóng nực, có lẽ hôm đó là một ngày yên tĩnh, vì không có phi pháo bắn phá. Một ngày yên tĩnh như vậy quả là quý và hiếm trong các mật khu, nên ai nấy đều nghĩ đến chuyện nằm ngủ trưa cho thoải mái.
Riêng mụ, mụ cảm thấy thèm được dìm mình trong nước mát. Đi một mình mụ cảm thấy buồn nên nghĩ ngay đến thằng đệ tử. Mụ liền đến rủ rê:
- Cu Lé! Mày thấy nực không?
Cu Lé hình như đoán được ý mụ Dậu nên hỏi mụ, thay vì trả lời:
- Chị định đi tắm hả?
- Ừ! Mày có đi với chị thì lấy đồ đi.
- Đi chứ, chị!
Chưa nói dứt câu hắn đã chui tọt vô trong cái chòi của hắn, quơ vội chiếc khăn rằn quàng lên cổ, rồi chui ra đi trước. Mụ Dậu lặng lẽ bước theo sau Cu Lé và tiến về phía suối.
Ra tới bến tắm, tự nhiên Cu Lé hỏi mụ Dậu:
- Tắm ở đây hay lên đầu giòng?
Chẳng hiểu sao, mụ Dậu cũng buột miệng bảo:
- Mày đi men theo bờ suối. Có lẽ lên đầu giòng tắm mà lại hay đấy.
Bỏ xa bến tắm cả gần hai trăm thước rồi mà Cu Lé vân không nghe thấy mụ Dậu nói năng gì. Đi thêm một quảng nữa, đến một khúc suối khá sâu, cậy cối rậm rạp xòa ra che cả mặt suối, Cu Lé dừng lại hỏi:
- Chị Tư! (mụ thứ Tư) Tắm chỗ này được không?
Mụ Dậu nhìn quanh quất một hồi rồi gật đầu không nói năng gì.
Nét mặt Cu Lé bỗng trở nên khẩn cấp một cách lạ thường. Nó vội vắt chiếc khăn rằn lên một chạc cây và nói:
- Em chột bụng quá! Tự nhiên lại mắc đi cầu.
Nói chưa dứt câu, Cu Lé chạy ào đi như một con ngựa phi nước đại.
Còn lại một mình mụ Dậu. Mụ lững thững đi men theo bờ thêm một chút nữa, gặp một quãng bờ suối hõm vào. Mụ thích khúc bờ hõm này vì có hai tàn cây hai bên che kín, cành lá xòa ra che luôn cả mặt nước phía trước. Mụ Dậu lách mình chui vào tàn cây. Mụ leo men theo thân cây xà ngang mặt nước. Đến gần nửa hõm nước, mụ vắt quần áo khô lên mấy nhánh cây. Thói quen của các "chiến sĩ gái" là không cởi quẩn áo trong lúc tắm. Mụ Dậu cũng vậy, mụ để nguyên quần áo, hai tay nắm chặt thân cây và đu mình xuống. Đang lúc mụ định buông tay ra để trầm mình xuống nước mát thì mụ lại đu mình lên. Mụ thầm nghĩ: "Nước đã mát mà nơi đây lại kín đáo. Tại sao mình không cởi áo ra tắm cho nó sướng?" Đầu vừa nghĩ, mụ liền cởi áo ngoài. Ngừng một chút ngẫm nghĩ rồi mụ cởi luôn cả áo lót. Mụ vắt áo trên cành cây và nhảy tọt xuống hõm nước. Nước mát mơn man da thịt mụ. Sẵn hứng, mụ đứng dưới nước cởi luôn quần trong lẩn quần ngoài vá thẩy lên cành cây. Mụ tắm và tay vờn khắp người. Một cảm giác phơi phới thoải mái lan khắp người mụ.
Sau khi đi cầu về, Cu Lé lại chỗ nhánh cây lấy cái khăn rằn, hắn nhìn quanh quất có ý tìm mụ Dậu nhưng không thấy. Nó cũng không cần kiếm mụ cho lắm vì nó biết mụ đang tắm ở một góc khuất nào đó.
Cu Lé đi đến một chỗ tương đối khuất để cởi đồ. Nó phải tắm truồng vì không có quần áo khô để thay, chẳng nhè nơi kín đáo nó chọn lại là chỗ mụ Dậu đang tắm. Mụ Dậu thấy Cu Lé đứng thay đồ ngay trên bờ nơi mụ đang tắm ở dưới. Mụ không dám la và cũng không dám đuổi nó, vì trên mình mụ không có mảnh vải nào mà nước lại trong vắt và chỉ đến thắt lưng. Mụ đành phải dìm mình xuống nước đến cổ và im lặng nín thở, với hy vọng sau khi Cu Lé cởi đồ xong sẽ phóng mình xuống suối phía ngoài. Dưới kẽ lá, mụ theo dõi từng cử chỉ của Cu Lé và thấy rõ những bí mật nhất trên thân thể Cu Lé. Mụ vừa phập phồng lo sợ vừa cảm thấy trong người háo hức , thèm thuồng.
Cởi đồ xong, Cu Lé lơ đãng đứng tồng ngồng nhìn ra phía ngoài suối. Nó định phóng xuống suối phía ngoài, nhưng chẳng biết nghĩ sao nó lại vạch lá che hõm nước. Mụ Dậu thấy vậy càng quýnh, tim mụ đập thình thình. Mụ cố nép mình tránh tầm nhìn của Cu Lé. Thật vô tình, Cu Lé vạch lá thấy vũng nước trong vắt, nó vội lao mình xuống thẳng về hướng mụ Dậu đang nép mình. Từ dưới nhìn lên mụ Dậu tưởng chừng như thân hình Cu Lé như một mảng núi đang ập xuống đè mình. Phản ứng tự nhiên của mụ là dang hai tay ra đỡ lấy vật đang rơi. Sức phóng của Cu Lé quá mạnh làm mụ ngã ngửa xuống hõm nước và đầu mụ chìm nghỉm nhưng hai tay mụ níu được hông Cu Lé.
Phần Cu Lé, khi nhảy xuống nó không biết mình đụng phải vật gì và nó cảm thấy hình như có hai cánh tay ai níu hông nó dưới nước.
Người nó vừa dìm xuống nước tới vai, Cu Lé vội vàng đứng bật lên. Ngay lúc đó, cái đầu của mụ Dậu cũng trồi lên theo khỏi mặt nước.

 ----

Hận Ly Hương

(xin lỗi không biết tên tác giả)

Bài Xem Nhiều