We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 27 November 2013

50 năm : Chuông gọi hồn ai

Chuông gọi hồn ai


Hôm  22-11, nước Mỹ tưởng niệm vị tổng thống thứ 35 John F. Kennedy đã bị sát hại cách đây đúng 50 năm mà lý do cho đến bây giờ và có lẽ mãi mãi về sau sẽ không xác định được. Cách đây ba tuần, người Việt chúng ta cũng có dịp tưởng niệm ông Ngô Đình Diệm, vị tổng thống duy nhất của Đệ nhất Cộng hòa của chúng ta, cũng bị sát hại cách đây đúng 50 năm, và cho đến giờ chúng ta vẫn chưa khẳng định được đầy đủ tình tiết của nghi án lịch sử này. Là người Việt tha hương trên đất Mỹ và phần lớn đã là công dân hữu thệ của nước này, chúng ta đúng là có những cảm xúc riêng trong tháng 11 này, một tháng chúng ta phải tưởng niệm đến hai vị tồng thống của mình, đã bỏ mình cách đây nửa thế kỷ, cùng năm cùng tháng, chỉ cách nhau ba tuần. Hình như chẳng có một trường hợp nào như thế đối với những người khác nguồn gốc.

Đầu tháng này, một số người đã làm lễ cầu hồn, tưởng niệm, cho các ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Có nơi còn có cả ông Nguyễn Văn Thiệu trên bài vị. Ông Diệm và ông Nhu là những người đã nằm xuống vì chính nghĩa dân tộc. Ông Thiệu là người đã đưa chúng ta qua đây, và rất nhiều người đã nằm xuống vì ông. Những nhân vật này đứng chung với nhau đúng là một sự tùy tiện đối với lịch sử. Trong khi đó, nhiều người trong chúng ta đã lãng quên một chuyện không nhỏ. Chúng ta đã quên rằng nước Mỹ nay là nước của chúng ta, Tổng thống Mỹ là tổng thống của chúng ta, những giá trị của nước Mỹ là những giá trị của chúng ta. Nước Mỹ vĩ đại có hơn 300 triệu dân này đã nhộn nhịp chuẩn bị cho ngày hôm nay tưởng niệm 50 năm ngày Tổng thống Kennedy bị ám sát và rộn rã nhắc lại sự nghiệp ngắn ngủi nhưng di sản to lớn của ông. Chúng ta phải xem đó cũng là một ngày của mình, từ lý trí, từ con tim, từ tâm hồn.

Chúng ta cần nhớ rằng John F. Kennedy, vị tổng thống trẻ nhất của nước Mỹ (43 tuổi) khi đắc cử (năm 1960), là người đã đi vào lịch sử khi mở ra một “Biên Cương Mới” (New Frontier) cho người Mỹ nới rộng tầm nhìn về đất nước của mình và chấp nhận sự thách đố phải đi tới với nhận thức “đừng hỏi Tổ quốc có thể làm được gì cho ta mà phải hỏi ta làm được gì cho Tổ quốc”. Trong ba năm ngắn ngủi dưới thời ông, nước Mỹ đã trải qua những thử thách, biến động ngoài nước và trong nước, nhưng người Mỹ cũng đã thấy đi xa được hơn một cách đáng kể trên quốc tế, đi sâu hơn vào không gian, và đạt những tiến bộ có tính cách thời đại đối với phong trào dân quyền cũng như cuộc đấu tranh không ngừng cải thiện điều kiện sống cho những thành phần khốn cùng trong xã hội. Chính những tư tưởng phải chống sự bất bình đẳng xã hội về mặt chủng tộc, giới tính cũng như kinh tế đã là cảm hứng chính trị về một “Xã hội Vĩ đại” (Great  Society) của Tổng thống Lyndon B. Johnson về sau này, đưa đến Luật về Bảo hiểm Y tế cho người già Medicare và người nghèo và khuyết tật Medicaid được ban hành chưa đến hai năm sau khi ông Kennedy nằm xuống.
 


NgoDinhDiem_2-11-2013
 Một điều cũng cần nhấn mạnh trong dịp này là một quan điểm phổ quát của những sử gia nước Mỹ về lập trường của ông Kennedy đối với cuộc chiến Việt Nam. Họ cho rằng dù thất vọng Tổng thống Diệm không chịu “đoạn tuyệt” với ông Nhu, ông Kennedy vẫn chủ trương cố giữ ông Diệm vì không có ai có thể thay thế. Đồng thời, ông Kennedy một người tin tưởng ở “thuyết domino”, cũng quyết tâm không để cho Cộng Sản lấn lướt ở Đông Nam Á, và do đó, chẳng ngại gia tăng viện trợ quân sự tối đa cho Saigon. Tuy nhiên, trong khi bủa vây ông là rất nhiều “quân sư” với những ý kiến khác nhau về ông Diệm và khả năng chiền đấu của quân đội miền nam, khiến cho ông càng thêm phân vân, ông không thiên về chủ trương đưa quân chiến đấu đến miền nam (có ý kiến từ phía Việt Nam cho rằng vì Tổng thống Diệm chống lại việc Mỹ đưa quân chiến đấu đến Việt Nam cho nên ông Kennedy phải “khử” ông Diệm. Thực tế có thể phức tạp hơn thế, nếu không là ngược lại!).

Ông Kennedy theo đạo Thiên Chúa, cho đến nay vẫn là tổng thống duy nhất không phải là người Tin Lành. Gia đình Kennedy sống tại Massachusetts, gốc di dân bốn đời từ Ái Nhĩ Lan, giàu có và quyền thế. Cha của ông Joseph Patrick “Joe” Kennedy Sr., đại sứ tại Anh quốc, vốn nuôi tham vọng phải có một đứa con làm tổng thống Mỹ. Bao nhiêu mong đợi người cha đặt cả vào người con trai đầu lòng là Joseph Kennedy, cho đến khi ông này tử nạn trong một phi vụ trên vùng Suffolk, Anh quốc, trong Đệ nhị Thế chiến (1944), người cha mới chuyển mục tiêu của mình qua đứa con thứ hai, chính là JFK, lúc đó đang là một sĩ quan hải quân đang xông pha trận mạc và nổi tiếng về sự can đảm. Trong thế chiến, John Kennedy từng sống sót kỳ diệu khi tàu của ông bị Nhật đánh đắm gần một đảo trên Thái Bình Dương.

John Kennedy chẳng được cha mong đợi gì vì thuở nhỏ ông khá “èo uột”. Ruột dư phải cắt. Bị vàng da phải bỏ học mấy phen. Bị đau cột sống đến mức bị quân đội từ chối lúc ban đầu, về sau phải mổ. Ông đã từng học ở London School of Economics, rồi Đại học Princeton. Và cuối cùng Harvard – theo ngành chính trị học. Và ông bắt đầu sự nghiệp chính trị khi giã từ quân ngũ năm 1946, làm dân biểu trong suốt sáu năm, sau đó là thượng nghị sĩ Massachusetts tám năm.  Người ông đánh bại trong cuộc chạy đua vào viện trên chính là ông Henry Cabot Lodge, cũng thuộc một gia đình vọng tộc. Ông là người nổi tiếng linh hoạt, năng động, viết hay, nói giỏi, có tài biện bác, có tư tưởng, có tầm nhìn, có nhiệt tâm dấn thân với đất nước, với xã hội, có sức thu hút với quần chúng… đó là những điều dần dần người ta đã kết luận về ông. Và cũng nhờ những đặc tính đó, ông đã thắng được cuộc bầu cử tổng thống ngay trong lần đầu thử thách, trước một đối thủ dày dạn kinh nghiệm chính trường và chuẩn bị chu đáo như ông Richard Nixon.

Một điều đáng ghi nhận trong giai đoạn này là ông John Kennedy đối nghịch về chính trị với cha ông. Ông Joseph Kennedy là người bảo thủ. John Kennedy là người tương đối cấp tiến. Người cha sùng đạo, người con ít nói chuyện tôn giáo. John Kennedy là người “độc lập” trong chính kiến. Ông từng đứng về phía người Cộng Hòa lên án Tổng thống Truman đã để mất Trung Hoa vào tay Cộng Sản. Nhưng ông cũng lên tiếng phê phán tổ chức Cộng Hòa cựu chiến binh American Legion khi họ chống chủ trương “public housing” (cung cấp nhà cho người nghèo) của bên Dân Chủ.  Ông Kennedy bắt đầu sự nghiệp chính trị khi Chiến tranh lạnh cũng vừa mở màn, ông đã thực sự quan tâm đến hiểm họa Cộng Sản bành trường ở châu Á, sau khi đã chiếm trọn Đông Âu từ 1948. Từ năm 1952, ông đã có dịp đến chiến trường Đông Dương để đánh giá khả năng của Pháp giữ được Việt Nam hay chăng. Ông chủ trương phải ngăn chận sự mở rộng làn sóng đỏ của Trung Cộng ở Đông Nam Á.

 Trong bầu cử tổng thống năm 1960, Nixon chỉ thua Kennedy 115.000 phiếu. Phải chăng vì Tổng thống Eisenhower có thái độ ỡm ờ với người phó tổng thống của mình. Hay vì Nixon vụng tính cho nên đã mất sự ủng hộ của phong trào dân quyền của Martin Luther King. Hay là vì ông Nixon quá cứng, quá sượng, thiếu tự tin và tự nhiên, còn bị cảm, sổ mũi trong tranh luận với ông Kennedy cho nên bị thua. Cũng phải nói là nhờ ứng cử viên phó tổng thống Lyndon Johnson nên Kennedy mới thắng được tiểu bang Texas cực kỳ quan trọng chỉ với 50.000 phiếu nhưng có đến 38 phiếu cử tri đoàn (Kennedy được 303, Nixon 219)!

Dù sao đi nữa, ông Kennedy đã mở ra một thời đại mới sau tám năm nước Mỹ sống với một Tổng thống Cộng Hòa chậm rãi, từ tốn, chững chạc và khá cứng nhắc như ông cựu tướng Eisenhower. JFK trẻ trung, nhiệt tình, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng mở đường, chấp nhận thách đố và liên tục cổ vũ người dân hành động. Đúng như sứ điệp “New Frontier” mà ông cổ vũ trong bài diễn văn nhậm chức, nhấn mạnh nước Mỹ phải tiến lên trên tất cả mọi mặt để đạt đến một “biên cương mới” đáp ứng những thách đố của thời đại. “Ngày hôm nay chúng ta đang trên ngưỡng của một Biên cương Mới  - biên cương của những năm 60, biên cương của những cơ hội và bất trắc không biết được, biên cương của những hy vọng chưa thành và những giấc mơ chưa trọn… Bên kia biên cương là những khu vực chưa được định hình về khoa học và không gian, những vấn đề hòa bình và chiến tranh chưa được giải quyết, những vấn đề chưa khắc phục được là sự ngu dốt và thành kiến, những câu hỏi chưa được giải đáp về nghèo đói và dư thừa”.

Cũng trong bài diễn văn nức lòng, ông nói: “Từ giờ phút này và từ nơi này, chúng ta hãy nói cho mọi người rõ, cho bạn cũng như thù, là ngọn đuốc đã được chuyển giao cho một thế hệ người Mỹ mới...
“Hãy để cho mọi nơi được biết, dù cho họ chúc lành hay chúc dữ cho chúng ta, là chúng ta sẵn sàng trả giá, chịu mọi gánh nặng, đương đầu mọi khó khăn, yểm trợ bất cứ người bạn nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào, để bảo đảm sự tồn tại và thành công của tự do…
“Nếu một xã hội tự do không thể giúp gì cho đông đảo người nghèo, làm sao có thể giữ được một số ít những người giàu trong đó?...
“Tất cả mọi chuyện này chẳng thể hoàn thành trong trăm ngày đầu tiên. Cũng chẳng thể xong được trong ngàn ngày đầu tiên, hay ngay cả trong nhiệm kỳ của chính quyền này, hay thậm chí có lẽ ngay cả trong cuộc sống của chúng ta trên trái đất này. Nhưng chúng ta vẫn phải bắt đầu…
“Bởi thế cho nên, hỡi đồng bào nước Mỹ của tôi, xin đừng hỏi đất nước của mình có thể làm gì cho mình, mà xin hãy hỏi chúng ta có thể làm được gì cho đất nước của mình”.

Như nhận định của sử gia Robert D. Marcus: “Kennedy đã nhậm chức với tham vọng xóa bỏ nghèo đói và nâng tầm mất nước Mỹ lên đến những vị tinh tú trong chương trình không gian”. Theo một sử gia tăm tiếng Theodore White, “JFK dù chỉ tại chức trong ba năm đã thông qua được nhiều luật hơn bất cứ tổng thống nào trong 30 năm trước đó”. Phải chăng vì ông đã trải qua một thời sống triền miên trong những đe dọa của bệnh tật, của chiến tranh nên rất hiểu sự hữu hạn của cuộc sống và bởi thế cho nên rất vội vàng, cố gắng thực hiện tối đa những gì mình còn có thể hoàn thành khi còn hơi thở?

Những sử gia thường kể ra hàng loạt sự kiện lớn hay biến cố trọng đại dưới thời Kennedy.  Thất bại trong vụ đổ bộ Vịnh con heo (Bay of Pigs) (1961). Đối đầu với Liên Xô trong cuộc khủng hoảng hỏa tiễn ở Cuba (1962). Cuộc khủng hoảng ở Bức tường Berlin (1962). Thành lập Liên minh vì Tiến bộ (Alliance for Progress) liên kết với các nước châu Mỹ La-tinh. Thành lập Đoàn Hòa Bình đưa tuổi trẻ nước Mỹ đến với những nước Thế giới Thứ ba. Ký kết Hiệp định Ngăn cấm Thử nghiệm Nguyên tử. Triển khai chương trình chạy đua đưa người vào không gian với Liên xô… Kennedy cũng là người được nhắc nhở đến với các chương trình gia tăng tiền lương tối thiểu cho công nhân,  tăng trợ cấp thất nghiệp cùng kéo dài thời gian trợ cấp, tái thiết toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng nước Mỹ… Ông cũng đưa ra luật về dịch vụ gia cư cho người nghèo và tích cực ủng hộ phong trào dân quyền của người da đen... Chính ông đưa ra ý kiến phải tăng trợ cấp An sinh Xã hội cho người già và bgười nghèo mua bảo hiểm y tế. Đó chính là khởi điểm cho chương trình Medicare, Medicaid về sau này.

Ông vẫn được xem là một tổng thống ưa chuộng hòa bình. Ông nói: “Chúng ta không sợ phải thương thuyết, nhưng chúng ta không thương thuyết trong sợ hãi”. Ông cũng được xem là một người lãnh đạo quan tâm thúc đẩy lý tưởng của những thế hê trẻ. Và ông cũng là người không bao giờ quên những thành phần bất hạnh trong xã hội - nhất là những bất hạnh bắt nguồn từ sự kỳ thị chủng tộc.

Nhớ lại một thời ở Saigon lúc đó, cái chết của ông vào ngày 22-11 đúng là một nỗi bàng hoàng xúc động to lớn cho người dân thủ đô chúng ta. Chúng ta vào thời đó biết rất ít về tình tiết của vụ án. Nhưng đối với phần lớn thế hệ trẻ thời đó, nay đều đã vào tuổi “cổ lai hy”, đó là một sự mất mát lớn. Trong chúng ta đây, có lẽ đã có nhiều người 50 năm trước tham gia những đoàn diễn hành thầm lặng đi đến Tòa Đại Sứ Mỹ bày tỏ sự thương tiểc.
Báo chí Mỹ nay đang đề cập trở lại những nghi án một thời. Theo CNN, người thì nói chính ông Phó Tổng thống Johnson bàn tay nhuốm máu vì sợ bị hất ra trong bầu cử năm 1964. Người thì cho giới quân sự hành động vì sợ rằng Kennedy không đủ “dũng khí” làm tới ở Việt Nam. Cũng có dư luận cho rằng các nhóm mafia ma túy ra tay để chơi lại người em Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy. Hoặc phải chăng CIA bực bội vì Kennedy đang muốn kềm kẹp cơ quan này trong hoạt động quốc tế. Và chót hết, kẻ sát nhân Harvey Oswald có thể là thằng điên, từng ở trong quân đội rồi bỏ qua Nga rồi trở lại với sứ mệnh tự cho là bảo vệ Cuba! Theo Time, cũng có “giả thuyết” âm mưu từ giới tài phiệt dầu hỏa ở Texas. Và cũng có thể chính Fidel Castro muốn trả thù Kennedy sau bao nhiêu hành động của Mỹ liên quan đến Cuba trong mấy năm đó.

Lich sử đương nhiên chỉ diễn một lần. Tuy nhiên, đối với những người không cảm thấy hài lòng với hiện tại (những người này có thể đông đảo tương đương với số những người bất hạnh trong xã hội), người ta vẫn cứ day dứt với những câu hỏi “Giá như…”. Giá như người chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1960 là Richard Nixon, câu chuyện Việt Nam liệu có thể khác đi chăng? Giá như ông Kennedy không bị ám sát năm đó và được tái cử thêm một nhiệm kỳ nữa, câu chuyện Việt Nam liệu có thể khác đi chăng?
Lịch sử chỉ có một sự chọn lựa trong hàng ngàn khả năng, bởi thế chúng ta cũng chỉ có một chọn lựa trong hàng ngàn điều nghiệp chướng.

Và có nhiều câu hỏi người ta đặt ra chỉ để mang theo mình đi vào đời sau.


HOÀNG NGỌC NGUYÊN

----

     A Letter From South Vietnamese President Ngo Dinh Diem to American
                                President John F. Kennedy
                                         December 7, 1961
Dear Mr President: Since its birth, more than six years ago, the Republic of Vietnam has enjoyed the close friendship and
co-operation of the United States of America.
Like the United states, The Republic of Vietnam has always been devoted to the preservation of peace. My people know only
too well the sorrows of war. We have honored the 1954 Geneva Agreements even though they resulted in the partitin of our
country and the enslavement of more than half of our people by Communist tyranny. We have never considered the
reunification of our nation by force. On the contrary, we have publicly pledged that we will not violate the demarcation line and
the demilitarized zone set up by the Agreements. We have always been prepared and have on many occasions stated our
willingness to reunify Vietnam on the basis of democratic and truly free elections.
The record of the Communist authorities in the northern part of the country is quite otherwise. They not only consented to the
division of Vietnam, but were eager for it. They pledged themselves to observe the Geneva Agreements and during the seven
years since have never ceased to violate them. They call for free elections but are ignorant of the very meaning of the words.
They talk of "peaceful reunification" and wage war against us.
From the beginning, the Communists resorted to terror in their efforts to subvert our people, destroy our government, and
impose a Communist regime upon us. They have attacked defenseless teachers, closed schools, killed members of our
anti-malarial program, and looted hospitals. This is coldly calculated to destroy our government's humanitarian efforts to serve
our people.
We have long sought to check the Communist attack from the North on our people by appeals to the International Control
Commission. Over the years, we have repeatedly published to the world the evidence of the Communist plot to overthrow our
government and seize control of all of Vietnam by illegal intrusions from outside our country. The evidence has mounted until
now it is hardly necessary to rehearse it. Most recently, the kidnapping and brutal murder of our Chief Liaison Officer to the
International Control Commission, Colonel Noang Thuy Nam, compelled us to speak out once more. In our October 24, 1961
letter to the ICC, we called attention again to the publicly stated determination of the Communist authorities in Hanoi to
"liberate the south" by the overthrow of my government and the imposition of a Communist regime on our people. We cited the
proof of massive infiltration of Communist agents agents and military elements into our country. We outlined the Communist
strategy, which is simply the ruthless use of terror against the whole population, women and children included.
In the course of the last few months, the communist assault on my people has achieved high ferocity. In October they caused
more than 1,800 incidents of violence and more than 2,000 casualties. They have struck occasionally in battalion strength, and
they are continually augmentating their forces by infiltration from the North. The level of their attacks is already such that our
forces are stretched to the utmost. We are forced to defend every village, every hamlet, indeed every home against a foe whose
tactic is always to strike at the defenseless.
A disastrous flood was recently added to the misfortunes of the Vietnamese people. The greater part of the three provinces
was inundated, with a great loss of property. We are now engaged in a nationwide effort to reconstruct and rehabilitate this
area. The Communists are, of course, making this task doubly difficult, for they have seized upon the disruption of normal
administration and communications as an opportunity to sow more destruction in the stricken area.
In short, the Vietnamese nation now faces what is perhaps the gravest crisis in its long history. For more than 2,000 years my
people have lived and built, fought and died in this land. We have not always been free. Indeed, much of our history and many
of its proudest moments have arisen from conquest by foreign powers and our struggle against great odds to regain or defend
our precious independence. But it is not only our freedom that is at stake today, it is our national identity. For if we lose the
war, our people will be swallowed by the Communist bloc, all our proud heritage will be blotted out by the "Socialist society"
and Vietnam will leave the pages of history. We will lose our national soul.
Mr President, my people and I are mindful of the great assistance the United States has given us. Your help has not been lightly
received, for the Vietnamese are proud people, and we are prepared to do our part in the defense of the free world. It is clear
to all of us that the defeat of the Viet Cong demands the total mobilization of our government and our people, and you may be
sure that we will devote all of our resources of money, minds, and men to this task.
But Vietnam is not a great power and the forces of international Communism now arrayed against us are more than we can
meet with the resources at hand. We must have furthur assistance from the United States if we are to win the war now being
waged against us.
We can certainly assure mankind that our action is purely defensive. Much as we regret the subjugation of more than half our
people in North Vietnam, we have no intention, and indeed no means, to free them by use of force.
I have said that Vietnam is at war. War means many things, but most of all it means the death of brave people for a cause they
believe in. Vietnam has suffered many wars, and through the centuries we have always had patriots and heroes who were
willing to shed their blood for Vietnam. We will keep faith with them.
When Communism has long ebbed away into the past, my people will still be here, a free united nation growing from the deep
roots of our Vietnamese heritage. They will remember your help in our time of need. This struggle will then be a part of our
common history. And your help, your friendship, and the strong bonds between our two peoples will be a part of Vietnam, then
as now.
 
-----------------------------
 
 
 
Letter from President Kennedy to President Diem
December 14, 1961
Dear Mr President:
I have received your recent letter in which you described so cogently the dangerous condition caused by North Vietnam's
efforts to take over your country. The situation in your embattled country is well known to me and to the American people. We
have been deeply disturbed by the assault on your country. Our indignation has mounted as the deliberate savagery of the
Communist program of assassination, kidnapping, and wanton violence became clear.
Your letter underlines what our own information has convincingly shown - that the campaign of force and terror now being
waged against your people and your government is supported and directed from the outside by the authorities at Hanoi. They
have thus violated the provisions of the Geneva Accords designed to ensure peace in Vietnam and to which they are bound
themselves in 1954.
At that time, the United States, although not a party to the Accords, declared that it "would view any renewal of the aggression
in violation of the Agreements with grave concern and as seriously threatening international peace and security." We continue to
maintain that view.
In accordance with that declaration, and in response to your request, we are prepared to help the Republic of Vietnam to
protect its people and to preserve its independence. We shall promptly increase our assistance to your defense efort as well as
help relieve the destruction of the floods which you describe. I have already given the orders to get those programs underway.
The United States, like the Republic of Vietnam, remains devoted to the cause of peace and our primary purpose is to help
your people maintain their independence. If the Communist authorities in North Vietnam will stop their campaign to destroy the
Republic of Vietnam, the measures we are taking to assist your defense efforts will no longer be necesary. We shall seek to
persuade the Communists to give up their attempts of force and subversion. In any case, we are confident that the Vietnamese
people will preserve their independence and gain the peace and prosperity for which they have fought so hard and so long.

Tạ ơn đời, tạ ơn nhau



Bây giờ là tháng 11. Chiều chưa đến mà trời đã tối thật là nhanh. Cái lạnh ở đâu ùa về, giá rét. Mùa này nhiều nơi còn bão rớt trên quê hương chúng ta. Tại Hoa Kỳ, lễ Thanks Giving đã đến, mang đến một chút gì một niềm vui ấm áp, một chút gì bâng khuâng xao xuyến vì ngày lễ đáng yêu này.

Từ hàng trăm năm nay, người dân Hoa Kỳ có một đời sống tiện nghi nhất, kỹ thuật nhất, an cư nhất trên tòan thế giới. Cho dù nền kinh tế vẫn còn khủng hoảng, nhưng đời sống người dân không đến nỗi xáo trộn. Hàng năm, cả nước đều đón mừng lễ Tạ Ơn. Trường học, học sinh được nghỉ. những ngôi giáo đường vang khúc nhạc Tạ Ơn. Mối liên hệ giữa lễ Tạ Ơn truyền thống với sự cân bằng đời sống xã hội, với sự phồn thịnh về văn hóa… đã đóng góp rất nhiều trong mối tương quan giữa Tạo hóa và và vạn vật, và giữa muôn loài nữa. Tinh thần ấy hướng dẫn sự phát triển thuận chiều của đất trời. Có phải chăng tâm tình Tạ ơn tạo nên một chuỗi phản ứng, biến hóa những gì chung quanh ta, biến hóa nhân loại thăng tiến, như phép mầu nhiệm của chiếc đũa thần…

Người ta có thể hiểu lầm nhau ở nhiều điều, nhưng người ta không thể hiểu lầm nhau ở tấm lòng biết ơn. Biết ơn là một ngôn ngữ chung của của nhân loại, là tiếng nói thiết tha của tâm hồn.

Lễ Tạ Ơn là một trong những ngày lễ được mọi người hân hoan chào đón. Là những ngày đoàn tụ gia đình. Dù ở nơi xa, ai cũng mong ước và thu xếp trở về mái ấm gia đình, hưởng những giờ phút đầm ấm yêu thương. Đây cũng là dịp người ta tạ ơn đời, tạ ơn nhau. Lễ Tạ Ơn là dịp mà hơn lúc nào hết, chúng ta bày tỏ sự yêu thương, chia sẻ, gần gũi bên nhau.

Chúng ta cùng đọc bài thơ của Đặng Lệ Khánh, một người phụ nữ gốc Huế rất tài hoa:

Tạ ơn ta còn dài mái tóc
Đêm đêm nằm phủ mặt giữ hương
Tạ ơn ta còn xanh đôi mắt
Nhìn cuộc đời qua rất dễ thương

Tạ ơn ta còn nghe tiếng gió
Gõ đùa chơi qua chiếc phong linh
Nghe như nhạc Thánh ca đâu đó
Trổi theo chim ríu rít trên cành

Tạ ơn ta tình yêu đầy ắp
Chảy trên từng dòng chữ đam mê
Bơi trong mộng khói sương ngây ngất
Quấn quýt theo một dáng ai về

Tạ ơn ta đôi mi chợt ướt
Một sáng nào thức giấc nhìn trời
Bên kia núi có ai thổn thức
Mà mưa hồng gợi nhớ không thôi…

Sống trên đời, chẳng ai tồn tại được một mình, cho nên, mang ơn, tự nó là một tình cảm cao quý. Cuộc chiến tranh trên đất nước chúng ta kéo dài đến 1/3 thế kỷ, chấm dứt bằng biến cố 1975. Rồi sau đó là những năm tháng tù đày, những chuyến băng rừng, vượt biển. Có thể nói phân nửa dân tộc chúng ta còn sống đến hôm nay như những kẻ may mắn sống sót. Nhưng cũng phải trải qua bao nhiêu tóc tang tủi nhục. May mắn thay, có không biết bao nhiêu những bàn tay cứu giúp cưu mang đã chìa ra cho chúng ta nắm lấy, khắp bốn phương trời phiêu bạt. Đất nước “hòa bình” rồi. Thế nhưng…

Có bao nhiêu người vợ, hai mươi, ba mươi tuổi vào năm 1975 đã trở thành góa phụ? Bao nhiêu những đứa trẻ đã trở thành những đứa con côi ngay từ lúc sơ sinh? Bao nhiêu người nay đã là cha, là mẹ, nhưng lại không hề biết hay không còn nhớ nổi gương mặt cha hay gương mặt mẹ của mình? Ôi, có thể nào lại có một đất nước mà mọi người đều sợ hãi bỏ chạy như đất nước chúng ta? Một đất nước mà ai trốn thoát ra khỏi đều coi như điều may mắn? Một quốc gia mà “nửa này đã cố giết một nửa kia để lập chiến công” như một câu thơ mà người ta đã đọc được trên vách một nhà tù? Một đất nước mà người ta ở không được, đi không được. Như vậy thì phải làm sao đây?

Hãy nghe tâm sự của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn:

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi
Bằng sức người vô hạn
Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom
Tim mang nghìn dấu đạn
Tôi đã đổ mồ hôi đổ máu tươi
Để mong ở lại đây
Dù thế nào cũng ở lại đây

Nhưng đất đã đỏ
Vì bị nung bằng những lời dối trá
Người bám vào
Lửa đã đốt cháy tay
Lửa hờn căm
Lửa hiểm thâm
Lửa khốn cùng cay đắng
Người lừa nhau
Trời đất còn bưng mặt thảm thương

Vâng. 100 năm nô lệ. Rồi trận đói năm Ất Dậu. Và lụt lội không năm nào buông tha. Rồi chiến tranh, chiến tranh…kéo dài không ngừng, dân tộc ta có lúc tưởng chừng như kiệt sức. Trong hoàn cảnh đau thương, nghiệt ngã như thế, nhưng chúng ta vẫn phải mang ơn. Mang ơn đời. Mang ơn người. Chúng ta bị xua đuổi, phải chạy trốn, nên phải mang ơn những người đã cưu mang chúng ta. Bên cạnh những người chết, chúng ta mang ơn Thượng Đế, vì chúng ta còn. Vâng, chúng ta còn, nên vẫn còn hy vọng. Hy vọng một ngày quê hương chúng ta sẽ thoát khỏi cơn mê muội. Hy vọng rồi sẽ có lúc “người nhìn ra người” và biết thương yêu nhau với tất cả tấm lòng…

Trong niềm hy vọng ấy, chúng ta dâng một lời cầu nguyện:

Nơi hiểu biết được tự do phát triển
Nơi đời sống không bị phân chia bởi những thành kiến cổ hủ, hẹp hòi
Nơi tiếng nói xuất phát từ sự thật, sâu xa
Nơi mọi nỗ lực không ngừng vươn tìm tuyệt đối
Nơi suối lý trí trong suốt tuôn chảy không bị lạc vào sa mạc hoang vu của tập quán khô cằn
Trong thiên đường tự do ấy
Thượng Đế hỡi!
Xin hãy cho quê hương chúng tôi thức tỉnh
(Khuyết danh)

Trong cuộc sống bận rộn ở Hoa Kỳ, ai cũng phải tất bật hối hả lao vào cái vòng quay rất nhanh và rất mạnh của đời sống vật chất. Đến nỗi có nhiều khi người ta quên đi đời sống tinh thần.

Cho nên nhân mùa lễ Thanhs Giving, ước mong rằng mỗi người trong chúng ta hãy dành một khoảng thời gian, ngồi một mình, nhìn lại quãng đời đã qua. Chúng ta đã cho đi và nhận lại những gì? Hãy nói với nhau những lời yêu thương, hãy trao cho nhau những ánh mắt thiện cảm. Hãy dành cho nhau một chút thời gian để cảm nhận được cái sự may mắn nhất mà chúng ta có được trong cuộc sống hôm nay. Nhỏ bé thôi nhưng thật gần gũi, ấm áp.

Và cũng nhớ dành vài phút hít thở không khí trong lành buổi sớm mai, ngắm ánh nắng vàng lấp lánh trên những ngọn cỏ còn ướt đẫm sương mai hay ngắm một nụ hoa vừa hé nở nơi góc vườn hay cùng nghe lại một khúc tình ca trong kỷ niệm.
Thanksgiving xôn xao niềm tin cùng niềm vui mới. Mỗi người chung một niềm vui, một lời chúc tụng…Chúng ta gửi đến nhau trong tình thương yêu chia sẻ, chẳng hạn cho một người thương yêu nhất dù không gian có cách xa nhưng lúc nào cũng nhớ nhau từng phút lại từng giây…

Xin cảm ơn mái ấm gia đình, cảm ơn cha mẹ, cảm ơn tiếng cười trong trẻo, giọng nói líu lo của những đứa con yêu. Cảm ơn những giờ phút vui tươi bằng hữu, cảm ơn những thương yêu săn sóc, an ủi và ngay cả những đồng cảm nhớ nhung của một người dành cho một người. Xin cảm ơn đời, cảm ơn người yêu dấu đã cho ta tình yêu thương ngọt ngào, êm dịu ngát hương…

Cám ơn em dịu dàng đi bên cạnh
Biển ngoài kia xanh quá nói chi nhiều
Núi gần quá, sóng và em gần quá
Anh còn lời để tỏ một tình yêu

Đâu cứ phải là đôi lứa yêu nhau mới cám ơn nhau? Biết ơn là một ngôn ngữ toàn cầu, là điệu nhạc, ý thơ, là sự rung động của tâm hồn. Lời thơ và điệu nhạc biết ơn ấy tuyệt diệu lắm vì nó có thể xuyên qua mọi thứ cản trở của trần thế, bay lên cao tràn ngập khắp không gian.

Chúc các bạn một mùa lễ Thanksgiving đầm ấm hạnh phúc.

Bích Huyền


Luân Đôn cuối thu :TÂM HỒN VÀ VĂN PHONG

                            TÂM HỒN VÀ VĂN PHONG

Trong thập niên cuối của 30 năm dài tính từ ngày tháng năm 1975, người dân Miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị tan tác vì khói lửa chiến tranh, dẫn đến cảnh nước mất nhà tan, khiến giờ đây đã có 30 triệu người đang phiêu bạt trên các phương trời tự do sống cuộc đời ‘tầm gởi’, và trên 30 triệu đồng bào Đồng Nai bên nầy dòng sông Bến Hải tiếp tục đắm chìm trong cảnh huống điêu linh nghèo khổ, thậm chí mất tất cả đến quyền sống làm người. Thì tại hải ngoại, người ta bỗng thấy xuất hiện một dòng văn học tương đối mới mẻ- dưới dạng tiểu thuyết, hình như chú ý đánh dấu cái khoảng thời gian kỳ quái vừa được nhắc trên của toàn thể 80 triệu sanh linh từ Bắc đến Nam, nơi nước nhà thật sự thấm thía cùng cực về một chế độ chính trị được mệnh danh là ‘Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam’, cai trị từ những lãnh tụ xuất phát vô sản. Tuyệt đại đa số, nếu không phải 3 đời thì ít ra cũng có một hai đời là bần cố nông, lao động ! Bần cố nông mà nay có được bần cố nông lãnh đạo thì có gì lý tưởng cho bằng ? Người dân nghèo rớt mồng tơi, đâu phải sợ cái cảnh một cổ đôi ba tròng bị đàn áp, bốc lột như họ thường nghe CS tuyên truyền ra rả bên tai về ách phong kiến, quan lại, tư sản, địa chủ nữa? Khốn thay, việc đời vẫn có những cảnh lâm ly của nó. Ngày nay, chiến tranh sạch bóng, đất nước ‘thống nhứt’ 30 năm rồi, mà trong thực tế, cái nông nỗi bần cố nông lãnh tụ một hai đời kia lại thẳng tay đè đầu, đè cổ, vơ vét, đọa đày thê thảm đám quần chúng bần cố nông năm- bảy- đời thì thật quả là sự khó tin mà có thật !

Thông thường, bộ môn tiểu thuyết chỉ nhằm biểu lộ trạng thái tâm hồn lãng mạn, tính chất tình ái yêu đương bàng bạc giữa đôi lứa nam nữ, khơi dậy những ngang trái trong đời sống cá nhân, hoặc với biết bao nỗi niềm bất công của cảnh đời lầm than muôn mặt, đặt một xã hội vật chất kiêu sa, đầy dục vọng…

Song, nay lại không phải vậy.

Tất cả không còn là bối cảnh chính yếu của đề tài tiểu thuyết tâm lý khêu gợi thường thấy nữa.

Tất cả- những gì từ dòng suy tư rung động, cảm tính phong phú mênh mông kia ở rừng tác giả thời qua đã hầu như bỏ lại phía sau nhường bước cho một văn phong nghĩa lý, nhằm chủ đích mượn chuyện, dệt chuyện có ‘chừng mực’ để ghi dấu những sự kiện, những biến thiên hãi hùng đã xảy ra nơi quê nhà. Và được phủ nhẹ bằng một chuyện tình, một cuộc luyến ái liên quan đến thời cuộc, đến tình thế thuở chiến tranh.

Dưới nét nhìn ấy, sau khi một loạt đọc tác phẩm đã xuất bản và phổ biến trên văn đàn như ‘Chân Trời Hạnh Phúc, Trong Lâu Đài Kỷ Niệm, Xa Bến Thiên Đường, Một Thoáng Hương Xưa, Những Ngày Xưa Thân Ái, Nỗi Lòng Người Đi’… của nhà văn nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn, chúng tôi xin được dè dặt đề cập đến trạng thái đặc biệt ấy ở tác giả.

Vào một buổi Thu bước sang Đông năm 2004, thời tiết Âu Châu thật là lạnh, nhất là ở phương trời Anh Quốc nầy thường chìm trong sương mù u ám, buồn thật là buồn, tôi nhận được bản thảo ’Vén Màn Sương Ảo Mộng’ mà tác giả có nhã ý dành cho đọc trước với yêu cầu viết lời giới thiệu.

Cây bút Dư Thị Diễm Buồn tuy xuất hiện chậm, nhưng danh tính bà lại khá quen thuộc trong giới văn nghệ sĩ và độc giả vùng trời tự do. Các sách truyện thơ của bà viết ra đều đã do một số nhà văn tên tuổi như Xuân Vũ, Nguyễn Thị Vinh, Hồ Trường An, Doãn Quốc Sỹ, Tạ Quang Khôi, Văn Quang, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Thùy, Diên Nghị, Lê Mộng Nguyên, Uyên Thao, Lê Đình Cai… viết lời tựa hoặc biểu lộ sự tán thưởng đậm đà.

Tôi được làm quen, đến với văn chương ở bà muộn màng. Song điều đó không là một trở ngại. Mỗi một người đọc, tất nhiên đều có những nhận định, nhận thức riêng vào lúc đón nhận những thi vị chung. Trong cuộc đời cầm bút viết báo qua chặng đường dài cam go phức tạp thuở còn miền Nam- Có lẽ vì bị chi phối bởi ‘nghiệp chướng’ làm báo, nay xin cứ ngay tình và khiêm nhường thổ lộ : Hãy giữ nguyên áng văn nguyên thủy trao thẳng đến độc giả. Độc giả đọc đến, sẽ lần ra tâm ý người viết, và sẽ đi sâu vào phần duyệt xét điều hay, hoặc chưa mấy hay của văn phong và bố cục cốt truyện. Vậy thiết tưởng cứ phải trang trọng dành sự kết luận cuối cùng cho bạn đọc. Trách nhiệm của bản văn giới thiệu tác phẩm chỉ nên thu hẹp trong chiều hướng suy diễn ấy, chỉ là một đóng góp tế nhị vào cảm quan chung ở thành phần độc giả đã để mắt đến tác phẩm. Trừ phi định đặt ra vấn đề ‘phê bình’ thì lại là mục đích khác, và vẫn chỉ có thể đưa ra vào lúc sách đã được phát hành. Mọi phân tích, chê khen ồn ào sớm, là một xúc phạm đáng trách đến sự thưởng ngoạn của bạn đọc nói chung!

Xưa nay, trong thực tế, danh vị ‘độc giả’, được coi trọng như những nhà trọng tài văn chương cao quý. Bạn độc đứng trên tất cả! Vì, chỉ thiếu sự quan tâm khách quan nghiêm túc của độc giả, chắc chắn khó thể có những nhà văn, những tác giả tài danh đúng nghĩa ở địa hạt cầm bút.

Thiên tiểu thuyết ‘Vén Màn Sương Ảo Mộng’ đang chuẫn bị ra mắt bạn đọc. Xin mạn phép nêu ra- nó là sự nối tiếp một số tác phẩm đã ra đời trước. Trong nội dung, quê hương nước Việt vẫn là bối cảnh hàng đầu giữa cuộc chiến hai miền Nam Bắc Quốc Gia- Cộng Sản vào thời điểm sôi động nhất. Và, được lồng vào một chuyện tình Nam Nữ Thể Hà- Đông Nhựt. Qua nhiều tình tiết đặt vào từng vai nhân vật trong truyện, người ta dễ dàng đón nhận tác giả Dư Thị Diễm Buồn ấp ủ một tâm tình lãng mạn phong phú như phần đông những người thiếu nữ cùng trang lứa thuở còn tuổi nữ sinh- sinh viên đầy thơ mộng. Có điều bà sớm có khiếu văn chương. Chất thơ văn ấy giúp cho bà trẻ mãi. Trẻ mãi nơi tâm hồn. Đọc văn bà, người ta thường bắt gặp những ý nghĩ hồn nhiên, duyên dáng, tươi mát, trẻ trung. Cứ như một thiếu phụ không bao giờ chịu ảnh hưởng của tuổi đời pha màu thời gian. Bà viết, phải viết- chỉ vì say men văn chương. Giản dị thế thôi. Nó là một lối thoát cho một tâm tình sâu kín. Bà quan sát, suy tư nhiều hơn là hòa mình vào ngoại cảnh. Bà sống bằng nội tâm, tự biết định hướng, biết chỉ huy, xử linh những rung động từ nơi con tim cho thích đáng. Thành thử nhà văn, nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn vẫn mới mà vẫn tiềm tàng nét đoan trang xưa cũ, thường thấy dưới những mái gia đình tồn cổ, nho phong- nơi các thị trấn êm đềm bên dòng Đồng Nai thân yêu ở miền Nam. Nội một điểm nầy, đáng để cho những độc giả khả kính trong chúng ta tìm đến nhà văn, đọc những gì còn gọi là đáng đọc.

Lại nếu nhìn vào các tiêu đề đặt cho từng tác phẩm cũng như chỉ dựa vào những tên gọi được đặt cho từng nam nữ trong truyện, người ta có thể lầm nghĩ nhà văn tác giả đã chịu phần nào ảnh hương của cây bút tiểu thuyết gia Quỳnh Dao nổi tiếng. Nhưng Diễm Buồn vẫn là Diễm Buồn của riêng bà. Nếu có giống chăng- chỉ ở mạch văn thoát ra dễ dàng, luân lưu như không bao giờ cạn. Nhà Văn Diễm Buồn có cái khả năng, văn tài triền miên, thanh thoát không bến bờ.

Đoạn kết của tập truyện nầy- ‘Vén Màn Sương Ảo Mộng’ đã cho thấy rõ điều đó. Nó hứa hẹn nhà văn sẽ còn đặt bút tiến xa tắp vào chân trời tiểu thuyết phong phú bao la…

Trong cảm nghĩ ấy, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tác phẩm và tác giả Dư Thị Diễm Buồn đến bạn đọc bốn phương.



MẠC KINH

Luân Đôn cuối thu 2004

Bài Xem Nhiều