We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 5 December 2013

TÔN KÍNH TỔ TIÊN: Đạo lý của người Việt Nam

4.jpg
 TÔN KÍNH TỔ TIÊN


1. Đạo lý của người Việt Nam

Đối với người Việt Nam chúng ta, việc tôn kính ông bà tổ tiên rất được đề cao. Đề cao đến độ mà việc tôn kính đã trở thành đạo: đạo ông bà, đạo hiếu, đạo thờ cúng tổ tiên. Để đánh giá một người nào, người Việt chúng ta thường dựa vào cách đối xử của người đó với ông bà, cha mẹ. Thậm chí người ta còn coi việc báo hiếu trọng hơn việc đi tu:

Tu đâu cho bằng tu nhà,

Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu.

Người Việt Nam tôn kính tổ tiên vì 2 lý do chính:

- Đạo lý uống nước nhớ nguồn: Chim có tổ, suối có nguồn, cây có cội, con người cũng có tổ tiên. Chúng ta biết ơn đấng sinh thành và dưỡng dục chúng ta.

- Vì huyết thống, xin tổ tiên phù trợ chúng ta:  Đối với người Việt Nam, chết không phải là hết, nhưng người chết vẫn còn quanh quẩn bên người sống để che chở cho con cháu. Bởi đó, người Việt Nam thường khấn xin tổ tiên ông bà phù hộ cho con cháu. Và khi chết người Việt Nam lại về với ông bà, tổ tiên.

Chúng ta nhớ ơn các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ vì các ngài đã sinh ra, dưỡng nuôi và giáo dục chúng ta nên người. Đối với người Việt Nam chúng ta, đây là công ơn lớn lao nhất mà chúng ta không thể nào quên được, vì:

Ai mà phụ nghĩa quên công,

Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm.

Trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, có một người đã hỏi một nhà truyền giáo rằng: cha mẹ tôi đã chết và trước đây họ không theo đạo; như vậy, họ có được vào thiên đàng không? Nhà truyền giáo trả lời là không được (vì trước đây, Giáo hội chúng ta quan niệm rằng chỉ những ai rửa tội mới được vào thiên đàng). Người này đã nói với nhà truyền giáo rằng vậy tôi cũng không thể vào đạo được, vì nếu vào đạo tôi sẽ được hưởng hạnh phúc ở trên thiên đàng, còn cha mẹ tôi lại phải chịu đày đọa trong hỏa ngục. Như vậy, làm sao tôi có thể hưởng hạnh phúc trong khi cha mẹ thì phải đau khổ trầm luân…

Việc tôn kính tổ tiên vừa có tính cách gia đình, vừa có tính cách xã hội. Trong các gia đình, việc tôn kính tổ tiên được thực hành vào những dịp lễ như đám tang, lễ giỗ, lễ cưới, Tết Nguyên đán, và trong những dịp lễ khác. Trong những dịp lễ này, người trưởng trong gia đình thường đốt nhang để báo cáo với tổ tiên và xin tổ tiên phù hộ. Nhất là trong dịp Tết Nguyên đán, khi tất cả con cháu tụ họp về đông đủ. Sau khi cúng trời đất là nghi thức dâng hoa, dâng quả, dâng nhang đèn cho tổ tiên, ông bà đã khuất và chúc thọ cho ông bà cha mẹ còn sống. Việc tôn kính này còn mở rộng ra ngoài xã hội: nhớ ơn những người có công dựng nước và giữ nước. Việc tôn kính tổ tiên sẽ giúp cho con cái luôn sống thảo hiếu với cha mẹ, tạo ra được sự liên kết trong gia đình. Đối với xã hội, tôn kính tổ tiên là cách tốt nhất để tạo sự hòa hợp dân tộc, củng cố lòng yêu nước thương nòi, vì nó nhắc nhở mọi người về một nguồn gốc chung, cùng một giống nòi, dù khác biệt về tôn giáo, chính kiến hay vị trí xã hội.

2. Giáo hội Công giáo và việc thờ cúng tổ tiên

Một số nhà truyền giáo trước đây không hiểu rõ việc thờ cúng này, coi đây như là một hình thức của lòng tin tôn giáo, nên đã tạo ra sự cấm đoán. Hậu quả là công việc truyền giáo ở Việt Nam đã không phát triển mạnh được. Và ngày nay, nó còn là một khó khăn rất lớn trong mục vụ và là một thách đố thực sự trong việc loan báo Tin mừng. Việc cấm thờ cúng tổ tiên đã làm cho người Công giáo bị coi như những kẻ xa lạ trong chính đất nước của mình và đây cũng là lý do chính để các Vua Chúa thời Nguyễn bách hại đạo chúng ta. Ngày nay, còn rất nhiều người ngoài Công giáo vẫn cho rằng người Công giáo bỏ ông bà, tổ tiên, không khói hương, không nhang đèn:                                            

Lấy người Công giáo làm chi?

Chết thì ai cúng? Giỗ thì ai lo?

Lấy ai săn sóc mả mồ?

Lấy ai lo lắng bàn thờ tổ tiên?

Cũng vì nghĩ như vậy mà nhiều người không muốn theo đạo. Chúng ta phải làm sao để xua tan đi sự hiểu lầm này? Tam giáo được chấp nhận ở Việt Nam vì họ đã biết tùy duyên hóa độ. Đặc biệt họ đã tiếp nhận việc tôn kính tổ tiên, tín ngưỡng nền tảng của dân tộc, rồi làm vững mạnh và phong phú nó. Do đó, những điều tốt đẹp của các tôn giáo này đã thấm nhuần vào nền văn hóa Việt Nam, trở thành hồn dân tộc. Xét cho cùng, việc tôn kính ông bà tổ tiên chỉ có tính cách văn hóa và luân lý trong đời sống xã hội và gia đình, chứ không có tính cách tôn giáo. Trong việc hội nhập văn hóa, chúng ta cần chú trọng đến yếu tố văn hóa hết sức nền tảng này, vì  nó ảnh hưởng rất lớn đến việc loan báo Tin mừng.

Thực ra người Công giáo vẫn kính nhớ ông bà tổ tiên, nhưng với cách thức khác người ngoài Công giáo. Giáo hội Công giáo có những ngày dành riêng để kính nhớ ông bà tổ tiên cũng như những người đã ly trần, và dành trọn tháng 11 để cầu nguyện cho những người đã qua đời. Trong các thánh lễ an táng, lễ giỗ, lễ các đẳng… có các lời nguyện đặc biệt chỉ cho người qua đời. Người Công giáo biểu lộ niềm tin vào Đức Kitô, Đấng đã phục sinh từ cõi chết, Đấng sẽ cho ông bà tổ tiên và những người đã qua đời cũng được phục sinh như Người và được hưởng hạnh phúc muôn đời. Chúng ta cũng nhớ đến các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ, vì các ngài đã có công đón nhận đức tin, sống đức tin một cách mãnh liệt và truyền lại cho ta. Các ngài đã đi mở đường rồi khai phá và xây dựng vùng đất này để ngày nay chúng ta có được nơi sinh sống, làm ăn và thờ phượng Chúa. Người tín hữu còn biết ơn biết bao vị thánh đã ra đi trước, đã làm đẹp lòng Chúa và đã được tôn vinh trên bàn thờ, trên trời.

Dĩ nhiên, việc thờ cúng tổ tiên có một số điều không phù hợp với đức tin Công giáo, như dâng cúng đồ ăn, tiền, đồ dùng cho người quá cố. Đây cũng là cách báo hiếu, vì nghĩ rằng người chết vẫn còn ăn uống và sử dụng đồ đạc như người sống. Nhưng người Công giáo tin rằng người chết thì không còn ăn uống được nữa. Từ năm 1964, HĐGMVN đã cho phép thi hành một số hình thức tôn kính dành riêng cho ông bà tổ tiên, vừa loại bỏ điều gì xem ra như là mê tín dị đoan. Theo đó, nguời Công giáo có thể có những bàn thờ tổ tiên trong gia đình; và trên bàn thờ này người ta có thể trưng những hình ảnh hay bài vị của tổ tiên; và trước những hình ảnh và bài vị nầy, người ta có thể dâng hương và cúi mình tôn kính. Nhưng ngày nay, nhiều người Công giáo vẫn coi việc tôn tính tổ tiên như một điều cấm kỵ hoặc chỉ tôn kính cho có hình thức.

Việc tôn kính tổ tiên không chỉ là bổn phận tự nhiên, mà còn là đòi hỏi của Thiên Chúa. Thiên Chúa đòi buộc chúng ta: “Phải thảo kính cha mẹ”, và trong sách Xuất hành, Thiên Chúa còn ban luật rõ: “Kẻ nào đánh đập hoặc nguyền rủa cha mẹ mình, kẻ ấy tất phải chết” (Xh 21.15,17). “Hãy tôn kính cha mẹ để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này.” Công đồng Vatican II đã tuyên bố: “Những gì tốt đẹp trong tâm hồn và tư tưởng của loài người hoặc trong nghi lễ và văn hóa riêng của các dân tộc, hoạt động của Hội thánh không nhằm tiêu diệt, nhưng làm cho lành mạnh, nâng cao và kiện toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người.” (LG 17,1) Thư chung của HĐGMVN đã định nghĩa hội nhập văn hóa “là tìm ra những điểm gặp gỡ giữa Tin mừng và hồn dân tộc, để xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin ngày càng phù hợp hơn với nền văn hóa dân tộc.” (Thư chung 1998, số 13) Các Giám mục Việt Nam đã giải thích rõ hơn về mối quan hệ giữa Tin mừng và văn hóa Việt Nam và khuyến khích người Công giáo Việt Nam đem những giá trị của Tin mừng làm phong phú và thăng tiến những giá trị của văn hóa Việt Nam: “Yêu thương và hiệp nhất là đặc điểm của Tin mừng Chúa Giêsu Kitô và cũng là điểm gặp gỡ sâu xa nhất giữa Tin mừng và văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa vốn lấy nghĩa đồng bào và đạo hiếu trung làm nền tảng cho đạo đức xã hội.” (Thư chung 1998, số 5). Qua bản góp ý của HĐGMVN gởi cho Thượng Hội đồng Giám mục Châu Á, các Giám mục Việt Nam đã nhận định: “Với những đức tính như lòng hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ, kính trên nhường dưới trong gia đình, với một tâm hồn yêu thích tĩnh mịch và chiêm niệm, người Việt Nam là một mảnh đất tốt để đón nhận những giá trị thiêng liêng hàm chứa trong Tin mừng… Đạo lý Đông phương vốn trọng chữ Trung, chữ Hiếu và chữ Nhân rất gần với tinh thần của Kitô giáo: trung với Chúa, hiếu thảo với ông bà cha mẹ tổ tiên và nhân ái với mọi người.” “Muốn thế, một đàng chúng ta phải đào sâu Thánh kinh và Thần học để nắm vững những điều cốt yếu của Đức tin, đàng khác phải đào sâu nếp sống của từng dân tộc trong nước, để khám phá ra những giá trị riêng của mỗi dân tộc. Rồi từ đó, chúng ta tận dụng những cái hay trong một kho tàng văn hóa mà xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả Đức tin phù hợp hơn với truyền thống của mỗi dân tộc đang cùng chung sống trên Quê hương và trong cộng đồng Hội thánh này.” (Thư chung 1980, số 11). Có một sự liên kết chặt chẽ giữa việc tôn kính tổ tiên và đức tin Công giáo. Có nhiều điểm rất gần gũi và rất phù hợp với đức tin Công giáo như mối liên hệ giữa người sống và người chết, linh hồn bất tử, tin ở đời sau, đạo hiếu, đạo lý uống nước nhớ nguồn, cùng chung một nguồn gốc. Đây là những điểm gặp gỡ giữa Tin mừng và hồn dân tộc, giúp chúng ta xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin ngày càng phù hợp hơn với nền văn hóa dân tộc:

- Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa từ chính ông bà tổ tiên chúng ta: Thật vậy, chúng ta có thể rao giảng về một Thiên Chúa, là chính tổ tiên của cả nhân loại, nguồn mọi tình phụ tử, “nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” (Ep 3,14). Thiên Chúa đã sinh ra con người, Ngài là Cha đầy lòng nhân ái, Ngài yêu thương, quan phòng và dưỡng nuôi chúng ta: “Cho dù người mẹ có quên con mình, thì Ta, Ta sẽ chẳng bao giờ quên ngươi” (Is 49,15).  Điều này đã được công đồng Vatican II quả quyết: “Mọi dân tộc đều thuộc về một cộng đoàn cùng chung một nguồn gốc, vì Thiên Chúa đã cho toàn thể nhân loại sinh sống trên mặt địa cầu (x. Cv 17,26). Thiên Chúa muốn tập họp nhân loại vào một gia đình chung, trong đó mọi người đối xử với nhau như anh chị em. Do đó, mọi người cũng phải có bổn phận hiếu thảo với Cha trên trời. Trong bản góp ý của HĐGMVN gởi cho Thượng Hội đồng Giám mục Châu Á, các Giám mục Việt Nam đã đề nghị giới thiệu Giáo hội như một gia đình của Thiên Chúa, trong đó Thiên Chúa là Cha, Chúa Giêsu là Trưởng Tử, mọi người là anh chị em với nhau nhờ được liên kết với Người: ai thi hành ý muốn của Chúa Cha, người ấy là anh chị em của Chúa Kitô (x. Mt 12, 50). Chúa Giêsu cũng khẳng định mọi người chỉ có một Cha trên trời (x. Mt 23, 9). Và Người nói với các môn đệ: “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em.” (Ga 20,17) Người đã vâng lời Cha trên trời cho đến chết và hiếu thảo với cha mẹ trần thế, hằng vâng phục các ngài (x. Lc 2,51). Cũng chính vì thế, một khuôn mặt Chúa Kitô hiền hậu và khiêm nhường (x. Mt 11,29), phản ánh một người Cha nhân hậu (x. Lc 6,36), Đấng muốn qui tụ mọi người trong đại gia đình nhân loại mới, trong đó mọi người hiếu với Cha, yêu thương hòa hợp với anh em, dễ thu hút tâm hồn Châu Á.

- Về việc hiếu thảo với cha mẹ: Người Công giáo còn phải hiếu thảo với cha mẹ vì Thiên Chúa là Cha chúng ta đã dạy như thế (giới răn thứ 4). Trong nền văn hóa toàn cầu ngày nay, nền tảng gia đình đang bị lung lay, Giáo hội cần đặc biệt bảo vệ và phát triển đạo hiếu, vì đó là một trong những yếu tố củng cố nền móng gia đình một cách hữu hiệu.

- Về mối liên hệ giữa người sống và người chết : Sự sống ở kiếp sau, linh hồn bất tử: Người Việt Nam tin rằng chết không phải là hết, mà sinh thì (sống thật), sinh ký tử qui, người chết vẫn còn lảng vảng bên con cháu. Dựa vào niềm tin này, chúng ta có thể nói cho người ngoại giáo về tín điều các thánh thông công, sự sống đời đời. Đó chính là những “hạt giống của Lời,” ánh sáng chân lý, được Thiên Chúa chuẩn bị cho người Việt Nam để đón nhận Tin mừng. Do đó, chúng ta cần lành mạnh hóa những điều tốt đẹp trong nghi lễ tôn kính tổ tiên này, nâng cao và kiện toàn chúng, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người.  Nhờ đó, Tin Mừng mới dễ dàng đi vào lòng người hơn.

Chúng ta cần khuyến khích và cổ vũ cho việc tôn kính tổ tiên để có cùng một tâm tình với đồng bào của chúng ta và để tạo ra sự gần gũi, ruột thịt như nền văn hóa Việt Nam đã nhắc nhở chúng ta cùng chung một bào thai (đồng bào). Chúng ta cần gạn đục khơi trong, bài trừ những gì là mê tín dị đoan và thăng tiến những cái tốt, cái hay, cái đẹp trong nền văn hóa Việt Nam. Việc tôn kính tổ tiên theo văn hóa Việt Nam được thực hành trong các gia đình vào những dịp lễ như đám tang, lễ giỗ, lễ cưới, Tết Nguyên đán. Vì vậy, mỗi gia đình Công giáo nên có một bàn thờ tổ tiên, được đặt bên dưới bàn thờ Chúa, để nhắc nhở con cháu về đạo lý làm người, con cái thảo hiếu với cha mẹ, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Trong những dịp lễ giỗ, những người Công giáo nên mời bạn bè, láng giềng, những người thuộc các tôn giáo khác đến để cùng cầu nguyện cho ông bà tổ tiên và chia sẻ bữa cơm thân mật. Việc hội nhập văn hóa liên quan đến thờ cúng tổ tiên trong những dịp lễ như Tết Nguyên Đán, giỗ tổ Hùng Vương, lễ cưới, lễ an táng, lễ giỗ cần được nghiên cứu và áp dụng trong gia đình và trong cả nhà thờ, để tạo ra sự gần gũi hơn với những người ngoài Công giáo. Đây cũng là những dịp tốt để người Công giáo loan báo Tin mừng, vì trong những dịp lễ này những người ngoài Công giáo thường đến chia sẻ với chúng ta niềm vui cũng như nỗi buồn. Việc tôn kính tổ tiên vừa là bổn phận của chúng ta, vừa là cách để chúng ta giới thiệu về đạo chúng ta cho những người ngoại. Vì việc tôn kính tổ tiên sẽ giúp chúng ta dễ gần gũi, dễ hòa đồng với những người bên lương và qua đó, chúng ta có thể giới thiệu với họ một vị Thiên Chúa là Cha, đầy lòng thương xót, là Tổ Tiên của cả nhân loại.



 GB. Trần Hữu Hạnh

--


 

Sự tôn kính Tổ Tiên đối với người Công Giáo


Nhân Mùa Vọng và Giáng Sinh 2013, nói về sự tôn kính Tổ Tiên với người Công giáo:


Tại Việt Nam, những người không theo một tôn giáo nào rõ rệt, thường được gọi là người lương, là những người thờ cúng tổ tiên, ông bà, tin có ông Trời, thường cho rằng “những người theo đạo Công Giáo là bỏ ông bà, quên tổ Tiên”.


Nhưng thật ra, trước kia, các nhà truyền giáo hội Thừa Sai Paris (MEP) đã hiểu lầm việc thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Việt Nam là mê tín dị đoan, nên đã tấu trình Tòa thánh, để cấm giáo dân tham dự lễ giỗ và ăn uống đồ cúng của người lương. Do đó, người lương đã nghĩ lầm về thái độ của người Công giáo đối với các bậc tiền nhân.


Xét kỹ cho đúng, theo đạo công giáo đâu phải “bỏ ông bà, tổ tiên, quên người thân quá cố”. Trước hết, qua 10 điều răn Đức Chúa Trời truyền qua ông Môisen: Điều răn thứ 4 đã dạy: “Thảo kính Cha Mẹ”. Đối với người đã qua đời, GHCG đã dành tháng 11 hàng năm để kính nhớ và cầu nguyện.


Ngày trước, ở Việt Nam, các xứ đạo cứ mỗi tối thứ Hai hàng tuần, có buổi đọc kinh cầu cho các đẳng linh hồn trong luyện ngục. Đối với từng gia đình Công giáo khi đến ngày giỗ người thân, cũng xin Linh mục làm “lễ mồ”, để cầu nguyện và nhớ đến người quá cố.


Việc khiến người lương hiểu lầm là do sự khuyến cáo của các vị Thừa Sai không cho”người có đạo dự lễ giỗ kỵ của người lương”, khiến cho xa cách tình bà con, họ hàng, gây hiểu lầm đáng tiếc!



Để giải tỏa sự hiểu lầm ấy, và có tinh thần hiệp thông với người lương, hội Đồng Giám mục Miền nam: Việt Nam Cộng Hòa, đã trình Tòa thánh về việc này nên:


“Ngày 20/10/1964, Tòa Thánh qua Bộ Truyền Giáo đã chấp thuận cho Giáo hội Công giáo Việt Nam áp dụng: Huấn thị Plane compertum est về việc Tôn Kính tổ tiên và các bậc Anh Hùng, Liệt sĩ cho giáo dân Việt Nam.”



Ngày 14/6/1965, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã ra thống báo về việc tôn kính tổ tiên, anh hùng, liệt sĩ.


Ngày 14/11/1974, một hội nghị tại Nha Trang gồm Đức Tổng Giám mục Philiphê Nguyễn Kim Điền và các Giám mục: Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, Px Nguyễn Văn Thuận, Phêrô Huỳnh Công Các, Giuse Trần Văn Thiện, Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, Phêrô Maria Nguyễn Huy Mai. Trong hội nghị, các ngài đã triển khai thêm các điểm cụ thể về vấn đề thờ cúng tổ tiên và đã ra một thông cáo 6 điểm, tóm liocwj như sau:


1. Được đặt bàn thờ Tổ Tiên trong gia đình dưới bàn thờ Chúa.


2. Được đốt nhang, đèn, nến; vái lạy bàn thờ Tổ tiên và các cử chỉ hiếu thảo được làm.


3. Ngày giỗ kỵ trong gia đình được phép trưng bày lễ vật như hoa trái để tỏ lòng biết ơn các tiền nhân, ngoại trừ việc có tính cách dị đoan như đốt vàngbacj, mã hình, nộm giấy.


4. Trong hôn lễ được tổ chức Lễ Gia Tiên trước bàn thờ để tỏ lòng tôn kính biết ơn và hiếu thảo với ông bà, tổ tiên.


5. Trong tang lễ được đốt hương (nhang) vái lạy thi hài người qua đời.


6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thần hoàng tại đình làng, các Anh Hùng Dân Tộc trong lịch sử hay các ân nhân của làng.


Sự xa cách của người Công giáo Việt Nam trước đây đối với các nghi lễ hợp lý của dân tộc khiến người lương ngộ nhận rằng “theo đạo Chúa là bỏ ông bà, tổ tiên.” Bởi đó, việc truyefn giáo cho họ theo đạo chúa là cả vấn đề.


Tòa thánh Vatican đã chấp thuận đề nghị của hội Đồng Giám mục Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên, anh hùng liệt sĩ, nhưng vấn đề làm sáng tỏ thể thức áp dụng Huấn thị trên (Plane compertum est 20/10/1964), các Giám mục đã ra thông báo phổ biến cho các đoàn thể Công giáo tiến hành và kể cả người bên lương.


Ở đây, chúng tôi xin tóm lược 3 điểm của thống cáo:


1. Giáo hội Công Giáo không cấm tín hữu tham dự các phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính Tổ Tiên, Anh Hùng Liệt Sĩ.


2. Người Công giáo không tham gia các lễ nghi có tính cách trái với giáo lý GHCG. Trường hợp bất đắc dĩ, chỉ được hiện diện như đã ấn định trong bộ Giáo luật 1917, khoản 1258.


3. Được thi hành và tham dự các nghi lễ mà dư luận địa phương không cho đó là của một tôn giáo tuyên xưng niềm tin của họ.

Tóm lại, việc tôn kính tổ Tiên của người Việt Nam từ trước đến nay, không có điều gì trái ngược với đức tin công giáo. Hãy đọc câu ca dao:

“Công Cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ Mẹ kính Cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

Đọc câu ca dao, tôi nhớ lại Điều răn thứ 4 của Đức Chúa trời:

Thứ bốn: Thảo kính Cha Mẹ.

Không phải thảo kính Cha Mẹ khi còn sống, mà còn phải thảo kính khi Cha Mẹ đã qua đời. Giáo hội Công giáo Việt Nam đã dành cho chúng ta tháng 11 hàng năm, để tưởng nhớ tín điều: “Các Thánh Thông Công.”

 Giáo sư-Nghị sĩ Bùi Văn Giải

Đảng quyền Hà Nội: Xóa dấu vết Tu viện DCCT Thái Hà

Ngụy  Hà Nội xóa dấu vết Tu viện DCCT Thái Hà
 


VRNs (04.12.2013) – Sáng nay, ngày 4/12/2013, rất nhiều công an, dân phòng và an ninh chìm với các phương tiện chuyên dụng đã kéo đến bảo kê cho ban giám đốc bệnh viện Đống Đa (chiếm Tu viện DCCT Hà Nội để làm bệnh viện) xóa bỏ dấu vết Tu viện DCCT Hà Nội để “hợp thức hóa” dần dần làm mất dấu tích của một Tu viện.
 
Phía bệnh viện đã lén lút xây dựng 1 toà nhà sát bờ tường phía khu đất nay bị cướp làm vườn hoa 1/6 và sáng nay đã đập bỏ tường bao để làm cho tòa nhà này lộ ranh ra ngoài. Tất cả những người ra vào bệnh viện phải đi bằng cổng phía sau chứ không được vào cổng chính. Mặc dù chỉ là vấn đề xây dựng nhưng nhà cầm quyền lại trang bị xe “cảnh sát” và rất đông công an ra canh. 
 
Phải chăng nhà cầm quyền sợ giáo dân nổi giận vì cơ sở của Giáo hội bị xúc phạm trước mặt họ nên phải xua quân ra bảo vệ?
 
Tất cả diện tích gần 60.000 m2 khu vực Thái Hà ấp thuộc về quyền sở hữu của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam từ thượng bán thế kỷ trước nay chỉ còn vỏn vẹn hơn 2.500 m2. Ba khu vực quan trọng bị nhà cầm quyền cộng sản chiếm dụng hiện nay là Tu viện DCCT Hà Nội (làm bệnh viện Đống Đa), khu đất Hồ Ba Giang và khu Vườn hoa 1/6.
 
Dưới đây là một số hình ảnh mà giáo dân Thái Hà ghi nhận được sáng nay.

 
Xe chuyên dụng phá bỏ tường bao
 
Sáng nay mọi người phải ra vào bằng cổng sau
 
Công an bảo kê cho việc đập phá cơ sở tôn giáo
 
Tòa nhà xây lén lút đang lộ dần ra


Chiếm dụng và phá hoại cơ sở tôn giáo lại do chính công quyền thực hiện
 
Cổng chính bị chặn…


PV. VRNs
 

Nền giáo dục VNCH trước 1975


Nền giáo dục VNCH
                      

Nhân bản, dân tộc và khai phóng
Nền giáo dục ở Miền Nam trước 1975 đặt trên 3 phương châm lớn, được ghi vào Hiến Pháp hẳn hoi: nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Giáo dục nhân bản lấy cá nhân làm trọng, nhấn mạnh đức dục, hướng đến phục vụ tha nhân. Giáo dục dân tộc bắt đầu từ chương trình Việt, xiển dương lòng ái quốc thương nòi. Giáo dục khai phóng mở mang kiến thức khoa học kỹ thuật, không ngại du nhập những nét hay, thế mạnh của Tây Phương.
    
Những bước ban đầu
Một cuộc mít tinh của phụ nữ thời Đệ Nhất Cộng Hòa
Triết lý giáo dục đó giúp học trò thăng hoa, lòng sáng tạo được khích lệ, tự do cá nhân được nâng đỡ -- là nguyên do chánh khiến các ngành nghệ thuật, văn thơ hội hoạ phát tiết tài hoa, để lại hằng ngàn tác phẩm vài chục năm sau vẫn mê hoặc hồn người. Còn vài đóng góp sáng giá khác mà chúng tôi sẽ thử nêu ra trên trang báo này. Cần ghi nhận nền giáo dục đại học thời VNCH được hoàn toàn tự trị. Các việc ngân sách, nhân sự, học vụ... đều không bị giới chánh trị chi phối.
Theo thời thế, có nỗ lực canh tân, chuyển dần từ cách dạy và học của người Pháp sang phương pháp thực nghiệm chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ. Một điểm đặc sắc rất riêng của nền giáo dục VNCH là sự ổn định của chương trình đức dục/công dân giáo dục, từ bậc tiểu học lên đến trung học. Tính nhân bản và hiệu quả của chúng đã được chứng thực qua thời gian. Một phần thậm chí đang được... copy dùng lại ở VN hiện nay.
             Thầy trò tiểu học thời VNCH.  -->







Các bậc học
Hiếp pháp VNCH cũng quy định nền giáo dục toàn dân, miễn phí đến hết bậc Trung Học. Theo các số liệu còn lại, vào đầu thập niên 1970, cả nước có khoảng 5,200 trường tiểu học với 2.5 triệu học trò. Cùng thời điểm này, có trên 530 trường trung học và hơn 550,000 học sinh trung học. Đến niên học cuối cùng 1975, toàn quốc có 900,000 học sinh trung học. Cùng lúc ở bậc đại học, khoảng 167,000 sinh viên ghi danh học.
Ngoài ra, thời VNCH còn có hệ thống "Bách Khoa Bình Dân" với học phí thấp, thậm chí miễn phí. Đây là các trung tâm huấn nghệ ngắn hạn, dành cho học trò hoàn cảnh cơ cực không thể tiếp tục lên đại học, hoặc giới thợ thuyền đầu tắt mặt tối, kể cả cựu quân nhân, v.v...
     Sách Giáo Khoa Trước 1975 VNCH------->
Hệ thống trường
Một điểm độc đáo của nền giáo dục VNCH là sự nức tiếng của các trường trung học công lập. Nhiều trường đến nay vẫn còn dư âm. Có thể kể Trung Học Quốc Học (Huế), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ), Võ Trường Toản (Sài Gòn). Trường nữ lả lướt những Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt... Bên nam danh tiếng chưa phai mờ những Chu Văn An, Pétrus Ký... Những nơi này cho ra lò không ít yếu nhân của xã hội Miền Nam thời đó.
Hệ thống đại học công lập VNCH cũng lẫy lừng không kém. Nổi bật là Viện Đại Học Sài Gòn lớn nhất xứ sở. Có lúc nơi này thu hút đến 70% sỉ số sinh viên cả nước. Ngoài ra có thể kể thêm Viện Đại Học Huế (1957), Viện Đại Học Cần Thơ (1966)...
      Viện Đại Học Sài Gòn-------->
Trong hoàn cảnh giáo dục tự trị, hoàn toàn tự do, các viện đại học tư thục cũng được mùa... trăm hoa đua nở. Viện Đại Học Đà Lạt của Công Giáo rất mạnh, cho ra trường hơn 25 ngàn sinh viên trong 2 thập niên hoạt động.
Bên Phật Giáo có Viện Đại Học Vạn Hạnh, thiết lập năm 1964, nằm trên đường Trương Minh Giảng Quận 3. VNCH còn có 2 học viện rất nổi tiếng khác, với vai trò khá đặc biệt. Viện Đại Học Hòa Hảo , Long Xuyên ,  Viện Đaị Học Cao-Đài , Tây Ninh , Viện Đại Học Minh-Đức, Saigon 
        Viện Đại Học Vạn Hạnh-------->
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam (1950), trường sở đặt ở Đà Lạt, sau dời về đường Trần Quốc Toản, Quận 10 Sài Gòn. Trường này chú trọng huấn luyện các chuyên viên hành chánh và công quyền, bao gồm thuế vụ và ngoại giao. Ngôi trường kia là Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Võ Bị huấn luyện sinh viên sĩ quan, ra trường như một Cử Nhân Võ Khoa -- đa phần sau này trở nên các cấp chỉ huy can trường trên trận địa, giúp giữ gìn bờ cõi trong cuộc chiến chống giặc thù cộng sản xâm lăng từ phương Bắc.
Một trong những ưu thế của VNCH là được nhiều nước bạn đồng minh yểm trợ. Ngành giáo dục non trẻ cũng được nâng đỡ theo. Chánh phủ New Zealand từng giúp xây Trường Đại Học Khoa Học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Người Pháp cố vấn về phát triển nhân sự, cũng như cấp nhiều học bổng du học. Tây Đức yểm trợ việc kiến thiết và trao tặng thiết bị cho 1 trường trung học kỹ thuật. Trợ giúp lớn nhất thuộc về Hoa Kỳ, từ ấn loát sách giáo khoa đến xây trường trại. Đầu 1970, Hoa Kỳ chuyển dàn máy móc IBM thế hệ mới nhất để Bộ Giáo Dục sử dụng chấm bài thi trắc nghiệm kiểu Mỹ (bài thi vì vậy thường gọi là "Thi IBM").
Những năm cuối cùng của Miền Nam tự do cũng là lúc manh nha chương trình đại học cộng đồng, dựa theo mô hình "Community College" của Mỹ. Chú trọng 2 năm sơ cấp đại học, một phần chương trình nhắm vào giới cựu chiến binh, cần trang bị kiến thức cập nhật. Cũng có một dự án giàu tham vọng khác là Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (1973) mô phỏng trường Đại Học Cal Poly (California Polytechnic State University). Mặc dù còn khiêm tốn, từ những cơ sở giáo dục này, đã manh nha nhiều tạp chí chuyên sâu, mang ít nhiều dáng dấp sinh hoạt hàn lâm. Có thể kể: tạp chí "Acta Medica Vietnamica" của trường Dược; "Luật Học Kinh Tế Tạp Chí" của trường Luật; tập san "Nghiên Cứu Hành Chánh" của trường Quốc Gia Hành Chánh; tập san "Nghiên Cứu Sử Địa" của Văn Khoa Sài Gòn; tạp chí "Đại Học" của Viện Đại Học Huế, v.v... Cũng có một số thử thách, trì hoãn phần nào đà tiến triển của nền giáo dục đại học VNCH. Thứ nhất là ảnh hưởng của lối Tây học có phần bảo thủ. Thứ nhì, chiến cuộc ngày càng ác liệt. Thứ ba, tình trạng thiếu giáo sư. Không ít giáo sư đứng lớp ở nhiều trường khác nhau. Trong khi đó, một số đậu tiến sĩ ở ngoại quốc lại tránh hồi hương vì xáo trộn chánh trị.
Không hiếm giáo sư lỗi lạc trong lớp trí thức Miền Nam hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà. Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục góp công gầy dựng Đại Học Văn Khoa từ thời 1940-1950. Giáo Sư Phạm Công Thiện lúc ra mắt chưa tới 30 tuổi. Ngành Y lừng danh Giáo Sư Phạm Biểu Tâm.
  Giáo Sư Phạm Biểu Tâm (phải) và sinh viên---->
 Bên Toán có các Giáo Sư Đặng Kế Viêm, Đào Văn Dương. Triết Học có thầy Trần Bích Lan (Nguyên Sa thi sĩ). Quốc Văn có thầy Trần Trọng San. Anh Văn có soạn giả Lê Bá Kông & Lê Bá Khanh. Tiến Sĩ Đỗ Bá Khê --Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên-- là người có công khai sinh hệ thống đại học cộng đồng
Miền Nam lúc đó xuất hiện lượng trí thức Tây học đông đảo chưa từng thấy. Họ có đầu óc độc lập, lại chịu dấn thân phát triển nước nhà. Chính họ góp phần đưa VNCH lên vị thế lò đào tạo 3/4 số kỹ sư trong toàn vùng Đông Nam Á. Quan trọng hơn, họ giúp tạo nên một lớp người sống thượng tôn luật pháp, trọng thị Tổ Quốc, nặng lòng với giống nòi.




Công trình dang dở
    Nếu có hoàn cảnh thuận lợi, có lẽ thế hệ trí thức quốc gia đã mang lại nhiều thăng hoa cho xứ sở. Tiếc thay, sau một cuộc biến động lịch sử, họ phải gánh chịu nhiều trả thù ác hiểm. Tổng Trưởng Giáo Dục từ thời Quốc Gia Việt Nam, Phan Huy Quát, đi đày đến mất mạng trong nhà giam đảng cộng sản. Tổng trưởng Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên, Ngô Khắc Tĩnh cũng mắc kẹt 13 năm tù "cải tạo".
Tiếc cho vận nước ngặt nghèo. Tiếc cho người Việt quốc gia đứt đoạn cơ hội vươn mình thành một minh châu trời Đông. Tiếc vì hoa quả giáo dục Miền Nam chưa kịp chín đượm thì nước Việt Nam Cộng Hòa bị kết liễu năm 1975. Dù sao, nét giáo dục nhân bản của VNCH vẫn kịp để lại một dư hương khó phai.
Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm-->
Hiếp pháp VNCH cũng quy định nền giáo dục toàn dân, miễn phí đến hết bậc Trung Học. Thực tế không đủ trường nên muốn vào trường công phải thi tuyển. Ngoài ra nhiều gia đình muốn con em học thêm giáo lý tôn giáo nên trả học phí để học các trường tư thục của các tôn giáo
Sau 37 năm, ngay cả một số đảng viên cộng sản cũng thừa nhận sự vượt trội của đường lối giáo dục VNCH đối với nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại VN ngày nay.

Người viết:   Thanh Dũng

 http://www.vanhoaviet.info/giaoducconghoa.htm


Những hình ảnh về giáo dục miền Nam VN

logo_vnnetHình ảnh và những tài liệu về giáo dục Miền Nam Việt Nam trước 1975 đang được chia sẻ trên các trang mạng. Mục tiêu giáo dục thời điểm này được xác định là: Phát triển toàn diện mỗi cá nhân; Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh; Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.

Mô hình giáo dục này trong những năm 1970 có khuynh hướng chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.
Hệ thống giáo dục gồm tiểu học, trung học và ĐH, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.
Dưới đây là một số hình ảnh về chuyện học, chuyện dạy ở thời kỳ này:
1-giaoducMienNamVN_truoc1975_sachgiaokhoaSách giáo khoa cho học sinh.
Triết lý giáo dục dựa trên 3 nguyên tắc “nhân bản”, “dân tộc” và “khai phóng”.
Mục tiêu giáo dục thời điểm này được xác định là: Phát triển toàn diện mỗi cá nhân; Phát triển tinh thần Quốc gia ở mỗi học sinh; Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.
20131202150726-tieu-hoc-vnchBậc tiểu học bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5. Theo quy định, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc).
6-giaoducMienNamVN_truoc1975_thehocsinhVoTruongToanThẻ căn cước học sinh Trường Võ Trường Toản
Hệ thống giáo dục trung học gồm:
7-giaoducMienNamVN_truoc1975_trunghoccongdongquan8Trường trung học Đệ nhất cấp
Trong ảnh: Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 năm 1972- 1973
8-giaoducMienNamVN_truoc1975_hocsinhVoTruongToanTrường trung học Đệ nhị cấp.
Trong ảnh: Các nam sinh Trường Võ Trường Toàn
9-giaoducMienNamVN_truoc1975_truongnonglamsucblaoHệ thống trường trung học còn có: Trung học tổng hợp, Trung học kỹ thuật
Trong ảnh: Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B’Lao.
20131202152211-viendaihocvanhanh-saigonHọc sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện ĐH, trường ĐH, và học viện trong nước. Vì số chỗ trong một số trường có giới hạn nên học sinh phải dự kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao.
12-giaoducMienNamVN_truoc1975_viendaihocDaLatViện đại học Đà Lạt.
13-giaoducMienNamVN_truoc1975_vienPasteurNhaTrangViện Pasteur Nha Trang.
14-giaoducMienNamVN_truoc1975_truongHangHaiTrường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung tâm Quốc gia Kỹ Thuật.
15-giaoducMienNamVN_truoc1975_truongQGANCác giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm (đờn kìm), Phan Văn Nghị (đờn cò), Trương Văn Đệ (đờn tam), Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh)
16-giaoducMienNamVN_truoc1975_truongMyThuatBuổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60
Thời điểm này, một số sinh viên bậc ĐH được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.
17-giaoducMienNamVN_truoc1975_truongSuPhamChương trình hai năm (còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc) nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học. Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm).Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.
18-giaoducMienNamVN_truoc1975_giaovienChỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.
Sau đó, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm.
19-giaoducMienNamVN_truoc1975_chungchiTuTai1Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp.
20-giaoducMienNamVN_truoc1975_chungchiTuTai2Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230.

Bài Xem Nhiều