We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 29 January 2014

Mường Giang : Xuân về đốt nén hương lòng cho Tết Mậu Thân 1968



TẾT MẬU THÂN 1968, VC TÀN SÁT ĐỒNG BÀO VÔ TỘI TẠI HUẾ *

                                                                


Cuối tháng 12-1960, Hồ Chí Minh thành lập tại Hà Nội cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), dùng làm bình phong lừa bịp thế giới về âm mưu cưởng chiếm VNCH bằng quân sự. Ðể hoàn thành giấc mộng nhuộm đỏ toàn cõi VN, Hà Nội bắt các cán binh, bộ đội gốc Miền Nam đã tập kết ra Bắc năm 1954 phải hồi kết , qua đường mòn Trường Sơn. Số này sẽ kết hợp với các cán binh nằm vùng năm xưa và một nhóm trí thức khoa bảng đang bất mãn chính phủ Ngô Ðình Diệm. Tất cả sẽ dấy lên một phong trào tranh đấu giả tạo, để lật đổ chính quyền hợp pháp của Miền Nam bằng kế hoạch ba mặt giáp công. Ðó là chính trị, binh vận và quân sự của Miền Bắc.

Cuộc binh biến ngày 1-11-1963 với kết quả đưa VNCH vào tình trạng vô chính phủ và gây nên những xáo trộn chính trị triền miên suốt những năm 1964-1967. Nắm lấy thời cơ vàng ròng, mà Hồ Chí Minh cho là đã chín mùi tại Miền Nam, nên đầu năm 1964, đảng ra lệnh tập trung các cán bộ Y tế, Giáo dục, Văn hóa Thể dục Thể thao, Nhà văn, Nhà báo, Nông nghiệp, Bưu điện, Tiếp vận... khắp đất Bắc để học tập, huấn luyện, lên đường vào Nam tiếp tay với bọn Việt gian bản địa, dấy lên phong trào cướp chính quyền ở Huế, Ðà Nẵng, Sài Gòn và nhiều thành phố khác. Ðợt đó có 300 người bị tập trung tại Trường Huấn Luyện Ðặc Biệt ở Phú Thọ, mang tên là Ðoàn K-33.
vc
Bộ đội VC


Ngày 22-12-1964 lớp học bế mạc, tất cả các học viên đều lên đường vào Nam. Trong số cán bộ trên, hiện còn nhiều người sống sót và được đảng thưởng công rất hậu như Nguyễn Trung Hậu (Bí thư tỉnh ủy Thuận Hải), Trần Ngọc Trác (Chủ tịch tỉnh Thuận Hải), Ngô Triều Sơn (Q..Bí thư tỉnh ủy Bình Thuận), Nguyễn Tường Thuật (Chủ tịch tỉnh Phú Yên)... Ngoài ra còn có các nhạc sĩ, nhà văn như Phan Huỳnh Ðiểu, Thuận Yến, Lê Anh Xuân, Tô Nhuận Vỹ, Dược sĩ Nguyễn Kim Hùng, Tiến sĩ Võ Quảng, Nguyễn Thới Nhậm, Nguyễn Khoa Ðiềm..
vc
Lâu nay nhiều người thắc mắc về sự liên hệ giữa Nguyễn Khoa Ðiềm và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thậm chí không ít người quả quyết cả hai chỉ là một. Nhưng dù là một hay hai thì chúng vẫn là những ác nhân thiên cổ (trong đó có Nguyễn Ðắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan..) đã tàn nhẫn dã man mất hết nhân tính khi ra lệnh chôn sống, đập đầu và tùng xẻo hàng ngàn đồng bào vô tội tại Huế vào những ngày Tết Mậu Thân (1968).

Giống như những người Nhật còn sống sót khi đã hứng hai trái bom nguyên tử của Mỹ năm 1945. Hiện có một số lớn nạn nhân may mắn sau thảm kịch Tết Mậu Thân Huế 1968, đã quả quyết thủ phạm chính cuộc tàn sát dã man lúc đó là những thành phần trong mặt trận Liên Minh Dân Tộc Hòa Giải do Hà Nội dựng lên tại Huế vào ngày mồng ba tết (1-2-1968) gồm Lê văn Hảo,Hoàng phủ ngọc Tường, Hoàng phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân, Nguyễn Ðoá, Ðào thị Xuân Yến, Hoàng phương Thảo.. Tất cả bọn nam nữ ác quỹ lúc đó đều thuộc thành phần thượng lưu trí thức, ăn trên ngồi trước, gì gì cũng thừa mứa.. chỉ thiếu có máu và xác người, nên phải giết đồng bào vô tội để cùng vui bữa tiệc thịt người.

vc
Bia đá trăm năm có thể bị hũy diệt bởi con người và thời gian, lịch sử cũng vậy có thể bị thay đen đổi trắng bởi bọn cầm quyền và đám bồi bút vô loại nhưng bia miệng thì không bao giờ bất biến bởi chúng là những tác phẩm vô hình không chữ nghĩa. Ngoài ra còn có luật trời và tòa án lương tâm, nhất là đối với những người có lòng tin tôn giáo " Quả Báo Nhản Tiền " . Nên nay có mặc áo vàng, áo đỏ, áo lam , áo đen hay ở trần đóng khố thì rốt cục cuối đời cũng phải mặc áo quan để về với đất.Tất cả hãy lấy bọn ác tặc trên để sám hối trước khi " về nguồn " sửa soạn tái sinh và cơ duyên xấu hay tốt của kiếp tới, đều do kiếp này gieo quả.

Ai là người miền Nam VN, đã được sống sót và đầu thai trở lại khi may mắn đến được bờ đất hứa tự do, chắc không làm sao quên được sự dã man có một không hai của cán binh VC tại bất cứ nơi nào khi chúng hiện diện trước tháng 4-1975. Sau đó là những cảnh xử giảo các thành phần " Quân Cán Cảnh VNCH " qua cái gọi là Tòa Án Nhân Dân. Hình ảnh Cố Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng Chương Thiện tại pháp trường Cần Thơ năm nào, bị VC bẽ gập gảy xương sống rồi dùng mã tấu đâm nát cơ thể trước khi bắn, vào những ngày đầu tháng 5 mất nước. Cảnh tượng dã man đó làm sao xóa được, để mà hớn hở hòa hợp, về nguồn và nối vòng tay lớn với giặc nay đã mất hết nhân tính quốc hồn, buôn, bán nước ?
hcm

Lịch sử VN đã bị đảo lộn vì sự bóp méo của ngòi bút trí thức. Dân tộc VN bị mất chủ quyền đất nước và quyền sống vào tay ngụy quyền Hà Nội, cũng chỉ vì mù quáng tin thật vào những đảo lộn của lịch sử và hậu quả dối trá trên nay vẫn là món hàng thời thượng không mất giá. Hồ Chí Minh một đời bán nước hại dân làm ngàn tội ác, nay vẫn được thành BỤT ngồi trên bồ đề trong chùa, trước các đấng thần linh. Lũ ác gian ăn ốc, dân lành VN đổ võ từ thế hệ này cho tới thế hệ khác và tới bao giờ mới chấm dứt ? VN là như vậy đó, thì làm sao mà về nguồn để tìm lại bản sắc dân tộc Hồng Lạc ngàn đời, nay đã bị tức tưởi tanh hôi dưới hố sâu máu và xác người dân Việt đói nghèo trong ngục tù nô lệ VC ?

* LỘT TRẦN NHỮNG BÓP MÉO XUYÊN TẠC VNCH :
Ngày nay những luận điệu điêu ngoa láo bịp, bẻ cong ngòi bút của đám truyền thông báo chí phương tây mà phần lớn là Mỹ nhắm vào VNCH đã trở nên lổi thời, sau khi Bắc Việt công khai xé bỏ hiệp ưúc ngưng bắn mà chúng đã ky với Hoa Kỳ vào năm 1973. Viết về trận chiến Tết Mậu Thân (1968) Sir R Thompson, nhà bỉnh bút người Anh đã dựa vào lời kể của Dương Quỳnh Hoa, Trần Văn Trà, Hoàng Văn Hoan, Viễn Phương.. viết “ Ðây là ý đồ của Võ Nguyên Giáp, muốn tạo sai lầm chiến thuật, để đẩy VC miền Nam vào chổ chết. Có vậy Hà Nội mới đưa được cán binh Bắc Việt vào Nam trám chổ các đơn vị địa phương vừa bị QLVNCH và Ðồng Minh tiêu diệt , để dành lấy địa vị độc tôn sau cuộc chiến “.
Sự thật là vậy nhưng hệ thống truyền thông Hoa Kỳ đã đổi trắng thay đen, biến thất bại quân sự của CS tại miền Nam thành một chiến thắng chính trị trên đất Mỹ, gieo sự nghi ngờ tới tầng lớp dân chúng về những công bố của chính phủ trong cuộc chiến VN. Từ đầu năm 1967, Hà Nội đã ban hành nghị quyết số 13, kêu gọi đồng bào miền Nam " đồng khởi " để dành thắng lợi trong một thời gian ngắn. Sỡ dĩ có hiện tượng này, là vì Ðảng quá tin tưởng vào cảnh rối ren đang xảy ra khắp VNCH nhất là tại miền Trung. Vin vào đó nên Lê Duân kết luận rằng khi phát động cuộc tổng công kích vào dịp tết Mậu Thân (1968), dân chúng miền Nam sẽ đứng dậy theo chúng và lật đổ chính quyền như họ đã từng làm vào ngày 1-11-1963.
hcm
Do ảo tưởng trên, Hà Nội đã chuẩn bị sẳn chính quyền tương lai cho miền Nam bằng cái gọi là " Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình " để làm mồi danh lợi câu bọn trí thức khoa bảng phản thùng VNCH. Ðồng thời dùng liên minh trên để thay thế Mặt Trận Ma GPMN đang hấp hối sắp bị tiêu diệt. Ngoài ra Duân còn ban lệnh cho tất cả cán binh bộ đội miền Bắc, thẳng tay tàn sát " ngụy quân " để làm tan rã " ngụy quyền ".Kết quả VC đã gây nên một cuộc tàn sát có một không hai trong giòng sử Việt, mà ghê gớm nhất ở cố đô Huế.

Tất cả đều là ảo tưởng, vì chỉ có Huế bị giặc chiếm lâu ngày nên đồng bào không chạy thoát được. Những nơi khác tại VNCH kể cả hai thành đồng của "bác" là Phan Thiết và Bến Tre, cũng chẳng thấy ai đứng dây đồng khởi. Ngược lại ở đâu đồng bào đều di tản vào các vùng do QLVNCH trấn giữ, để tránh bị thảm sát vì giặc và bom đạn. VC còn hoang tưỏng tới độ cho rằng lính miền Nam đánh thuê cho Mỹ, nên không có lý tưởng do đó sẽ buông súng đầu hàng " cách mạng " chống lại chánh quyền. Nhưng đã không có chuyện gì xảy ra và dù quân số tại hàng rất ít. Thế mà QLVNCH vẫn giữ vửng được phòng tuyến và phản công sau đó để chiếm lại hầu như tất cả những lảnh thổ bị giặc cưởng chiếm ban đầu.
nncs
Dịp này Duẩn bắt giam Hoàng Minh Chính, Vũ Ðình Huỳnh, Ðặng Kim Giang.. đồng thời sang chầu Nga, Tàu mua chịu bom đạn súng ống. Riêng Mao tăng viện cho 300.000 quân phòng không và công binh, để giúp phòng thủ đất Bắc từ Thanh Hóa trở ra. Theo Xuân Sách thì năm 1967, không quân Hoa Kỳ oanh tạc Bắc Việt dữ dội. Kế hoạch tổng công kích Tết Mậu Thân nhằm tấn công thẳng vào VNCH, cũng để giải vây cho Hà Nội.
Tất cả các kế hoạch đột kích miền Nam được chuẩn bị rất chu đáo và bí mật, trong đó có công tác của đội văn công trung ương. Vì quá tin tưởng sẽ chiếm được VNCH nên Duân ra lệnh cho Xuân Sách, Huy Du, Vũ Trọng Hối, Huy Thục, Doản Nho.. dàn dựng một bản đại hợp xướng với tiêu đề " xuân chiến thắng " , được nữ ca sĩ Kim Oanh hát và thu vào băng nhựa để phát ra khắp miền Nam sau khi chiếm được Sài Gòn vào giờ G.
nncs
Nhưng năm Mậu Thân 1968 vĩnh viển không có giờ G để đám Việt gian có dịp hát. Vì vậy cuối cùng Ðảng chỉ xài có phần 3 của bảng hợp xướng để tuyên truyền qua tựa " VN trên đường chúng ta đi ".Chính Võ nguyên Giáp là người đã soạn thảo kế hoạch còn Hồ Chí Minh thì ban lệnh tổng tấn công , qua bài thơ Máu nay vẫn còn :
"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
thắng trận tin vui khắp mọi nhà
Nam-Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên ! toàn thắng ắt về ta"

Giáp cũng là tác giả vụ " đổi lịch mới " từ 1-1-1968, để cho ngày mùng một Tết trên đất Bắc trùng với giờ giao thừa tại miền Nam, hầu đánh lừa dư luận để giữ kín bí mật quân sự. Sau tháng 5-1975, VC khoe thành tích và ăn mừng chiến thắng Mậu Thân hằng năm nhưng năm 1969, khi Giáp được một nhà báo phương tây phỏng vấn, thì cũng chính miệng hắn chối là Hà Nội không hề hay biết gì về cuộc chiến Tết Mậu Thân xảy ra tại Miền Nam. Tư cách của các chóp bu đảng CS là thế đó, nên khi chúng nắm được quyền lảnh đạo đất nước, VN không đói nghèo hèn nhục trước giặc Tàu và thế giới, thì mới là chuyện lạ.

* THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN TẠI HUẾ :

Tỉnh Thừa Thiên nằm giữa miền Trung VN, có diện tích 5054km2 và dân số tính đến năm 2000 là 1.045.134 người với các quận Phong Ðiền,Quảng Ðiền,Hương Trà,Phú Vang,Hương Thủy,Phú Lộc,A Lưới và Nam Ðồng. Tỉnh Lỵ là thành phố Huế hiện nay có diện tích 380km2 với 209.043 người. Là cố đô của nhà Nguyễn (1802-1945), Huế muôn đời vẫn đẹp và thơ mộng, mang nhiều sắc thái tiêu biểu cho dân tộc, nhân chứng của một chặng đường lịch sử, văn hóa, kiến trúc VN, nên trong hội nghị lần thứ 17 tại Catagenna nước Columbia vào tháng 12-1993, tổ chức UNESCO của LHQ đã công nhận Huế là di sản văn hóa của nhân loại cần bảo tồn.

nncs
Ngược dòng lịch sử, từ năm 1366 Huế đã là thủ phủ của Ðàng Trong, tức là hai Châu Ô, Rí do vua Chế Mân cuả Chiêm Thành, dâng cho nhà Trần làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của Ðại Việt, từ đó trở thành đất Thuận Hóa. Những gì còn lại của Huế hôm nay chỉ là một phần công trình của cố đô trong đống gạch vụn do Việt Cộng và bọn Việt Gian VNCH tàn phá vào Tết Mậu Thân 1968. Ngoài ra Huế còn nhiều nét tiêu biểu khác như chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền, chợ Ðông Ba, với trường Quốc Học cổ kính nằm cạnh bờ sông với hàng phượng vỹ nở rộ mỗi độ hè về, nuí Ngự Bình trước tròn sau méo, sông An Cựu nắng đục mưa trong, hồ Tĩnh Tâm sen nở ngút ngàn và Phú Văn Lâu trơ gan cùng tuế nguyệt.

Từ năm 1967 Hà Nội đã quyết định tổng tấn công VNCH vào những ngày hưu chiến Tết Mậu Thân 1968. Trong số 44 tỉnh, thị tại miền nam bị đột kích, thì Saì Gòn và Huế là quan trọng hơn cả. Vì trại Lực lượng đặc biệt A-Shau rút đi, nên thung lũng A Shau bị bỏ ngõ và VC đã lợi dụng dịp này để chuyển một số lớn bộ đội vào tấn công cố đô với sự dẫn đường chỉ lối của đám Việt Gian tại Huế. Trận chiến mở màn vào sáng mồng hai Tết nhằm ngày 31-1-1968, bằng hai cánh quân : Ðoàn 6 gồm các tiểu đoàn đặc công K1,K2,K6 và K12 từ phía bắc bên tả ngạn sông Hương, tấn công BT/.SD1BB tại đồn Mang Cá, phi trường Tây Lộc, Ðại Nội. Ðoàn 5 gồm các tiểu đoàn K4A,K4B,K10 và K21 từ phía nam bên hửu ngạn sông Hương, hợp với Thành đội tấn công các cơ sở hành chánh phía nam. Ngoài ra còn có Ðoàn 9 gồm hai tiểu đoàn 416,418 hợp với một đơn vị mang tên Ðường 12 tấn công mặt tây.
nncs
Cũng nói thêm là VC đã lợi dụng những xáo trộn tại Huế trong các năm 1965,1966, xâm nhập hoạt động cũng như móc nối dụ dổ một số học sinh,sinh viện, quá mê thầy mà phản nước hại dân. Thật ra mặt trận quan trọng nhất của VC ở Huế là mặt trận chính trị, vì vậy Hà Nội bất chấp máu xương của cán binh và thường dân vô tội, ra lịnh cho đám tàn binh phải cố thủ trong Ðại Nội dù thực trạng bi thảm tuyệt vọng bởi các vòng vây của quân lực Hoa Kỳ và VNCH.
Phụ trách công tác tổng khởi nghĩa, để lập chính quyền cách mạng ở Huế là Hoàng kim Loan và Hoàng Lanh, đã vào nằm vùng từ lâu trong nhà một giám thị trường Quốc Học là Nguyễn Ðoá. Ngoài ra còn có Nguyễn trung Chính, Nguyễn hửu Vân (giáo sư trường Âm nhạc kịch nghệ), Phan Nam, Nguyễn Thiết. Ngày 14-2-1968 đài VC phát thanh tại Hà Nội cho biết đã lập xong chính quyền cách mạng tại Huế do Lê văn Hảo làm chủ tịch, còn Ðào thị xuân Yến và Hoàng phương Thảo làm phó. Ngoài ra còn có cái Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình được Hà Nội nặn ra ngày mồng ba Tết (1-2-1968) cũng do Lê văn Hảo, tiến sĩ giảng sư về nhân chủng học tại Ðại Học Huế và Sài Gòn làm chủ tịch liên minh.

Theo Hảo vì muốn trốn lính, nên 1953 qua Pháp du học nên bị tiêm nhiểm chủ nghĩa cọng sản của Trần văn Khê, Nguyễn khắc Viện. Vì vậy vào các năm 1965,1966 dù đang sống trong cảnh tột đỉnh giàu sang, chức trong, lại được trốn lính nhưng vẫn tán tận lương tâm, theo VC nằm vùng là Hoàng phủ ngọc Tường và Tôn thất Dương Tiềm vào MTGPMN và ra bưng cuối tháng 12/1967. Trong Liên Minh Ma này còn có Hoàng phủ ngọc Tường, Thích Ðôn Hậu, Nguyễn Ðoá, Hoàng phủ ngọc Phan, Nguyễn đắc Xuân.. Tóm lại mặt trận được chỉ huy tổng quát bởi Lê Minh, trưởng ban an ninh khu ủy Trị Thiên, còn Tống hoàng Nguyên và Nguyễn đình Bảy Khiêm chỉ lo về phần thủ tiêu, giết người vô tội tại Huế. Theo Bảy Khiêm , chính Y đã giết rất nhiều sĩ quan và cán bộ,công chức VNCH bị kẹt tại Huế, cùng các giáo sư người Ðức dạy tại Ðại học Y Khoa, qua chỉ điểm của VC nằm vùng và sau này Lê Minh lẫn Bùi Tín đều xác nhận Việt Cộng đã tận tuyệt tàn sát vô nhân đạo đồng bào vô tội tại Huế vào Tết Mậu Thân 1968.
nncs
Ngay từ đầu nhờ lợi dụng dịp hưu chiến, nhiều đơn vị cho các quân nhân về nhà ăn Tết, nên VC đã chiếm được hầu hết các cơ sở hành chánh, khu Ðại Nội, chợ Ðông Ba, cửa Thượng Tứ, An Hòa, Chánh Tây.. ngoại trừ BTL/SD1BB tại đồn Mang Cá, cơ sở MACV,Tiêu khu Thừa Thiên, Ðài phát thanh, Trường Kiểu Mẫu và cầu tàu Hải Quân vẫn do QLVNCH kiểm soát.

Mồng ba Tết (1-2-1968) một ngày sau đó, Chiến đoàn Dù với 2 tiểu đoàn 2,7 và chi đoàn 2/7 Thiết giáp từ phía bắc vào giải vây Huế. Hai đại đội TQLC Hoa Kỳ cùng 4 chiến xa M48 trong Chiến doàn X-Ray đóng tại Phú Bài cũng về Huế tăng cường phòng thủ MACV.. Chiều ngày mồng 4 Tết, TÐ 9 Dù được trực thăng vận vào chiến trường, từ đây cho tới ngày 12-2-1968 , cuộc chiến trở nên khốc liệt bạo tàn với sự tổn thất nhân mạng rất cao của cả hai phía.
 Cùng ngày đó Chiến đoàn A Thủy quân lục chiến VN gồm các tiểu đoàn 3,4,5 thay thế chiến đoàn Dù, tiếp tục giải tỏa áp lực VC tại sân bay Tây Lộc và Ðại Nội. Ngày 19/2 TQLC mở chiến dịch Sóng Thần 739/68. Ngày 22/2 hai tiểu đoàn 21 và 39 BDQ được tăng cường tại Huế và VC cũng bắt đầu tháo chạy. Ngày 25/2/1968 Biệt động quân chiếm lại Khu Gia Hội, chấm dứt chiến cuộc tại Huế với đổ nát, điêu tàn, nhà cửa, cầu cống, cây cối, đường xá, biến thành tử địa với xác người nằm la liệt đã sình thối. Tất cả chỉ còn là sự tàn nhẩn, thê lương, từ bàn tay đẳm máu của VC và bọn Việt gian mang đủ loại mặt nạ gây nên. Tóm lại không còn lời nào để đủ viết về Huế đang quằn quại trong lửa máu, giống như những nhịp cầu Tràng Tiền trên Hương Giang đớn đau gãy sập. Hởi ôi sắt thép, gổ đá còn biết rơi nước mắt với Huế thê lương, trong khi đó lại có không ít người thản nhiên đứng vổ tay cười. 
nncs
Những hành động dã man nhắm vào dân lành tại Huế , làm nhớ tới Nga Sô tàn sát hơn 5000 hàng binh Ba Lan phần lớn là sĩ quan vào tháng 9-1939 tại rừng Katyn ở phía tây thành phố Smolensk, chứng tỏ bản chất hiếu sát vốn tiềm tàng trong máu óc của cọng sản, dù chúng là ai chăng nửa, tất cả đều giống nhau vì cùng chung một tổ,một lò.Trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, Huế là thành phố bị thiệt hại nặng nhất về nhân mạng cũng như vật chất vì bị VC chiếm đóng lâu dài nhất. Riêng người Huế sỡ dĩ bị tàn sát dã man, theo một số nhân chứng , do VC được chỉ điểm bởi một số nằm vùng địa phương vì thù oán nhau mà trả thù, rồi lại được tự do đi lại trong thành phố nên tự do hành động, nhất là trong khoảng từ mồng hai tới mồng bốn, tha hồ đi từng nhà,lôi từng người ra bắn giết theo ý muốn, đúng với kỹ thuật bắt và thủ tiêu theo KGB và Maoit .

Trong số các hung thần can dự tới bửa tiệc máu tại Huế, dư luận trước sau vẫn nhắm vào Lê văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan và Nguyễn đắc Xuân. Năm 1966 khi còn là một sinh viên, Nguyễn đắc Xuân từng tổ chức đoàn “Phật Tử Quyết Tử” quậy nát Huế, sau đó trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội “Công tác thanh niên” và khuyến dụ các quân nhân VNCH bị kẹt, để lập cái gọi là đoàn nghĩa binh.. Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế không hưởng ứng tổng khởi nghĩa,trái lại bỏ trốn sang các khu vực có QLVNCH như Mang Cá,Trường Kiểu Mẫu, Tiểu Khu Thừa Thiên, Bến Tàu,Phú Bài.. Bắt đầu ngày mồng ba Tết, QLVNCH và Hoa Kỳ phản công, ngày 7-2-1968 VC giựt xập cầu Trường Tiền. Ngày 15-2 Quân Ủy cọng sản tại Hà Nội ban lệnh cho VC tử thủ tại Huế, nhưng tình hình càng lúc càng bi đát cho VC nên Lê Minh muốn rút quân. Ngày 23-2 VC bị đẩy ra khỏi Huế, lá cờ VNCH lại tung bay trên kỳ đài ở Phú văn Lâu.
nncs
 Nói chung cọng sản tàn sát đồng bào Huế nhiều nhất là tại khu dân cư Gia Hội vì vùng này bị VC chiếm lâu nhất từ ngày mùng 2 Tềt đến 22-2-1968 mới được Biệt Ðộng Quân giải tỏa, bởi vậy giặc và Việt gian mới có cơ hội giết nhiều đồng bào vô tội. Cho đến nay không ai biết chính xác số người bị VC tàn sát tại Huế là bao nhiêu nhưng căn cứ vào thống kê số hài cốt tìm được trong một số hầm chôn tập thể sau khi giặc bị đánh đuổi khỏi thành phố, tại các địa điểm Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bải Dâu,Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Ðức,Ðồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Ðông Ba, Trường An Ninh Hạ,Trường Vân Chí, Chợ Thông,Chùa Từ Quang,Lăng Gia Long, Ðồng Di, Vịnh Thái, Phù Lương , Phú Xuân, Thượng Hòa,Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Ðá Mài.. tổng cộng đếm được 2326 xác.
nannhanvc
 Về câu hỏi tại sao VC tàn sát thường dân vô tội, đến nay Hà Nội vẫn tránh né, còn Võ nguyên Giáp thì đểu giả hơn khi bị các ký giả ngoại quốc phỏng vấn sau Tết Mậu Thân, đã trả lời là Bắc Việt không hề biết vì đó là chuyện của MTGPMN và VNCH. Theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, thì động cơ cọng sản tàn sát dân chúng tại Huế, ngoài một lý do nhỏ là sự trả thù do hờn oán trước đây giữa cá nhân và cá nhân, thì tàn sát theo kế hoạch phá huỷ và làm rối loạn bộ máy cầm quyền của VNCH, điều này đã được ghi lại trong một tài liệu cuả cán bộ VC , bị SD1 Không kỵ Hoa Kỳ bát được tại tỉnh Thừa Thiên ngày 12-6-1968 .Tàn sát để khủng bố và cảnh cáo đe dọa dân chúng đừng tòng quân chống cộng. Tàn sát tín đồ Thiên Chúa Giáo để chia rẽ sự đoàn kết tại miền nam, tạo sự nghi kỵ giữa các tôn giáo cho tới ngày VC cưởng chiếm được miền Nam mới chấm dứt vì VC độc tài đảng trị, cấm biểu tình xuống đường, nên bốn bên bốn phía bình đẳng chịu sống chung hòa bình. Từ đó mới không thấy tự thiêu, tuyệt thực và ra báo chống đối, bêu xấu, hạ nhục chính quyền như cơm bửa thời VNCH. Tàn sát dân chúng để gây tiếng vang với thế giới. 
nannhanvc
Ðem các biến cố năm1885 tại Huế và 1946 ở Hà Nội để so sánh với Mậu Thân 1968 tại Huế ,bổng thấy lạnh mình về những lời chạy tội của Ðại Tá VC Bùi Tín, khi trả lời về cuộc tàn sát của VC đối với thường dân tại Huế năm 1968. Theo nhận xét của Nguyễn đức Phương trong "Chiến Tranh toàn tập" thi Bùi Tín không biết gì về qui ước Geneve dành cho tù binh chiến tranh, hoặc biết nhưng giả bộ ngây thơ không biết để có lý do bào chửa sự tàn ác dã mang của cán binh VC và biết thêm về quan niệm của Hà Nội, luôn qui chụp tất cả những ai chống đối họ, đều bị gán là tù binh với kết quả như Bùi Tín nói là phải được chết để giữ gìn bí mật quốc phòng.
 
 Theo Nguyễn Lý Tưởng, thì những hành động dã man của Việt Cộng, tại Thành Nội và Gia Hội,do cái gọi là Toà Án Nhân Dân được quyết định bởi các chóp bu trong Liên Minh Dân Chủ Hòa Bình, là Lê văn Hảo,Thích Ðôn Hậu, bà Nguyễn Ðình Chi.. nhưng chủ chốt và dã man tàn bạo vẫn là bọn theo phong trào tranh đấu chống VNCH năm 1966, sau đó theo VC và quay về Huế như Hoàng phủ ngọc Tường (giáo sư), Hoàng phủ ngọc Phan (sinh viên y khoa), Nguyễn đắc Xuân (sinh viên sư phạm), Trần quan Long (sinh viên sư phạm), Phan Chính Dinh hay Phan Duy Nhân (sinh viên).. dẫn an ninh VC như Tống hoàng Nhân, Bảy Khiêm.. đi lùng bắt bạn bè, thân nhân,các thành phần quân,công, cán,chính VNCH cũng như các đảng phái bị kẹt lại tại Huế. 
Hiện nay tất cả những bí mật của lịch sử gần như được khai quật trong đó có cuộc thảm sát thường dân tại Huế năm Mậu Thân. Những tội nhân thiên cổ ngoài bản án của lương tâm, đạo đức và sự nguyền rủa của đời, nên không ngớt tìm đủ mọi cách để biện minh về tội lỗi của mình. Năm 1988,trên báo Sông Hương và được dịch đăng lại trên tờ Newswwek ở Hoa Kỳ, Ðại Tá Bắc Việt Lê Minh, nguyên chỉ huy mặt trận Thừa Thiên-Huế, xác nhận và chịu trách nhiệm về việc tàn sát dân chúng Huế nhưng vẫn đưa ra lý do là lúc đó VC đang ở vào giờ thứ 25, nên không kiểm soát được .
nannhanvc
Còn thủ phạm chính Hoàng phủ ngọc Tường thì đổ thừa cho cục bộ, địa phương chứ không phải tại đảng, vẫn giữ nguyên ý là miền nam mất vì cách mạng chứ không bị cộng sản quốc tế xâm lăng, và trên hết vào ngày 12-7-1997 Tường công khai chối tội là không tham dự mặt trận Huế, vì lúc đó y đang trốn tại địa đạo trong quận Hương Trà,tỉnh Thừa Thiên. Còn nhân vật bị bia miệng nhắc tới là Hoàng phủ Ngọc Phan.. mà người Huế tưởng lầm ? Lê văn Hảo hiện đang sống tại Pháp cũng chối tội. Sau rốt chỉ có Hoàng phủ Ngọc Phan và Nguyễn đắc Xuân vì lúc đó gần như là công an, cai tù, chánh án và đao phủ thủ.. nên người Huế ai cũng nhận được,vì vậy phải chịu tai tiếng nhơ nhớp muôn đời.
Ngày nay ai cũng biết Tết Mậu Thân VC thua lớn và Tổng thống Hoa Kỳ là Johnson phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước lịch sử vì đã cố tình tạo nên một lỗi lầm nghiêm trọng về đạo đức., gây tử vong cho nhiều người có thể tránh khỏi nếu được báo trước sự thật.


Tóm lại dù Hà Nội đã chuẩn bị kế hoạch cưởng chiếm VNCH thật chu đáo, cũng như đã tin tưởng tuyệt đối vào đám Việt gian Miền Nam nhưng cuộc tổng tấn công đã hoàn toàn thất bại về quân sự. Chúng cũng thua VNCH về phương diện đạo đức và chính nghĩa, khi đã tàn nhẩn bất lương xô đẩy hàng trăm ngàn người vào cỏi chết, kể cả bắt các thiếu niên đi lính đở đạn "sanh bắc tử nam". Hồ, Duẩn lẫn Giáp đã phỉnh gạt cán binh chết lót đường cho chúng khi nói láo rằng "Miền Nam đã được giải phóng, nên miền Bắc chỉ vào tiếp thu mà thôi".

Viết tại Xóm Cồn Ha Uy Di

Mường Giang

Tuesday, 28 January 2014

Nhớ Về “Một Cái Tết Ở Hà Nội”

Nhớ Về “Một Cái Tết Ở Hà Nội”
   
        
Sau gần ba mươi chín năm tỵ nạn, dừng chân ở đất tạm dung, phần nhiều chúng ta đã hơn hai màu tóc trên đầu nhưng vẫn còn nhớ sao Chợ Tết! Cây tre nêu và tràng pháo chuột nổ lép bép ngoài sân hiện ra trong tâm hồn của mỗi chúng ta đậm đặc từng nét trong những ngày cuối tháng Chạp. Nhớ khói hương ngày Tết như nhớ mùi sữa mẹ thuở còn nằm nôi. Dù cho có hay không ăn Tết nữa, không ai chối cãi được chợ Tết sắm Tết ăn Tết chúc Tết…đã là một gốc văn hóa dân tộc, một phần quá khứ thân thiết của đời mình nhất là những ai vừa ngoài bảy mươi, chí tám mươi như chúng tôi.

Nhớ Vũ Bằng, sau khi di cư vào Saigòn 1954 chỉ cách HàNội không đầy hai ngàn cây số, cùng trên quê hương đất nước, đến những năm sáu mươi trong tập “Thương Nhớ Mười Hai” của ông, Vũ Bằng đã ra riết nhớ Tết ngoài Bắc, nhất là chợ Tết trong làng quê. Vũ Bằng minh họa nỗi nhớ Tết bằng những câu thơ “Chợ Tết của Đoàn văn Cừ, một nhà thơ mộc mạc chân quê của đất Bắc:
…Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon
Vài cụ già chống gậy lom khom
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đâu
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau…
Anh hàng tranh kẽo kịt quẩy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán
Mấy thầy khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hí hoái viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng lẩm nhẩm đọc vài câu đối đỏ…
Những mẹt cam đỏ chói tựa son pha
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết
Con gà trống màu thâm như cục huyết
Môt người mua cầm cẳng dốc lên xem…
Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm…


Nhưng với Vũ Bằng, “tất cả…tất cả đều thua hai chị em cô hàng bán chiếu cạp điều cười đã xinh ăn nói lại tình, ô hay sao chiếu cất cao gần nóc chợ mà mình lại thấy như có hoa nở ở chung quanh?...” Đó là hương sắc Tết, bức tranh Tết, bức tranh Chợ Tết tại các vùng quê miền Bắc hay của Thăng Long, Hà nội tại các chợ Mơ, chợ Bằng, chợ Ô Cầu Dền, chợ Đồng Xuân, chợ Ngầm, chợ Đệp, đã thành những hoài niệm Tết khôn nguôi của Vũ Bằng

Những gì khiến Vũ Bằng nhớ Tết, những gì nhà thơ chân quê Đoàn Văn Cừ miêu tả Tết, chỉ là những hương sắc, những bức tranh tuy mộc mạc nhưng rất ấn tượng về ngày Tết. Nhưng chính Nhà Thơ Thê Húc-Phạm văn Hạnh trong một đoan phiếm du: MÔT CÁI TẾT Ở HÀ NÔI lại là người chỉ cho chúng ta thấy cái phần hồn của bức tranh Tết của Đoàn văn Cừ, những thầm kín tiềm ẩn phía sau hoài niệm Tết của Vũ Bằng:

“…Tết năm nay tôi ở Hà Nội. Và cũng như phần nhiều năm kể từ hồi nhỏ. Vì Hà Nội là ”quê” tôi, tuy ông bà tôi là người ở mãi xa kia, bên bờ sông Bassac, cuồn cuộn ánh sáng quanh năm...

“Ăn Tết” đối với tôi là “sắm Tết”. Trong con mắt tôi, Tết chỉ có ở mấy ngày trước. Đến, là hết rồi. Xuân qua cho tôi cái cảm giác là lúc nở với lúc tàn cùng trong một phút mà tiếng pháo đầu năm như khua động trong lòng tôi những đường tơ đau đớn, lạ lùng…

Nên mấy ngày trước Tết, tôi sống mãnh liệt, sống trong chờ đợi…cái phút đương qua.

Tôi đi lên đi xuống mấy phố Hàng Ngang, Hàng Đào, rồi vào chợ, rồi đứng tần ngần trước cửa hiệu các chú khách. Người ta đi lại sắm Tết. Tôi cũng vậy. Và cũng nhiều bạn thiếu niên như tôi (kể cả các bạn gái). Chúng tôi nhiệt thành lặn lội trời mưa phùn lấm láp, vui sướng nhìn cả một vườn đào cử đông trên các ngả đường. Hình như được chen lấn trong đám đông vôi vàng hớn hở lòng tôi cũng hớn hở vội vàng?

Mấy bức tranh Tầu xanh đỏ giữ tôi lại hàng giờ. Chú khách Vân nam bán hàng, áo bông trứng sáo dài quét gót, vòng tay dấu trong tay áo như một phép thuật lạ. Tôi ngỡ một Tiên Ông ở phương xa lại để thử khách trần,-và bức họa mỹ nhân cặp trên tường nhìn tôi, hữu ý…

Quay lại, những bức họa lòe loẹt con gà, con cóc, như ở các truyện cổ tích chun ra, làm sống lại cả một thời xưa. Tôi thấy tôi đi “khám phá cuộc đời”, cái gì cũng đượm vẻ huyền bí, cái gì cũng nhuộm một màu tươi.

Pháo, câu đối, cam, hoa đào, cho đến môi người thiếu nữ, cảnh vật là một bản nhạc theo điệu hồng.

Nhưng sao lòng tôi chưa lên tiếng họa, hay còn đợi khúc Bạch Tuyết Đương Xuân?

Vì lòng tôi vốn như vậy, ở giữa cảnh xinh tươi còn khát cảnh xinh tươi, và vẻ đẹp bên mình chỉ khêu nỗi nhớ nhung một vẻ xa vời, báu lạ. Tôi nhớ đến một người đàn bà gặp một buổi chiều chợ tết năm kia. “Nàng” mặc tang phục bằng hàng đen, tóc vấn dối, phấn đánh qua loa. Một mùi thơm đầy sắc dục theo nàng như từ trong phòng ra. Lách trong đám muôn hoa, nàng chỉ mua mấy bó violettes còn ở chợ. Rồi đi…Tối hôm ấy, khi về nhà, tôi không còn ngửi thấy mùi đào, mùi cúc nữa, và nằm mơ như một trận mưa tím bay tỏa khắp bên mình…

Tôi lần đi ngược lại những năm về trước, mỗi năm đều để lại cho tôi một hình ảnh đẹp, hình ảnh một người đàn bà. Cũng bận đồ đen, và con mắt còn đen hơn nữa…

“Nàng” ngồi xe điện, nàng vào cửa hàng, nàng mua một cánh hoa. Rồi đi…không bao giờ gặp lại.

Năm nay, tôi lại gặp một hình ảnh đẹp…

Trước cửa một hiệu thuốc Bắc, một chàng Cao ly đứng bán đôi bồn hoa lạ. Trên biển giấy đỏ cấm ngay cạnh đề mấy chữ: “Hợp Thời Mẫu Đơn Hoa Vương”. Hỏi giá không hơn hai chục bạc; còn hoa chơi đến tháng ba chưa tàn. Đành là chưa mua được, nhưng tự nhủ là cũng chưa ai mua, tôi đứng ngấm những buổi bình minh hé trên mấy hoa hồng phớt, và lặng chờ một Giáng Tiên sắp sửa qua, vô ý vương gẫy một cành…

Nàng Giáng Tiên không bao giờ qua…”

Dù cho Nàng Giáng Tiên không bao giờ qua…, Nàng Giáng Tiên không bao giờ trở lại chùa Phật Tích ở Kinh Bắc để vướng gẫy một cành Mẫu Đơn Hoa Vương một lần nữa…Dù cho chúng ta có ăn Tết hay không ăn Tết nữa, văn hóa Tết đã là một phần văn hóa của dân tộc, là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca và âm nhạc. Ăn Tết, Hoài Niệm Tết, vẫn là mạch sống rưng rưng khơi động tâm hồn chúng ta trong mỗi mùa xuân…/.

Đào Như

------------

Tết Nguyên Đán là của người Việt

 

Tết Nguyên Đán ....có từ đâu?
Tết Nguyên Đán là của người Việt

Sắp đến Tết Ta là Viễn Xứ cảm thấy buồn buồn, tủi tủi vì nghe nhiều người nói là New Year of China!!! (người ngoại quốc không biết đã đành nhưng nhiều người Việt cũng nói như vậy....thật là buồn)

Thật ra Tết Nguyên Đán là Tiết lễ đầu tiên của năm, bị người Trung Quốc (chôm) của dân Việt ta....

Tết:do chữ Tiết (thời tiết) mà ra.

Nguyên:bắt đầu.

Đán:buổi sáng sớm.

Vậy Tết Nguyên Đán tức là Tết bắt đầu năm, mở đầu cho một năm mới.

Một câu hỏi đôi khi được đặt ra: Tại sao tiền nhân chúng ta không chọn tháng 3 để tổ chức Tết Nguyên Đán, như các dân tộc Miên, Thái hoặc Lào hoặc một tháng nào đó trong năm mà lại chọn đúng vào ngày đầu tháng Giêng âm lịch. Người Trung Hoa sau này cũng trọn cùng ngày này làm ngày Tết của họ. Vì sự trùng hợp ngẫu nhiên (hay chôm văn hóa của ta) này thêm vào sự liên hệ giữa hai dân tộc Hoa - Việt vốn đã có hàng nghìn năm trước khi Trung Hoa đô hộ nước ta, nên nhiều người VỘI CHO RẰNG dân tộc ta bắt chước người Trung Hoa về thời gian mừng Tết Nguyên Đán.

Thật ra, đây chỉ là sự ngộ nhận.

Dựa vào lịch sử Trung Hoa, trải qua nhiều triều đại, chúng ta được biết người Trung Hoa có tục lệ mừng Tết Nguyên Đán không phải vào đầu tháng Giêng âm lịch như hiện nay mà thật ra thời gian được chọn để tổ chức mừng Xuân được thay đi đổi lại rất nhiều lần. Chẳng hạn, vào đời Tam Vương nhà Hạ, người Trung Hoa chọn tháng Dần đầu năm để mừng Xuân. Đến đời nhà Thương người ta đổi lại tháng Sửu tức tháng Chạp. Qua đời nhà Chu, người ta lại chọn tháng Tý, tức tháng Một. Ba vị vua trên đây không phải vô cớ, tùy hứng mà chọn những tháng đó, mà là họ đã dựa vào ý nghĩa tốt xấu, căn cứ theo ngày giờ lúc mới tạo thiên lập địa. Họ tin tưởng giờ Tý là giờ thành, giờ Sửu đất nở và giờ Dần sinh ra người.

Đến đời nhà Đông Chu, Khổng Tử một lần nữa noi theo nhà Hạ, đổi lại ngày Tết vào tháng Dần. Qua đời nhà Tần người ta lại thay ngày Tết vào tháng Hợi tức tháng Mười. Cuối cùng, khi nhà Hán lên ngôi, bấy giờ người Trung Hoa lại noi theo gương Khổng Tử chọn ngày đầu tháng Dần, tức tháng Giêng để mừng Tết.

Mừng xuân vào dịp đầu năm âm lịch nói là của người Trung hoa là hoàn toàn không chấp nhận được.

Tiền nhân chúng ta khôn ngoan, lại xuất thân từ giới nông dân. Sở dĩ các ngài chọn ngày đầu năm âm lịch để tổ chức Tết Nguyên Đán, vì thời gian này nhằm vào đúng mùa xuân, một mùa đẹp nhất trong năm với thời tiết mát mẻ, dịu dàng, cây cối đâm chồi nẩy lộc, khoe thắm sắc hương và mang một màu sắc xinh tươi, mới mẻ rất thích hợp trong việc thăm viếng bà con, thân thuộc, bạn bè.



Đây cũng là khoảng thời gian mà mọi công việc đồng áng đã hoàn tất, lúa gặt xong và được đem chứa vào những lẫm lúa. Người nông dân chân lấm tay bùn, sau một năm vất vả với công việc đồng áng, giờ đây được thảnh thơi hoàn toàn có thể cùng nhau hội họp, liên hoan, ăn uống vui vẻ với nhau để tỏ lòng biết ơn đối với Trời Đất và tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà cha mẹ, những người thân yêu ruột thịt đã qua đời!

Tết Nguyên Đán trước đây ta gọi là Tết Nhàn là Tết cổ truyền có từ thời Hùng Vương, sử cũ vốn ta có 12 tháng nhưng cách tính khác ngày này, 1 năm bắt đầu từ tháng chạp tức tháng 12, vì khi ấy dân ta bắt đầu hoạch lúa, tới tháng giêng thì xong, ngày đầu tháng giêng người Âu Lạc có tục cúng lễ tạ ơn tổ tiên trời đất sau 1 mùa lúa nước, ngày Tết diễn ra từ ngày 1/1 cho tới hết 30/3 và kết thúc là lễ hội ngày mùa để bắt đầu 1 vụ cấy mới, ngày Tết này ta sẽ thấy đến đời Hán Vũ đế bên Trung Hoa mới có, còn ta thì ai xem tích Bánh Trưng Bánh Dày thì đều thấy cả, mà tích này là từ thời Hùng Vương thứ 6 tức là trước đời Tần Thủy Hoàng rất là lâu chừng khoảng hơn 1000 năm, vậy mà ngày nay nó lại mang tên New Year of China.

Viễn Xứ hy vọng chúng ta cùng nhau chia sẽ, để cho người Ngoại Quốc cũng như con cháu chúng ta hiểu biết nhiều hơn về Lịch Sử và Văn Hóa dân tộc Việt.

P.S. vẫn còn nhiều thứ mà người Trung Hoa đã chôm văn hóa của người Việt ta rồi nhận là của họ alt

Viễn Xứ

Monday, 27 January 2014

Kiện dùm cộng sản: 39 năm trước sau "Hết Khôn"


Đài RFA xúi Hà Nội đi kiện? 

 


Sau khi Trung Quốc tuyên bố thiết lập vùng cấm đánh cá trên Biển Đông bao trùm cả Hoàng Sa và Trường Sa, ngày 14.1.2014, Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho phổ biến bài “Kiện Trung Quốc, Việt Nam được gì?” của phóng viên Mặc Lâm. Bằng cách phỏng vấn hai nhân vật có hiểu biết về Biển Đông, RFA muốn thọc nách xem Đảng CSVN có há mồm ra không.
Trong “Tam thập lục kế” của Tàu, kế mà RFA đang xử dụng là kế thứ 13, được gọi là “Khích tướng kế.” Đó là kế dùng mưu lược để kích động đối phương làm những việc mà đối phương không muốn làm.
Tuy nhiên, như chúng tôi đã trình bày trong nhiều bài, trong bài giảng về Biển Đông cho “các lãnh đạo Đảng ủy khối, lãnh đạo Đảng, Tuyên giáo, Công tác chính trị, Quản lý sinh viên, Đoàn, Hội thanh niên các trường Đại học Cao đẳng Hà Nội” hôm 19.12.2012, Đại Tá Trần Đăng Thanh thuộc Học Viện Chính Trị Bộ Quốc Phòng VN đã nói toẹc ra tất cả những mưu lược mà “các thế lực thù địch” đang xử dụng để “chống phá chúng ta trong tình hình hiện nay”, trong đó có kế khích tướng mà Đài RFA đang xử dụng. Trong bài giảng này, Đại Tá Trần Đăng Thanh nói rất rõ:
“Thực ra mà nói, Mỹ đang thực hiện chiến lược hai mặt. Một mặt đang dùng Việt Nam như một lực lượng tiên phong để chặn Trung Quốc. Mặt thứ hai đang tìm mọi cách để phá vỡ mối quan hệ đoàn kết lâu đời của Việt Nam, giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc mà người hưởng lợi sẽ là nước Mỹ.”
Ngày 23.12.2012, Đài RFA đưa lên bài “ĐT Trần Đăng Thanh vô tình tiết lộ bí mật quốc gia”của Mặc Lâm để phản pháo lại.
Đánh xì phé mà con tẩy bị đối phương phát hiện rồi, rất khó ăn được ai. Mặc dù hai bên đã biết con tẩy của nhau, nhưng cuộc chơi vẫn cứ tiếp tục.
MỘT VÀI CHIÊU THỨC CỦA HAI BÊN
Trong nhiều năm qua, Đài RFA đã dùng một số trí thức XHCN bất mãn với chế độ vì không được trọng dụng để khích tướng, đòi các nhà lãnh đạo Việt Nam phải thực thi tự do dân chủ, tôn trọng nhân quyền, diệt trừ tham nhũng, cải cách kinh tế, chống Trung Quốc, v.v. Để đối phó với chiến dịch này, ngoài việc bắt bớ và truy tố các thành phần hay các tổ chức bị coi là nguy hiểm, Đảng CSVN còn cho mở các chiến dịch chiến tranh tâm lý để chống lại. Vụ Đại Tá Trần Đăng Thanh “nói toạc móng heo” nói trên là một trong những hình thức phản pháo.
Nhưng đầu năm nay, Đảng CSVN đã xử dụng một chiêu thức mới lạ hơn, đó là thu gom các đòi hỏi chính của các nhà đối kháng lại thành thông điệp đầu năm của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và coi đó là đường lối của “Đảng và Nhà Nước ta”. Nhiều nhà bình luận và cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại đã tỏ ra rất ngạc nhiên và hỏi nhau: “CSVN bắt đầu thay đổi thật sự sao?” Nhưng họ đã lầm. Đó chỉ là một trong các chiêu thức phản pháo.
1.- Một trận giao đấu ngoạn mục
Đặc biệt, trong vụ kỷ niệm 40 năm cuộc chiến Hoàng Sa, hai bên đã giao đấu khá ngoạn mục. Ngày 6.1.2014 Đài RFA tung ra bài “Vinh danh tử sĩ Hoàng Sa: một cơ hội hòa giải” để đẩy Hà Nội vào ngõ bí. Ký giả Nam Nguyên đã phỏng vấn cò mồi một số nhà bất đồng chính kiến trong nước để gây chiến. Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã, một nhà nghiên cứu Biển Đông nói: “Khi mà đã công nhận chính quyền VNCH đã đề kháng chống cự lại sự xâm lược của Trung Quốc, thì dĩ nhiên vinh danh bất cứ ai đã hy sinh trong vấn đề Hoàng Sa.” Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng rập khuôn như thế: “Những chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc bảo vệ Hoàng Sa là những anh hùng của dân tộc Việt Nam này. Tôi nghĩ là bất luận chính thể nào cũng phải trân trọng và tôn vinh những người như thế.”
Hà Nội phản ứng khá lẹ làng, cho các báo trong nước đăng trong nhiều tuần lễ gần như toàn bộ các tài liệu liên quan đến cuộc chiến Hoàng Sa 1974 do Mỹ, VNCH và Trung Quốc công bố. Viện Minh triết Việt tổ chức một cuộc hội thảo về Hoàng Sa, còn trường Đại học Đà Nẵng tổ chức trưng bày hiện vật về Hoàng sa, Trường sa. Ngày 17.1.2014 website vnexpress.net cho đăng bài “30 phút đấu pháo trong trận hải chiến Hoàng Sa” do Nguyễn Hùng Cường tổng kết khá khách quan và chính xác. Nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại đã vui mừng hớn hở: CSVN đã phải công nhận VNCH rồi!
2.- Một cú “đá giò lái” phủ phàng


Nhưng ngày 14.1.2014 Blog my.opera.com/thanhniendatviet/blog/ ở trong nước đã cho tung ra bài“Bí mật về ‘Hải chiến Hoàng Sa 1974’ và những điều chưa biết” dưới hình thức “link tổng hợp” đã khiến nhiều người té ngửa bò càng. Nhóm Giao Điểm Phật Giáo chủ trương “đồng hành với dân tộc”, tức với Đảng CSVN, đã vội chụp lấy và cho phổ biến trên sachhiem.net ngay!
Bài báo mở đầu bằng tiểu đề “Khi rút quân khỏi VN thì Mỹ đã bán toàn bộ biển Đông cho Trung Quốc” và từ đó đặt ra 12 câu hỏi, chẳng hạn như: Tại sao tầu HQ-5 lại bắn vào tầu quân mình? Tại sao con tầu ngắm bắn điện tử HQ-4 không tham chiến? Vũ khí của Trung Quốc và Ngụy ai hơn ai, hơn mấy lần? Tại sao có nhiều máy bay F-5 trong phi đội lớn thứ 3 thế giới lúc đó… nhưng toàn bộ các máy bay thúc thủ?, v.v. Bài viết dài 20 trang đánh máy.
Chúng tôi chưa bàn đến những điểm đúng và những điểm sai trong bài nói trên, nhưng phải coi đây là một cú “đá giò lái” phủ phàng. Chúng tôi không tìm thấy ngón “đá giò lái” này trong Tam Thập Lục Kế của Tàu mà tìm thấy trong Taekwondo của Đại Hàn, được gọi là “Bandae yop chagi”. Đặc biệt là ngón “Đá giò lái vòng cầu” (Bande dollyo chagi), đó là thế đấm nghịch tay rồi móc tay kia vào hạ bộ của đối phương. Ngày 16.1.2014, Đài BBC dọng thêm bài “Cựu binh: ‘Hoàng Sa đáng ra không mất’” nữa, thế là ngày 18.1.2014, Ủy Ban Nhân Dân thành phố Đà Nẵng tuyên bố hủy bỏ lễ tưởng niệm tử sĩ Hoàng Sa với lý do «chuẩn bị chưa được chu đáo». Với cú “đá giò lái” này, RFA coi như thua đậm.
THUA KEO NÀY BẤY KEO KHÁC
Thua ván bài “tưởng niệm tử sĩ Hoàng Sa”, đài RFA đẩy chiêu khích tướng Hà Nội đi kiện Trung Quốc trước Tòa Án Quốc Tế La Haye lên.
Trước hết, RFA nhắc lại Công Hàm 1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng và cho rằng Hà Nội phải đưa công hàm này ra trước Tòa Án Quốc Tế để xin phán xử theo học thuyết Estoppel, công hàm đó có giá trị hay không.
Xin lưu ý, trong bài “Trở lại chuyện bán đất” phổ biến ngày 13.7.2011, chúng tôi đã nói rõ nếu áp dụng học thuyết “Promissory Estoppel” trong Common Law hay nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” trong Roman Law, Công Hàm 1958 của Phạm Văn Đồng có giá trị hay không? Khi nào hứa bán có giá trị như bán?
Tiếp theo, RFA đã phỏng vấn Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ. Ông Trục cho rằng sự lên tiếng “có giá trị nhóm lên ngọn lửa chống xâm lăng trong nước nhưng không có kết quả cụ thể gì đối với quốc tế.” Theo ông, bà Giáo sư Monique Chemillier Gendreau của Pháp nói rằng Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý cũng như lịch sử về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, tuy nhiên nếu Hà Nội không nhanh chóng có hành động công khai chống lại việc Trung Quốc chiếm giữ Hoàng Sa thì sẽ bị Tòa Quốc tế buộc có thái độ thụ động trong một thời gian dài và do đó quy định acquiescement, tức sự đồng thuận, có thể được thành lập.
Khi nói như vậy, ông Trục hơi “cường điệu” để hù dọa. Không phải trong mọi trường hợp thinh lặng đều bị luật pháp coi là đồng thuận. [Xem các án lệ Groslière, 10 décembre 1981, D. 1983, I. R. 78 hay Guinchard, 23 novembre 1983, Gaz. Pal. 1984, Pan. 151 thì sẽ rõ.] Nó không đơn giản như ông Trụ dọa.
Nhưng ông cũng đưa ra một trở ngại mà chúng tôi đã nói nhiều lần, đó là khi có phán quyết của Tòa Án Quốc Tế mà Trung Quốc không thi hành thì phải đưa ra Hội Đồng Bảo An LHQ. Nhưng tại đây Trung Quốc có quyền phủ quyết, nên cũng không thi hành được.
Người thứ hai được RFA phỏng vấn là Thạc sĩ Hoàng Việt hiện đang giảng dạy tại Đại học luật Sài Gòn. Ông cũng nêu lên khó khăn mà chúng tôi đã nêu ra nhiều lần là Tòa Án Quốc Tế đòi hỏi phải có sự đồng thuận thi hành án tòa mới xét xử. Trung Quốc không thuận thì kể như bó tay. Do đó Philippines phải đưa ra Tòa Trọng Tài Quốc Tế, vì Tòa này có thể xử khuyết tịch khi một bên không đồng ý tranh tụng. Nhưng theo ông, các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế trước sau gì cũng chỉ mang ý nghĩa chính trị và không có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, nếu không tôn trọng phán quyết của tòa, Trung Quốc sẽ bị thế giới nhìn dưới ánh mắt phủ định trong tất cả mọi giao dịch và việc Trung Quốc cấm tàu cá Việt Nam ra hành nghề tại quần đảo Hoàng Sa sẽ bị thế giới lên án.
RỒI SẼ ĐI TỚI ĐÂU?
Lý luận của hai ông Trần Công Trục và Hoàng Việt quá yếu, không đủ sức thuyết phục chính phủ Việt Nam cũng như công luận thấy rằng đi kiện Trung Quốc là hay nhất. Nếu phán quyết của Tòa Án Quốc Tế mà có hiệu lực cưởng hành như vụ kiện đền Preah Vihear giữa Cambodia và Thái Lan thì nên đi kiện, còn kiện chỉ để tạo áp lực quốc tế thì chẳng kiện làm gì. Khi ban hành lệnh thiết lập vùng nhận diện phòng không và vùng cấm đánh cá, Trung Quốc có coi dư luận quốc tế ra gì đâu? “Anh Hai chống cộng” của người Việt chống cộng là người có quyền lực nhất, nhưng Anh chỉ phản đối lấy lệ rồi để Trung Quốc làm gì thì làm, vì quyền lợi của Mỹ ở Trung Quốc còn quá nhiều, Ảnh chạy theo mấy nước bé xí làm gì?
Ông Trần Công Trục có nói đến bà Monique Chemillier-Gendreau, nhưng chúng tôi tin bà không bao giờ xúi Việt Nam đi kiện, vì bà nắm rất vững tình trạng pháp lý về chủ quyền các đảo trên Biển Đông. Với tư cách là giáo sư Trường Đại học Reims ở Pháp, dạy về môn quốc tế công pháp và khoa học chính trị, bà đã sưu tìm tài liệu trong văn khố Pháp và viết cuốn “La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys” (Chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) cho xuất bản năm 1996. Từ đó bà trở thành chuyên viên về Biển Đông, được mời làm Tư vấn cho Văn phòng các Tiêu chuẩn Quốc tế và các Vấn đề Pháp lý. Bà còn là cộng tác viên thường xuyên của báo Le Monde diplomatique.
Nhờ quyển sách của bà, Ủy ban Biên Giới của Việt Nam đã tìm ra được nhiều tài liệu chính xác về Biển Đông và chính phủ Việt Nam đã mời bà cộng tác. Phải đọc cuốn sách này mới thấy được vấn đề xác định chủ quyền của các đảo trên Biển Đông phức tạp như thế nào. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một bài khác.
Trong bài Chuyện Mỹ – VN “đối tác chiến lược” phổ biến ngày 18.7.2013, chúng tôi đã nói: Giữa Trung Quốc và Mỹ, Hà Nội sẽ chọn Trung Quốc vì ba lý do chính:
- Lý do thứ nhất là ơn nghĩa giữa Đảng CSTQ và Đảng CSVN quá nhiều. Qua hai cuộc chiến, nếu không có Trung Quốc, Đảng CSVN sẽ không có cơ ngươi như ngày nay.
- Lý do thứ hai, Trung Quốc là nước “núi liền núi, sông liền sông, biển liền biển” và là một nước lớn. Bất cứ sự phong tỏa nào của Trung Quốc cũng sẽ gây tổn hại lớn cho Việt Nam. Ngày xưa các vua Lê Lợi và Quang Trung sau khi đánh thắng quân Tàu rồi đều tìm cách làm hòa với Trung Quốc. Đọc sớ cầu hòa của hai vua này, chúng ta thấy quá thê thảm, nhưng đó là cách xử thế của nước nhỏ để tồn tại. Chiêm Thành vì không biết món “võ lòn” này nên bị xóa tên trong lịch sử.
- Lý do thứ ba là Mỹ không đáng tin cậy. Đại Tá Trần Đăng Thanh đã nhận định: “Họ đang thực hiện ‘thả con săn sắt, bắt con cá rô’. Họ chưa bao giờ tốt thật sự với chúng ta, tội ác của họ trời không dung, đất không tha.” VNCH mà còn bị Mỹ bán cho Trung Quốc, CHXHCNVN mà nghĩa lý gì?
Rốt cuộc, rất khó dùng kế khích tướng để xúi Việt Nam đi kiện Trung Quốc. Việt Nam vẫn chưa tìm được lối thoát nào cho Biển Đông, đành ngồi chịu trận.
Ngày 24.1.2014
Lữ Giang


 dentholeduan

ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỘNG SẢN : Hãy điều tra một số người Việt tại Đức làm nhục lá cờ Vàng ?



CỜ VÀNGCỜ ĐỎ “SÁNH VAI” TẠI HẢI NGOẠI MỘT ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA VIỆT-CỘNG

Cộng đồng người Việt tại hải ngoại được hình thành bởi hàng triêu người đã liều chết vượt thoát khỏi chế độ cộng sản đi tìm tự do sau ngày việt-cộng cưỡng chiếm miền Nam (30-4-1975), áp đặt một chế độ tàn ác, phi nhân, phi nghĩa lên cả nước. Biểu tượng của chế độ này là lá cờ Máu, Cờ Đỏ Sao Vàng của chúng. Trong cuộc vượt thoát vĩ đại chưa từng thấy của người Việt trốn chạy cộng sản, đã khiến hơn nửa triêu người vùi thây nơi biển cả, gục chết trong rừng sâu và biết bao thảm cảnh cha mất con, vợ xa chồng, gia đình chia ly, tan nát, tù đầy … là thái độ và hành vi chính trị; là bầy tỏ lập trường chính trị rõ rệt không chấp nhân chế độ và lá cờ Máu của VC.

(Người Việt tại Đức với cờ đỏ, cờ vàng biểu tình kỷ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa.(vietinfo.eu))

Từ đó đến nay, việt-cộng và bọn tay sai tại hải ngoại đã tốn không biết bao tiền bạc, công sức để thực hiện các cuộc hội thảo, hội luân; các buổi trình diễn, triển lãm văn hóa, văn nghệ, và bầy ra hết nghị-quyết này đến quyết-nghị khác để thực hiện ý đồ nhuộm đỏ cộng đồng người Việt bằng việc treo cờ Máu khắp nơi có người Việt sinh sống. Nhưng cho tới nay,  mọi ý đồ của bọn chúng vẫn không thể đạt được. Lá cờ Máu, Cờ Đỏ Sao Vàng  vẫn chỉ có thể xuất hiện trong các “hang-ổ” như tòa đại sứ hay các lãnh sự quán của chúng mà thôi. Điển hình là việc treo cờ Máu và hình Hồ tặc của tên Trần Trường tại Nam Ca-li, đã bị hàng chục ngàn đồng hương tỵ nan biểu tình phản đối. Cũng như việc treo cờ Máu tại một trường đại học ở Arlington, Texas năm 2006, bị gần 5 ngàn người Việt các nơi đổ về biểu tình, và một cuộc biểu tình khác tại Nam Cali với hơn 4 ngàn người chống đối buổi trình diễn văn nghệ của tên  việt-cộng-con Đàm Vinh Hưng là hành động thể hiện quyết tâm chống Cộng. Các phái đoàn việt-cộng qua Mỹ hoặc các quốc gia tự do của Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng và các giới chức cao cấp việt-công thăm viếng, tuyên truyền vận động đầu tư đều bị hàng trăm, hàng ngàn đồng bào tỵ nạn tại các địa phương với rừng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ biểu tình đả đảo. Bọn chúng luôn phải trốn chui, trốn lủi như quân ăn trộm. Phải ra vào bằng cửa hậu ở những buổi tiếp tân, những nơi hội họp chẳng còn thể thống và danh dự của cái gọi là “Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN”.

Nhưng  thời gian gần đây, lợi dụng lòng yêu nước của người dân trong và ngoài nước chống đối Trung Cộng lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải của VN, đặc biệt là Hoàng Sa và Trường Sa. Việt-Cộng đã không từ bỏ dịp này. Chúng tung ra chiến dịch thăm dò, vận động cờ vàng và cờ đỏ cùng nhau “sánh vai” chống Trung Cộng tại hải ngoại, đã được một đám nằm vùng và các tổ chức tay sai thực hiện bằng cách rỉ tai, hô hào trên đài, trên báo, và có kẻ còn làm “thống kê” có tới 46% người Việt hải ngọai đồng ý đoàn kết, hoà giải, hoà hợp với VC để chống Trung Cộng. Mục đích của chúng là muốn  “trộn trấu” giừa đen và trắng; giữa chính và tà; giữa thiện và ác, giữa ngọn cờ giữ nước và ngọn cờ bán nước, hòng che dấu những tội “trời không dung đất không tha” của bọn chúng. Và nếu ngọn cờ Máu được ngang nhiên giương lên trong các cuộc biểu tình cùng với cờ Vàng thì người dân tỵ nạn cộng-sản lâu dần sẽ quen mắt. Lá cờ này sẽ có thể công khai treo trên một khu phố, một cơ sở thương mại, hoặc cắm trên xe chạy mọi nơi, mọi chỗ. Chính quyền sở tại lúc đó sẽ coi cờ vàng, cờ đỏ như nhau mà chẳng cần tốn công, tốn sức ban hành nghị-quyết thừa nhận lá cờ của chúng ta là cờ của chính nghĩa, cờ của đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền của người Việt.

Rất may là người dân trong và ngoài nước đều đã biết mánh lới gian manh của VC. Biết cái đảng và nhà nước CS đã dâng hiến một phần lãnh thổ và lãnh hải, trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa cho quan thày Trung Cộng, qua công hàm của tên Thủ vẩu Phạm Văn Đồng ký vào năm 1958,  và Hiệp-Ước biên giới Việt-Hoa vào năm 2000, nhường một phần lãnh thổ biên giới phía Bắc, trong đó có Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, một khúc sông Kỳ Cùng v.v….

Mới đây ngày 18-1-2014, việc Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ “sánh vai” cùng Cờ Đỏ Sao Vàng tại buổi lễ tưởng niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa và biểu tình phản đối Trung Cộng tại Hamburg – CHLB Đức chỉ là một trò gian trá, bịp bợm do đám tay sai VC thực hiện, để phục vụ nghị quyết 36 của chúng, là giương cao lá Cờ Máu được tung bay tại hải ngoại.


Còn nếu hành động giương cờ Máu cùng với cờ Vàng trong bất cứ trường hợp nào do những người mang danh Việt Quốc Gia chủ xướng thì chỉ là hành động dại dột, ngu xuẩn. Họ phải nhớ rằng lá Cờ Đỏ Sao Vàng là  cờ của oan khiên, nghiệt ngã, đọa đầy, đẫm máu người dân Việt. Lá cờ này là nguyên nhân, thủ phạm của sự bán nước và sắp sửa mất nước gần kề.

Nếu VC thực tâm muốn hòa hợp hoà giải với người Việt hải ngoại thì chúng đã không ngăn cấm, đàn áp, phá rối những buổi lễ tưởng niệm và vinh danh các chiến sĩ VNCH đã hy sinh bảo vệ Hoàng Sa vào năm 1974 của người dân Đà Nẵng, Saì-Gòn và Hà-Nội trong những ngày 17, 18,19 tháng 1 vừa qua.

Cho nên chúng ta đừng bao giờ tin VC mà mắc mưu bọn chúng.
Đừng lấy cờ chánh nghĩa “sánh vai” cùng cờ phi nghĩa.
Đừng đem cờ của người yêu nước nhập chung cùng cờ của kẻ bán nước.
Hãy vạch trần âm mưu, thủ đoạn và bẻ gẫy kế hoạch “trộn trấu” cờ Vàng và cờ Đỏ tại hãi ngoại của VC.

Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, trong bất kỳ cuộc chiến nào cũng không thể có hai lá cờ đối nghịch cùng giuơng lên trên một đất nước. Cờ Máu của VC không thể ngang- bằng Cờ Vàng chính nghĩa dân tộc đối với cộng đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại.

Chúng ta phải quyết tâm bảo vệ và không làm hoen-ố Cờ Vàng. Lá cờ này không những là biểu tượng cho chính nghĩa tự do cuả cả dân tộc, mà còn là linh hồn cho công cuộc đấu tranh bền bỉ, chính đáng của chúng ta để quang phục quê hương, cùng với đồng bào trong nước giải trừ chế độ CS. Đem lại dân chủ, nhân quyền  và sự toàn vẹn lãnh thổ cho toàn dân VN./.

Hawaii, cận tết Giáp Ngọ
Ngô Xuân Tâm

 


__._,_.___

Friday, 24 January 2014

Việt Nam Cộng Hòa 39 năm Càng Được Kính Mến

       Huy hiệu Lục quân Việt Nam Cộng hòa.png       

VNCH Càng Được Mến

a
Hậu duệ tuổi trẻ Việt Nam yểm trợ quê hương


Sự kiện lịch sử là chân lý, dù Thượng Đế cũng không thể thay đổiđược. Điều này có thể thấy rất rõ qua hành động và lời nói của người dân Việt trong ngoài nước cũng như thông tin, nghị luận của truyền thông đại chúng quốc tế, Pháp như RFI, Mỹ, VOA, RFA, tôn vinh, ngưỡng mộ, tri ơn Hải Quân VNCH tử chiến với TC trong việc bảo vệquần đảo Hoàng sa vào ngày 19 tháng 1, năm 1974. Và trên phương diện quốc gia rộng lớn hơn, Việt Nam Cộng Hòa, càng ngày, càng biết, càng tiếc, càng mến mộ VNCH.
Không những đồng bào Việt từ Sông Bến Hải trở vô Cà Mau sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà, mà đồng bào Việt từ Bến Hải trở ra Ải Nam Quan, sống trong chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN, tức VNCS, vẫn coi những sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ Hải Quân VNCH tử chiến với TC trong trận chiến Hoàng sa vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 là những người dũng cảm, anh hùng vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh, đúng với huy hiệu của Quân Lực VNCH, Trách Nhiệm, Danh Dư, Tổ Quốc như người Miền Bắc tôn kính gọi là những người “quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”.

Theo nhận định của những nhà quan sát và phân tích ngoại quốc, vô tư,trung trực thì năm 2014, là năm cao điểm người dân Việt tưởng niệm nhiều nhứt, đông nhứt, đa dạng, đa diện nhứt trận hải chiến Hoàng sa anh dũng của Hải Quân VNCH.

Nhớ không những năm nay mà nhiều năm qua, mỗi lần đến gần ngày 19/1 kỷ niệm Hoàng Sa, các đài phát thanh quốc tế có chương trình tiếng Việt như RFI của Pháp và RFA của Mỹ đều có nhắc lại trang sử bi hùng của quân lực VN Cộng Hoà tử chiến ở Hoàng sa năm 1974 và thường do liên kết ý nghĩ nhắc luôn quân đội VNCS năm 1988. Tiêu biểu như RFI có bài “Hải chiến Hoàng Sa 1974 trong ký ức một người lính biển” vàĐài RFA với phóng sư “Ngày tưởng niệm trận hải chiến Việt Nam -Trung Quốc năm 1974”. Từ Saigon qua Đà nẵng và Hà nội, đến các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, Mỹ, Pháp, Úc đều có tổ chức tưởng niệm.

Đặc biệt năm nay 2014, tại Đà Nẵng nhà cầm quyền VNCS, Sở Ngoại Vụ,Bảo Tàng Viện của tỉnh và thành phố và Uỷ Ban Nhân dân Huyện Hoàng sa cũng tổ chức, nhưng giờ chót vì một lý do nào đó xin lỗi huỷ bỏchương trình thấp nến tưởng niệm tử sĩ VNCH tử chiến ở Hoàng sa.

Trên đây mới là chỉ điểm son tốt đẹp của một thành phần cấu tạo của VNCH, là Quân, vốn là thành phần thứ hai trong cơ cấu VNCH gồm Dân, Quân, Cán, Chính.

Người Việt lớn tuổi nhớ thời VNCH sống đễ làm sao, dù có chiến tranh. Chạy xích lô ở Saigon sáng cũng có thể ăn tô phở, chiều cóthể lai ra
chai bia Con Cọp. Giáo sư trung học lương trên năm sáu ngàn,ở Miển Tây Nam Việt, ở trọ, ăn cơm tháng khỏang 500$. “Nhớ thuở xưa ta sống một đời Dễ dàng, ăn thiệt chỉ làm chơi, Như dòng sông Hậu trôi mơ mộng, Như đất Miền Tây rộng thảnh thơi.Cái đúng cái sai đòi đủthứ, Chuyện còn chuyện mất phú riêng trời. Nhiều sung sướng quá rồi không biết. Chừng biết vàng son đã hết thời.”
VNCH khai nguyên và tồn tại mấy chục năm tòan trong thời chiến tranh. Dân chủ, tự do của VNCH mới xây dựng và trong thời chiến. Thế nhưng người dân VNCH có tự do và dân chủ nhiều hơn đồng bào của mình ởngòai Miền Bắc. VNCH trên thực tế và pháp lý, thực chất và thực sựcó hiến pháp, có quốc hội, có đối lập, có tam quyền phân lập, hành pháp, lập pháp, tư pháp phân nhiệm và thực thi rõ ràng. Có lấn quyền, ủy quyền nhưng có tranh đấu, có sửa chữa để hiến pháp làđạo luật tối thượng của chánh quyền.

Trong xã hội có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do cưtrú, đi lại trong ngoài nước.

Có báo của tư nhân, có nghiệp đòan nhà báo, của công nhân, có biểu tình ủng hộ, biểu tinh chống chánh phủ.

Tổng Thống đệ nhứt VNCH đến Mỹ, lưỡng viện Quốc Hội họp rất long trọng, có đủ mặt chánh quyền Mỹ, ngoại giao đoàn dự khán để nghe tổng thống VN đọc diễn văn.

Dĩ nhiên tự do, dân chủ VNCH chưa tòan thiện, tòan mỹ, nhưng thực sựcó và phát triễn ngày càng tốt đẹp hơn.

Không có cảnh chà đạp tự do, dân chủ một cách vô tội vạ như thời VNCS. Không có công an vừa đánh dân vừa dùng xã hội đen đánh dân, ngoài đường lẫn trong đồn, dân chết hay bị thương, mà chưa có một công an lớn nào bị trừng phạt đúng kỹ luật hay pháp luật.

VNCH có tham nhũng, hối lộ nhưng không trầm trọng hết thuốc chữa, biến thành quốc nạn như thời VNCS. Thế mà VNCH quyết liệt thành lập một cơ quan hiến định là Giám sát Viện để bài trừ.

Còn VNCS lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ đến đổi tổ chức Transparency International Minh Bạch Quốc Tế công bố nhiều năm liền VNCS đội số tham nhũng trên thế giới.

VNCH không có một vị tổng thống, thủ tướng, tướng lãnh, dân biểu nghị sĩ, bộ trưởng nào của VNCH di tản ra ngọai quốc có đủ tiền mua lâu đài, ráng lắm là mua một cái nhà cho gia đình ở thôi. Có tướng phải đi làm thợ sơn, nghị sĩ bán xăng, dân biểu đi cắt chỉ, sĩ quan, công chức đi cắt cỏ trong buổi ban đầu để nuối gia đình trong thời chân ướt chân ráo.

Trí thức VNCH không có đại nạn, phong trào bằng cấp giả “cao cấp” nhưmấy ngàn tiển sĩ “dỏm” trong chế độ VNCS bây giờ.

Tổng Thống VNCH, hai vị của thời đệ nhứt cộng hòa đạo đức hơn xa Ông Hồ chí Minh. Tinh thần nối chí tiền nhân Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, chống quân Tàu, gìn giữ giang sơn gấm vóc, hơn hẵn những người lãnhđạo Đảng Nhà Nước CS Bắc Việt. TT Nguyễn văn Thiệu khi Mỹ bắt tayđược với TC, cúp viện trợ VNCH, thân cô thế cô cũng quyết gìn giữđất nước ông bà để lại với trận tử chiến của Hải quân VNCH ngòaiđảo Hòang sa năm 1974.

Trong khi đó suốt gần hai phần ba thế kỷ ở Miền Bắc và hơn một phần ba thế kỷ ờ Miền Nam, chưa bao giờ Đảng Nhà Nước VNCS cho phân quyền tam lập Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp gì. Đảng CS vẫn khư khư độc tàiđảng trị tòan diện.

Còn Ông Hồ chí Minh là một người gian ác hơn Tào Tháo, làm gia nô cho CS Nga, Tàu, giết hại các lãnh tụ quốc gia, ám hại đồng chí có uy tín, giết phụ nữ sau khi chiếm được xác thịt. Các tài liệu của Liên xô, Pháp giải mật cho thấy mà kinh tởm.

Độ lùi thời gian khá đủ. 39 năm qua người Việt ở Bắc, ở Trung, ởNam, ở hải ngọai, quốc tế Mỹ, Pháp, Anh, Úc càng biết càng tiếc, càng mến mộ Việt Nam Cộng Hòa./

 

Vi Anh

Xuân Lưu Vong!

Xuân Lưu Vong!

Xuân đến rồi đây anh biết không!
Mùa xuân xa cách để đau lòng!
Quê hương xa quá vùng vô tưởng!
Và kỷ niệm xưa đã mênh mông!

Xuân đến rồi đây anh biết không!
Mùa xuân viễn xứ của lưu vong!
Ta sống và làm thân tỵ nạn!
Nước người hồn ta bình yên không!

Xuân đến rồi đây trên thế gian!
Mùa xuân quá đắt của muôn ngàn!
Quê hương còn đó và cha mẹ!
Anh thấy tự do xót xa không!
CMTT

*****
39 năm người dân Việt trên quê hương không có mùa XUÂN 
thì làm sao trong tâm khảm người Việt tỵ nạn cs nơi xứ người có thể an hưởng mùa XUÂN cho riêng mình. 

Mừng XUÂN của người Việt tỵ nạn, nếu có, thì chỉ là bề ngoài; 
vì "Nước người hồn ta bình yên không!"

Và "Anh thấy Tự Do xót xa không!"
Niềm vui được chia sẻ thì niềm vui được tăng tràn.
Nỗi đau được chia sớt thì nỗi đau được giảm bớt.
Vì thế hưởng Tự Do, Dân Chủ, Tiến Bộ 
nơi xứ người mà không "chia sẻ" cho quê hương và cho Mẹ Việt Nam thì thật nghĩ ngợi, băn khoanh, trằn trọc!

Băn khoanh, trằn trọc, nghĩ suy ...với đời sống tích cực thay vì tiêu cực 
sẽ là động lực để bạn và tôi vững tâm, bền chí tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ, và phú cường. 

Đặng Bảo
23/1/2014
--

Bài Xem Nhiều