We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 31 May 2014

Thủ đoạn mập mờ cs Việt Nam: Quốc tế biết gì làm trọng tài....?

Thủ đoạn mập mờ


Đồng Vẩu và công hàm trọn gói
Một bạn đọc, ký tên Dang Nguyen , đã góp ý kiến về bức công hàm Phạm Văn Ðồng 1958 như sau: “Ðiểm khác biệt cần làm rõ là chế độ chính trị ở hai miền Nam-Bắc và cả hai đều được quốc tế công nhận là hai nước. Vì thế, nó không như lập luận của tác giả (Ngô Nhân Dụng) rằng ông Phạm Văn Ðồng nhân danh nước Việt nam - có lãnh thổ từ ải Nam Quan đến Cà Mau. Sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị là hai khái niệm riêng biệt - trong thời điểm lịch sử của Việt Nam.” Một độc giả khác, ký tên Tran, nhận xét: “Bức công hàm của Phạm Văn Ðồng làm người đọc cảm thấy không rõ ràng, mập mờ khó hiểu, nhất là không đề cập gì tới Hoàng Sa và Trường Sa...”

Trong bài trước, ký giả không bàn đến dư luận hay ý kiến của thế giới đối với bức công hàm Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa trên ý nghĩa bức công hàm đó trong tương quan giữa hai đảng cộng sản, và giữa hai quốc gia do họ đang cai trị vào thời điểm họ trao đổi văn thư này.

Về điểm thứ nhất, vào năm 1958, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tự coi họ làm làm chủ cả hai miền Nam, Bắc (hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng theo quan niệm này). Trong việc giao thiệp giữa hai bên, Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) chấp nhận quan điểm này của Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trung Cộng chỉ lập bang giao với miền Bắc. Họ không công nhận chính quyền miền Nam, dù trong thời gian Hội Nghị Genève 1954, Chu Ân Lai đã tỏ ra muốn bắt cá hai tay, chính phủ Ngô Ðình Diệm từ chối.

Vì vậy, khi Phạm Văn Ðồng viết cho Chu Ân Lai, ông ta nhân danh toàn thể nước Việt Nam, không riêng miền Bắc. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam muốn “nói lại,” rằng ông Ðồng không thể đem tặng Trung Cộng những quần đảo mà ông ta không có quyền quản lý, lý luận này không thể đứng vững vì mâu thuẫn với điều Việt Cộng chủ trương năm 1958.

Chúng tôi đồng ý với vị độc giả ký tên Tran, là văn thư của Phạm Văn Ðồng có vẻ mập mờ, tính chất mập mờ này chắc là do cố ý. Ðúng là bức công hàm không nhắc đến tên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa). Tuy nhiên, bản văn đã viết rằng: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”
Xứ của những người mù

Nói như vậy tức là tán thành cả văn bản lẫn ý nghĩa tổng quát trong bản tuyên bố của Trung Cộng. Mà trong bản tuyên bố đó, Bắc Kinh nêu rõ ràng tên các quần đảo trên như thuộc quyền của họ. Tán thành bản tuyên bố tức là đồng ý họ làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, không thể nào chối bỏ hay giải thích đã hiểu lầm được.

Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Bắc Kinh đoạn mang số một nói rõ ràng là các hòn đảo và chu vi quanh các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa, đều thuộc Trung Quốc.

Văn thư của Phạm Văn Ðồng viết mập mờ, không nói gì đến những tên Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng nội dung cả bức thư viết rõ ràng là chính quyền Cộng Sản Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo này. Phạm Văn Ðồng còn viết rằng chính phủ ông ta “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Bây giờ, những người thừa kế Phạm Văn Ðồng tìm cách giải thích bằng cách dẫn chứng riêng một đoạn “tôn trọng hải phận 12 hải lý,” để nói rằng bức thư trên chỉ nói về chủ quyền 12 hải lý do Bắc Kinh nêu ra thôi, chứ không đồng ý Hoàng Sa hay Trường Sa thuộc Trung Quốc. Nhưng nói như vậy chỉ là cắt lấy một đoạn nói về một vấn đề kỹ thuật (hải phận 12 dặm biển chứ không phải 14, 15 hoặc 120 dặm). Trung Cộng sẽ nhắc Việt Cộng không nên “đoạn chương thủ nghĩa,” chỉ cắt một câu mà bỏ quên những câu quan trọng hơn trong văn thư của Phạm Văn Ðồng. Họ sẽ vạch ra ông Ðồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958;” mà nội dung đầy đủ như đã nêu trên. Không những thế, ông Ðồng nói sẽ ra lệnh cấp dưới “tôn trọng quyết định ấy,” “trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”

Viết những chữ “trong mọi quan hệ ... trên mặt bể” này là ký một “văn tự bán nước.” Bây giờ, Trung Cộng ngang nhiên đem giàn khoan HD-981vào hải phận nước ta, họ nói chỉ là thể hiện câu văn “tôn trọng quyết định ấy ... trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Tóm lại, Việt Cộng không thể nào “cãi chày, cãi cối với Trung Cộng về bức công hàm năm 1958 được, dù Phạm Văn Ðồng đã cố ý viết một cách mập mờ.

Mập mờ là một thủ đoạn chính trị, đã được các đảng cộng sản sử dụng triệt để, nhất là khi nói với dân. Một câu nói mập mờ được ghi vào lịch sử là câu viết trong lời kêu gọi các cựu sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa đi trình diện “học tập cải tạo;” trong đó mập mờ nói rằng họ hãy đem theo đồ dùng cá nhân và lương thực “đủ trong 30 ngày.” Nghe vậy, ai cũng tưởng thời gian “cải tạo” chỉ kéo dài 30 ngày là dài nhất. Mấy trăm ngàn người đã bị mắc lừa vì câu nói mập mờ này. Nhưng trong nghề nói mập mờ thì Việt Cộng chỉ là học trò của Trung Cộng.

Trong điều kiện nào thì thủ đoạn nói mập mờ sẽ thành công? Khi kẻ nói mập mờ cũng là kẻ nắm dao đằng chuôi. Một câu mập mờ, nước đôi hay nước ba, có thể giải thích bằng nhiều lối khác nhau. Khi đó, anh nào đeo khẩu súng to hoặc nắm còng số 8 trong tay, anh ấy sẽ bắt anh yếu phải chấp nhận nghe theo lối giải thích của mình.

Năm 1975, 76, các tù binh “cải tạo” đã vào trong hàng rào kẽm gai rồi thì không thể đòi hỏi Việt Cộng hiểu câu “đủ trong 30 ngày” theo lối mình, hiểu rằng chỉ đi tù 30 ngày. Năm 2014 bây giờ Việt Cộng cũng không thể bắt Trung Cộng hiểu bức thư của Phạm Văn Ðồng không nói đến tên Hoàng Sa, Trường Sa tức là không dâng cùng Hoảng Sa, Trường Sa cho Bắc Kinh. Họ quên rằng trong các thủ đoạn lưu manh thì Trung Cộng vẫn chỉ là thày của Việt Cộng. Học được thói nói năng mập mờ, đem áp dụng để đánh lừa dân chúng trong nước mình thì dễ. Nhưng không thể đánh lừa cả tên “đồng chí anh em” đã dạy trò gian trá đó cho mình; trong khi nó viện trợ cho từng cây kim, từng hạt gạo, và súng, đạn, mìn, bẫy, để theo đuổi cuộc chiến tranh “chống Mỹ tới người Việt cuối cùng!”

Trong việc bang giao, khi nào thì người ta hay dùng thủ đoạn nói mập mờ? Thường người ta nói với nhau những điều không rõ ràng khi cả hai bên đều bị kẹt, không ai muốn nhường ai nhưng không ai muốn quyết liệt nói thẳng. Người lãnh đạo nhiều nước vẫn hay nói mập mờ để đánh lừa người nước khác. Chúng ta vẫn còn nhớ đặc sứ của ông Richard Nixon khi dụ chính phủ miền Nam tham dự hội nghị Paris đã hứa hẹn những gì với ông Nguyễn Văn Thiệu. Trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa thời đó, ai cũng biết bên nào mạnh hơn, có khả năng để nói mập mờ, sau thành tráo trở. Ngày nay, ông Karzai, tổng thống Afghanistan chọn một cách đối xử khác đối với chính phủ Mỹ. Ông đòi hỏi các thỏa thuận phải viết theo ý của mình, viết rõ ràng, không thể hiểu lầm được. Ðịa vị của ông Karzai, đối với chính phủ Mỹ, cũng không mạnh hơn bao nhiêu so với ông Nguyễn Văn Thiệu thời 1970, hoặc ông Phạm Văn Ðồng đối với Trung Cộng vào năm 1958.
Nhưng tại sao Karzai dám tỏ thái độ cứng rắn như vậy? Bởi vì ông ta không sợ, và tin rằng việc ông làm mang lại lợi ích cho dân ông. Tại sao chính phủ Mỹ phải chiều theo ý ông Karzai và người lên kế nhiệm ông?

Vì chính quyền Mỹ phải hành sử theo cung cách một chế độ tự do dân chủ, với lối sống dựa trên tính chất minh bạch, công khai. Sau thời ông Nixon, Quốc Hội Mỹ đã làm nhiều thứ luật hạn chế quyền quyết định của các vị tổng thống; trong đó có những quyền thương thuyết và thỏa hiệp trong vòng bí mật. Ở các nước khác, dù họ không làm ra những đạo luật bắt người cầm quyền phải làm mọi việc công khai, nhưng dư luận dân chúng, báo chí, các nhà chính trị đối lập, cũng có giá trị ngăn cản hoặc ràng buộc như những đạo luật.

Cũng vậy, chính quyền các nước dân chủ tự do rất khó dùng lối nói mập mờ đối với người dân của họ. Chúng ta có thể thông cảm rằng con người hay tránh không nói thẳng, không nói rõ ràng, nếu không bị bắt buộc. Vì người ta muốn tránh không quả quyết nói về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với người khác cho rõ ràng; vì làm thế là bị ràng buộc. Các nhà chính trị trên thế giới đều thực hành câu tục ngữ của người Việt: “Làm trai cứ nước hai mà nói.”

Cho nên, trong chế độ tự do dân chủ các đại biểu của người dân phải làm ra những luật lệ bắt buộc bên hành pháp phải nói rõ ràng, chính sách của nhà nước thì không được mập mờ. Người ta tự nhiên làm như vậy vì những người nắm quyền, hành pháp cũng như lập pháp đều chịu trách nhiệm trước dân, do dân cử ra bằng lá phiếu tự do.

Ngược lại, thủ đoạn nói mập mờ chuyên được đem áp dụng trong các chế độ độc tài chuyên chế. Kẻ cầm quyền nói nước đôi, nước ba, rồi đến lúc cần đem giải thích theo một ý nghĩa phù hợp với quyền lợi của phe đảng họ nhất. Bọn lãnh tụ độc tài chuyên chế quen thói đánh lừa dân như thế mãi cũng được; vì họ có còng số tám. Nhưng khi tính đem áp dụng mưu mẹo lừa bịp đó với những kẻ mạnh hơn mình thì cuối cùng chỉ thiệt. Thiệt hại cho riêng họ không nói làm gì, họ còn gây tai hại cho cả nước Việt Nam nữa!
 Ngô Nhân Dụng

Chính chúng nó : Công sản Việt Nam là đám tội đồ của dân tộc!

CSVN là đám tội đồ của dân tộc!



Xứ của những người mù
             Nước Việt Nam ta trải qua 4,000 năm lập quốc và dựng nước, đã bao lần bị xâm lăng bởi ngoại bang, nhất là quân Tàu. Có những lần tưởng như là không còn có cơ hội tồn tại, nhưng với bản năng quật cường, lòng gan dạ và sức chịu dựng gịan khổ bền bỉ, dân ta đã nhiều lần nổi dậy chiến đấu chống quân thù, giành lại nền độc lập cho nước nhà.

       Ngoài các vị anh hùng hào kiệt và quân dân đã chiến đấu dũng cảm và chịu hy sinh để cứu nước, còn có những kẻ ích kỷ vì quyền lợi cá nhân, và giòng họ, đã bán rẻ anh em và đồng bào, cõng rắn cắn gà nhà khiến dân ta chịu nhiêù nhục nhằn khổ sở.

       Sử gia Trần Trọng Kim đã viết “Người An Nam hay có tính ỷ lại, có việc gì chỉ muốn nhờ người khác chứ tự mình không muốn làm lấy. Họ không hiểu rỏ nghĩa dân với nước, nhà nào lên làm vua thì coi cả nước là của riêng của mình, hễ ai lấy mất thì cố tìm cách, dù là đê hèn như cầu viện ngoại bang để lấy lại. Họ có biết đâu rằng, quân Tàu thật dã man, sau khi chiếm được nước rồi, thì họ bằng mọi cách cướp phá bằng hết không một chút thương sót người đồng loại”.

      Để tưởng nhớ các vị anh hùng đã cứu nước và cũng để nhớ lại những trang sử oanh liệt của tiền nhân, chúng tôi xin tóm luợc những cuộc nổi dậy chống quân Tàu xâm lược.

Cuộc khởi nghĩa của Hai BàTrưng:

        Viên thái thú Tô Định đời Quang Vũ nhà Hán cai trị nước ta thật là bạo ngược. Năm 40, Tô Định giết ông Thi Sách là chồng bà Trưng Trắc. Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị, con gái quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh, Phúc Yên, đã hô hào dân chúng nổi dậy chống quân xâm lược. Lúc bấy giờ các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cũng nổi lên theo hai bà vì không chịu nổi sự cai trị hà khắc của quân Tàu. Sau khi đánh đuổi được quân Tàu về nước, hai bà xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Ba năm sau, hai bà bị Mã Viện đánh thua, phải nhảy xuống sông Hát tuẫn tiết.

Cuộc khởi nghĩa của bà Triệu năm 248:

        Bà Triệu tên là Triêu Thị Trinh, quê ở Nông Cống, là người có sức mạnh, có ý chí và nhiều mưu lược, Vì sự thống trị dã man của quân Đông Ngô, bà vào núi chiêu mộ khoảng 1,000 chiến sĩ luyện tập để chống giặc. Anh bà là Triệu quốc Đạt khuyên bà không nên nhưng bà nói rằng: (Tôi muốn cưỡi con gió mạnh, đạp đường sóng dữ, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi đắm đuối chứ không bắt chước người cúi đầu, cong lưng để làm tì thiếp người ta.) Bà ra trận cỡi voi, mặc áo giáp vàng, xưng là Nhụy Kiều tướng quân. Nhưng vì quân ta ít, quân giăc đông và  dưới sự chỉ huy của Lục Dạn, một tướng giỏi của Tàu, lại thêm sự phản bội của một người Việt trong hàng ngũ quân của bà nên quân ta thua. Bà hy sinh trên núi Tùng, Thanh Hóa, lúc bà mới 25 tuổi.

        Hai bà Trưng và bà Triệu chỉ là đàn bà mà đã lập được nghĩa lớn như thế, đáng để toàn dân noi theo.

Cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn năm 469.

        Năm 469, dưới sự cai trị tàn bạo của nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn, còn gọi là Lý Bí, quê ở Thái Bình, được sự ủng hộ của Triệu Túc, một tù trưởng ở Hưng Yên và con là Triệu Quang Phục đã khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương về Tàu. Quân Lương sang tiếp viện nhưng lại bị đánh bại. Lý Bôn xưng vương, hiệu là Lý Nam Đế, lấy quốc hiệu là Vạn Xuân, lập kinh đô ở sông Tô Lịch. Về sau, quân Lương lại sang đánh báo thù, quân Lý Nam Đế thua nhiều trận. Lý Nam Đế bị bệnh mất, trao quyền cho Triệu Quang Phục.

        Triêu Quang Phục rút quân về đầm Dạ Trạch, Hưng Yên, tự túc, tự cường, tích trữ lương thực để chiến đấu lâu dài, vì thế quân ta bị bao vây rất lâu nhưng vẫn tồn tại và thỉnh thoảng lại mở  các cuộc đột kích đánh phá quân Lương khiến giặc gặp rất nhiều khó khăn. Về sau, Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương rồi mở cuộc phản công qui mô giết đuợc tướng giặc là Dương Sào giành lại nền độc lập cho nước nhà.

Cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế:

        Mai Thúc Loan người huyện Thiên Lôc, Hà Tĩnh, sức vóc khỏe mạnh, măt mũi đen xì,  là người gan dạ và có chí khí. Năm 722, dân ta bị cai trị bởi nhà Đường. Bấy giờ là đời Đường Huyền Tông, dân ta phải cống nộp đủ thứ, nhất là quả vải (lệ chi) để vua Đường phục vụ cho Dương  Qúi Phi. Có một lần trong khi khuân vác nặng nhọc, một người Việt yếu sức quá không đi nổi, bị một tên lính Tàu áp tải đánh chết. Ông Mai Thúc Loan cũng có mặt trong đoàn áp tải ngày hôm đó, nổi giận, hô hào mọi người cùng giết hết lũ giặc.Sau đó, ông hiệu triệu dân chúng chiếm giữ một vùng trong tỉnh Ngệ An, xây thành, đắp lũy, xưng là hoàng đế, tục goi là Mai Hắc Đế. Về sau Mai Hắc Đế bị quân nhà Đường đánh bại.

Cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng:

        Năm 767, dưới sự cai trị khắc nghiệt của Cao Chính Bình đời Đường, ông Phùng Hưng, quê ở Đường Lâm, Sơn Tây, nổi dậy chống giặc. Sau hơn 20 năm chiến đấu gian khổ, quân Việt đã đánh tan nát quân Tàu, buộc chúng phải chạy về nước.Ông làm vua được 7 năm thì mất,trao quyền cho con là Phùng An. Phung An tôn hiệu cha la Bố Cái Đại Vương.

Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừ Dụ:

        Năm 905, ông Khúc Thừa Dụ, quê ở Hải Dương, cùng dân ta nổi dậy  đánh đuổi đươc quân Tàu về nước. Khúc Thừa Dụ xưng vương, đã bãi bỏ hết các quan lai cũ, bỏ bớt thuế má để bớt gánh nặng cho dân, rồi xây dưng một một chính quyền độc lập để người Việt cai trị. Năm 917 Khúc Thừa Dụ mất, truyền ngôi cho con là Khúc Thừa Mỹ. Sau Khúc Thừa Mỹ bị Lý Tiến và Lý Chính Bình nhà Nam Hán đánh bại.

Cuộc khởi nghĩa của Dương Diên Nghệ:

        Năm 931, ông Dương Diên Nghệ, một bộ tướng của Khúc Hạo, mộ quân đánh đuổi được Lý Tiến va Lý Chính Bình về nước rồi xưng là Tiết Độ Sứ. Sáu năm sau, ông bị người nha tướng là Kiều Công Tiễn ám hại.

Cuộc khởi nhgiã của Ngô Quyền.

        Ông Ngô Quyền, người làng Đường Lâm, Sơn Tây, là một bộ tướng của Dương Diên Nghệ. Ông là một người tài đức, có chí khí nên được Dương Diên Nghệ gả con gái cho và cho cai quản đất Aí Châu. Khi được tin Dương Diên Nghệ bị Kiều Cong Tiễn giết, ông bèn đem quân ra đánh. Kiều Công Tiễn sợ quá, cho người sang Tàu cầu cứu. Vua Nam Hán bên Tàu được thể, bèn sai con là thái tử Hoằng Tháo, đem quân sang đánh trước và vua dẫn quân đi sau tiếp viện. Ngô Quyền giết được Kiều Công Tiễn rồi sai quân bày trận cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, dụ cho quân Nam Hán đuổi theo rồi phản cômg khi nước thủy triều xuống. Thái tử Hoằng Tháo bị giết cùng với quá nửa quân Tàu. Vua Nam Hán sợ quá phải rút quân tháo chạy về Tàu, không dám đem quân sang quấy nhiễu nước ta nữa.Nhờ có Ngô Quyền, nước Nam ta mới cởi được ách bắc thuộc hơn 1,000 năm, mở đường cho các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần về sau được tự chủ ở cõi An Nam. Ngô Quyền làm vua được sáu năn thì mất, Khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha, em vợ Ngô Quyền, con Dương Diên Nghệ, đươc Ngô Quyền ủy thác giúp tự quân, lại cướp ngôi vua của cháu. Về sau Dương Tam Kha bị con Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập đánh đuổi. Ngô Xương Ngập cùng anh là Ngô Xương Văn cùng làm vua nhưng rồi tranh dành quyền lực khiến nước bị đại loạn, chia cắt thành 12 sứ. Về sau Đinh Bộ Lĩnh dẹp đươc 12 sứ quân xưng làm Đinh Tiên Hoàng.

Cuôc đánh đuổi quân Tống của vua Lê Đại Hành:

        Lê Hoàn, người làng Bảo Tháp, tỉnh Hà Nam là một tướng giỏi đời vua Đinh Tiên Hoàng, được liệt vào một trong Giao Châu thất hùng, được vua Đinh phong làm thập đạo tướng quân (chức nắm chọn binh quyền trong tay). Khi Đinh Tiên Hoàng bi tên Đỗ Thích ám sát, Đinh Tuệ mới 6 tuổi được lập làm vua và được sự nhiếp chính của mẹ là Dương Thái Hậu và Lê Hoàn. Các tướng Đinh Điền, Phạm Hạp và Nguyễn Bặc sợ Lê Hoàn chuyên quyền nên hop quân đi đánh, nhưng bị Lê Hoàn dẹp và giết hết.

        Năm 981, vua tôi nhà Tống thừa dịp nội bộ An Nam lủng củng, sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng và thủy sư đô đốc Lưu Trừng đem thủy bộ binh mã sang đánh nươc ta. Lê Hoàn sai Phạm Cự Lượng đem quân lên Lạng Sơn chấn giữ. Trước khi mang quân lên Lạng Sơn, Phạm Cự Lượng họp quân sĩ cùng suy tôn Lê Hoàn lên làm vua để có người tài giỏi chỉ huy toàn quân. Thái Hậu Dương Vân Nga, thấy vua còn nhỏ quá, không thể nào gánh vác được việc nước trong cơn nguy hiểm này, nghĩ đến tiền đồ dân tộc và lại thấy toàn quân ủng hộ Lê Hoàn, một người tướng tài được bà yêu kính, nên bà đã khoác áo Long Cổn mặc vào cho Lê Hoàn. Lê Hoàn lên làm vua  lấy niên hiệu là Lê Đại Hành. Vua để Thái Hậu tự nhiếp chính, con vua tự mang quân đi chống giặc. Với tài trí tuyệt vời, vua đã sai quân cầm chân thủy quân của Lưu Trưng trên sông, lừa quân của Hồ Nhân Bảo vào chỗ hiểm ở Ôn Châu, Lang Sơn. Hồ Nhân Bảo và một nửa số quân bị thảm tử. Bọn Lưu Trừng sợ quá, phải rút thủy quân tháo chạy.

        Sau khi đánh tan quân Tống, vua Lê Đại Hành lại đem quân dẹp Chiêm Thành bắt phải triều cống vì nước này hay đem quân quấy nhiễu nước ta.

Lý Thường Kiệt đánh Tống

        Năm 1075, vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan, biết ý tể tướng Vương  An Thạch nhà Tống muốn mang quân sang đánh nước ta bèn dùng chiến lược tấn công đẻ phòng thủ, tiên hạ thủ vi cường,  sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem 10 vạn quân sang đánh các châu Liêm, châu Khâm (Quảng Đông), và Uy châu (Quảng Tây). Quân nhà Lý giết hại hơn 10 vạn quân dân Tàu.

        Năm 1076, vua nhà Tống sai Quách Qùy va Triệu Tiết là cácdanh tướng mang quân sang đánh nước ta để trả thù. Quân nhà Tống đánh rất hăng nhưng quân ta, dưới sự chỉ huy tài giỏi của Lý Thường Kiệt, đã oanh liệt chống giữ. Để khích lệ sức chiến đấu của binh sĩ, Lý Thường Kiệt đã sáng tác một bài thơ phao tin là được thần nhân mách bảo:

Nam quốc sơn hà, Nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.
Nhữ đẳng hành khan, thủ bại hư.

        Sau khi nghe được bài thơ, quân ta càng nức lòng đánh giăc. Lý Thường Kiệt sợ đánh lâu bất lợi vì quân Tàu quá đông nên sai sứ sang xin hoãn binh. Vua Tống, thấy quân mình không tiến lên được mà tướng sĩ đã chết quá nửa (trên 4 vạn quân), nên thuận cho hòa và rút quân về nước. Dây là một chiến công oanh liệt mà nhà Lý đã làm vẻ vang cho nước nhà và làm cho quân Tàu khiếp sợ.

Nhà Trần chống quân Nguyên:

        Lần thứ I: Năm 1258, quân Nguyên,đời Hốt Tất Liệt, người đã càn quét hết nước Tàu và gần một nửa Châu Âu, sau khi chiếm đươc Đại Lý (Vân Nam), đã tiến său vào lưu vưc sông Hồng Hà, thế rất mạnh. Quân ta không chống nổi, phải lui dần về phía Nam. Vua Trần Thá Tông phải bỏ thành Thăng Long. Vua lo sợ, hỏi ý thái sư Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ là một người tài ba, lỗi lạc, đã sửa soạn trước việc chống giặc nên rất bình tĩnh trả lời:(Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo). Lời nói đó đã giữ vững tinh thần của vua và toàn quân. Về sau quân ta phản công chiếm lai Đông Bộ Đầu, đánh bật quân Nguyên về nước.

        Lần thứ II: Năm 1282 Hốt Tất Liệt muốn đánh nước ta để trả thù nên sai sứ bắt vua ta phải sang chầu, phải nộp ngà voi, vàng bạc, hiền sĩ và thợ khéo. Vua Trần Nhân Tông sai chú họ là Trần Di Aí đi sứ thay mình. Vua Nguyên không chịu, quyết ý đánh chiêm nước Việt, nên xuống chỉ lập tòa Tuyên Phủ Ti, đặt quan liêu thuộc để sang giám định các châu huyện của nước ta.  Vua Nhân Tôn không chịu, bèn đuổi hết đám đó về Tàu. Vua Nguyên tức giận, bèn lập Trần Di Aí làm An Nam Quốc Vương, và sai Sài Thung dẫn 1,000 quân đưa bọn đó về làm vua nước Nam. Vua Nhân Tông sai tướng đón đánh, bắn mù một mắt Sài Thung, và bắt Trần Di Aí đi làm lính tội đồ.

        Khi Sài Thung thua chạy về nước, vua Nguyên thật là giận giữ, sai con là Thoát Hoan cùng các danh tướng: Toa Đô, Ô Mã Nhi đem 50,000 quân sang đánh nước ta. Vua Nhân Tông  mời các bô lão đến họp  hội nghị Diên Hồng để hỏi ý kiến,  nên chịu thua hay nên chiến. Các bô lão đồng thanh hô to: “QUYẾT CHIẾN”. Hưng Đạo Đại Vương là một người tài ba, lỗi lạc, được vua Trần Nhân Tông trao toàn quyền chống giặc.. Ông đã có sẵn kế hoạch phá đich. Ông đã soan một quyển binh thư yếu lược, để cho tứớng sĩ hoc tập.  Vương cũng đã soạn ra một bài hịch khuyên răn quân dân đồng lòng chống giăc. Với sách lược tuyệt vời, Vương cho quân mai phục, vừa đánh, vừa lui để làm chậm bước tiến của địch và để bảo toàn lực lượng chờ lúc phản công. Vương khuyên dân chúng dùng chính sách vườn không, nhà trống, đốt hết nhà cửa và lương thực, rút vào núi khi giặc đến. Quân Nguyên tấn công thật vũ bão, quân ta phải rút về Vạn Kiếp, rồi bỏ Thăng Long rút về Thanh Hóa. Hưng Đạo Vương sai thượng tướng Trần Khanh Dư trấn giữ Nghệ An và các nơi hiểm yếu. Tại Nghệ An, Trần Kiệm ra hàng giặc. Hưng Đạo Vương sai quân đón đánh, giết chết Trần Kiệm.

        Tại Thiên Trường, Trần Bình Trọng đánh nhau với quân Nguyên ở Đông An, Hưng Yên, bị thua và bị bắt.Thoát Hoan dụ Trần Bình Trọng: “CÓ MUỐN LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC KHÔNG?” Trần Bình Trọng quát lớn: “TA THÀ LÀM QUỈ NƯỚC NAM CHỨ KHÔNG THÈM LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC”. Thoát Hoan thấy dụ  không đươc nên sai chém đầu ông..

        Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông lo sợ, nên bàn với Hưng Đạo Vương xin hàng để tránh tai họa cho dân. Hưng Đạo Vương tâu:(NẾU BỆ HẠ MUỐN HÀNG, XIN TRƯỚC HÃY CHÉM ĐẦU TÔI ĐÃ)..Các vua nghe nói thế mới vững lòng. Toàn quân đều hăng hái, quyết chiến, lấy mực thích vào cánh tay hai chữ (THÁT ĐÁT).

        Toa Đô đánh Nghệ An mãi không được, vì tướng Trần Quang Khải đã trấn giữ hết các nơi hiểm yếu. Toa Đô bàn với Ô Mã Nhi rút quân xuống thuyền, vượt biển ra Bắc để hơp binh với Thoát Hoan.

        Vua Trần Nhân Tông nghe lời Hưng Đạo Vương, sai Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải và Nguyễn Khoái đem 5 vạn quân đón đánh Toa Đô tại Hải Dương. Quân giặc thua to phải chạy về Thiên Trường, rồi rút quân về sông Thiên Mạc(khúc sông Hông Hà thuộc địa hạt Đông An, Hưng Yên.) rồi  về Tây Kết, phủ Khoái Châu, Hưng Yên. Quân ta tấn công dữ dội, giết chết Toa Đô và bắt được 3 vạn quân Nguyên. Hưng Đaọ Vương lại sai Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão đem quân theo đường biển tiến đánh Chương Dương. Quân Nguyên thua to phải chay về Thăng Long.

        Thoát Hoan ở Thăng Long bị Trần Quang Khải đánh úp, thua chạy về Bắc Ninh. Hưng Đạo Vương dẫn quân đánh Thoát Hoan ở Bắc Giang. Quân Thoát Hoan thua to, phải chạy về Vạn Kiếp, thì bị phục kích. Tướng Lý Hằng và nửa số quân bị giết. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để quân sĩ kéo chạy về Tàu.

        Quân Nguyên, lúc sang đánh nước ta hùng hổ bao nhiêu thì khi bị bại trận, lại thảm hại  bấy nhiêu.

        Đây là một trận đánh oai hùng, lịch sử đáng để muôn đời ghi nhớ. Đó là nhờ sư đoàn kết của toàn dân.

        Lần thứ III: Năm 1287, vua Nguyên lại sai Thoat Hoan và các chiến tướng là A Bát Sích, A Lỗ Sích, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem 30 vạn quân sang đánh phục thù.. Lại với chiến thuật vừa đánh, vừa lui, vườn không, nhà trống của Trần Hưng Đạo, quân ta lui dần về Vạn Kiếp rồi Thanh Hóa để giữ nguyên chủ lưc. Thoát Hoan vây thành Thăng Long nhưng đánh mãi không được vì sự kháng cự dũng cảm của quân dân ta, phải lui về Vạn Kiếp.

        Vua Trần Nhân Tông sai Trần Khánh Dư chặn đánh Ô Mã Nhi đi đón lương thực tại cửa bể Đại Nguyên, Hải Dương nhưng quân ta bị thua. Vua Nhân Tông muốn trị tội Khánh Dư nhưng Trần Khánh Dư xin dược đánh lại để lập công, chuộc tội. Trần Khánh Dư bèn nhặt nhạnh hết các thuyền bè, rồi phục kích đội thuyền lương của Trương Văn Hổ cướp được hết các thuyền lương của giặc. Thấy mất hết lương thực, và lại đánh mãi không được, các tướng Nguyên nản chí, khuyên Thoát Hoan nên rút lui. Thoát Hoan thấy không thể thắng được nên đồng ý rút lui, bèn sai Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dẫn quân theo đường sông Bạch Đằng về trước. Hưng Đạo Vương sai Phàn Khoái đặt trận cọc trên sông Bạch Đằng, phục kích. Quân Nguyên bị đại bại. Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi bị bắt. Thoát Hoan sợ quá, chạy đến ải Nội Bàng thì lại bị tướng Phạm Ngũ Lão phục kích, quân Nguyên bị giết quá nửa, phải tháo chạy về Tàu.

        Trong kỳ chiến đấu này, có lúc thật nguy cơ, nên vua Trần Nhân Tông phải dùng kế mỹ nhân, hiến con gái cưng là An Tư công chúa cho Thoát Hoan để mê hoặc và làm nhụt chí chiến đấu của Thoát Hoan. Lúc hai bên giao chiến tại Thăng Long, An Tư công chúa đã đã thùa dịp đốt kho đạn của quân Nguyên khiến quân giặc khiếp sợ và công chúa đã hy sinh trong khói lửa. Thật anh dũng thay.

        Nhà Trần đã 3 lần đánh tan quân Nguyên, một đoàn quân bách thắng từ Âu sang Á. là nhờ sự đoàn kết của toàn dân và sự lãnh đạo tài giỏi của Hưng Dạo Vương. Thật là một trang sử oai hùng của dân tộc, đáng ghi nhớ đời đời.

     Cuộc khởi nghĩa của Giản Định Đế:

        Nhà Trần mất về nhà Hồ. Tướng nhà Minh là Mộc Thạch được lệnh sang đánh nước ta.

        Năm 1407, Giản Định Vương, con của Trần Nghệ Tông, được các tướng Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân phò tá, đã đứng lên đánh đuổi dược Mộc Thạch về đến huyện Y Yên và chém được tướng Từ Nghi. Về sau Giản Định Vương nghe lời xúi xiểm của đám hoạn quan cận thần, giết chết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Các con của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bèn bỏ Giản Định Vương về phò Trần Qúi Khách. Trần Qúi Khách và Giản Định Vương lại hợp tác với nhau đánh đuổi đuợc Mộc Thạch về nước.

        Vua nhà Minh lai sai Trương phụ sang đánh. Quân ta thua, Trần Qúi Khách, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đều bị bắt giải sang Tàu nhưng cả ba người vì tiết tháo đã nhảy xuống biển tự tử.

     Cuộc Khởi Nghĩa của Lê Lợi:

        Năm 1418, ông Lê Lơi, quê ở Lam Sơn, Thanh Hóa, cùng Lê Thạch và Lê Liễu khởi binh tại Lam Sơn xưng là Bình Định Vương rồi truyền hịch đi khắp nơi kể tội ác của quân Minh và hô hào toàn dân nổi dậy.Dân ta bị áp bức đã lâu, nên mọi người ùn ùn theo về dưới trướng Bình Định Vương.

        Lúc đầu, vì quân ít, lại thiếu lương thực, quân ta thua nhiều trận, phải rút về núi Chí Linh 3 lần. Có  một lần, Lê Lợi bị vây hãm quá nguy kịch tưởng không thoát khỏi bại vong thì được Lê Lai liều mình giả mạo cứu chúa. Về sau Lê Lợi được Nguyễn Trãi theo phò, dâng kế sách bình Ngô. Nguyễn Trãi là con ông bảng nhỡn Nguyễn Phi Khanh, làm quan đời nhà Hồ. Khi cha con Hồ Qúi Ly bị nhà Minh đánh bại và bị bắt sang Tàu, ông Nguyễn Phi Khanh có đi theo Nguyễn Trãi đi theo cha khóc lóc. Ông Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi: (Con phải trở về nhà mà luyện chí trả thù cho cha và rửa nhục cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì). Từ đó Nguyễn Trãi về nuôi chí, soạn thảo ra kế sách diệt giặc. Vua Lê Lợi nghe theo kế  của Nguyễn Trãi vây thành Tây Đô, quân ta đánh bại Vương Thông tại Tụy Động, giết 5 vạn quân và bắt sống 1 vạn quân Tàu, khiến Vương Thông phải rút quân về thành Đông Quan. Tại thành Đông Quan, quân Vương Thông thua mãi, phải xin hàng và hứa sẽ rút hết quân về nước. Lúc bấy giờ có mấy viên quan người Việt phản quốc, phò Vương Thông, xúi Vương Thông không nên hàng vì sợ bị giết, nên Vương Thông nuốt lời hứa, sai người mang thư về Tàu xin vua Minh cho quân sang cứu viện. Vua Minh sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân sang giúp Vương Thông. Theo kế của Nguyễn Trai, vua Lê Lợi sai quân đánh phá khắp nơi để làm hoang mang quân giặc. Liễu Thăng vì kiêu căng, không nghe lời khuyên của quân tướng nên bị dụ vào một vùng bùn lầy, bị chém chết tại trận. Quân ta thừa thắng chém giết vô số quân Tàu. Vương Thông thấy quân cứu viện đã thua nên xin hàng và rút hết quân về nước.

        Sau 10 năm chiến đấu gian khổ, quân ta toàn thắng. Lê Lợi lên làm vua, đặt tên nước là Đại Việt, mở đầu cho một thời kỳ độc lập lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam.

Vua Quang Trung đại phá quân Thanh:

        Tổ tiên anh em Tây Sơn họ Hồ quê ở Nghệ An. Vào khoảng các năm 1653-1657, quân nhà Nguyễn đánh ra đàng ngoài, chiếm được 7 huyện thuộc trấn Nghệ An. Khi rút quân về, nhà Nguyễn có mang theo nhiều người, trong đó có ông tổ của Tây Sơn, vào lập nghiệp tại Hoài Nhân, Bình Định. Ông tổ của Tây Sơn đổi họ Hồ sang họ Nguyễn.

        Đời chúa Nguyễn Phúc Thuần, Trương Phúc Loan chuyên quyền, tác oai, tác quái, lòng dân căm ghét, giăc giã khăp nơi,.Anh em Tây Sơn dựng trại khởi nghĩa, chiếm được Quy Nhơn rồi Phú Yên. Nguyễn Nhạc xưng làm Tây Sơn Vương rồi Thái Đức Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Huệ làm Long Nhượng Tướng Quân rồi Bắc Bình Vương chấn thủ miền Thuận Hóa.

        Năm 1786, Bắc Bình Vương ra Thăng Long diệt Trinh, phò Lê và lấy con gái vua Lê Hiển Tông là Ngọc Hân công chúa.Khi vua Lê Hiển Tông mất, Bắc Bình Vương lập Lê Chiêu Thống lên làm vua theo ý kiến của triều thần ngoài Bắc. Nguyễn Nhạc sợ Nguyễn Huệ lấn quyền nên đích thân ra Bắc đón Nguyễn Huệ về. Sau khi Bắc Bình Vương rút quân về thì Trịnh Bồng lại trở về và lấn áp vua Lê như cũ. Nguyễn Huệ sai Nguyễn Hữu Chỉnh ra dẹp bỏ Trịnh Bồng nhưng rồi Chỉnh lại chuyên quyền, lấn áp vua Lê. Bắc Bình Vương lai sai Vũ Văn Nhậm ra dẹp Chỉnh nhưng rồi Nhậm lại theo vết xe cũ của Chỉnh. Bắc Bình Vương lại đích thân ra Bắc giết Nhậm, rồi để Ngô văn Sở, Phan Huy Ich và Ngô Thời Nhiệm ở lại lo toan mọi việc còn ngài  rút quân về miền trong vì còn nhiều việc phải lo.

         Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống và bà Hoàng Thái Hậu cùng một số quan lại thủ cựu chạy sang Tàu cầu cứu vua nhà Thanh. Vua Càn Long nhà Thanh đã rình rập nước ta từ lâu, nên sai Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nhi Đống và Hứa Thế Hanh đem 30 vạn quân sang đánh nước ta lấy cớ là để phù Lê. Vào thời bấy giờ, quan lại và dân chúng ngoài Bắc vẫn coi nhà Tây Sơn là đám giăc cỏ cướp nước, nên mọi người rất thờ ơ, không ai nghĩ đến việc chống giặc, thậm chí còn đón bắt hay chỉ điểm cho quân Tàu đón bắt quân ta. Tôn Sĩ Nghị tiến quân vào Thăng Long không chút kháng cự nên rất kiêu căng và để quân sĩ tự do cướp bóc.

         Ngô Văn Sở ở Thăng Long, nghe lời cố vấn của Ngô Thời Nhiệm rút quân về Tam Hiệp (ranh giới Ninh Bình và Thanh Hóa), rồi sai người về Phú Xuân cấp báo.

         Ngày 22 tháng giêng âm lịch năm 1788, Nguyễn Huệ xưng lam Quang Trung Hoàng Đế, rồi tự mình thống lãnh thủy bộ đại binh ra Bắc dẹp giặc. Vua truyền cho quân sĩ ăn tết trước rồi đến đêm trừ tịch thì cất quân đi. Ngài dùng cách, cứ 3 người làm một tổ, thay nhau khiêng võng để quân sĩ đỡ mệt nhọc và di chuyển quân nhanh hơn. Nửa đêm ngày 3 tháng giêng năm 1789, quân Tây Sơn vây kín làng Hà Hồi, bắt hết quân giặc không cho một tên nào chạy thoát để giữ bí mật. Sáng ngày 5 tháng giêng thì quân ta tiến đánh làng Ngọc Hồi, giết quân Thanh thây nằm ngổn ngang, Đề Đốc Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long và tả dực Thượng Duy Thăng đều tử trận. Sầm Nghi Đống đóng quân ở Đống Đa (cạnh Thái Hà Âp, Hà Nội), bị vây phải thắt cổ tự tử. Tôn Sĩ Nghị sợ quá, phải bỏ cả ấn tín, chạy thuc mạng qua sông Bắc. Quân Tàu quá khiếp sợ, ùn ùn chạy theo qua cầu, cầu sâp, quân Tàu chết kín cả sông Nhị Hà.

         Vua Quang Trung vào Thăng Long, hạ lệnh chiêu an, cấm ngặt quân tướng không được cướp phá dân chúng. Vua còn cấp quần áo, lương thực cho đám quân Thanh bị bắt rồi đưa về nước.Vua lại sai Ngô Thời Nhiệm viết thư sang xin hòa với nhà Thanh để tránh việc trả thù. Tuy vậy, nua Càn Long nhà Thanh vẫn sai Phúc An Khang đem quân sang đánh báo thù. Phúc An Khang, khi đến Quảng Tây, nghe tiếng quân Nam dũng mãnh quá nên sợ. Vua Quang Trung còn sai người đút lót cho Hòa Thân nhà Thanh nói giúp. Cuối cùng, vua nhà Thanh thấy đánh cũng bất lợi, nên đồng ý cho hòa.

         Vua Quang Trung chỉ một trận, đã anh dũng phá tan 20 vạn hùng binh của quân Thanh, tưởng chưa có một chiến công nào lẫy lừng như thế từ xưa đến nay.

         Vua Quang Trung cầu hòa với nhà Thanh cốy ý để có thời gian xây dựng lại đất nước, tích trữ lương thảo, tổ chức một quân đội thật hùng mạnh, chờ dịp đem quân đánh nước Tàu. Vua còn dùng giặc Tàu Ô quấy nhiễu miền biên giới Tàu, thu dùng các người thuộc đảng Thiên Địa Hội, một đảng phù nhà Minh, chống nhà Thanh.

         Năm 1792, để thử lòng vua Càn Long, vua Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn với công chúa nhà Thanh và đòi lại đất Lưỡnh Quảng cho Việt Nam.Hận thay, mộng chưa thành, vua Quang Trung thình lình băng hà, lúc đó mới 40 tuổi. Các quan dìm việc cầu hôn và đòi đất, không cho nhà Thanh biết. Vua Quang Trung mất sớm, thật là một mất mát to lớn cho dân tộc Việt Nam.

         Nhìn lại lịch sử, chúng ta nhận thấy là nước Tàu, cậy to lớn, luôn luôn rình dập, chờ cơ hội để xâm lấn nước ta. Khi nào họ thấy nước mình chia rẽ, yếu kém là họ thừa cơ lấm đất, xâm lăng.

        Có một số người dân ta, vì lòng ích kỷ, đặt quyền lợi cá nhân, phe phái trên quyền lợi dân tộc, tổ quốc nên đã mù quáng không cảnh giác, lại còn cầu cứu giặc đến cướp phá nước ta.

        Một số quan lại trí thức thì hủ lậu, chỉ biết nhắm mắt theo sách vở học được của Tàu, khư khư phò một giòng vua dù các vua đó hèn kém, chỉ biết ăn chơi, phá hoại công quỹ, đầy ải nhân dân. Dân ta chỉ khi nào bị đầy ải cướp bóc, không còn lối thoát, mới biết đoàn kết đứng lên chống giặc. Đến khi đó thì nhà đã tan, cửa đã nát, tài nguyên quốc gia đã kiệt quệ.

        Gần đây, đảng công sản Việt Nam đã cam tâm dâng cả một phần đất và lãnh hải mà tiền nhân đã đổ bao nhiêu xương máu để gây dựng, cho giặc Tàu.

         Chúng:
CSVN là đám tội đồ của dân tộc.

BS Nguyễn Văn Hiền

Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc



- Sau 40 năm nếu tính từ thời gian hải quân Trung Cộng tấn chiếm Hoàng Sa và 56 năm kể từ khi Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, lần đầu tiên lãnh đạo CSVN chính thức phủ nhận công hàm. Bao nhiêu lần lập đi lập lại câu thần chú “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý vững chắc về chủ quyền đối với Hoàng Sa” nhưng giới lãnh đạo CSVN không hề nhắc đến công hàm, tưởng chừng như văn bản đó không phải là của họ. Thứ Sáu 23-5-2014, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Biên Giới Quốc Gia, trong cuộc họp báo với mục đích “làm rõ công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng” đã đưa ra các lý luận để phản bác các quan điểm của Trung Cộng.



Điều kiện quốc tế dẫn tới công hàm Phạm Văn Đồng



Trước 1958, Trung Cộng không có một quan điểm rõ ràng nào về lãnh hải. Nhà văn Trung Quốc Wei Wen-han nghiên cứu về lãnh hải nhắc lại cho đến tháng Sáu 1957 Trung Cộng vẫn chưa có một xác định nào về hải phận và thềm lục địa thuộc về Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Tháng 12 năm 1957, Nam Dương tuyên bố mở rộng lãnh hải từ 3 hải lý theo truyền thống mà hầu hết các quốc gia áp dụng sang 12 hải lý và được tính từ điểm ngoài cùng của các đảo thuộc lãnh thổ Nam Dương. Vì Nam Dương là quốc gia quần đảo, nếu tính như vậy, một vùng biển rộng lớn của vùng Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều thuộc quyền kiểm soát của Nam Dương. Anh, Hòa Lan và nhiều quốc gia khác cùng lên tiếng phản đối. Trung Cộng chụp lấy thời cơ binh vực Nam Dương và ngày 4 tháng 9 năm 1958 công bố riêng một Bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc (Declaration on China's Territorial Sea) với các điểm chính như mọi người đều biết: “Bề rộng của lãnh hải Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa sẽ là 12 hải lý”“áp dụng tương tự đối với Đài Loan và các đảo chung quanh, Quần đảo Bành Hồ (Penghu), Quần đảo Trung Sa (Tungsha), Quần đảo Tây Sa (Hsisha), Quần đảo Chungsha, Quần đảo Nansha (Nam Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc”



Công tâm mà nói, bản tuyên bố của Trung Cộng trong thời điểm đó nhắm vào Mỹ đang bảo vệ các tàu hàng Đài Loan trong các vùng đảo Kim Môn, Mã Tổ, Bành Hồ hơn là các nước Đông Nam Á. Người soạn thảo bản tuyên bố của Trung Cộng áp dụng phương pháp tính lãnh hải của Nam Dương và có tầm nhìn Đại Hán nên đã đưa các đảo Tây Sa (Hsisha) tức Hoàng Sa và Nam Sa (Nansha) tức Trường Sa trong vùng biển Đông vào. Chính phủ Mỹ tức khắc bác bỏ bản tuyên bố của Trung Cộng và các chiến hạm Mỹ vẫn tiếp tục bảo vệ an ninh cho các tàu hàng Đài Loan trong vùng 3 hải lý của đảo Kim Môn, Bành Hồ chung quanh Đài Loan. Trung Cộng không dám bắn. Bộ quốc phòng Mỹ đã lên kế hoạch tấn công Trung Cộng bằng bom nguyên tử. Để giữ thể diện, Bành Đức Hoài tuyên bố ngưng bắn vào Kim Môn nếu tàu chiến Mỹ ngưng bảo vệ tàu hàng Đài Loan. Mỹ chẳng những không đáp lại đòi hỏi của Trung Cộng mà còn gởi Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles thăm Đài Loan để bàn kế hoạch phòng thủ Đài Loan lâu dài.



Hai lý do Trần Duy Hải dùng để bác bỏ công hàm Phạm Văn Đồng



Thứ nhất. Công hàm Phạm Văn Đồng “hoàn toàn không đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”



Lý luận này không thuyết phục được ai. Không cần phải đứng về phía Trung Cộng mà chỉ một người có chút hiểu biết và dù đứng về phía Việt Nam cũng phản bác lại dễ dàng. Đưa ra lý do không đề cập đến Hoàng Sa, Trường Sa là một cách tự kết án mình. Bản tuyên bố của phía Trung Cộng ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Cộng và Việt Nam đáp lại bằng cách “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố”. CSVN có nhiều cách để lấy lòng đàn anh Trung Cộng mà vẫn giữ được chủ quyền đất nước. Chẳng hạn, Phạm Văn Đồng chỉ nhấn mạnh đến sự ủng hộ của đảng và nhà nước CSVN đối với các chính sách của Trung Cộng trong xung đột Đài Loan mà không nhắc nhở gì đến Hoàng Sa, Trường Sa và coi như không biết đến “Bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc”. May ra còn có thể cãi cọ được. Tiếc thay, lãnh đạo đảng sợ viết như vậy chưa vừa lòng đàn anh và chưa tỏ bày hết lòng dạ trung kiên, cắt cỏ ngậm vành của mình.



Không giống thái độ của các nước Mỹ, Anh, Hòa Lan, CSVN tự nguyện đưa cổ vào tròng. Không có một văn bản nào cho thấy Trung Cộng áp lực Việt Nam phải đồng ý với bản tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng. Không có tài liệu nào cho thấy Trung Cộng đe dọa nếu CSVN không ủng hộ sẽ đưa quân sang “dạy cho một bài học” hay cắt đứt viện trợ. Thời điểm năm 1958 vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa chưa phải là mối bận tâm hàng đầu của Trung Cộng, tuy nhiên những người soạn thảo bản công bố chủ quyền biển của Trung Cộng đã biết phòng xa. CSVN thì không. Nếu sự kiện được trình lên toàn án quốc tế, không một quan tòa nào sơ đẳng đến mức đánh giá hai văn bản một cách độc lập với nhau. 



Phân tích để thấy, lãnh đạo CSVN trong lúc phủ nhận giá trị của công hàm Phạm Văn Đồng trước dư luận quốc tế, cũng đồng thời thừa nhận trước nhân dân Việt Nam công hàm Phạm Văn Đồng là công hàm bán nước.



Lý do thứ hai cũng do Trần Duy Hải đưa ra “Hoàng Sa và Trường Sa cũng phù hợp với thực tế lúc đó hai quần đảo này nằm dưới vĩ tuyến 17 thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa”.



Trong hai lý do, chỉ có lý do Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là có sức thuyết phục về mặt pháp lý cũng như gây được cảm tình của thế giới tự do. Tuyên cáo của chính phủ VNCH công bố ngày 14 tháng Hai năm 1974 xác định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như Bạch thư của Bộ Ngoại Giao VNCH đầu năm 1975 đanh thép bác bỏ giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng không thể công nhận những gì không thuộc lãnh thổ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. VNCH là một quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về VNCH đã được quốc tế công nhận. Tuy nhiên, lý luận VNCH có gây được cảm tình nhân loại và có thể dùng để tranh luận trong bàn hội nghị cũng chưa thắng được bởi vì VNCH không còn là một thực thể chính trị.



Phản bác của nhà nghiên cứu Trung Quốc 



Ngô Viễn Phú, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam và từng du học tại Việt Nam đã bác bỏ các luận điểm của CSVN. Ngô Viễn Phú cho rằng “Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Quốc, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh).



Đàn anh Cộng Sản Trung Quốc công nhận đàn em CSVN là chuyện đương nhiên và thể theo lời yêu cầu của CSVN chứ không phải của VNCH. Quan hệ ngoại giao giữa hai nước thay đổi theo từng thời kỳ. Singapore là một nước nhỏ nhưng mãi đến 1990 mới công nhận Trung Cộng. Liên Xô là một nước lớn nhưng Mỹ bắt chờ 16 năm sau cách mạng CS Nga mới công nhận Liên Xô. Thời điểm 1933 Nhật bắt đầu bành trướng ở phương Đông nên Mỹ cần làm dịu căng thẳng ở phương Tây, nếu không Tổng thống Franklin Roosevelt còn cô lập Liên Xô thêm nhiều năm nữa.



Việc “Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam” cũng chỉ giá trị giữa miền Bắc CS và Trung Cộng không ảnh hưởng gì với quốc tế và không liên hệ gì đến nước thứ ba, trong trường hợp này là VNCH. Trung Cộng có quyền công nhận miền Bắc Cộng Sản và không công nhận VNCH về mặt ngoại giao nhưng vẫn phải thừa nhận VNCH là một quốc gia độc lập được quốc tế và các quốc gia tham dự hội nghị Geneva, trong đó có Trung Cộng tham dự và ký kết.



Trong khi phản bác Ngô Viễn Phú lại cũng dựa trên lý luận CSVN đã xâm lược VNCH và không có quyền “thừa kế” lãnh thổ của nước bị chiếm: “Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là “bên thứ ba ở ngoài không liên quan”, như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là “bù nhìn” hay “chính quyền ngụy” chỉ là cách gọi càn, và việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.”



Về mặt công pháp quốc tế cũng như cả lãnh đạo CSVN lẫn phe phản bác lý luận của CSVN đều công nhận rằng chủ nhân thật sự của Hoàng Sa vẫn là VNCH. Do đó, điều kiện tiên quyết, chọn lựa duy nhất và con đường thích hợp nhất không chỉ để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Công mà mở đường cho tự do, dân chủ và thịnh vượng là tập trung vào công cuộc phục hưng VNCH.



Lối thoát VNCH



Đọc tới đây, một số độc giả có thể sẽ dừng lại vì cho người viết không tưởng, hư cấu hay chủ trương đi lại một vết xe đổ. Không. Phục hưng VNCH không phải là đi lùi vào quá khứ mà hướng tới tương lai, không phải lập lại mà thăng tiến cao hơn. VNCH không phải là vết nhăn trên trán của thế hệ cha chú đã qua mà là hành trang và ước vọng của tuổi trẻ ngày nay. Chủ nghĩa CS mới thật sự là lạc hậu và việc cáo chung của chủ nghĩa này chỉ là vấn đề thời gian. Thác nước Niagara không thể nào chảy ngược. Không phải người viết, phần đông độc giả mà ngay cả các lãnh đạo CSVN cũng không thể chối cãi sự thật đó. Chủ nghĩa CS còn kéo dài ở Á Châu cho đến hôm nay là nhờ họ biết núp bóng sau tấm bình phong chống thực dân đế quốc. Tấm bình phong do họ dựng lên đang rã mục. Năm 1954 tại miền Bắc, nhiều người thật sự tin rằng đảng CS và dân tộc Việt Nam là một, như nước với sữa, như máu với thịt, hay như Hồ Chí Minh nói “đảng là con nòi của dân tộc”. Năm 1975, khi đối diện với miền Nam từ lối sống đến phương tiện hoàn toàn khác với những gì bộ máy tuyên truyền CS đã thêu dệt nhiều người bắt đầu nhận ra đảng đã lợi dụng máu xương của những người ngã xuống vì khát vọng hòa bình, vì mơ ước đoàn viên, vì cơm no áo ấm chỉ để CS hóa toàn đất nước. Và hôm nay, 2014, đông đảo nhân dân Việt Nam đã hiểu rõ cơ chế độc tài là trở lực duy nhất trên con đường dẫn đến một Việt Nam tự do, dân chủ, văn minh. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và triệt để tại Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian.



Và khi đó, thể chế nào khác sẽ thay thế chế độ CS nếu không phải là thể chế cộng hòa? Thực tế chính trị rất hiển nhiên đó đang là một khải hoàn ca tại hầu hết các quốc gia cựu Cộng Sản như Cộng hòa Czech, Cộng hòa Hungary, Cộng hòa Ba Lan, Cộng hòa Lithuania, Cộng hòa Estonia, Cộng hòa Mông Cổ v.v... Tiến trình dân chủ hóa diễn ra nhanh hay chậm tùy theo điều kiện của mỗi nước nhưng là hướng phát triển của văn minh nhân loại trong thời đại này.



Giá trị của VNCH



Trong suốt 60 năm từ 1954, bộ máy tuyên truyền của đảng đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. Suốt 60 năm qua, VNCH là hiện thân của thứ tội ác. Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ đều được dạy để biết VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.



Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas 8 năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.



Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Chẳng những có mà còn vô cùng trầm trọng.


Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có, không chỉ đàn áp một lần mà nhiều lần, không chỉ một năm mà nhiều năm.



Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có, không chỉ 300 triệu dollars “viện trợ đặc biệt” như nhiều người hay nhắc mà nhiều tỉ đô la.



Vâng, tất cả điều đó đều có. Chế độ cộng hòa tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hòa hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi. Miền Nam có tất cả sắc thái của một xã hội dân chủ đang từng bước đi lên. Dân chủ không phải là lô độc đắc giúp một người trở nên giàu sang trong một sớm một chiều mà là quá trình tích lũy vốn liếng từ những chắt chiu của mẹ, tần tảo của cha, thăng trầm và thử thách của cả dân tộc.



Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nam Hàn cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.



Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”



Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.



Phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền. Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 39 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến. Công nhận các giá trị được đề ra trong hiến pháp VNCH không có nghĩa là đầu hàng, chiêu hồi. Không. Không ai có quyền chiêu hồi ai hay kêu gọi ai đầu hàng. Đây là cuộc chiến mới, cuộc chiến giữa dân tộc và phản dân tộc, giữa cộng hòa và cộng sản, giữa tự do và độc tài, giữa nhân bản và toàn trị. Mỗi người Việt sẽ chọn một chỗ đứng cho chính mình phù hợp với quyền lợi bản thân, gia đình, con cháu và sự sống còn của dân tộc.



Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi 1954 mà đã có từ hàng trăm năm trước.



Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hòa sau này. Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt của nhiều người. Đó không phải là tài sản của riêng miền Nam mà của tất cả những người Việt cùng ôm ấp một ước mơ dân chủ. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, tháo gỡ lớp màn “căm thù Mỹ Ngụy” ra khỏi nhận thức, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Không cần phải tìm giải pháp từ Miến Điện, Nam Phi, Ai Cập, Libya hay tìm chân lý ở Anh, ở Mỹ mà ngay ở đây, giữa lòng đất nước Việt Nam.



Phục hưng VNCH không có nghĩa là phủ nhận công lao của những người đã hy sinh trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Như kẻ viết bài này đã nhấn mạnh nhiều lần, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Việc tham gia vào đảng phái, kể cả việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập nhưng đối với đảng CS chiếc phao lại chính là dân tộc.



Nhiều người yêu nước chọn tham gia vào đảng CS nhưng bản thân đảng CS như một tổ chức chính trị dựa trên ý thức hệ CS chưa bao giờ là một đảng yêu nước. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Dù sao, người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, tổ quốc sẽ ghi công họ một cách công bằng.



Phục hưng VNCH không có nghĩa là tái thực thi hiệp định Paris. Dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất và tất cả các hòa ước Patenôtre, hiệp định Geneva hay hiệp định Paris đều là những chiếc còng của thực dân và đế quốc áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam yếu kém và phân hóa. Trước 1975, trong đáy lòng của bất cứ một người Việt yêu nước nào cũng mong một ngày dân tộc Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau sẽ được đoàn viên trong tự do, dân chủ và thịnh vượng. Tuy nhiên, ngoài trừ lãnh đạo CSVN chủ trương CS hóa toàn cõi Việt Nam bằng súng đạn của Nga, Tàu, không ai muốn đoàn viên phải trả bằng giá của nhiều triệu sinh mạng người dân vô tội, đốt cháy một phần đất nước, để lại một gia tài nghèo nàn lạc hậu cho con cháu. Hôm nay, dù không tự mình chọn lựa, dân tộc Việt Nam cũng đã là một và không có một thế lực nào làm Việt Nam phân ly lần nữa.



Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật. Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên. Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới trong đó người dân gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào thân thương và trìu mến. Đối mặt với một kẻ thù đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay. Đảng CS có 3 triệu đảng viên nhưng đa số trong số 3 triệu người này trong thực tế cũng chỉ là nạn nhân của một tập đoàn lãnh đạo đảng tham quyền và bán nước. Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.



Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.



Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 39 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên. Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người lãnh đạo được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước. Như người viết đã trình bày trong bài trước, rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.



Sau hải chiến Hoàng Sa đầy hy sinh xương máu, VNCH lần nữa lại được lịch sử giao trọng trách đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa trong tay Trung Cộng. Cuộc tranh đấu mới sẽ khó khăn nhưng là con đường đúng nhất của dân tộc trong cùng hướng phát triển của nhân loại. Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS. Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua những khó khăn để phát triển thành một quốc gia hiện đại về cả kinh tế lẫn quốc phòng. Các nhà lãnh đạo VNCH trong cuộc đấu tranh mới trên mặt trận ngoại giao sẽ hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước VNCH thống nhất, dân chủ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới. Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.




Trần Trung Đạo

Bài Xem Nhiều