We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 10 May 2014

Chết con rồi mẹ du kích : KHI TRUNG QUỐC ĐÒI NỢ

Chuyện giàn khoan HD 981
Nị có nghe ngộ nói chưa.?  Nị nói với các đồng chí rút máu ít ngày thôi lẹ lẹ lên, Dân tôi la lối ôm sồm lên ... nghe nói đòi biểu tình 11.5.2014

-------
KHI TRUNG QUỐC ĐÒI NỢ 

Ngày 19.4.2014 Trung Quốc ra lệnh tịch thu tàu vận tải Baosteel Emotion – là tàu chuyên chở quặng sắt thuộc hãng Mitsui O.S.K. Line Ltd của Nhật - để trừ số nợ chưa trả từ năm 1936, lúc nước Nhật đang chiếm đóng Trung Quốc.
Sự việc trên bắt đầu năm 1936 khi hãng vận tải hàng hải Daido, tiền thân của Mitsui O.S.K. Line Ltd ngày nay, ký hợp đồng với hãng tàu Zhongwei của Trung Quốc để thuê hai chiếc tàu trong thời hạn một năm. Nhưng sau đó thì chiến tranh xảy ra và tàu biển trên bị Hải quân Thiên hoàng Nhật trưng dụng, sau đó bị đánh chìm.
Mấy năm trước con cháu của chủ nhân hãng Zhongwei đệ đơn ra toà án Trung Quốc, đòi hãng Mitsui bồi thường. Năm 2007 một tòa án ở Thượng Hải ra lệnh cho Mitsui phải bồi thường số tiền khoảng 28 triệu Mỹ kim. Mitsui liền kháng án, lập luận rằng yêu cầu đòi bồi thường là không thoả đáng vì tàu thuê đã bị quân đội Nhật trưng dụng. Tháng 12.2012, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc bác bỏ lý lẽ này và không thụ lý đơn kháng án.
Mới đây, ngày 19.4.2014, giữa lúc tàu chở hàng Baosteel Emotion của công ty vận tải Mitsui O.S.K. bỏ neo tại Thượng Hải trong một chuyến chở hàng, Tòa án Hàng hải Thượng Hải ra án lệnh tịch thu tàu chở hàng nhằm “thực thi phán quyết” đã công bố vào tháng 12.2007. Toà án này nêu rõ: Chiếc tàu bị tịch thu sẽ được giải quyết theo luật nếu Mitsui O.S.K. vẫn tiếp tục từ chối nghĩa vụ của mình”.
Ngày 21.4, Bộ trưởng phủ thủ tướng Nhật, ông Yoshihide Suga bày tỏ rằng hành động này khiến Nhật cực kỳ lo ngại và mong mỏi là Trung Quốc cần có những biện pháp hợp lý. Theo ông thì vụ tịch thu kể trên đã vi phạm thông cáo chung năm 1972 về việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, theo đó Trung Quốc đồng ý từ bỏ “yêu cầu Nhật đền bù thiệt hại chiến tranh”, và do đó trực tiếp đe dọa các công ty Nhật đang làm ăn tại Trung Quốc.
Người Việt Nam cũng có lý do để quan ngại trước vụ đòi nợ này vì rất nhiều “siêu dự án” đang xây dựng với vốn và kỹ thuật của Trung Quồc và đặc điểm chung là dự án nào cũng… không hiệu quả, lỗ lã triền miên.
Vay vốn Trung Quốc nhưng không sinh lợi thì hậu quả là sẽ nợ đầm đìa, lúc đó ông chủ nợ thực dân này sẽ hành xử như thế nào với Việt Nam?
Chúng ta hãy nhìn lại các vụ đòi nợ kiểu này trong lịch sử.
 
Đòi nợ kiểu thực dân
Đáng chú ý nhất là các vụ đòi nợ tại Châu Mỹ La-Tinh Giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 nền kinh tế của vùng đất này trở nên bi đát với cảnh các quốc gia nối tiếp nhau phá sản. Vì vay những món nợ với lãi suất khá cao từ Âu Châu trong khi tình hình chính trị luôn mất ổn định, họ mất hẳn khả năng hoàn trả, dẫn đến cảnh đòi nợ rất ư là... thực dân.
Tháng Bảy năm 1861, vì công khố hết tiền, Tổng thống Mexico là Benito Juarez quyết định ngưng trả lãi đối với các khoản vay nước ngoài và lập tức các nước chủ nợ như Tây Ban Nha, Pháp và Anh nổi giận. Hoàng đế Pháp Napoleon Đệ Tam kêu gọi các nước chủ nợ khác cùng phối hợp để đòi tiền. Thế là liên minh đòi nợ Anh – Pháp – Tây Ban Nha ra đời với Hiệp ước London ký ngày 31.10.1861, theo đó các bên tham gia sẽ có “những biện pháp cần thiết” để buộc Mexico phải trả nợ.
Ngày 8.12.1861 các tàu chiến Tây Ban Nha từ Cuba - lúc đó là thuộc địa của Tây Ban Nha - đưa liên quân ba nước đổ bộ vào Veracruz, hải cảng chính của Mexico. Đóng quân tại đây mấy tháng trời để gây sức ép nhưng Mexico làm sao có thể trả nợ khi đã sạch tiền trong công khố. Tuy nhiên giữa lúc này thì Anh và Tây Ban Nha mới hay rằng đồng minh Pháp đang không thực tâm đến đây để đòi nợ mà muốn chiếm luôn Mexico.
Không dại dột “cầm c… cho Pháp đái”, hai chủ nợ kia rút lui để Pháp ở lại một mình nhưng rồi chính quyền thực dân của chủ nợ Pháp tại Mexico không thọ lâu. Năm 1867, Benito Juarez, một người da đỏ Zapotec đã đánh đuổi người Pháp và khôi phục nền cộng hòa, trở thành tổng thống da đỏ đầu tiên của México và được đánh giá là vị tổng thống vĩ đại nhất của México trong thế kỷ 19.
Nổi tiếng nhất trong lịch sử các vụ đòi nợ quốc thế là vụ khủng hoảng Venezuela trong hai năm 1902–03, lúc Mỹ đang cố gắng xây dựng hải quân để bành truớng sức mạnh trên biển, chống lại sự thống trị của Âu châu.
Vụ khủng hoảng diễn ra giữa lúc ông Theodore Roosevelt là tổng thống của Mỹ, là người đã ra lệnh Bạch Đại Hạm đội (Great White Fleet) đi vòng quanh trái đất đến thăm từng quốc gia có bờ biển trong đó có Việt Nam, còn là thuộc địa Pháp. Hạm đội gồm có 16 thiết giáp hạm được chia thành bốn hải đoàn cùng với nhiều loại chiến hạm hỗ trợ khác nhau đã tỏa ra đi khắp thế giới từ ngày 16.12.1907 đến ngày 22.2.1909 đển chứng tỏ với cả thế giới rằng sức mạnh quân sự Mỹ đang phát triển và khả năng hoạt động tại vùng biển sâu của Hải quân Mỹ.
Phái hải quân đi đòi nợ
Sau khi giành được quyền bính trong tay vào năm 1899 trong cuộc nội chiến mang tên Cách mạng Khôi phục Tự do, tướng Cipriano Castro trở thành tổng thống Venezuela. Để thỏa mãn lực lượng ủng hộ mình trong cuộc nội chiến, ông hạ lệnh xù nợ Âu châu, cũng như không đền bù thiệt hại tàn sản của người ngoại quốc đã bị cướp bóc hay tàn phá trong cuộc nội chiến.
Việc này khiến các nước Đức, Anh và Ý phải phái hải quân xuất hành đi đòi nợ. Tháng 12 năm 1902 ba nước liên minh Anh, Đức, Ý đưa chiến hạm đến phong tỏa các hải cảng biển của Venezuela và ngay sau vài trận chạm trán, lực lượng hải quân yếu ớt của Venezuela bị vô hiệu hóa, nhiều tàu chiến bị tịch thu.
Tuy nhiên ông Castro vẫn không chấp nhận các điều kiện trả nợ và bồi thường do các nước châu Âu đưa ra và yêu cầu phải đưa ra tòa án quốc tế phân xử. Ba nước chủ nợ phản ứng mạnh bằng cách cho hải quân bắn chìm 2 tàu Venezuela và oanh kích vào bờ biển.
Việc này khiến Mỹ lo ngại sẽ có những hành vi can thiệp tương tự từ châu Âu, nên Tổng thống Theodore Roosevelt đã gây sức ép, buộc ba nước chủ nợ phải xuống thang. Đồng thời ông ta lên tiếng khẳng định quyền can thiệp của Mỹ để “ổn định” tình hình kinh tế của các nước nhỏ ở Caribebean và Trung Mỹ nếu các nước này không thể trả các khoản nợ quốc tế.
Với sức ép của Mỹ, ba ông nước chủ nợ phải ngồi vào bàn đàm phán với con nợ Venezuela. Đến ngày 13-2-1903, các bên đạt được thỏa thuận, theo đó Anh, Đức, Ý hủy bỏ việc phong tỏa các vùng biển của Venezuela. Đổi lại, Venezuela phải dỡ bỏ 30% thuế nhập cảng đối với các hàng hóa của ba nước này.
Tuy nhiên vấn đề không đơn giản như vậy. Không phải Castro không sợ tàu chiến Âu Châu, vấn đề là ông ta tin tưởng vào chủ thuyết địa chính trị của Mỹ là Học thuyết Monroe.
Chủ thuyết Monroe
Học thuyết này được Tổng thống Mỹ James Monroe công bố trước quốc hội ngày 2.12.1823, trong một cương lĩnh gọi là Monroe Doctrine (MD).
Trong học thuyết này, Monroe nêu ra ba yếu tố chính: thứ nhất là phải chấm dứt việc khai phá thuộc địa của Âu Châu tại Châu Mỹ Latin; thứ hai, nền chính trị Mỹ sẽ tách rời nghị trình chính trị của Châu Âu; thứ ba, Âu Châu không có quyền can thiệp vào công việc “nội bộ” của... Châu Mỹ.
Thời ấy các nước Âu châu sở hữu nhiều thuộc địa từ Á sang Phi và Mỹ châu trong khi Mỹ, như là cựu thuộc địa của Anh, không có thuộc địa nào trong tay. Mỹ muốn chấm dứt sự tung hoành của chủ nghĩa thực dân Âu châu, ít ra là tại phần sân Mỹ châu của mình. Ngoài ra, theo một số sử gia, lúc đó Moroe còn muốn răn đe Nga vì nước này cũng cũng đang lăm le dòm ngó khu vực Bắc Mỹ.
Trong thời kỳ này Mỹ chưa thể nắm được ưu thế tuyệt đối với Âu Châu nên học thuyết dành hẳn một biệt lệ đối với những thuộc điạ của Âu Châu: những phần đất đang bỏ ngỏ mới là của Mỹ, Âu Châu chỉ nên chấm dứt việc bành trướng thuộc địa.
Năm 1895, cuộc đối đầu với Anh qua cuộc tranh chấp biên giới giữa Venezuela và thuộc điạ Guiana, những thành phần cực hữu tại Mỹ đã lớn tiếng đòi hỏi Mỹ phải bảo vệ quyền lợi của mình tại sân sau là Mỹ châu, do đó cần phải mạnh hơn. Kể từ thời TT Grover Cleveland (1837 –1908 – tổng thống thứ 22 và 24), ngân sách quân sự, nhất là với hải quân, được gia tăng đáng kể, và hải quân Mỹ đã là một lực lượng đáng gờm.
Trước “tục lệ” dùng tàu chiến để đòi nợ khá phổ biến lúc bấy giờ ông Luis M. Drago, ngoại trưởng Argentina, ra sức vận động một điều ước quốc tế nhằm ngăn cản những phương thức đòi nợ hết sức võ biền như thế. Đồng thời, lúc này các nước Đức, Anh và Ý vẫn có ý chần chờ vì ngại thái độ của Mỹ, đã thể hiện qua Học thuyết Monrones. Tuy nhiên ngày 3.12.1902, TT Theodore Rooselvelt đã minh định thái độ không can thiệp với điều kiện những chủ nợ Âu Châu không có ý định ở lỳ.
Khi đèn xanh đã bật những hạm đội của Anh, Đức và Ý, đã rầm rộ ra khơi... đòi nợ. Trước tình cảnh đường biển bị phong toả, tàu bè bị đánh đắm hay bị tịch thu, thành phố, hải cảng bị nã đạn; Cipriano vội vã cầu cứu Mỹ. Nhưng Mỹ lại lấy làm hài lòng khi Âu Châu tỏ ra dè dặt và tôn trọng mình và như đã nói ở trên, vấn đề được đưa ra trước toà án quốc tế.
Tuy nhiên trong phán quyết ngày 22.2.1904, Tòa án Hague lại nhìn nhận việc đòi nợ bằng súng đạn do đó Mỹ tỏ ra lo ngại, sợ rằng tàu chiến Âu Châu có thể hợp pháp kéo đến Châu Mỹ.
Ngày 6.12.1904 ông Rooselvelt công bố Cương lĩnh Roosevelt (Roosevelt Corollary), theo đó những vấn đề của Châu Mỹ phải do các nước Mỹ châu giải quyết: trong khu vực này thì Mỹ sẽ đảm nhiệm sứ mạng để cam kết rằng những quốc gia khu vực này sẽ “hoàn thành nghĩa vụ quốc tế” của họ.
Âu châu bị loại thì Mỹ thay thế ở vai trò chủ nợ, và do đó đến lượt Mỹ lại có thể đòi nợ tương tự, bằng Thủy quân lục chiến.
Đòi nợ bằng Thủy quân lục chiến
Cũng trong giai đoạn này, đảo quốc Haiti cũng là con nợ đầm đìa của Mỹ. Vay nợ rất nhiều từ các ngân hàng Mỹ và Pháp, nhưng nội tình chính trị thì luôn bất ổn nên kinh tế trì trệ, tiền vay như gió vào nhà trống, và đảo quốc này hết khả năng trả nợ, đã vậy còn ngoa ngoe chống lại Mỹ,
Từ năm 1911-1915 nội tình chính trị Haiti luôn ở trong tình trạng rối ren với các vụ đảo chính, ám sát chính trị khiến Haiti thay tổng thống tới 6 lần và dần dà quyền lực dồn vào tay Rosalvo Bobo, một nhân vật bài Mỹ. Sợ rằng Rosalvo Bobo sẽ quỵt nợ và đóng cửa với giới đầu tư Mỹ, Chính phủ Mỹ quyết định rằng mình không chỉ tấn công mà áp dụng các biện pháp song song để bảo đảm rằng Haiti phải trả được nợ.
 
Ngày 28-7-1915, Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson phái 330 tàu chiến đưa thủy quân lục chiến đổ bộ vào cảng Port-au-Prince, với mệnh lệnh “bảo vệ quyền lợi của Mỹ và người ngoại quốc”. Trong vòng 6 tuần, Mỹ chiếm quyền kiểm soát các cơ quan thuế, các định chế quan trọng như ngân hàng và ngân khố quốc gia.
Dưới sự thao túng của Mỹ, 40% thu nhập quốc gia của Haiti lúc đó bị dùng để “trả nợ” cho các ngân hàng Mỹ và Pháp. Trong 19 năm sau đó, các cơ quan chính phủ của Haiti vẫn bị kiểm soát bởi người Mỹ, dưới mác “cố vấn”.
Tuơng tự là trường hợp của Nicaragua: Tàu bè Mỹ ra vào kênh đào Panama đều phải băng ngang hải phận Nicaragua, cả ở Thái Bình Dương hay Đại Tây dương. Tuy nhiên nhà độc tài José Zeleya (1893-1910) là nhân vật bài Mỹ, muốn dựa vào Âu Châu để giữ thế độc lập với Mỹ. Năm 1909, một nhóm quân nhân - với sự ủng hộ của Mỹ - đã khởi động cuộc chiến nhằm lật đổ José Zaleya.
Năm 1910 thì Zeleya bị lật đổ và chính quyền mới này đã phải chấp nhận vay tiền Mỹ để rũ sạch những món nợ Âu Châu. Từ con nợ Âu châu, nước này trở thành con nợ của Mỹ.
Nhưng để bảo đảm rằng nợ được trả đúng thời hạn cho Mỹ thì Nicaragua phải chuyển giao ngành quan thuế cho Mỹ kiểm soát. Tháng 12.1911, khi ngoại trưởng Philander Knox Knox đơn phương công bố “Mỹ hoá” ngành quan thuế tại đây, bạo động đã bùng nổ để rồi bị lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ dập tắt!
 
Thay lời kết
Những câu chuyện kể trên là chuyện của những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Qua hai cuộc đại chiến trong nửa đầu thế kỷ 20 và qua cuộc chiến tranh lạnh xuyên suốt 4 thập niên của nửa sau thế kỷ 20, tưởng rằng nhân loại đã trưởng thành hơn thế nhưng hành động ngang ngược của thời kỳ thực dân và “tiền – đại chiến” đã có nguy cơ lập lại qua câu chuyện “cấn nợ”
của Bắc Kinh!
Thực chất, những yêu cầu quá quắt với bản đồ “lưỡi bò chín đoạn” lâu nay chính là một yêu sách thực dân. Thực chất, lời cảnh cáo hằn học của Lý Khắc Cường khi gọi các nước Đông Nam Á là “khiêu khích” mình là một hành động thực dân. Bắc Kinh đang hành xử như một kẻ thực dân nhưng Hà Nội là tự biến mình thành con nợ đầm đìa của tên thực dân ấy quả là một việc cực kỳ đáng lo ngại.
“Hậu quả” của các siêu dự án thiếu hiệu quả này là tình trạng vỡ nợ, là điều đã “nhãn tiền” qua các dự án như bauxite Tây Nguyên, các dự án thủy điện kiêm thủy hại, các con đường cao tốc hay cây cầy mới khánh thành đã có dấu hiệu xuống cấp v.v.. Lúc đó thì không chỉ tàu chiến của Trung Quốc chĩa họng súng đòi nợ mà muôn vàn nhân công Trung Quốc đang ăn theo các siêu dự án trên cũng vật ra ăn vạ!

 Phạm Đức Đồng Hùng

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều