We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 27 June 2014

Diệt cộng cúu nước.: Nếu không khi thế giới nay đã không còn Việt Nam


image
  Muốn chống Trung Cộng xâm lược phải diệt Việt Cộng bán nước

Hơn một tháng qua, sự kiện Trung Cộng đem giàn khoan khổng lồ DH 981 vào vùng biển Việt Nam một cách ngang nhiên, không coi chủ quyền Việt Nam và luật pháp quốc tế ra gì, đã làm dấy lên lòng yêu nước của tất cả người Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Nhiều cuộc biểu tình lên án chế độ CSVN nhu nhược, bán nước cầu vinh và sự xâm lăng Việt Nam của Trung Cộng đã xảy ra ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Những cuộc biểu tình ở trong nước thì có hai loại, biểu tình do nhà nước tổ chức (biểu tình quốc doanh), và biểu tình do người dân tự đứng lên phản đối Trung Cộng xâm lăng Việt Nam. Biểu tình do nhà nước tổ chức có thể nhận ra ngay với những biểu ngữ kêu gọi toàn dân đoàn kết dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN để bảo vệ tổ quốc, nhưng không thấy biểu ngữ lên án Trung Cộng xâm lăng. Biểu tình do người dân đứng ra tổ chức thì có rất nhiều biểu ngữ lên án Trung Cộng và kêu gọi nhà nước phải có phản ứng trước sự xâm lăng của Trung Cộng. Việc nhà nước CSVN ngầm cho biểu tình cũng không ngoài âm mưu, thủ đoạn gian trá cố hữu của CS là tổ chức biểu tình rồi cho công an, côn đồ trà trộn vào đoàn biểu tình cướp phá, hành hung người khác để sau đó lấy cớ là biểu tình gây xáo trộn để cấm biểu tình. Người dân trong nước không lạ gì thủ đoạn này nên nhiều người đã không tham gia. Điều này cho thấy người dân đã không còn tin tưởng, trông mong gì vào cái đảng CS hèn với giặc, ác với dân này nữa.
Làm sao Trung Cộng có thể ngang nhiên đem giàn khoan HD 981 vào lãnh hải Việt Nam?
Không phải đến ngày 2 tháng 5 vừa qua Trung Cộng mới có hành động ngang ngược xâm lăng Việt Nam như vậy. Từ khi đảng CSVN nắm quyền năm 1945, họ đã đặt quyền lợi của đảng Cộng Sản lên trên quyền lợi tổ quốc, nên đảng CSVN đã lần lượt dâng biển, hiến đất cho Trung Cộng và Trung Cộng đã từng bước gặm nhấm đất liền cũng như biển khơi của Việt Nam.
Trong thời gian đầu thành lập, đảng CSVN đã đặt bản doanh tại các căn cứ dọc theo biên giới Việt Trung. Vì muốn được an toàn và được sự che chở của Trung Cộng, đảng CSVN đã nói rằng những phần lãnh thổ đó thuộc về Trung Quốc. Sau này Trung Cộng chiếm luôn đảng CSVN cũng không có một phản ứng nào. So sánh đường biên giới hiện nay với đường biên giới được ký kết năm 1887 giữa nhà Thanh (Trung Quốc) và thực dân Pháp đại diện cho Việt Nam thì số đất bị mất về tay Trung Cộng lên đến hàng ngàn cây số vuông.
CSVN đã ký Công Hàm công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Cộng. Ngày 4/9/1958 Trung Cộng tuyên bố chủ quyền lãnh hải 12 hải lý áp dụng cho toàn lãnh thổ bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa). Ngày 14/09/1958 Phạm Văn Đồng với danh nghĩa Thủ Tướng nưóc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ký Công Hàm tán thành tuyên bố này của Trung Cộng. Theo Công Hàm này thì đảng CSVN chấp nhận dâng cho Trung Cộng lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam khu vực chứa nhiều mỏ dầu khí và tài nguyên hải sản vô tận đã nuôi sống dân tộc ta từ bao đời. Ngày 2 tháng 5 vừa qua Trung Cộng đã đưa dàn khoan HD 981 và hàng trăm tàu quân sự, tàu cảnh sát, tàu đánh cá giả dạng vào chiếm đóng vùng biển này.
CSVN đã im lặng khi Trung Cộng tấn công Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ngày 17 tháng 1 năm 1974 trong lúc hải quân VNCH anh dũng chống lại sự xâm lăng của Trung Cộng thì CSVN giữ thái độ im lặng đồng tình với sự xâm lăng của Trung Cộng. Ngày 14/3/1988 khi Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa thì nhà cầm quyền CSVN đã im lặng, cúi đầu, bưng bít tin tức. Tệ hơn nữa CSVN đã hèn hạ ra lệnh cho bộ đội hải quân Việt Nam không được chống cự. Kết quả là 64 bộ đội hải quân đã chết oan uổng trong trận chiến bảo vệ Trường Sa.
CSVN đã lén lút ký Hiệp Ước biên giới Việt-Trung, cắt xén đất cho Trung Cộng. Ngày 30/12/1999 CSVN đã ký Hiệp Ước Biên Giới với Trung Quốc. Theo Hiệp Ước này thì CSVN nhượng cho Trung Quốc 789 cây số vuông dọc theo biên giới hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, trong đó có Ải Nam Quan. Ngày 28/01/2002 Lê Cung Phụng, Thứ Trưởng Ngoại Giao của CSVN trả lời phỏng vấn đã xác nhận “Mục Nam Quan nay thuộc về Trung Quốc”.
CSVN đã lén lút ký hiệp định phân định lãnh hải Vịnh Bắc Việt, nhường biển cho Trung Cộng. Ngày 25/12/2000 Trần Đức Lương "chủ tịch nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam" đã ký Hiệp Định phân chia lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ. Theo Hiệp Ước này thì VN mất gần 11,000km2 lãnh hải cho Trung Cộng.
CSVN đã nhắm mắt làm ngơ trước việc Trung Cộng tàn sát ngư dân Việt Nam. Trong những năm vừa qua, hải quân Trung Cộng đã nhiều lần bắn giết ngư phủ Việt Nam, nhưng đảng CSVN vẫn làm ngơ và không có một hành động nào để bênh vực cho quyền lợi của ngư dân Việt Nam. CSVN sợ đến nỗi không dám nêu đích danh Trung Cộng mà gọi là “tàu lạ”. Sự khiếp nhược và hèn yếu của nhà cầm quyền CSVN đã là sự đồng tình cho Trung Cộng lấn tới.
Bên cạnh đó CSVN đã tiếp tay cho Trung Cộng chuyển quân đội vào lãnh thổ Việt Nam qua việc cho người Tàu tự do nhập cảnh vào VN mà không cần chiếu khán và giấy tờ tùy thân, cho người Tàu thuê rừng ở 10 tỉnh phía bắc giáp với Trung Cộng, và đã cho Trung Cộng khai thác quặng mỏ trên vùng Tây Nguyên. Thực tế những khu quặng mỏ, những khu rừng thượng nguồn, những đồn điền cây công nghệ người Tàu sang thuê mướn với gía rẻ mạt là những căn cứ quân sự của người Tàu trên đất nước Việt Nam. Người Tàu đã đưa công nhân và gia đình của họ sang để làm việc. Công nhân là bộ đội Tàu cải trang. Các khu vực này, người Việt Nam không được đến gần. Đây là sách lược thâm độc của Tàu vừa có lợi về kinh tế, vừa có lợi về quân sự.
CSVN đã bán đất cho Tàu xây cất những thành phố Tàu. Những đô thị Tàu đang mọc lên nhan nhản khắp nơi từ Bắc chí Nam. Những phố Tàu này do người Tàu làm chủ và điều hành theo luật lệ Tàu. Phố Tàu trưng bảng hiệu tiếng Tàu, sống phong tục Tàu, nói tiếng Tàu, học trường Tàu, buôn bán hàng Tàu. Các phố Tàu thực sự là những thành phố của người Tàu nằm trong lãnh thổ Việt Nam.
CSVN đã nhắm mắt để cho hàng hóa Tàu tràn ngập Việt Nam. Một cách Trung Cộng xâm lăng Việt Nam hữu hiệu nhất là tiêu diệt nền kinh tế Việt Nam và đổ hàng hóa của Tàu vào Việt Nam. Vì tham nhũng, thối nát và ngu muội CSVN đã để hàng hóa Tàu đổ vào Việt Nam qua cửa khẩu không phải đóng thuế. Hàng hóa Tàu rẻ hơn hàng hóa sản xuất tại Việt Nam rất nhiều. Công nghệ Việt Nam đang chết dần. Dân Việt Nam ngày nay dùng hàng hóa Tàu, xem phim Tàu, bắt chước sống theo phong hóa Tàu nên sẽ trở thành Tàu lúc nào mà không biết.
Trước sự lấn chiếm về mọi mặt của Trung Cộng, cộng với sự tiếp tay của đảng CSVN, Việt Nam đang phải đối diện với sự xâm lăng của Trung Cộng trên mọi phương diện: kinh tế, chính trị và quân sự. Nhiều người cho rằng cứ đà này, với sự khiếp nhược của nhà cầm quyền CSVN, Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh của Trung Cộng. Nếu Việt Nam chống lại Trung Cộng, chiến tranh xảy ra, thì Việt Nam khó chống lại lực lượng quân sự hùng hậu của Trung Cộng. Nghĩa là không chống cũng chết mà chống cũng chết. Sự bi quan và những ý kiến tiêu cực đó là điều người Việt Nam cần phải loại bỏ.
Lịch sử chống ngoại xâm của tổ tiên chúng ta
Trải qua hơn 4000 năm lịch sử của dân tộc, tổ tiên chúng ta đã bao lần đánh bại âm mưu xâm lăng của giặc phương Bắc, giữ gìn từng tất đất bờ cõi quê hương. Lịch sử đã chứng minh thời nào dân tộc ta cũng kiên cường bảo vệ giang sơn dù có phải hy sinh mạng sống, nằm gai nếm mật. Những tấm gương hy sinh lẫm liệt, những câu nói của các anh hùng dân tộc còn vang vọng nhắc nhở con cháu luôn đề phòng giặc Tàu phương Bắc.
Năm 938 Ngô Quyền đã đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chống lại sự đồng hóa của nhà Hán, giành lại độc lập dân tộc, chấm dứt Bắc Thuộc kéo dài hơn 1,000 năm.
Năm 1282, Vua Trần Nhân Tông đánh bại quân Nguyên. Vua Trần Nhân Tông đã dạy rằng: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Năm 1284 Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, một lần nữa đã đáng bại giặc Nguyên trên sông Bạch Đằng, đập tan ý đồ bành trướng của Nguyên Mông.
Năm 1789, cách đây đúng 225 năm, Vua Quang Trung đã đánh tan 200 ngàn quân Thanh ra khỏi bờ cõi nước ta với lời thề son sắt: “Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
Lịch sử dân tộc Việt Nam với bao nhiêu gương anh hùng bất khuất, bao nhiêu xương máu của tiền nhân hy sinh để gìn giữ giang sơn gấm vóc. Thời nào cũng có anh hùng hào kiệt ra giúp nước, giữ nước chống ngoại xâm. Không có một triều đại nào, một chính phủ nào lại chịu dâng nước cho ngoại bang, chỉ có đảng CSVN đã hèn hạ phản quốc, phản bội tổ tiên, cắt đất, nhượng biển, bán nước cho giặc Tàu. Ông cha ta oanh liệt chống kẻ thù Phương Bắc, còn đảng CSVN thì bán nước cầu vinh.
Tổ quốc đang lâm nguy, là người Việt Nam, dù sống ở nơi đâu, dù ở địa vị nào cũng phải có bổn phận bảo vệ tổ quốc. Nhưng muốn chống Trung Cộng xâm lược phải diệt Việt Cộng bán nước trước. Đảng CSVN chính là kẻ bán nước. Làm sao người dân Việt Nam có thể đoàn kết dưới sự lãnh đạo của đảng CS để bảo vệ đất nước!
Nhiệm vụ của người Việt hải ngoại
Lịch sử có những biến cố không ngờ được. Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 Việt Cộng đã đẩy hàng triệu người miền Nam vào những cảnh khốn cùng phải bỏ nước ra đi. Hơn nửa triệu người đã bỏ mình trên biển cả vì bị CS rượt bắt giết chết, vì sóng to gió lớn, vì đói khát, vì hải tặc tấn công. May mắn thay nhiều người cũng đã đến được bến bờ tự do, được các quốc gia nhân đạo cưu mang để làm lại cuộc đời. Ngày hôm nay có gần 3 triệu người Việt sống ở hải ngoại. Đứng trước họa mất nước người Việt hải ngoại có thể làm gì để cứu quê hương?
Để cứu đất nước việc đầu tiên là phải loại bỏ đảng CSVN ra khỏi guồng máy lãnh đạo. Điều này chỉ có thể thực hiện được bằng cách chúng ta phải hỗ trợ các phong trào đấu tranh dân chủ trong nước nhiều hơn nữa, làm cho người dân trong nước ý thức hơn về bộ mặt thật của đảng CSVN là kẻ bán nước, là kẻ nội thù và ý thức hơn về thảm họa mất nước đang kề bên, để họ có thể đứng lên lật đổ bọn tay sai Trung Cộng đang cầm quyền, dành lấy quyền bảo vệ quê hương.
Thứ hai là chúng ta phải vận động với chính quyền các nước sở tại nơi có đông người Việt đang sinh sống để các quốc gia này lên tiếng bênh vực Việt Nam trước sự xâm lăng của Trung Cộng.
Muốn làm được điều này người Việt hải ngoại phải đoàn kết với nhau để có cùng tiếng nói và cùng chung hành động. Tất cả các chính trị gia, các đảng phái trong các nước tự do, dân chủ đều cần lá phiếu của người dân. Nếu chúng ta biết sử dụng lá phiếu của chúng ta một cách khôn ngoan, chúng ta có thể đạt được những điều chúng ta mong muốn. Có người nói rằng trước sự phát triển về kinh tế cũng như quân sự của Trung Cộng thế giới sẽ không dám can thiệp nếu có chiến tranh xảy ra giữa Trung Cộng và Việt Nam. Điều này còn tùy thuộc vào sự vận động của người Việt hải ngoại. Nếu mỗi cộng đồng người Việt hải ngoại có hàng chục, hàng trăm ngàn người xuống đường biểu tình, vận động với các chính phủ các quốc gia nơi mình đang sinh sống thì chắc chắn những yêu cầu chính đáng của chúng ta sẽ được cứu xét.
Cuối tuần vừa qua, tại Sydney và Melbourne ở Úc Châu, đã có nhiều cuộc biểu tình diễn ra trước lãnh sự quán Việt Cộng và Trung Cộng. Hàng ngàn người đã tham dự biểu tình lên án Việt Cộng bán nước và phản đối Trung Cộng xâm lăng. Cuối tuần này, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu sẽ tổ chức hai cuộc biểu tình trước tòa đại sứ Việt Nam và Trung Quốc ở Canberra để một lần nữa lên án Việt gian bán nước và phản đối Tàu cộng xâm lược. Chắc chắn số người tham dự sẽ đông gấp nhiều lần. Sự hiện diện đông đảo của chúng ta tại các cuộc biểu tình này là những sự vận động quốc tế hữu hiệu nhất.
Bên cạnh đó, hưởng ứng lời kêu gọi của các vị lãnh đạo các tôn giáo trong nước, các tôn giáo cũng tổ chức cầu nguyện cho quê hương và dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên nếu chỉ cầu nguyện mà không làm gì cả thì không đủ. Chúng ta phải có những hành động đi song song với lời cầu nguyện thì lời cầu nguyện của chúng ta mới có kết qủa. Phúc Âm kể lại khi Chúa Giêsu làm cho ông Lazarous sống lại từ cõi chết, Người cầu nguyện, rồi bảo những người đứng chung quanh đó lăn tảng đá chặn cửa mồ ra. Sau đó Chúa gọi Lazarous ra khỏi mồ. Khi Lazarous bước ra khỏi mồ, Ngài bảo họ hãy gỡ bỏ những băng và khăn liệm ra cho anh ta, để cho anh ta đi tự do. Thiên Chúa có thể làm phép lạ cho Lazarous ra khỏi mồ, đi tự do ngay lập tức, nhưng Chúa muốn có sự cộng tác của con người trong những việc Chúa làm. Đức Dalai Lama cũng nói “Chỉ có lòng yêu thương thì chưa đủ, chúng ta phải hành động.” Vì vậy nếu muốn cứu quê hương khỏi rơi vào tay kẻ thù phương Bắc là Trung Cộng mỗi người chúng ta phải hành động. Chúng ta phải làm tất cả những gì chúng ta có thể làm được để bảo vệ tổ quốc, từ cầu nguyện đến biểu tình vận động và nếu cần chúng ta phải đóng góp tài chánh để hỗ trợ cho những phong trào đấu tranh trong nước đứng lên lật đổ kẻ bán nước và chống kẻ xâm lược.
Là người Việt Nam chúng ta không thể dửng dưng trước nỗi đau khổ của đồng bào trong nước, trước họa mất nước vào tay Trung Cộng. Nước mất nhà tan. Có người không đi biểu tình vì sợ còn về Việt Nam, nhưng nếu không đi, Việt Nam mất rồi thì còn đâu mà về.
Nếu hôm nay chúng ta thờ ơ mặc cho vận nước nổi trôi, mai này chúng ta sẽ trả lời làm sao với con cháu chúng ta khi thế giới này không còn Việt Nam, khi Việt Nam đã trở thành một tỉnh của Trung Cộng. Nhạc sĩ Việt Khang, người nhạc sĩ hiện đang bị cầm tù ở Việt Nam vì tội yêu nước đã phải khóc vì nỗi đau nước mất nhà tan qua nhạc phẩm “Anh Là Ai?”
Tôi không thể ngồi yên

Khi nước Việt Nam đang ngã nghiêng

Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm

Một ngàn năm hay triền miên tăm tối.


Tôi không thể ngồi yên

Để đời sau cháu con tôi làm người

Cội nguồn ở đâu?

Khi thế giới nay đã không còn Việt Nam.
Tổ Quốc đang lâm nguy! Tổ Quốc đang cần chúng ta. Chúng ta có thể làm gì để cứu nguy Tổ Quốc? Tôi xin mượn lời của Tổng Thống John F Kenedy gửi đến bạn: “Đừng hỏi Tổ Quốc có thể làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn có thể làm gì cho Tổ Quốc.” “My fellow Americans, ask not what your country can do for you, ask what you can do for your country.” John F. Kennedy.

Nguyễn Văn Thanh

Wednesday, 25 June 2014

Kêu gọi Đã gần 40 năm: Việt Nam hãy sẵn sàng làm cuộc tổng nổi dậy để diệt cộng cúu nước.

 Biển, Đảo nào của Ta, chủ quyền nào không thay đổi?


image
Vào chiều ngày 18-6-14,  tại Hà Nội có một cuộc hội, gọi là họp cấp cao, giữa Việt Nam và Trung cộng. Sau khi đứng nghe Dương khiết Trì, xác định lại lập trường của Trung cộng tại biển đông là không thay dổi và cũng không có ý định thay đổi tiến trình hợp tác song phương toàn diện với đảng và nhà nước Việt cộng. Diễn viên từ phía Việt cộng là Nguyễn phú Trọng, một lão già đầu bạc trắng, mặt xanh như tàu lá, phát biểu như sau:



-                     Chúng tôi đã nghe và hiểu rõ “chủ trương của Trung quốc về biển  đảo là không thay đồi”  đã nghe biết  “Trung quốc khẳng định coi trọng và chưa bao giờ thay đồi phương châm hữu nghị trong quan hệ với Việt Nam”... Chúng tôi cũng thế ” Khẳng định lập trường về chủ quyền của Việt Nam với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên biển đông là không thay đổi  và không thể thay đổi.” ( VNExpress)



-                     Thế nghĩa là gì? Người hỏi lớn tiếng.



-                     Phát đúng qúa, cương quyết qúa, dứt khoát quá!  Phía ta có kẻ nói thầm trong cổ.



Mới nghe qua, nhiều người cho rằng lời tuyên bố của Nguyễn phú Trọng là đanh thép. Là cương quyết, là dứt khoát bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa. Và dĩ nhiên, hơn 700 tờ báo đảng và các cơ quan truyền thông, truyền hình của nhà nước CS không bỏ lỡ cơ hội để thi nhau thổi phồng lên làm cho người dân Việt Nam hiểu lầm là như thế.



Trong thực tế, không phải như vậy, và ý của Nguyễn  phú Trọng đại diện cho hơn 3 triệu đảng viên Việt cộng cũng không phải là như  thế. Trái lại, đó là một câu tuyên bố tồi tệ và rất bi đát. Nó là di căn, là sự công nhận, là sự nhắc lại cái chủ quyền mà công hàm của Phạm văn Đồng đã “ghi nhận và tán thành bản công bố của Trung quốc”  lúc trước. Nó không hề mang ý nghĩa là đanh thép là dứt khoát, báo cho Dương khìết Trì biết Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt nam. Trái lại, Nó muốn nói toạc ra là: Văn bản của Phạm thủ trưởng còn đây, ông ấy viết ra sao thì nay cũng không có gì thay đổi  và không thể thay đổi. Với lời minh xác công khai trước mặt Dương khiết Trì, Trung cộng thì nâng ly hoan hỉ và đưa thêm dàn khoan vào vùng biển đông. Phần Nguyễn phú Trọng có quyền tin tưởng vào sự ổn dịnh cho cái ghế của y thêm một thời gian nữa. Nhưng về phía Việt Nam, tôi cho rằng, Việt Nam coi như đã mất hẳn Trường Sa, Hoàng Sa vào tay Trung cộng rồi, không còn cứu gỡ được nữa. Tại sao lại như thế?



Rất đơn giản. Bởi vì trước mặt của Nguyễn phú Trọng và Dương khiết Trì, một bên đại diện cho Trung cộng, một bên đại diện cho đảng cộng sản VN ( Xin lỗi qúy độc giả, tôi rất đau lòng khi phải viết chữ Việt Nam sau cái từ Cộng Sản, nên xin qúy dộc giả thông cảm cho tôi dùng hai chữ Việt cộng để gọi tập thể này cho ngắn gọn và bao hàm đúng cái ý nghĩa của chúng đại điện) là hai bản văn chính làm nền cho mọi thương nghị giữa đôi bên là:



a.       Một là của Chu ân Lai đề ngày 4 tháng 9-1958 với nội dung chính là công bố chủ quyền của TC trên biển và trên đảo (Declaration on China’s Territorial Sea) như sau: “ Bề rộng của lãnh hải Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa sẽ là 12 hải lý và áp dụng tương tự đối với Đài Loan và các đảo chung quanh quần đảo Bành Hổ, quần đảo Trung Sa (Tungsha), Quần đảo Tây Sa (Hsisha), quần đảo Chungsha, quần đảo Nam Sa (Nansha) và các đảo thuộc Trung Quốc”



b.      Hai là của Phạm văn Đồng đề ngày14 tháng 9-1958, chính thức công nhận chủ quyền của Trung cộng ở trên những quần đảo do Chu ân Lai ghi trong văn bản của họ bằng một câu văn ngắn gọn, đầy đủ, trọn nghĩa là:” ghi nhận và tán thành bản công bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận 12 hải lý của trung Quốc”. Như thế là qúa đủ, qúa rõ ràng, bản văn của Phạm văn Đồng là văn bản chính thức hoá lời tuyên bố của Ung văn Khiêm trưóc đó là “căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc  về lãnh thổ Trung quốc”. Nghĩa là, PV Đồng đã thay mặt nhà nước VNDCCH công khai xác nhận chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung cộng, không phải là của Việt Nam. Nói cách khác, nhà nước VNDCCH qua văn bản này đã tự từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên những phần lãnh thổ và lãnh hải này.



Xét về nguyên tắc, lời tuyên bố của Ung văn Khiêm và cái bản văn của Phạm văn Đồng  và của Chu ân Lai không tự nó tạo ra, hay ban cho Trung cộng có chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa theo tính pháo lý. Nó chỉ có khả năng chứng minh rõ ràng cho dân tộc Việt Nam biết đây là một tập đoàn bán nước (bè lũ bán nước, từ ngữ của họ) có chủ đích lợi nhuận của CS mà thôi. Song trong thực tế, Trung cộng đã cậy vào cái xác và dân số đông đảo và bản văn này, lấy thịt đè ngưòi và tạo ra thành phố Tam Sa ở trên hai quần đảo của Việt Nam. Từ đây, Trung cộng còn muốn biến những đảo hoang này thành những nơi có thể “có sự sống tự nhiên hay có lợi ích về kinh tế”, bằng cách đắp thêm đất, sửa chữa, xây dựng những cơ sở, để nó khả dĩ phù hợp với điều kiện của luật biển QT năm 1982 đã quy định cho các quần đảo,và đòi được đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ bờ đất của Hoàng Sa và Trường Sa. Từ bài tính này, Trung cộng đưa đặt giàn khoan HĐ981 vào vùng biển của Hoàng Sa rồi vênh cổ lên tố ngược Việt Nam xâm phạm và quấy rối giàn khoan nằm trong lãnh hải của họ. Tại sao lại có chuyện nghịch lý này?



Trước hết, vì Đảo Lý sơn thuộc Quảng Ngãi và Hoàng Sa cách nhau khoảng 135 hải lý. Theo đó trong vùng tiếp giáp, Trung cộng muốn được chia hai, mỗi bên một nữa, vào khoảng 68-70 hải lý mỗi phía. Nếu tính bằng con số này, thì cái dàn HD981 của Trung cộng đặt trong vùng nước thuộc đặc khu kinh tế Hoàng Sa mà họ nhận là của họ, và Việt cộng cũng đã công nhận như thế vào ngày 14-9-1958 theo bản văn của Phạm văn Đồng. Kế đến, chừng nào cái công hàm của PVĐ chưa bị tiêu hủy, chưa bị vô hiệu hóa thì Trung cộng còn làm tới và Việt cộng không bao giờ dám kiện Trung cộng ra trước toà án quốc tế. Bởi lẽ, họ không thể đi kiện cái hậu quả do chính bản văn của mình đã viết ra. Nếu họ muốn đi kiện thì phải tìm cách tiêu hủy, vô hiệu hóa cái bản văn của PVD  trước đã.



Đó là những khó khăn nhà nước Việt cộng không thể bước qua và cũng chính là lý do tại sao tôi viết bài “ Việt Nam Cộng Hoà, một giải pháp cho Việt Nam- Biển Đông”. Trong đó, tôi cũng đã đề cập đến sự kiện cái dàn khoan HD 981 sẽ không nằm ở đó lẻ loi một mình. Nhưng sẽ còn nhiều cái khác đến tiép sức với nó và chúng sẽ cắm dàn khoan xuống lòng đất, lòng biển để xẻ thịt mẹ Việt Nam nữa.  Và nay, Nguyễn phú Trọng tựa vào hai bản văn ấy để xác định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa là không thay đổi thì nó có  nghĩa là NPT dã xác nhận lại cái có của Trung cộng và cái không có chủ quyền của VN trên những vùng lãnh thổ, lãnh hải này. Chuyện như thế, có gì là đanh thép, phản kháng đâu?



Lẽ dĩ nhiên, tôi không cho rằng những kẻ lãnh đạo thuộc tập đoàn bán nước Việt cộng ở Hà Nội hôm nay không nhìn biết điều này, Trái lại, tôi cho rằng họ đã được học tập và quán triệt đường lối chủ  trương của Trung cộng không phải chỉ có ở trên biển đông, nhưng còn là ở trên đất liền của Việt Nam nữa. Chủ trương này không phải đến hôm nay mới có. Trái lại, nó đã có từ khi Hồ chí Minh ( Hồ tạp Chương) xuất hiện. Đây chính là cái nguyên nhân, là tai hoạ, là điạ ngục, là cái mồ Trung cộng muốn đào ra để chôn vùi Việt Nam. Tiếc rằng VC lại cho đó là 16 chữ vàng và 4 tốt, nên những thành phần lãnh đạo hôm nay chỉ là những kẻ nhai lại và tiếp tục công việc đào cho cái mồ ấy lớn rộng thêm ra mà thôi.  Bằng chứng là:



Với Trương tấn Sang, theo Vnexpress, Sang tuyên bố “Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là bất khả xâm phạm”! Quả là cái miệng vô thường. Nói như con vẹt học nói như thế thì đứa trẻ lên năm cũng biết nói. Hỏi thừ xem, chủ quyền ấy là từ đâu đến đâu, bao gồm những vùng lãnh thổ và lãnh hải nào?  Nó có bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam không? Nếu có thì tại sao không nêu tên ra trong những tranh chấp? Nếu không thì tại sao và từ bao giờ? Ai, kẻ nào dám loại trừ hai vùng lãnh thổ và lãnh hải ấy ra khỏi chủ quyền của Việt Nam?  Nếu Hoàng Sa, Trường Sa bị loại ra khỏi chủ quyền của Việt Nam từ bản văn của PV Đồng theo lệnh của Hồ chí Minh thì những thành phần này sẽ bị xử trí ra sao? Liệu những tên phản quốc, bè lũ bán nưóc này có bị đưa ra xét sử vì câu tuyên bố “ lẫy lừng”  trên hay không? Hay đây chỉ là tiếng kêu của con vẹt học nói và không có hiểu biết gì?



Đến Nguyễn tấn Dũng cũng không một  điều gì khá hơn. Cũng theo VNexpress, một loại báo mạng khá nổi tiếng do Việt cộng điều hành, thì trong cuộc gặp Dương khiết Trì vào sáng ngày 18-6, sau khi nghe Dương khiết Trì bảo vệ lập trường của Trung cộng về biển dông, NT Dũng “ yêu cầu Trung quốc rút giàn khoan cùng tàu ra khỏi vùng biển của Việt Nam…” Quả thật, đây là câu nóí nghe ra đầy bóng bẩy, viễn vông và mạnh miệng hơn Trương tấn Sang. Tuy nhiên, thử hỏi xem. Vùng biển nào là vùng biển của Việt Nam mà Dũng định nghĩa? Vùng biển mà Dũng nói đến có bao gồm vùng biển thuộc Hoàng Sa và Trường Sa hay không?  Nếu có, tại sao Dũng không hề nhắc đên chữ Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam?  Nếu có, tại sao Dũng lại ra lệnh bắt và giam giữ, tù đày những người dân lên tiếng Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam?



Sở dĩ tôi phải nhắc lại câu hỏi này một lần nữa là vì như ở trên tôi đã viết. Đảo Lý Sơn của Quảng Ngãi cách Hoàng Sa vào khoảng 135 hải lý. Theo đó dựa theo luật biển QT vào năm 1982,  vùng tiếp giáp này có thể được phân chia ra làm hai, mỗi bên một nửa. Một nửa khoảng 68 hải lý thuộc đặc khu kinh thế của Lý Sơn. Một nửa khác cũng khoảng 68 hải lý thuộc đặc khu  kinh tế Hoàng Sa. Theo đó chúng ta sẽ có bài toán như sau:



1.      Trường hợp Hoàng Sa và Lý Sơn là của Việt Nam theo lịch sử và được công nhận trong Hội Nghị Quốc Tế tại san Francisco vào năm 1951 thì Trung cộng đã hoàn toàn sai trái khi đặt cái giàn khoan HD981 vào vùng biển của Việt Nam. Quốc tế không để yên và toàn dân Việt Nam sẽ lấy máu xương của mình để bảo vệ tiền đồ do cha ông để lại. Đây chính là việc làm mà quân dân Việt Nam Cộng Hoà đã làm khi Trung cộng lấn chiếm Trường Sa vàog năm 1974. Công cuộc chiến đấu tuy gặp thất bại, nhưng đó chính là danh tính của những anh hùng bảo vệ chủ quyền truyền đời và vĩnh viễn trên lãnh thổ và lãnh hải của dân tộc Việt Nam.



2.      Tuy nhiên, cái nhìn từ lịch sử và thực tế sinh hoạt cũng như theo hội nghị San Francisco bảo quản Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam đã bị tập đoàn Việt cộng bán nước làm cho thay đồi trái chiều bằng cái công hàm của Phạm văn Đồng ký theo lệnh của Hồ chí Minh vào ngày 14-9-1958. Bản văn này đã đưa ra một dấu mốc khác, hoàn toàn trái ngược với dòng lịch sử của Việt Nam và của hội nghị QT san Francisco. Cộng sản đã công nhận chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ của Hoàng Sa và Trưòng Sa thuộc về Trung cộng. Từ cái văn bản này, tập đoàn cộng sản đã trở thành bè lũ bán nước. Họ không còn tư cách để tranh cãi với Trung cộng về chủ quyền trên Hoàng Sa và Truòng Sa nữa.



3.      Rồi từ cái văn bản này, nó trở thành bằng cớ cho một kẻ to bụng tham lam, muốn nuốt trửng cả biển đông, nên họ đã tự vẽ ra cái đuờng luỡi bò. Và từ đó, có thêm bằng chứng để chứng thực Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung cộng. Vì chính đối tác quan trọng nhất trong cuộc tranh chấp, nếu có, là Việt Nam cũng đã nhìn nhận như vậy.



4.      Bằng vào cái nhìn chia cắt này, Trung cộng tự ban cho mình có chủ quyền trên Hoàng Sa, nên có ý đòi vùng tiếp giáp giữa Lý Sơn và Hoàng Sa là 135 hải lý phải được chia ra làm hai, mỗi bên một nửa. Một khi vùng tiếp giáp được chia ra làm hai thì cái giàn khoan HĐ981 kia còn đặt sâu trong lòng đặc khu kinh tế thuộc phạm vi 68 hải lý của Hoàng Sa, nó không hề lấn qua vị trí của Lý Sơn, thuộc chủ quyền của Việt Nam, nên Việt Nam không  thể khiếu nại.



Theo đó, câu nói của Nguyễn tấn Dũng phải được hiểu là điều viễn vông, ấm ớ, và y cũng chẳng biết  vùng biển của Việt Nam là vùng nào, ở đâu. Nó trực thuộc Hoàng Sa của Việt Nam trước khi có công hàm của Phạm văn Đồng hay là sau đó? Nếu là trước 1958, thì y là kẻ thừa kế chính thức từ cái nhà nước VNDCCH do PVĐ để lại, Y phải biết xé bỏ cái công hàm kia đi rồi hãy yêu cầu. Trường hợp Y không dám xé bỏ cái công hàm kia đi thì nên im miệng đi thì hơn. Bởi lẽ, đây chính là cốt lõi của vấn đề và Trung cộng bắt nguồn từ cái văn bản ấy, họ đã chứng minh là có chủ quyền theo lịch sử và thực tế ở trên Hoàng Sa, Trường Sa. Đây cũng chính là điểm tựa để Trung cộng cương quyết duy trì chủ trương hội nghị song phương với các bên tranh chấp. Và cũng từ điểm cốt lõi này, họ đặt gian khoan HD981 trong vùng đặc khu kinh tế Hoàng Sa vì tự tin đó là phần lãnh hải của họ. Từ đó, họ có toàn quyền để bảo vệ nó, cũng như đem đến thêm những cái khác nữa..



Thế là ta mất nước rồi! Việt Nam còn nằm trong tay Việt cộng thì Hoàng Sa, Trường Sa sẽ phải nằm trong tay Trung cộng. Nằm vì những kẻ bán nước và nằm vì cứt trâu để lâu hóa bùn, sau này cũng chẳng có ai xét đến nữa. Trừ khi Trung cộng bị vỡ ra thành nhiều mảnh và bè lũ bán nước cũng không còn hiện diện trên đất Việt.



Từ đó, sẽ chẳng lạ gì khi Dương khiết Trì kinh lưọc đất bắc, Nguyễn phú Trọng, Trương tấn Sang Nguyễn tấn Dũng… và tập đoàn cộng sản bán nưóc không có một lời nào nhắc nhở cho DK Trì biết Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam theo lịch sử, thực tế quản lý và theo hội nghị ở San Francisco năm 1951. Trái lại, chỉ thấy quanh co, dối trá, mờ ám, thay nhau tựa vào hai bản văn này để lừa bịp người dân bằng những câu tuyên bố ỡm ờ, vớ vẩn  ” xác định lập trường về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, Trưòng Sa là không thay đổi và không thể thay đổi”.  Nghĩa là trươc đây PVD đã xác định như thế nào thì nay cũng không thay đổi và không thể thay đổi!  Nói toạc ra rằng, Nguyễn phú Trọng, Trương tấn Sang, Nguyễn tấn Dũng đã bám vào cái công hàm ấy để tái xác nhận chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung cộng, không phải là của Việt Nam để sống còn. ( nếu không sẽ bị loại ra ngoài cho những Hoàng Trung Hải, Uông chung Lưu, Phạm vũ Luận… thế chỗ.) Ngoài ra không có một tư duy, một lối thoát nào khác. Có chăng là một toan tính ỡm ờ để bịp lừa người dân mà thôi. Đó chính là cái bi đát của những kẻ bán nước, nhưng cũng là một thảm họa cho Việt Nam.



Đứng trước cơn quốc nạn hôm nay, tôi cho rằng, đã đến lúc tất cả mọi ngưòi Việt Nam yêu nước, từ vị trí cá nhân hay đứng chung trong các tổ chức dân sự, chính trị, nếu còn nghĩ đến tương lai sinh mệnh của đất nước Việt Nam, phải cùng nhau lên tiếng khẳng định rằng:



1.                 Chủ quyền về lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam bao gồm đất liền từ ài Nam quan đến mũi Cà Mau và các biển đảo ngoài khơi, bao gồm quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về dân tộc Việt Nam. Phần lãnh thổ, lãnh hải này không phải là của tập đoàn Việt cộng ( CSVN)



2.                 Phần  lãnh thổ, lãnh hải kể trên không thuộc chủ quyền của tập đoàn Việt cộng, nhưng  đất nưóc Việt Nam hiện bị tập đoàn cộng sản chiếm đóng. Theo đó, người dân và các tổ chức dân sự và chính trị của ngườiViệt Nam hoàn toàn bác bỏ, không công nhận bất cứ loại văn bản nào do tập thể này ký kết với ngoại bang nhằm phân rẽ, cắt chia bất cứ một phần lãnh hải, biển đảo hay lãnh thổ nào kể trên ra khỏi chủ quyền của Việt Nam.



3.                 Vận động, kêu gọi tất cả các quốc gia tây phương, các quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới hãy hỗ trợ cho một chính thể Việt Nam không cộng sản trong công cuộc bảo vệ toàn bộ lãnh thổ và lãnh hải của mình theo Công Pháp Quốc Tế. 



4.                 Sau cùng, kêu gọi toàn thể mọi người Việt Nam hãy sẵn sàng làm cuộc tổng nổi dậy để diệt cộng cúu nước.



Có cương quyết, dứt khoát như  thể, chúng ta mới khả dĩ bảo vệ được chủ quyền của đất nước từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau và bảo vệ được toàn bộ lãnh hải bao gồm cả Hoàng Sa Trưòng Sa là của Việt Nam. Mới có cơ hội xây dựng lại một xã hội Việt Nam trong Nhân Bản, Độc Lập và Tự Do.



Bảo Giang

24-6-4014
http://danlambaovn.blogspot.co.uk/2014/06/bien-ao-nao-cua-ta-chu-quyen-nao-khong.html

Thù “một” nhưng hận “mười”




Chúng đã bán . . . !Chúng đã bán, bán từ lâu lắm
Bán để tìm cuộc sống hiển vinh
Bán để làm tay sai cho giặc
Bán để rồi phản bội dân mìnhĐau đớn lắm ! mổi khi nghỉ đến
Nước Việt mình rồi sẽ ra sau
Mai mốt đây không còn VIỆT nửa
Mà chỉ còn một lủ " đuôi sam "Ôi ! đâu nửa quê hương nước Việt
Nước mắt này sẽ khóc cho ai
Cho những kẻ không còn Tổ-quốc
Không cội nguồn, không cả ngày mai !Trier, June 21st 2014 với những giọt nước mắt....

“Cả tháng nay mỗi lần đọc tin tức Biển Đông trên báo là máu tui như dồn hết lên mặt: thù thằng Trung cộng thì một mà hận bọn Việt Cộng (CSVN) tới mười...”


Sáng chủ nhật, sau thể dục, dưới táng cổ thụ rợp mát công viên Tao Đàn, ngồi chung bàn café sáng với năm vị cao niên trưởng thượng giữa Sài Gòn.


Gỡ cặp mắt kiếng bỏ tờ báo xuống bàn một Bác bạc trắng mái đầu (chắc ngoài 70) nhìn mọi người rồi chép miệng:


- “Đất nước tới hồi mạt vận, nhân dân sắp khổ vì binh đao nữa rồi!... coi chừng có mòi lại động viên quân dự bị thanh niên trai tráng!”


Nhịp ngón tay chỉ vào tấm hình trên tờ báo Bác tiếp:


- “Nó (Trung cộng) kéo bầy đàn tàu vũ trang tới khu vực giàn khoan để chận tàu mình gây sự là nó quyết tìm cớ bắt nạt đánh mình để dằn mặt Phi Luật Tân (Philippines) và khối Asean, nó biết thằng Mỹ tuy mạnh nhưng đang khó khăn trăm bề với lại Mỹ đâu có dính dáng lợi lộc gì với CS/Việt Nam mà Nghị Viện Hoa Kỳ ngu khờ phê chuẩn cho quân đội nhúng tay vào để hao binh tổn tướng?...”



Nhắp ngụm café, tay run run đặt cái ly hơi nặng tay xuống bàn làm café trong ly nẩy ra ngoài, tự nhiên Bác trừng mắt nói:


- “Cả tháng nay mỗi lần đọc tin tức Biển Đông trên báo là máu tui như dồn hết lên mặt: “thù thằng Trung Quốc thì một mà hận bọn Việt Cộng (CSVN) tới mười”... Toàn dân miền Nam dưới chế độ VNCH ai cũng biết quá rõ mà, nếu Việt Cộng ngoài Bắc không kéo vào Nam phá đám gây nên núi xương sông máu thì thằng Mỹ nó đâu có bỏ ra về... mà nó còn ở lại tới ngày nay thì tui nói thiệt, không phải một mà mười thằng Trung Quốc cũng không dám kéo xuống biển Đông, nhìn qua Nam Hàn (Hàn Quốc) và Nhật Bản nơi quân Mỹ còn ăn ngủ tại đó thì biết liền...”



Bác ấy nheo mắt xa xăm như nhớ lại rồi ôn tồn...


- “Ngày đó tui là hạ sĩ quan chuyên viên bảo trì vô tuyến trên chiến hạm QLVN/CH, ngoài trách nhiệm tuần duyên xuôi ngược còn vận chuyển tiếp liệu định kỳ cho Hoàng Sa, mùa mưa gió có lúc tránh tâm bão chiến hạm lên quá vĩ tuyến 17 tới gần đảo Hải Nam Trung Quốc mà không thấy bóng dáng tàu chiến nào của nó (TQ) hết, cũng phải thôi, tôi còn nhớ bắt đầu từ 1965, khống chế giám sát bởi hạm đội 7 Thái Bình Dương Hoa Kỳ bản doanh đóng tại vịnh Subic Phi luật Tân (đơn vị tiền phương đóng tại Cam Ranh) - Toàn khu vực biển Đông là vùng “oanh kích tác xạ tự do” của liên không quân, hải quân, Việt- Mỹ, không một tàu chiến máy bay lạ nào vào khu vực này mà không thông báo trước.”



Bác cười mỉm chua chát:


“Nếu 2 miền đất nước cứ ổn định như nội dung HĐ Genev 1954 qui định đến tận ngày nay giống với Đài Loan, Hàn Quốc thì làm sao Trung Quốc có thể ngang ngược bành trướng như chốn không người trên biển Đông? Hoàng Sa đâu có mất, đất đai Bắc biên giới đâu có hao hụt và cả 2 miền Việt Nam đâu phải lâm vào hoàn cảnh “thân cô, thế cô” bị Trung Quốc bắt nạt mà lực bất tòng tâm như hiện tại?”



Một bác ngồi kế bên bật cười khanh khách rồi lắc đầu nói:


- “Nhìn hình ảnh phiên họp đàm phán mới đây giữa nhà nước đảng CSVN và Ủy viên Quốc vụ Viện CS/Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Hà Nội vừa qua rồi nhớ lại đối chiếu với HĐ Paris 1973 mới thấy hết những cay đắng bi, hài, ấu trĩ xuẩn ngốc của một nhóm người CSVN chủ trương mà trong đó toát lên bản chất lưu manh côn đồ ngang ngược của CSTQ ngày nay là tấm gương phản chiếu từ bản chất của CSVN trước kia, cả hai giống hệt nhau...



Ngày đó, hơn 40 năm trước, hoàn cảnh của toàn dân miền Nam và chính phủ VNCH cũng “nan giải” tương đồng như hoàn cảnh của các chóp bu đảng CSVN đang đối diện với bọn bành trướng Trung cộng ngang ngược hôm nay.



Không hề là bên gây chiến, nhưng phải chịu cảnh hơn 10 năm cốt nhục tương tàn do CS Bắc Việt gây ra mà theo sự tuyên truyền “ném đá dấu tay” của CS Bắc Việt với quốc tế là do MTGP/MN của nhân dân miền Nam nổi dậy chứ miền Bắc không trực tiếp can dự vào?.



Dù bị o ép bất lợi tứ bề, vạn bất đắc dĩ Chính Phủ VNCH trong phiên họp với CS Bắc Việt cũng phải ký vào HĐ có danh xưng là “chấm dứt Chiến tranh Việt Nam” tại Paris ngày 27-1-1973 với hy vọng mong manh là qua một HĐ quốc tế có nhiều quốc gia tham dự CS Bắc Việt sẽ nghiêm túc biết tuân thủ để cho một miền Nam VN nguyện vọng sống trong hoà bình.


Lễ ký kết thoả thuận chấm dứt Chiến tranh Việt Nam (HĐ Paris) tại Khách sạn Majestic, Paris, ngày 27-1-1973



Tuy nhiên, sau đó thì ai củng biết khi quân đội Mỹ vừa rút hết quân về nước thì CS Bắc Việt tức khắc xua quân vượt vĩ tuyến 17 tấn công đánh chiếm ngay miền Nam mà hình ảnh sau cùng là chiếc xe tăng của CS/Bắc Việt tiến vào dinh Độc Lập nhưng với lá cờ xanh đỏ MTGP/MN tung bay trên pháo tháp!?? Một sự bịp bợm lưu manh rất ngang ngược... Trắng trợn xóa bỏ ngay chữ ký của chính mình, bất chấp mọi tiêu chuẩn dù là tối thiểu phổ quát nhất trong quan hệ quốc tế của một nhà nước chính danh?.




PTT/ Bộ trưởng Bộ ngoại giao Phạm Bình Minh hội đàm với Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Hà Nội ngày 18-6-2014



Và hôm nay, Trung cộng cũng hành xử ngang ngược giống y như vậy với CSVN, sau khi đưa giàn khoan HD 981 cắm trên thềm lục địa lãnh hải chủ quyền Việt Nam - Một phiên họp giữa CSVN và CSTQ đã diễn ra, với lời tuyên bố trước và sau phiên hội đàm, người phát ngôn Trung cộng Hoa Xuân Oánh nhắc lại rằng ông Dương Khiết Trì nói với phía chủ nhà Việt Nam rằng các hoạt động của giàn khoan “hoàn toàn hợp pháp” trên vùng biển chủ quyền Trung Quốc.ông Dương nhắc lại quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, là “lãnh thổ của Trung Quốc”. (*)



Và TC luôn khẳng định những gì nằm trong đường 9 đoạn trên biển Đông là thuộc chủ quyền Trung Quốc (điều này trái với Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ “UNCLOS 1982” có 164 quốc gia và Cộng đồng châu Âu đã ký kết tham gia Công ước này trong đó có Trung Quốc và Việt Nam").



Sự bất chấp công ước Luật biển UNCLOS của CSTQ y hệt như sự bất chấp HĐ Paris của CS VN.



Như bản sao “lưu manh” hung hăng, côn đồ, ăn cướp miền Nam bằng mọi giá của chính mình trước kia, các chóp bu CSVN đang chứng kiến và củng nản giải trước các hành vi “giang hồ” phi đạo đức và lẽ phải từ các “đồng chí” Trung cộng mà điển hình là giàn khoan 981 cắm sâu vào lãnh hải Việt Nam nhưng TC vẫn “tỉnh rụi” thách thức với CSVN: Đây là “lãnh thổ của Trung Quốc”, Y hệt lưu manh như cái lá cờ MTGP/MN trên chiến xa Bắc Việt và bánh xich của nó cày nát điều thứ 5 trong HĐ Paris qui định mà CS Bắc Việt thò tay ký vào (điều 5. Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hoà bình).




Hai công cụ “sứ giả” biểu tượng của sự ngang ngược và lưu manh của CSTQ và CSVN.



Tuy nhiên, có điều,Trung cộng thuận lợi bành trướng trên biển Đông ngày hôm nay là nhờ một phần rất lớn “công trạng” từ CSVN lấy vũ khí TC dùng máu xương nhân dân Việt Nam đẩy Mỹ đi khỏi khu vực dọn đường rộng rãi cho “đồng chí” Tàu Cộng vào Biển Đông hành hạ ngư dân xâm lược biển đảo quê hương.



Thù Trung cộng lẽ tất nhiên là một, duy nhất của toàn dân Việt - Nhưng hận mười lần hơn những kẻ cam tâm ngu xuẩn rước voi về dày lên mả tổ nhà mình đó là đảng CSVN thì không sai lệch chút nào.


Hoàng Thanh Trúc

Tin Vui: Phong trào “Không Bán Nước”

Sinh viên Hà Nội với Phong trào “Không Bán Nước”.

Sau hơn hai tuần lễ, tính đến nay các hoạt động ủng hộ Phong tràoKhông Bán Nướcđã được tổ chức tại ít nhất 4 địa điểm trong cả nước với 6 lần thực hiện.

Hoạt động mới nhất vừa được diễn ra vào hôm 24 tháng 6, một nhóm sinh viên tại Hà Nội đã tổ chức phát nước miễn phí và tờ rơi có nội dung nói về chủ quyền biển đảo cho người dân. Điều đáng chú ý là các bạn trẻ này từng nhiều lần xuống đường biểu tình ôn hòa bày tỏ lòng yêu nước, phản đối Trung cộng xâm lược và đều là nạn nhân của một loạt các hành vi đàn áp, sách nhiễu của chính quyền như bị bắt bớ, câu lưu, hành hung thậm chí bị buộc phải thôi học.

Mới đây nhất là ngày 18 tháng 5, ít nhất ba trong số những bạn trẻ này là Lê Đức Hiền, Hạ Long và Lý Quang Sơn đã bị công an Hà Nội bắt giữ trái phép khi xuống đường biểu tình phản đối giàn khoan HD 981.

Khi được hỏi vì sao hưởng ứng Phong trào này, một bạn cho biết:
Mời nước miễn phí cho người dân lao động trong mùa hè nóng bức là chuyện nên làm. Nó thể hiện tấm lòng của tụi em. Và tụi em cũng muốn qua việc làm nho nhỏ của mình thể hiện trách nhiệm với Dân tộc. Muốn nói với các cô chú bác, anh chị em rằng nếu nước mất thì nhà tan. Lịch sử cha ông ta chưa bao giờ khuất phục ngoại bang. Nhiều năm trở lại đây, Trung Quốc luôn gây hấn với Việt Nam; chúng xây dựng khu hành chính Tam Sa để quản lý Hoàng Sa, Trường Sa của chúng ta. Chúng bắt giết ngư dân Việt Nam ngay trên biển của chúng ta; chúng vẽ ra đường lưỡi bò để chiếm biển Đông, chúng cắt cáp rồi bây giờ lại cắm cái giàn khoan HD981 ngay trên vùng biển chủ quyền của chúng ta…

Người dân trong đó có chúng em đi biểu tình phản đối Trung Quốc thì bị bắt bớ, đánh đập. Trong khi truyền thông nhà nước thì đưa tin không trung thực. Giờ tụi em đi phát nước miễn phí, nói cho bà con biết hành động xâm lược của Trung Quốc với hy vọng họ hiều về hiện tình đất nước. Chúng em chỉ nghĩ đơn giản, là một công dân thì phải có trách nhiệm với Dân tộc mình. Người dân VN luôn bị “trách” là vô cảm nhưng chúng em nghĩ điều đó chỉ đúng 1 phần thôi. Cái chính là họ bị bưng bít sự thật. Nếu có ai nói cho họ biết sự thật, em tin chắc họ sẽ có tinh thần trách nhiệm hơn. Ai cũng yêu nước, yêu Tổ quốc mình chỉ có điều không biết hoặc không có cơ hội thể hiện thôi.
Đề cập về những khó khăn khi thực hiện hành động “Không Bán Nước”, một bạn khác chia sẻ:
Chúng em cũng có gặp một số trở ngại. Nhiều người rất e dè khi nhận tờ rơi. Sau khi chúng em giải thích thì họ có đọc và nói: “Ồ, toàn là những điều hiển nhiên là sự thật”. Chúng em nghĩ, chắc họ bị… nhiễm lời tuyên truyền lề đảng rằng những ai đi phát tờ rơi, hay nói về chủ quyền biên đảo đều là “kẻ xấu”, là “thế lực thù địch” nên mới có những biểu hiện như thế. Có người thậm chí còn… dặn chúng em là: “Đừng có đi biểu tình nhé, biểu tình là bị bắt đấy”. Thế là lại phải giải thích. Thế mới biết, người dân ta khổ và thảm hại cỡ nào. Đến quyền lợi chính đáng của mình mà còn nghĩ đó là điều pham pháp.


Thay mặt cho nhóm, bạn Lê Đức Hiền đã chia sẻ một vài suy nghĩ khá thú vị về ý nghĩa của việc ủng hộ và tham gia phong trào Không Bán Nước: 
Theo em thì khi xuống đường biểu tình ôn hòa hay hưởng ứng phong trào không bán nước đều là những việc làm xuất phát từ trách nhiệm và tình yêu với đất nước. Em nghĩ việc Không Bán Nước, tức là nói cho đầy đủ là phản đối giàn khoan HD 981, phát nước miễn phí, phát tờ rơi và tiếp cận với người dân để trao đổi với họ về chủ quyền biển đảo thì tác dụng của nó là không hề nhỏ hơn việc xuống đường biểu tình.

Việc phát tờ rơi, Không Bán Nước không cần phải có nhiều người cũng thực hiện được. Và quan trọng là việc tiếp cận với quần chúng là vô cùng cần thiết. Tụi em thấy một người phụ nữ yếu ớt, hơn nữa lại là một người tù bị quản chế như chị Phạm Thanh Nghiên ở Hải Phòng còn dám làm thì tụi em không có lý do gì không làm. Chị Như Quỳnh ở Nha Trang, vướng bận con nhỏ chị ấy cũng làm được. Rồi gần đây nhất là nhóm anh Bạch Hồng Quyền, chú Trương Văn Dũng, chị Mai Phuơng Thảo và anh Lê Thiên Nhân đã thực hiện việc này.

Và tụi em còn biết sau khi thực hiện việc này thành công, nhóm anh Nhân cũng như chú Dũng lại tiếp tục tham gia biểu tình phản đối chuyến thăm của Dương Khiết Trì ngày sau đó rồi cả hai cùng bị bắt. Nhất là trường hợp chú Tuyến ở Sài Gòn, chú chỉ có một mình mà đã hai lần quẩy gánh nước đi dạo mời bà con với những thông điệp về tình yêu đất nước khiến ai cũng thấy cảm động và thú vị nữa. Em hy vọng đây sẽ là một việc làm được nhiều người hưởng ứng để nó thật sự trở thành một "phong trào" và diễn ra khắp nơi trên quê hương Việt Nam. Nhưng đó chỉ là ước mong thôi, khó thành hiện thực bởi không phải ai cũng muốn làm và dám làm. Nhất là khi việc làm này bị không ít người cho là… buồn cười. 
Nhóm sinh viên này cho biết họ sẽ tiếp tục huởng ứng phong trào Không Bán Nước vì thấy được tác động tích cực của nó lên xã hội. Và họ cũng đóan trước sẽ gặp rắc rối, thậm chí bị “chơi xấu”, bị gây sự, bị sách nhiễu, thậm chí có thể bị bắt giữ hay hành hung nhưng các bạn cho rằng đấy chính là biểu hiện rõ nhất của hiệu quả công việc các bạn đang làm.

Thật nực cười khi nhà nước, các ông lãnh đạo đảng phản đối giàn khoan HD981 nhưng lại đi bắt bớ người dân chỉ vì cũng hành động như mình. Và rõ ràng chúng em bị trà đạp nhân quyền chỉ vì bày tỏ thái độ, quan điểm một cách ôn hòa về chủ quyền đất nước". Một người tham gia Phong trào Không bán nước ngày 24.6 đã chia sẻ.





CTV Danlambao -

Tuesday, 24 June 2014

Làm ơn xóa giùm chữ “đồng chí”

Xóa Chữ “Đồng Chí” Giùm
Làm ơn xóa giùm chữ “đồng chí” trong ngôn ngữ Việt Nam giùm, vì chữ này đã mất nghĩa nguyên thủy rồi.

Vậy mà các quan chức hai nước Ta và Taù vẫn gọi nhau là “đồng chí” khi biển Việt Nam liên tục bị lấn tới, khi ngư dân Việt ra Biển Đông kiếm sống là bị tàu Trung Quốc húc cho vỡ, đụng cho chìm...

Sáng hôm Thứ Bảy 21-6-2014 lại có tin từ mạng của thông tấn VTC rằng, Trung Quốc sẽ kéo Hải Dương 981 vào Trường Sa...

Bản tin VTC ghi theo Thanh Niên cho biết Trung Quốc có thể kéo giàn khoan Hải Dương-981 vào vùng biển Trường Sa của Việt Nam. Đỉnh điểm của căng thẳng trên biển Đông vẫn còn nằm ở phía trước và Trung Quốc sẽ tiếp tục tung ra những quân cờ mới.

Bản tin ghi lời thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Công an, tại cuộc tọa đàm “Tình hình an ninh biển Đông hiện nay” do Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam tổ chức sáng 20/6 tại Hà Nội:

“...có 3 kịch bản mà Trung Quốc sử dụng với giàn khoan Hải Dương 981 trong thời gian tới gồm: rút ra vùng biển quốc tế, rút về vùng biển của Trung Quốc và nguy hiểm nhất là vẫn duy trì giàn khoan này ở trong vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, kéo hướng về phía quần đảo Trường Sa.”

Và cùng lúc, bản tin VTC cho biết Trung Quốc ngang ngược cấp 'sổ đỏ' tại Hoàng Sa.


Bản tin VTC nói:

“Hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất mới của Trung Quốc sẽ bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trên biển Đông, báo Economic Observer có trụ sở ở Bắc Kinh cho hay.

Tờ Economic Observer dẫn nguồn tin từ Văn phòng Đăng ký bất động sản thuộc Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc cho biết, tất cả những khu vực mà Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền sẽ đều được đưa vào hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất mới của nước này.

Đáng chú ý, các quy định đăng ký đất mới xác định rằng, khái niệm "bất động sản" của Trung Quốc là "đất đai, biển cả, những tòa nhà, nhà cửa và kiến trúc khác, rừng, cây cối và những vật thể cố định khác", nguồn tin này cho biết thêm...

...Nguồn tin xác nhận, cái gọi là "thành phố Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam", đơn vị hành chính do Trung Quốc lập ra một cách phi pháp vào năm 2012 để quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đã được đưa vào hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất mới.”

Nhà bình luận Tô Văn Trường trong bài viết “Họ Vẫn Còn Gọi Nhau Là Đồng Chí” trên mạng?Bauxite VN đã viết:

“Anh mắt “rực lửa” của Bộ trưởng Phạm Bình Minh khi bắt tay Ủy viên quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì rất khí phách, thể hiện phong cách ngoại giao trong quan hệ thực chất hiện nay với Trung Quốc. Tiếc rằng trong bài phát biểu của ai nấy đọc, họ lại vẫn còn gọi nhau là “đồng chí”. Nghe rõ chán!

Luận bàn hai từ “đồng chí”

Ngôn từ nào cũng phải hợp ngữ cảnh thì mới có sức sống. Dùng sai ngữ cảnh thì nó lãng nhách như Trung Quốc hiện nay đã không giấu giếm bộ mặt xâm lược đối với Việt Nam mà hai bên vẫn gọi nhau bằng "đồng chí" thì chẳng khác nào "sấm giữa trời quang". Cách gọi đó không chỉ vô duyên, mà còn rất phũ phàng, ghẻ lạnh với các chiến sĩ bảo vệ biển và ngư dân ta đang vật lộn, kiên cường bám biển, không quản ngại hy sinh, gian khổ bị tàu Trung Quốc “đâm húc” ngoài Biển Đông, nhất là từ gần hai tháng nay. Người dân có quyền đặt ra câu hỏi với những người đang giữ trọng trách quản lý điều hành đất nước: phải chăng hai chữ "đồng chí" trong hoàn cảnh nầy chứa đựng sự bí ẩn cũng như “sự kiện Thành đô", như cụm từ "nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai bên", "vì đại cục," v.v...”(ngưng trích)

Xóa giùm những chữ như chư “đồng chí” giùm với.

Vậy rồi trả lời làm sao với ngư dân, với những bộ đội VN tử trận năm 1979 ở 6 tỉnh phía Bắc, với những bộ đội VN bị quân Tàu đánh úp năm 1984 để chiếm núi Lão Sơn, và với bộ đội tử trận ở đảo Gạc-Ma năm 1988?

Càng nhượng bộ, càng mất dần.

Tại sao không kiện ra LHQ vẫn là điều hết sức bí hiểm vậy.

May mà cả Quốc hội vẫn còn một tiếng nói lẻ loi: Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đòi ra nghị quyết Biển Đông.

Trong khi đó cả Quốc hội ngồi im lặng... Vậy rồi, các vị đại biểu này về nhà, trả lời làm sao khi vợ con quý vị hỏi về sự im lặng của các “đồng chí đại biểu”?

Cô Tư Sài Gòn

Nhật Bản và Trung Quốc – Kẻ thù không đội trời chung


Ông Ryosei Kokubun

Phan Ba trích dịch từ “Der nächste Kalte Krieg: China gegen den Westen” ("Cuộc Chiến tranh Lạnh kế tiếp - Trung Quốc chống Phương Tây")

Học viện Quốc phòng Nhật Bản nằm thơ mộng ở bên trên Vịnh Tokyo. Lực lượng lãnh đạo quân đội của Nhật Bản được đào tạo ở đây. Sếp học viện từ tháng Tư 2012 là Ryosei Kokubun. Ryosei Kokubun không phải là nhà binh, mà là người dân sự, trước đó, ông là giáo sư của đại học nổi tiếng Keio.


Học viện Quốc phòng Nhật Bản nằm thơ mộng ở bên trên Vịnh Tokyo. Lực lượng lãnh đạo quân đội của Nhật Bản được đào tạo ở đây. Sếp học viện từ tháng Tư 2012 là Ryosei Kokubun. Ryosei Kokubun không phải là nhà binh, mà là người dân sự, trước đó, ông là giáo sư của đại học nổi tiếng Keio.


Ông Ryosei Kokubun

Nổi bật trong cuộc trao đổi với ông thường là câu nói ngắn gọn: “We have to be prepared.” Chúng tôi phải chuẩn bị sẵn sàng. Cho điều gì? Ông không buộc phải nói ra và cũng không nói ra. Như thế cũng đã rõ là ông muốn nói gì: Chúng tôi phải chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc xung đột quân sự với Trung Quốc. Đó là một con bồ câu nói, vì Kokubun không thuộc phe diều hâu ở Nhật.
Đó là một quan hệ khó khăn giữa Trung Quốc và Nhật Bản, có lẽ là quan hệ khó khăn nhất mà Trung Quốc có với một đất nước khác. Từ quan điểm của Trung Quốc thì các lý do đã rõ: Không có nước nào khác đã gây hại cho Trung Quốc nhiều hơn là Nhật Bản. Điều đó bắt đầu với một chiến bại trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ Nhất 1894/95 mà hậu quả của nó là vùng Mãn Châu, phần Đông Bắc của Trung Quốc, thuộc Nhật, và tiếp tục với cuộc Chiến tranh chống Nhật – tên chính thức của Trung Quốc – từ 1937 tới 1945 mà trong đó người Nhật đã tàn phá Trung Quốc nặng nề.

Điều mà người Trung Quốc lên án đúng về người Nhật là sự việc, rằng họ chưa từng bao giờ xin lỗi xứng đáng với những hành động tàn ác trong cuộc Chiến tranh chống Nhật. Đặc biệt là cuộc thảm sát Nam Kinh mà người Nhật trong mùa Đông 1937/1938 đã giết chết trên 200,000 (phiên bản Nhật) hay trên 300,000 người Trung Quốc (cách đếm của Trung Quốc).

Vì vậy, chính vì là người Đức mà người ta thường hay nghe được lý lẽ: Người Đức các anh đã xin lỗi một cách gương mẫu cho các tội phạm của các anh trong Đệ nhị Thế chiến ở các nạn nhân. Tại sao người Nhật lại không thể làm được việc đó?

Vì vậy mà phải mất một thời gian dài, cho tới khi các quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật bản được bình thường hóa một ít. Mãi tới tháng Mười Hai 1972 – nối tiếp theo lần nhích lại gần nhau Mỹ-Trung – quan hệ ngoại giao mới được thiết lập. Rồi tiếp theo sau đó trong mùa Hè 1978 là một hiệp ước hòa bình và hữu nghị.

Thế nhưng tiếp theo những dấu hiệu tốt đẹp này lại là một sự hoán chuyển liên tục giữa tiếp cận và xa lánh, tùy theo người nào nắm quyền ở Tokyo.

Nắm quyền từ cuối 2012 là Shinzo Abe, một nhà dân chủ tự do có hơi hướng quốc gia mà trong chính phủ của ông có 14 thành viên của một hội ủng hộ đền Yasukuni, nơi ngoài những người khác, các tội phạm chiến tranh Nhật Bản được thờ phụng. Các động thái đầu tiên sau khi tiếp nhận chức vụ đã xác nhận tiếng tăm là người thuộc phe cứng rắn của ông. Ông muốn nâng ngân sách quốc phòng – lần đầu tiên sau mười một năm – lên. Chuyến ra nước ngoài đầu tiên dẫn ông sang Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, để tranh thủ đồng minh chống Trung Quốc. Và ông muốn cắt xén điều 9 nổi tiếng của hiến pháp nước này, điều tuyên bố nước Nhật là một quốc gia yêu chuộng hòa bình và lệnh cho các lực lượng quân đội Nhật phải kiềm chế mình ở bên này của biên giới.
 

Chính điện của Đền Yasukuni. Hình: Wikipedia

Nhưng từ trước khi Abe tiếp nhận chức vụ thì Tokyo cũng đã rời bỏ từng bước vị trí hòa bình của mình, cái mà các lực lượng chiến thắng đã ép buộc sau chiến bại của nước Nhật trong Đệ nhị Thế chiến. Chính một trong các lực lượng đó – Hoa Kỳ – bây giờ lại là động lực chính thúc đẩy cho việc Nhật Bản lại hoạt động mạnh hơn về quân sự. Dù người Mỹ và người Nhật có len lách như thế nào đi chăng nữa thì cũng rõ là sự định hướng mới này nhắm tới ai: chống Trung Quốc.

Các tuyên bố và động thái của những năm vừa rồi nói một ngôn ngữ rõ ràng. Điều đó bắt đầu với bề ngoài. Cả một thời gian dài, ở Tokyo không có một bộ quốc phòng. Cơ quan này có tên là National Safety Agency. Mãi tới 2007, cơ quan mới được nâng cấp lên thành một Ministry of Defense đầy đủ. Rằng chính sách an ninh có một giá trị mới, điều này cũng thể hiện ở việc một Hội đồng An ninh Quốc gia theo kiểu mẫu Hoa Kỳ đã được thành lập.

Trong những năm vừa qua, Hải quân và Không quân cũng được tăng cường vũ trang. Bây giờ nước Nhật có rất nhiều trang thiết bị quân sự hơn là cần thiết để bảo vệ. Và việc tăng cường vũ trang vẫn được tiếp tục. Con số tàu ngầm sẽ được tăng từ 16 lên 22 trong những năm tới đây. Đó là lần mở rộng hạm đội đầu tiên từ 34 năm nay. Ngoài ra, người Nhật mua chiến đấu cơ F-35 từ người Mỹ và lên kế hoạch chế tạo một loại máy bay ném bom tàng hình riêng mà chuyến bay đầu tiên của nó được dự định vào năm 2014. Khẩu hiệu: nếu người Trung Quốc có một chiếc thì chúng ta cũng cần một chiếc.

Rằng Trung Quốc dứt khoát là kẻ thù mới của nước Nhật, điều này đã rõ chậm nhất là trong tháng Mười Hai 2010. National Defense Program Guidelines (NDPG) được công bố lúc đó thay thế cho cái cũ của năm 2004. Thông điệp chính là: tất cả ba binh chủng (hải lục không quân) chuyển người và vật liệu từ Bắc (nơi trước đây trong thời Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất người ta chờ đợi địch thủ Nga) sang Tây Nam (nơi trong thời của cuộc Chiến tranh Lạnh lần thứ nhì người ta chờ đợi địch thủ Trung Quốc).

Mùa Hè 2012, chính phủ đổ thêm dầu vào lửa, khi họ đưa ra một quyển sách trắng mới về quốc phòng. Trong lần giới thiệu nó, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thời đó Satoshi Morimoto đã tấn công Trung Quốc một cách hết sức phi ngoại giao và đả kích việc họ nâng cao ngân sách quốc phòng liên tục và nhanh chóng hiện đại hóa quân đội của họ. “Trung Quốc mở rộng hoạt động của họ trong các vùng biển gần Nhật Bản và tăng cường chúng”, Morimoto lên án và đồng thời bảo đảm: “Liên minh với Hoa Kỳ là cột trụ trung tâm của chính sách an ninh quốc gia chúng ta.”

Trong những năm vừa qua, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã nhích lại gần nhau. Từ nhiều năm nay, trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, người Mỹ đã thúc giục người Nhật hãy cộng tác nhiều hơn nữa.  Họ muốn có một sự điều hợp chặt chẽ hơn nữa giữa hai quân đội. Yêu cầu của họ ngày này được lắng nghe. Lần đầu tiên đã có một cái gì đó giống như phân chia lao động giữa hai quân đội.
 

Diễn tập quân sự Mỹ-Nhật trong tháng 12 năm 2010

Nhưng không chỉ quan hệ giữa quân đội Mỹ và Nhật là được tăng cường. Guidelines được ban hành năm 2010 cũng dự định có những tiếp xúc quân sự mật thiết của Nhật với Hàn Quốc, Úc, các nước ASEAN và Ấn Độ. Ở Tokyo thì đó không phải là điều bí mật, rằng người Mỹ đã ép buộc người Nhật đi vào những liên minh như vậy, nhiều hay ít nhẹ nhàng.

Đặc biệt, đối tác chiến lược với Ấn Độ được tăng cường. Nó được khoác lên bởi những từ ngữ lớn lao: Đó là một sự hợp tác của nền dân chủ lớn nhất thế giới (Ấn Độ) với nền dân chủ lâu đời nhất châu Á (Nhật Bản). Thật ra thì đó là một phản xạ hoàn toàn bình thường vì Trung Quốc. “Lần trỗi dậy của một Trung Quốc ngày càng tự tin hơn đã tăng tốc cho sự hợp tác Nhật-Ấn”, chuyên gia chính trị Ấn Độ Brahma Chellanex nói.

Quân đội Nhật Bản và Ấn Độ thời gian sau này tập trận chung trên đất liền và trên biển. Cũng như giữa Nhật và Úc, đã có những cuộc gặp gỡ thường xuyên của các bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Quốc phòng hai nước, những cái được gọi là đối thoại 2+2. Và từ tháng Mười Hai 2011 cũng tồn tại một đối thoại tam phương giữa Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Có thành hình một trục mới Washington-Tokyo-New Delhi không? Các liên minh này và việc Nhật Bản tăng cường vũ trang chắc chắn là không làm giảm các căng thẳng giữa Nhật Bản và Ấn Độ. Còn ngược lại: “Khả năng của một xung độ quân sự giữa Trung Quốc và Nhật Bản dường như không còn cách xa như người ta nghĩ lâu nay”, Susan Shirk, nữ chuyên gia về Trung Quốc tại University of California ở San Diego.

Quan hệ giữa hai láng giềng rất mỏng manh. Có những mối hận thù sâu đậm mà cả hai dân tộc có với nhau và cũng được vun xới như thế nào đó. Người ta đơn giản là không ưa nhau. 84% người Nhật nói rằng họ có một ấn tượng xấu về Trung Quốc. Ngược lại, tuy 'chỉ' là 64,5%, nhưng đối với phần lớn người Trung Quốc thì người Nhật là 'quỷ dữ'.

Trước tình cảnh này thì không cần phải xảy ra nhiều điều, và rồi tình hình sẽ leo thang căng thẳng. – Như tại các tranh chấp vì một vài hòn đảo ở biển Hoa Đông.

Phan Ba trích dịch từ “Der nächste Kalte Krieg: China gegen den Westen” ("Cuộc Chiến tranh Lạnh kế tiếp - Trung Quốc chống Phương Tây")
Nổi bật trong cuộc trao đổi với ông thường là câu nói ngắn gọn: “We have to be prepared.” Chúng tôi phải chuẩn bị sẵn sàng. Cho điều gì? Ông không buộc phải nói ra và cũng không nói ra. Như thế cũng đã rõ là ông muốn nói gì: Chúng tôi phải chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc xung đột quân sự với Trung Quốc. Đó là một con bồ câu nói, vì Kokubun không thuộc phe diều hâu ở Nhật.

Đó là một quan hệ khó khăn giữa Trung Quốc và Nhật Bản, có lẽ là quan hệ khó khăn nhất mà Trung Quốc có với một đất nước khác. Từ quan điểm của Trung Quốc thì các lý do đã rõ: Không có nước nào khác đã gây hại cho Trung Quốc nhiều hơn là Nhật Bản. Điều đó bắt đầu với một chiến bại trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ Nhất 1894/95 mà hậu quả của nó là vùng Mãn Châu, phần Đông Bắc của Trung Quốc, thuộc Nhật, và tiếp tục với cuộc Chiến tranh chống Nhật – tên chính thức của Trung Quốc – từ 1937 tới 1945 mà trong đó người Nhật đã tàn phá Trung Quốc nặng nề.

Điều mà người Trung Quốc lên án đúng về người Nhật là sự việc, rằng họ chưa từng bao giờ xin lỗi xứng đáng với những hành động tàn ác trong cuộc Chiến tranh chống Nhật. Đặc biệt là cuộc thảm sát Nam Kinh mà người Nhật trong mùa Đông 1937/1938 đã giết chết trên 200,000 (phiên bản Nhật) hay trên 300,000 người Trung Quốc (cách đếm của Trung Quốc).

Vì vậy, chính vì là người Đức mà người ta thường hay nghe được lý lẽ: Người Đức các anh đã xin lỗi một cách gương mẫu cho các tội phạm của các anh trong Đệ nhị Thế chiến ở các nạn nhân. Tại sao người Nhật lại không thể làm được việc đó?

Vì vậy mà phải mất một thời gian dài, cho tới khi các quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật bản được bình thường hóa một ít. Mãi tới tháng Mười Hai 1972 – nối tiếp theo lần nhích lại gần nhau Mỹ-Trung – quan hệ ngoại giao mới được thiết lập. Rồi tiếp theo sau đó trong mùa Hè 1978 là một hiệp ước hòa bình và hữu nghị.

Thế nhưng tiếp theo những dấu hiệu tốt đẹp này lại là một sự hoán chuyển liên tục giữa tiếp cận và xa lánh, tùy theo người nào nắm quyền ở Tokyo.

Nắm quyền từ cuối 2012 là Shinzo Abe, một nhà dân chủ tự do có hơi hướng quốc gia mà trong chính phủ của ông có 14 thành viên của một hội ủng hộ đền Yasukuni, nơi ngoài những người khác, các tội phạm chiến tranh Nhật Bản được thờ phụng. Các động thái đầu tiên sau khi tiếp nhận chức vụ đã xác nhận tiếng tăm là người thuộc phe cứng rắn của ông. Ông muốn nâng ngân sách quốc phòng – lần đầu tiên sau mười một năm – lên. Chuyến ra nước ngoài đầu tiên dẫn ông sang Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, để tranh thủ đồng minh chống Trung Quốc. Và ông muốn cắt xén điều 9 nổi tiếng của hiến pháp nước này, điều tuyên bố nước Nhật là một quốc gia yêu chuộng hòa bình và lệnh cho các lực lượng quân đội Nhật phải kiềm chế mình ở bên này của biên giới.



Chính điện của Đền Yasukuni. Hình: Wikipedia
Nhưng từ trước khi Abe tiếp nhận chức vụ thì Tokyo cũng đã rời bỏ từng bước vị trí hòa bình của mình, cái mà các lực lượng chiến thắng đã ép buộc sau chiến bại của nước Nhật trong Đệ nhị Thế chiến. Chính một trong các lực lượng đó – Hoa Kỳ – bây giờ lại là động lực chính thúc đẩy cho việc Nhật Bản lại hoạt động mạnh hơn về quân sự. Dù người Mỹ và người Nhật có len lách như thế nào đi chăng nữa thì cũng rõ là sự định hướng mới này nhắm tới ai: chống Trung Quốc.

Các tuyên bố và động thái của những năm vừa rồi nói một ngôn ngữ rõ ràng. Điều đó bắt đầu với bề ngoài. Cả một thời gian dài, ở Tokyo không có một bộ quốc phòng. Cơ quan này có tên là National Safety Agency. Mãi tới 2007, cơ quan mới được nâng cấp lên thành một Ministry of Defense đầy đủ. Rằng chính sách an ninh có một giá trị mới, điều này cũng thể hiện ở việc một Hội đồng An ninh Quốc gia theo kiểu mẫu Hoa Kỳ đã được thành lập.

Trong những năm vừa qua, Hải quân và Không quân cũng được tăng cường vũ trang. Bây giờ nước Nhật có rất nhiều trang thiết bị quân sự hơn là cần thiết để bảo vệ. Và việc tăng cường vũ trang vẫn được tiếp tục. Con số tàu ngầm sẽ được tăng từ 16 lên 22 trong những năm tới đây. Đó là lần mở rộng hạm đội đầu tiên từ 34 năm nay. Ngoài ra, người Nhật mua chiến đấu cơ F-35 từ người Mỹ và lên kế hoạch chế tạo một loại máy bay ném bom tàng hình riêng mà chuyến bay đầu tiên của nó được dự định vào năm 2014. Khẩu hiệu: nếu người Trung Quốc có một chiếc thì chúng ta cũng cần một chiếc.

Rằng Trung Quốc dứt khoát là kẻ thù mới của nước Nhật, điều này đã rõ chậm nhất là trong tháng Mười Hai 2010. National Defense Program Guidelines (NDPG) được công bố lúc đó thay thế cho cái cũ của năm 2004. Thông điệp chính là: tất cả ba binh chủng (hải lục không quân) chuyển người và vật liệu từ Bắc (nơi trước đây trong thời Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất người ta chờ đợi địch thủ Nga) sang Tây Nam (nơi trong thời của cuộc Chiến tranh Lạnh lần thứ nhì người ta chờ đợi địch thủ Trung Quốc).

Mùa Hè 2012, chính phủ đổ thêm dầu vào lửa, khi họ đưa ra một quyển sách trắng mới về quốc phòng. Trong lần giới thiệu nó, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thời đó Satoshi Morimoto đã tấn công Trung Quốc một cách hết sức phi ngoại giao và đả kích việc họ nâng cao ngân sách quốc phòng liên tục và nhanh chóng hiện đại hóa quân đội của họ. “Trung Quốc mở rộng hoạt động của họ trong các vùng biển gần Nhật Bản và tăng cường chúng”, Morimoto lên án và đồng thời bảo đảm: “Liên minh với Hoa Kỳ là cột trụ trung tâm của chính sách an ninh quốc gia chúng ta.”

Trong những năm vừa qua, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã nhích lại gần nhau. Từ nhiều năm nay, trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, người Mỹ đã thúc giục người Nhật hãy cộng tác nhiều hơn nữa. Họ muốn có một sự điều hợp chặt chẽ hơn nữa giữa hai quân đội. Yêu cầu của họ ngày này được lắng nghe. Lần đầu tiên đã có một cái gì đó giống như phân chia lao động giữa hai quân đội.

Nhưng không chỉ quan hệ giữa quân đội Mỹ và Nhật là được tăng cường. Guidelines được ban hành năm 2010 cũng dự định có những tiếp xúc quân sự mật thiết của Nhật với Hàn Quốc, Úc, các nước ASEAN và Ấn Độ. Ở Tokyo thì đó không phải là điều bí mật, rằng người Mỹ đã ép buộc người Nhật đi vào những liên minh như vậy, nhiều hay ít nhẹ nhàng.

Đặc biệt, đối tác chiến lược với Ấn Độ được tăng cường. Nó được khoác lên bởi những từ ngữ lớn lao: Đó là một sự hợp tác của nền dân chủ lớn nhất thế giới (Ấn Độ) với nền dân chủ lâu đời nhất châu Á (Nhật Bản). Thật ra thì đó là một phản xạ hoàn toàn bình thường vì Trung Quốc. “Lần trỗi dậy của một Trung Quốc ngày càng tự tin hơn đã tăng tốc cho sự hợp tác Nhật-Ấn”, chuyên gia chính trị Ấn Độ Brahma Chellanex nói.

Quân đội Nhật Bản và Ấn Độ thời gian sau này tập trận chung trên đất liền và trên biển. Cũng như giữa Nhật và Úc, đã có những cuộc gặp gỡ thường xuyên của các bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Quốc phòng hai nước, những cái được gọi là đối thoại 2+2. Và từ tháng Mười Hai 2011 cũng tồn tại một đối thoại tam phương giữa Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Có thành hình một trục mới Washington-Tokyo-New Delhi không? Các liên minh này và việc Nhật Bản tăng cường vũ trang chắc chắn là không làm giảm các căng thẳng giữa Nhật Bản và Ấn Độ. Còn ngược lại: “Khả năng của một xung độ quân sự giữa Trung Quốc và Nhật Bản dường như không còn cách xa như người ta nghĩ lâu nay”, Susan Shirk, nữ chuyên gia về Trung Quốc tại University of California ở San Diego.

Quan hệ giữa hai láng giềng rất mỏng manh. Có những mối hận thù sâu đậm mà cả hai dân tộc có với nhau và cũng được vun xới như thế nào đó. Người ta đơn giản là không ưa nhau. 84% người Nhật nói rằng họ có một ấn tượng xấu về Trung Quốc. Ngược lại, tuy 'chỉ' là 64,5%, nhưng đối với phần lớn người Trung Quốc thì người Nhật là 'quỷ dữ'.

Trước tình cảnh này thì không cần phải xảy ra nhiều điều, và rồi tình hình sẽ leo thang căng thẳng. – Như tại các tranh chấp vì một vài hòn đảo ở biển Hoa Đông.


Phan Ba trích dịch từ “Der nächste Kalte Krieg: China gegen den Westen” ("Cuộc Chiến tranh Lạnh kế tiếp - Trung Quốc chống Phương Tây")
 

 Wolfgang Hirn

 http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=190467&zoneid=434#.U6mC7UC5diw

Sách Sử Của Giặc Hồ


Bìa cuốn vở có lỗi sai về kiến thức lịch sử

Học sử mà gặp phải thứ sách khốn nạn như thế thì giữ nước thế cho nào được

Bạn ta,

Tại Việt Nam, một cuốn sách nhan đề Vở Luyện Từ và Câu lớp 3, tập 2 vừa bị thu hồi và tạm ngưng phát hành để chỉnh sửa những sai sót trong sách.

Ở trang 5 của cuốn sách vừa kể có một bài viết tay với tuồng chữ rất chân phương và rất đẹp. Nhưng nội dung của đoạn viết tay đó đã để lại những sai sót tầy đình. Đây là nguyên văn đoạn viết tay ấy:

“Quân Nam Hán đưa một đạo quân rất đông sang đánh nước ta. Lý Thường Kiệt dùng kế chôn cọc gỗ đầu bịt sắt nhọn dưới sông Bạch Đằng . Quân Nam Hán đến cửa sông vào lúc thủy triều lên che lấp các cọc nhọn. Lý Thường Kiệt cho thuyền nhẹ bơi ra khiêu chiến , vừa đánh vừa rút lui nhử cho giặc vào nơi quân ta mai phục. Vừa lúc ấy thủy triều xuống quân mai phục hai bên bờ sông đổ ra đánh rất mạnh. Giặc hốt hoảng quay thuyền chạy thì bị va vào cọc thuyền bị thủng đâm hàng loạt . Cuộc xâm lược của dịch hoàn toàn thất bại. Mùa xuân năm 939 Lý Thường Kiệt lên ngôi vua.”



Cuốn sách này được hình thành bởi 5 người, trong đó có một chủ biên, 4 người kia không biết giữ những công việc và trách nhiệm gì.

Nhưng với 5 người như thế mà vẫn để lại những sai sót vô cùng tệ hại thì quả là bọn biên soạn cuốn sách ngu thật.

Bài viết được giao cho một người có chữ viết rất đẹp để viết làm mẫu cho các học sinh tập viết. Phải nói người viết có nét chữ rất đẹp. Nhưng cũng chính vì đó là chữ viết tay, không phải là được sắp chữ, hay đánh bằng máy điện toán nên không thể nói đó là lỗi typo. Người viết chỉ có nhiệm vụ viết, nhưng ít nhất cũng phải có một chút kiến thức về sử để nhìn ra chi tiết lộn Ngô Quyền thành Lý Thường Kiệt. Nhưng người này đã không thấy được sai sót đó. Viết xong chắc chắn bài viết phải được đọc lại để sửa chữa nếu có chi tiết, chữ nào bị viết sai, thiếu nét, đánh dấu lầm… Nhưng rõ ràng là (những) người đọc lại bản viết cũng không nhìn ra được sai sót nên Lý Thường Kiệt mới được trao cho một công việc khác là đánh quân Nam Hán, để cho Ngô Quyền ở không, ngồi chơi sơi nước.

Trong đoạn văn, quân Nam Hán được nhắc tới hai lần. Lý Thường Kiệt được nhắc tên ba lần. Lý Thường Kiệt cũng được trao cho công việc đóng cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, để đánh đoàn chiến thuyền Nam Hán. Việc đó, ai học sử Việt cũng phải biết là việc làm của Ngô Quyền, và sau đó, năm 1288 Hưng Đạo Vương cũng dùng kế đóng cọc nhọn trên sông Bạch Đằng để đánh quân Nguyên.

Lầm Ngô Quyền thành Lý Thường Kiệt mới chỉ là một cái lỗi mà người ta nhìn thấy trong bài viết.

Nhưng thực ra, còn có những lỗi khác nữa thì lại không thấy những độc giả góp ý với tờ Dân Trí nêu ra.

Đó là ở cuối của bài viết, người ta đọc thấy nguyên văn câu này: “Năm 939, Lý Thường Kiệt lên ngôi vua.”

Thực ra thì Ngô Quyền mới là người lên ngôi vua năm 939 tức là năm Kỷ Hợi, đóng đô ở Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Ngô Quyền chết năm Giáp Thân (944), thọ 47 tuổi.

Lý Thường Kiệt thì không bao giờ đánh quân Nam Hán. Lý Thường Kiệt là người đánh quân Tống và Chiêm Thành (Phá Tống, Bình Chiêm). Ông đánh Chiêm Thành năm 1075 để trừng phạt việc Chiêm Thành đem quân sang quấy phá Việt Nam. Sau khi đánh Chiêm Thành xong, Lý Thường Kiệt mới quay sang đánh quân Tống.

Đến năm Quí Mùi (1103) ở Diễn Châu có Lý Giác làm phản. Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh Lý Giác. Lý Giác chạy sang Chiêm Thành, đem vua Chiêm là Chế Ma Na đánh lấy ba châu của Việt Nam. Năm 1104, Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành. Chế Ma Na thua chạy, xin trả lại đất cho Việt Nam.

Lúc ấy, Lý Thường Kiệt đã 70 tuổi. Một năm sau khi đánh Chiêm Thành (năm 1105), Lý Thường Kiệt mất, hưởng thọ 71 tuổi. Đó là dưới triều vua Lý Nhân Tông. Lý Thường Kiệt là tướng tài, không lên ngôi vua ngày nào.

Lộn Ngô Quyền thành Lý Thường Kiệt là một chuyện. Lộn quân Tống thành quân Nam Hán là chuyện thứ hai. Kế hoạch đóng cọc nhọn trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền thì trao cho Lý Thường Kiệt là sai lầm thứ ba.

Lý Thường Kiệt sinh năm 1034, chết năm 1105 thì viết khơi khơi là năm 939, tức là trước khi Lý Thường Kiệt ra đời tới 95 năm, Lý Thường Kiệt đã lên ngôi vua.

Than ôi, một đoạn viết ngắn có 13 dòng viết tay mà để lại một đống lỗi như thế thì dậy dỗ cái con chó gì.

Mẹ kiếp viết lịch sử láo toét như thế, lại bao nhiêu người không nhìn ra những sai sót đó cho nên học sinh mới quá chán học môn sử (như tờ Giáo Dục Việt Nam đã viết hồi tháng trước) là như vậy.

Học sinh học tới lớp 5, sống lù lù ngay ở Hà Nội, mà không biết thủ đô của Việt Nam là gì thì cũng là do mấy thứ ngu dốt đó dậy dỗ.

Đã dốt như thế, lại còn dở trò bóp méo, xuyên tạc lịch sử thì mới có cái thứ chó cái như con nhãi Lê Phong Lan làm loạt phim về Mậu Thân và đổ hết tội cho Hoa kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã giết mấy ngàn người ở Huế.

Mẹ kiếp con nhãi con xuyên tạc lịch sử để tẩy rửa cho các tội ác của Việt Cộng thì cũng hiểu được. Nhưng cướp công của Lý Thường Kiệt từ tay Ngô Quyền và cho Lý Thường Kiệt lên ngôi vua để … nói xấu tổng thống Ngô Đình Diệm (?) vì cùng họ với Ngô Quyền hay sao?

Mà rồi cả đống trong nước cũng không thấy được những sai lầm láo toét như thế nên đất nước mới là không khá được.

Giá chịu khó đọc vài trang trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim từ trang 68 đến trang 107 cũng thấy ngay là Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, không phải Lý Thường Kiệt chư sao mà lại nhắm mắt nhắm mũi viết bậy như thế! Nhà nước thì mấy tháng sau mới quyết định thu hồi lệnh thu hồi cũng nói là “tạm”. Tại sao lại “tạm thu hồi” mà không đốt cha nó cái đống sách mả mẹ ấy đi cho sạch cái … mình?

Tôi chắc giờ học sử của các em không bao giờ có cảnh như thế này:

Những buổi sáng, vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử
Thầy tôi bảo :”Các em nên nhó rõ,”
“Nước chúng ta là một nước vinh quang,”
“Bao anh hùng thuở trước của giang san,”
“Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.”

…(Đoàn Văn Cừ)

Chứ học sử mà gặp phải thứ sách khốn nạn như thế thì giữ nước thế chó nào được.

Bùi Bảo Trúc


Monday, 23 June 2014

Nước cờ sắp đến của Trung Quốc

Nước cờ sắp đến của Trung Quốc

Hôm 16.6.2014, Giáo Sư Carl Thayer, một chuyên gia về Biển Đông thuộc Học viện Quốc phòng Úc đã viết bài “China’s Information Warfare Campaign and the South China Sea: Bring It On!” (Chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc và Biển Đông: Hãy bàn cãi nó!) trên tờ The Diploma của Nhật Bản, cho rằng Trung Quốc đang mở một mặt trận mới để thực hiện âm mưu xâm chiếm Biển Đông.
Trên đài RFI của Pháp, Trọng Nghĩa đã giới thiệu bài này, kèm theo là bản dịch toàn văn bài đó. Tiếp theo, các websites trong nước, từ chinhphu.vn, nguyentandung.org đến các báo online khác đều đăng lại bài đó dưới đầu đề “Bộ mặt thật ‘Tam chủng chiến pháp’ của Trung Quốc về Biển Đông”.
Thật ra, dù không có bài nói trên của Giáo Sư Carl Thayer, các chính phủ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Philippines, Việt Nan… cũng đã đoán biết Trung Quốc đang làm gì. Đi tranh đấu mà không biết địch và đồng minh đang làm gì, cứ suy nghĩ và hành độnn theo cảm tính như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thì chỉ từ bại tới thua. Ý kiến của Giáo Sư Carl Thayer cũng không phải là mới lạ, nhưng chính phủ Việt Nam muốn mượn bài này để nói lên điều họ muốn nói, nhưng không tiện nói ra. Chúng tôi sẽ cố gắng trình bày âm mưu của Trung Quốc một cách cụ thể hơn. Tuy nhiên, trước khi trình bày ý đồ của Trung Quốc, chúng tôi xin tóm lược nội dung bài viết của Giáo Sư Carl Thayer.
“TAM CHỦNG CHIẾN PHÁP” CỦA TRUNG QUỐC
Trước hết, Giáo Sư Carl Thayer nhắc lại bài “China’s Three Warfares” (Ba cuộc chiến của Trung Quốc) do Timothy A. Walton viết năm 2012 cho văn phòng tư vấn Delex Consulting, Studies and Analysis, đó là chiến tranh tâm lý, chiến tranh thông tin, và chiến tranh pháp lý, được gọi là "Tam chủng chiến pháp" (san zhong zhanfa) do Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân ủy Trung ương chính thức thông qua năm 2003. Theo Giáo Sư Thayer, thành tố thứ ba (chiến tranh pháp lý) chính là cơ sở cho bản tuyên bố lập trường của Trung Quốc mà ông Vương Dân (Wang Min), Phó Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, đã chuyển đến cho ông Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon ngày 9.6.2014 và yêu cầu cho lưu hành trong toàn bộ 193 thành viên LHQ.
Giáo Sư Thayer cho rằng thoạt đầu, Trung Quốc bảo vệ việc hạ đặt giàn khoan dầu bằng cách nói rằng giàn khoan nằm trong vùng lãnh hải của Trung Quốc. Tuy nhiên, theo Công ước Liên Hiệp quốc về Luật Biển, vùng lãnh hải chỉ rộng 12 hải lý, còn giàn khoan được đặt ở phía cực tây quần đảo Hoàng Sa đến 17 hải lý, nên trong tuyên bố ngày 9.6.2014 Trung Quốc đã sửa lại bằng cách cho rằng giàn khoan HD-981 nằm trong vùng tiếp giáp lãnh hải của Trung Quốc, tức vùng nới rộng thêm 12 hải lý nữa. Nhưng cách nói này cũng thiếu cơ sở pháp lý, vì Luật Biển 1982 không cho phép làm điều đó trong vùng tiếp giáp.
Tuy nhiên, các hoạt động hiện nay của Trung Quốc trên Biển Đông cho thấy Trung Quốc đã vượt ra khỏi vùng lãnh hải 12 hải lý và vùng tiếp giáp của quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đang biến một số đảo chính trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành những đảo có sự sống tự nhiên để đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thêm lục địa. Đây là những vấn để pháp lý khá phức tạp, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng trình bày giản dị để đọc giả có thể thấy những mưu đồ mà Trung Quốc đang thực hiện.
BIẾT TRƯỚC “VÙNG NƯỚC LỊCH SỬ” BỊ LOẠI
Khởi đầu Trung Quốc đưa ra đường lưỡi bò, thường gọi là đường 9 đoạn, vẽ cách bờ của các quốc gia ở quanh Biển Đông 12 hải lý. Phần ở giữa lưỡi bò được Trung Quốc gọi là “vùng nước lịch sử” (historic waters) của Trung Quốc và thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc. Vậy “vùng nước lịch sử” là gì và Trung Quốc lấy ở đâu ra?
Nói một cách vắn tắt, “vùng nước lịch sử” là vùng biển mà một quốc gia đã chấp hữu qua nhiều thế hệ và trở thành vùng sống còn của quốc gia đó. Một thí dụ cụ thể: Năm 1951, Anh và Na Uy tranh chấp về vùng đánh cá sát bờ của Na Uy. Vùng này rộng khoảng 100 hải lý. Trong phán quyết ngày 18.12.1951, Toà Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) đã công nhận vùng nước đó thuộc “quyền sở hữu lịch sử” (historic title) của Na Uy, các nước khác không được xâm phạm.
Tuy nhiên, vì định chế “vùng nước lịch sử” đã gây quá nhiều tranh chấp không giải quyết được nên các nhà làm Luật Biển 1982 đã loại định chế này ra khỏi Luật Biển và thay vào đó bằng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở và thềm lục địa không quá 350 hải lý. Do đó, chủ trương “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc không còn căn bản pháp lý và Trung Quốc cũng không chứng minh được đó là “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc như Na Uy đã chứng minh.
Biết trước trong vụ kiện của Philippines, Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế sẽ bác bỏ đường 9 đoạn với vùng nước lịch sử, Trung Quốc tìm cách biến các đảo đá ở Hoàng Sa và Trường Sa thành những đảo có sự sống tự nhiên để tuyên bố vùng đặc khu kinh tế 200 hải lý của Trung Quốc.
NHỮNG ĐÒN PHÉP CỦA TRUNG QUỐC
Những người ít biết quốc tế công pháp về luật biển thường tưởng rằng chứng minh chủ quyền về một hòn đảo trên biển là chuyện dễ dàng, chỉ cần đưa một quyết định hành chánh, một tấm bia hay một bản đồ ra là đủ. Nhưng nếu đọc các bản án của Tòa Án Quốc Tế xét xử các vụ tranh chấp về đảo Palmas (giữa Mỹ và Hà Lan), đảo Greenland (giữa Dan Mạch và Na Uy), đảo Minquier và Ecrehous (giữa Anh và Pháp) v.v…, chúng ta sẽ thấy các yếu tố luật định để chứng minh chủ quyền đối với các hoang đảo trên biển không như các “chuyên gia tự xưng” đã tưởng.
Trung Quốc không dựa vào các yếu tố pháp lý để chứng minh chủ quyền mà dựa vào sức mạnh, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không thể tranh cãi.
Nhưng nếu chỉ ôm một số hoang đảo trên Biển Đông thì chẳng có gì trên đó để cạp. Dầu và khí đốt không nằm ở đó mà nằm ở trong các vùng sâu xung quanh. Vì thế, Trung Quốc phải làm sao để xác định các đảo mà Trung Quốc đã chiếm đều có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý như Luật Biển 1982 quy định. Nhưng Trung Quốc gặp khó khăn vì điều 121 của Luật Biển 1982. Điều này quy định:
1-. Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.
2.- Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác.
3.- Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.
Các đảo mà Trung Quốc chiếm đóng đều là đảo đá “không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” nên không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như điều 121 đã quy định. Vì thế, Trung Quốc phải hóa phép, biến các đảo đá thành các đảo nhân tạo có sự sống!
HÓA PHÉP ĐỐI VỚI ĐẢO PHÚ LÂM
Đảo Phú Lâm thuộc nhóm An Vĩnh là một đảo lớn trong quần đảo Hoàng Sa. Bản đồ Hòa Lan vẽ năm 1754 đã đặt cho Hoàng Sa cái tên là De Paracelles. Tên đó còn dùng đến ngày nay.
Đã có sự tranh chấp giữa Pháp và Trung Quốc về quần đảo này sau Thế Chiến II. Tháng 4 năm 1950 quân của Tưởng Giới Thạch bỏ đảo Phú Lâm chuyển qua đảo Ba Đình ở Trường Sa. Năm 1956, khi Pháp rút khỏi Việt Nam thì đêm 20 rạng ngày 21.2.1956 quân Cộng Sản Trung Quốc tiến chiếm đảo Phú Lâm và đóng ở đó cho đến ngày nay. VNCH chỉ chiếm nhóm Lưỡi Liềm bao gồm các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy và Tri Tôn.
Đảo Phú Lâm có chiều dài 1,7 km, rộng 1,2 km, diện tích 320 mẩu hay chừng 1,3-2,1 km. Trung Quốc đã biến đảo Phú Lâm thành một thành phố nhỏ rồi căn cứ vào đó đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa cho toàn quần đảo Hoàng Sa.
Vì vùng biển giữa đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi và đảo Tri Tôn của Hoàng Sa chỉ có 137 hải lý nên Trung Quốc chia đôi vùng này, mỗi bên 68 hải lý, rồi đem giàn khoan ra thăm dò ở phần được coi là của Trung Quốc. Tàu Việt Nam đi vào giới hạn đó đều bị Trung Quốc cho tàu hải giám húc.
Trong bản tuyên bố ngày 9.6.2014 gởi ông Tổng Thư Ký LHQ, Trung Quốc nói:
"Các vùng biển giữa quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) của Trung Quốc và bờ biển đất liền Việt Nam vẫn chưa được phân định. Hai bên vẫn chưa tiến hành phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa trong vùng biển này. Cả hai bên đều có quyền khẳng định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của UNCLOS."
Nói một cách cụ thể, Trung Quốc muốn ký với Việt Nam một hiệp ước chia đôi vùng biển giữa Việt Nam và đảo Hoàng Sa. Dĩ nhiên, Việt Nam không bao giờ chấp nhận như vậy vì chấp nhận có nghĩa công nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc.
HÓA PHÉP ĐỐI VỚI ĐẢO GẠC MA
Năm 1791 một người Anh tên là Henry Spratly du hành đến Trường Sa và đặt tên cho đá Vành Khăn là Mischief. Năm 1843 Richard Spratly đã đặt tên cho một số thực địa thuộc Trường Sa, trong đó có Spratly's Sandy Island . Từ đó tên Spratly trở thành tên của quần đảo Trường Sa.
Hiện nay có đến 5 nước tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Trường Sa là Việt Nam, Philippines, Trung Quốc, Đài Loan và Mã Lai. Trung Quốc hiện đang chiếm 7 đảo là đá Châu Viên, đá Chữ Thập, cụm đá Ga Ven, đá Gạc Ma, đá Tư Nghĩa và đá Vành Khăn.
Tờ Phil Star của Philippines ngày 13.6.2014 cho biết báo cáo từ Phủ tổng thống Phi nói rằng Trung Quốc đang thay đổi hiện trạng của 5 bãi đá thuộc Trường Sa là Gạc Ma, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa và Én Đất. Chính phủ Phi đoán Trung Quốc đang xây dựng một đường băng để thiết lập vùng nhận diện phòng không. Chúng tôi tin rằng Trung Quốc đang đi xa hơn, đó là biến một cụm trong nhóm đảo thuộc Trường Sa thành đảo “thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” rồi đòi có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa như họ đã làm ở quần đảo Hoàng Sa.
ĐỐI PHÓ VỚI NƯỚC CỜ CỦA TRUNG QUỐC
Biết rõ không thể xác định vùng biển trong đường 9 đoạn là “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc nên Trung Quốc đang đi nước cờ thứ hai là biến những đảo đá thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành những đảo có thể được hưởng các đặc quyền kinh tế để giành quyền khai thác phần lớn tài nguyên trên Biển Đông. Đây là những hành động không được Luật Biển 1982 công nhận nhưng vì không phương hại đến trục lộ giao thông quốc tế ở Biển Đông và quyền lợi của Mỹ nên Mỹ làm ngơ. Còn các nước trong vùng đang đối phó như thế nào?
Không nước nào trong vùng nghĩ rằng có thể đối đầu bằng quân sự với Trung Quốc. Hiện nay, tiếng la hét đòi đi kiện Trung Quốc đang vang lên khắp nơi, nhưng các nhà phân tích không tin rằng các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế có thể làm Trung Quốc ngưng vi phạm. Khối ASEAN chỉ lên tiếng kêu gọi hoàn thành một cách nhanh chống Quy Tắc Ứng Xử (Code of Conduct) trên Biển Đông và coi đó là một giải pháp duy nhất còn lại!
Ngày 19.6.2014
Lữ Giang

 ----------

No-U Hà Nội bất ngờ biểu tình chống Tàu Cộng,

 nhiều người bị bắt


MAI DŨNG: 17 giờ biểu tình chống Trung quốc nổ ra trước tượng đài Lý Thái Tổ. Số người
tham gia khoảng 30-40. An ninh đông gấp 3-4 lần chưa kể các lực lượng chức năng khác. Chính quyền nhanh chóng giải tán biểu tình trong khoảng 29 phút. Vài người đã bị bắt đi trong đó có Facebooker Anh Chí.
Xin xem tiếp hình ảnh:












Diễn Đàn CTM

Bài Xem Nhiều