We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 30 July 2014

Không chửi không chịu được: 39 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ THẾ NÀO ?

Nhận định:
39 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ THẾ NÀO, HIỆU QUẢ RA SAO?


       
Xứ của những người mù      Bài viết này được gửi đến độc giả trong và ngòai Việt Nam, nhân đọc Thư ngỏ của 61 đảng viên cộng sản từng giữ các chức vị cao cấp trong bộ máy Đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt Nam, tiêu biểu là những đảng viên kỳ cựu và nổi tiếng như tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, giáo sư Hoàng Tụy, giáo sư Tương Lai, Nguyễn Trung, Huỳnh Kim Báu, Nguyên Ngọc, Hạ Đình Nguyên, Kha Lương Ngãi, Tô Nhuận Vỹ, Lữ Phương, Nguyễn Thị Kim Chi, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Đăng Doanh, Chu Hảo, Phạm Chi Lan...
     Đây có thể coi như một sự phản tỉnh tập thể muộn màng, song  vẫn chỉ là sự “Phản tỉnh nửa với” vì mới chỉ phản tỉnh về mặt nhận thức (thấy được những cái sai mà ai cũng đã biết của đảng CSVN trong quá khứ về đối nội cũng như đối ngoại dẫn đến hậu quả nghiêm trọng toàn diện, di hại lâu dài cho Đất nước và dân tộc. Điều mà mọi người Việt Nam trông chờ không chỉ là những lời kêu gọi “đảng CSVN tự nguyện, tự giác thay đổi” (điều mà nhiều cá nhân cũng như tập thể các đảng viên CS đã làm từ lâu song vẫn vô hiệu) mà là hành động tiếp theo cụ thể, quyết liệt và dứt khoát có tác dụng làm chuyển biến tình hính đất nước theo chiếu hướng có lợi cho công cuộc dân chủ hóa Việt Nam. Tỷ như khởi sự bằng sự từ bỏ tập thể của 61 đảng viên cộng sản ký tên trong Thư Ngỏ, sau đó lôi kéo toàn thể đảng viên cộng sản phản tỉnh hiện còn dấu mặt công khai từ bỏ đảng CSVN để tạo áp lực thừa đủ buộc nhóm lãnh đạo chóp bu của đảng dù ngoan cố đến đâu cũng phải chuyển đổi hay là chết.
vtt-35-phamtran


     Khoảng một năm sau ngày xâm chiếm được Miền Nam, một cuộc mít-tinh ăn mừng chiến thắng vào dịp Lễ Lao Động Quốc Tế 1-5-1976 (nếu chúng tôi nhớ không lầm).Một lễ đài lộ thiên được dựng lên trước cổng Dinh Độc Lập Sài Gòn(sau 30-4-1975 đổi là Dinh Thống Nhất ), với đầy đủ các lãnh tụ hàng đầu của Cộng Đảng và nhà nước Việt cộng (Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng…) và của cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) với Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) vốn là công cụ quân sự và chính trị của Cộng đảng Việt Nam (Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Huỳnh Tấn Phát…). Trong bài phát biểu tại cuộc mít-tinh này, Tổng Bí Thư Cộng Đảng Việt Nam lúc đó là Lê Duẩn đã mạnh miệng nói đại ý rằng: “đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhất định sẽ xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam sau 15 đến 20 năm nữa”.
      Thế nhưng bây giờ đã hơn 39 năm qua kể từ ngày cưỡng chiếm được Miền Nam thống nhất đất nước, Lê Duẩn và hầu hết các lãnh tụ hàng đầu Cộng Đảng Việt Nam đã đi vào lòng đất, còn Việt cộng đã “xây dựng xã hội chủ nghĩa” như thế nào, hiệu quả ra sao?

1.- Từ lý luận Marxism về xã hội xã hội chủ nghĩa (socialism society).
            Karl Marx và F. Angel những triết gia người Đức đã hình thành nền triết học duy vật, trên đó Marx đã xây dựng chủ nghĩa cộng sản, nên còn gọi là chủ nghĩa Mác-xít (Marxism).
         Theo lý luận Marxism (duy vật lịch sử): Từ khi con người xuất hiện trên hành tinh này đã trải qua 4 hình thái xã hội có tính tổ chức từ thấp đến cao: Xã hội cộng sản nguyên thủy (Primitive communism society: không giai cấp, chưa có tư hữu, chưa có nhà nước), xã hội chiếm hữu nô lệ (The slave-owning Society) bắt đầu có giai cấp, có tư hữu,hình thành giai cấp thống trị), xã hội phong kiến (Feudalism Society)xã hội tư bản (Capitalism Society:có nhà nước tư sản ngày một hoàn chỉnh).
        Tính giai cấp, tính tư hữu và tính nhà nước đã phát triển ngày một cao độ trong hai hình thái xã hội sau cùng này, tạo ra mâu thuẫn đối kháng đã là tiền đề cho một cuộc cách mạng vô sản, thông qua đấu tranh giai cấp để tiêu diệt giai cấp, để  hình thành hình thái xã hội sau cùng của loài người không còn giai cấp: “xã hội cộng sản hiện đại hay tiên tiến”(Modern or advanced communism Society), phát triển qua hai giai đoạn: “Xã hội xã hội chủ nghĩa”(Socialism Society:còn giai cấp, còn nhà nước, nhưng được cải tạo từng bước, dưới sự lãnh đạo duy nhất của một Cộng đảng, mệnh danh là đội tiên phong của giai cấp cống nhân hay vô sản, thông qua một nhà nước “chuyên chính vô sản”, quyền tư hữu hạn chế và tiêu vong dần, mọi người lao động theo năng lực, hưởng theo sức lao động bỏ ra…) tiến tới “Xã hội cộng sản chủ nghĩa”(Communism Society) viên mãn là “Thiên đường Cộng sản” trong một thế giới đại đồng(không còn biên giới quốc gia,không còn giai cấp, không còn bộ máy nhà nước, mọi quan hệ xã hội vận hành tự động, mọi người lao động tự giác, làm theo hết năng lực và được thỏa mãn mọi nhu cầu. Vì lúc đó tài hóa xã hội dư thừa có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của mọi người, của toàn xã hội, mọi người đều sống ấm no, hạnh phúc trong tình hữu ái như thiên đường nơi trần thế: Thiên đường cộng sản!?!)
      Thế nhưng thực tế ra sao, đến nay thì mọi người đã biết: Liên Xô, nước đầu tiên, sau hơn 70 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ (1917-1991), kéo theo sự sụp đổ toàn hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu để cùng chuyển thể qua xây dựng “xã hội tư bản chủ nghĩa”.(Capitalism society). Việt Nam là một trong bốn nước gọi là xã hội chủ nghĩa còn sót lại thì thực tế ra sao? Họ đã đang xây dựng “xã hội xã hội chủ nghĩa” như thế nào, hiệu quả ra sao?

2.- Đến thực tế Việt cộng xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam 39 năm qua như thế nào?
        Như mọi người đã biết, chỉ một năm sau ngày chiếm đoạt được Miền Nam (30-4-1975) bằng vũ lực, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam, Việt cộng đã giải tán các công cụ quân sự và chính trị một thời là MTDTGPMN và CPCMLTCHMNVN, thống nhất đất nước và đưa cả nước “Đi lên xã hội xã hội chủ nghĩa”. (The socialism society)
         Trên thực tế, theo nhận định của chúng tôi, Việt cộng đã tiến hành công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa theo một tiến trình với các bước thưc hiện giống y như Liên Xô đã làm, kể từ sau khi Cộng đảng Liên Xô lật đổ được chế đô Nga Hoàng quân chủ chuyên chế, giành được chính quyền vào năm 1917.
         Theo đó, một cách tổng quát, Cộng đảng Việt Nam đã họp Đại Hội IV (1976) cũng đưa ra một “Thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa” với chủ trương “ Đi lên xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, thực hiện  bằng chính sách “Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của xã hội chủ nghĩa”. Chính sách này thực hiện qua hai kế hoạch ngũ niên (1975-1985) bị thất bại, Cộng Đảng Việt Nam đã họp Đại Hội VI (1986) đưa ra chủ trương “Đổi Mới” tương tự như Liên Xô đưa ra chủ trương và thực hiện “chính sách Kinh tế mới” sau khi kế hoạch ngũ niên lần thứ nhất bị thất bại(1918-1922). Qua hai kế hoạch ngũ niên (1985-1995) thực hiện chủ trương “đổi mới” bằng chính sách sửa đổi vá víu không hiệu quả, Cộng đảng Việt Nam đã họp Đại Hội VIII (1996) đưa ra chủ trương “đi lên xã hội chủ nghĩa thông qua kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, thực hiện bằng chính sách “Mở cửa” với bên ngoài.Chủ trương chính sách này được thực hiện qua ba kế hoạch ngũ niên (1996-2010) và sau Đại Hội XI (2011) Cộng đảng Việt Nam vẫn đưa ra nghị quyết tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách này.
         Sau đây chúng tôi sẽ trình bầy chi tiết về nhận định tổng quát trên đây qua tiến trình và cách thức  Việt cộng thực hiện những chủ trương, chính sách trong “thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa”.

Thời kỳ quá độ “ Đi lên xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (1975-1995)
       
         Liên Xô sau khi đảng Cộng sản Bolsevick Nga, dưới sự lãnh đạo của Vladimir Lenine làm Cách Mạng Tháng 10 năm 1917 thành công, lật đổ được chế độ Nga Hoàng,  đã thiết lập “Nền chuyên chính vô sản” cưỡng ép những tiểu quốc lân bang trong vùng thành Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô viết, gọi tắt là Liên Xô. Ngay sau đó, Lenine và Cộng đảng Bolsevick Nga đã dùng “Chuyên chính vô sản” quyết tâm đưa Liên Xô “Đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
 (Đây là chủ trương của V. Lenine và Cộng đảng Liên Xô, khác với lý luận kinh điển của chủ nghĩa Marxism:rằng vào thời điểm chủ nghĩa tư bản phát triển đến tột cùng trên phạm vi toàn cầu, mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản (tức công nhân) không còn điều hòa được nữa, trở thành “mâu thuẫn đối kháng” (một mất một còn) với mọi giai cấp, với toàn xã hội. Đây là “Tình thế cách mạng chín mùi”, cách mạng vô sản nổ ra nhất định thành công (vì giai cấp tư bản độc quyền thống trị Nhà nước bị cô lập hoàn toàn), để sau đó “Đội tiên phong của giai cấp vô sản” tức các đảng Cộng sản ở mỗi nước sẽ lãnh đạo toàn dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng thành công “Xã hội xã hội chủ nghĩa”, tiến tới “Xã hội cộng sảntrên phạm vi toàn thế giới. Nghĩa là tiền đề cho sự xây dựng thành công “xã hội xã hội chủ nghĩa” phải thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa theo K. Mar, khác với luận điểm sau này của Lenine nên  mới có thuật ngữ chính trị Chủ nghĩa Marx-Lenine với ý nghĩa như là sự kết hợp luận lý về phương cách đi lên chủ nghĩa cộng sản tuy có khác, nhưng vẫn thống nhất về mục tiêu hiện thực lý  tưởng cộng sản chủ nghĩa).
         Sau khi cưỡng chiếm được Miền Nam, triệt tiêu chế độ Việt Nam Cộng Hòa (30-4-1975), Cộng đảng Việt Nam đã cho bầu quốc hội chung cho cả nước (25-4-1976), đổi danh xưng chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” thành “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
        Đại Hội IV Cộng đảng Việt Nam (Tháng 12-1976) cho đổi tên “Đảng Lao Động Việt Nam” thành “Đảng Cộng sản Việt Nam” và ra nghị quyết đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc “Đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, bắt chước giống như Liên Xô.( Dù tiền đề hai nước có khác: Liên Xô chủ nghĩa tư bản bước đầu phát triển đã hình thành được đội ngũ giai cấp công nhân – Việt Nam chủ nghĩa tư bản mới manh nha ở Miền Nam, cả nước công nghiệp còn ở thời kỳ lạc hậu,giai cấp công nhân chưa hình thành được đội ngũ và năng lực để đóng vai trò “Giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng”, nên cái gọi là “Đội tiên phong của giai cấp vô sản Việt Nam” Cộng đảng Việt Nam mới bao gồm phần đông nòng cốt là những trí thức tiểu tư sản như Trường Chinh Đặng Xuân Khu(gốc con địa chủ), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…Và cơ quan lý luận của Đảng mới đẻ ra luận điểm về “Liên minh công nông”, là giai cấp công nhân (chủ lực) liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo là nòng cốt của cách mạng Việt Nam…)
   Vậy trên thực tế Việt cộng đã thực hiện thế nào?
   
* Thực hiện chính sách “Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật  ban đầu của chủ nghĩa xã hội ” (1975-1985)
         Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenine, để tiến hành công cuộc  “Đi lên chủ nghĩa xã hội ” tại Việt Nam, nghị quyết Đại Hội IV của Cộng đảng Việt Nam đã đưa “Đường lối chung của Cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước”(1) như một định thức chỉ đạo: “Nắm vững chuyên chính vô sản,phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tương và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật  là then chốt…”(2).
    Việt cộng đã thực hiện định thức này ra sao? hiệu quả thế sao?
              
* Thực hiện “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”.
    -Lý luận.
      *Theo gương Liên Xô, Việt cộng lý luận rằng, muốn xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, điều tiên quyết là phải “nắm vững chuyên chính vô sản”(hay độc tài vô sản), để củng cố vai trò thống trị độc tôn, độc quyền của đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua một chính quyền mệnh danh “Chính quyền chuyên chính hay độc tài vô sản”(Proletarian dictatorship). Nghĩa là một “Chính quyền độc tài của giai cấp vô sản hay giai cấp công nhân”(the dictatorship goverment of the proletariat) mà theo lý luận của chủ nghĩa Marx-Lênin là giai cấp nòng cốt thực hiện cuộc “Cách mạng xã hội chủ nghĩa” để xây dựng “Xã hội xã hội chủ nghĩa”, vì lợi ích của giai cấp công nhân (vô sản), dưới sự lãnh đạo của “đảng Cộng sản”, được coi là “Đội tiên phong của giai cấp công nhân”, qui tụ một thành phần ưu tú của giai cấp công nhân (vô sản) có đạo đức xã hội chủ nghĩa (?),tính hy sinh và lòng vị tha, phục vụ nhân dân và xã hội quên mình, có năng lực lãnh đạo, ý thức giác ngộ giai cấp cao và tinh thần đấu tranh cách mạng vô sản triệt để…..(thực tế phần đông là ngụy giai cấp vô sản, hầu hết lãnh tụ hàng đầu Cộng đảng không xuất thân từ giai cấp công nhân, nhưng đã ngụy biện là đã “giác ngộ tính vô sản và đã đầu hàng về mặt giai cấp”để có tư cách lãnh đạo đảng của giai cấp công nhân, tức Cộng đảng!!!).
         Nhân danh và vì quyền lợi giai cấp vô sản,Việt cộng xử dụng “Chính quyền chuyên chính vô sảnlàm công cụ trấn áp mọi sức phản kháng, chống đối của mọi tầng lợp nhân dân, bảo vệ vị thế độc tôn, độc quyền, đặc lợi của một tập đoàn thống trị là các cán bộ, đảng viên Cộng đảng Việt Nam.Ngụy biện rằng, trong “Thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa” chỉ dân chủ với nhân dân (giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo), cần “chuyên chính” với mọi kẻ thù của giai cấp vô sản (tư sản, trí, phú, địa, hào…và những người dân nào không tuân phục,chống lại đảng và nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa). Vì vậy, trong định thức mới ghi sau “Nắm vững chuyên chính vô sản” là phải “Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. (Lưu ý về ý nghĩa từ ngữ: “Quyền làm chủ tập thể”của Việt cộng khác với “quyền sở hữu cá nhân” cũng như “dân chủ tập trung” của Việt cộng khác với “dân chủ tự do”của Việt quốc)
      Do đó, Cộng đảng Việt Nam cần Nắm vững chuyên chính vô sản như thế mới trấn áp được mọi phản kháng từ phía nhân dân. Đồng thời “Đảng và nhà nước ta” mới lãnh đạo, thúc ép, khuyến dụ, tuyên truyền,lừa mị được nhân dân thực hiện cùng lúc ba cuộc cách mạng để hoàn thành công cuộc xây dựng “xã hội xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam.

- Tiến hành ra sao?
          Đ  “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”, sau khi chiếm được Miền Nam, thống nhất đất nước, Việt cộng đã thực hiện chính sách hai mặt: củng cố và phát triển bộ máy Đảng và bộ máy nhà nước ngày một vững mạnh,song song với tiến hành truy quét,trấn áp, tiêu diệt mọi sức đề kháng chống “Đảng và nhà nước” của mọi tầng lớp nhân dân.(Việt cộng gọi là truy quét phản động)
         Để củng cố và phát triển bộ máy đảng và nhà nước, như những công cụ và phương tiện thống trị, kềm kẹp, đàn áp nhân dân,Việt cộng đã học tập kinh nghiệm thống trị bằng bạo lực kềm kẹp, trấn áp nhân dân của Tầu cộng, lấy mô hình tổ chức đảng, chính quyền và kinh nghiệm cai trị 21 năm ở Miền Bắc (1954-1975) vận dụng vào Miền Nam mới “Giải phóng”(!) . Bộ máy đảng luôn tồn tại song hành với bộ máy chính quyền (đã là gánh nặng ngân sách quốc gia) từ trung ương đến địa phương, trong mọi cơ quan, ban ngành, đoàn thể; thực hiện triệt để định thức cai trị kềm kẹp “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
         Để truy quét, trấn áp, tiêu diệt mọi sức đề kháng chống “Đảng và nhà nước”, Việt cộng đã dùng nhà tù, súng đạn, hệ thống tòa án công lý một chiều, pháp trường, khủng bố , kết hợp với các thủ đoạn tuyên truyền lừa mị đối với mọi tầng lớp nhân dân, thực hiện khẩu hiệu “nghe thì sống, chống thì chết”.
         Thực tế là sau ngày 30-4-1975 :
-        Việt cộng đã bắt giữ tù đầy trong các trại tù khổ sai trá hình gọi là “Trại cải tạo”, hầu hết các sĩ quan quân lực và các viên chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các ngành chính quyền, hành chánh Việt Nam Cộng Hòa  và các chính đảng quốc gia. Việt cộng làm việc này để cô lập, tiêu diệt một thành phần đông đảo những người ưu tú của Việt quốc mà họ cho là mầm mống có khả năng gây nguy hiểm cho chế độ.
-        Việt cộng đã  dùng hệ thống nhà tù được thiết lập thêm rất nhiều trên khắp nước để giam giữ những người đã có thái độ, lời nói hay hành động chống chế độ tự phát cá nhân hay tham gia những tổ chức chống cộng thật cũng như giả do công an Việt cộng dựng lên để gài bẫy. Và cả những tù nhân bị Việt cộng ghép vào “diện cải tạo công, thương nghiệp tư bản tư doanh” hay thuộc diện “Cải tạo nông nghiệp” phải vào tù chỉ vì có của cải giầu có (Tư sản mại bản, tư sản dân tộc, địa chủ, phú nông…..). Một số chức sắc hàng giáo phẩm thuộc các giáo hội  do hoạt động tôn giáo hay do vị thế cai quản các cơ sở tài sản lớn của giáo hội cũng đã phải vào tù, vì ý đồ Việt cộng muốn chiếm dụng, đã gài thế, gán ghép “tội phản động” để tịch thu như những tang vật.
-        Nhiều người chống chế độ bị coi là mất tích, không ai biết vì sao, kể cả thân nhân(tương tự như chế độ mật chỉ thời tiền cách mạng nhân quyền 1789 ở Pháp)  vì đã bị Việt cộng âm thầm bắt, giam giữ, rồi thủ tiêu bằng mọi cách không cần xét xử. Nhiều người khác bị xử bắn công khai nơi pháp trường, trong những vụ án “phản động” mà Việt cộng  muốn răn đe, khủng bố, nên đưa ra trước “Tòa án nhân dân” vốn là công cụ pháp lý trấn áp nhân dân, để có một bản án nặng nề điển hình làm gương.
-        Để đề phòng bạo loạn từ phía quần chúng nhân dân, Việt cộng đã triệt để thực hiện chế độ hộ khẩu và công an trị để nắm từng người dân, dập tắt nội loạn từ trong trứng nước. Với chế độ hộ khẩu, Việt cộng kiểm soát được nơi ăn chốn ở, với thủ tục “Đăng ký tạm trú, tạm vắng” Việt cộng kiểm soát được mọi sự di chuyển, đi lại và hoạt động của người dân. Với hệ thống “Công an khu vực”, Việt cộng giữ vững được an ninh chính trị đến từng người dân ở từng địa phương, khu vực.
    - Hiệu quả thế nào?
          Nhìn chung, với việc thực hiện triệt để chính sách hai mặt trên, Việt cộng đã “Nắm vững chuyên chính vô sản” theo nghĩa là đã dùng bạo  lực qua các công cụ của nền chuyên chính vô sản là công an, quân đội và các lực lượng vũ trang đã trấn áp (chứ không tiêu diệt) được sức phản kháng của mọi tầng lớp nhân dân khá thành công.
        Thật vậy, trong 5 năm đầu sau khi chiếm được Miền Nam (1975-1980), Việt cộng đã thực hiện triệt để những chủ trương, chính sách và các biện pháp căn bản trên đây và đã có hiệu quả là ổn định được tình hình an ninh chính trị.Sau 5 năm kế tiếp (1980-1985), đã củng cố và phát triển bộ máy đảng và bộ máy nhà nước ngày một vững mạnh. Vì thực tế các hoạt động chống cộng của các cá nhân hay tổ chức ngày một lắng xuống .
       Trong thời khoảng này, các tổ chức và cá nhân chống cộng trong nước, nếu tồn tại được đều rút vào bí mật, không còn có những hoạt động chống cộng ồn ào, đầy khí thế như thời khoảng 5 năm đầu. Ngay cả những chính đảng quốc gia có truyền thống cách mạng đấu tranh chống ngoại xâm và chống cộng quyết liệt như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Nhân Xã Đảng… cũng phải thúc thủ, mai phục chờ thời cơ.
            Tựu chung  trong khoảng 20 năm của thời kỳ quá độ “ Đi lên xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (1975-1995):  Việt cộng đã thành công trong việc “truy quét phản động”, ổn định và giữ vững được tình hình an ninh chính trị, từng bước củng cố cơ cấu đảng và chính quyền các cấp, các ngành, làm công cụ tiến hành mạnh bạo các chủ trương, chính sách và biện pháp “Đi lên Xã hội xã hội chủ nghĩa” trên cả nước, dưới bảng hiệu chế độ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam”.

*Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng như thế nào, hiệu quả ra sao?
    - Một là cách mạng quan hệ sản xuất.
    - Mục tiêu phải thành đạt là gì?
      Là thực hiện các chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm phá nát, tiêu diệt triệt để quan hệ sản xuất cũ mang tính áp bức, bóc lột (quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính tư hữu), để thiết lập từng bước, tiến tới thay thế hoàn toàn bằng quan hệ sản xuất mới không mang tính áp bức bóc lột (quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mang tính công hữu).
   - Tiến hành thế nào?
         Để phá đổ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cả nước, Việt cộng đã thực hiện chủ trương, chính sách cải tạo tài chánh tiền tệ, công thương nghiệp, lưu thông phân phối và dịch vụ tư bản tư doanh nơi các thành thị và cải tạo nông nghiệp ở nông thôn với hai kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1976-1980 (là tiếp mối kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở Miền Bắc  XHCH trước 30-4-1975) và lần thứ ba 1981-1985.
         Thực vậy, sau khi chiếm được Miền Nam, Việt cộng đã nghĩ ngay đến việc làm sao cào bằng  cho hai miền Bắc-Nam mau chóng  đồng nhất trong quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và mức sống, lối sống nhân dân hai miền lệ thuộc nhà nước và khó khăn,nghèo đói như nhau. Điều đó có nghĩa là đẩy nhanh “Công cuộc cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật  ban đầu của xã hội chủ nghĩa” ở Miền Nam, xóa sạch các thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư doanh để hình thành hệ thống kinh tế quốc doanh xã hội chủ nghĩa giống như Miền Bắc. Vì theo Việt cộng lý giải lúc đó thì Miền Bắc XHCN đã hoàn tất “Giai đoạn cải tạo”, tiếp tục tiến hành công cuộc “xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của xã hội chủ nghĩa” (XHCN),với chủ trương đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN về công, thương nghiệp cũng như nông nghiệp.
- Trước hết là “Cải tạo tài chánh, tiền tệ”.
    - Tiến hành thế nào?
         Để thực hiện cuộc “Cách mạng quan hệ sản xuất”, điều trước tiên là chế độ phải làm sao “Nắm được hầu bao” của tất cả nhân dân Miền Nam và “Cào bằng” về mức sống quá chênh lệch giữa nhân dân Miền Bắc XHCH nghèo nàn lạc hậu so với nhân dân Miền Nam tư bản chủ nghĩa (TBCN) sung túc tân tiến dù mới manh nha. Có như thế Việt cộng mới dễ dàng thúc ép “dân ngụy” thực hiện các chủ trương, chính sách “Đi lên xã hội chủ nghĩa” của Đảng và nhà nước.
         Để thành đạt những mục tiêu trên Việt cộng đã thực hiệc chính sách “Cải tạo tài chánh, tiền tệ”  qua ba đợt “Đổi tiền”:
   -Đợt I (khoảng cuối 1975 đầu 1976) đổi tiền Ngân Hàng Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa lấy tiền của chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam(CHMNVN), công cụ chính trị của Cộng sản Bắc việt, theo tỷ giá 500 đồng VNCH lấy 1 đồng CHMNVN, với định mức bình quân mỗi gia đình chỉ đổi được 200 đồng tiền mới. Số tiền còn lại ký gởi cho “Ngân hàng Nhà Nước” để trên nguyên tắc nói là sẽ được cứu xét từng trường hợp cụ thể, giải quyết cho đổi thêm sau này, mà thực tế không ai biết rõ nguyên tắc này  đã được thực hiện ra sao.
   - Qua Đợt II(Đầu tháng 5-1978) đổi tiền CHMNVN ra tiền “Ngân Hàng Nhà Nước CHXHCNVN” để thống nhất đơn vị tiền tệ trên cả nước (không nhớ tỷ giá và định mức).
   - Đợt III (Từ 14-9-1985 kéo dài từ 3 đến 5 ngày) phát hành tiền “Ngân hàng Nhà nước” mới, nói là đồng tiền mất giá, để chống lạm phát, đổi theo tỷ giá một đồng tiền ngân hàng mới bằng 10 đồng tiền ngân hàng cũ và dường như không có định mức. Tuy không còn định mức, nhưng phần đông người dân Miền Nam, sau hai đợt đổi tiền trước theo kiểu “cướp ngày” của Việt cộng, hầu hết  đã không có nhiều tiền mà đổi vì giầu nghèo đã bị gần như trắng tay.
   - Hiệu quả ra sao?
         Việt cộng đã đạt được hiệu quả theo đúng ý đồ. Vì sau hai đợt đổi tiền những người dân  Miền Nam nhìn chung gần như trắng tay, trên nguyên tắc giầu nghèo gần như nhau về mặt tài chánh. Thực tế phần đông dân Miền Nam sau đổi tiền, đời sống đi xuống gần giống như nhân dân Miền Bắc về lối sống, tuy mức sống vẫn còn khá hơn nhờ tích lũy được đôi chút tài sản đem bán dần để sống qua ngày. Người ta gọi đùa là những nhà “Tư sản mại sản”.
         Một số những người giầu có nhiều tiền mặt, nếu có đường giây “Móc ngoặc” đổi được nhiều tiền trên định mức trong đợt I và II hay còn vàng bạc, quý kim, của chìm bán dần để duy trì cuộc sống, thì cuộc sống tương đối cũng còn sung túc, ít nữa là cho đến trước ngày “Đánh tư sản” (nếu thuộc diện “Cải tạo”).Người ta gọi đùa là những “Tư bản mại sản”.Sau hai đợt đánh tư sản hầu hết các nhà tư bản dân Miền Nam đều trở thành những nhà “Tư bản bại sản” hay “Tư bản phá sản” và trở thành tội nhân nếu thuộc “diện cải tạo” bị  kết án tù tội.
         Mặt khác, sau “Đổi tiền” một số khá đông những người thuộc “giai cấp mới” (Giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản) và những kẻ ăn theo nhờ làm trung gian “móc ngoặc” trong các “Phi vụ Đổi tiền” gian dối, vượt định mức để ăn chia, thì phất lên trông thấy. Dân chúng gọi họ là những “tư sản đỏ”, “Tư sản xám” hay “tư sản đen” (của cải có được bằng con đường làm ăn bất chính, mờ ám, đen tối)
        - Thứ đến là “Cải tạo công, thương nghiệp tư bản tư doanh” ở Miền Nam.
        - Tiến hành thế nào?
          Trong thời gian đầu, khi chế độ mới chưa đụng chạm gì đến thành phần kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh, thì các nhà tư bản, tư sản Miền Nam đã phải sống trong tâm trạng phập phồng lo sợ không biết số phậm mình sẽ được nhà cầm quyền Việt cộng định đoạt ra sao.
         Người ta có nghe kể về công cuộc cải tạo công, thương, nông nghiệp tư bản tư doanh ở Miền Bắc sau Hiệp Định Genève năm 1954 chia đôi đất nước, dưới chế độ Việt cộng.Thế nhưng không ai có thể hình dung được mức độ tàn hại của chính sách cải tạo đối với mỗi con người, từng gia đình và toàn xã hội ở Miền Nam như thế nào.
         Vào giữa năm 1976, một loạt chủ trương, chính sách nhằm xóa bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế tư bản tư doanh và cá thể đã được chế độ Việt cộng ban hành và đi vào thực hiện có tính thăm dò thử nghiệm.Mặc dầu chỉ thực hiện trên qui mô nhỏ, song cũng đã gây chấn động lớn về kinh tế, xã hội và là nỗi kinh hoàng cho các đối tượng bị kiểm kê tài sản, nhất là những gia đình bị qui kết thành phần tư sản mại bản (vì trong quá khứ có liên hệ làm ăn với tư bản nước ngoài) hay tư sản dân tộc. Họ không những bị kiểm kê tịch thu hết tài sản, có khi còn bị tù đầy hay cưỡng bức rời thành phố đi lập nghiệp vùng kinh tế mới.Người ta gọi đây là thời kỳ đánh tư sản Đợi I.
       Phải đợi cho đến sau Đại Hội IV (1976) của Cộng Đảng Việt Nam, chủ trương “Cải tạo” trên mới được chế độ thực hiện triệt để trên quy mô rộng lớn với cường độ mạnh mẽ thể hiện quyết tâm thực hiện khẩu hiệu tuyên truyền “đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa”. Người ta gọi đây là thời kỳ đánh tư sản Đợi II. Lúc này, đích thân Đỗ Mười, lúc đó là Phó Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã lãnh đạo “đánh tư sản” ở Miền Nam trong chức vụ “Trưởng Ban Cải Tạo Trung Ương”.
      Nhiều người dân Miền Nam hẳn còn nhớ cái đêm kinh hoàng vào đầu tháng 5-1978, một cuộc tấn công rộng lớn, bất ngờ vào các gia đình bị liệt vào thành phần tư sản mại bản và tư sản thương nghiệp ở các thành thị Miền Nam, nhất là Sài gòn. Cuộc tấn công này đã được bí mật triển khai rất nhanh, sau một thời gian “chuẩn bị khẩn trương” của các cấp chính quyền và một lực lượng đánh tư sản hùng hậu đã được huấn luyện cấp tốc ngắn ngày. Cũng trong thời gian này, các thành phần công, thương nghiệp không bị qui kết vào thành phần, tiểu thủ công nghiệp đều được cải tạo đưa vào con đường làm ăn tập thể.Các tiểu thương, tiểu chủ cũng được chế độ “chiếu cố” cho chuyển sang các ngành hoạt động sản xuất…
       Chung quy, đánh tư sản hay cải tạo tư sản là chế độ Việt cộng muốn nắm độc quyền kinh tế (khống chế lực lượng lao động,định đoạt phương thức sản xuất và chiếm dụng độc quyền nguyên vật liệu phương tiện sản xuất). Nghĩa là một kiểu nhà nước tư bản độc quyền,biến lực lượng sản xuất (mọi tầng lớp nhân dân) thành công cụ lạo động thực hiện các hoạt động kinh tế (sản xuất công,nông, thương nghiệp, kinh doanh, phân phối, tiêu thụ, dịch vụ…) dưới sự chỉ huy của chính quyền theo chính sách kinh tế hoạch định cứng rắn của nhà nước.
   - Hiệu quả ra sao?
         Thế nhưng công cuộc cải tạo này đã thất bại hoàn toàn vì nó đã đụng chạm vào một trong những yếu tình thuộc về bản chất và cũng là quyền cơ bản của con người: Quyền tư hữu. Vì nó đã tước đoạt trắng trợn  thành quả lao động , công lao mồ hôi nước mắt của cả một đời người hay bao đời truyền lại. Những nạn nhân đã uất ức vì bị cưỡng đoạt trắng tay, mất hết tài sản, gia đình ly tán, lại phải vào tù. Nhiều người quá uất ức đã nhẩy lầu tự vẫn, dùng độc dược quyên sinh hay tìm cái chết oan nghiệt qua sợi giây thong lọng tự treo cổ mình.
         Tựu chung, sau khi thực hiên các biện pháp “Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”, Việt cộng đã không gặt hái được hiệu quả mà chỉ tạo ra một hậu quả tai hại về mặt kinh tế vĩ mô cũng như vi mô.Bởi vì nó đã phá nát quan hệ sản xuất cũ là cùng lúc tiêu hủy các nhà sản xuất  kinh doanh có tài và kinh nghiệm (vốn quý mà mãi sau này Việt cộng mới nhận ra muộn màng trong thời kỳ đổi mới, mở cửa…),là phá nát các cơ cấu, cơ sở sản xuất kinh doanh vốn có hiệu quả kinh tế.
         Hậu quả thực tế  là, các hoạt động sản xuất kinh doanh đình trệ, xáo trộn, ách tắc, năng xuất thấp, phẩm chất xấu, sản lượng giảm, hạch toán lỗ lã triền miên, cung cầu mất cân đối, dẫn đến khó khăn trong lưu thông phân phối hàng hóa, rối loạn thị trường.Từ đó, sự độc quyền nhà nước sản xuất, kinh doanh, phân phối tiêu thụ dẫn đến tệ nạn chợ đen, móc ngoặc, tham ô làm giầu bất chính cho một thiểu số những kẻ có chức, có quyền trong guồng máy kinh tế độc quyền (cán bộ đảng viên cộng sản và những kẻ ăn theo), trong khi đa số nhân dân (lực lượng sản xuất chủ yếu) thì đời sống ngày một khó khăn thiếu thôn, đã nghèo ngày càng nghèo thêm, dù đã lao động cật lực vẫn không đủ sống, vì đồng lương chết đói, không tương xứng với sức lao động bỏ ra.
         Trong khi chế độ nỗ lực “cải tạo tư sản mại bản, tư sản dân tộc và các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa khác” để biến tất cả thành “vô sản”, thì thực tế đã tạo tiền đề đẻ ra các nhà tư sản mới (tư bản đỏ vỏ xanh lòng) ngày một đông đảo, sau mỗi đợt cải tạo và trong khi thực hiện chủ trương chính sách xây dựng quan hệ sản xuất mới Xã Hội Chủ Nghĩa (công, thương nghiệp nhà nước, tổ hợp quốc doanh…). Người dân gọi những nhà tư sản mới phát lên này (thường là cán bộ đảng viên có chức có quyền…) nhờ công cuộc xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, là các nhà “Tư sản hay tư bản Đỏ” hay “Vô sản mại bản”! (Còn hầu hết nhân dân được gọi mỉa mai là “Tư sản mại sản” vì phải bán dần của cải, đồ đạc trong nhà để duy trì sự sống …)
      - Thực hiện chủ trương chính sách cải tạo nông nghiệp.
       * Tiến hành thế nào?
         Cải tạo nông nghiệp là phá đổ quan hệ sản xuất cũ (tư hữu đất đai, phương thức canh tác và tư liệu sản xuất), thiết lập quan hệ sản xuất mới

 Thiện Ý

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều