We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 30 November 2014

Đem con bỏ chợ, rước giặc vào nhà


    
         Hiện nay, Việt Nam có hơn 170 doanh nghiệp cung ứng lao động, mỗi năm gửi ra nước ngoài khoảng 80.000 lao động (Ảnh: Internet) 000_Hkg9834130-305.jpg
         Xuất khẩu lao động Việt Nam nhập khẫu lao động Tàu

1* Mở bài
Đem con bỏ chợ, rước giặc vào nhà phản ảnh chính sách xuất khẩu lao động của đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam. Sau khi nhận tiền, tống công dân của mình ra khỏi nước thì phủi tay. Không theo dõi, không quan tâm đến đời sống công dân của mình như thế nào cho nên đã có rất nhiều trường hợp công nhân Việt Nam bị áp bức, bóc lột như nô lệ thời xưa. Sống chết mặc bây chỉ muốn nhận ngoại tệ gởi về nhà mà thôi.
Đó là đem con bỏ chợ.
Trái lại, để cho người Trung Hoa tự do đi lại luông tuồng trên khắp các vùng đất nước của mình. Bọn Tàu khựa xây dựng những cộng đồng của họ, bất tuân luật pháp Việt Nam. Đó là những làng Trung Quốc, những phố Tàu mọc lên như nấm đón nhận di dân vào làm trời làm đất, quậy phá nát những thôn xóm quê nghèo Việt Nam.
Việt Nam đã bị Hán hóa, đã lệ thuộc vào chính quyền Bắc Kinh theo nguyện vọng của đảng CSVN hồi năm 1990 tại Thành Đô, Trung Quốc.
Đó là rước giặc vào nhà. Đảng CSVN cho rằng Tàu khựa là những người láng giềng tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt. Cái gì của Trung Cộng cũng đều tốt cả.
2* Lao động Trung Quốc vào Việt Nam
Lực lượng lao động Trung Quốc (LĐ/TQ) không phép ngày càng gia tăng ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam, đã làm cho chính quyền địa phương phải đối diện với những khó khăn trong việc quản lý.
Hồi tháng 8 năm 2011, báo chí VN liên tục cảnh báo về tình trạng bất thường của lao động Trung Quốc (LĐ/TQ) tại VN, đó là lao động không phép, di trú bất hợp pháp, rất đông và đã có mặt khắp nơi từ Cà Mau đến Tây Nguyên và các công trường ở miền Bắc. Nhiều nhà quan sát cho rằng điều nầy không đơn thuần về việc làm và kinh tế, mà còn là mối đe dọa về an ninh quốc phòng nữa.
Báo Sài Gòn Giải Phóng nêu một ví dụ tại công trình xây dựng nhà máy đạm Ninh Bình, cách Hà Nội 90 km, tại đó, cả ngàn người LĐ/TQ làm việc mà chỉ có vài trăm công nhân người Việt. LĐ/TQ làm những công việc chân tay đơn giản, thuộc lao động phổ thông mà tiền lương gấp bội so với công nhân VN. Trong 2,000 LĐ/TQ của công trường thì đã có 1,500 người làm việc không có giấy phép. Họ được cung cấp nhà ở tập thể, trong khi đó, công nhân VN thi phải tự túc.
Trường hợp Ninh Bình không phải là cá biệt, mà ở khắp nơi, từ Bauxite Tây Nguyên  đến Cà Mau, đều có những tình trạng như thế.
Một phóng viên phỏng vấn công nhân TQ về mức lương, thì được cho biết như sau:
  • Mức lương từ 3,000 đến 5,000 tệ mỗi tháng.
  • Hàng tháng nhận 1,000 tệ chi tiêu. Còn lại, được gởi về gia đình bên TQ.
Tính ra tiền đồng VN thì:
  • 3,000 tệ =9,462,000VNĐ (9 triệu tư)
  • 5,000 tệ=16,070,000 (16 triệu)
Chi tiêu 1,000 tệ=3,214,000VNĐ (3 triệu). Như vậy mỗi tháng còn dư từ 6 triệu đến 13 triệu đồng VN.
Trong khi đó, lương công nhân VN không quá 1,000 tệ.
Như vậy, nếu họ thuê công nhân VN thì họ còn lợi nhiều hơn, nhưng tại sao họ không làm?
Tờ Humanité (Nhân đạo) của Pháp có bài viết:” Phải chăng người TQ dùng chiến thuật “Tằm ăn dâu”, cứ từng bước đưa người của họ tràn vào những nơi xa xôi trước.
Đó là xuất khẩu lao động không cần đóng thuế, không cần xin phép, bất chấp luật lệ, tranh giành công việc với người của nước chủ nhà.
Ngay từ đầu, nếu cơ quan có trách nhiệm của VN làm việc đúng luật, thì TQ dù có 3 đầu 6 tay cũng không có thể làm việc “chui” một cách dễ dàng như thế nầy được đâu. Theo luật LĐ/VN, những LĐ dưới 6 tháng mà không có giấy phép thì bị phạt hành chánh, trên 6 tháng mà không phép thì bị công an trục xuất về nước”.
Trong năm 2011, có 74,000 LĐ ngoại quốc ở VN, trong số đó có 63,000 là LĐ/TQ mà đa số là không có giấy phép.
Vụ LĐ/TQ không có giấy phép bùng nổ nên các cơ quan chức năng gấp rút điều chỉnh tình trạng nầy.
2.1.Báo cáo đề nghị cấp giấy phép cho lao động Trung Quốc
Ngày 25-8-2011, Sở Lao Động-Thương Binh-Xã Hội (LĐ-TB-XH) tỉnh Quảng Bình tiếp tục gởi văn thư đến 4 đơn vị chủ thầu VN, đề nghị cấp giấy phép lao động cho số người Trung Quốc đang làm việc trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Nhưng chủ thầu VN bất lực, không làm được, bởi vì không nắm được số công nhân làm việc bất hợp pháp.
Sở LĐ-TB-XH tỉnh Quảng Bình lại gởi văn thư lên Bộ LĐ-TB-XH và Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Bình, xin cấp giấy phép cho 345 người TQ đang làm việc bất hợp pháp trong tổng số 369 người.
Yêu cầu cấp giấy phép trong vòng tháng 7, nhưng đến 30-8-2011 vẫn chưa có tờ giấy phép nào cả.
2.2.Đề nghị trục xuất công nhân bất hợp pháp
Tiếp theo, Sở LĐ-TB-XH Quảng Bình đề nghị công an Quảng Bình, căn cứ vào luật lao động, trục xuất những LĐ/TQ làm việc trên 6 tháng mà không có phép. Nhưng công an cũng đầu hàng, chịu thua vì không nắm được chi tiết của từng cá nhân, mà lại không dám vào công trường để xác minh lý lịch của từng người.
Các quan chức nhà nước chỉ nắm chung chung danh sách mà các nhà thầu TQ gởi đến mà thôi.
Ông Vũ Viết Hoàn, Phó Tổng Giám đốc công ty quốc doanh, là chủ thầu cho biết : “Mình đã làm hợp đồng rồi, thì chỉ biết tiến độ mà thôi. Nhiều khi mình hối thúc “tiến độ” cho công tác chạy nhanh đúng theo hợp đồng quy định, thì họ đưa công nhân TQ từ đâu đến, không ai biết cả.”
Hồi cuối năm 2008, tờ New York Times đã đăng một bài về lao động trái phép của người TQ tại VN.
“Tại công trường xây cất nhà máy nhiệt điện chạy bằng than ở Trung Sơn, Hải Phòng, chỉ có vài trăm người Việt, còn lại là 1,500 LĐ/TQ. Họ có cư xá riêng, có cơ sở dịch vụ riêng do người TQ trông coi. Chung quanh là 4 bức tường bao bọc, ngăn cách với thế giới bên ngoài. Việc ra vào được kiểm soát bởi người TQ.”
2.3.Lao động Trung Quốc không phép ở Cà Mau
Công trường xây cất Nhà Máy Phân Đạm Cà Mau xử dụng 600 công nhân TQ không có giấy phép.
Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Cà Mau yêu cầu nhà thầu TQ phải làm giấy bảo lãnh về lý lịch tư pháp (Chứng tỏ người tốt không can án) cho 600 LĐ/TQ không có giấy phép.
Nhà thầu chỉ cung cấp một danh sách có 556 người mà thôi. Như vậy, số còn lại có phải là những tay gián điệp hay không? Ai biết được?
UBND tỉnh Cà Mau cũng yêu cầu 600 người nầy phải đi khám sức khỏe để thiết lập hồ sơ xin cấp giấy phép lao động. Nhưng quá hạn yêu cầu mà không có người nào đi khám cả. Việc khám sức khoẻ, lập hồ sơ đáng lẻ phải hoàn tất trước khi vào VN làm việc.
Về việc lao động bất hợp pháp, một viên chức VN giải thích:
  • Do địa phương không đủ nguồn nhân lực về lao động.
  • Lao động người Việt không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
  • Ý thức kỹ luật lao động của người Việt kém.
  • Năng suất kém
Ý kiến chạy tội và trốn trách nhiệm nầy đã bị phản bác, cụ thể như sau:
  • Các nhà thầu Mỹ, Pháp, Đức, Nhật, Úc, Hàn quốc…đã yên tâm xử dụng lao động người VN trong các công trình được thực hiện tốt. Cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, Thủy điện Hoà Bình, Thủy điện Trị An… đều do công nhân VN phụ trách, tất cả đều tốt.
  • LĐ/TQ đến VN đa số là những lao động phổ thông, làm việc đơn giản bằng chân tay, do đó không thể nói là LĐ/VN không đáp ứng kỹ thuật. (theo tổ chức phân công làm việc thì trong một nhóm có một kỹ sư, 4 hoặc 5 nhân viên cán sự trung cấp và có từ 10 đến 20 công nhân được huấn luyện, có tay nghề)
3* Tranh cãi về trách nhiệm của ai
Trên 60, 000 LĐ/TQ làm việc bất hợp pháp ở khắp nơi trong các công trường xây dựng do nhà thầu TQ đảm nhận.
3.1. Tác hại tiềm ẩn của đạo quân Trung Quốc
Tân Phó chủ tịch Quốc hội khoá 13, bà Nguyễn Thị Kim Ngân (Nguyên Bộ trưởng Bộ Lao Động-Thương Binh-Xã Hội), phát biểu: “Tôi rất lo ngại LĐ/TQ đã có mặt ở các vùng sâu, vùng xa như đất mũi Cà Mau”.
Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH Nguyễn Thanh Hòa cho biết: “Tôi rất băn khoăn, không hiểu vì sao LĐ/TQ lại có mặt ở các công trình trọng điểm của quốc gia như thế”
Bộ trưởng, thứ trưởng LĐ-TB-XH là cơ quan chức năng về lao động mà nói như thế thì thật là không còn chỗ nào để phê bình cả. Công việc lao động của Bộ Lao động, mà các viên chức lãnh đạo Bộ không hiểu lý do, thì ai vào đây có thể hiểu được?
Một cử tri quận Ba Đình, Hà Nội, “bức xúc” bày tỏ với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng như sau: “Đừng xem LĐ/TQ vào VN chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội, chính trị và an ninh trật tự nữa. Trách nhiệm về ai, cần phải làm cho sáng tỏ”.
Tân Bộ trưởng LĐ-TB-XH, Phạm Thị Hải Chuyền phát biểu: “Đây là vấn đề trong đó có trách nhiệm của chúng ta.” “Chúng ta” ở đây không xác định được ai cả.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói: “Số LĐ/TQ sẽ về nước sau khi hoàn tất hợp đồng ở VN”. Thế nhưng, nhà nước VN không biết những tên tuổi nào, số lượng bao nhiêu, đang ở đâu, thì làm sao biết được họ sẽ về nước hay không?
Ngoài những đe dọa tiềm ẩn, còn có những tác hại cụ thể đã xảy ra về mặt xã hội, như gia tăng nạn mãi dâm ở các khu công trường, những vụ ấu đả, đập phá tài sản làm mất an ninh ở địa phương.
3.2. Tranh cãi trách nhiệm
Bộ trưởng LĐ-TB-XH Nguyễn Thị Kim Ngân bác bỏ cáo buộc cho rằng bộ của bà chịu trách nhiệm về LĐ/TQ bất hợp pháp. Bà nói:
“Đa số LĐ/TQ vào VN bằng con đường du lịch, nhưng bộ của tôi không cấp bất cứ một giấy phép nào, cho bất cứ ai vào đây cả. Vậy ai cấp giấy phép thì người đó chịu trách nhiệm”.
Bà Ngân nói với báo chí: “Chính quyền địa phương quản lý hộ khẩu và cư trú cũng phải chịu trách nhiệm nữa”.
1). Trách nhiệm của chủ thầu Việt Nam
“Chủ thầu không báo cáo số LĐ/TQ tại các công trường, không báo cáo những người TQ vào VN rồi không chịu về nước mà ở lại làm việc không phép.
Trong việc tổ chức thực hiện, có nơi nầy, nơi nọ không thực hiện đúng nguyên tắc xử dụng lao động.”
Bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy Ban Xã Hội của Quốc hội nói với báo chí: “Bộ Lao động có trách nhiệm chính về tình trạng lao động không phép nầy ở VN”.
2). Chưa xử lý đúng mức   
Tháng 4 năm 2011, Thứ trưởng bộ Lao Động Nguyễn Thanh Hoà thừa nhận:
“Chưa có ai bị trục xuất cả, mà thường chỉ phạt hành chánh, rồi họ lại tiếp tục làm việc không phép vì không có ai quản lý. Do “nhiều nguyên nhân” cho nên chúng ta chưa xử lý nghiêm về vấn đề nầy.” (Không ai biết là “nhiều nguyên nhân” là gì?)
Một ví dụ cụ thể:
LĐ/TQ dùng đường du lịch (người TQ vào VN không cần chiếu khán nhập cảnh, Visa) vào làm việc tại công trường Tân Rai (Bauxite Lâm Đồng) do nhà thầu Chalico xây dựng. Phó bí thư tỉnh Lâm Đồng, Lê Thanh Phong thừa nhận: “Thật sự tỉnh ít quan tâm đến bởi vì con số ban đầu chỉ có 100 công nhân TQ được báo cáo mà thôi. Chính quyền địa phương chỉ có thể nhắc nhở vì do quan hệ ngoại giao Việt-Trung nên tỉnh không làm được gì cả”.
Tóm lại, do chủ trương lớn của đảng, do bang giao Việt-Trung cho nên các cơ quan chức năng đã để cho tình trạng LĐ/TQ không phép lan tràn trên đất nước VN.
Không những lao động bất hợp pháp mà người TQ còn thực hiện chính sách di dân thành lập những khu phố Tàu biệt lập trên lãnh thổ VN nữa.
Bà Phạm Chi Lan, cựu Chủ tịch Phòng Thương mại VN, nói với nhà báo Mỹ Edward Wong: “Hiện nay có những làng hoàn toàn của TQ tại VN. Chúng tôi chưa bao giờ thấy một hiện tượng như vậy trong các dự án của các công ty nước ngoài  khác. Trong một nước VN mà nạn thất nghiệp trầm trọng, khiến nhà nước phải xuất khẩu nửa triệu ra nước ngoài để kiếm ăn, sự có mặt của trên 60,000 công nhân TQ để làm những công việc lao động phổ thông như thế, là một điều không thể hiểu nổi”.
4* Công nhân Trung Quốc quậy phá
4.1. Công trường Nghi Sơn
       https://encrypted-tbn1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcS6SuaR5_h8YwUTaiJTP9Ss_U9DC7Ur-UbqGCr4VFjdJel0suL9 http://danviet.vn/Uploaded/baogiay2/190_15_khu-nha-luu-tru-cua-cong-nhan.jpg
                  Khu nhà lưu trú của công nhân Trung Quốc
Nghi Sơn là khu kinh tế thuộc tỉnh Thanh Hoá, nơi có công trường xây dựng nhà máy xi măng do nhà thầu Trung Quốc phụ trách.
Đối diện với công trường là một khu nhà tập thể dành cho công nhân do nhà thầu dựng lên.
Chung quanh công trường mọc lên đủ loại dịch vụ như nhà nghỉ cho thuê phòng, quán cà phê Karaoke, dịch vụ điện thoại… chủ yếu là phục vụ cho LĐ/TQ mà phần đông là lao động phổ thông, tức là làm những công việc đơn giản bằng chân tay. Các chuyên gia không ở chung với thợ thuyền trong khu nhà tập thể, mà thuê nhà ở riêng.
Khu ăn ở của LĐ/TQ tách biệt với khu dân cư người VN ở địa phương, mà sự ra vào được bảo vệ TQ kiểm soát nghiêm nhặt, vì có nhiều vụ xô xát đã xảy ra.
4.2. Đập phá nhà anh Nguyễn Văn Len và đánh người trọng thương
Vợ anh Nguyễn Văn Len kể lại:
“Đúng vào đêm chung kết bóng đá AFF Cup, đội tuyển VN thắng đội Thái Lan. Anh Len không có ở nhà. Một người LĐ/TQ say rượu vào quán mua thuốc lá, do bất đồng ngôn ngữ, người TQ đập bể bàn ghế, xé nát bao thuốc lá, quát tháo om sòm. Vừa lúc đó thì anh Len về. Thấy thái độ ngang ngược và hung hăng của người say rượu, anh Len kéo tay người TQ đẩy ra khỏi nhà. Bất ngờ, anh Len bị người TQ túm tóc đánh túi bụi. Sự việc phức tạp hơn khi anh Len chống trả lại. Vị khách nầy chạy về khu tập thể, kéo lại khoảng 40 người, rồi tiếp theo, khoảng 100 người cầm gậy gộc, ống nước, lái xe tải đến, chiếu đèn rọi vào nhà rồi tất cả ra tay đập phá, đánh bị thương nhiều người trong gia đình. Thậm chí, hàng xóm đến can ngăn cũng bị rượt đánh.
Người bị thương nặng nhất là Nguyễn Văn Đen, em trai của anh Len. Số là người em trai hôm đó lái xe ôm vừa về đến nhà, được biết bên nhà anh Len có chuyện, nên lái xe chạy sang.
Vừa đến nơi thì bị 5, 6 tên TQ vây đánh túi bụi, đập nát mủ an toàn đang đội trên đầu, khiến anh Đen bị gảy tay, gảy chân và phải khâu 16 mũi trên đầu, trên trán”.
Việc LĐ/TQ đánh nhau với người địa phương xảy ra hà rầm. Các LĐ/TQ say xỉn, ăn nhậu không trả tiền mà còn đập phá không phải là chuyện hiếm có. Bà Hiệp, chủ quán cho biết, thời gian nầy còn đở, chứ trước kia không những nhậu say không trả tiền mà còn đập phá, doạ nạt chủ quán, thậm chí tối đến, con gái trong làng không dám ra đường, vì sợ LĐ/TQ say xỉn đuổi bắt làm ẩu.
4.3. Băng đảng xã hội đen Trung Quốc lộng hành ở Bình Dương
Cộng đồng người Hoa phát triển nhanh chóng ở Bình Dương do di dân không ngừng. Chính quyền Việt Nam không có khả năng quản lý chặt chẽ nên nhiều hiện tượng xấu cũng gia tăng.
1). Bắt cóc đòi nợ thuê
Ở thị xã Dĩ An (Bình Dương), cứ đêm đến thì băng đảng xã hội đen thường xuyên gây náo loạn và đe dọa người dân ở đó.
Công an thị xã Dĩ An đã bắt giữ một băng đảng người Trung Quốc do tên Chen Chi Yung (43 tuổi) quốc tịch Trung Quốc, cùng với ba đàn em tên Hứa Kiến Hào, Vương Gia Hào và Lý Hoàng Phong về tội âm mưu bắt cóc làm con tin để đòi nợ thuê.
Nhóm nầy đã mua roi điện, súng nhựa và kiếm để thực hiện vụ bắt cóc đòi nợ số tiền là 1.6 tỷ đồng. Ăn chia cưa đôi, 50-50.
Khi ra tay thì bị công an phát hiện và bắt giữ. Cảnh sát Trung Cộng yêu cầu được dẫn độ tên Chen Chi Yung vì đương sự đã bị tầm nã về tội cướp tài sản trước kia. Nghe vậy, hay vậy chớ làm sao biết sự thật được? Chỉ biết chắc rằng tên nầy được đưa về xứcủa nó.
2). Hành hung người Việt
Cũng tại Bình Dương, người Trung Quốc hành hung người Việt đã xảy ra.
Một đêm, hai người Tàu, có lẻ nhậu say, đã liên tục đập cửa nhà chị Lan ở chung cư Hoàng Long. Chị Lan và gia đình vô cùng hoảng sợ. Nghe ồn ào, bà Dung từ lầu 8 đi xuống thì bị họ nhào tới tấn công và bóp cổ. Bảo vệ chung cư và chồng chị Lan đến giải vây.
Sau đó, công an đến lập biên bản do không đăng ký tạm trú theo quy định, mà bỏ qua hành vi quấy nhiễu, tấn công bóp cổ.
Ban quản lý chung cư cho biết, đa số trong 40 căn hộ đã cho người Trung Quốc thuê. “Họ xả rác tràn lan. Đêm đến thì kéo nhau về chung cư ăn nhậu, la ó gây ồn ào suốt cả đêm. Khi công an đến lập biên bản thì họ nhất quyết không mở cửa, công an cũng chịu thua vì họ là người Trung Quốc”
3). Không ai quản lý đám người nầy cả
Trung tá Phạm Thành Trung  cho biết, việc quản lý người Trung Quốc rất khó khăn.  Họ đến bằng đường du lịch rồi tìm cách ở lại Việt Nam.
Ông Trung cho biết việc quản lý người lao động Trung Quốc thuộc thẩm quyền của Sở Lao Động-Thương Binh-Xã Hội. Trong khi đó lãnh đạo Sở LĐ-TB-XH cho rằng sở chỉ quản lý doanh nghiệp có 10 lao động trở lên mà thôi.
Vì thế không có ai quản lý cái đám người nầy cả. Cũng tại hai thành phố Nhị Đồng và Sóng Thần thuộc Dĩ An, Bình Dương, có trên 20 quán ăn, nhà hàng, tiệm massage do người Hoa kinh doanh và chỉ phục vụ cho đồng hương của họ mà thôi.
5* Những “làng Trung Quốc” ở Hải Phòng
     Thậm chí có biển hiệu không cả có chữ Việt khiến nhiều du khách...ngỡ ngàng. phố Tàu, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Bình Dương https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcT9_4qI9ZcJ5KYwm-2wGfzsn3I7S_3nSa8vaOJvVop6RQUy0UeZzw

Người Hải Phòng gọi những khu tập trung LĐ/TQ là “Làng Trung Quốc”. Hải Phòng còn hình thành một “Khu Phố Tàu” với đầy đủ cơ sở phục vụ cho người Tàu.
5.1. “Làng Trung Quốc” Ngũ Lão

 http://songmoi.vn/sites/default/files/images/3_16.jpg 
Trúc Giang MN
----------
 
Dân chúng Việt Nam đem quan tài đến đồn công an đòi mạng người.

Lễ Giáng Sinh: Khai hoang trong tù


Nghe nói, người ta dự trù thiết lập nhà máy làm giấy, tại một tỉnh thuộc miền xuôi. Nhà máy do nước Thụy Điển bên trời Âu viện trợ cho nước ta. Không biết công trình đã khởi công hay chưa. Chỉ nghe tin đồn, mà tin đồn thì thực hư chẳng lấy gì làm chính xác. Nhưng có điều chắc chắn, những người thất trận từ miền Nam xa xôi, bị đẩy tuốt lên vùng mạn ngược, đã được lệnh khai hoang, phá rừng để trồng cây bạch đàn. Lúc đầu, không ai biết trồng bạch đàn làm gì. Mãi sau, mới vỡ lẽ ra rằng, thân gỗ xốp của bạch đàn có thể dùng làm giấy. Nhà máy chưa xây, đã bắt tay vào việc tạo nguồn nguyên liệu cung cấp. Quả là biết lo xa!

Những tháng mùa Đông. Trời Việt Bắc mang một màu trắng đục. Chưa nói tới cái rét trên da thịt, chỉ nhìn màu trời ảm đạm, đã thấy buốt cả tâm hồn. Kẻ đi đày, áo rách, xác ve. Lòng sầu quê cũ. Nếu so với kẻ đi xây Vạn Lý Trường Thành vào thời Tần Thủy Hoàng, chắc cũng có điểm tương đồng. Sử sách ngàn năm xưa chép lại, tiếng kêu ai oán còn nghe văng vẳng theo ngọn Đông phong dọc suốt dãy Trường Thành. Khí uất xông lên, mây mù che ám một góc trời phía Bắc Hàm Dương. Chế độ nhà Tần bị diệt, cung A Phòng cũng cháy thiêu. Đền đài cung điện nguy nga, bỗng chốc hoá tro tàn. Trải qua bao nhật nguyệt nắng mưa. Hươu nai chạy trên nền cũ. Lau sậy lút đầu. Chứng tích một thời ác nghiệt kinh thiên, còn lại một Vạn Lý Trường Thành. Dù nhân loại không muốn tái diễn chế độ bạo tàn, nhưng các sử gia khẳng định rằng, lịch sử luôn luôn lặp lại. Và lịch sử Việt Nam đang lặp lại cái thời Tần Thủy Hoàng, hơn hai ngàn năm trước. Không gian, thời gian sai biệt, tình huống chẳng khác gì nhau. Đốt sách và đày ải con người, dường như sao nguyên bản của chính sách nhà Tần.

Lên miền Thượng Du, đứng đâu cũng thấy núi non bốn bề vây hãm. Trông về Tây Bắc, lô nhô một dãy chắn ngang tầm mắt. Núi nhoà sương, không rõ nét. Muốn sang bên kia, khu vực được chọn trồng cây bạch đàn, phải qua đèo. Đèo không cao mà dốc ngược. Thế đất yên ngựa nằm vắt ngang dãy núi. Thoạt nhìn, đã ngao ngán đôi chân. Đường đèo trơn ướt, gập ghềnh đá tảng, luồn lách qua những cây nhỏ cây to, quanh năm che khuất mặt trời. Đá núi ngậm sương lâu ngày, phủ áo rêu phong. Người đi trước, nhỡ làm lăn một tảng đá, khó lường được tai nạn khốc liệt cho người đi sau. Có nhiều đoạn đèo cheo leo bên bờ vực. Tay bám vào cây, chân lần từng bước. Sơ ý ngã xuống vực, mất mạng như chơi.

Đoàn tù lên dốc lom khom, thân chúi về phía trước, trông như những con ốc sên to lớn dị thường, từ từ bò trên miệng vực. Để chống cái rét thiên nhiên, có bao nhiêu áo quần vá víu, tù nhân đều chùm đụp cả lên người. Trên lưng lại chở thêm chiếc ba lô tự tạo. Trong ấy đựng nhiều thứ vặt vãnh, nhưng vô cùng cần thiết cho một một đời sống vốn đã đơn giản hoá đến mức tối đa. Những hình nhân biến tướng, thành những hình thù kỳ dị biết di động. Dù đã trùm nhiều lớp áo quần, nhưng vẫn thấy rét. Rét từ đâu trong xương rét ra. Rợn từng hồi, dọc theo xương sống. Rét thắt ruột gan vì đói. Rét luồn vào đường gân thớ thịt, tạo thành cơn run.

Lên tới đỉnh đèo, ngồi lại nghỉ mệt. Ủ hai bàn tay trong cặp đùi, sưởi ấm cho những ngón lạnh tê. Hai bên sườn núi mịt mù sương trắng. Nhìn xuống lũng, mây nặng màu chì, la đà trên thôn bản. Vời trông xa xa. Không gian mù đục, chẳng thấy chân trời. Làm người quen sống tụ họp nơi những vùng đất thấp. Lên cao, cảm giác chênh vênh hiu quạnh lạ lùng. Khí ẩm. Cây lá ướt mù sương. Trời đứng gió. Mọi vật chung quanh im lìm, dường như nín thở. Chỉ có lũ vắt rừng đang âm thầm hoạt động. Nghe hơi người, vắt từ lá mục bò lên, bám vào kẻ ngón chân. Vắt trên lá cây buông mình rớt xuống, chui vào cổ áo. Khi nghe da thịt ngứa ngáy, con vắt đã no máu rồi.
Trên mặt địa cầu, nơi nào cũng có loài hút máu. Nhưng so ra, trong tất cả các loài hút máu, không có loài nào kinh khủng bằng loài Cộng sản. Loài Cộng sản, khi đã hút máu người, thì hút đến cạn kiệt sự sống. Những kẻ đi đày hôm nay, đang bị xuất huyết bởi chính đồng loại của mình.

Trong nỗi cùng khốn, chợt nghĩ đến một nhà văn ngoại quốc. Ông ta cảm thấy bị lưu đày ngay trên quê hương mình. Ở những quốc gia bình yên sung túc, cuộc đời nhàn tản mãi, làm người ta nhàm chán. Họ muốn tìm cảm giác mới cho tâm hồn, tưởng tượng ra mọi nỗi thống khổ để quằn quại rên la cho thân phận kiếp người. Trên quê hương tôi, những thứ đó chẳng cần tưởng tượng. Tất cả những bất hạnh khổ đau nào cũng đều hiện thực. Chiến tranh. Nghèo đói. Chết chóc. Tù đày. Không vào địa ngục, cũng thấy cảnh A Tỳ. Quỷ Vô Thường hiển lộng. Những đấng Từ Bi Cứu Thế đều bỏ đi xa. Chúng sinh lặn ngụp trong bể trầm luân. Kêu gào. Than khóc. Chẳng thấy ai ra tay cứu độ. Thế mới biết, tại sao Lão Tử một mình cưỡi trâu xanh biệt tăm vào núi. Nhưng, thời của Lão Tử còn có thể tìm nơi cao sơn cùng cốc lánh đời. Thời của chúng tôi, ẩn trong hang cùng xó núi cũng chẳng yên thân. Người ta sẽ lôi ra, gán cho đủ thứ tội lên đầu. Thành phần xã hội ở đây, được phân chia rất rõ. Quỷ và Người. Con người ở dương thế, nhưng sống trong trạng thái địa ngục. Phía sau những khẩu hiệu tưởng chừng dẫn tới thiên đàng, thật ra là đường về âm cảnh. Làm người trong thời của tôi, thường xuyên đi trên chông gai lửa đỏ. Tinh thần khủng hoảng, nhìn đâu cũng hồ nghi có họng súng lưỡi lê rình rập. Đêm chập chờn ác mộng. Nghe tiếng chó sủa, giật mình thảng thốt. Nghe gà gáy báo hiệu bình minh, sợ có kẻ tới nhà gọi đi “thẩm vấn”. Bị “thẩm vấn” là điềm báo tai ương, dữ nhiều lành ít.

Lên đèo đã vất vả. Xuống đèo, càng vất vả hơn. Không vận dụng sức lực nhiều, nhưng lắm rủi ro. Bất cứ lúc nào cũng có thể sẩy chân lăn xuống vực. Có nhiều đoạn dốc ngược, không thể di chuyển bằng đôi chân. Ngồi mà tuột dốc. Thương cho cái đít quần. Lết xuống tới chân núi, đít quần mòn rách te tua. Hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, cái ăn cái mặc là quý. Mảnh vải che thân bị rách, cũng đau như chính da thịt mình xây xước.

Qua tới khu vực chọn trồng bạch đàn, việc đầu tiên là lo chỗ ở. Tù nhân tạm trú trong nhà kho “hợp tác xã”. Nhà kho tứ bề trống lốc, không vách phên che. Dựng nhà kho để làm mô hình cho hợp tác xã. Người dân sơn cước chưa đủ miếng ăn, có đâu dư thừa lương thực cho vô nhà kho? Để chống cái lạnh thiên nhiên, tù nhân được ra đồng ôm rơm về lót ổ. Ngày còn nhỏ, nghe nói đến ổ rơm của người nghèo Miền Bắc. Thời xa xưa ấy, tưởng đã qua rồi. Không ngờ, mấy chục năm sau người tù đến đây, thực hiện cái ổ rơm cho chính mình. Ổ rơm của tù có hình thức như chiếc máng dài. Lòng máng lót nửa tấm chăn. Nửa tấm còn thừa, dùng đắp lên người. Cuộn mình lâu trong ở rơm, hơi ấm tụ lại, thấy đời cũng dễ chịu. Khi con người bị tước mất tất cả, thì một chút tiện nghi nhỏ nhoi, cũng nhân lên thành sự thoải mái lớn. Thoải mái thường sinh ra những ước mơ tình cảm. Nếu được nằm ôm vợ trong cái ổ rơm ấm áp này, thì hạnh phúc biết chừng nào. Nghĩ thế, lại bàng hoàng. Từ lâu, gia đình vợ con đã không còn là nỗi nhớ nhung quay quắt. Những hình bóng mờ nhạt ấy lùi sâu vào quá khứ, xa xôi như thời tiền sử. Trong cảnh cố cùng đói rách, dạ dày vật vã đòi ăn, kéo cái đầu xuống thấp, chạm mặt vào thực tại. Ước mơ được gần gũi gia đình hạnh phúc, là chuyện quá tầm tay. Đòi hỏi bức bách bây giờ là miếng ăn. Một đòi hỏi tầm thường của con vật. Thế nhưng không dễ gì được thoả mãn. Đêm nằm trăn trở, chỉ mơ tưởng miếng ăn hèn mọn. Củ sắn, hạt ngô bỗng to lên, chiếm hết những khoảng tình cảm dành cho vợ con, đẩy lùi hết những mơ mộng viễn vông. Khẩu hiệu “tự do ấm no hạnh phúc”, xem chừng đơn giản. Nhưng muốn vươn tới, không dễ. Bởi những khống chế giam cầm, những nghèo đói kinh niên, những trù dập răn đe, đi ngược chiều khẩu hiệu.

giữa thời kinh mang
người nằm trong đất không yên
phá mả tìm vàng
cạy nắp áo quan
 
huyệt sâu chấn động hồn thiên cổ
gỗ đá còn đau nhức thấu xương.

Người chết đã thế. Người đang sống vật vờ mà mong bình yên hạnh phúc, là điều hư tưởng.

Gần cuối thập niên bảy mươi, cả nước lâm vào tình trạng kiệt quệ. Hội Lương Nông quốc tế ồ ạt tuôn bột mì vào VN cứu đói. Bột mì được phân phối lên tận miền cao. Người dân sơn cước không quen ăn thứ bột xa lạ này, nên điều đình với trại tù đổi lấy sắn ngô. Chuyện trao đổi, người khác quyết định, nhưng tù “cải tạo” lại ăn bột mì. Phẩm càng cao, lượng càng ít. Tù đói rã ruột. Đói lờ đờ trắng mắt. Đói chóng mặt xiêu xiêu. Thời gian này, có nhiều người phải chống gậy mà đi. “Cán bộ” cho thế là “cố tình bôi bác chế độ”, bắt phải vất gậy. Sự thật tự nó đã hiển bày, cần chi bôi bác?

những bạn tôi ngồi như cổ thụ
già trăm năm trước tuổi không ngờ
manh áo vá che mùa gió bấc
mặt hao gầy râu tóc xác xơ!

Buổi sáng, trước khi lên rừng, được một cục bột luộc bằng nắm tay. Buổi chiều về, được ổ bánh mì dài cỡ gang tay. Ăn một lượng bột như thế với nước muối, mà phải ra sức “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”, thì linh hồn nào cũng muốn ruồng bỏ xác thân.

Sương sớm còn âm u, đoàn tù đã có mặt trên vùng khai hoang. Đồi núi chập chùng. Rừng già heo hút. Tưởng như từ thời khai thiên lập địa chưa có chân người đi tới. Muỗi đói, vắt rừng làm tổ. Quơ ngọn dao lay động lá cành. Muỗi bay ra như bầy ong vỡ tổ. Muỗi cánh bông, hung dữ lạ thường, ào ạt tấn công. Nhưng muỗi cũng chưa đáng sợ bằng vắt. Vắt áp dụng chiến thuật du kích. Âm thầm len lõi, và đánh bất ngờ. Khi phát hiên được vắt, ta đã bị tổn thất rồi. Chỗ vắt bám, máu cứ ri rỉ cả ngày. Còn một loài ác ôn nữa, vô cùng độc địa. Loài này không nhiều, nên ít ai nói tới. Đó là ve chó. Vùng hoạt động lý tưởng của ve chó, là nách và háng. Người bị ve chó, cảm thấy sốt nhẹ và hơi đau nơi vết thương. Cởi áo ra xem. Một vùng da ửng đỏ. Trung tâm vùng đỏ, con ve vẫn còn bám như một hạt đậu đen, rúc sâu vào da thịt. Không biết nó bám đã mấy ngày rồi. Hấp tấp lôi nó ra, thì đầu và chân nó dính lại trong thịt. Nơi ấy sẽ làm độc thành ghẻ. Phương pháp hiệu nghiệm nhất để trục toàn thân tên cố lỳ, dùng đầu điếu thuốc nóng hơ vào đít nó. Chiến thuật hoả công buộc con ve rời nơi tử thủ như cái hố tròn bằng đầu đủa, tươm máu. Hậu quả ve chó để lại một vết thương ngứa ngáy cả tháng trời chưa khỏi.

Một thời gian dài khai hoang, vùng rừng già tre nứa mênh mông nằm rạp xuống. Châm một mồi lửa, tất cả cháy thiêu. Lửa cháy lan suốt đêm, không người canh giữ. Đất nước là của chung, nếu nạn cháy rừng xảy ra, ai nhận lấy trách nhiệm? Nửa khuya, đứng từ nhà kho hợp tác xã nhìn lên, bầu trời tối đen, không thấy dáng núi. Chỉ thấy lửa cháy trên cao, như lửa trời cháy giữa thinh không. Sau một đêm, vùng rừng thiêng tồn tại cả ngàn năm bị hủy ra tro. Người tù nhìn đất, ngẩn ngơ. Người với đất chung niềm đau nhức. Đất lặng thinh phơi bãi tro tàn.

Tù nhân khai hoang phá rừng dọn đất, nhưng không có lệnh chỉ định trồng bạch đàn. Nghe nói gần khu hợp tác xã, có trại lâm nghiệp. Trại này đang ương giống bạch đàn. Nhân viên lâm nghiệp toàn là phụ nữ độc thân. Bởi những đàn ông trai tráng đã “hiến mình cho Đảng”, vào Nam làm “cuộc cách mạng thần kỳ” bằng xương máu. “Cách mạng” giành được toàn quyền kiểm soát Miền Nam, nhưng họ không bao giờ về nữa. Tình trạng trai thiếu gái thừa, phụ nữ phải đảm trách những việc nặng nhọc trên các công nông trường. Cán cân nam nữ chênh lệch, gây nên lắm chuyện cười ra nước mắt. Phụ nữ lâm nghiệp đã từng đệ đơn kêu gào lên chính phủ, xin cung cấp đàn ông. Mục đích để có đứa con chăm sóc cho mình lúc tuổi già bóng xế. Và đàn ông phục vụ tập thể các cô trong trường hợp này, không theo cái nghĩa người chồng ân ái với vợ, mà phải hiểu như con nọc làm bổn phận nhảy đực truyền giống cho con nái sinh đẻ.

Bao giờ cây con bạch đàn sẽ trồng xuống vùng đất khai hoang? Hiện nay, các công trình thường hay bỏ dỡ nửa chừng. Chỉ cần một ý kiến thay đổi nào đó, toàn bộ kế hoạch trồng bạch đàn sẽ hủy bỏ. Trên xứ sở này, chuyện vô lý nào mà không thể xảy ra? Nghe nói (lại nghe nói), vật liệu từ Thụy Điển đem sang nước ta để xây nhà máy giấy, bị mất quá nhiều do nạn ăn cắp. Thụy Điển đã đơn phương hủy bỏ hợp đồng rồi. Không có nhà máy giấy, trồng bạch đàn làm gì? Lệnh khai hoang, trở thành lệnh phá rừng vô tội vạ.

Ngày đoàn tù vượt đèo về trại cũ, nhằm ngày Chúa giáng sinh. Trời đổ mưa phùn. Mưa lất phất lai phai, trắng cả núi rừng. Lao đao trên đèo trơn dốc ngược, lại nghĩ đến cây Thập Giá trên vai Chúa. Ngài xuống đời gánh vác tội lỗi cho loài người. Chúng tôi gánh vác tội lỗi cho ai, mà cũng muôn vàn khổ nạn?!

Lâm Chương

Saturday, 29 November 2014

Triều Tiên : Mùa Đông trên xứ sở độc tài



Tình cờ tôi đọc được trên facebook một dòng status, nội dung: "Buổi chiều yên bình trên quê hương đất nước Triều Tiên". Bên dưới status là một bức ảnh những nông dân Triều Tiên đang ngồi trước một xe rơm chất cao ngất ngưởng, xe rơm được kéo bởi một con bò mộng và xa xa là những cánh đồng trơ gốc rạ, con đường đất ngoằn ngoèo, đoạn chiếc xe đi qua có một cây gì đó giống cây xoan của Việt Nam, cũng trơ xương trong nắng chiều.

Thật ra, cảm giác đập vào người xem/đọc không phải là bình yên mà là quạnh quẽ và cô tịch. Tấm ảnh chất chứa một nỗi buồn chầm chậm như thể buổi chiều và những nông dân gầy gò ngồi thu lu trên xe bò, trước một đống rơm to tướng làm liên tưởng đến những chiều quê ở Việt Nam.

Hình như trong một chính thể độc tài, độc đoán, độc trị thì đâu cũng giống như đâu, cũng cái tâm trạng nằng nặng, rỗng rang và cô tịch ở thôn quê, cuống cuồng, nhộn nhạo và trống rỗng nơi thị thành... Dường như con người đang chạy theo một thứ gì đó không có thật, chưa bao giờ hiện hữu và ngay cả sự hiện hữu của chính họ cũng chỉ mang ý nghĩa của một hữu thể cát bụi, để thấy mình cát bụi hơn bao giờ và chẳng thấy gì vui nơi trần thế xã hội chủ nghĩa với hàng ngàn khuôn sáo, hàng hàng lớp lớp bất công và phân biệt... Có lẽ là vậy. Một buổi chiều rỗng rang làm nhớ đến những nông dân miền Trung hay Tây Nam Bộ hay Cao Nguyên Đất Đỏ hay Tây Nguyên hay Tây bắc hay một nơi hút heo gió ngàn nào đó, cảnh thật đẹp và thật buồn!

Thử xuôi về miệt Tây Nam Bộ, nơi của những cổ xe thổ mộ và xe lôi, hỏi han đôi câu về cuộc đời của những phu xe ở đây, thật là "yên bình" hết chỗ nói, có ông không có nhà, suốt đời sống lây lất rày đây mai đó với chiếc xe lôi và góc phố, mái hiên nhà người những đêm mưa, có ông suốt đời ngủ chợ, cũng có ông có được mảnh đất cắm dùi, số này chiếm số nhiều nhưng lại vợ con nheo nhóc, bệnh tật, quanh năm không đủ ăn hoặc còn trẻ thì vợ chịu không nổi cảnh nghèo, bỏ theo trai thành phố, các ông, các chàng ôm hận chịu cảnh gà trống nuôi con. Cũng do cái nghèo mà ra cả! Nếu mới nhìn vào, một buổi chiều ngồi trên bến Ninh Kiều hay ngồi ở một quán vắng nào đó trên sông Tiền, nhìn ra sông nước mênh mông, thi thoảng có tiếng lóc cóc vó ngựa thồ hay tiếng kẽo kẹt của xe lôi, nhìn vào, thật là yên bình và đẹp đến nao lòng... Nhưng bên trong thì... đẹp đến tan nát lòng!

Cũng cách nơi hiu quạnh, vắng vẻ này không xa, các quan chức, các"đại gia" đang ngồi nhâm nhi, rỉ rả rượu ngoại, mồi ngon và các cô chân dài (mà không chừng trong đám các cô có cả vợ của mấy anh xe lôi, xe thổ mộ!), rượu vào lời ra, tình cũng ra, nghe nóng rang cả bầu trời trong khi các ông chồng, những người lao động nghèo phải chịu lạnh, chịu rét căm căm để bươn bả kiếm cơm dưới mùa Đông. Đương nhiên, mỗi người mỗi việc và mỗi người mỗi số phận, mỗi đẳng cấp, không thể bắt người này phải nhịn sung sướng vì người khác đang lao động khổ nhọc. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là biến sự khổ nhọc của người khác trở thành một thứ gì đó thi vị không thể thiếu trong cuộc hưởng thụ, phè phỡn của anh trong lúc đó đồng tiền hưởng thụ của anh lại dính đầy mồ hôi và nước mắt của đồng loại nghèo khổ.

Và, ra Trung, ra Bắc, lên cao nguyên, ra tận biển đảo, nơi nào cũng thấy nhan nhản người nghèo, giữa hàng trăm ngàn mái nhà nghèo lại mọc lên vài khách sạn, nhà hàng năm sao, ba sao để phục vụ các quan, các thầy, các ngài kí giả, ngài nhà thơ trong các hội, các đoàn... Kính thưa các loại ăn chơi cao cấp nhưng khi tính tiền thì có hóa đơn đỏ, có nơi chi trả. Thử hỏi, cái nơi chi trả này là cái nơi nào nếu không phải là tiền thuế hay tiền vay ODA hoặc tiền viện trợ nhân danh cả dân tộc này để các quan cắt xén, tìm cớ để ăn nhậu? Nếu nói cái nhà nước này tài giỏi, đảng Cộng sản Việt Nam tài giỏi thì hãy thử nhân danh gần năm triệu đảng viên để vay vốn ODA, xin viện trợ nước ngoài thử có ma nào cho vay, viện trợ?!

Sở dĩ người ta cho vay, cho mượn không hoàn vốn, viện trợ là cho quốc dân Việt Nam với ngót nghét một trăm triệu người vay, và đó là cái nợ chung của một trăm triệu người này. Vay thì một trăm triệu người chịu nợ nhưng ăn thì chỉ có các đảng viên Cộng sản có chức có chức có quyền cùng với giới tư bản đỏ được vay lại khoản này, được hưởng thụ. Và bất công nối tiếp bất công, cái nghèo chồng chất cái nghèo. Không cần chi phải sang tận xứ Triều Tiên mới thấy được cái buổi chiều "yên bình nơi làng quê"  ấy đâu.

Chỉ cần ngược những con đường giữa quốc lộ 1A và đường mòn Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, sẽ tha hồ bắt gặp những buổi chiều mà ở đó, có những người già 80 tuổi khòm lưng đeo một gùi củi nặng vài chục kí đi bộ lửng thững, liêu xiêu trên đường nhựa ra chợ thị trấn để bán. Đoán rằng khoản tiền một gùi củi chừng 30 ký lô sẽ bán được không tới 30 ngàn đồng nhưng nếu không có 30 ngàn đồng đó, có thể cụ già dân tộc thiểu số kia sẽ phải chết đói. Và đương nhiên cách nơi cụ già vất vả với gùi củi không xa, vài quán thịt rừng thiết kế theo kiểu sơn cước với gái sơn cước hoang dại và cam chịu luôn nhoẻn miệng cười mỗi khi đút thịt rừng cho các quan địa phương. Âu đó cũng là một kiểu thi vị khác giữa cái nghèo đến đứt ruột của đồng loại!

Và hình như, đi đâu ở xứ sở Việt Nam này, cũng gặp những buổi chiều yên ả, tĩnh lặng đến rợn người, bởi điểm xuyết giữa những buổi chiều ấy là những mảnh đời, cảnh đời, số phận mà chỉ cần nhìn thoáng qua cũng đã bắt gặp cảm giác hiu quạnh, cô tịch, hoang vu... Bởi, ở xứ độc tài, ở cái xứ mà quyền lực và sự giàu có tập trung trong một nhóm người nắm quyền lãnh đạo và sự nghèo khổ, nợ nần thì chia đều trên từng người dân, thì sá gì một buổi chiều mà có đến cả vạn buổi chiều quạnh quẽ, cô tịch, hiu hắt... Người ta vẫn hay thi vị nó bằng hai chữ "bình yên"!
 
 2014 - VietTuSaiGon
--------------
 Triều Tiên hành quyết 80 người vì xem phim Hàn Quốc
(Petrotimes) - Từ đầu tháng 11/2013 đến nay, Triều Tiên đã hành quyết công khai khoảng 80 người vì đã xem nhiều chương trình truyền hình Hàn Quốc, một hành vi bị nghiêm cấm tại Triều Tiên.
Nữ ca sĩ Hyon Song-wol, bạn gái cũ của ông Kim Jong-un cùng hơn 10 diễn viên nổi tiếng khác của Triều Tiên đã bị xử bắn vào ngày 20/8 vì tội sản xuất phim khiêu dâm
Báo Hàn Quốc Jungang Ilbo ngày hôm qua dẫn nguồn tin riêng cho biết, tại bảy thành phố ở Triều Tiên kể từ đầu tháng 11 đến nay đã hành quyết tổng cộng 80 người.
Về cơ bản án tử hình thực hiện với những tội nhân đã xem các chương trình truyền hình, phim nhiều tập Hàn Quốc qua các băng DVD hay USB được lén lút mang vào Triều Tiên và có hành vi vô đạo đức, trong đó có phát tán hình ảnh khiêu dâm và đánh bạc.
Daily-NK, một trang web tin tức do những người Triều Tiên tị nạn điều hành và có một mạng lưới trên khắp nước nói rằng không nghe thông tin này. Một trang web khác cũng của người Triều Tiên tị nạn là North Korea Intellectual Solidarity thì nhấn mạnh, nhiều cơ sở của họ cách đây mấy tháng đã báo cho biết về dự định một đợt tử hình công khai rộng rãi. Một người có trách nhiệm của tổ chức này nói: “Bình Nhưỡng có vẻ lo ngại khả năng thay đổi trong suy nghĩ của người dân và đây là hành động răn đe”.
Theo Jungang Ilbo, các vụ hành quyết diễn ra vào ngày 3/11/2013. Tại mỗi thành phố đã xử bắn công khai khoảng 10 người. Một trong những vụ hành quyết thực hiện trên sân vận động, nơi tập hợp khoảng 10.000 người xem, kể cả trẻ em.
Nguồn tin của báo khẳng định rằng chính quyền Triều Tiên đã buộc người dân địa phương phải đến chứng kiến vụ xử bắn.
Ở thủ đô Bình Nhưỡng của Triều Tiên không thực hiện các cuộc hành hình, Jungang Ilbo cho biết. Theo báo này, những cuộc hành quyết hàng loạt trong tháng 11/2013 là lớn nhất kể từ khi ông Kim Jong-un lên nắm quyền ở CHDCND Triều Tiên.
Hồi tháng 8/2013, tờ Asahi Shimbun của Hàn Quốc cho biết, người yêu cũ của nhà lãnh đạo Kim Jong Un, nữ ca sĩ Hyon Song Wol, văn công của đoàn Unhasu Orchestra, đã bị xử bắn cùng với một số nữ diễn viên của đoàn vì tội quay video sex.
Nh.Thạch (AFP)

Bài Xem Nhiều