We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 16 January 2014

Tin Vui Mừng Hục: Google Earth đã thể hiện Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam?

Thế giới Google (Google Earth) đã CHƯA CÓ công nhận Hoàng Sa của Việt Nam!

(thằng nào dám tẩy chử  cho VN  vào đây..? ngộ tả lị= tau qáh mi xịt máu mũi)
Lị đả hiến cho Ngộ gần 40 năm rồi Lị quên sao? cái lúc mà Lị khóc lóc cần viện trợ để cướp chính phủ VNCH đó........!!!!
__._,_.__

---

Tuyên cáo của chính phủ VNCH liên quan tới Hoàng Sa (1974)

 Ngày 19/1/1974 trong trận hải chiến không cân sức diễn ra giữa hải quân Trung Quốc với hải quân Việt Nam cộng hòa đang canh giữ quần đảo Hoàng Sa, 58 người lính Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống nhưng không giữ được biên cương của Tổ Quốc.
Bắc Việt khi đó đã giữ im lặng cả lời nói lẫn hành động để người “anh em” phương Bắc chiếm giùm Hoàng Sa. Sự im lặng đó còn kéo dài nhiều thập niên sau cho tới khi có loạt bài của Bùi Thanh đăng trên báo Tuổi Trẻ (năm 2007) dư luận trong nước mới biết tới trận chiến oanh liệt và những hy sinh của phía Việt Nam Cộng Hòa trong việc bảo vệ lãnh thổ của ông cha.
Sắp tới ngày 19/1, chúng tôi sẽ giới thiệu một số tư liệu, bài viết liên quan tới Hoàng Sa để rộng đường dư luận và như một nén nhang thắp cho những người đã ngã xuống vì đất nước.
————————————-

TUYÊN CÁO CỦA BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA TRUNG CỘNG TRONG KHU VỰC ĐẢO HOÀNG SA
(Ngày 19.1.1974)

Nguyên văn:
Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng – Sa và Trường-Sa của Việt Nam Cộng-Hòa, Trung cộng đã đưa Hải-quân tới khu vực Hoàng- Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam -Tuyền, Quang -Hòa và Duy -Mộng.
Lực lượng Hải -quân Trung -Cộng gồm 11 chiến đỉnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả một tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.
Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân Việt-Nam Cộng-Hòa trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.
Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung-Cộng, kể từ 18.1.1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đỉnh Việt-Nam.
Sáng ngày nay, 19.1.1974 hồi 10h20, một hộ-tống hạm Trung-Cộng thuộc loại Kronstadt đã khai hỏa bắn vào khu vực hạm “Trần Khánh Dư” mang số HQ-04 của Việt-Nam Cộng-Hòa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt-Nam đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh hiện còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.
Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ Việt-Nam Cộng-Hòa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.
Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng-Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền an ninh của Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và ổn cố của Đông Nam Á và toàn thế giới.
Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công. Việt Nam Cộng Hòa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo củaTrung Cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.
Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.
Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay, Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.
(Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao, Sài Gòn, Số 015/BNG/ TTBC/ TT)
TUYÊN CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN
VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nguyên văn:
Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.
Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng:
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy.
Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ ấy của Việt Nam Cộng Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình.
Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi tình trạng căng thẳng có thể do đó mà có.
Trong dịp này, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những hải đảonằm ở ngoài khơi bờ biển Trung Phần và bờ biển Nam Phần Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa căn cứ trên những dữ kiện địa lý, lịch sử, pháp lý và thực tại không chối cãi được.
Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.
Trung thành với chánh sách hòa bình cố hữu của mình, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không vì thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những phần đất này.
Làm tại Saigon, ngày 14 tháng 2 năm 1974.
.
Nguồn: Tập san Sử Địa, tập 29.
(Bản này BBT lấy từ Blog Nguyễn Xuân Diện)

---

Thông Cáo Báo Chí
Một Lễ Tưởng Niệm 40 Năm Ngày Hoàng Sa sẽ được Hội Hải Quân & Hàng Hải Việt Nam Cộng Hòa Miền Đông Hoa Kỳ tổ chức vào lúc 11 giờ sáng đến 2 giờ trưa ngày thứ Bảy 18 tháng 1 năm 2014 tại The Jewish Community Center (JCC) of Northern Virginia, 8900 Little River  Turnpike, Fairfax, VA 22031.
Gương chiến đấu anh dũng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã chứng tỏ sự bất khuất của một dân tộc với một chính quyền dân chủ cương quyết bảo vệ non sông bờ cõi bằng mọi giá trong bất cứ tình huống nào.
Nhà Việt Nam, Câu Lạc Bộ Văn Học & Nghệ Thuật (VLAC), Việt Toon cùng Tuổi Trẻ Việt Nam Hải Ngoại sẽ long trong vinh danh gương anh dũng nói trên sau đó trong một chương trình tưởng niệm vào lúc 2 giờ 30 trưa cùng ngày thứ Bảy 18 tháng 1 năm 2014 tại NOVA Annandale Campus, 8333 Little River Turnpike, Annandale, VA 22003.
Trong niềm vui xuân, người dân Việt không quên mối đe dọa từ Phương Bắc cho quê hương, không tin vào một chính thể ác với Dân, hèn với Giặc hiện nay trong nước, hai sinh hoạt nói trên sẽ tạo cho mỗi người chúng ta ở hải ngoại một niềm kiêu hãnh về quyết tâm bảo vệ đất nước của thành phần có trách nhiệm với Tổ Quốc thời Việt Nam Cộng Hòa.
Một bản Declaration bằng Anh ngữ với nội dung tố cáo sự xâm lấn bằng vũ lực của Trung Cộng đe doạ an ninh trật tự và hoà bình trong vùng biển Đông đã được các Cộng Đồng, các Đoàn Thể, các Đảng Phái Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại đồng ký tên phổ biến.
Tuyên Cáo bằng Việt ngữ sẽ được phổ biến tiếp theo trong nay mai và sự đồng ký tên của mọi Đoàn Thể, Tổ Chức Người Việt Quốc Gia rất cần thiết và đang được đón chờ.

TIẾNG CHIM HÓT SAU NHÀ



TIẾNG CHIM HÓT SAU NHÀ
 
Tác giả sinh năm 1955; Cư trú: Louisiana; Nghề nghiệp: State Auditor. Phạm Gia Nam đã góp một số bài viết về nước Mỹ với nội dung ghi lại nhiều kinh nghiệm hội nhập và đời sống tị nạn tại Hoa Kỳ. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
 
Tiếng chim có tác dụng làm phân tâm và làm dịu nỗi lo lắng,, sợ hãi của bệnh nhân cũng như giúp bệnh nhân hồi phục sức khỏe nhanh- Mới hơn năm giờ sáng, ông Phúc đã lục đục thức dậy. Năm nay, ông đã ngót ngét hơn sáu mươi rồi, ngủ thì nhiều nhưng không được lâu, chỉ là những giấc ngắn. Nằm hoài trên giường càng thêm nhức mỏi, ê ẩm cả xương cốt - Nên ông thường hay dậy sớm, mở cửa chạy ra sân sau nhà làm vài động tác thể dục, có khi hưng phấn ông còn đi luôn một bài Thái Cực Quyền cho máu huyết lưu thông, kéo dài tuổi thọ. Nhưng, bỗng dưng... hôm nay, đang tập giữa chừng ông bỗng thở dài, xuội lơ, không còn hứng thú tập tành gì nữa. Ông ngửa mặt nhìn bầu trời còn mờ mờ tối, miệng lẩm bẩm một mình:
- Nước Mỹ thiên đàng hạ giới gì!!!... chán thấy mẹ, sống mà như tù quản chế, giam lỏng thế này... thì sống làm gì"""
Bà Phúc thấy ông Phúc thức giấc, cũng lật đật dậy theo. Bổn phận một người vợ hiền Việt Nam, "Nội Tướng" của ông Phúc gần bốn mươi năm qua, nhắc nhở bà phải mau mau làm đồ ăn sáng cho chồng. Dù rằng, đã lâu rồi ông Phúc không còn đi làm nữa... thì cũng vẫn vậy, phải có ngay... không nên chậm trễ.
Bà Phúc đã kịp thời dọn ra một đĩa trứng chiên ốp-la và một ly cà phê phin sữa nóng hổi cho ông tạm dùng bữa sáng. Phần bà, vốn tính tiết kiệm cố hữu, đem hết chỗ cơm nguội và đồ ăn dư của ngày hôm qua, trộn chung lại với nhau. Bà cho dầu vào chảo, đập dập mấy tép tỏi, cắt vụn mấy cọng hành xanh, nhanh tay bỏ hết vào chảo chung với phần cơm nguội hôm qua. Bà đảo đều tay, xịt thêm nước mắm cho vừa ăn - Mùi thơm rộ lên khắp bếp, hoà hợp với mùi trứng chiên trước đó lan toả khắp căn nhà to rộng vốn luôn được đóng kín mít, bởi những cánh cửa ra vào làm bằng gỗ đỏ chắc chắn, những cửa sổ bằng kính, rộng dài chạy dọc hai bên hông nhà, được che phủ bởi những tấm rèm, và màn cửa bằng nhung, màu vàng kem sang trọng. Mặc dầu, Thảo con dâu bà đã nhỏ nhẹ căn dặn, bà vẫn cố tình quên... bật cái quạt hút ngay trên nóc bếp - cho mùi vị nấu nướng có thể thoát ra ngoài trên nóc nhà chút nào - vì cái quạt này nó chạy ồn lắm, làm bà muốn nhức cả đầu. Hơn nữa, theo quan niệm của bà: Bếp núc ở nhà có mùi vị mắm muối thì có sao đâu" Vì đó là nhà bếp mà!!! Chiên xong chảo cơm, bà bới ra cho bà một chén, rồi khẽ khàng bưng ra bàn ngồi ăn chung với ông Phúc.
Đến sáu giờ sáng, đã có tiếng nói chuyện rì rầm trong phòng ngủ lớn của vợ chồng Hiếu-Thảo. Tiếp theo đó là tiếng huỳnh huỵch như vật lộn, cùng với tiếng thở phì phò hổn hển. Bà Phúc đặt chén cơm xuống bàn, ngước lên, nhìn ông Phúc dò hỏi:
- Mới sáng bảnh mắt ra, tụi nó đã làm gì thế hả ông"
Ông Phúc hớp một ngụm cà phê, chép miệng, rồi mới lắc đầu, nhăn mặt, lườm bà một cái đến rách cả mắt:
- Tụi nó mới dậy, đang tập thể dục trong phòng, có cái gì đâu mà bà nhìn tui dữ vậy!
Bà Phúc không bằng lòng như vậy đâu. Từ ngày bà ở nhà này, bà không nói gì nhiều, nhưng tai bà thường nghe ngóng, mắt bà luôn quan sát, để ý, xem xét từng chi tiết, ý tứ, lời ăn tiếng nói từng người, đừng tưởng bà không biết gì mà có khi lầm đó.
- Sao ngày hôm qua, hôm kia không tập"
- Chắc là tụi nó chỉ tập ngày đi làm, còn mấy ngày cuối tuần được ngủ trễ nên không tập. Mà sao bà hay hỏi lẩn thẩn, vớ vẩn quá đi.
Hơn nửa tiếng sau, Thảo đã quần áo chỉnh tề. Nàng mở cửa phòng Tommy, lớn tiếng thúc dục chú bé mau mau thức dậy, đánh răng, rửa mặt, rồi mặc quần áo đi học. Khi vợ chồng Hiếu - Thảo và con, Tommy đã hiện diện đầy đủ ở nhà bếp. Bà Phúc bỏ ăn, lăng xăng chạy lại cái chảo chiên cơm sốt sắng:
- Tụi bây và thằng Tôm mỗi đứa một chén cơm trước khi đi làm đi học nha, má đã chiên sẵn hết rồi, ngồi vô đi.
Hiếu trịnh trọng trong bộ đồ được dry-clean ủi hồ thẳng nếp, chiếc cà vạt bằng lụa vẫn còn thắt hờ trên cổ áo, vừa mở tủ lạnh, rót đầy cho mình một ly sữa tươi, uống liền một ngụm lớn, rồi nói với mẹ:
- Thôi má ơi, tới giờ con phải đi làm rồi, con ăn không kịp đâu.
Thảo vừa bước ra, cầm lấy ly sữa uống dở của Hiếu vừa trao. Nàng phân vân một chút rồi ngửa cổ uống cạn, cô đi đến cái sink mở nước tráng sơ ly sữa trước khi úp vào cái máy rửa chén ở ngay bên cạnh. Sau đó cô mới quay lại nói với ông bà Phúc:
- Thôi ba má dùng đi, tụi con ăn không kịp đâu. Con phải chở Tommy đến Day Care, nó sẽ ăn sáng ở đó, đến giờ đi học người ta sẽ đưa nó đi luôn. Phần con, ở sở đã có sẵn cà phê và donut, nếu không con sẽ xuống Cafeteria mua cái gì đó mà ăn cũng được.
Nói xong Thảo chạy vội lại bên Tommy, giựt cái remote control trong tay con, tắt TV, nắm tay con cùng Hiếu chào ông bà Phúc để đi làm, đi học. Hiếu còn bịn rịn nói vớt theo một câu lãng nhách: "Ba má ở nhà vui vẻ, lát chiều tụi con sẽ về."
Bà Phúc còn cố chạy ra nhà xe đứng nhìn theo, xe Hiếu trước, xe Thảo và Tommy sau, tuần tự lùi xe ra khỏi garage, cánh cửa sắt tự động từ từ đóng lại, bà mới thở dài trở lại bàn ăn.
Các con cháu đã đi làm đi học hết rồi, bỏ lại hai ông bà già trong căn nhà to lớn, đầy đủ tiện nghi - Tiếng máy lạnh chạy rì rì nho nhỏ, càng làm cho căn nhà trở nên trống vắng, thênh thang, lạnh lẽo hơn lên. Bà Phúc sau khi dọn dẹp sạch sẽ bữa ăn sáng, đã lẳng lặng vào phòng lôi các sách báo, tài liệu ở chùa ra nghiền ngẫm, hay lại mở băng casette nghe đi nghe lại các bài giảng về giáo lý nhà Phật của các bậc Cao Tăng mà tu tập, làm lành tránh dữ để Đức cho con cháu sau này. 
Ông Phúc ở ngoài bắt đầu "duyệt binh". Ông đi ra đi vô, đi tới đi lui, đi loanh quanh trong nhà, đồ đạc máy móc để đâu, ra sao, ông đã bắt đầu quen thuộc, nhưng sao tất cả im lìm, vô cảm thế này! Ông ra phòng khách, từ từ ngồi xuống bộ sofa vĩ đại bằng da màu đen êm ái, người ông như lọt thỏm vào chiếc ghế bành. Ông với tay lấy cái remote control bật TV xem cho đỡ buồn - ông đổi đài liên tục, TV nó nói... ông không hiểu nên chỉ xem hình, cuối cùng ông cũng đành thua vì không đài nào làm ông ưng ý. Vậy mà, ông vẫn không tắt đi, cứ để TV nói léo nhéo như vậy, trong nhà có tiếng động, dù sao cũng đỡ hơn.
Ông ra đứng bên cửa sổ, kéo màn nhìn ra ngoài. Trước nhà một sân cỏ vuông vắn, rông rãi được Hiếu hàng tuần cắt xén kỹ càng, đẹp mắt. Xa xa vượt qua một con đường nhỏ là nhà hàng xóm đối diện, kiểu nhà cũng gần giống như nhà Hiếu, sân cỏ trước nhà xanh rì như một tấm thảm nhung, bên trái là nhà để xe với drive way rộng rãi. Ông đảo mắt một vòng khu sub-divivison của nhà Hiếu đang phơi mình dưới ánh nắng rực rỡ ban mai. Nhà cửa hàng xóm cái nào cũng vậy, to lớn, bề thế, nhưng đóng cửa im lìm, không thấy một bóng người, chó mèo chạy rông cũng không, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe chạy qua.
Ông bà Phúc vừa được con trai là Hiếu bảo lãnh qua Mỹ chừng hơn một tháng nay. Bao nhiêu mong đợi cuối cùng ngày vui đoàn tụ đó cũng tới. Hiếu - Thảo xin phép sở làm, bỏ hẳn hai tuần nghỉ phép hàng năm để đưa cha mẹ đi chơi đây đó, tham quan, thăm thú danh lam thắng cảnh, nhà hàng, shopping, người quen, bạn bè ở thành phố cũng như tiểu bang mà vợ chồng đang ở. Ngày nào ngày nấy vui như Tết, hội họp đình đám, ăn uống, mua sắm và vui chơi.
Tội nghiệp cho đứa con trai yêu quý của bà: Tướng tá thì to con, cao lớn, đẹp trai, vậy mà mỗi khi đứng cạnh vợ, hay đi chơi với vợ cứ như con chó Phóc - cum cúp, cum cúp chạy theo - làm bà thấy vậy vừa buồn vừa thương muốn đứt cả ruột. Thương con mà nghĩ "bậy" như vậy thôi, thật sự thì Hiếu-Thảo làm sao cũng được, miễn là tụi nó hạnh phúc với nhau là bà vui rồi.
Nhìn những đĩa tiết canh tự tay ông làm lấy, màu đỏ tươi đặc sánh, trên mặt điểm thêm những miếng thịt vịt nạc xé nhỏ trắng phau, màu vàng thơm phức của đậu phọng rang vừa chín tới, thêm những lá rau thơm xắt nhỏ màu xanh - Tất cả hài hoà gợi cảm làm ông vừa nhìn vừa nuốt nước miếng. Ông quyết chí phen này phải cho bạn bè Hiếu-Thảo nhất là những người Mỹ biết và thưởng thức một nét đặc thù, đậm đà bản sắc của nền văn hoá ẩm thực VN. Vậy mà, khi bạn bè, khách khứa bắt đầu kéo đến - quay đi quay lại, bỗng dưng mấy đĩa tiết canh vịt của ông mất tiêu, biệt tăm biệt tích. Ông gặng hỏi mãi Hiếu-Thảo chỉ chối quanh, đến khi ông làm mặt giận thì Hiếu mới gãi đầu gãi tai, kéo ông ra chỗ vắng ngập ngừng nói nhỏ:
Rồi cứ thế sóng gió ngầm, chiến tranh lạnh bắt đầu.
Có lần đi chợ VN, thấy người ta đi tàu đánh cá về đem tôm đến bán. Tôm vừa tươi, to mà giá lại rất rẻ, bà Phúc cứ đòi Hiếu-Thảo mua cho bà thật nhiều để bà về nhà làm, rồi đợi trưa nắng đem lên nóc Patio phơi làm mắm ăn cho đỡ nhớ VN. Nhưng cách tốt nhất vẫn là Hiếu-Thảo nên tìm việc làm khác rồi dọn quách về Nam Cali, mua nhà ở gần khu Phước Lộc Thọ để ông bà có dịp gần gũi người VN đồng hương. Việc này ông bà đã tính kỹ, tiền ông bà đã chuyển từ VN qua, đủ sức cho ông bà chia đôi với Hiếu mà trả đứt tiền mua nhà.Vậy mà, tất cả các đề nghị xây dựng, hợp tác sống chung hoà bình với nhau đều bị Thảo thông qua Hiếu bác bỏ, bàn ra. Thằng con trai yêu quí chỉ còn biết nhăn mặt, gãi đầu gãi tai, chắp tay lạy hai đấng sinh thành dưỡng dục:
- Thôi con xin ba, con xin má. Ba má già rồi cứ ở đây ăn ngủ dưỡng già: Làm vườn làm chi cho mệt, rau trái ở đây ngoài chợ bán rẻ rề, tiền công, tiền nước, phân bón, thuốc xịt sâu tính ra là lỗ. Còn bàn thờ Tổ thì chắc phải làm, nhưng để con nghĩ đã, vì đốt hương nhiều con sợ fire-alarm system nó kêu thì phiền phức lắm. Còn tôm con không dám mua, vì sợ má đem phơi ở patio nó bay mùi qua nhà hàng xóm, có khi tụi nó dám kêu cảnh sát lắm. Việc dọn nhà qua Cali thì tụi con chưa nghĩ tới, vì con và Thảo đang có việc làm tốt ở đây.
Bà Phúc nghe vậy chỉ còn biết ngồi im, còn ông Phúc cũng chỉ biết lắc đầu cười nhạt. Ông không ngờ Hiếu con ông đã thuộc loại những thằng chồng - "đồ bỏ đi rồi", cứ nghe cái miệng nó: "Thảo nói như thế này, Thảo nói như thế kia" thì căn bịnh “thờ bà” của nó đã thuộc loại thầy chạy, mãn tính mất rồi, nó có còn quyền hành gì nữa đâu mà bàn với bạc. Hiếu là con ông mà không nối đươc chí khí hiên ngang "Phu xướng phụ tuỳ" của ông. Nó đang sống ở Mỹ mà không đáng sách... cặp cho vị cựu Tổng Thống Mỹ mới đây - Dạy vợ hay đến nỗi chính mình bồ bịch lia chia cả nước biết, bị đàn hạc sém chút nữa là mất job. Vậy mà vợ vẫn leo lẻo bào chữa: “Không đươc đụng đến Tổng Thống của em, ai cũng có thể lầm lỗi, nhưng Tổng Thống đang làm việc tốt, hãy để cho người tiếp tục phục vụ nước Mỹ.”.
Bây giờ mới ở Mỹ hơn một tháng thôi, mà ông Phúc tưởng như đã lâu lắm rồi. Từ một người lanh lợi, mồm miệng đỡ tay chân, đi đây đi đó vui chơi, ở lâu một chỗ là chịu không có nổi. Bỗng dưng, ông trở thành một người có tai như điếc, có mồm như câm, có chân như què. Ngày ngày thui thủi ở nhà con trai mình như một người vô dụng. Ông chán lắm rồi, ở không hoài khổ lắm, cứ đi ra đi vô như một thằng khùng, hết đứng lại ngồi: TV, sách báo tiếng Mỹ thì không đọc được, mấy băng nhạc DVD thì coi hoài cũng chán.
Hiếu-Thảo cũng có tìm chỗ hoc Anh Văn ở nhà thờ cho ông bà học đỡ buồn, cũng như có dịp ra ngoài tiếp xúc với mọi người. Bà Phúc thì nhất định không đi. Riêng ông Phúc thì đi vì lúc còn ở VN đã từng ghi danh học Anh Ngữ tại một trung tâm ngoại ngữ thuộc loại “xịn” ở Thị Xã. Trung tâm này học phí cả triệu đồng một tháng, giáo viên giảng dạy đa số là người ngoại quốc, họ không những chỉ dạy ngoại ngữ mà còn dạy về cả phong cách, và văn hoá bản ngữ. Ông đã từng đóng tiền thêm để được thực tập: Từ cách giao tiếp trong các buổi lễ tiếp tân thân mật như mừng Sinh Nhật, đến những buổi lễ quan trọng hơn trong các nhà hàng sang trọng. Học cách order thức ăn, cách cầm ly rượu, tách cà phê, cách sử dụng muỗng nĩa v.v... sao cho có vẻ sang trọng, quí phái; rồi đến cách sắp xếp muỗng nĩa, khăn ăn, lau miệng để bồi bàn biết mình đã ăn xong mà đem dọn. Trong các giờ thực tập này, thường có rất nhiều Tây-Balô tham dự như một buổi lễ thật sự. Họ rất thân thiện, nói chuyện tiếng Anh với ông rất chậm, rất dễ nghe - Phần ông bập bẹ nói lại làm sao họ cũng hiểu, khen ông rối rít, làm ông tự tin rằng: Khi qua đến Mỹ có môi trường thực tập tốt hơn, chỉ cần sáu tháng đến một năm là ông có thể nói tiếng Anh trôi chảy. Ngày qua Mỹ ông có đem theo một số bằng khen của Trung Tâm này khoe với Hiếu Thảo. Sau này, có lẽ ông đã nhận ra khả năng thực sự của mình, nên không còn thấy ông khoe mấy cái bằng khen này với ai nữa.
Ngày đầu tiên đi học tiếng Anh ở nhà thờ, cả lớp có khoảng hơn hai chục người mà toàn là Mễ, hay Nam Mỹ nói tiếng Spanish, chỉ có ông là VN, với một bà khác là Trung Đông mặc áo trùm đầu dài tới chân. Cô giáo người Mễ yêu cầu ông tự giới thiệu vài lời làm quen với cả lớp. Chuyện này tương đối dễ, vì ông đã từng thực tập ở VN. Ông trịnh trọng, sửa lại điệu bộ, hắng giọng, đứng lên tự giới thiệu: " Dear my teacher. Hi, all my classmates, I'm Phúc..." Ông cố tình uốn lưỡi cho có âm gió ở vần cuối mỗi chữ như đã được học ở VN. Ông chưa nói hết, mấy đứa trong lớp đã lấm lét nhìn nhau cười, lúc đầu còn nhỏ sau to dần. Có đứa thật sự cũng chẳng hiểu ông nói gì, nhưng sợ các bạn chê mình không hiểu nên cũng cười theo, mà những đứa này lại cười to nhất. Cô giáo Mễ phải cố gắng lắm mới không cười và ổn định lại lớp học. Vì ông phát âm Phúc mà nghe như Phấc. Ông vừa giận vừa quê, nên từ hôm đó đến nay vẫn chưa đi học lại.
Ông Phúc thẫn thờ bước vào phòng mình, bà Phúc đang ngồi trên giường tay lật quyển Album có hình gia đình con cháu ở VN ra ngắm nghía. Cái cassette nhỏ trên bàn ngủ đang phát ra lời giảng về Phật Pháp của một vị Cao Tăng:
- Trong Kinh Pháp Hoa, Bồ-Tát Thường Bất Kinh giáo hoá chúng sanh chỉ bằng một bài kinh giản dị. Mỗi khi ra đường ở bất cứ nơi nào, gặp bất cứ ai, Ngài cũng đều bái nói: " Tôi không dám khinh các vị, vì các vị là Phật sẽ thành.".
Nghe như vậy ông Phúc liền thắc mắc, nên quay qua hỏi bà Phúc:
- Nói như vậy có nghĩa làm sao hả bà" Sao ai cũng có thể trở thành Phật được"""
Bà Phúc không ngờ hôm nay ông Phúc lại dở chứng hỏi bà về Phật Pháp, nhưng bà cũng mau mắn trả lời:
- À, thì Phật có dạy rằng: "Ta là Phật đã thành, còn chúng sinh là Phật sẽ thành". Có nghĩa là bất cứ ai giàu nghèo, sang hèn gì cũng có thể thành Phật được, nếu chịu khó tu tâm dưỡng tánh, ăn hiền ở lành. Phật không là Thần Thánh gì hết, Ngài chỉ là một người đã tự toàn thiện được mình, và dạy rằng nếu chúng ta noi theo gương Ngài, chúng ta cũng có thể tự hoàn thiện được như Ngài. Cuộc đời này quá nhiều đảo điên, phiền não - vì con người chỉ nghĩ đến cái tôi không thật của mình, lai quá tham lam không biết sao cho đủ: Tham danh-lợi, tham quyền-chức,tham tài-sắc, rồi từ đó sinh ra sân hận, si mê so sánh, ganh tị, oán hờn, khinh ghét, chém giết làm khổ lẫn nhau.....
Bà còn định nói nhiều nữa vì đây là "đài tủ” của bà, nhưng ông Phúc cảm thấy hơi nhột, như bà đang ám chỉ ông, nên ông lặng lẽ bỏ ra ngoài.
Trước đây, ông vẫn coi thường bà Phúc, cho bà thuộc loại không biết gì. Không ngờ hôm nay lại bị bà giảng "moral" cho một bài thấm thía. Ông tự nhận con người ông đầy rẫy tham-sân-si. Dù không có gì tài ba xuất chúng, nhưng ông luôn luôn muốn mọi người phải làm theo ý mình, nếu không thì ông hờn, ông giận. Thấy ai hơn mình là ông ghen tức thường khích bác, dèm pha; thấy ai thua mình thì ông khi dễ, coi thường. Vì vậy dù đời sống vật chất ông luôn luôn dư thừa, nhưng tâm của ông luôn bị giằng co, cấu xé không bao giờ cảm thấy hài lòng. Có lẽ một ngày nào đó, ông phải nhờ đến ánh sáng của Phật Pháp mà chuyển hoá cái tâm của mình.
Ông Phúc dừng lại nơi Sun-Room. Ông nhấn nút tự động kéo màn cửa để nhìn ra khu vườn sau nhà. Hiếu-Thảo đã bỏ bao công sức để biến nơi đây thành một vườn hoa đẹp mắt, nước non sơn cảnh hữu tình, hài hoà nét đẹp Á Đông lẫn Tây phương. Ông ngả người thoải mái ngồi xuống chiếc ghế bành bằng mây cạnh đó, nhìn bầy chim sẻ con nào con nấy mập ú, cùng với vài con chim Hummingbird xanh, đỏ thảnh thơi bay nhẩy bên nhau quanh hồ cá, bên hòn giả sơn có tiếng suối róc rách chảy không ngừng. Có con nghịch ngợm nhảy xuống hồ cá tắm, quậy phá bắn nước tung toé rồi lại nhẩy lên, mặt mũi hớn hở không có chút lo âu, sầu hận.
Tai ông chợt lắng nghe tiếng chim hót đâu đây trên cành cây Oak bên ngoài, ông vui miệng huýt sáo đáp lại - Tiếng chim hót lại tiếp tục vang lên như trả lời ông - Ông lại huýt sáo đáp lại - Chim lại hót lại với ông. Ô kìa!!! Đời bỗng dưng vui. Trong thoáng chốc ông bỗng "ngộ" ra: Cuộc đời này rất cần có sự chia sẻ và cảm thông - Hạnh Phúc giản dị chỉ là bằng lòng với những gì mình hiện có. Ông còn có bà Phúc, ông còn sức khoẻ, ông có Hiếu-Thảo và Tommy. Con trai ông, Hiếu với đôi mắt sáng, thông minh, nét mặt đàn ông đầy cương nghị - Một thằng bé 15 tuổi qua Mỹ bơ vơ, không cha mẹ dẫn dắt, nó phải biết phấn đấu bản thân thế nào để học hành và vượt qua những cạm bẫy của tuổi trẻ để có được một sự nghiệp như ngày hôm nay - Như vậy, chắc chắn Hiếu không phải là một người nhu nhược, chỉ biết cúi đầu tuân phục như ông đã từng nghĩ. Con dâu ông, Thảo lúc nào cũng nhỏ nhẹ, dịu dàng với bố mẹ chồng, một người phúc hậu, đoan chính như vậy hoàn toàn khác hẳn với những cô gái đanh đá, hà hiếp chồng con như ông đã từng thấy ở VN. 
Ông hiểu rằng tất cả đã thay đổi, Ngày Hiếu vượt biên đến Mỹ nó mới chỉ mười lăm. Thảo theo gia dình qua Mỹ năm 1975 lúc hãy còn bé xíu. Vì sống còn, và mưu cầu một cuộc sống tốt hơn - Hiếu-Thảo bắt buộc phải thích nghi, để hội nhập vào cuộc sống mới. Ông không thể mong Hiếu phải làm những gì như ông đã từng làm với cha ông, cũng như không thể bắt Hiếu hãy làm những gì với Thảo, như ông đã từng làm với bà Phúc.
Ngày xưa, ông bà đã từng hy sinh một phần rất lớn tài sản của mình cho Hiếu vượt biên, để mua lấy tương lai cho Hiếu. Ngày hôm nay, lẽ nào ông lại bắt ne bắt nét con mình phải theo ý mình để con lâm vào tình trạng khó xử. Nước mắt bao giờ cũng chảy xuống. Tấm lòng của cha mẹ đối với con cái bao giờ cũng là sự hy sinh, rộng lượng, khoan dung hơn là những khắt khe, áp đặt.
Hiếu- Thảo đã trưởng thành trên đất Mỹ, và đang có một cuộc sống tốt đẹp, tương lai đầy triển vọng - Chắc chắn Hiếu-Thảo còn thương yêu và biết đến công ơn cha mẹ nên mới bảo lãnh cho ông bà qua đây.
Như môt vị Quân Vương thức thời, đầy sáng suốt - Bắt đầu từ đây - Ông sẽ trao quyền "Gia Trưởng" hành xử gia đình lại cho Hiếu. Hãy để Hiếu-Thảo toàn quyền quyết định mọi việc, ông bà sẽ giúp và chỉ cố vấn khi nào Hiêu-Thảo cần đến ý kiến của ông bà mà thôi. Ông tin là Hiếu-Thảo sẽ hiểu được tấm lòng cha mẹ đối với mình, và trên đời này khi đã thương yêu, hiểu nhau, thông cảm lẫn nhau rồi thì cuộc sống sẽ đẹp biết bao... Hoà-Bình, An-Lạc chắc chắn sẽ tới.
PHẠM GIA NAM
Louisiana 2004 
(xin click vào link để nghe chim hót)

QUÂN TRƯỜNG VÀ CHIẾN TRƯỜNG



…Thế là tôi âm thầm giã từ đôi mắt lên láy “u uẩn chiều lung lạc” của cô láng giềng người em gái nhỏ lên đường vào quân ngũ…! Tôi nhập trường Võ Bị Đà Lạt vào  tháng 12 năm 1965. Tính đến nay (2014) chỉ còn một năm nữa là một phần hai của thế kỷ.  Năm mươi năm trôi qua cũng khá dài so với đời của một con người. Chặng đường “Binh Nghiệp” tuy không dài lắm đối với thiên lý tuế nguyệt và gió bụi thời gian…Nhưng với tôi thân phận phàm nhân “bị” cuốn trôi lăn ngập chìm trong biển lửa, máu, nước mắt… chiến tranh…và hoài niệm cảnh cũ, người xưa với “thương hải biến vi tang điền”…là định mệnh ư…?  Chưa phải là thiên lý du du bỉ phương…nhưng có lẽ vừa đủ để ký ức đong đầy những kỷ niệm mà nét thời gian hằng chuyển chuyện nhật tân…lại chồng chất nhật…nhật tân…tưởng chừng đôi lúc như đã lãng quên, bôi  xoá nhạt nhòa đâu đó …! Nhưng “nó” vẫn còn lãng vãng  quanh đây như… như hiện tiền chưa chịu phôi phai với nhiên khứ lai hề, thiên thu giả mộng…mà mỗi khi  nhắc đến thì dĩ vãng lại hiện ra như một đoạn phim sống thực còn lưu trử tận trong tiềm thức của chính mình. Nửa đời oan nghiệt, lẫn lộn tiếc nuối, chua xót cho thân phận của một thế hệ " Sinh Bất Phùng Thời "…! Hai năm trong Quân Trường, tám năm với Chiến Trường, ba mươi chín năm đời “tù tội” và lưu vong xứ người…cảm cảnh:

 ”Quê Hương khuất bóng hoàng hôn,
Dậy lên khói sóng cho buồn lòng ai” !

Tổ Quốc là “tổ quốc” của người, Dân Tộc là “dân tộc” của người, Tổ Tiên là “tiên tổ” cũng của người, đất đai mồ mã lạ quắt, lạ quơ...! Còn lại cho riêng trong tôi vẫn là dòng sông ký ức một thời với Quân Trường và Chiến Trường.
- Quân Trường, nơi đó tôi có “đàn anh, đàn em: Khoá 21 (K21), Khoá 22 (K22) Khoá 23 (K23) và các Sĩ Quan Cán Bộ, Sĩ Quan Tham Mưu Hành Chánh được gọi là "Đồng Môn" cùng đã đổ mồ hôi như nhau, cùng dìu dắt nhau trên ngưỡng của binh nghiệp với biết bao nhiêu ân tình nghĩa luỵ in hằn  thành kỷ niệm… có mấy ai quên…?!
- Chiến Trường, nơi đó tôi có đồng đội cùng đồng cam, cộng khổ với máu và nước mắt qua những tháng năm miệt mài khói lửa… mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi tóc, “cái” còn, “cái” mất như bọt nước chóng tan vỡ tưạ phù du…Nhưng rất thực và siêu nhiên mỗi lần vuốt mắt cho bạn bè đồng đội đã ngã xuống với vết đạn cày sâu ghim trong thân thể hãy còn chút hơi ấm và đang lạnh dần, hồn thiêng như u uất vướng víu, lẫn khuất đâu đây rờn rợn dưới làn gió âm u thổi qua và đạn pháo của quân thù đang nổ vang rền trên chiến địa ...!
  “Quân Trường Đổ Mồ Hôi - Chiến Trường Đổ Máu Xương”:
Tháng12Năm1967:

   Tốt nghiệp K22 VBQGVN, tôi trình diện Bộ Tư Lệnh LLĐB và được bổ nhiệm về TĐ81BCND cùng hai người bạn cùng khóa. Hãnh diện sung sướng biết bao khi trình diện vị Tiểu Đoàn Trưởng Lê Như Tú Thiếu Tá K11 VBĐL...rồi được giới thiệu TĐP Đại Úy Nguyễn Quang Vinh K14, Đại Úy Bình Ban Ba K17, Đại Úy Táo Ban Truyền Tin K20, Đại Úy Hưởng Ban An Ninh K19, ĐĐT ĐĐ1 Trung Úy Thăng K20, ĐĐ6 Trung Úy Tuấn K20, ĐĐ3 Trung Úy Lâu K21...cón nhiều nữa kể không hết...Tôi cảm thấy ấm lòng vì ngây thơ với ý nghĩ ngộ nghĩnh: may quá, mình may mắn về tiểu đoàn khét tiếng này vì “dân” Đà Lạt không hà, chắc mẫm thế nào cũng được bao che và nâng đỡ…!!! Nhưng tôi đã lầm to ! Dù các Niên Trưởng có "phe đảng" bao che cho mình như thế nào chăng nữa, thì có tài thánh cũng không ngăn chận được súng đạn vô tình…và cho dù Niên Trưởng có quyền thế cũng không nâng đỡ được nếu mình tỏ ra kém tài chỉ huy, hèn nhát và khiếp nhược trước quân thù, nhất là trước mặt thuộc cấp trong tình huống dầu sôi lửa bỏng…! Chỉ có một tuần lễ sau, ngay đêm giao thừa Tết Mậu Thân (1968)...Thiếu Tá Tú Tiểu Đoàn Trưởng (K11) tử trận, Đại Uý Tiểu Đoàn Phó  Vinh (K14) bị thương nặng không còn khả năng tác chiến và hai người bạn cùng khóa K22 của tôi phút chốc cũng đã bỏ bạn bè, đồng đội   …hồn bay về nơi đâu khi tiết Xuân thì hãy còn khoe sắc lụa mượt mà trên những đọt chồi non mơn mỡn và nụ mấy Mai vàng đang lung linh run nhẹ trước gió sớm đầu mùa…!...lại thêm một Đại Đội Trưởng bị tử thương và rồi lại thêm Đại Đội Trưởng nữa bị thương mất một chân…! Cũng may Đại Đội Phó ( ĐĐ3) là niên trưởng Nguyễn Đăng Lâu( K21) lên thay thế chỉ huy, điều động tác chiến…!!! Thời gian chỉ có bốn tháng kể từ ngày ra trường, tôi đã trải qua ba cuộc hành quân chớp nhoáng, cường độ khốc liệt, đẫm máu tươi trên ba vùng chiến thuật  II, I và III với những cuộc hành quân: “ Giải Tỏa Thị Xã Nha Trang, Thung Lũng Ashao, Alưới, Giải Tỏa Mặt  Trận Cây Quéo - Cây Thị,…”  thay đổi bốn vị ĐĐT đến vị ĐĐT thứ năm là niên trưởng Nguyễn Văn Lân (K17) Anh Lân (xin phép tôi gọi bằng Anh) từ trại Lực Lượng Đặc Biệt  biên phòng Pleimơreng về đây, dáng người Anh cao dong dỏng, gương mặt trẻ măng như sinh viên đại học dù nước da rám nắng, ứng xử với ngôn ngữ nhã nhặn, dịu dàng, lịch sự với cả cấp trên lẫn người dưới. Khi nhận bàn giao xong, Anh bảo tôi giới thiệu đơn vị và quân nhân các cấp cho Anh, sau đó gọi tôi vào phòng riêng căn dặn :” Út đã ở đơn vị này từ ngày ra trường cho đến bây giờ, Út giúp cho Anh trông coi đơn vị, có gì trở ngại hay cần những quyết định quan trọng báo cho Anh biết… Nếu đơn vị dưỡng quân ở hậu cứ, ngày thường Anh tà… tà rong chơi, Út cùng anh em sinh hoạt như: huấn luyện, chiến tranh chính trị, bảo trì vũ khí quân trang-quân dụng...chú trọng vấn đề lãnh đạo chỉ huy cho các cấp trưởng…vào những ngày cuối tuần, Anh cho xã trại 100%, riêng Anh thì Anh tự chính mình cấm trại 100%...Út có thể xử dụng xe Jeep của Anh cùng các Sĩ Quan, Binh Sĩ đi chơi…Nhưng nhớ giữ kỷ luật đừng đánh lộn, đánh lạo…làm mang tiếng xấu cho đơn vị…”. Nhưng rồi "tai nạn" xảy ra một vụ bắn lộn. Anh Lân nghe báo cáo, vội phóng ra đồn Quân Cảnh Nha Trang thì lại gặp Ông Đồn Trưởng là Đại Úy Trương Văn Cao (K18) thế là mọi việc  được “xử” êm xuôi  trong tình “Huynh Đệ Chi Binh”  với vài lời khiển trách nhẹ nhàng của hai Ông niên trưởng”:”… mới ra trường chưa nứt mắt mà bắt đầu làm trò khỉ rồi..."!!! Tiếp theo …Đơn vị tham dự hai cuộc hành quân xâm nhập Chiến Khu C, Chiến Khu Đ, giải tỏa núi Bà Đen, núi Heo, núi Cậu...Anh Lân đã trao trao truyền cho tôi những kinh nghiệm máu xương của chiến trường… Chính Anh là người đã khuôn đúc những viên gạch vững chắc để tôi vững bước trên con đường khói lửa chiến chinh sau này…Anh chỉ chỉ huy Đại Đội 3Biệt Cách Nhẩy Dù (ĐĐ3BCND) chưa đầy một năm thì được chỉ định giữ chức vụ Tiểu Đoàn Phó  cho Thiếu Tá Trần Phương Quế (K10). Sĩ Quan khác đổi về thay thế Anh, tôi vẫn là Đại Đội Phó ĐĐ3BCND. Ba tháng sau, Anh gọi tôi lên Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cười cười nói : “ Chuẩn bị tâm tư nhận lệnh phạt đó em” ! Thì ra Anh Lân và các niên trưởng khác đã hết lời thuyết phục TĐT bổ nhiệm tôi quyền ĐĐT/ĐĐ5/BCND  khi tôi vừa tròn 23 tuổi, một Đại Đội Trưởng “măng non” miệng còn hôi sữa, chưa có “bề dầy” chiến trường so với các Đại Đội Trưởng khác cùng đơn vị…Sau…có vài tiếng thị phi phàn nàn, dèm pha của  một vài Sĩ Quan cấp Trung Úy thâm niên hơn tôi:”phe đảng”… !  Đảng gì đây ? “Đảng Tự Thắng” để chỉ huy là châm ngôn của “Dòng Trưòng Mẹ Võ Bị Đà Lạt” ?!!!

Tháng12Năm1969: 

 
 Đơn vị của tôi được cải danh là “Đaị Đội II Trinh Sát Nhẩy Dù”, thống thuộc quản trị hành chánh của Lữ Đoàn II Nhẩy Dù. Sau hai tháng thụ huấn khóa viễn thám ở “lò Cừ” Dục Mỹ, Trung Tâm Huấn Luyện  Vạn Kiếp, một số Hạ  Sĩ Quan được gửi đi học mật mã truyền tin, tình báo… thì lại bắt đầu tham dự những cuộc hành quân cùng với các đơn vị khác… Phương thức và kỷ thuật tác chiến của hai binh chủng có nhiều khác biệt...Bên  81Biệt Cách Dù không bao giờ xử dụng pháo yểm mà hoàn toàn lệ thuộc vào không yểm… Nhẩy Dù  thì phối hợp cả  hai trong bất cứ điều kiện cần thiết của chiến truờng… Tôi bỡ ngỡ bối rối vì là một đại đội biệt lập, đơn vị trưởng phải phối hợp trực tiếp với Lữ Đoàn hoặc Sư Đoàn và lo liệu mọi bề…! May mắn thay, “lù khù có ông Cù độ mạng” Thiếu Tá Trần Đăng Khôi (K16) Trưởng Ban Ba hành quân của LĐIIND trạc trên dưới 30 tuổi, dáng người thanh nhã với ống bíp Havana trên tay, bụng hơi phệ, nếu nói khẳng khái thì mọi điều hợp hành quân đều do Anh thiết kế…tôi tham dự chiến dịch "Lùng và Diệt Địch " kế hoạch của Tướng Westmoreland và Tướng Đỗ Cao Trí…cuộc hành quân “Toàn Thắng “ vùng Tây Ninh Phước Long và Campuchia….Tôi lạng quạng, lờ quờ ngu ngơ đến nỗi  Anh Khôi phải gọi vào trình diện riêng trong hầm hành quân của Lữ Đoàn (TOC) moral với thái độ và giọng nói từ tốn, chậm rãi cố cho tôi hiểu: “…báo cáo diễn tiến hành quân, báo cáo tổn thất, báo cáo tình hình địch...Anh còn quá lượm thượm, nhất là phối hợp pháo binh Nhẩy Dù  và Trực Thăng võ trang… Anh nên nhớ rằng có rất nhiều cặp mắt đang nhìn vào anh và họ thèm rõ dãi chỗ của anh. Điều quan trọng nhất là chúng ta đang phối hợp hành quân với Sư ĐoànI Không Kỵ Hoa Kỳ...chỉ một lời báo cáo của cố vấn Mỹ bên cạnh anh, thì anh bị trả về đơn vị gốc của anh ngay...”!
Tôi yên lặng thẩn thờ ngồi nghe…! Anh lại tiếp lời:” Thôi được...tôi nói sơ sơ rồi ngày mai anh bay với tôi…”! Hành Quân Phối Hợp GAP (Ground & Air Preparation) là kỷ thuật dùng Pháo Binh và Air Strike cùng một lúc để dọn bãi đáp (LZ) hay bãi bốc (PZ), điều phối hành quân sơ xuất hay không chính xác là pháo binh bắn rớt phi cơ, hoặc phi cơ nã Rocket vào đầu quân bộ chiến thì cả đám đi chỗ khác để “ngồi chơi sơi nước” muôn đời lục quân Việt Nam…!!! Anh còn sắp xếp thời giờ tôi gặp các trưởng ban: Ban 4 Tiếp Liệu, Ban1 Quản Trị quân số, Ban 2 Tình Hình bạn-địch…để nắm vững dữ kiện trước khi lên C&C thả tóan viễn thám hay trung đội trinh sát… Như vậy trên những bước đường chập chửng của hai binh chủng BCD và ND tôi đã quá may mắn được hai “Đàn Anh” đở đầu, hướng dẫn và bao che… cho đến khi đủ lông, đủ cánh…!!!  Nói lên lời “biết ơn”" thì khách sáo quá, tôi chỉ xin hứa cái đầu “mũ nồi Võ Bị” và hai cầu vai  Greenberet và Redhat là cố gắng sống trọn tình nghĩa…Biết nói sao cho vừa…?!!!

Năm 1972 - Đường Vào Binh Lửa:
   Nhắc đến 1972 là phải nói đến “Mùa Hè Đỏ Lửa” đã có “nhà văn Quân Đội” Phan Nhật Nam (K18), Niên Trưởng Đoàn Phương Hải (K19), Niên Trưởng  Huỳnh Văn Phú (K19) viết quá nhiều rồi… lại còn thêm hằng vạn trang sách báo viết về “Chiến Trận Mùa Hè”  bằng máu, nước mắt và thân xác của đồng đội thuộc tất cả Quân Binh Chủng đã ngã xuống và biết bao nhiêu đồng bào trong chiến nạn đã may mắn sống xót, lê lết tấm thân thương tật trở về xóm làng điêu tàn tan hoang nhà cửa, ruộng vườn xơ xác … sau cuộc hành quân giải toả…nên tôi chỉ gói ghém ngắn gọn những gì  còn nhớ như một có  “Lễ” là đầu của giềng mối Nhân Luân trong đó “nói” nên lời tình tự với Võ Bị Đà Lạt và những “Chiến Binh Kiệt Xuất” đã không hổ danh Tự Thắng Để Chỉ Huy thiện xảo phát huy hết tất cả tài năng ứng chiến và quyền biến trên khắp mặt trận khốc liệt nhất  ở giai đoạn Mùa Hè 1972,tiêu biểu như chỉ một An Lộc thôi đã:
An Lộc quê hương của loài nai
Xanh xanh rừng cao su chạy dài…
Thấp thoáng trên đường quê đất đỏ
Em nhỏ tung tăng chân bước đến trường làng.
Chị duyên dáng áo vàng khoe nắng sớm
Mẹ hiền từ quẩy gánh buổi chợ đông
Năm Bẩy Hai, mùa Hạ chí trời trong
Bắc Quân đến: Công Trường Năm, Bẩy, Chín…
Điện Biên, Sao Vàng, Tank, Pháo,  Bình Long…
Hơn năm vạn quân vây kín trùng trùng…
An Lộc thoi thóp dưới mãn thiên mưa pháo !
Dân kinh hãi tìm đường lánh nạn !
Bỏ làng vượt lửa ngục trần gian !
Giặc điên cuồng nả pháo bắn tan hoang…
Thị xã thân yêu tan tác thãm sầu…!
Em nhỏ tan xác vỡ học trò đẫm máu…!
Cô giáo trẻ với tình yêu phấn, bảng…
Xác nơi nào hàng phượng trổ đầy hoa ?
Mầu của hoa hay máu thắm chan hoà ?
Đêm mưa gió nghe oan hồn  ê …a…trong lớp học !
Tiểu Đoàn Sáu Dù vỡ, vòng vây xiết chặc
Đồi Gió tan tành tràn ngập bóng Bắc Quân
Đỉnh Charlie ôm xác người Anh Hào
Nguyễn Đình Bảo hy sinh đền nợ nước !
Liên Đội Hổ Xám lao vào trận địa
Cứu dân lành trước họng súng Bắc Quân
Giặc bạo tàn bắn giết tấn công
Máu các Anh đổ đất Bình Long thêm đỏ !
Hoàng hôn xuống nắng tà vương mộ chí
Thiếu nữ u buồn nhỏ lê đề Thi
Lời Thơ lòng cảm kích chân thành
Trong chiến trận tình Quân Dân thắm thiết !
“ An Lộc địa sử ghi chiến tích,
Biệt Kích Dù vị quốc vong thân “ !
Giặc pháo hậu xung biển người lớp lớp…
Quyết tràn qua tàn sát Quân Dân Ta…
Đại Tá Vỹ bắn hạ chiến xa tại tuyến đầu
Quân phòng thủ vượt hào diệt Tank lẫm liệt… !!!
Lửa cháy rực bốn phương trời An Lộc
Bóng tử thần thấp thoáng điểm oan hồn
Nghe tiếng pháo đưa người qua cõi chết…!
Những phi tuần đánh bom thiêu đốt  xác
Hoả pháo thổi tung địa đạo chiến hào
Vòng đai phòng thủ đạn xới cày vỡ đất
Ánh sáng hoả châu soi leo lét ngoài biên
Như  nến lung ling đưa tiễn những linh hồn
Sinh đất Bắc vào Nam tìm huyệt mộ…!
An Lộc du du  Thiên bất dung quỷ dữ
Quân Dân khôi khôi chiến đấu phi thường !
Tướng Hưng điều quân tử thủ kiên cường
Địch bỏ lại chiến trường xác Tank cháy nám.
Tháng Sáu mưa đầu mùa rơi rớt
Hàng mộ hôm qua đã lợp cỏ non
Xác người nằm, hồn vẫn sắt son
Giữ vững An Lộc địa danh vào Lịch Sử.
Đỉnh, Tiểu Đoàn Sáu Dù lướt qua An Lộc
Biệt Kích Dù chiếm lại Đồng Long
Tiều Đoàn Tám Dù, Biệt Động Quân phản công
Chiến Đoàn càn quét giải vây An Lộc
Tháng Tám rừng cao su sang Thu thay lá
Đất đỏ, mưa phùn thị xã vẫn còn đây
Lời thơ ngây em bé nói :” Mai nầy…
Khôn lớn con sẽ oai hùng như An Lộc …”.
 Hoàng Minh Uyên
Sau chiến thắng có những vinh quang cho những Huynh- Đệ được tưởng thưởng vinh thăng thì cũng có những đau thương như xé rách tâm hồn vì những Anh Em vừa xanh cỏ để tôi “ta”được đỏ ngực…!

   Tháng 3 -1972, đơn vị ĐĐ2TSND  được triệt xuất khỏi đồn điền Memot trở về hậu cứ Long Bình chờ lệnh. Hai ngày sau lên C130 trực chỉ Kontum. Xuống phi trường "tái ngộ" ngay với NT Lân, Anh đang giữ chức vụ LĐoàn Phó LĐ81BCD vừa được triệt xuất ra khỏi vùng Tam Biên. Anh kéo tôi ra nói vội vàng vài ba câu trước khi lên C130 về Sài gòn:” Út...em phải hết sức thận trọng...nhớ và áp dụng kỷ thuật tác chiến của Biệt Cách Dù để tránh tổn thất… Sư Đoàn Thép 320 của chúng nó đã áp sát Kontum với trọng pháo 130 và tăng T54 nữa đó...”!
Hai ngày sau cả tôi d
ẫn cả Đại Đội lên trực thăng vận ngay trên đỉnh 1049 (Căn C Delta) cách hơn 10Km về hướng tây Căn C Võ Định BCH/LĐ2ND thì bị Việt Cộng “phục kích độn thổ “ ngay tức khắc…! “Hand by hand” Đại Úy Budard hét lên trong máy báo cáo với cấp chỉ huy của hắn trong  tiếng súng nổ vang trời…!!! Tôi lại nghe trong máy của tôi tiếng của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành tự “Thành Râu”( K19) phụ tá hành quân của LĐoàn từ chiếc trực thăng C&C do Đại Úy Phạm Công Cẩn (K21) Trưởng Tâm Hành Quân Phi Đoàn 229, Thiếu Tá Lê Văn Bút (K16) Phi Đoàn Trưởng)đang vần vũ trên không phận vùng đồi delta:
- Út Bạch Lan...cho tôi biết cái gì đang xảy ra…!
- Đích thân chờ một chút...tôi bị phục kích độn thổ…!
Lại có tiếng réo của NT Nguyễn Trọng Nhi (K20) Trưởng Ban3LĐoàn:
- Út Bạch Lan...báo cáo tình hình ngay...207 đang ngồi đây chờ (207 là Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐ2ND)…!
 Tôi “ne pas”…!...  đmặc cho họ chờ… thì chờ…?!!! Tôi làm gì có thì giờ để báo với cáo…tay đâu còn mà ôm hai ba cái ống liên hợp để “tường trình” cung cách quí phái thưa bẩm với trình “Đích Thân”  như hồi còn  làm “học sinh” trong Trường Võ  Bị” Royal…?!!! Tại “hiện trường” tôi và mấy ông Tây (cố vấn Mỹ) đang cận chiến “face to face” vật lộn với..”vi xi” tưng bừng banh xác pháo…chúng tôi ném lựu đạn xuống hầm đếm 1-2-3…chưa tới 6 thì chúng quăng ngược trở lên, thầy trò “hồi bộ” bò lăng bò càng te tua…!!! Mọi người sốt ruột lo lắng cho tôi, nhất là NT Thành Râu trên trực thăng C&C 24/24, NT Nhi cứ năm ba phút rống lên hỏi ra sao rồi, NT Cẩn thì hét to trong máy:
- UBT qua tần số UHF, tôi sẽ cho biết tình hình chung quanh của UBL...UBL đang bị bao vây rồi đó, chúng nó đông như kiến… nói với Tây (CV Mỹ)xin khẩn cấp Trực Thăng Võ Trang (Cobra) trang bị M79, ngồi với tôi có NT Thành, ở dưới đất có NT Nhi lo Pháo rồi...Nghe rõ không ?!!!
Trước áp lực nặng nề của địch quân càng lúc càng thậm chí nguy… ! Nhưng tôi vẫn cảm thấy yên tâm vì trên trời dưới đất lúc nào cũng có những “Ông thần hộ mạng” là những  Niên Trưởng  đã một thời là "Hung Thần" hét ra la, mửa ra khói… của những Sinh Viên Sĩ Quan khóa đàn anh trong trường mẹ, đã thị uy dũng truyền thống phạt chúng tôi khoá đàn em tơi tả như cái mền rách bươm…!!! Nay đang trên trời ban ngày thì “Thành Râu19” với “Công Cẩn21”, ban đêm thì “Thẩm Quyền Bút16”, dưới đất thì “Trọng Nhi20” sáng trưa chiều tối thường trực “on” trên tần số, kề bên có NT “Ngọc Ngà19” TĐP TĐ2ND, Lê Thơm (K22) ngày đêm ghìm súng chờ “giặc từ ngoài Bắc...dzô đây...dzô đây...bàn tay vấy máu đồng bào…”…!!!
Hai ngày sau CCDelta tạm lắng dịu vì có phi pháo yểm trợ…tôi tạm được một chút nghĩ  “dưỡng quân”, ngậm điếu thuốc, hớp một hớp cà phê… tôi chợt nhớ đến NT Khôi giờ này TĐ7ND của Anh đang trên đường vào vùng chiến địa cùng với  TĐ11ND… Nhớ đến NT Khôi vì hôm nay bom, đạn pháo nổ tung xác giặc trên đồi…  tôi đã phối hợp hữu hiệu với cố vấn Mỹ và Pháo Binh Nhẩy Dù áp dụng kỷ thuật GAP từ NT Trần Đăng Khôi đã “om” cho tôi hai năm về trước.
Một tuần lễ sau, TĐ11ND  vào thay TĐ2ND  ở CC Charlie, cách phía bắc CC Delta khoảng hơn một cây số...TĐT Nguy
ễn Đình Bảo (K14) TĐ11ND, TĐP/ NT Mễ(K18), Ban3/ NT Đoàn Phương Hải (K19), ĐĐT113/ Hùng Mập( K22), ĐĐT112/ Hùng Móm (K22), ĐĐT111/ Thinh (ĐĐP của TS2 ) vừa được bổ nhiệm.
 TĐ7ND  vào thay thế TS2ND ở Delta, TĐT/TĐ7ND là NT Khôi (K16), TĐP/T Đ7ND là NT Nguyễn Lô (K18), Ban3/NT Em (K19), ba ĐĐT nòng cốt Đăng (K22), Hải (K22), Cao (K22)...
Trinh Sát II Nhẩy Dù được bốc về CC Võ Định "dưỡng quân" hai ngày nằm dưới giao thông hào tránh pháo “sơn pháo”130, sau đó lại được bốc thả vào CCCharlie tăng cường cho TĐ11ND. Vừa đặt chân xuống bải đáp nằm bên cạnh sườn đồi Charlie thì NT Hải chờ sẵn đó rồi:
- Út theo tôi lên gặp Đích Thân cái đã...!
Trong căn hầm tối mù mù với ánh đèn pin vừa đủ soi bản đồ, NT Nguyễn Đình Bảo nói:
- Út giúp cho tôi tăng cường phía Bắc với Hùng Mập, phía Nam có Hùng Móm, phía Đông có Thinh, phía Tây tương đối không lo ngại vì phải qua một khe núi sâu khoảng 100 mét…!
Tôi vâng lệnh  đeo Balô, súng đạn lên đường gặp Hùng Mập đang ngồi chàng hảng dưới gốc cây bên cạnh hố cá nhân như Thổ Địa trấn trạch, “thằng ma cà rồng” này cùng ĐĐE22 Võ Bị Đà Lạt với tôi, nó là dân “Bắc Kỳ ri cư” nên mồm chưỡi ròn rã “địt bố,  địt…”…tùm lum hiến dâng “món  ngon vật lạ “ khó nuốt … tôi hỏi nó:
- Cái địt,…
đồi này tên gì vậy Hùng mập…?
- Đồi Bắc...đồi bên kia (Charlie) là đồi 1515...!!!
  Tôi ra lệnh nghĩ ngơi, ăn uống đồng thời chỉ định ba toán viễn thám sẽ xuất hành đêm nay… “thằng” Hùng mập cười khình khịt… trong chọng, đầu lắc qua, lắc lại có ý chế diểu:
- Địt mẹ..Tank54  nó nằm đầy ở dưới chân đồi mấy ngày nay, tao không hiểu sao nó đéo thèm bò lên...nghe mày lệnh lạc cho các toán viễn thám của mày bung rộng lục soát mà tao lạnh toát mồ hôi…!!!
   Đúng như lời Hùng mập bông đùa chiều nay, đêm hôm đó ba toán VT báo cáo y chang với vài tấm ảnh T54 chụp được bằng máy hình hồng ngoại tuyến… Tôi được lệnh trở lại CCCharlie để qua hướng Tây đóng quân trên ngọn đồi thấp hơn Charlie về phía tây khoảng 150 mét…Nhưng muốn qua đó phải vượt qua khe núi đá dựng đứng sâu 100 mét…phải mất 3 tiếng đồng hồ toàn bộ Đại Đội mới lên được đỉnh đồi với hai tóan viễn thám đã thám sát trước…Chưa kịp nghĩ chân và bố trí quân thì bị Bắc Quân "Tapi" ngay...! Đại Úy Budard (CV/TS2ND) hét trong máy với Đại Úy Muffy (CV/TĐ11ND):” Help..Help…do or die...do or die…!!!
Đại Tá Mike (CV/ LĐ2ND ) xen vào tần số: “Budard..listen to me...camldown..I will give somethings rightnow...camldown...ok...ok…”!!!
Chúng nó tràn lên như kiến, tôi hét Budard:” Becareful...don't shoot to my soldiers back…!
Năm phút sau John Paul Van (CV/QĐ2) với chiếc Log và chiếc C&C của NT Cẩn cùng Đại Tá Lịch, NT Thành đã có mặt trên không phận. Lệnh của ĐT Lịch:
- UBL..step by step Romeo-Juliet...you understand what I mean… ???
- I got… it… !!!
Tôi áp dụng phương pháp "rút lui nhẩy cóc " vì rút lui đồng loạt sẽ bị Địch tràn ngập ngay và  mặc cho cấp trên điều động thế nào tôi không có  "quởn" nghĩ tới… chỉ thấy sau lưng của tôi là cả một biển la giống như trong phim " We Are The Soldier " hằng loạt Bom Napal từ những phi tuần trên không dội xuống đốt cháy vạn vật như “giời cao” huỷ diệt sinh linh quả địa cầu tròn trịa nầy…Kinh hồn và khiếp hãi…!!! Phải bỏ lại hai toán VT và hơn 20 HSQ-BS, một số chết tại chỗ, số bị thương nặng nhẹ…tan tác…! Thôi đành xin lỗi các bạn...”không phải tại anh cũng không phải tại em, tại trời xui khiến nên chúng mình xa nhau…”… tử biệt sinh ly mỗi giây phút, mỗi giờ và mỗi ngày…Chinh chiến mà…có mấy ai trở lại...?!!!
Ngày hôm sau TS2ND được bốc ra khỏi Charlie sau một đêm cùng TĐ11ND nằm vắt giò lên miệng hầm nghe tiếng “mưa rơi” từ hai Pass B52 cách Charlie chừng 300 mét. S
ự việc đã phá lệ duy nhất trong  Lịch Sử Chiến Trường Thế Giới và chỉ có ở Charlie, VN 1972  vì khoảng cách an toàn để  B52 dội bom tối thiểu phải 1000 mét vòng đai tránh thiệt hại cho quân ta. Tôi ngồi trên chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng rời Charlie, không một vẫy tay chào, không một lời giã từ "Đồi Bắc" nơi đó có Hùng Mập E22, "Đồi 1515" có các NT thân yêu của tôi mà chỉ cách đây hai tuần lễ còn ăn nhậu mệt nghĩ tại CLB/TĐ11ND với  NT Bảo, NT Mễ, NT Hải, Hùng Móm, Thinh…! Vài ngày hôm sau số phận Charlie kết thúc, để người Anh đáng kính Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo của CC Nguyễn Huệ-Long Bình nay có vinh Danh "Người Ở Lại Charlie" qua dòng nhạc xót xa tiếc nuối của Nhật Trường…! Tưởng như vậy đã xong. Nhưng có bao giờ Nhẩy Dù biết hai chữ "chấm hết"?... chỉ trừ khi nhắm mắt “an ngủ” giấc ngàn thu…! Có lệnh LĐ2ND  được Galaxy C5 tại phi trường Pleiku không vận về Sài gòn khẫn cấp để " trên đường ra Quảng Trị..." Trước khi rời khỏi Kontum, QĐ2 "cân hồ" xử dụng lực lượng Tổng Trừ Bị Nhẩy Dù theo kiểu vơ vét cú chót: TĐ7ND và TS2ND được “có vé trực thăng" của Thiếu Tá Lê Văn Bút và Đại Úy Phạm Công Cẩn thuộc PĐ 229  bay “tham quan” đỉnh Chupao trước khi về phi trường Pleiku…Nhìn,… cũng lại là “dân Đà Lạt”: NT Lô18, Đăng 22, Hải 22… đằng vân hạ thổ ngay trên đỉnh Chupao, NT Khôi16, NT Em19 cùng Cao 22 dẫn quân "tam bộ nhất...bắn" xuôi nam, UBL nhẩy xuống phía Tây Nam dưới chân đồi, NT Cẩn (C&C) ban ngày, NT Bút ban đêm. Mạnh ai nấy lo trong tình huống tứ bề thọ địch “Tam Quốc Chí Tân Thời” Anam với “Quan Vân Trường Đà Lạt” đang “lăng ba vi bộ”  trên Hoa Dung Lộ có trùng trùng “giặc từ miền Bắc dzô đây” bố trí quân phục kích và sẵn sàng “uýnh” Full Contact trận địa chiến…và trong khi Triệu Tử Long múa thương  trường bản trên đỉnh Chupao…!!! Rồi nhiệm vụ nào cũng “thi thố” Xong tuyệt vời…!!!
Đứng sắp hàng chờ lên Phi Cơ C5 (lần đầu tiên đơn vị Nhẩy Dù được không vận bằng C5 của Mỹ ) từ thầy đến trò, từ anh xuống em nhìn nhau với ánh mắt không nói nên lời vì đã bỏ lại sau lưng bao nhiêu đồng đội cùng thành phố Kontum với giòng sông PoKo có cô “sơn nữ phà ca” mang gùi đi đổi muối…!
Đường Vào Quảng Trị:
  Có thể ví von là Đà Lạt “du ngoạn” vào tử địa Quảng Trị !!! LĐ2ND làm mũi dùi chính trên đường chiếm lại cổ thành Đinh Công Tráng. Thành có dạng hình vuông, sông Thạch Hãn bao bọc phía Tây uốn quanh một phần phía Bắc, phía Đông là Làng Tri Bưu, Hạnh Hoa Thôn nơi đóng quân của BTL/ SĐ304 CSBV, phía Nam là nhà thờ La Vang và ngã ba Long Hưng…
“Phái Đoàn Đà Lạt” gồm có:
 TĐ5ND/ NT Nguyễn Chí Hiếu (K15), NT Bùi Quyền (K16), NT Chí K20, TĐSĩ K21, NTViệt K23.
TĐ7ND/ NT Trần Đăng Khôi( K16), NT Nguyễn  Lô (K18), NT Em K19, ba ĐĐ nòng cốt Đăng, Hải, Cao K22, TV Quyền K23.
TĐ11ND/ NT Mễ (K18), NT Thành( K19), NT Hải (K19), Hùng Móm (K22), NVN Long K23.
Tăng cường: TĐ6ND/ NT Nguyễn Văn Đỉnh (K15), NT Tùng K19 và 2 Biệt Đội 81BCD dưới quyền chỉ huy của NTLân (K17)….Như vậy là “dân ĐàLạt” toàn phần nếu không “tiếu ngạo giang hồ” gọi đó là "Phái Đoàn Đà Lạt.." thì đã khoa ngôn chi thiện xảo ư từ chăng …?!!! Với hai mươi bảy (27) ngày đêm phái đoàn được đón tiếp bằng “pháo bông” rực rỡ mãn thiên hoa đạn liên ti tù tỳ từ nổ chụp trên đầu tới cày nát địa đại không thua gì đêm pháo bông Tết Tây ở Time Square New York…!!!  Chỉ có điều trớ trêu là “nhân sự” trong phái đoàn thưởng lãm địa pháo, sơn pháo…phải cảnh giác tối đa, chong súng đỏ mắt, nón sắt che đầu, ẩn nấp  dưới giao thông hào hay hố cá nhân ngập nước bùn sình… Tôi có một kỷ niệm khó quên ở đây khi dẫn quân đã xâm nhập vào được Quận Châu Thành-Mai Lĩnh, nín thở ém quân chờ TĐ7ND còn đang bị khựng lại ở ngả ba Long Hưng, lúc nửa đêm về sáng hôm sau,  “Sông Lô” TĐP/TĐ7ND một mình với hai HSQ mang máy vượt một đoạn đường gần một cây số để bắt tay với TS2ND trong khi Bắc Quân bủa vòng vây kín, tứ bề thọ địch và chiến xa T54 của chúng đang tuần tiểu trên đoạn đường này…Niên Trưỏng ”Ôn  Lệnh Hồ Xung Lô Lọ Rượu” (K18VBĐL) mừng rỡ ôm chầm Út Bạch Lan tôi (K22VBĐL) cười khằng khặc sảng khoái như muốn Hồ Trường…hồ rượu ta muốn “trút” về phương mô cho cát bay đá chạy chôn trăm ngàn xác quân sinh Bắc tử Nam mà chưa cạn một Hồ Trường…!!! “Ôn Sông Lô” trọ trẹ:
- Mạ mi…Ta không ngờ mi mò vô tới đây…!!!
- Chuột mà...Niên Trưởng !!! (Huy hiệu Trinh Sát Dù là con Hải Sư nhưng trông  giống như con chuột đầu Giáp thập nhị chi Tí Sửu Dần Mẹo…)
Vì: Danh Dự - Trách Nhiệm - Tổ Quốc ...mà “đàn anh-đàn em”  cùng chung dưới mái Trường Mẹ Võ Bị Đà Lạt kéo nhau lao vào những cuộc binh đao “chơi hết láng” bằng máu, nước mắt và thân xác gói Poncho miếng còn, miếng mất…! Tôi đã mất đi một NT Tùng K19, một thằng bạn Hùng Móm cùng khóa, một đàn em NVN Long K23...và còn nhiều nữa đã bị loại ra khỏi vòng chiến làm sao mà nhớ hết trong suốt quảng đời chinh chiến được sao…? Đáng tiếc và ngậm ngùi…!
Đã có rất nhiều "Cây Viết có tầm cở”...viết tả lại những chiến trận Kontum, An Lộc và Quảng Trị với nhiều công sức truy tầm, nghiên cứu trên tài liệu sách báo…Nhưng hầu hết họ không và làm sao để có thể “lột tả” diễn đạt được hết những khốc liệt trên chiến trường mà người chiến binh phải vượt qua nỗi chết để giành lấy sự sống khi  thế chiến đấu ở  An Lộc là Tử Thủ, Quảng Trị là Tử Chiến… Một là Thủ hai là Công, hai tính chất khác biệt nhau nhiều lắm… Vậy cho nên dù là Thuỷ Quân Lục Chiến, Nhẩy Dù, Biệt Động Quân, 81Biệt Cách Dù, Bộ Binh, Thiết Giáp, Không Quân, Hải Quân, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ …trong số những đơn vị của toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã có không ít những “đứa con yêu” của trường Mẹ Võ Bị Đà Lạt nói riêng và của Tổ Quốc nói chung, đã một mai rơi rụng như chiếc lá lìa cành dưới những tràng đạn, mưa pháo, lưới đạn phòng không  nổ kinh hoàng làm nên cơn địa chấn và vùng trời đầy bão lửa cháy rực đỏ thôn làng... máu xương dân lành đã đỗ xuống, anh em cùng một bọc thai bào sinh ra gọi nhau  là “Đồng Bào” lại tàn sát lẫn nhau…Ôi …có oan khiên nào hơn…! Thua cuộc hay thắng cuộc ? Tôi còn nhớ trong Đệ Nhất Thế Chiến khi Danh Tướng FOX đi ngang ngôi mộ của Napoléon có ghé lại chào và viết một câu trên mộ bia: " Công Danh -Sự Nghiệp của một con người không phải là lúc khởi đầu mà là lúc kết thúc... ".
Hay câu viết của NT Lâm Quang Thi:” Chúng ta thua một trận chiến, chứ chưa phải thua một cuộc chiến...".
  Trải qua bao thế sự thăng trầm… sau nửa đời người một phần hai thế kỷ, ngày nay kẻ còn người mất, giàu-nghèo, sang- hèn có khác gì nhau khi đã có mang chung một “dòng máu  Võ Bị", ND qua ngưỡng của phi cơ cùng tung cánh dù lộng gió lơ lững giữa trời không, BĐQ cùng nhẩy ào ra khỏi lòng slick trực thăng lội bãi sình lầy gian khổ, TQLC đỗ quân hay nhẩy ùm xuống bờ biển nông sâu lõm bõm lội vào bờ trước họng súng đang chực chờ khai hoả của Cộng nô, KQ lao vào lưới đạn phòng không nã hoả tiễn, rãi từng tràng đạn liên thanh, bay sát mục tiêu để “thẩy lỗ” từng trái bom nổ bung xác Bắc Quân như những con thiêu thân đang tràn ngập căn cứ quân bạn hoặc lắc cánh "né đạn" chào nhau hẹn mai tương phùng,  hay anh TG đang ngồi trên pháo tháp chiến xa chợt nghe tiếng cà xịch cà xịch của SA7 vội lao mình xuống đất và húc trên xác địch mà tấn xa, khạc đạn…!!!

Quân Trường chỉ có đổ mồ hôi, nhưng Chiến Trường đỗ mồ hôi, máu và nước mắt…! Các cấp Tướng lãnh, các Đại Niên Trưởng thì...thì...đỗ mồ hôi " hột " nhiều hơn, bởi... "Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô" cũng phải lau giọt lệ khi nghe tin một khóa đàn em vừa nằm xuống hay vừa bị mất một quận một tỉnh nào đó. Không biết giọt mồ hôi hột có nóng hơn giọt máu đào hay không…?! Nay ngồi đây với nỗi nhớ ngập tràn qua ly rượu, hồn mênh mang hồi tưởng lại chiến trường xưa mà đoạn đường Kontum bỏ lại sau lưng bao Niên Trưởng, vào An Lộc nằm xuống mấy kẻ "đồng môn", ra Quảng Trị chôn vùi bao nhiêu thân bách chiến và đoạn đường nào đốt cả quảng trời xanh…?!!!    Màu xanh đó ...bây giờ chỉ còn  là “chiếc áo dài Võ Bị” đi bên cạnh cuộc đời nơi xứ lạ quê người…Võ Bị Đà Lạt còn đây những Anh Em một thuở Anh Hùng Bảo Quốc An Dân-Trấn Không-Phòng Vệ Lãnh Hải giặc Tàu Ô Man thừa gió bẻ măng chứ chưa thật sự dám động cuộc can qua.  
 
  Trương Văn Út (MũđỏÚtBạchLan) K22. Tháng Giêng Năm 2014.

Bài Xem Nhiều