We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 17 January 2014

Mong Mỏi Hải Ngoại : Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ "Đấu Tranh" 2014



THÔNG BÁO 1

Thay mặt cho một số rất đông Nhân sĩ, Niên trưởng, Chiến sĩ, Đồng bào Việt Tị Nạn VGCS trong các Cộng Đồng toàn Thế giới và các Vi hữu nhiều Diễn Đàn người Việt QG,



Chúng tôi long trọng cảnh báo ông CT CĐ VN Lâm Thời Nam Cali Lê khắc Lý và Ban Đại Diện cũng như Tổng hội SV, các hội có tổ chức Tết Giáp Ngọ 2014:



1- Tuyệt đối không dùng bọn Ca sĩ Vẹm dù từ VN sang hay đã ở đây. Đồng bào Việt sau 38 năm đã quá chán chê với những bài hát "đau thương, thất tình" ru ngủ đó. Những kẻ còn muốn nghe loại nhạc này hay tổ chức hát loại nhạc này là những kẻ khg tim óc, giá áo túi cơm, tay sai vgcs. Tàu ở đầy nước rồi, khg thể ngồi nghe những bài hát nhảm nhí đó mà hơn 30 năm Thúy Nga Paris làm băng hoại tinh thần Giới trẻ hải ngoại, làm thui chột rất nhiều tinh thần chiến đấu của quân dân VNCH về phục quốc. Thúy Nga Paris hiện tại là cánh tay nối dài của vgcs.



2- Tuyệt đối cấm Nguyễn ngọc Ngạn, Khánh Ly, Đàm vĩnh Hưng, Nguyễn cao kỳ Duyên và bọn thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ từng về liếm trôn vgcs trình diễn trên sân khấu hội chợ. Hội chợ này, dù do bất cứ Hội nào tổ chức, là với danh nghĩa và nhờ vào sự yểm trợ của cả Cộng Đồng mới có thể thành công. Hội chợ nào làm trái ý CĐ những điều trên đây sẽ bị trách cứ nghiêm nhặt, CĐ sẽ khg đến mua vé tham dự và ảnh hưởng tới những năm sau.



3- Tuyệt đối cấm những logo tuyên truyền mập mờ cho vgcs và Tàu khựa mà nên có những logo chống vgcs bán nước và Tàu khựa xâm lăng.

THÔNG BÁO 2



Tết Giáp Ngọ (2014) này, người Việt tị nạn vgcs tại hải ngoại vui Xuân với những ý niệm sau đây:


1- Đề cao Văn hóa Miền Nam VNCH tức cũng là Văn hóa Dân tộc vì 21 năm VNCH chỉ xiển dương và bảo tồn Văn hóa Dân tộc, không đánh mất, không vọng ngoại, không chuyển đổi, không lai căng.



2- Không dùng y phục, chữ viết, kịch, biểu ngữ, bài hát, các loại Văn hóa dính dáng đến người Tàu và Văn hóa Tàu. Chữ Nho các cụ học khi xưa, vì tình thế Tàu đang ở đầy trong nước hiện nay và Tàu dùng nó làm tên đường phố, cửa tiệm, làng mạc, nay cũng dẹp bỏ mà chỉ dùng Việt ngữ (như đang viết đây). Chữ Tàu, tiếng Tàu ta chỉ coi nó là một ngoại ngữ như Anh, Pháp, Tây ban Nha v.v.... mà thôi. Bộ Giáo dục vgcs bắt học sinh học tiếng Tàu theo lệnh Tàu là một thái độ nô lệ, đốn mạt và đê hèn không người VN nào chấp nhận.



3- Vui Xuân không quên hơn 12,000 dân miền Nam vô tội bị giặc hồ giết trong Tết Mậu Thân 1968 ( có gần 100,000 binh lính vgcs bị giết có tên lính vgcs mới 12 tuổi bị ép cầm súng) trong số 12,000 này có hơn 7,000 dân Huế vô tội bị giết rất dã man, chôn tập thể.



-Vui Xuân không quên 700,000-800,000 dân bộ nhân và thuyền nhân chết trong các rừng già biên giới VN-Thái, Lào, Căm bốt, các phụ nữ bị hải tặc giết/bắt đi sau khi cưỡng hiếp, các người cha người chồng nhảy ra can thiệp bị hải tặc chém, đá xác xuống biển, những đứa con nít bị rớt biển vì sóng gió, đêm tối mịt mù, những chiếc tầu hết lương thực chết máy, dạt vào các đảo khg người, khg sự sống, đảo san hô v.v...chết khg còn một người. Chưa một dân tộc nào chịu đau thương quá sức như thế!



-Vui Xuân khg quên bài trừ các bài hát quỉ mị ngày xưa VNCH vì chúng mà bị mất nước: thất tình, sầu đời, sa đọa, dâm ô, phản chiến (Việt gian Trịnh công Sơn) rên rỉ, khóc lóc làm băng hoại chí thanh niên, đó là những bài hát Thúy Nga Paris vô liêm sỉ và nhiều tổ chức vô loại khác rên rỉ trong 38 năm nay, đồng bào đã quá chán chường, tởm lợm với chúng nhất là giới trẻ. Nên dùng những bài ca (như Cờ bay, Thanh nữ hành khúc…) nói lên tình yêu nước, yêu đồng bào, cổ võ tinh thần đấu tranh cho Độc Lập, Tự Do và Dân quyền.



-Vui Xuân nhưng khg bao giờ quên rằng giặc vgcs đã mời Tàu khựa vào ở khắp nước, cai trị cả nước. Toàn dân VN phải đoàn kết, nắm tay nhau diệt sạch vgcs bán nước và đuổi Tàu khựa ra khỏi đất nước mang lại Độc Lập, Tự Do, Dân chủ, Nhân quyền cho toàn dân nhất là tránh cái họa thêm 1000 năm nô lệ giặc Tàu mà cha ông ta đã cực nhọc mới đánh đuổi được chúng. Đề cao cảnh giác với bọn chó săn Việt gian tay sai vgcs tại hải ngoại ăn tiền NQ 36 làm ung thối, rã rời tinh thần yêu nước, giữ nước của đồng bào ta mà chúng ta thấy bọn này nhan nhản trên các Diễn Đàn, báo giấy… với hàng ngàn tên nickname. Tuyệt đối tẩy chay bọn chó săn chó điếm ác ôn này.


- Tiền vào cửa thu được là tiền của Cộng Đồng, sau khi trừ chi phí, nên được báo cáo rõ ràng và minh bạch, dùng một phần để yểm trợ các Nhà Tranh Đấu chống Tàu khựa xâm lăng cũng như cho Nhân quyền, Dân chủ và giải thể đảng vgcs.

Chân thành mong mỏi,

Thay mặt rất nhiều Đoàn thể, Nhân sĩ và Thân hữu, Vi hữu là đồng bào VN trên khắp Thế giới,

Xin bổ túc nếu Thông báo số 2 này còn có điểm thiếu sót.

Làm tại Hoa Kỳ ngày 14-1-2014

GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc

Cựu Dân Biểu Quốc Hội VNCH (1971-1975)

Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển Nông Thôn HNV

Những Ngày Đầu Năm Tại Châu Á

                               Từ khi con người rời cuộc sống đơn độc nơi ven rừng góc núi để sống chung, lập nên thôn ấp làng mạc, khai sinh chế độ phong kiến, thì họ đã biết hưởng thụ những niềm vui do thiên nhiên mang đến. Từ đó, những hội hè đình đám được manh nha. Trai gái trước cảnh xuân về trăm hoa đua nở, nắng ấm trời trong, xua đuổi sự lạnh lẽo giá băng của buổi đông tàn. Cảnh đẹp gợi tình, người người với quần áo đẹp đẽ cùng nhau ca hát nhảy múa, vui hưởng tuổi trẻ đang độ căng tròn nhựa sống trong buổi xuân sang.
            Và chẳng biết từ lúc nào, do ai đã khai sinh ra lễ hội ngày xuân ? Ðiều kỳ lạ là dù ở chân trời góc bể, núi cao hay hải đảo, mọi người vẫn cùng có chung một ý niệm về tết : tống cựu, nghênh tân, quên hết những gì của năm cũ , mở rộng lồng tim để chào đóm năm mới với niềm hy vọng tràn trề của tương lai.          

Tết hay tiết là từ ngữ của người Việt và Tàu dùng để chỉ những ngày hội lớn và quan nhất trong năm, còn ngày đầu năm mới thì gọi là Nguyên Ðán. Theo các di tích tìm được ở Bắc Việt và bắc Trung phần, thì nước ta trước khi bị Tàu đô hộ hơn 10 thế kỷ, đã ăn tết vào mùa thu, vì những hình ảnh khắc trên trống đồng, chum vại.. đều vẽ bông lau, thứ hoa chỉ nở vào mùa thu mà thôi.         
             Tại Châu Á hầu hết các dân tộc đều ăn tết theo âm lịch, dù có theo một tôn giáo nào, trừ đảo quốc Phi Luật Tân bị Tây Ban Nha đồng hóa, còn Thái Lan thì vọng ngoại. Miền Tiểu Á Tế Á gồm các quốc gia theo Hồi giáo như Iraq, Kuwait, Jordan, Syrie, Arab Saudi.. dùng âm lịch và lịch của họ ngắn hơn lịch tây phương mỗi năm 11 ngày. Do đó tết Nguyên Ðán của họ trong chu kỳ 33 năm, có thể đến bất kỳ mùa nào trong năm dương lịch. Các nước cận đông như Triều Tiên, Mông Cổ, VN, Trung Hoa.. có ngày Nguyên Ðán thông thường giữa 20/1 đến 25/2 dương lịch.        
              Nga sô là quốc gia có lãnh thổ chạy dài từ Âu sang Á , trước thế kỷ XV chọn ngày 1 tháng 3 làm tết dương lịch. Sau khi theo Chính Thống giáo lấy ngày 1 tháng 1 làm ngày Nguyên Ðán. Ấn Ðộ đất rộng người đông với nhiều sắc tộc cộng sinh, nên ngày Nguyên Ðán cũng phức tạp : Bắc Ấn chọn tháng 2 dương lịch còn Trung và Nam Ấn lấy tháng 3 làm ngày Nguyên Ðán.         
              Các dân tộc Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan (cổ), Lào và Kampuchia theo Phật giáo tiểu thừa, nên chọn tháng 4 dương lịch làm tết Nguyên Ðán. Người thiểu số trên đảo Bali thuộc Nam Dương vì lịch chỉ có 210 ngày nên tết có thể đến bất kỳ trong năm. Các nước Ðông Nam Á theo tam giáo (Phật, Lão, Nho) ăn tết theo Tàu.

+ TẾT NHẬT :

             Tháng Chạp là thời gian bận rộn nhất trong năm của họ vì phải vất vã làm lụng suốt năm. Nhà nào cũng lo sắm sữa quần áo mới, thực phẩm và những gì có liên quan tới ngày tết. Ðây là dịp để các cửa hàng tại thủ đô Ðông Kinh cũng như các thành phố lớn trong nước, tha hồ hốt bạc vì ai cũng ùa nhau đi chợ.

            Hien người Nhật ăn tết theo dương lịch nên ngày mùng một tháng Giêng là ngày Nguyên Ðán của họ. Cả nước đều ăn mặc theo lối cổ truyền, tụ tập về các đình chùa để cúng kiến và tham dự các lễ hội. Trong ngày đầu năm, mọi người có tập tục thăm viếng và chúc tụng lẫn nhau, đặc biệt người Nhật không đót pháo trong ngày tết.

            Trong khi đó tại nông thôn, người Nhật ăn tết theo âm lịch với các phong tục đã có tự ngàn xưa như chơi cờ, ăn bánh Zoni làm bằng bột nếp trộn đường. Tết chỉ diễn ra trong nữa ngày mùng một nhưng rất vui vẽ, nhà nào cũng treo trước cửa một cành thông.

+ TẾT TÀU :

            Như VN, người Trung Hoa vui xuân đón tết không ngoài hai mục đích ‘ tống ựu và nghênh tân ‘, trong đó có lễ đưa Táo quân về trời ngày 23 tháng Chạp, rước tổ tiên ông bà về vui tết với con cháu trong ba ngày tết, phong tĩnh, tảo địa, phong môn, mừng tuổi, khai tài môn, cúng gia tiên.. Tết Nguyên Ðán là ngày quan trọng nhất trong năm, vì theo dịch học tháng Giêng là Ðịa Thiên Thái và ngày tết là Tam Dương Khai Thái. Chính trong thời gian này trời đất mở ra sự thịnh vượng, cây cỏ sinh sôi nẩy nở , vạn vât quân bình, biểu hiện sự hòa sinh giữa muôn loài. Do đó các tín đồ Phật giáo đã cữ thịt trong ngày mùng một tết, để tỏ lòng tôn kính đối với Phật vì ngày này vía Phật Di Lạc, vị Phật cứu đời độ thế trong cõi ta bà.

- Ðài Loan :
Ngày Nguyên Ðán dân Ðài Loan rất sợ bể đồ đạc trong nhà vì đó là điềm xúi quẩy bất lợi, mang đến sự nghèo đói đến trong năm. Ngoài ra ngày tết không được dùng màu trắng, các loại dao nhọn, đường trắng dùng để biến chế các chất ngọt cũng phải nhuộm màu trước khi sử dụng.

- Quảng Ðông :
Từ giao thừa trẻ con thường rủ nhau thành đoàn đi chúc tết các gia đình để nhận tiền lì xì “ cung hỷ phát tài lợi thị dậu lai “ cũng là lời chúc tết của mọi người trong 3 ngày tết. Buổi chiều cuối năm sau khi cúng tế và ăn uống xong, cả nhà kéo nhau đi lễ chùa, xem chợ hoa suốt đêm tới sáng mới về nhà. Sau đó tổ chức cờ bạc nhỏ trong gia đình như chơi mà chược, thiên cửu, bầu cua cá cọp. Trong 3 ngày tết rất kiêng cử quét dọn dù nhà cửa rác rến có đầy nghẹt vì sợ tài lộc sẽ theo rác đi mất.

- Ninh Ba :
Ngày mùng một tết dân chúng dùng thịt heo rượu để tế thần thánh, gọi là lễ tiếp xuân và đốt pháo tre. Tục đốt 3 cây pháo tre để khai môn vẫn được dân chúng duy trì tới nay. Trong 3 ngày tết kiêng cử không nói năng bậy bạ, tránh không lam bể đồ vì sợ xui cả năm.

- Triều Châu :
Từ 25 tới 29 tháng Chạp mọi người lo dọn dẹp nhà cửa để ăn tết. Ðàn ông phải cắt tóc ngắn, đàn bà thì se lông mặt . Ðêm 30 tết cả nhà ăn chung bữa cơm đoàn tụ cuối năm. Trước giao thừa, người lớn phát tiền lì xì cho trẻ con, dán xuân liễn (câu đối chúc tết) trước cửa nhà. Bếp núc được nhun nhén suốt đêm. Phong giếng sau khi lấy đầy đủ nước dùng. Ðêm giao thừa mọi nhà đều đốt pháo. Ngày mùng một tết người Triều Châu chỉ dành cho gia đình.

- Phúc Kiến : Ðêm 30 tết người Phúc Kiến đóng cửa không tiếp khách. Nhà nào cũng đốt trước cửa một ngọn đèn lồng gọi là ‘ điểm môn thủ đăng ‘ để cám ơn khách không quấy rầy gia chủ đêm qua. Sáng mùng một khi nghe tiếng pháo nổ chào tết mới khai môn. Hàng ngày cả nhà dùng các món ăn dọn cúng, để ăn sáng gọi là ăn cơm qua năm với ứơc vọng năm nào cũng có cơm để ăn.

+ TẾT CAO LY (TRIỀU TIÊN) :

             Căn cứ theo sử liệu cho biết dân Cao Ly đã ăn têt đầu tiên, vào ngày mùng một tết năm 651 sau tây Lịch (thế kỷ VII). Phong tục này vẫn được duy trì tới ngày nay. Ðến thế kỷ XIX Cao Ly chọn tết Nguyên Ðán làm quốc lễ để dân chúng cả nước vui chơi thỏa thích. Tết kéo dài từ 15 tới 20 ngày với nhiều cuộc vui được tổ chức trước và sau tết. Bắt đầu từ năm 1895, tết chỉ còn thu lại có 4 ngày từ ba mươi tháng Chạp tới mùng ba năm mới.

            Như Tàu và VN, người Cao Ly rất coi trọng các phong tục tập quán tới quốc gia, dân tộc và xóm làng. Cúng tế tổ tiên, để tưởng nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của ông b2a cha mẹ, thờ cúng Phật Trời, viếng thăm mồ mã người quá cố trong gia đình, để thắt chặt tình gia tộc họ hàng. Trong 3 ngày tết mọi người giải trí bằng những trò chơi tao nhã như chơi cờ nhảy, đọc binh thư, viết câu đối treo trong nhà và tại các công tư sở.

            Nhiều gia đình giàu có ăn tết tới rằm tháng Giêng. Ho rất coi trọng ngày đầu năm, tổ chức ăn tết linh đình, mở chay đàn trong nhà rước các vị sư sãi thầy cúng đến làm lễ. Ðây là quan niệm chung của nước này, họ cho rằng ngày tết càng vui vẻ thì năm mới càng được sung túc, buôn bán thịnh vượng, làm ruộng trúng mùa. Ở nông thôn dân chúng còn mở hội ‘ đốt lửa lùa chuột ‘ ngày rằm tháng Giêng mở hội đón trăng mới trong năm.

+ TẾT MIẾN ÐIỆN ;

             Người Miến Ðiện gọi tháng Giêng theo Phật lịch là Tagu nhằm vào tháng Tư âm lịch để ăn tết từ ngày 13 tháng 17/4. Mọi người trong nước kể cả c1c công tư sở đều được nghỉ. Nhưng ngày sắp tết, ngoài việc trang trí nhà cửa, may sắm quần áo mới, chuẩn bị thức ăn để cúng kiếng ông bà tiên tổ và vui tết. Người Miến còn chưa trong nhà rất nhiều nước để tạt vào khách trong ba ngày tết thay lời chúc vui. Với dân tộc này, họ quan niêm ‘ nước ‘ là một biểu tượng thiêng liêng thanh khiết từ vật chất tới tinh thần. Nước sẽ gột rữa hết những dơ bẫn của con người trong năm cũ, để đón mừng năm mới toàn vẹn.

            Người Miến gọi tục tạt nước ngày tết là ‘ Thing Yan ‘ đã có từ ngàn xưa và bắt đầu phổ biến trong dân gian từ thời vua Narasipate 1254-1287 (sau TL). Người Miến cũng thích dùng hoa để trang trí nhà cửa, dùng các loại hoa Padauk (gần giống Mimosa), Myeza và hoa Li (hay hoa Zyzyphae gần giống hoa thủy tiên.

            Những ngày tết, người lớn đi lễ chùa cúng Phật và thăm viếng lẫn nhau. Tại thủ đô và các thành phố lớn, nam nữ thanh niên đón tết rất vui vẽ. Ai cũng ăn mặc quần áo mới đẹp đẽ lòe loẹt và hợp thời trang, tổ chức xe hoa điều hành và có xe chở nước đi kèm với các vòi rồng phun nước. Khắp các ngỏ đường phố họ phun nước vào nhau, la hét ca hát, khiến cho không khí 4 ngày tết thật vui nhộn.

+ TẾT LÀO :
 
Người Lào ăn tết gần giống người Miến. Họ gọi 3 ngày tết từ 13 tới 15/4 dương lịch là ngày hội ‘ đón mưa ‘ mà cả nước cầu đảo cho mưa thuận gió hòa để trúng mùa. Ngày hội cầu nước hay là Bunpimay gần giống như tục tạt nước vào nhau ở Miến Ðiện. Sắp tết người Lào trữ nhiều nước trong nhà, sau khi rữa ráy giặt giũ và tắm gội. Nước thay pháo trong đêm giao thừa để tống cựu nghênh tân.

            Ðầu năm mới người Lào vào chùa làm lễ tế nước cho các tượng Phật, kể cả các vị tăng ni, bô lão có địa vị trong làng xã rồi mới khai hội vui chung cho mọi người bằng cách dội nước lẫn nhau, thay lời chúc tụng mang sự vui vẽ hạnh phúc đến cho mọi người trong năm mới.

            Tại Vạn Tượng và các thành phố lớn khác có tục phóng sinh các súc vật như chim, rù, cá. Ðây là dịp để mọi người quây quần đoàn tụ, ăn uống, ca hát và tạo cơ hội thân thiện lẫn nhau.

+ TẾT THÁI LAN :
 
Trước kia Thái ăn tết vào trung tuần tháng 4 dương lịch, theo phong tục Phật giáo Tiểu Thừa như các nước Miến, Lào, Cao Mên.. gọi là tết Song Cam. Phong tục này hiện chỉ còn duy trì tại tỉnh Chieng Mai ở vùng đông bắc Thái Lan. Hiện Thái theo tây phương, ăn tết vào ngày 1/1 dương lịch nhưng từ ngày 24/12 đã làm lễ đón giao thừa, tống cựu nghênh tân. Cũng bắt đầu từ đó tổ chức tiệc tùng, ăn chơi cho đến cuối ngày mùng một dương lịch la hết tết.

+TẾT PHI LUẬT TÂN :

             Cũng ăn tết theo tây phương nhưng ngày hội lớn nhât trong năm gọi là Ati-Atihan được tổ chức vào hạ tuần tháng Giêng. Trong những những hội, dân chúng Phi cũng như khách du lịch ngoại quốc, đều nô nức kéo về thành phố Calibo trên đảo Ganay, để tham dự ngày hội cổ truyền

            Ati-Atihan bắt nguồn từ phong tục của dân thiểu số da đen trên đảo. Trong những ngày hội họ đổ xô về thành phố ăn mặc theo kiểu người Trung cổ, quần áo trận tay cầm khiên giáo mác có vẽ hình đầu lâu. Khách từ bốn phương cũng như dân địa phương trên đảo, đều ăn mặc đẹp đẽ lòe loẹt, tổ chức thành đoàn diễn hành với xe hoa quanh thành phố có giám khảo chấm điểm và phát phần thưởng.

+ TẾT BA TƯ VÀ A PHÚ HẢN :

            Vì đa số người Ba Tư và A Phú Hản có chung một hệ phái Hồi giáo, nên với họ tết là thời gian hồi sinh của vạn vật. Tại Iran dù ăn tết theo dương lịch hay lịch Hồi giáo, mọi người vẫn không quên phong tục lâu đời khi bày cổ bàn cúng hay đãi khách với 7 món gồm táo, lê, hoa dạ lý, nước chấm làm bằng lúa mì.. Trên bàn thờ bày các đồng tiền bạc hay vàng, một bể nuôi cá, một ngọn nến và tấm gương soi mặt. Tất cả mang ý nghĩa mong muốn năm mới được hạnh phúc no ấm hơn năm cũ, đồng thời nhắc nhở mọi người phải tự sửa mình để tốt hơn. Ðây là phong tục cổ, trước khi đạo Hồi du nhập vào nước này.

            Với người theo Hồi giáo thì đặt thêm quyển kinh Coran trên bàn tiệc. Riêng người ngoại đạo thì dùng kẹo trái cây và hoa thay rượu vì Ba Tư theo Hồi giáo cấm rượu. Trước giao thừa, cả nhà quây quần bên bàn tiệc với quần áo đẹp đẽ để mừng đón giây phút thiêng liêng của trời đất. Tết Ba Tư và A Phú Hãn kéo dài 5 ngày, mọi người đều nghĩ việc đ8ạc biệt ai cũng cử số 13.

+ TẾT MIÊN :

             Còn được gọi là Chôl Chnămthmây, bảy ngày sau lễ thanh minh ta. Tết Miên gần giống tết Thái Lan với các lễ hội tôn nghiêm tại đình chùa, trong các buổi lễ trình diễn văn nghệ công cộng tại thủ đô Nam Vang, các thành phố lớn cũng như ở nông thôn. Suốt thời gian tết, người Miên mở tiệc tùng để vui chơi thù tạc, để bù lại sự cực nhọc suốt năm.

            Tại Nam Vang trong những ngày tết, có dựng sân khấu lộ thiên cạnh hoàng cung để trình diễn văn nghệ. Nơi các buôn, làng xa xôi cũng tổ chức hát hò, nhiều nơi mước các đoàn hát từ tỉnh thành về giúp vui. Hấp dẫn nhất trong những ngày tết Miên là cờ bạc được cho phép công khai. Do đó từ Nam Vang tới hang cùng ngõ hẹp khắp nước, đâu đâu cũng thấy các sòng cờ bạc với đủ các món từ sóc dĩa, bầu cua, cá ngựa (khlakhlốt), bông vụ (À Pôn), lô tô, bài cào.. diễn ra suốt ngày đêm trong một tuần lễ tết.

            Người Việt đến lập nghiệp tại Kampuchia từ thời Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên tới tháng 5-1975 có khoảng 200.000 người, đa số sống tại Nam Vang và các tỉnh Battambang, Kampongcham, Kampot, Svayrieng, Biển Hồ.. và các đồn điền cao su.

            Người Việt tại Miên tuỳ theo tôn giáo, họ vui hai la72n tết dương và âm lịch.. thời gian tết, các trường học có đông học sinh VN đều dược nghĩ từ 23 tháng Chạp đưa ông Táo về trời, tới ngày mùng 5 tết mới đi học lại. Tại thủ đô Nam Vang, chính phủ Miên dành cho Việt và Hoa kiều hai ngôi chợ Lớn và Boong để tổ chức tết, được mở cửa suốt ngày đêm từ 28 tháng Chạp tới chiều 30 cuối năm. Chợ VN bày bán đủ các món hàng dùng cho ngày tết như bánh chưng, bánh tét, dưa hấu, các loại mứt, cốm và hầu hết những loại hoa quen thuộc trong ngày tết VN như vạn thọ, trường sanh, mồng gà, huệ, cúc..

            Riêng Mai là món chơi quốc hồn quốc tuý của người Việt không có bán tại hai ngôi chợ trên, nên đồng bào sống tại miên cứ gần tết lại rũ nhau về Kompong Speu cách Nam Vang chừng 40 km để chặt Mai. Họ cũng chung tiền làm heo, nấu bánh tát, đóng cốm để cúng và vui tết nơi xứ người.

            Ðêm giao thừa của người Việt trên đật Miên thật buồn, vì chỉ có người Việt tha phương mới ăn tết Việt. Cũng có pháo vào giờ khắc giao thừa để tống cựu nghênh tân. Tiếng pháo ly hương của người Việt được nối tiếp từ khu này tới khu khác kéo dài mấy tiếng đồng hồ mới dứt.

            Có sống tha phương mới thấm thía cuộc đời của kẻ mất quê hương, phải ăn nhờ ở đậu nơi quê người. Có làm thân lữ thứ mới ray rứt tận cùng trong những lúc xuân về, nhất là trước thềm năm mới. tình cờ nhìn những cánh hoa cúc đang nở rộ trong gió, hay bất chợt đâu đó vang vang những tiếng chim gọi đàn của bầy Hải Âu trở về chốn cũ, sau một mùa trốn đông lạnh lẽo. Tất cả đã làm khựng điếng cõi hồn cằn cỗi của người lính già nới quan tái, cứ mơ tưởng ngẩn ngơ một ngày về.

            “ xuân về trên đất khách
            ta ngồi đón mông lung
            hắt hiu đêm trừ tịch
            một mình uống rượu suông..
            soi gương chợt thấy lạ
            sau một đêm đợi chờ ..”
 
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Mùng mười tháng Chạp Kỷ Sữu
MƯỜNG GIANG

Diễn Đàn Người Dân ViệtNam.

MƯA XUÂN

MƯA   XUÂN

bia-mua-xuan-5x7-2
Hôm ngồi chơi cờ ở Câu lạc bộ Người Cao Tuổi, trong sự rì rào của mọi người chung quanh, cái tên “bà cụ Quất” bỗng lọt vào tai ông Hưng một cách tình cờ, nhưng chợt nó sáng loè lên trong đầu óc của ông như sựï  thức tỉnh sau một cơn  mơ dài.
Cái tên gợi lại cho ông cả một thời son trẻ xa xưa mà trong suốt bao nhiêu năm lăn lộn trong cuộc sống, chưa một lần nó làm ông bận tâm tới. Đất nước ngổn ngang, công tác bộn bề cả trăm thứ việc, đó là lý do mà ông có thể nhẹ nhàng rũ bỏ mọi thứ tình cảm lấn quấn riêng tư, kể cả cái khung trời xưa cũ, nơi mà ông đã từng  gửi gấm biết bao nhiêu tâm tình cũng như những sôi sục nhiệt huyết của lớp tuổi thanh niên trong thời kỳ tiền cách mạng.
Ngay chiều hôm ấy ở Câu lạc bộ trở về, ông nói với người con trai :
- Thôi, bố không đi Mai Châu ăn tết Mường nữa đâu. Cả nhà cứ đi theo kế hoạch đi.
Người con nhìn ông hơi một thoáng kinh ngạc, nhưng rồi cũng nhún vai:
- Tuỳ bố thôi. Để con bảo chúng nó sắp sẵn xe riêng cho bố.. Mà bố định đi đâu ?
Ông Hưng giọng quả quyết :
- Tao về Canh-Diễn !
Con trai ông, một Vụ trưởng còn đang tại chức, chợt “à” lên một tiếng rồi cất giọng hơi có vẻ châm biếm:
- Ôi dà, tưởng bố đòi sang Tây sang Mỹ gì, chứ về cái nơi đó thì có gì mà vui, toàn những xóm làng nhếch nháp.
Rồi hắn nhún vai:
- Nhưng bố thích thì cứ việc !
Thế là vào những ngày cận Tết, ông Hưng leo lên chiếc xe bóng lộn do người con trai sắp xếp, với nhiều món quà lỉnh kỉnh mang theo.
Tay tài xế là một cậu khá trẻ, ăn bận bảnh bao, mồm miệng nhanh nhẩu, cử chỉ nhậm lẹ, rõ ra là một người tháo vát. Ông Hưng hỏi :
- Cậu có chắc là xe hơi về tới tận cổng làng không ?
- Ôi, cái chỗ đó con đi mấy lần rồi, ông đừng lo. Đường xá bây giờ mở rộng, nhựa trải phẳng lì.
Như sợ cậu tài chưa hiểu cái chỗ mình sẽ tới, ông cố gặng thêm:
- Cái đó thì tôi cũng biết rồi. Nhưng nhựa chỉ trải trên con đường tới Nhổn thôi. Còn mình phải đi sâu nữa….
- Con biết chứ ! Ở đây mình qua cầu Diễn rồi vào ngã tư Nhổn. Từ ngã tư Nhổn mình rẽ vào con đường đi Canh, đi Sấu, đi Giá theo ngả con đê Phùng chứ gì !
Mặt ông Hưng rạng rỡ hẳn lên khi thấy cái sự thông thuộc đường đi nước bước của chú tài. Ông đáp với  giọng thoả mãn :
- Ừ, đúng đấy. Ai mà ngờ nhiều con đường tí teo thế mà bây giờ lại trải cả nhựa để cho ô tô đi. Mà chẳng biết cái chợ Đìa ấy bây giờ còn không ?
Cậu tài hơi nhỉnh mặt lên muốn như chế giễu cái sự lạc hậu của ông, rồi cậu vừa liếc ông qua kính chiếu hậu vừa trả lời :
- Chợ dẹp rồi, ông ơi. Bây giờ nó biến thành cái phố nhỏ, người ta xây cất nhà cửa tràn lan khắp mọi chỗ rồi.
Lòng ông Hưng bỗng thoáng một nét buồn, đồng thời hình ảnh của ngôi chợ cũ ngày xưa bỗng hiện rõ lên trong trí nhớ. Ngày đó, bốn bề là đồng không mông quạnh, gió lồng lộng thổi qua những căn lều lụp sụp, vách thưa, mái xô lệch mà ở đấy, quanh năm, dân làng tụ họp để mua bán, đổi chác những bó rau, những lon gạo, những giỏ tép, những trái cây mới hái xuống từ các vườn cây quanh nhà. Ngôi chợ trở nên ồn ào nhất là vào những dịp giáp tết mà hình ảnh của nó càng trở nên sống động hơn trong trí nhớ của ông qua những câu thơ của Đoàn văn Cừ mà đã có thời gian ông thuộc nằm lòng :
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu
Áo cụ Lý bị người quen sấn kéo
Khăn trên đầu đang chít cũng tung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi….
Bây giờ, chiếc xe hơi chở ông Hưng đang lăn qua khu chợ ấy. Chú tài xế quơ tay ra ngoài kính xe :
- Chợ Đìa là đây. Ông  thấy còn có cái gì dính dấp với ngày xưa không ?
Ông Hưng nhìn ra lòng không khỏi bàng hoàng khi thấy hai bên mặt đường, nhà cửa đã cất lên san sát, cái đã lên tầng, cái còn mái tôn, cái thụt vào, cái chìa ra với những hàng hiên bầy bán đủ loại hàng hoá : có nhà bán than, có nhà bán gạo, có nhà bán xi măng,  lại cũng có nhà chất từng dẫy những bình ga đun bếp. Rồi quán cà phê, quán cơm phở, quán cho thuê băng hình, quán hát karaôkê, mọi thứ cứ xen kẽ mà mọc liên tiếp nhau trên một chặng đường dài.
Người xưa, cảnh cũ đã tan biến vào dĩ vãng ! Ông Hưng mệt mỏi quay mặt vào trong xe và ngả hẳn người xuống lưng ghế, hai mắt nhắm nghiền như để xua đuổi những hình ảnh vừa hiện ra trước mắt.
Ông muốn níu kéo lại ngày xưa ! Cái ngày mà ở nơi chốn làng quê hẻo lánh này tưởng nó cách xa hẳn với đời sống bên ngoài, với những con đường nhỏ luồn lách qua những bụi tre vang tiếng kẽo kẹt theo gió, chui qua cái cổng làng xây gạch để đi vào từng con ngõ nhỏ có những mái nhà tranh nằm im lìm dưới bóng mát của những cây ổi, cây hồng bì, cây na, cây nhãn hay những giàn mướp, giàn thiên lý đang trổ hoa. Con đường làng nhiều chỗ đã được lát gạch dẫn qua nhiều ngả ngóc ngách có những chiếc cầu tre bắc qua từng mương nước mà vào buổi trưa hè với cái nóng nung nấu, không gian im ắng đến có thể nghe thấy tiếng cá quẫy nước trong bờ mương hay tiếng những chim vành khuyên vỗ cánh bay qua đám hoa lựu đỏ lừ. Rồi khi chiều xuống, lúc ánh trăng chưa lên khỏi ngọn cau đã thấy đom đóm lập loè từng đàn, từng tốp bay trên những lùm cây đang yên ả trong vườn. Trẻ con người lớn kéo hết ra sân, trải chiếu ngồi đón gió, ngắm trăng. Trên tầng cao, bầu trời trong vắt không một dải mây có những vì sao mọc lên nom long lanh ướt làm lũ nhỏ chen nhau nằm ngửa, ngước mắt lên trời để thi nhau đếm:
- Một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng….(cứ thế mãi cho đến lúc mỏi mồm).
Trong khi ấy, lửa trong gian nhà bếp đun rơm vẫn bập bùng cháy dưới những nồi khoai lang luộc mà khi khoai chín tới, một mùi thơm lừng theo khói bếp lan toả ra tận ngoài sân, làm cho mấy bát cơm lùa chung với cà muối và rau muống chấm tương vừa ăn hồi chiều đã tiêu ngót ngay đi để dạ dầy sẵn sàng đón nhận những củ khoai nghệ sẽ được bưng ra trong cái rổ con còn nghi ngút khói.
Cái đồng quê êm ả ấy, riêng ở chốn này, vào cái thời ông Hưng còn trai trẻ, thế mà cũng đã từng chứng kiến biết bao nhiêu những hoạt động hào hứng, sôi nổi của đám thanh niên nam nữ ở cả địa phương cũng như ở trên tỉnh mò về.
Họ rủ nhau hoạt động cách mạng !
Khi Phong trào Truyền bá Quốc ngữ nở rộ ra tại nhiều nơi, thì cũng chính ở đây, Hưng và nhiều bạn bè đồng lứa tuổi, những thanh niên tràn đầy nhựa sống và dạt dào lòng yêu nước, cũng đã mở ra rất nhiều lớp xoá nạn mù chữ cho mọi người. Đồng quê, xóm làng ngày nào, chỗ nào cũng vang lên những câu hát :
i tờ (t) giống móc cả hai
i ngắn có chấm, tờ (t) dài có ngang…
O tròn như qủa trứng gà
Ô thì đội mũ, Ơ là thêm râu….
Lý tưởng giải phóng đất nước khỏi ách thực dân, đem lại cho mọi người một đời sống ấm no, hạnh phúc như một thôi thúc mãnh liệt thúc đẩy toàn đám thanh niên nam nữ trong làng nhất tề kéo nhau tham gia đủ mọi thứ sinh hoạt : truyền bá quốc ngữ, học múa võ xuống bình tấn, đinh tấn hay múa bài Mai Hoa Quyền, tập bắn súng gỗ , ném lựu  đạn giả, tập đánh trận giả qua những lùm cây bụi cỏ hay quanh những bờ ao, bờ chuôm. Thậm chí có người còn muốn học cả Anh văn để có thể hiểu được những câu khẩu hiệu bằng Anh ngữ : Vietnam to the Vietnamse mà lũ nhỏ đã diễn dịch nôm na là Việt nam to thế Việt nam mẹ sề !
Và hàng đêm những tiếng hát cũng ở đâu đó vang lên :
Anh em trong đoàn quân du kích
cùng vác súng lên nào
Đi lên ! Đi lên !
Xuyên qua rừng qua núi
Qua mây mù đêm tối
Vượt suối băng ngàn…..
Rồi có những bài hát rất kích động lòng người như bài “Người Việt Nam Xin Đừng Quên” :

Người Việt Nam xin đừng quên
Hơn sáu mươi niên
Loài lang thú chuyên quyền
Róc xương thịt mình
Người Việt Nam
Khốc tàn..điêu linh

Nghĩa là vào ngày ấy, ở nơi đây đã bừng lên khí thế của cả một giai tầng thanh niên đi xây mộng ước lật đổ ách nô lệ để mưu cầu một đời sống tốt đẹp hơn cho mọi người.
*
Trời đang ong ong nắng bỗng dịu đi và không gian heo hắt lạnh với những ngọn gió ẩm ướt gây thành những cảm giác gây gây. Rồi một cơn mưa nhẹ trút xuống. Những bụi mưa phơ phất quay trong nền trời đã ngả sang mầu xám đục. Ông Hưng tự nghĩ, mưa Xuân chỉ nhẹ nhàng như thế thôi, chẳng phải quan ngại gì cho chuyến đi.
Khi chiếc xe tới một ngã ba, ông Hưng ngồi bật dậy và nói;
- Phải đây là chỗ rẽ đi về làng Kim Hoàng hay làng Thuận Ái không ?
Chú tài xế nhanh nhẩu :
- Thưa đúng đấy. Con đường này khí hẹp nhưng xe con lách nhau cũng vừa.
Ông Hưng buồn bã:
- Thế thì cũng mất luôn cái quán gọi là quán Ba Cây ở đây rồi.
Rồi ông kể lể ;
- Gọi là quán Ba Cây vì ở đấy có ba cái cây lớn mọc chụm vào nhau. Có một cái quán nước được dựng lên ngay dưới những tàn cây ấy. Quán nhỏ thôi, mái rơm, phên nứa, bàn làm bằng chõng tre, ghế là những tấm ván dài kê áp vào. Ở đấy có nước chè tươi, có kẹo vừng, kẹo bột, có chè lam, bỏng cốm, nhưng tuyệt nhất là món bún riêu. Vào mùa đông gió lạnh, ngồi trong quán nghỉ chân, tránh cơn mưa phùn gió bấc mà húp bát bún riêu nóng bỏng và cay sè thì phải kể là tuyệt trần đời.
Tâm tình của ông Hưng lại chìm đắm trong những kỷ niệm xa xưa đến nỗi cái xe vô tới đầu làng lúc nào ông cũng không hay.
Xe ngừng lại ở ven bờ một cái ao lớn, bốn bề lót gạch thẻ bao quanh, mặt nước phản chiếu một mầu vàng óng soi bóng cả một dẫy cây đa, cây đề mọc um tùm ở gần đó. Phía bên kia bờ ao có lát những bậc cấp để làm cầu ao lên xuống. Xa hơn nữa là cái sân rộng mênh mông dẫn tới một ngôi đình với những cột gỗ lim đồ sộ và một mái ngói lâu năm đã ngả mầu rêu xám. Ông Hưng reo lên :
- Ao đình Thuận Ái ! Ôi, ngày xưa lũ nhỏ trong làng hay lén ông từ giữ đình lội xuống ven bờ ao để bắt những con ốc cơm bám vào thành gạch xây quanh ao đình. Ốc cơm đem về luộc mà chấm với nước mắm ớt, gừng thì cao lương mỹ vị cũng không sánh bằng.
Rồi  ông tắc lưỡi như nói một mình :
- Ừ, chỉ có chỗ này là còn nguyên không thay đổi gì hết thôi.
Một lát sau, hai người đi bộ trên con đường làng. Ngõ ngách quanh co thì vẫn vậy, nhưng cảnh cũ thì nay còn đâu. Những mái nhà tranh có bờ tre, cổng gỗ, có vườn tược bao quanh nay hầu như tất cả đã biến thành những ngôi nhà kín cổng cao tường có những cánh cổng sắùt mở ra như những ngôi biệt thự của nhà giầu có trên tỉnh. Ông Hưng bàng hoàng tự nhủ :
- Chết thật ! Thì ra cái nền kinh tế thị trường cũng đã xâm lấn vào tới tận đây.
Với những khuôn mặt lạ hoắc, không còn chất quê hiền lành, chất phác ngày xưa !
Ừ, thì còn tìm ra đâu bè bạn ngày xưa : những Bính, những Hoành, Nam lớn, Nam con, các cô Hoè, Thục, và nhất là Mùi, cô thôn nữ răng đen, má hồng, ngực căng sau lần yếm đỏ, hoa khôi trong làng đã có thời làm ngây ngất bao trái tim của đám trai làng. Bính thì đã hy sinh ở mặt trận Thất Khê. Hoành, Nam lớn chết trong trận Điện Biên Phủ. Mùi mất tích trong Trường Sơn. Chỉ có tin Nam con thì đang là một đại gia giầu có mãi trong tận Sài Gòn. Còn Hoè, còn Thục và một số trai tráng khác nữa thì biệt vô âm tín vì  ông Hưng chưa nghe có ai nhắc tới bao giờ.
Ông Hưng cứ tiếp tục lầm lũi đi như đang lần dò từng bước trong cơn mơ trở về  quá khứ. Và ông cũng không phải mất nhiều thì giờ để tìm ra nhà bà cụ Quất là người mà hôm nay ông cố tình tìm tới.
Căn nhà của cụ thì vẫn như xưa, mái tranh bạc phếch một mầu xám trắng vì dầu dãi nắng mưa, cái cổng gỗ ọp ẹp vẫn còn mặc dù đã phải đóng, phải chêm bằng đủ thứ vật dụng. Một con chó ốm tong teo đang nằm trên hè bỗng chồm lên, hực sủa. Cái hè trước nhà cũng vẫn còn nguyên đó nhưng mấy tấm giại đan bằng tre nay đã không còn. Cả một dẫy cánh cửa bức bàn, một loại cửa lùa cánh gỗ nay cũng đã được thay bằng một tấm bạt nylon dù cũ kỹ nhưng vẫn còn giữ được cái mầu xanh lơ chói mắt.
Ông Hưng bước lên hè.
Chẳng có ai ra đón nhưng có tiếng khàn khụa từ trong vọng ra :
- Ai đấy ?
Ra dấu cho chú tài xế chờ ở ngoài hè, ông vội vã bước vào và lên tiếng:
- Bà Quất ơi ! Cháu là Hưng, ở Hà Nội về thăm bà. Bà có nhớ Hưng không ?
Phải một lúc định thần, Hưng mới quen được quang cảnh trước mắt đang chìm đắm trong một thứ ánh sáng nhờ nhờ không đủ soi rõ một cái bàn gỗ thấp kê ngay dưới một cái ban thờ cũ kỹ.             Bà cụ Quất  đang nằm trên một tấm phản gỗ kê ở  bên cánh trái căn nhà. Phía bên kia là một cái buồng không có vách ngăn và cánh cửa, bên trong chất đủ mọi thứ gia dụng trên đời: chạn ăn, rổ bát, nong nia, thúng mủng ngổn ngang bên những bó củi gỗ và những sọt đựng than, đựng cuốc xẻng làm vườn và cả quần áo ẩm mốc, hôi sì. Một cái bếp lò kê giữa lối đi, mặc dù đã là ngày giáp tết nhưng vẫn mang vẻ tro tàn khói lạnh
Ông Hưng hơi rùng mình và tự nghĩ :
-   Đời sống của bà cụ xuống cấp tệ mạt đến thế này ư? Ngày xưa,  cái gian nhà này đâu có thế !
Nhưng cũng chẳng lạ! Đám con cháu của bà đã lên đường đi theo tiếng gọi của non sông và đã hy sinh hết cả trong các trận chiến rồi. Lòng ông Hưng đau quặn lại khi hình dung ra dáng dấp khoẻ mạnh của Hoành, con bà cụ, vẫn thường ra vào nơi chốn này, trong khung cảnh nhà cửa tinh tươm sạch sẽ, có hoành phi, có câu đối, có quạt kéo móc ngang trên trần mà chỉ cần một đứa nhỏ kéo sợi dây là cả gian nhà đều có gió mát.
Nhất là những buổi chiều hè, Hoành thường hay đứng giữa sân, sừng sững như một tay kiện tướng, hai tay cầm cái quạt thóc to gần bằng nửa cánh phản để quạt tung những bụi, cát và trấu còn lẫn lộn trong thúng thóc mà một người lực điền khác đang đứng trên ghế cao đổ xuống mặt sân gạch. Bắp thịt của Hoành lúc đó nổi lên cuồn cuộn, khuôn mặt của anh đỏ rừ dưới nắng và đầm đìa mồ hôi.
Con người tràn đầy sinh lực như thế mà đã gục ngã trên một sườn đồi ở Điện Biên Phủ. Bà Quất được tin, khóc ròng rã mấy tháng liền đến độ đôi mắt sưng mọng lên, tưởng đã bị mù hẳn nhưng may, sau còn cứu vãn kịp. Tất nhiên đôi mắt mẹ khóc con ấy đã chẳng còn được tinh tường như xưa.
Bây giờ, sau ngần ấy năm nước chẩy qua cầu, dễ ngoài chín mươi rồi nhưng bà vẫn còn ở đây, thân hình teo tóp còm cõi nhưng sức lực thì vẫn còn dai như những con đỉa cố bám lấy mảnh đất hương hoả của cha ông. Bà vẫn còn nhận ra ông Hưng. Bà quờ tay về phía ông mà cất giọng như muốn gào rú lên :
- Ới giời ơi, thằng Hưng! Hưng đấy hả con?
Trong khi ông Hưng nghẹn ngào chỉ biết gật đầu thì bà đã ngóc dậy và tiếp tục nói bằng một giọng khàn khụa có lúc hơi khó nghe:
- Mày đi đâu từ hồi đó mà sao không thấy về thăm xóm, thăm làng.
Ông Hưng ấp úng:
- Con…con bận việc nhà nước…bận công tác bà ơi….bây giờ con vừa mới được về hưu…
Bà Quất thổn thức :
- Thằng Hoành vắn số, chết từ xưa, đâu có biết hưu là cái gì. Còn nhiều đứa nữa, cái  Mùi, cái Hoè thằng Nam…cũng hy sinh hết cả rồi….Thế mà tao chẳng được chết thay cho. Tao đâu có được cái tích sự gì !
Rồi bà tu lên khóc.
Ông Hưng vội an ủi :
- Ôi, sao lại không tích sự gì ! Nhờ có bà chăm lo đời sống, từng cái ăn, từng thức uống thì chúng con mới rảnh rang đi làm nhiệm vụ. Cái sự hy sinh của bà cũng như các bà mẹ khác, biết lấy gì mà đo cho được.
Nói rồi ông tiến lại gần phản gỗ để đỡ hẳn bà cụ ngồi dậy. Đầu ông choáng váng, ngất ngư khi thấy cánh tay của bà cụ quá gầy guộc và khẳng khiu như một cành sậy. Ông xót xa nhìn lên khuôn mặt rúm ró, xanh xao của bà có những sợi tóc bạc phơ đang loà xoà rủ xuống. Bỗng ông buột miệng :
- Bà ăn uống thế nào ? Sao bà gầy ốm quá thế này ?
Bà cụ hơi nhếch một nụ cười, vành môi không đủ che hai hàng lợi đã chẳng còn lấy một chiếc răng nào :
- Có cái Mỵ, cháu ông Tửu bên hàng xóm đó. Nó chạy qua chạy lại, có gì ăn cái nấy.
Ông Hưng vừa ngồi xuống một bên mép phản, vừa thở dài :
- Thôi thế cũng may. Mà cháu đâu ngờ ông Tửu vẫn còn sống. Ngày xưa ông ấy còn thoát ly trước cả cháu mà.
Bà cụ gật đầu :
- Thế thì chốc nữa qua thăm ông ấy một tí. Bây giờ cũng chỉ như một thứ sư tử về già.
Hình ảnh anh chàng Tửu với hai hàm răng trắng bóng, mái tóc đen mượt mà với tính tình sôi nổi của anh lại chợt hiện rõ trong trí nhớ của ông Hưng. Đã có một thời ông nghe danh tiếng của Tửu được truyền tụng trong giới quân đội, nhưng rồi bẵng đi, ông không còn nhận được tin tức gì về Tửu nữa. Ai ngờ, cái nhân vật ấy lại đang nằm  ẩn nhẫn ở cái nơi xa xôi hẻo lánh này.
Còn đang mải suy nghĩ về nhân vật Tửu, chợt bà Quất cất lên một cơn ho dài làm ông Hưng vội bước qua, đỡ lấy bà cụ cho dựa vào cánh tay của mình. Lòng ông lại xót xa khi thấy sao mà thân mình  của bà gấy ốm như một thứ mèo hen.
Khi dứt cơn ho, bà mới  nói :
- Thằng Tửu cũng không còn ở xóm Giếng nữa đâu. Có muốn sang thăm nó thì chờ cái Mỵ tới, nó đưa đi.
Ông Hưng ngạc nhiên;
- Ủa, thế cái  nhà của ba gian hồi xưa ở xóm Giếng đâu ?
Bà cụ thở dài :
- Nó bán đi rồi. Giải ngũ ra, nghèo rớt mùng tơi, nó lên tỉnh đi làm thợ sửa xe. Rồi vợ nó ốm một trận thập tử nhất sinh, bán cả nhà đi mà chữa cũng không qua khỏi.
Giọng bà cụ chợt trở nên linh động hơn :
- Mà cái thằng mua lại nhà của nó, biết là ai không?
Ông Hưng còn đang lúng túng chưa kịp trả lời thì bà cụ đã tiếp :
- Lính cũ của nó chứ ai ! Ôi cái thời đổi đời, thằng dầy công, có tài thì đi sửa xe, thằng bất tài vô tướng nhưng giỏi luồn lọt thì giầu nứt đố đổ vách. Cái nhà mua rồi, nó cất lên ba tầng có hàng rào sắt bao quanh, lại nuôi cả chó bẹc-giê giữ của nữa đấy.
Câu nói của bà khiến ông hơi trạnh nghĩ tới thằng con đang còn tại chức của mình. Quả nó là một tay luồn lọt giỏi. Nhưng ông làm được gì ? Một đôi lần bố con trò chuyện, ông vừa gợi ý thì nó đã nói :
- Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào, “ông”  ơi!
Rồi nó nhún vai bỏ đi. Như thế cũng còn là …hiếu thảo ! Bởi ông có vài người bạn, cũng trong hoàn cảnh về hưu như ông, đã có lần bị con cái nói như hắt vào mặt :
-  Nhà cao cửa rộng, xe hơi  đi lại đều ở đó mà ra đó, bố ơi ! Bố có muốn ra đứng đường hay không?
Ôi, chỉ thiếu điều cắn lưỡi tự tử  nhưng ở đời có mấy ai còn đủ can đảm dể làm chuyện đó.
Cuộc trò chuyện với bà Quất xoay ra những tin tức về những con người làm ăn theo thời thế. Ông Hưng không khỏi nghĩ đến lũ con, cháu của những bạn bè xưa cũ đã hy sinh. Bây giờ chúng nó ra sao hay cũng cùng một dạng như con cái của ông, của bạn bè nơi sở làm. Ông cất tiếng hỏi:
- Thưa bà, thế còn lũ nhỏ đàn con, đàn cháu trong làng, từ ngày hoà bình thống nhất rồi thì tình hình chúng nó ra sao ?
Như một cuốn gia phả ghi chép chi li ngọn ngành về mọi sự biến đổi trong ngôi làng nhỏ bé này, bà cụ Quất rành rọt nói về thân phận của từng người quen họ hàng hay chòm xóm thân thuộc:
- Em gái cô Mùi, tức cái Ngoan, bây giờ cũng đã già rồi. Có hai đứa con gái thì một đứa chết bệnh Sida, còn đứa kia theo lấy chồng Đài Loan, mấy năm nay không có tin tức gửi về.
- Thằng Thạch, em thằng Bính cũng hy sinh ở bên mãi bên Nam Lào, nhưng trước đó cũng đã có vợ, có con. Vợ nó lấy chồng khác. Con gái nó chả hiểu làm ăn gì  mà bị  đưa vào trường phục hồi nhân phẩm mãi trong Sài Gòn.
-  Cháu ruột cô Hoà, gọi cô ấy bằng dì, cái thằng tưởng khá mà sau lại dính vào xì ke ma tuý…
- Còn thằng cháu đích tôn ông Đoái, cựu xã ủy làng này bây giờ cũng sinh trộm cướp, kéo bè kết đảng hiện đang ngồi tù.
- Còn …
- Còn…
Tai của ông Hưng thốt nhiên cứ ù cả lên. Ông không còn can đảm nghe tiếp những sự thật phũ phàng cứ tuôn ra tuột tuột từ miệng bà lão như thể chưa bao giờ nó có một dịp như thế để tuôn ra.
Nhưng bà Quất đâu phải là ma xó ! Bà chỉ như cái gốc đa, gốc đề chôn gốc, mọc rễ ở cái thôn làng nhỏ bé này để chứng kiến những chuyện vật đổi sao rời. Chỉ có điều, những trang sách ghi gói từ trí nhớ của bà sao mà hồi kết cục nó thảm thương và khốn cùng đến thế.
Ông vội vã đứng dậy xin phép tạm đi ra ngoài để nhìn ngắm cảnh vật đổi thay ở chung quanh nhà. Ông đi mau đến độ xô cả vào con chó ốm đang nằm buồn  thiu vẫn dương đôi mắt đờ đẫn nhìn ra ngoài bầu trời vẫn còn đang ẩm sì và vẫn đang còn nhỏ xuống tí tách những giọt mưa trên mái lá.
Ông bước xuống sân gạch và đi qua cái chỗ mà ngày xưa Hoành đã từng đầm đìa mồ hôi đứng quạt thóc. Ông như nhìn thấy đôi mắt rực ngời tin tưởng của Hoành vẫn còn lẩn quất ở đâu đây. Trong niềm tin ấy, đã nhiều lần Hoành nói với ông :
- Mình cứ phải hy sinh đi. Cho đời con, đời cháu nó hưởng.
Câu nói ấy của Hoành bây giờ có sức mạnh xô ông, làm ông phải ngồi khuỵ xuống bên cạnh cái bể nước mưa mọc đầy rêu xanh vẫn ẩn  dưới tán lá của cây hồng bì.
Ôi những ngày xưa cũ và những hoài bão tràn đầy vinh quang và nhiệt huyết như của Hoành, sau ngần ấy năm, sao lại chỉ nẩy sinh ra những thành quả đớn đau và tủi nhục nhường ấy.
Trước khi gục ngã, những Hoành, những Bính, những Mùi, những Hoè hay cả nghìn những con người trên đất nước này đã hy sinh đâu có biết rằng mình đã tận tuỵ một đời để chỉ đem lại cho thế hệ đàn con, đàn cháu một đời sống thảm thương đến thế. Cái mà chúng nó “ hưởng” là như thế ư?
Bất giác ông lại nghĩ tới đứa con trai của mình. Hiện nó đang làm Vụ trưởng đầy quyền uy và tiền bạc thì vào như nước chẩy.
Như thế thì trong đám trẻ của thế hệ thứ hai, thứ ba, có đứa thế này, có đứa thế khác. Nhưng dù là thế nào đi nữa, chúng nó cũng đều chỉ là sản phẩm của một thứ thành quả đang ung thối, mục ruỗng. Nếu biết sự thể cuối cùng cũng chỉ bầy ra được ngần ấy, thì những con người đã hy sinh, trước khi nằm xuống, hỏi có ai nhắm được mắt?
Khuôn mặt của ông Hưng bỗng nhiên ướt đầm đìa. Nước mắt của ông  như nhòe ra, tan vào
những giọt mưa xuân đang rơi rả rích qua từng kẽ lá.
California, tháng 10 2004
Truyện ngắn của NHẬT TIẾN
(Trong tập Truyện & Kịch Mưa Xuân  vừa phát hành)

Bài Xem Nhiều