We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 22 January 2014

Truyện Ngắn : Ăn Tết Trên Thuyền


Gia đình tôi đang làm ăn ở thành phố Hải Phòng thì xẩy ra cuộc chiến tranh Pháp-Việt bắt đầu từ ngày 26-12-1946.
Bố mẹ tôi quyết định phải rời thành phố về quê lánh nạn vì trong thành phố lúc đó, hai bên đánh nhau dữ dội lắm.
Cũng giống như ở Hà Nội, Nam Định và nhiều thành phố khác, toàn dân Hải Phòng, trong đó có bố mẹ và anh chị em chúng tôi, đã đứng lên diệt thực dân Pháp để giành Độc lập cho nước nhà. Bố tôi cùng với một nhóm đồng chí (Việt Nam Quốc Dân Đảng) đi cướp súng của Pháp ở Sáu Kho, Cảng Hải Phòng, chỉ lấy được dăm khẩu súng trường và một khẩu tiểu liên Thompson nhưng trong nhóm anh em, một người chết, ba người bị thương, trong đó có bố tôi. Bố tôi may chỉ bị nhẹ, hai người kia trọng thương, gia đình họ chuyển họ đi đâu chúng tôi cũng không rõ, chỉ có bố tôi là biết nhưng ông không cho gia đình biết những chuyện ấy bao giờ.
Nhờ mẹ tôi và các anh chị tôi săn sóc, bố tôi đã lấy lại sức, vết thương lành dần không làm độc (nhờ thuốc Dagenan uống và bôi) rồi bố tôi cùng gia đình tản cư ra khỏi thành phố Hải Phòng, lúc đó không khác một lò lửa và cái máy chém.
Mục tiêu cần phải tiêu diệt là bọn mũi lõ, mắt xanh và tất cả những đồn binh, trại lính, quân nhu, quân cụ
Tôi còn nhớ một trại lính Pháp ở trên đường xuống Cầu Rào (Hải Phòng) cháy mấy ngày đêm, hình như cháy một kho xăng, khói đen bốc lên mịt mù một góc trời. Nhà cất sát nhau trên những dẫy phố bị đục tường để đi thông qua nhau kháng chiến, vì thế không căn nhà nào còn nguyên vẹn vì tường lở, mái sập, hình ảnh chiến tranh phô bày ra khắp mọi phố xá, ra cả ngoại ô, cho đến lùm cây bụi cỏ.
Chủ tịch nước VNDCCH là ông Hồ chí Minh lại ra lệnh “tiêu thổ kháng chiến” thực hiện kế sách “đồng không nhà trống” để bao vây quân Pháp nên 70-80% nhà cửa, tài sản của dân chúng lúc đó bị phá hủy tan nát hoặc làm mồi cho ngọn lửa. Căn phố bố mẹ tôi mua ở đường Chavignon, số nhà 37 (dân chúng gọi nôm na là phố Cố Đạo vì hình như dẫy phố này được xây cất do Tòa Giám Mục Hải Phòng, lúc đó còn Đức Cha Lễ (tên VN) và các Linh mục ngoại quốc như Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Bồ đào Nha v.v...) căn phố này khi chúng tôi rời khỏi cũng đã bị các anh em Tự Vệ Thành đục thông tường làm các ổ kháng chiến.
Cuối cùng, VM rút lui an toàn ra khỏi thành phố nhường quyền làm chủ cho Pháp. Pháp và lính của Pháp không chết bao nhiêu vì súng đạn và cơ giới của chúng tối tân hơn VM rất nhiều. VM, đối lại, dù vũ khí thô sơ nhưng đánh theo lối du kích, kiểu chó cắn trộm khi đối phương không ngờ, lại lẩn như những con chuột trong những căn nhà ăn thông với nhau, hơn nữa lực lượng còn quá ít ỏi chỉ xua dân chúng xung phong làm bia đỡ đạn, nên VM cũng bảo toàn được lực lượng vốn chưa có bao nhiêu. Chỉ dân chúng chết, thành phần thanh niên xung phong chết nhiều nhất vì thanh niên với bầu máu nóng, với nhiệt tâm đối với Quốc gia Dân tộc (chứ không phải với Việt Minh Cộng sản vì lúc đó hầu hết dân Việt chưa biết CS là gì, một số biết thi rất ghét), họ không thể ngồi nhìn kẻ xâm lược ù lì ngoan cố kéo dài ách đô hộ trên đầu trên cổ dân Việt. Họ tự tổ chức đoàn ngũ (giống như bố tôi và các bạn đồng chí), đặt ra người chỉ huy và bày mưu tính kế đi cướp súng, cướp đạn của Pháp để diệt Pháp. Cán bộ VM đã bắt được liên lạc với họ và những lực lượng này trở nên lực lượng chủ yếu diệt Pháp lúc đó vì thực sự, một năm trước, khi cùng toàn dân cướp chính quyền, lực lượng VM chỉ lèo tèo một, hai tiểu đội với dăm khẩu súng trường Garant bắn viên một của Pháp.
Trong cơn binh lửa, gia đình tôi may mắn thoát ra khỏi thành phố Hải Phòng mà nhiều gia đình ngưòi thân, quen bị kẹt lại vì súng đạn quân Pháp bắn ra rất dữ dội. Một gia đình bạn của bố mẹ tôi, gia đình hai bác phán Quế, có nhà ở cùng phố, khi mới có tiếng súng thì hẹn hò với bố mẹ tôi là sẽ cùng đi tản cư với nhau, nhưng rồi khói lửa súng đạn dữ dội quá, mạng người thua mạng súc vật, ai nấy bắt buộc phải chạy cho nhanh ra khỏi thành phố nên xẻ đàn tan nghé, có những người đến lúc chết cũng không được gặp lại nhau.

Chặng đầu tiên gia đình tôi nghỉ lại là tỉnh Kiến An. Gọi là tỉnh nhưng đó là một thị trấn nhỏ, thưa thớt. Bác Hữu, anh họ bố tôi, đang sinh sống ở đó với nghề sản xuất vịt con, trứng vịt và làm nông. Đàn vịt đang đẻ của bác lúc đó cả ngàn con, mỗi ngày thâu được dăm, bảy trăm trứng nhưng bác Hữu nói số lượng lúa, bắp cung cấp cho chúng ăn cũng không ít gì. Vịt ăn cho mập nhưng không chịu đẻ hoặc đi đẻ bậy bạ ở ruộng của người ta, ấy là bị lỗ. Bác nuôi ba thằng bé chăn vịt khoảng 13, 14 tuổi cho ăn uống tử tế và trả công bằng thóc cho bố mẹ chúng.
Kiến An tương đối ít giao chiến hơn Hải Phóng ít ra là cho đến sáng hôm sau, sau khi gia đình tôi rời Kiến An.
Người chạy ngược, kẻ chạy xuôi đầy đường. Xe ngựa, xe bò, xe đạp, lâu lâu mới thấy một chiếc xe đò. Đông nhất là gồng gánh, đi bộ lôi thôi, lếch thếch. Tôi chợt nhớ đến đàn vịt của bác Hữu dưới những ngọn roi của mấy đứa chăn, mỗi đứa một bên, lùa đâu thì đàn vịt chạy ùa vào đó. Dù còn nhỏ, tôi cũng biết nghĩ là dân tộc tôi, một dân tộc biết cương thường, đạo lí, biết cái nhục vong quốc, đã từng vùng lên với các bậc anh hùng của mình như vua Quang Trung, Đức Thánh Trần, vua Lê Lợi v.v... đánh đuổi xâm lăng, đem lại Độc lập, Vinh quang và thanh bình cho đất nước mà đến giờ này lại bị các mưu đồ của hai phe Tư Bản và Cộng sản tranh giành làm bá chủ thế giới, dưới chiêu bài ý thức hệ, lùa dân tộc Việt vào quĩ đạo của chúng y như một đàn vịt để rồi tan tác phân li, huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, máu chảy thành sông; xương chất thành núi.
Sau hơn một tuần đi bằng đủ thứ phương tiện và đi tắt đi băng qua nhiều xóm thôn, làng mạc, cực khổ trăm bề, mặc dù bố mẹ tôi đã chịu khó chi tiền xe cộ, ăn uống và trả công cho những người dẫn đường bởi nếu không có họ, chúng tôi không biết chỗ nào vào chỗ nào, có khi sa vào giữa trận địa mà không hay hoặc đi vào con đường cùng không có lối ra v.v...bởi lúc đó chưa có bản đồ, mọi sự đi lại chỉ dùng trí nhớ với cái cột mốc là cây cổ thụ này, cái miếu, cái đình kia làm chuẩn.(hon-viet.co.uk trang Văn học NT)
Chúng tôi về đến nguyên quán với nỗi mừng không bút nào tả xiết. Tôi nhìn thấy cái cổng làng và cây đa đầu làng mà trong lòng xúc động đến rơi lệ. Nơi đây là chốn chôn nhau cắt rốn của tổ tiên, ông bà, cha mẹ và của tôi làm sao tôi có thể quên được?
Vẫn là tuổi thiếu niên mới lớn, dở dở ương ương, ăn không no, lo chưa tới với chút xíu vốn liếng tiểu học, học rồi bỏ, bỏ rồi học lại vì thời thế và sinh kế gia đình, nhiều lúc ngồi nghĩ, với tình thế chiến tranh ngày một lan rộng, với việc mưu sinh bức thiết hàng ngày, có lẽ rồi tôi cũng như nhiều thanh, thiếu niên trong làng, trong xóm, sẽ phải đi chiến đấu rồi may ra sống sót mà về, mong cho có vài sào ruộng ở làng, cày sâu cuốc bẫm, tay làm hàm nhai sao cho yên phận một anh nông dân. Thế là xong, chứ mong gì được học được hành, bằng này cấp kia nở mặt nở mày với đời.
Quê tôi lúc đó còn khá yên mặc dù đã nhen nhúm hai phe Quốc gia và Cộng sản ở từng làng, từng tổng để sau này bùng lên tàn sát nhau. Chúng tôi ở quê được vài tuần thì sắp đến cái Tết Mậu Tí (1948, cách đây vừa đúng 60 năm, một lục thập hoa giáp), vào khoảng hơn nửa tháng nữa.
Chú Ba, chú kế với bố tôi, hỏi mẹ tôi cho tôi đi thuyền theo chú vào Thanh Hóa buôn dưa hấu một chuyến bởi tôi có nói riêng với chú để chú nói với mẹ tôi cho tôi đi.
Sau lần suýt chết ở Sáu Kho, bố tôi liên lạc lại với anh em trong nhóm. Lần này, ông dặn dò mẹ tôi rồi đi Thái Bình; mọi việc trong gia đình đều do mẹ tôi quyết định. Mẹ tôi chịu ảnh hưởng bố tôi, thường quan niệm con trai phải đi ra ngoài xã hội va chạm với đời thì mới học hỏi được nhiều điều hay. Bố mẹ tôi không muốn anh tôi và tôi tối ngày cứ ru rú trong nhà, quanh quẩn xó bếp, rốt cuộc chẳng biết cái gì. Vì vậy, khi nghe chú Ba đề nghị cho tôi đi theo chú vào Thanh Hóa buôn dưa, bà bằng lòng.
Vài bộ quần áo bỏ vào cái túi xách, một cái mũ cói đội trên đầu, chân dận đôi bata mẹ mới mua cho ở Hải Phòng, tôi chào mẹ, các anh chị rồi theo chú Ba và hai thằng em trai con của chú, Bình và Bảng, 22 và 20 và Bảo, con gái út của chú đã 17 tuổi, cùng nhau xuống thuyền. Ngoài ra còn có chú Dinh, một người làm công cho chú Ba, năm đó cũng khoảng trên 50 tuổi, rất quen sông nước, đã vượt biển vào Thanh Hóa nhiều lần và một anh chân sào nữa, anh Vỹ, để phụ với Bình và Bảng. Coi như tôi ít tuổi nhất, kế tôi là Bảo, con gái chú.
Đầu tiên, các chân sào phải dùng sào đẩy thuyền đi trong sông nhỏ ra sông Ninh Cơ, có khúc phải đeo giây thừng vào vai mà kéo. Ra đến sông Ninh Cơ, khúc Hành Thiện, công việc đã nhẹ bớt một phần vì sông lớn (nhánh của sông Hồng Hà), tính toán nước ròng mà đi. Gió không lớn chỉ hiu hiu, mùa này ra biển là xuôi nước nên mấy anh chân sào lúc này có quyền ngồi nghỉ, hút thuốc vặt, tán gẫu. Khúc sông nào có thể kéo buồm thì chúng tôi kéo buồm lên đi cho nhanh. Khúc nào không thuận gió, không thuận nước thì lại phải kéo giây và chèo vì lúc đó chưa thuyền nào loại này có máy đuôi tôm như ngày nay. Hơn nữa, người lái thuyền phải biết tính con nước lên hoặc nước ròng và hướng gió mà cho thuyền đi hoặc đậu lại chờ. Ngư phủ nước ta dạo đó đã biết lợi dụng thiên nhiên rất nhiều nên dù chưa có máy móc, họ cũng hành nghề thoải mái.
Đi thuyền thế này phải ăn ngày ba bữa, bữa nào cũng cơm, mới chịu nổi. Gió biển, gió sông mát rượi lại hoạt động, cất nhắc hoài nên rất mau đói. Tôi không hiểu thím Ba mua được thứ gạo đỏ mới gặt mùa rồi ở đâu mà cơm ăn cứ ngọt lịm như mía hấp. Hột gạo mầu đỏ hồng trông rất đẹp, hạt nào hạt ấy mập tròn chứ không dài như gạo trắng. Lúc chín, cơm dẻo và mềm, đơm vào cái chén men trắng trông đẹp và dù còn no cũng muốn ăn vì cái mùi ngát ngát thơm thơm, cái vị bùi bùi, ngọt ngọt ăn cơm không cũng thấy ngon. Gạo có nhiều nhựa nên nấu ít nước nhưng cơm luôn luôn mềm dù để nguội từ sáng đến chiều.
Mùi thơm của gạo đỏ không phải là mùi thơm gạo tám soan quí phái nhưng là mùi thơm nồng nàn, ấm áp và đậm đà của người nông dân.
Khởi hành từ 6 giờ sáng, thuyền đi qua Lạc quần, cống Múc, Ninh Cường (nơi có trường Latinh), xuống tới Quần Liêu thì tối. Chúng tôi cho thuyền vào kênh và cắm sào ngủ ở đó.
Kênh Quần Liêu là con sông đào (dài khoảng hơn cây số, tôi không nhớ rõ lắm) để nối hai con sông Ninh Cơ và sông Đáy (khúc Quần Liêu là gần nhau nhất) cũng tựa như kênh đào Panama, nối Thái bình Dương và Đại tây Dương với nhau. Nhờ con sông này mà thuyền bè qua lại đỡ được mấy ngày thuyền, nếu không, thuyền phải ra cửa biển và vòng trở lại. Chú Ba nói chú có nhiều bạn quen ở trên bờ nhưng chú không muốn lên đó ngủ qua đêm, e làm phiền người ta. Để lúc về, nếu còn thì giờ, chú sẽ cho anh em chúng tôi lên chợ Quần Liêu chơi một lúc cho biết.
Ngày hôm sau chúng tôi qua sông Đáy. Con sông này lớn và chảy xiết hơn sông Ninh Cơ. Có lẽ lúc đó chưa có bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” của nhà thơ Quang Dũng, hay đã có mà chưa phổ biến đến vùng quê tôi nên tôi không biết chăng? Nhưng khoảng mấy năm sau, cứ nhìn thấy sông Đáy, tôi lại nhớ mấy câu thơ dễ thương của ông:

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phú Quốc
Sáo diều hiu hắt thổi đêm trăng
Và:
Bao giờ ta gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta?

Giấc mơ của Quang Dũng cũng như của hàng chục triệu người Việt mãi mãi vẫn chỉ là “giấc mơ thôi” vì đất nước chưa bao giờ được thanh bình thực sự, sắc mầu chinh chiến tới năm 1975 không còn nữa nhưng người dân vẫn đói khổ lầm than, vẫn chưa được hưởng tự do, dân chủ, vẫn bị đè nén, bức hiếp, thua một con chó tại Âu Mỹ! Ngay cá nhân Quang Dũng, nguyên Tiểu đoàn trưởng TĐ Tây Tiến, chỉ vì mấy bài thơ có đôi chút lãng mạn, ông bị hạ tầng công tác, bị ruồng bỏ đau buồn quá mà sinh bệnh rồi qua đời. Ông đã hi sinh hết cả cuộc đời cho chủ nghĩa CS (mà lúc đó ông không biết) nhưng rồi bọn cầm đầu không còn nhớ gì công lao vào sinh ra tử của ông, hất ông xuống một cách nhục nhã!).

Đi hết sông Đáy, tới cửa sông, bao la bát ngát rộng lớn vô cùng. Con thuyền nhỏ nhoi của chúng tôi chẳng thấm thía gì.
Ra khỏi cửa sông, chúng tôi ra biển. Chú Ba nói cho tôi biết đi đường biển này vào Thanh Hóa thì gần hơn đường sông nhiều nhưng khó đi hơn. Dù không có bão gió lớn nhưng mấy hôm nay biển động, con thuyền trườn lên tuột xuống khá mạnh. Rất may dạo đó, tôi bớt bị say sóng, còn Bảo thì nằm thẳng cẳng nhưng may không đến nỗi ói mửa. Chú Dinh cầm lái, chú giữ cho thuyền luôn luôn gối sóng và lướt theo sóng nên thuyền không bị vặn ngang, không gây ra những tiếng “rắc,rắc” chuyển động mạnh vào sườn thuyền làm vỡ thuyền.
Thuyền vào cửa sông Mã lúc trời vừa tối. Xong được chặng biển nguy hiểm, gian nan, chú Ba và chúng tôi đều mừng. Chú Dinh nói:
“Dù đã vượt biển và quen đi sông nước nhưng không thể thị tài, coi thường thiên nhiên. Bây giờ đang sóng lặng, gió êm đó, nhưng lát nữa, một cơn giông bất thình lình ụp tới, rồi mưa bão thế là thuyền có thể đắm như chơi. Vì vậy luôn luôn phải đề phòng!”
Chúng tôi bỏ neo để thổi cơm ăn và ngủ qua đêm vì suốt ngày vượt biển, thuyền chao đảo không thể thổi cơm được vả lại Bảo cũng nằm say sóng suốt ngày. Đi thuyền, canh rau ít ăn vì rau để lâu hư cũng có mà phần lớn vì chật chội, khó nấu nên chỉ nồi cơm và ấm nước chè khô là quan trọng, người đi thuyền chỉ cần hai thứ đó. Thức ăn mặn có cá khô hấp nồi cơm, hoặc rang trong nồi rang, một vại cà ghém hoặc giưa chua đã muối sẵn từ nhà, một hũ mắm tôm, hoặc mắm tép, mắm cáy, cứ thế cơm gạo đỏ đơm ra, dùng tay gỡ vài mảnh cá khô, cơm nóng nhai với cá chim khô, nó ngon làm sao! Lại còn giưa chua chấm nước mắm chắt, cà ghém mắm tôm, nồi cơm Bảo nấu to tướng mà bữa nào cũng hết nhẵn. Ăn xong, làm hùng hục, bắp thịt nổi cuồn cuộn, sáng mắt trong lòng, một bát nước chè khô đoạn hậu ấy là có thể nhảy xuống biển giỡn chơi với cá mập!
Ngày tư ngày Tết nói đùa cho vui vậy thôi chứ anh Vỹ, Bình, Bảng và tôi, bốn thằng thanh niên khoẻ mạnh và trai trẻ, thỉnh thoảng vẫn thấy đàn cá mập (cũng gọi là cá nhám, cá mập nhỏ) đi theo thuyền rình mò cả mấy cây số. Chắc chắn ở sâu hơn cũng có những con bố, con mẹ to hơn nhiều đi theo con. Cá mập luôn luôn đói, cạp cả cây cả gỗ nuốt cho đầy bụng nên thấy người đi qua đi lại trên thuyền, chúng thèm nhỏ rãi. Bơi qua bơi lại nhởn nhơ coi rõ hiền lành mà mình không may rớt xuống thì chúng xực mình chỉ mươi lăm phút, xương cũng chả còn.
Khoảng 9 giờ sáng vào ngày thứ 5 của chuyến đi, chú Ba để cho chú Dinh coi thuyền, ngoắc bọn trẻ tụi tôi lên mấy vườn dưa mua dưa hấu.
Dưa hấu bạt ngàn san dã, nhìn đâu cũng thấy dưa hấu. Giây trên luống đã tàn, đã héo chỉ còn lổm ngổm trái là trái. Chừng vài luống ngắn ngắn, nếu đếm cũng vài, ba chục trái, giống dưa quá sai trái! Người đàn bà tên Ninh, chủ vườn, tiếp đón chúng tôi rất niềm nở. Giọng Thanh hóa của bà tôi nghe không quen nên có tiếng bắt không được. Tôi chợt nhớ bố tôi nói người Tàu có cả mấy chục thứ ngôn ngữ (ông đã sang Tàu, Côn Minh, Vân Nam, Thượng hải...)và có những vùng không hiểu nhau, phải bút đàm chữ Hán mới hiểu.
Bà Ninh mời chúng tôi ăn nếm dưa xem ngọt ngon ra sao. Nhìn bà thoăn thoắt bổ dưa với hai bàn tay thô kệch, gân guốc không có vẻ gì là bàn tay của phụ nữ, tôi nghĩ đó cũng là chuyện bình thường đối với người nông dân chân lấm tay bùn. Nhưng không phải, mãi đến chiều, tôi mới hay cớ sự.
Một quả dưa ruột đỏ tươi. Quả này nhiều người thích vì họ tin rằng dưa đỏ thắm như thế, đầu năm bổ ra, cả năm sẽ được may mắn. Quả kia ruột vàng như nghệ, trông cũng đẹp. Cả hai quả đều ngọt. cát lớn, da xanh đen, nhẵn thín, to như cái lu nhỏ.
Tôi để ý những luống đất thấy đất pha nhiều cát, thảo nào dưa chả ngọt. Dưa hấu chỉ thích đất cát, ghét đất thịt. Chú Ba đặt cọc bà Ninh mua hơn trăm trái, hẹn mai bà cho người gánh dưa xuống thuyền. Xong, chú Ba lại dẫn chúng tôi đi mấy khu vườn khác. Mục đích của chú là mua loại dưa ngon đem về bán mới chạy. Chú nhất định không mua dưa xấu, dù giá có rẻ một nửa.
Buổi trưa hôm đó, khi đi ngang qua mấy thửa ruộng, tôi rất ngạc nhiên khi thấy toàn đàn bà theo trâu hoặc bò cày ruộng. Vào căn nhà gần đó hỏi xin nước uống lại thấy một người đàn ông đang nằm trên võng ru con cũng y như ông chồng bà Ninh sáng nay là người đầu tiên chúng tôi vào hỏi mua dưa.
Tôi bày tỏ sự ngạc nhiên của tôi với chú Ba buổi tối hôm đó lúc ăn cơm thì chú giải thích:
“Vùng này (chú có nói tên nhưng lâu quá không nhắc tới, tôi đã quên mất địa danh, hình như nó cũng không xa với Ba Làng) người ta còn theo chế độ mẫu hệ trong gia đình. Việc nặng nhọc như cày bừa, khuân vác, làm nhà, bổ củi...cũng như quyền quyết định những việc hệ trọng trong gia đình là thuộc về người đàn bà. Đàn ông chỉ ẵm con, cho con ăn, nấu nướng và các việc nội trợ khác. Tóm lại, vai trò của người vợ, người mẹ ở đây dành cho đàn ông và vai trò người chủ gia đình, người chồng, người cha dành cho đàn bà!”
Tôi nói đùa với chú, có Bình, Bảng và anh Vỹ phụ họa, tán thành:
“Như vậy làm đàn ông ở đây sướng hả chú? Mưa không đến mặt, nắng không đến đầu. Cơm no bò cưỡi, nằm võng ôm con cả ngày!’
Chú Ba cười:
“Ừ thì dăm tuổi nữa mày vào đây lấy con vợ đi! Chao ơi, đừng có ham. Coi vậy chứ không sướng đâu. Như chú đây, làm gì thì làm chứ cứ ôm con và thổi cơm, rửa bát, quét nhà thì chú chịu. Đàn bà ở đây họ khôn đấy. Họ đẩy “việc nặng” cho đàn ông.”
Nghe chú nói đùa, chúng tôi cười ồ. Lúc đó tôi nghĩ đàn bà ở đây ham quyền bính trong gia đình vì cái quyền này cho phép họ làm chủ hết cả, cai quản hết cả, từ việc nhỏ đến việc lớn. Nhưng quyền lợi đi đôi với bổn phận, mặc nhiên họ phải đảm đương việc mưu sinh và gánh vác mọi việc nặng nhọc cho người đàn ông, kẻ thứ yếu chỉ biết làm những việc lặt vặt trong gia đình.
Sau này, khi lớn khôn hơn, tôi mới nghiệm ra người đàn bà ở hầu hết mọi nơi đã tiến lên một bực. Họ vẫn áp dụng chế độ mẫu hệ để cai quản gia đình nhưng họ khéo hơn người đàn bà ở vùng tôi đến mua dưa là họ không phải cày bừa nặng nhọc mà vẫn “cơm no nằm võng ôm con cả ngày” hay đúng hơn, họ dành cho chính họ những công việc nhẹ nhàng, còn những việc nặng nề, họ lùa cho đàn ông. Đó chính là chế độ siêu mẫu hệ, nhất là hiện nay, ở Hoa Kỳ, nơi tôi đang ngồi viết truyện này hầu bạn đọc. Và hầu như chủng tộc nào cũng có những người đàn bà khéo khôn như thế. Có người nói:”Thời này là thời của phụ nữ” quả không sai.
Chiều hôm sau, khi thuyền dưa đã đầy, lại chuẩn bị đầy đủ gạo củi, đồ ăn, nước uống, chú Ba ra lệnh nhổ sào quay về.
Chúng tôi vượt biển bằng chèo và buồm. Rất may là biển êm nên đỡ lo. Gió nhẹ nhẹ có thể dùng buồm, còn 4 người, Bình và Bảng ở phía trước, chú Dinh và Vỹ ở phía sau, nhìn nhau chèo đều và thật mạnh. Chú Ba giữ bánh lái, Bảo lo cơm nước dưới khoang vì thuyền lướt rất êm, Bảo không say sóng như lúc đi. Riêng tôi ngồi tựa cột buồm ngắm trời, mây, nước. Tôi bảo chú Ba đang chỉ huy binh lính chèo thuyền:
“Chú chỉ cho con lái đi chú!”
Chú Ba cười hiền:
“Ngồi ngắm biển đi! Khi Vũ lớn, chú mới chỉ cho Vũ được.”
Tôi cố năn nỉ:
“Con nghĩ con lái được. Con đã cầm lái trong sông. Chú cứ cho con thử. Đi chú!”
Chú Ba thấy biển êm, thuyền lướt theo chèo và gió cũng nhẹ không có nguy hiểm gì, vả lại tôi là đứa cháu cưng nhất nhà của chú nên chú nhượng bộ:
“Lại đây! Phải để ý từng chút, không được lo ra nghe không?”
Tôi cầm bánh lái để chú đứng bên cạnh giảng giải và tôi làm theo lời chú. Bao nhiêu kinh nghiệm đi sông nước, chú truyền đạt cho tôi một phần. Tôi say mê đứng lái, có cảm tưởng như vị thuyền trưởng hay một ông tướng thời Đức Trần hưng Đạo đánh trận Bạch đằng giang hay vua Quang Trung Nguyễn Huệ, trận Rạch Gầm, Xoài mút.
Ngày 24 tháng chạp chúng tôi về đến kênh Quần Liêu. Nhưng kìa, sao thuyền bè chạy túa ra như lá tre, khói bốc lên hai ba đám và tiếng súng nghe nổ “đùng, đoàng” ở trong làng? Chú Ba ra lệnh cho tụi tôi đi chậm chậm xem tình hình ra sao kẻo bị lọt vào giữa trận chiến của đôi bên thì khổ. Gặp được một chiếc thuyền nhỏ từ trong bơi ra, chú Ba đón hỏi, người trên thuyền nói, quân đội Pháp nhảy dù xuống kênh Quần Liêu.
Chú Ba tái mặt. Làm sao chú có thì giờ và can đảm bơi trở ra biển để trở lại sông Ninh Cơ? Ai đã đi thuyền bè qua cũng biết, Quần Liêu như cái họng thông thương duy nhất, mọi tầu thuyền lớn nhỏ đều phải qua nếu không muốn tốn gấp năm, gấp bảy thì giờ và đường đất.
Thuyền lớn, thuyền nhỏ càng lúc càng đổ ra nhiều. Người ta chạy giặc, tản cư, không lẽ chúng tôi lại đâm đầu vào? Thế là chú Ba phải cho thuyền chạy ngược trở lại (con đường vừa đi) khoảng vài cây số, nằm chờ tình hình. Chúng tôi hi vọng ngày hôm sau, ngày 25 Tết, kênh Quần Liêu được thông thương để chúng tôi có thể đi qua. Sang đến sông Ninh Cơ, dù sao cũng gần nhà, dễ xoay xở hơn.
Nhưng xưa nay, trời chẳng chiều người. Kênh Quần Liêu không vào được mà chúng tôi còn phải dời thuyền xuống phía Lạc Đạo cách Quần Liêu khá xa để tránh vùng chiến trường đôi bên đang thanh toán lẫn nhau.
Súng nhỏ vẫn nổ đùng đoàng cả ngày lẫn đêm làm như hai bên đang canh chừng nhau. Thỉnh thoảng một trái bích kích pháo nổ thật lớn. Ban đêm hỏa châu soi sáng cả vùng con kênh. Chúng tôi mệt quá, thiếp đi một lúc rồi lại tỉnh dậy, không dám ngủ thẳng giấc, sợ chiến trường di động tới, chạy không kịp.
Ngẩn ngơ như chiếc bách giữa dòng, ăn chực nằm chờ lại phải bơi thuyền đổi chỗ, tránh những sự nhòm ngó, rình mò của cả đôi bên, chúng tôi giật mình thấy đã 28 Tết. Chú Ba là người lo lắng nhiều nhất vì thuyền dưa kẹt đó, vài ngày nữa hết Tết, dưa bán mất giá, lỗ chổng chơ. Còn tôi thì chắc mẹ đang mong tôi từng ngày, từng giờ bởi mẹ luôn luôn mong muốn gia đình xum họp đầy đủ vào những ngày đầu năm. Thằng con út cưng của mẹ sao lại có thể vắng mặt được?
Lòng dạ tôi bồn chồn nóng như lửa đốt, có lẽ vì mẹ tôi đang lo cho tôi và bà chẳng biết tôi đang ở đâu, còn sống hay đã chết? Có lúc tôi muốn hỏi chú Ba cho tôi lên bộ đi về nhà (cũng khoảng hơn 30km, đi một ngày) nhưng nghĩ kĩ, tôi thấy cũng khó.
Tuổi thiếu niên như tôi đi đường, nhất là đường xa, bên nào cũng có thể nghi tôi là giao liên, liên lạc viên, có thể bắt bỏ tù, gán cho tội này tội khác, một trăm thứ tội, nếu họ muốn. (Thằng bạn cùng tuổi với tôi, thằng Phường, ở xóm Tây, Trà Đông, chỉ vì để trong túi một cái bản đồ vẽ tay đường đi từ Trà Lũ qua Kiến xương, Đống Năm, Thái Bình - nhà chị gái, anh rể nó ở đó nhưng nó chưa đi bao giờ - Nó đi lối đò Sa Cao, qua đò, bị đồn du kích ngay bến đò bắt đi 5 tháng nay chưa được tha về, bố nó đi tìm khắp, hỏi không ra, còn mẹ nó khóc đến gần lòa cả hai con mắt.)
Nếu không may ở vào trường hợp khốn khổ khốn nạn đó, lấy ai bảo lãnh để xin cho tôi về? Bố tôi không có nhà vả lại cả hai bên đều đã bắt giam bố tôi nhiều lần vì tội chống đối họ, cả Pháp và Việt Minh. Những bất trắc xẩy ra trong thời kì chiến tranh là không thể nào ngờ được, không ai có thể biết trước cái gì sẽ xẩy ra!
Hơn nữa, dù mới mười mấy tuổi đầu, tôi cũng đã biết nghĩ. Khi đi vui vẻ có nhau thì lúc hoạn nạn cũng phải cùng nhau chia sẻ. Chú Ba, các em tôi và chú Dinh, anh Vỹ, toàn những người ruột thịt, thân thiết, tôi nỡ nào bỏ họ lại để chạy một mình, cho dù tôi may mắn tìm về được đến nhà? Chú Ba thương quí tôi như con nên mới cho đi chứ tôi biết chú cũng sợ trách nhiệm đối với bố mẹ tôi khi cho tôi xuống thuyền, nhất là để vượt biển vào Thanh Hóa!
Có một ngôi chợ khá đông ở khoảng Giáo Phòng, Lạc Đạo (hai giáo xứ Công Giáo), người ta vẫn họp chợ Tết mặc dù phải đề phòng máy bay bà già của Pháp đảo tới và đại bác theo sau ngay. Chú Ba bảo anh Vỹ, chú Dinh và Bình, Bảng gánh mấy đôi dưa lên đó xem bán được không. Chú hạ giá xuống một chút (người VN đã biết sale từ thời đó) nên các bà đi chợ đến lựa mua đông đảo.
Cả khu vực truyền miệng túa ra mua dưa hấu của chúng tôi, đoán phỏng chừng, họ cũng tiêu thụ được gần nửa thuyền. Chú Ba đã bớt lo vì tiền vốn dưa đã thu lại được hơn phân nửa. Bán thêm hai buổi 29 và 30 Tết nữa thì coi như tạm đủ vốn nhưng chưa có lời. Có người mách còn một cái chợ nữa ở cách đó hơn mười cây số, chợ Quỹ Nhất, lớn hơn chợ này nhiều.
Thế là chú Ba tính toán. Chú mướn hẳn một cái lều ở Giáo Phòng để đem dưa lên xếp vào, ngày hôm sau Bình và Bảo đứng bán. Còn đại đội binh mã gồm chú Ba, chú Dinh, anh Vỹ, tôi và Bảng thì bơi thuyền suốt đêm xuống chợ Quỹ Nhất bày dưa ra bán phiên chợ 29 Tết sáng hôm sau.
(còn một kì)
Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC

LÀNG HUỆ : Mừng Xuân An Lạc

 
Thưa quý vị trưởng thượng, quý thân hữu!
Người Việt mình dù ở  Nam Bán Cầu thời tiết nóng nảy giữa mùa hạ hay  Bắc Bán Cầu
lạnh lẽo đang buổi trọng đông , đâu đâu vẫn đang xôn xao chờ đợi  Tết Âm Lịch truyền
thống Giáp Ngọ ngày 30 tháng 1 năm 2014 sắp đến.  
Chúng tôi xin đại diện nhóm bạn trong Làng Huệ mời quý vị vào http://langhue.org để
thưởng thức chương trình NHẠC MÙA XUÂN trong lúc chờ đợi Tết đến, Xuân về.  
Kính chúc tất cả quý vị một năm mới vui vẻ, mạnh khỏe, và mọi điều như ý nguyện.
Thân kính,
Ái Hoa
~~~~~~~~~~~~~~~~~~
 
                               http://langhue.org/
"Người HĐ không bao giờ bị hoảng hốt bởi ngạc nhiên,
họ biết chính xác phải làm gì khi mọi sự xẩy ra một cách bất ngờ."
                                                                           Baden-Powell 
~~~~~~~~~~

Mừng Xuân An Lạc

MusicIcon
Thơ: Hải Đà Nhạc: Nguyễn Tuấn Hòa-âm: Quang Đạt Tiếng hát: Hoàng Quân và nhóm bè Cadillac  
---------------------------------------------------------------
  

Hồ Đinh :Nói Chuyện Ngựa Năm Ngọ


Ngựa là một trong sáu con vật thân yêu rất gần gũi với người . Ngựa nổi tiếng từ cổ đến kim, suốt Đông sang Tây vì những gắn bó mật thiết với nhân loại . Ngựa là phương tiện giao thông hữu hiệu khi xe cộ tàu bè, phi cơ chưa được phát minh . Trong chiến tranh cổ điển, đoàn Kỵ Binh của La Mã, Ai Cập, Á Rập, Hung Nô, Mông Cỗ đã dẫm nát khắp nơi trên trái đất . Người Trung Hoa, Việt Nam đã sớm biết lợi dụng ngựa trong các chiến pháp, nổi tiếng nhất là Kỵ Mã Liên Hườn Giáp Trận của Hô Diên Chước thời Mạt Tống (Lương Sơn Bạc) . Bao nhiêu Chiến Mã Đông Tây đã đi vào huyền sử như con ngựa thành Troy (La Mã), ngựa sắt của đức Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương (Việt Nam), Ngựa Xích Thố, Thanh Long, Thoại Phong Câu, Kim Long, Ô Chùy …của các danh tướng cổ Trung Hoa như Quan Công, Nhạc Phi, Tiết Nhơn Quý, Hạng Võ …

Ngựa là con vật rất hiền lành, trung thành với chủ và vô cùng khôn ngoan . Trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp sơ đẳng có kể chuyện người Mường và con ngựa khôn ngoan của Y đủ chứng minh đức tính tốt của ngựa . Ngoài ra người đời còn lợi dụng ngựa để ăn thua đỏ đen với nhau, các trường đua Quốc Tế, trường đua Phú Thọ (Sài Gòn), hằng ngày chứng kiến bao cảnh Hỉ, Nộ, Ái, Ố của kẻ tham vướng cờ bạc . Trong cuộc chiến VN, các nhà thầu thường toa rập với Cục mãi dịch đem thịt ngựa già tráo thịt bò, trâu cung cấp cho các quân trường và Trung Tâm Huấn Luyện . Xe ngựa, xe tứ mã nhan nhản khắp nơi ở VN, vừa đỡ chân vừa tiêu khiển rất đa dạng .

1-NGỰA TRONG VĂN CHƯƠNG VÀ ĐIỂN TÍCH :

-Ngựa Trong Lãnh Vực Văn Chương Chữ Nghĩa : Tiếp xúc với con người từ thời tạo thiên lập địa, rồi cả hai cùng đồng hành song bước qua khắp các chặng đường thời gian, cho nên không có ai lấy làm ngạc nhiên, khi thấy tên ngựa hiện hữu đầy rẫy trong kho tàng văn chương chữ nghĩa của nhân loại

*Trong từ ngữ : Ngựa gỗ, ngựa Hồ, ngựa người (danh từ phát xuất trong thời Pháp thuộc, chỉ những người kéo xe và hạng gái giang hồ), ngựa kỳ-ngựa ký chỉ những người có tài rút từ câu “ Kỳ ý tự quân nan phục linh”, ngựa truy phong, ngựa sắt (nói về Phù Đổng Thiên Vương), ngựa Tiêu Sương, vó câu, kỵ mã, quân mã, mã lực, mã hồi, mà đề, mã phu …

*Thành ngữ & Tục ngữ : Đầu trâu mặt ngựa, được đầu voi đòi đầu ngựa, mồm chó vó ngựa, một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ, ngựa quen đường cũ, thẳng như ruột ngựa, ngựa chạy có bầy-chim bay có bạn, ngựa hay lắm tật, ngựa Hồ chim Việt, ngựa hưu thay đổi, ngựa le te cũng đến bến giang …

Ngựa được nhắc nhở thường xuyên trong các tác phẩm văn học . Căn cứ vào đặc tính lông bờm của ngựa và những đặc thù khác của cơ thể nó như mặt, ruột …người ta thường nói ví như : Mặt dài như mặt ngựa, nói thẳng ruột ngựa, tứ mã nan truy, ngựa quen đường cũ, đồ ngựa, đầu trâu mặt ngựa …

Nhiều hình ảnh Ngựa có mặt trong thơ văn cổ của Bạch Cư Dị (722-816), Cao Bá Quát (1808-1855), Đỗ Phủ (712-770), Ngô Thời Nhậm (1746-1803), Nguyễn Du (1766-1820) ..nhưng thích thú nhất là khẩu chiến giữa ngựa và những con vật thân thương khác, sống cạnh con người như trâu, chó, dê, gà, lợn trong tác phẩm “Lục súc tranh công” .

“…Bồ đào mỹ tửu dạ lương bôi

Dục ẩn tỳ bà, mã thượng thôi …”

(Lương Chân Tử”

“Đường mây, vó ký lần lần trải

Ải tuyết cừ mao, thức thức pha …”

(Nguyễn Biểu)

“Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn

Dòng nước sâu, ngựa nãn chân bon

Ôm yên gối trống đã chồn …”

Từ chàng dong ruỗi mấy niên

Chẳng nơi hãn hải thì miền tiêu quan …”

(Chinh Phụ Ngâm Khúc)

“kéo cờ lũy, phát súng thành

Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài …”

(Kiều)

“Đàn năm cung, réo rắt tính tình dây

Cờ đôi nước, rập rình xe ngựa đó

(Nguyễn Công Trứ)

-Ngựa Trong Thành Ngữ và Điển Tích :

*CẦU XE NGỰA : Chỉ quyết tâm, dựa theo tích Tư Mã Tương Như đời Hán, lúc còn hàn vi vào Tràng An, qua một chiếc cầu, ghi vào đó hàng chữ, nếu không thành công thề không trở lại cầu này .

*DA NGỰA BỌC THÂY : Nói lên cái chí của người trượng phu, nam tử, thề chết trên yên ngựa ngoài chiến trường, chứ không như bọn trí thức dỏm, gục trên giường đàn bà . Điển tích trên lấy từ Hậu Hán Thư Mã Viện . Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc cũng có viết : Chí làm trai dặm ngàn da ngựa, gieo thái sơn nhẹ tợ hồng mao” .

*NGỰA ĐÁ : Sau khi Hưng Đạo Vương dẹp yên được giặc Nguyên, vua tôi trở về kinh thành Thăng Long . Khi viếng Hoàng Lăng, Vua Trần Nhân Tông để ý hai hàng ngựa đá đứng chầu nơi lăng tẩm, chân con nào cũng lấm bùn đất, Ngài nghĩ rằng : “Anh linh của các vị Tiên đế đã cỡi ngựa đá theo giúp mình nên mới được thành công” . Ngài phán :

“Xã tắc hai lần nhọc ngựa đá

Núi sông ngàn thuở vững chân vàng .

*NGỰA HỒ trong tích HOA LƯU HƯỚNG BẮC :

Tiêu Hậu bên Bắc Phiên có một danh mã tên gọi Tiêu Sương Nhật Nguyệt Mã, Vua Tống Chơn Tông nghe thấy muốn bắt đem về cỡi . Mạnh Lương là thuộc tướng của Dương Gia Trại, lanh lợi và thông thạo các ngôn ngữ Phiên Bang nên được phái đi bắt ngựa đem về . Ngựa Hồ từ khi về Hán, bỏ ăn uống bảy ngày đêm, chỉ hướng về đất Bắc hí hoài đến kiệt sức lăn ra chết . Loài vật còn biết nghĩ đến nước non, quê hương xứ sở, hà huống gì con người : Tích này hay được kể với truyện Việt Điểu Quy nam cũng đồng ý nghĩa như trên .

*NGỰA TÁI CÔNG :

Tái Thất Ông có một con ngựa tự nhiên bỏ đi, người bạn đến chia buồn, ông bảo : “Biết đâu là phước đó” . Vài hôm ngựa cũ về dắt theo một bày ngựa mới, hàng xóm lại đến chia vui, ông bảo : “Biết đâu là họa đó” . Con trai ông thấy nhà có nhiều ngựa nên cỡi chơi bị ngựa quăng gãy chân, hàng xóm lại đến chia buồn, ông bảo : “Biết đâu là phước đó” . Quả nhiên về sau giặc tràn vào làng, bắt thanh niên đi lính cho chúng, con ông vì gãy chân nên khỏi, ai cũng khen là phước .

Cụ Huỳnh Thúc Kháng Viết :

“Kìa tụ, tán chẳng qua là tiễn biệt

Ngựa Tái Ông họa phước biết về đâu ?”

*NGỰA TRE :

Quách Cấp làm quan đời Hậu Hán, thanh liêm chính trực, trước làm Thứ Sử Ích Châu rồi đổi đi xa, nay được trở về chốn cũ . Nam phụ lão ấu trong thành, cỡi ngựa tre ra tiếp rước vị quan tốt

*MANH NHÂN HẠT MÃ :

Thành ngữ trên ám chỉ những người mù quáng, hồ đồ hành động vì lợi nên thiếu suy xét, rốt cuộc phải bị thất bại, rút từ điển tích Cố Khải Chi đời Tấn kể : “Một người mù cỡi con ngựa đui, nửa đêm lạc đến ao sâu nên cả hai đều gặp nguy hiểm .

“Manh nhân kỵ hạt mã

Bán dạ lâm thâm trì”

*MÃ TIỀN BÁT THỦY :

Thành ngữ Trung Hoa đồng nghĩa với câu của ta : “Bát nước đổ xuống đất không hốt lại được” . Nói về một lầm lỗi không tha thứ được, theo tích Chu Mãi Thần đời nhà Hán, ham học nên không làm ăn gì cả, vợ chán cảnh đói nghèo nên ly dị . Sau Mãi Thần nhờ người tiến cử lại đánh giặc có công nên được phong chức Thái Thú Cối Kê là quê hương của ông . Vợ cũ hay tin tìm đến xin nối lại tình xưa, Mãi Thần đem một bát nước đầy đổ trước đầu ngựa và bảo người vợ cũ nếu hốt lại đầy bát thì chấp nhận, vợ hổ thẹn tự tử chết . Qua thành ngữ trên, Nguyễn Công Trứ đã viết :

“Khó ai bằng Mãi Thần, Mông Chính

Còn có khi ngựa cỡi dù che”

*PHONG MÃ NGƯU, BẤT TƯƠNG CẬP :

Thành ngữ nói về tình trạng 2 sự việc song hành không liên quan gì cả dựa theo điển tích trong tả truyện : “Tề Hoàn Công đem quân đánh Thái, tiện đường tấn công luôn nước Sở . Vua nước Sở sai sứ đến trách : “Tề phương Bắc, Sở phương Nam, không liên đới gì cả sao lại gây cuộc binh đao ?” Nguyên văn : “Qua xử Bắc Hải, Quả Nhân xử Nam Hải, duy thị phong mã ngưu bất tương cập dã” . Nguyễn Công Trứ dựa theo điển tích trên viết :

“Rượu và sầu như gió, mã, ngưu”

*LÃO MÃ THỨC ĐỒ :

Thành ngữ dựa vào điển tích thiên phú của loài ngựa nhất là ngựa già biết nhận rõ phương hướng tìm về đường cũ khi bị lạc lối, ngoài ra cũng để ám chỉ kinh nghiệm của người từng trải, hiểu biết rõ về mọi vấn đề . Thành ngữ rút từ điển tích trong Hàn Phi Tử Truyện : “Tề Hoàn Công đem quân cứu Yên, đánh nước Cô Trúc (nay thuộc Nhiệt Hà, Hà Bắc) bị giặc làm kế dụ vào vùng Hãn Hải (sa mạc hoang vu), nhờ Quảng Trọng dâng kế, bắt lão mã thả cho chúng tự do đi lại, quả nhiên bầy ngựa già tìm lại được đường cũ . Thành ngữ trên hoàn toàn khác nghĩa với câu của ta : “Ngựa quen đường cũ” vì câu này hàm ý tả tật xấu của người đời, quen làm chuyện trái không thể bỏ được .

*THANH MAI TRÚC MÃ :

Thành ngữ nói về tình bạn của nam nữ khi còn thơ ấu, đồng nghĩa với câu của Việt Nam “Bạn từ thuở còn để chỏm”, dựa vào bài thơ của Lý Thái Bạch đời Đường viết để diễn tả tình bạn thắm thiết của cặp thiếu niên nam nữ :

“Lang kỵ trúc mã lai

Nhiên sáng lập thanh mai”

Nghĩa là lấy tre làm ngựa cỡi, dùng cành mai xanh làm roi ngựa, múa cành mai xanh cỡi ngựa tre chạy quanh giường . Tóm lại “Thanh Mai trúc Mã” chỉ tình bạn trai gái thân thiết thời niên thiếu .

*CHỈ LỘC VI MÃ :

Thành ngữ này đồng nghĩa với câu : “Chỉ lộng thành chơn” nói về trường hợp đã biết rõ sự thật mà vẫn cố tình bưng bít, xuyên tạc bóp méo sự thật để lừa bịp kẻ khác . Thành ngữ căn cứ vào điển tích của Tư Mã Thiên : “triệu Cao âm mưu soán đoạt nhà Tần nhưng trước khi hành động, muốn thử xem lòng người thế nào, mới bắt một con hưu đem đến trước nhà vua và các quan bảo đó là con ngựa, mọi người kể cả nhà vua vì sợ bị giết nên đều nói đó là con ngựa .

*ĐỔI MỸ NHÂN LẤY NGỰA :

Thi hào Tô Đông Pha đời Tống vì bất đồng chính kiến với Tể Tướng Vương An Thạch nên bị đày đi Hàng Châu . Bạn đồng liêu muốn đem con ngựa quý để đổi lấy nàng hầu xinh đẹp của TĐ Pha và hai người thỏa thuận cuộc trao đổi . Cô Xuân Hương tên người hầu, tức tủi vì bị sỉ nhục nên bảo với hai người : “Ngày xưa vua Tề cảnh Công mất ngựa muốn chém tên Mã phu, Tể Tướng Án Anh can ngăn : “Chuồng ngựa của Đức Khổng Phu Tử bị cháy, ngài chỉ hỏi có ai bị thương mà thôi mà không hề hỏi ngựa . Ấy người xưa trọng người khinh vật, nay Tô Học Sĩ trọng vật khinh người thì còn sống làm gì ?” Nàng nói xong đập đầu vào bệ đá chết, hai người nhìn nhau hối hận thì đã muộn rồi .

*MÃ ĐẦU CẦM :

Điển tích nói về một thứ đàn có khắc đầu ngựa của người Mông Cổ chuyên đi hát dạo . Tiếng hát nỉ non hòa với điệu đàn trầm bổng thê lương áo não khiến cho người nghe không cầm nổi nước mắt .

Mã Đầu Cầm được người Mông cổ gọi là “KHILKHEUA” là một dụng cụ âm nhạc gồm có một thùng đàn hình thang bằng gỗ, cần đàn thật dài trên đầu có khắc đầu ngựa .

Mã Đầu Cầm là một thiên tình sử của người Mông, tả lại trạng thái hỉ nộ ai oán của con người như sáu câu vọng cổ của ta . Điển tích kể rằng về phương Bắc nước Ngoại Mông có một Thiên Miếu gọi là “Bog Do kura” thờ thượng đế, chung quanh miếu là đồng cỏ tốt, thỉnh thoảng có 8 con ngựa đến ăn cỏ . Dẫn đầu đoàn ngựa trên là con Thiên Lý Mã gọi là “Jonung Khara Mori” ngày đi ngàn dậm, chủ bầy ngựa là Nhị Thập Tứ vì sao trên trời xuống thế biến thành người dạo chơi và trở về cõi thiên khi trời hừng sáng

Vị chỉ huy trong 24 vì sao, một hôm cỡi con Thiên Lý Mã dạo chơi gặp được một thiếu nữ trần gian, hai người yêu nhau tha thiết . Người con gái vì muốn giữ lại người yêu vĩnh cữu với mình nên đêm đến lén cắt 4 cánh nhỏ nơi bốn vó ngựa con Thiên Lý Mã khiến chàng không thể về trời được mà cũng chẳng quay lại chốn cũ với người yêu vì con Thiên Lý Mã đã gục chết nơi miền sa mạc hoang vu . Buồn rầu tuyệt vọng chàng trai ôm ngựa khóc, nước mắt nhỏ xuống mình ngựa biến thành cây đàn, đầu ngựa là đầu đàn và đuôi ngựa là những cung bậc trầm bổng . Chàng khẻ lướt qua dây đàn và cất tiếng hát ai oán, não nùng thương cho đời mình và người yêu bị cách chia vĩnh viễn .

2-NGÀN LẼ MỘT ĐÊM CHUYỆN LẠ VỀ NGỰA :

-Vui Buồn Đời Mã Trạm : Ngựa có tài phi nước kiệu, phương tiện chuyển vận giao thông hữu hiệu nhất khi chưa có máy bay, xe cộ, tàu bè . Kỷ lục vận tốc của ngựa có thể đạt tới 60km/ giờ . Riêng giống ngựa chiến Ả Rập có thể nện vó câu liên tục trên quãng đường dài 250km, suốt ngày đêm trong điều kiện khó khăn mà không cần phải ngơi nghỉ . Do các yếu tố trên, ngựa được sử dụng khắp nơi trên thế giới, để chuyển thư, công văn và thông tin liên lạc .

Tại VN, bưu chính đã có từ thời nhà Lý, nhưng phát triển mạnh mẽ khi Vua Gia Long thống nhất sơn hà, song song với sự hoàn thành con đường quan lộ từ Ải Nam Quan tới tận Mũi Cà Mâu . Riêng về hình thừa mã trạm, nước ta đã thực hiện từ thế kỷ thứ 9 sau TL, ngay khi Ngô Vương Quyền chính thức đem lại nền tự chủ cho dân tộc vào năm 939 . Mã trạm bao gồm ngựa và người cỡi ngựa, còn gọi là điếm binh, nai nịt rất gọn gàng, chân quấn xà cạp, đeo lục lạc tại thắt lưng hay cổ tay, đầu đội nón chóp, vai đeo những ống công văn được niêm phong cẩn mật được gọi là cán ống, còn giấy tờ công văn thượng khẩn thì gọi là công văn nhựt dạ . Khi cần thi hành một công tác cần kíp tối hệ trọng, ngựa trạm được trang bị một lục lạc quấn quanh ức, thêm một cái chuông nhỏ treo dưới cổ và trên đầu ngựa cấm một túm lông gà hay một lá cờ nhỏ làm hiệu lệnh để mọi người tránh đường . Riêng điếm binh tay cầm cương ngựa, tay khác cầm vật đựng than đỏ hoặc ngọn đuốc cháy ra dấu hỏa tốc, thượng mã phi đệ . Tóm lại làm nghề Mã Trạm thời xưa, trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt của hoàn cảnh, buồn vui lẫn lộn . Vui khi ỷ thế được ưu tiên, tác oai tác quái với thiên hạ nhất là trước các cô gái quê nhu mì chất phác, còn buồn thì nhiều không kể, khi một người một ngựa giữa cảnh cheo leo đèo heo hút gió, đối mặt với gió núi mưa rừng, kể cả thú dữ và giặc cướp . Thương cho người lữ hành cô độc, mang trên mình tin tức khẩn thiết có liên hệ tới vận mệnh quốc gia, người đời đã viết : “Xót người hành dịch bấy nay, dặm xa thêm mỏi, ống đầy lại vơi ..”

-Nhịp Ngựa Hoa Vàng : Theo Tiến sĩ Joseph Needham, giáo sư chuyên nghiên cứu về nước Tàu, thì chính người Trung Hoa là dân tộc đầu tiên trên thế giới đã phát minh và chế tạo nhạc khí, công cụ, dụng cụ và phụ tùng trên mình ngựa, vào thời đại đồ đồng . Chiếc xe ngựa cũng được ra đời từ đó, để trở thành phương tiện chuyên chở hữu hiệu nhất cho tới ngà nay . Qua các di vật khảo cổ, ta nhìn thấy được chiếc xe thổ mộ đầu tiên của nhân loại do ba con ngựa kéo ra đời trong khoảng thời gian giữa thế kỷ thứ 4-1 trước Tây Lịch . Trong một bức tranh khác vẽ từ đời Hán, hình một chiếc xe ngựa với 2 chỗ ngồi, chiếc xe có mui nhưng còn thô sơ . Riêng trên mình ngựa đã có bộ thắng, căn cứ vào các di vật và tài liệu tìm thấy, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng, chính người Trung Hoa đã sáng chế ra bộ thắng ngựa có ách vào khoảng thế kỷ thứ 1 trước Tây Lịch, còn Châu Âu mãi tới thế kỷ thứ 10 sau TL, mới thấy sử dụng bộ thắng ngựa . Một khám phá lý thú khác về cái bàn đạp và yên ngựa cũng do người Trung Hoa sáng tạo ra . Điều này cho thấy sự lao đao của các kỵ sĩ thời cổ đại, trong các đoàn quân viễn chinh của Ba Tư, Mède, La Mã, Assayrie, Ai Cập, Babylone, Hy Lạp …ngồi trên ngựa không có yên và bàn đạp . Đến thế kỷ thứ 3 sau TL, người Hán đã đạt được kỹ thuật luyện kim, nên làm thành những chiếc bàn đạp ngựa bằng kim loại rất đẹp . Sau này, chính đoàn quân viễn chinh của bộ tộc Avars miền Trung Á, khi xâm chiếm Âu Châu, đã phổ biến các phụ tùng do người Tàu phát minh trên ngựa . Như Hoàng Đế Byzance là Fiavius Mauricius viết trong tác phẩm “luận bàn Về Chiến lược Năm 580 sau TL” thì bàn đạp, yên ngựa mới chính là yếu tố quan trọng nhất của Kỵ binh .

- Xe Thổ Mộ Tại Sài Gòn và Nam Kỳ Lục Tỉnh : “…Một con ngựa gầy vào thành phố, trên lưng chở mùa xuân hoa vàng …”câu thơ của ai đó, làm ta bâng khuâng hồi tưởng về một thời xa cũ tại Sài Gòn, Phan Thiết ..qua hình ảnh con ngựa gầy, kéo chiếc xe cũ kỹ, gõ đều nhịp lóc cóc trên đường phố, chơ vơ lạc lõng giữa dòng xe cộ, nơi những ngã tư ngã sáu mù mịt khói xe . Những chiếc xe ngựa chở đầy hoa, từ các nẻo ngoại ô vào phố thị, khác nào bầy én trên bầu trời bao la, mang tin xuân về nhân thế . Đây cũng là phương tiện giao thông cuối cùng của một thời vang bóng, ròi cũng sẽ trôi vào quên lãng như ông đồ già và nghiên mực tàu, giấy đỏ .

Xe ngựa mà người miền Nam quen gọi là xe thổ mộ xuất hiện tại VN vào thời Pháp thuộc, chỉ thông dụng tại Sài Gòn, miền Đông và miền Trung trở ra Trước kia tại thủ đô, xe ngựa hoạt động rộn rịp nhất là vùng Đức Hòa, Hóc Môn, Bà Điểm, hằng ngày chở hoa quả, cau trầu và bạn hàng tới các chợ Gia Định, Bình Tiên, Cầu Ông Lãnh . Từ sau năm 1954, xe ngựa chỉ còn được phép giao thông từ Bình Tiên tới Cầu Ông Lãnh và bến chánh tại một khu đất trống gần Ga Xe Lửa Sài Gòn . Cũng có một con đường tại Tân Định mang tên Mã Lộ . Tư khi xe ngựa du nhập vào VN, dân ta đã học được nghề đóng móng ngựa .

-Đua Ngựa, Thú Tiêu Khiển Của Người Sai Gòn : Sau khi chiếm được Sài Gòn và Lục Tỉnh vào năm 1867, người Pháp đã bỏ công sức để kiến thiết và mở mang Bến Nghé, từ một chốn hoang dã thành Hòn ngọc Viễn đông ngay từ đầu thế kỷ thứ 20 . Đồng thời cũng để đầu độc các thế hệ thanh niên VN quên lãng nỗi nhục mất nuóc, người Pháp cũng biến nơi này thành chốn ăn chơi sa đọa, cờ bạc, đĩ điếm công khai . Một trong những thứ tứ đổ tường làm nhiều người tan nhà nát cửa là đua ngựa . Môn cờ bạc này xuất hiện đầu tiên tại Sài Gòn năm 1906 do Pháp kiều Jean Duclos khởi xướng khi mang 8 con ngựa đua giống Ả Rập từ Hà Nội vào Sài Gòn . Từ đó trò chơi đánh cá bằng tiền diễn ra hằng ngày tại trường đua ngựa, tọa lạc trên một khu đất cao vùng Phú Thọ Hòa . Điều nực cười là thế cuộc cứ liên tục xoay vần dời đổi, người Sài Gòn và Lục Tỉnh qua từng thế hệ tán gia bại sản vì mê đua ngựa, thế nhưng môn cờ bạc này vẫn hiên ngang như diều gặp gió, hết Tây tới Tàu, Quốc Gia rồi Cộng Sản, rốt cuộc kinh doanh đỏ đen càng phát triển hơn trước .

Từ trước tới nay quận Đức Hòa (Hậu Nghĩa), là nơi cung cấp những ngựa đua và nài ngựa. Nhiều con ngựa đua và nài ngựa đã đạt được nhiều thành tích trên trường đua, tới nay vẫn còn được nhiều người nhắc nhớ như Huỳnh Long, Bảo Thành, Tân Long, Mã Thượng..với các bậc thầy nái ngựa như Hai Mái, Út Mãnh, Hiện Đức Hòa có trên 1000 con ngựa đua tập trung tại các xã Mỹ Thạnh, Đức Lập Thượng, Hòa Khánh Đông.

-Những con Ngựa Thượng Tứ : Ở Huế hồi trước hay bây giờ, những cô gái có tính tình không tử tế, thường bị các bà mẹ sĩ vã “ là những con Ngựa Thượng Tứ “. Căn cứ vào các tài liệu còn lưu trữ, ta biết vào thời vua Minh Mạng triều Nguyễn, triều đình Huế có một cơ sỡ chuyên về Ngựa gọi là Mã Khải đặt tại phường Ninh Mật, sau đổi thành Huệ An, nằm bên trong cửa Đông Nam kinh thành Huế.Sở này gồm 20 toán Khinh Kỵ và Phi Kỵ, chỉ dành phục vụ cho vua mà thôi. Những con ngựa đặc biệt này mang tên là Thượng Tứ. Nhưng “ Thượng Tứ “ lại là cái tên mà các bà mẹ dùng để chê biếm chính con gái mình, những đứa “ vô tích sự “ chỉ biết ăn rồi cà nhỏng phất phơ ngoài đường phố, gây nhiều buồn phiền cho gia đình.

Tại Huế xưa nay không không biết tới cửa Thượng Tứ nhưng mấy ai biết Thượng Tứ lại là tên của một loại ngựa dành cho nhà vua nhà Nguyễn.

-Trảm Mã Trà : Là một loại trà đặc biệt, chỉ dành cho vua chúa và hoàng gia Trung Hoa thời phong kiến. Những người giàu có, giới thượng lưu cũng không thể uống nổi loại trà quý hiếm này vì rất tốn kém và cách pha chế lại cầu kỳ khó khăn, nên đã dùng loại trà “ Bạch Mao Hầu “ trên dãy Vu Di Sơn tại tỉnh Phúc Kiến thay thế.

Trảm Mã Trà có hương vị độc đáo, độ chát vừa phải, vị ngọt, uống vào giúp tiêu hóa thức ăn. Theo các tài liệu đọc được, ta biết khi mùa xuân đến cũng là lúc hàng đàn ngựa bị bỏ đói nhiều ngày, được các toán mã phu xua từ kinh đô đi về hướng rặng núi cao vút hiểm trở trong tỉnh Tứ Xuyên, có tên là Vu Sơn. Đây là một vùng núi từ xa xưa đã mọc bạt ngàn những rừng trà hoang và mỗi độ xuân về là đâm chồi nẫy lộc, nhuộm xanh cả một vùng trời.

Tại đó, đàn ngựa đói lâu ngày được bọn mã phu xua đuổi lên rừng trà trên sườn núi, mặc sức ăn những đọt trà non vừa ướm lộc, cho đến lúc bụng no căng không thể ăn được nữa. Lúc đó bọn mã phu mới tập trung đàn ngựa và dẫn chúng xuống một con suối lượn quan triền núi Vu Sơn. Dòng suối này rất đặc biệt vì nước đặc sệt xác lá trà xuân nát rữa từ trên núi rụng xuống, trong giống như một con rồng đen đang lượn khúc, vì vậy mới có tên là suối Ô Long. Bầy ngựa sau khi được uống nước suối thỏa thích, lập tức các mã phu lên lưng ngựa và trở về nơi xuất phát.

Họ cho ngựa đi thật chậm, để cho búp trà non được ngựa nhai nát thấm với nước suối, đang ở trong bụng ngựa có đủ thời gian (chừng 1 ngày) lên men. Lúc đó đàn ngựa cũng về tới chuồng, lập tức bọn mã phu chém chết ngựa, mổ bụng rạch bao tử ra để lấy xác trà. Một toán thiếu nữ đã chờ sẳn đón nhận, đem xác trà sao, tẳm, chế biến thành món uống cực quý dành cho vua chúa và hoàng gia, được đánh đổi bằng cái chết của bầy ngựa vô tội.

-Lễ Hội Xe Ngựa Ở Pháp : Lê hội diễn ra hằng năm, được mỗi ngôi làng vùng Provence tổ chức kéo dài một tuần lễ. Đây là một bình nguyên phì nhiêu đầy những vườn nho và các loại cây ăn trái nổi tiếng của Pháp, trãi dài từ Rhône tới Durance. Cả trăm năm qua, 15 ngôi làng trong vùng vẫn tiếp tục truyền thống của ông cha để lại.

Khởi đầu, lễ hội xe ngựa dành cho vị Thánh Eloi người bảo hộ cho các thợ bịt móng ngựa và các gia súc lo việc đồng áng như trâu bò.Ngày nay các chiếc xe ngựa của Thánh Eloi vẫn còn được các vị linh mục sở tại ban phép lành. Các cuộc diễn hành rất vui nhộn vì được các ban nhạc hòa tấu theo nhịp quân hành qua các bản nhạc như Marseillais của Pháp và các nhạc phẩm nổi tiếng quốc tế.

Trong ngày Hội, các con tuấn mã và yên cương thường được các làng cho mượn lẫn nhau nhưng về phần trang điểm thì mỗi làng đều có những đặc dị riêng. Hội bắt đầu từ ngày Chủ Nhật với những nghi thức cổ truyền từ việc ăn uống (bánh mì, dồi, rượu vang) cho tới đốt lò than tỏa khói trắng, cho tới lúc tia nắng bắt đầu trong ngày cũng là lúc khai tiệc với những cốc rượu vang. Đây cũng là thời điểm những chiếc xe ngựa và người đánh xe sẳn sàng. Gần đây lễ hội còn tăng phần náo nhiệt với sự tham gia của các cô gái vùng Arles trong y phục cổ truyền. Thường có chừng 40-50 con ngựa tham dự lễ hội hằng năm.

Xin được mượn bài viết của Tiên Sinh Thu Giang Nguyễn Duy Cần, trong tác phẩm “ Cái cười của thánh nhân “ để kết thúc bài viết. Có một người đánh xe Lừa rất bực mình giống Lừa cứng cổ. Giống này hễ làm biếng không đi, thì đứng lỳ một chỗ, càng bị đánh, càng lùi thêm..Anh ta bèn nghĩ ra một kế, đem bó lúa tươi thơm ngát treo trước đầu lừa.

Quã nhiên lừa thấy lúa thơm, bước tới ăn nhưng không bao giờ ăn được bó lúa. Nhờ vậy mà nó cứ bước mãi. Người đánh xe lừa không cần đánh đập, thúc giục hay tốn kém thứ gì..mà chiếc xe vẫn cứ đều đặn lăn bánh.

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Chạp 2013

HỒ ĐINH
--------  

Sức mạnh của đức tin: : Father Gioan Lee Tae Suk “Don’t Cry for Me Sudan”

Sức mạnh của đức tin:

Nhân ngày giỗ lần thứ 4 (2010-2104) chúng tôi xin trích đăng chia sẽ lại bài nói về Hội truyền giáo Phanxicô Xaviê và câu chuyện đầy cảm động và chan chứa yêu thương của Cha Gioan Lee là linh mục dòng Salêriêng Don Bosco.

Việt Ly Hương
---------------------

Xin đừng khóc thương tôi Sudan 

 “Don’t Cry for Me Sudan”



image
Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó gồm 10 anh chị em, cha Gioan Lee Tae Suk là người con thứ chín. Năm cha lên 9 tuổi, người bố qua đời để lại gánh nặng gia đình trên đôi vai người mẹ. Người mẹ đã phải tần tảo làm nghề may vá để nuôi nấng đàn con 10 anh chị em. Ngay từ khi còn bé, cha Gioan Lee đã phải sống trong cảnh nghèo khó. Sân chơi của cha chính là ngôi nhà thờ gần nhà. Ngay khi còn học bậc tiểu học, cha đã tỏ ra yêu thương các người nghèo khổ và có ý tưởng thành lập một cô nhi viện cho các trẻ em mồ côi.

Một ngày nọ, khi chứng kiến cảnh một người ăn xin nghèo khó, rách rưới mà cha (lúc đó là một cậu bé) không có gì để giúp đỡ người ăn xin này. Cha đã chạy về nhà và hỏi mượn người chị 1 cây kim và sợi chỉ để khâu lại chiếc quần rách rưới cho người ăn xin. Sống trong tuổi thơ nghèo túng, có những ngày cậu bé Gioan Lee Tae Suk đã phải ngồi chờ mẹ về ở ngoài đường, trong con hẻm gần nhà… Do đó, tuổi thơ của cha đã sớm cảm thông với những nỗi bất hạnh của con người. Khi lên bậc trung học, cha đã tự học đàn Guitar và chơi dương cầm… Năng khiếu âm nhạc đến với cha một cách tự nhiên và dễ dàng. Có lẽ đó là nguồn cảm hứng giúp cha giải bày những xúc động ẩn chứa trong tâm hồn khi chứng kiến những cảnh nghèo đói, bất công và bệnh tật của những người nghèo khổ trong xã hội. Cha đã tự sáng tác ra những bản nhạc lúc còn học ở trung học.

Những bản nhạc này như một cầu nối giúp cha đến gần với Thiên Chúa. Cha đã chia sẻ những cảm nhận của mình qua âm nhạc. Âm nhạc đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của cha, giúp cha sống đạo hạnh hơn ngay khi còn là một học sinh bậc trung học. Và sau này, trong cuộc đời truyền giáo của mình, âm nhạc đã giúp cha đến được với những đứa trẻ quen sống trong cảnh bạo lực tại Nam Sudan và từ đó, âm nhạc đã giúp cha chuyển hướng tâm hồn chúng thành những đứa trẻ đầy năng khiếu sáng tạo trong âm nhạc.



image
Là một trong những đứa trẻ rất nghèo, nhưng cha Gioan Lee Tae Suk đã cố gắng học và thi đậu vào trường y khoa – một nơi mà ngay cả những đứa trẻ nhà giàu được cho ăn học tử tế - cũng rất khó được chọn vào. Và cha đã trở thành một bác sĩ y khoa với con đường giàu sang và danh vọng mở rộng trước mặt; được trở thành một người giàu sang, quyền quí và được xếp vào bậc thượng lưu trong xã hội. Viễn ảnh tương lai thật huy hoàng ngay trước mặt….Nhưng sau những năm tháng phục vụ như một bác sĩ y khoa trong quân đội, cha đã cảm nhận được tiếng gọi mãnh liệt của Thiên Chúa.



image
Và cha đã quyết định từ bỏ tất cả con đường sự nghiệp đang mở rộng thênh thang trước mắt để bước vào dòng tu Salêriêng- Don Bosco và trở thành linh mục - người của Chúa. Đứng trước sự chọn lựa của cha, người mẹ đã đau đớn vì phải hy sinh trong suốt bao năm tháng nuôi con trưởng thành; nay lại nhìn thấy viễn cảnh của cuộc sống khó nghèo do bởi sự chọn lựa  đó của con mình. Người mẹ đã không đành lòng mất đi người con yêu dấu sau những tháng ngày vất vả nuôi nấng con nên người.



image
Nhưng rồi bà cũng phải nhận ra Ơn gọi mãnh liệt mà Thiên Chúa đã gieo vào tâm hồn cậu bé Gioan Lee Tae Suk ngay những ngày còn nhỏ. Cha đã biết ơn người mẹ đã hy sinh trọn vẹn cuộc sống để lo cho đàn con. Và giờ đây, lại một lần nữa, người mẹ đó đã hy sinh những danh vọng lẽ ra sẽ nhận được nếu người con tiếp tục con đường phục vụ như một người bác sĩ tại nơi chính quê nhà của ông – Hàn quốc. Người mẹ cuối cùng đã nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa đối với con mình còn cao cả hơn tất cả những gì mà thế gian mang lại. Thế là Gioan Lee Tae Suk bước vào dòng tu Salêriêng- Don Bosco.



image
Vào những năm tháng còn ở chủng viện, thầy Gioan Lee Tae Suk đã có lần được đến thăm miền Nam Sudan- Phi Châu. Ở nơi đó đã xảy ra cuộc chiến tranh Nam- Bắc vào năm 1983, và cuộc chiến đó đã tàn phá khủng khiếp đất nước này. Cuộc chiến đã làm hơn hai triệu người bị chết và đã để lại bao nhiêu tang tóc cho những người dân quê nghèo khổ.

image
Những người còn sống sót sau chiến tranh thì lại bị chết vì bệnh tật và nghèo đói. Họ phải sống nơi một vùng đất mà nguồn nước uống bị ô nhiễm trầm trọng.

image
Do đó, ngay sau buổi lễ truyền chức linh mục tại Vatican- Rome, cha Gioan Lee Tae Suk đã xin tình nguyện đến phục vụ tại miền Nam nước Sudan ở Phi Châu. Tại nơi đây, vào năm 2001, cha đã mở phòng khám bệnh đầu tiên tại Nam Sudan, và là người bác sĩ duy nhất tại đó. Mỗi ngày, cha khám và chữa trên 300 bệnh nhân. Có những bệnh nhân đã đi bộ hàng trăm Kilômét để đến với cha. Có cả những người phải đi bộ 2-3 ngày đường để đến được nơi phòng khám. Mỗi ngày đều có 30-40 người chờ đợi để được khám bệnh.

image
Nhận thấy nhu cầu quá lớn của những người dân tại Nam Sudan, cha đã quyết định xây một bệnh viện bằng những viên gạch do chính tay cha và dân làng tự làm nên. Cha đã đặt mua xi măng từ Kenya và lấy cát từ dòng sông Tonj thuộc Nam Sudan. Dưới cái nóng trên 50 độ C, cha đã cùng làm việc với những người dân làng để đúc những viên gạch và dùng chính những viên gạch đó để xây dựng thành một bệnh viện. Năm 2007, bệnh viện do cha Gioan Lee Tae Suk và dân làng xây được hình thành gồm 12 phòng. Nơi đây, cha đã chữa trị cho các bệnh nhân bị bệnh phổi, tiêu chảy, sốt rét, các phụ nữ mang thai, các trẻ em cần chủng ngừa dịch tả v.v…

image
Cha không bao giờ từ chối bất kỳ một bệnh nhân nào đến với cha, ngay cả vào ban đêm khi cha đang yên ngủ sau một ngày làm việc mệt nhọc. Khi có những bệnh nhân đang trong tình trạng nguy kịch đến cầu cứu cha vào ban đêm, cha vẫn sẵn lòng giúp họ mà không một lời phàn nàn than trách. Các bệnh nhân vẫn liên tục kéo đến với hy vọng được cha chữa lành các vết thương cả thể xác lẫn tâm hồn.

image
Với họ, cha là một người cha và là một thầy thuốc. Cha đã đến với họ bằng tất cả tình yêu thương mà họ chưa bao giờ được ban phát. Cha là hiện thân của Chúa Giêsu trong trái tim và tấm lòng của họ. Tại nơi này không có nguồn điện. Do đó, cha đã tự làm những tấm năng lượng mặt trời để tạo ra nguồn điện dùng để cung cấp điện năng cho các tủ lạnh để bảo quản các loại thuốc chủng ngừa cho trẻ em. Mỗi ngày thứ Tư trong tuần, cha lái xe đến 8 ngôi làng khác nhau để chữa bệnh cho những người phong cùi, mù lòa ... khi họ không thể đi xa được, mà chỉ có thể ngồi tại nhà của họ. Thậm chí, có những người không có ai chăm sóc thì bị chết trong nhà mà không ai hay biết. Cha luôn sẵn sàng giúp đỡ bất kỳ ai cần đến Ngài.

image
Năm 2005, khi hòa bình được tái lập giữa miền Nam và Bắc Sudan, bảo đảm sự an ninh khi di chuyển; thì đến năm 2006, cha bắt đầu chương trình thăm viếng các bệnh nhân bị phong cùi khi họ không thể bước chân ra khỏi nhà. Trước khi cha đến, họ đã chết mà cũng không biết chết vì bệnh gì?

image
Cha đã thành lập một ngôi làng cho những người mắc bệnh phong ở và cấp thuốc để chữa trị và ngăn ngừa chứng bệnh lây lan. Cha là người duy nhất yêu thương họ, đến với họ và lắng nghe họ. Mỗi lần cha đến thăm họ, cha không bao giờ đi với hai bàn tay không. Cha luôn có quà cho tất cả mọi người, khi thì là những cái áo, khi thì là những đôi vớ, lúc thì là những cái quần, những đôi giày, những cái áo ấm v.v... Cha là người đã khâu những vết thương đầy máu mủ nơi chân tay những người bệnh phong và băng bó vết thương cho họ. Cha đã đo chân từng người và đặt làm những đôi giày cho họ mang để họ bớt đau đớn mỗi khi di chuyển. Không hề có một rào cản nào ngăn cách giữa cha và những người  mắc bệnh phong cùi này. Họ đã sống trong hạnh phúc vì đã được yêu thương mặc dù họ rất nghèo và bị xã hội bỏ rơi. Cha là một linh mục đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc đã từ bỏ đất nước của mình và sang phục vụ bên Phi Châu. Cha đã sống và đã hội nhập để trở thành một người dân làng Tonj.

Trong cuốn tự truyện: “Các con là những người bạn của cha”, cha đã chia sẻ động lực thúc đẩy cha đến miền Nam Sudan là: Ngay khi còn nhỏ, cha đã cảm nhận được sự hy sinh của người mẹ nuôi nấng và lo lắng, chăm sóc cho đàn con 10 người. Lớn lên, cha nhìn thấy gương hy sinh phục vụ của các cha, các soeur nơi cha sinh trưởng; và nhất là của chính một người anh làm linh mục, và một người chị làm nữ tu.

image
Đặc biệt hơn cả là sự hy sinh tận cùng của người mẹ khi chấp nhận cho cha từ bỏ con đường sự nghiệp của người bác sĩ để trở thành linh mục. Bà mẹ đã từ bỏ sự hưởng thụ giàu sang khi có con làm bác sĩ để sẵn sàng nâng đỡ cha khi Ngài quyết tâm đi theo lời mời gọi của Chúa. Chính những tấm gương sáng đó đã là những động cơ thúc đẩy cha lên đường đi đến Sudan- một nơi nghèo khổ nhất trên thế giới để phục vụ cho những người nghèo, bệnh tật và bất hạnh. Ở nơi đó, cha là người đã xây dựng một ngôi trường học đầu tiên từ cấp mẫu giáo đến cấp trung học. Các giáo sư được cha mời đến từ Keyna để dạy cho các em. Và chính cha cũng đã dùng thời gian eo hẹp của mình để dạy môn toán cho các em.



image
Nhìn cảnh các trẻ em ngay từ nhỏ đã làm quen với súng đạn, cha quyết tâm phát triển năng khiếu âm nhạc nơi tâm hồn các em để thay những khẩu súng trong tay các em thành những chiếc kèn đồng. 

image
Cha đã dùng âm nhạc để xoa dịu những vết thương chiến tranh trong lòng các em. Thế là cha đã hy sinh những giờ ngủ để tập những nhạc cụ, tập thổi kèn trước rồi sau đó dạy cho các em học. Và cuối cùng, giấc mơ của cha đã thành hiện thực. Một đội kèn đầu tiên ở Nam Sudan đã được thành lập. Cha đã xin các ân nhân để gửi tặng những bộ đồng phục của ban kèn cho các em mặc.

image
Cha nâng đỡ những đứa trẻ và phát triển tài năng về âm nhạc của chúng để chống lại bạo lực tại nơi đây. Khi tâm hồn những đứa trẻ bị tan vỡ do những vết thương chiến tranh tạo ra, qua âm nhạc, chúng sẽ tìm được niềm vui và hy vọng. Đây là một biến cố vô cùng trọng đại trong một đất nước bị tàn phá quá nhiều do bởi chiến tranh. Đối với những người dân tại Sudan thì có được một ban kèn là một sự việc ngoài trí tưởng tượng của họ, và là một biến cố gây kinh ngạc mãnh liệt cho họ. Vì từ đây, những đứa trẻ không còn cầm súng trên tay mà thay vào đó là những chiếc kèn mang lại những âm thanh của hòa bình, tình yêu và hy vọng….


Nhưng thật đau buồn thay, trong một chuyến nghỉ hè vào tháng 10/2008: Khi trở về Hàn Quốc, cha đã làm một cuộc xét nghiệm sức khỏe tổng quát theo lời khuyên của một bác sĩ, và cha đã phát hiện ra mình đang mang chứng bệnh ung thư ruột già ở giai đoạn cuối. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, cha vẫn chiến đấu dũng cảm với cơn bệnh qua 14 lần chạy hóa trị (chemotherapy) để mong được trở về lại Sudan thăm các em. Cũng trong những ngày tháng chữa bệnh này, cha đã viết cuốn sách: “Các con là những người bạn của cha”. Và cuốn sách đã được phát hành vào tháng 05/2009. Một tháng trước khi về với Chúa, biết mình không thể trở lại Sudan được, cha đã mời hai em trong đội kèn đến thăm cha tại Hàn Quốc. Và tại đây, cha đã bảo trợ cho hai em đó được vào học đại học.

image
Cuối cùng, vào ngày 14/01/2010, cha đã ra đi về với Chúa khi đã sống trọn vẹn 48 năm cuộc đời tại dương thế với những ngày tháng phục vụ trọn vẹn cho những người đau khổ, bệnh tật, phong cùi, nghèo đói ... tại Sudan. Ngày 16/01/2010 là thánh lễ an táng cha tại nhà dòng Saleriêng – Don Bosco. Cha đã ra đi trong nụ cười, còn những người ở lại đã đưa tiễn cha trong những giọt nước mắt của đau đớn và tiếc thương. Mặc dù cha đã ra đi về với Chúa, nhưng Niềm Tin của cha đã biến thành hiện thực. Cha đã sống và đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời của cha cho những người đau khổ và bất hạnh.

image
Tin cha qua đời bay đến Sudan và những người dân ở đây đã đau đớn và không thể chấp nhận một thực tại phũ phàng, quá nhiều mất mát cho họ. Họ khóc thương cha như khóc thương một người thân yêu duy nhất đã yêu thương họ, đã chăm sóc tận tình cho họ, đã chia sẻ và ủi an họ với một tình yêu đồng lọai mà họ chưa từng được biết đến. Có những người dân làng xa xôi đã đi bộ hơn 4 ngày trời để được đến tham dự nghi thức tiễn biệt cha lần cuối tại ngôi Thánh đường mà chính cha đã cùng với họ xây cất nên. 

image
Họ mang trên tay những tấm ảnh của cha như muốn níu kéo cha ở lại mãi với họ. Các em trong ban kèn đã diễn hành từ căn nhà thương- nơi cha xây dựng và chữa bệnh đến ngôi thánh đường- nơi cử hành nghi thức tiễn biệt người cha thân yêu của họ. Tất cả những người dân làng từ khắp nơi kéo về, có những người đã đi bộ hơn 400Km để đến tham dự nghi thức tiễn biệt cha lần cuối. Những dòng nước mắt khóc thương cho một người cha hiện thân của Tình Yêu và Hy Vọng; hiện thân của Chúa Giêsu trong tâm hồn họ. Chính cha là người đã xoa dịu và chữa lành bao vết thương nơi thể xác lẫn tâm hồn của những người dân đau khổ đang sống tại một nơi nghèo nhất thế giới văn minh này.

image
Tại nơi đây, những người dân làng đơn sơ, chất phát đã khóc thương cha như khóc thương người cha tinh thần của họ. Trong tâm hồn và trong trái tim của họ đã không còn ranh giới giữa giàu sang và đói khổ, mà chỉ còn lại tình yêu và sự đau xót nhớ thương. Họ đau đớn vì đã mất đi một con người đã đến sống và ở giữa họ; đã yêu thương và trao tặng họ món quà vô giá của tình người. Họ đau đớn vì đã không còn một niềm an ủi và hy vọng giữa cảnh sống nơi một xã hội mà họ đang bị bỏ rơi một cách nghiệt ngã.

image
Cha Gioan Lee Tae Suk không chỉ là một người cha, một linh mục mà cha đã là TẤT CẢ của họ. Cha đã sống và đã rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu bằng chính cuộc đời của cha. Cha là hiện thân của Chúa Giêsu trong lòng những người dân làng Tonj tại Nam Sudan, nơi mà bản thân họ đang phải chịu đựng những tổn thương do bởi một xã hội đầy rẫy những bất công và một thế giới tràn ngập những đau khổ tạo ra… Cha đã gieo những hạt giống của Đức Tin và Tình Yêu trong tâm hồn những người dân đau khổ và bất hạnh này. Sự ra đi của cha ở độ tuổi 48 khi Ngài còn đang tha thiết muốn phục vụ và được phục vụ những người dân nghèo là một nỗi đau và là sự mất mát không thể bù đắp nơi tâm hồn của những người dân làng Tonj đầy bất hạnh này. Nhưng Niềm Tin mà cha đã gieo rắc và vun đắp trong trái tim và tâm hồn của các trẻ em, nơi các người già yếu, bệnh tật, phong cùi, mù lòa v.v… ; Niềm Tin đó vẫn sống mãi trong lòng họ… Vì trong một thế giới đầy đầy bất hạnh và bạo lực này, vẫn đang có những bàn tay và những tâm hồn của những người môn đệ theo chân Chúa, những ngừời đang hy sinh cả cuộc đời để sống cho Tình Yêu của Chúa, và mang Tình Yêu đó xoa dịu những vết đau và lau rửa những vết thương trong tâm hồn và nơi thể xác của bao người bất hạnh.

Trong năm Đức Tin này, hy vọng mỗi người chúng ta cũng sẽ là những bàn tay nối dài của Thiên Chúa. Những bàn tay của những tâm hồn được lớn mạnh trong Đức Tin và được nuôi dưỡng trong Ân sủng của Ngài.

http://baomai.blogspot.co.uk/2013/10/xin-ung-khoc-thuong-toi-sudan.html
 -----------

imageCha Gioan Lee là linh mục dòng Salêriêng Don Bosco. Tốt nghiệp bác sĩ y khoa nhưng cha đã bỏ tất cả công danh sự nghiệp sau lưng, và cha đã đáp lại tiếng gọi mãnh liệt của Thiên Chúa để trở thành một linh mục truyền giáo trong dòng Salêriêng Don Bosco. Ngay sau khi được truyền chức linh mục tại Tòa Thánh Vatican, cha đã tình nguyện đến truyền giáo tại miền Nam Sudan thuộc Phi Châu. Cha đã từ bỏ tất cả công danh, sự nghiệp của người bác sĩ để trở thành linh mục. Và hơn thế nữa, cha còn muốn trở thành người mục tử nhân lành sống giữa đoàn chiên nghèo khổ để chăn dắt họ. Vì thế nên cha đã tình nguyện đến sống tại một xứ sở nghèo đói nhất thế giới, giữa những người đói khổ và bệnh tật trong làng Tonj thuộc miền Nam Sudan- Phi Châu trong suốt 8 năm trước khi cha qua đời vị căn bệnh ung thư ruột già. Cuốn phim tài liệu: “Don’t Cry for Me Sudan” năm 2010 (“Đừng Khóc Thương Tôi - Sudan”) đã chia sẻ về cuộc đời truyền giáo của linh mục Gioan Lee Tae Suk và là cuốn phim sẽ tham dự Đại hội điện ảnh lần thứ 61 tại Bá Linh vào năm tới- 2013.


Bài Xem Nhiều