We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 24 January 2014

Việt Nam Cộng Hòa 39 năm Càng Được Kính Mến

       Huy hiệu Lục quân Việt Nam Cộng hòa.png       

VNCH Càng Được Mến

a
Hậu duệ tuổi trẻ Việt Nam yểm trợ quê hương


Sự kiện lịch sử là chân lý, dù Thượng Đế cũng không thể thay đổiđược. Điều này có thể thấy rất rõ qua hành động và lời nói của người dân Việt trong ngoài nước cũng như thông tin, nghị luận của truyền thông đại chúng quốc tế, Pháp như RFI, Mỹ, VOA, RFA, tôn vinh, ngưỡng mộ, tri ơn Hải Quân VNCH tử chiến với TC trong việc bảo vệquần đảo Hoàng sa vào ngày 19 tháng 1, năm 1974. Và trên phương diện quốc gia rộng lớn hơn, Việt Nam Cộng Hòa, càng ngày, càng biết, càng tiếc, càng mến mộ VNCH.
Không những đồng bào Việt từ Sông Bến Hải trở vô Cà Mau sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà, mà đồng bào Việt từ Bến Hải trở ra Ải Nam Quan, sống trong chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN, tức VNCS, vẫn coi những sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ Hải Quân VNCH tử chiến với TC trong trận chiến Hoàng sa vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 là những người dũng cảm, anh hùng vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh, đúng với huy hiệu của Quân Lực VNCH, Trách Nhiệm, Danh Dư, Tổ Quốc như người Miền Bắc tôn kính gọi là những người “quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”.

Theo nhận định của những nhà quan sát và phân tích ngoại quốc, vô tư,trung trực thì năm 2014, là năm cao điểm người dân Việt tưởng niệm nhiều nhứt, đông nhứt, đa dạng, đa diện nhứt trận hải chiến Hoàng sa anh dũng của Hải Quân VNCH.

Nhớ không những năm nay mà nhiều năm qua, mỗi lần đến gần ngày 19/1 kỷ niệm Hoàng Sa, các đài phát thanh quốc tế có chương trình tiếng Việt như RFI của Pháp và RFA của Mỹ đều có nhắc lại trang sử bi hùng của quân lực VN Cộng Hoà tử chiến ở Hoàng sa năm 1974 và thường do liên kết ý nghĩ nhắc luôn quân đội VNCS năm 1988. Tiêu biểu như RFI có bài “Hải chiến Hoàng Sa 1974 trong ký ức một người lính biển” vàĐài RFA với phóng sư “Ngày tưởng niệm trận hải chiến Việt Nam -Trung Quốc năm 1974”. Từ Saigon qua Đà nẵng và Hà nội, đến các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, Mỹ, Pháp, Úc đều có tổ chức tưởng niệm.

Đặc biệt năm nay 2014, tại Đà Nẵng nhà cầm quyền VNCS, Sở Ngoại Vụ,Bảo Tàng Viện của tỉnh và thành phố và Uỷ Ban Nhân dân Huyện Hoàng sa cũng tổ chức, nhưng giờ chót vì một lý do nào đó xin lỗi huỷ bỏchương trình thấp nến tưởng niệm tử sĩ VNCH tử chiến ở Hoàng sa.

Trên đây mới là chỉ điểm son tốt đẹp của một thành phần cấu tạo của VNCH, là Quân, vốn là thành phần thứ hai trong cơ cấu VNCH gồm Dân, Quân, Cán, Chính.

Người Việt lớn tuổi nhớ thời VNCH sống đễ làm sao, dù có chiến tranh. Chạy xích lô ở Saigon sáng cũng có thể ăn tô phở, chiều cóthể lai ra
chai bia Con Cọp. Giáo sư trung học lương trên năm sáu ngàn,ở Miển Tây Nam Việt, ở trọ, ăn cơm tháng khỏang 500$. “Nhớ thuở xưa ta sống một đời Dễ dàng, ăn thiệt chỉ làm chơi, Như dòng sông Hậu trôi mơ mộng, Như đất Miền Tây rộng thảnh thơi.Cái đúng cái sai đòi đủthứ, Chuyện còn chuyện mất phú riêng trời. Nhiều sung sướng quá rồi không biết. Chừng biết vàng son đã hết thời.”
VNCH khai nguyên và tồn tại mấy chục năm tòan trong thời chiến tranh. Dân chủ, tự do của VNCH mới xây dựng và trong thời chiến. Thế nhưng người dân VNCH có tự do và dân chủ nhiều hơn đồng bào của mình ởngòai Miền Bắc. VNCH trên thực tế và pháp lý, thực chất và thực sựcó hiến pháp, có quốc hội, có đối lập, có tam quyền phân lập, hành pháp, lập pháp, tư pháp phân nhiệm và thực thi rõ ràng. Có lấn quyền, ủy quyền nhưng có tranh đấu, có sửa chữa để hiến pháp làđạo luật tối thượng của chánh quyền.

Trong xã hội có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do cưtrú, đi lại trong ngoài nước.

Có báo của tư nhân, có nghiệp đòan nhà báo, của công nhân, có biểu tình ủng hộ, biểu tinh chống chánh phủ.

Tổng Thống đệ nhứt VNCH đến Mỹ, lưỡng viện Quốc Hội họp rất long trọng, có đủ mặt chánh quyền Mỹ, ngoại giao đoàn dự khán để nghe tổng thống VN đọc diễn văn.

Dĩ nhiên tự do, dân chủ VNCH chưa tòan thiện, tòan mỹ, nhưng thực sựcó và phát triễn ngày càng tốt đẹp hơn.

Không có cảnh chà đạp tự do, dân chủ một cách vô tội vạ như thời VNCS. Không có công an vừa đánh dân vừa dùng xã hội đen đánh dân, ngoài đường lẫn trong đồn, dân chết hay bị thương, mà chưa có một công an lớn nào bị trừng phạt đúng kỹ luật hay pháp luật.

VNCH có tham nhũng, hối lộ nhưng không trầm trọng hết thuốc chữa, biến thành quốc nạn như thời VNCS. Thế mà VNCH quyết liệt thành lập một cơ quan hiến định là Giám sát Viện để bài trừ.

Còn VNCS lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ đến đổi tổ chức Transparency International Minh Bạch Quốc Tế công bố nhiều năm liền VNCS đội số tham nhũng trên thế giới.

VNCH không có một vị tổng thống, thủ tướng, tướng lãnh, dân biểu nghị sĩ, bộ trưởng nào của VNCH di tản ra ngọai quốc có đủ tiền mua lâu đài, ráng lắm là mua một cái nhà cho gia đình ở thôi. Có tướng phải đi làm thợ sơn, nghị sĩ bán xăng, dân biểu đi cắt chỉ, sĩ quan, công chức đi cắt cỏ trong buổi ban đầu để nuối gia đình trong thời chân ướt chân ráo.

Trí thức VNCH không có đại nạn, phong trào bằng cấp giả “cao cấp” nhưmấy ngàn tiển sĩ “dỏm” trong chế độ VNCS bây giờ.

Tổng Thống VNCH, hai vị của thời đệ nhứt cộng hòa đạo đức hơn xa Ông Hồ chí Minh. Tinh thần nối chí tiền nhân Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, chống quân Tàu, gìn giữ giang sơn gấm vóc, hơn hẵn những người lãnhđạo Đảng Nhà Nước CS Bắc Việt. TT Nguyễn văn Thiệu khi Mỹ bắt tayđược với TC, cúp viện trợ VNCH, thân cô thế cô cũng quyết gìn giữđất nước ông bà để lại với trận tử chiến của Hải quân VNCH ngòaiđảo Hòang sa năm 1974.

Trong khi đó suốt gần hai phần ba thế kỷ ở Miền Bắc và hơn một phần ba thế kỷ ờ Miền Nam, chưa bao giờ Đảng Nhà Nước VNCS cho phân quyền tam lập Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp gì. Đảng CS vẫn khư khư độc tàiđảng trị tòan diện.

Còn Ông Hồ chí Minh là một người gian ác hơn Tào Tháo, làm gia nô cho CS Nga, Tàu, giết hại các lãnh tụ quốc gia, ám hại đồng chí có uy tín, giết phụ nữ sau khi chiếm được xác thịt. Các tài liệu của Liên xô, Pháp giải mật cho thấy mà kinh tởm.

Độ lùi thời gian khá đủ. 39 năm qua người Việt ở Bắc, ở Trung, ởNam, ở hải ngọai, quốc tế Mỹ, Pháp, Anh, Úc càng biết càng tiếc, càng mến mộ Việt Nam Cộng Hòa./

 

Vi Anh

Xuân Lưu Vong!

Xuân Lưu Vong!

Xuân đến rồi đây anh biết không!
Mùa xuân xa cách để đau lòng!
Quê hương xa quá vùng vô tưởng!
Và kỷ niệm xưa đã mênh mông!

Xuân đến rồi đây anh biết không!
Mùa xuân viễn xứ của lưu vong!
Ta sống và làm thân tỵ nạn!
Nước người hồn ta bình yên không!

Xuân đến rồi đây trên thế gian!
Mùa xuân quá đắt của muôn ngàn!
Quê hương còn đó và cha mẹ!
Anh thấy tự do xót xa không!
CMTT

*****
39 năm người dân Việt trên quê hương không có mùa XUÂN 
thì làm sao trong tâm khảm người Việt tỵ nạn cs nơi xứ người có thể an hưởng mùa XUÂN cho riêng mình. 

Mừng XUÂN của người Việt tỵ nạn, nếu có, thì chỉ là bề ngoài; 
vì "Nước người hồn ta bình yên không!"

Và "Anh thấy Tự Do xót xa không!"
Niềm vui được chia sẻ thì niềm vui được tăng tràn.
Nỗi đau được chia sớt thì nỗi đau được giảm bớt.
Vì thế hưởng Tự Do, Dân Chủ, Tiến Bộ 
nơi xứ người mà không "chia sẻ" cho quê hương và cho Mẹ Việt Nam thì thật nghĩ ngợi, băn khoanh, trằn trọc!

Băn khoanh, trằn trọc, nghĩ suy ...với đời sống tích cực thay vì tiêu cực 
sẽ là động lực để bạn và tôi vững tâm, bền chí tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ, và phú cường. 

Đặng Bảo
23/1/2014
--

Táo Việt lưu vong 23 Tháng Chạp : Bút Xuân Trần Đình Ngọc-Trình báo Ngọc Hoàng

Trích:
Sự tích Ông Táo
Ngày xửa ngày xưa, tại một làng kia có một cặp vợ chồng nọ yêu nhau thì cũng không ai sánh bằng, mà nghèo thì cũng chẳng ma nào có thể “qua mặt.” Hàng ngày từ sáng sớm đến tối mịt, họ đi mò cua bắt ốc, mót lúa nhặt khoai... nhưng chưa bao giờ họ được một bữa lửng dạ chứ chẳng dám mơ ước no bụng. Biết không thể kéo dài mãi tình trạng “đen như cột nhà cháy” này, bằng không cả hai vợ chồng sẽ chết đói hết, họ đành chọn giải pháp “anh đường anh, tôi đường tôi,” chẳng phải vì “tình nghĩa đôi ta có thế thôi” nhưng bởi lý luận rằng “tay làm hàm nhai” đối với một người thì mới hy vọng sống còn, chứ “chậy ăn từng bữa toát mố hôi” cho những hai miệng ăn thì sớm muộn gì cũng đưa nhau ra “ngủ với giun dế” ở ngoài đồng.
Ngày chia tay, vợ chồng khóc lóc rất thảm thiết, còn hơn mưa gió, nhưng chỉ có trời chứng giám chứ dân làng không ai có thể “cứu nhân độ thế,” bởi chính họ cũng thường xuyên “đêm về vỗ bụng rau bình bịch.”
Một thời gian sau, người chồng cũng bỏ “túp lều lý tưởng” thuở xa xưa mà đi ăn xin ở một “chân trời tím” nào đó.
Trong khi ấy, người vợ “tuổi vừa hai bảy, dung nhan mặn mà” - nhưng trước kia vẻ đẹp này đã bị bụi bậm, bùn đất đắp lên khiến đến chính chủ nhân cũng không biết huống chi người ngoài - sau ngày vĩnh biệt người chồng vốn nghèo “can không nổi” ấy thì những nét “chim sa cá lặn” của nàng chẳng bao lâu đã lọt vào cặp mắt tinh đời của một phú hộ khi nàng đến xin ông ta làm phúc bố thí cho tí cơm thừa, chút canh cạn. Ông này chỉ lẳng lặng bảo nàng lội xuống ao rồi ngụp đầu dưới nước chừng dăm ba phút. Khi nàng ngẩng mặt lên, ông phú hộ lập tức rơi bõm vào tình trạng “tình càng thấm thiết, dạ càng ngẩn ngơ.” Ông ta lập tức “khấp con ngựa... ngựa ô,” đoạn “rước nàng về dinh.”
Nào ngờ, một hôm người chồng cũ đến xin ăn đúng nhà ông phú hộ. Bà chủ vốn là người từ tâm bởi chính bà cũng đã xuất xứ từ giới “khố rách áo ôm” nên bất cứ hành khất nào đến xin, bà cũng cho ăn uống no nê rồi còn bố thí chút gạo, ít ngô... Hai vợ chồng cũ nhận ra nhau; nước mắt hai người tuôn rơi không ngừng. Bà vợ mời người chồng cũ vào nhà, định bụng mời ông ăn một bữa cơm nóng với cá, thịt. Bỗng có tiếng chó sủa. Người vợ biết ông chồng mới sắp về đến nhà. Bà sợ “tình ngay lẫn ý ngay” của bà bị hiểu lầm nên quýnh quáng bảo người chồng cũ chui vào ẩn trong đống rơm ở gần bếp. Sau đó bà ra cổng đón người chồng hiện tại với dáng điệu thật tự nhiên thường ngày. Đúng lúc đó, không hiểu vì nguyên nhân nào mà lửa từ trong bếp đang ninh nồi cám lợn lại lan được sang đống rơm, bốc cháy. Người vợ hoảng hốt, hối hận đã xúi chồng cũ trốn trong đống rơm, nhưng bà lại không dám cho chồng hiện tại biết. Vừa đau lòng, vừa ân hận, bà nhẩy vào đống rơm đang cháy. Trước hành động quá bất ngờ của vợ, người chồng không hiểu nguyên nhân gì, nhưng thương vợ nên ông cũng bay mình vào đám lửa.
Thế là cả ba người, hai ông chồng và một bà vợ, đều chết thiêu, tuy nhiên vì chết đúng giờ linh nên cả ba người đều hóa thành thần. Dân gian thuở ban đầu đua nhau hát diễu, “Thế gian một vợ, một chồng - không như vua bếp, hai ông một bà.” Thế nhưng, Ngọc Hoàng ở thiên đình vì cảm kích trước tình nghĩa vợ chồng của ba người, đã phong cho cả ba thành Táo Quân, nghĩa là Thần Bếp, và giao cho bổn phận theo dõi cuộc sống của gia đình để mỗi ngày 23 tháng Chạp Âm Lịch thì về báo cáo với Trời - nên có nơi còn gọi ngày này là Tết Ông Công (tức Thần Đất hay “Thổ Công”)
 Hoài Mỹ

S Táo Quân

Tường trình sơ lược những việc quan trọng trên Thế giới trong năm Quí Tị 2013



Muôn tâu Thượng Đế!

Đã ba mươi năm

Thn vn âm thm

Trình lên Ngài ng

Quc tế lch s

Đ chuyn cui năm

Nhng chuyn quá hăng

Con người đo din

Thế gii đã biến

thành nơi hung him

Và nơi giết người

Tàn đc quá tri

D hơn rn rết

Con người đã hết

Nht đim  lương tri

Chúa, Pht… dù gì

Bao gi dy thế?

Ch vì sinh kế

Li mun giàu sang

Quay ra làm tàng

Trn lt đng chng

Luân lý không đng

Giáo lý vô phương

Vì bn chúng thường

Vô thn, vô thánh

Chúng ch tìm mánh

Vơ vét, làm giàu

Hưởng th tht sâu

y là h d

Dù bao tai v

Đ đu nn nhân

Mt chúng câng câng

Tha h phét lác!

       &&&

Thc là kinh ngc

Giáo Hoàng Bê-nê (1)

Làm vic khi chê

Ngài xin t nhim

Vi mt ý nim

Ngài  tui đã cao

Nên xin lui vào

Đ bu v khác

(Tân)  Giáo Hoàng Francis (2)

Tương đi tr hơn

Người Á- căn- đình

Bình dân, sng đng

Ngài rt bn rn

Sa sang Giáo triu

Tui tr, Ngài yêu

Đt làm nn tng

Danh Cha c sáng

Vng mnh Đc Tin

Xây mt bình minh

Bình an hn xác!

Đo Chúa ri khp

Mt t hai trăm (2’)

Sáng hơn vng trăng

Yêu người, kính Chúa!



&&&

I-ran, I-rác

I-rác tm êm

Xây dng t nn

T do, Dân ch

T ngày (ông) Bush b

Nht là Bush con

Tr kh Saddam

Thành I-rc mi

Th tướng rt “ti”

Ông Maliki

Tiến b ra gì

T do, Dân ch

&&&

I-ran vn  th

Vũ khí ht nhân

Nên c ln khân

di la quc tế

Phi đn có th

Vượt Đi tây dương

thng li tìm đường

Mò vào Do Thái

Cũng như rt hi

Nó viếng châu Âu

Chuyn nói t lâu

Nhưng mà nước M

Nói thì nói k

Làm chng làm chi

Va đúng thi kỳ

Tng I-ran  mi (3)

V này hơi “ni”

Chính sách mng, mm

May ra s nên

Hòa hoãn vi M!

     &&&

Sang chuyn đáng ghi

Ph n rp

Xưa b trù dp

Bi bn “lin” ông

Bn v nhông nhông

Đàn bà đau  kh

Áo trùm ti c

Bt mũi bưng tai

Còn đôi mt nai

Đ nhìn mà bước

Lut nay cho phép

Ph n đi bu

S chng bao lâu

Có nhiu tiến b

Dân ch n r

y là vinh quang

       &&&

Nay Thn quay sang

Hoa Kỳ Hip chng

Bn năm (nay) lúng túng

Kinh tế trm kha

Tht nghip quá ta

Mi điu rút li

Tht là có hi

Tr hc bt gi

Thy, cô  mt đ

Vì lp đông quá

K ngh “tàn t

Chuyn  ra nước ngoài

Nhân công tính “đai” (4)

Thêm li thêm lãi

Công ty c ni (5)

Đem job ra xa

Dân tht nghip “la”

H không lý ti

Lãi nhiu h hi (6)

Sn phm đem v

Giá cũng r r

Bán nhanh khá d

Chết công nhân M

Trong nước  trn thân

Tin cn dn dn

Cuc sng băn bó

Kiếm vic  không có

Thuế cũng kém đi

Xin hãy nghĩ suy

Mt điu rt  nh

Tư bn đu t

 K ngh  đem  (tr) v

Dù rng tin li

Là thua khi trước

Nếu không tính trước

S có hi sau

&&&



M ct khá đau

Nng n Ngân sách

Cui năm cp bách

Dân ch, Cng hòa

Tng  Ô-ba-ma

Thy đu bi ri

Y tế hơi “chi” (7)

Vì Ô-ma- ke (8)

Nhiu người đã nghe

Tưởng rng nó khá

Ai ng mang v

Đ n đ nn

Chng biết sao mn

Trước khen cho c (9)

 Bây gi xin b

Sm dt nhim kỳ

Đt nước suy vi

Chúng tôi quá nn

Dù kinh tế chán

Chúng tôi vn mong

Nước M hanh thông

Mi nhà  hưởng phúc

Va tài, va đc

Được mi may lành

Nước M  đàn anh

Toàn cu tin tưởng!
Tinh thn, chí hướng

C Dim, Ngô đình

C đã hi sinh

50 năm trước (10)

T đy mt nước

V tay gic H

Min Nam! Than ôi!

Vào tay qu d

Mt ngày Lch s

30 tháng Tư

Triu người tha phương

Tìm đường lánh Cng


Ken-đy bo đng (11)

Chết sau ba tun

Nhân qu chia phân

Đo Tri quá rõ

Nhng bn heo chó

Quen thói giết người

Phi nh Lut Tri

Sát nhân gi t (12)


Đng v ư h

Thượng Đế công minh

Ngài rt công bình

Chy đâu cho thoát!

Nước như đng rác

Đĩ điếm ma cô

Tp hun: gic H

Cướp và trm cp

Mi người phi nhc

Nh bo nhau luôn

Nếu có ra đường

Đ phòng cướp git

C nước tt bt

Say “xn” quá đi

Ba t lít bia

Na t lít đế

Thuc (lá), rượu phá b

Tim, phi, d dày

Ung bướu được thi

R ra như nm

Biu tình b cm

Dù biu chng Tàu

Chúng đã nm sâu

Tây nguyên, ni đa

Phương Uyên, Minh Hnh

Cùng Đinh Nguyên Kha…

Phn đi bn Hoa

Đu b giam gi

Nhìn qua, coi th

&&&

Cu (Th) tướng nước Anh