We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 7 March 2014

CHUYỆN KHỦNG BỐ Ở NƯỚC XÍCH QUỶ CỘNG SẢN VIỆT NAM






TRÙM KHỦNG BỐ NGUYỄN TẤN DŨNG

Mấy ngày nay truyền thông thế giới sôi động về việc trùm khủng bố quốc tế Osama Bin Laden bị tiêu diệt. Có lẽ kể từ ngày 11/9/2001 khi 2 tòa tháp đôi bị đánh sập tại New York đây là lần đầu tiên mà báo nào, đài nào, ai ai cũng bàn chuyện khủng bố. Nhiều người thở phào nhẹ nhõm và nhiều nơi trên đất Mỹ người ta nhẩy nhót, ăn mừng. Công lý cuối cùng đã được thực thi cho hơn 3000 thường dân vô tội và mở ra hy vọng mới cho một thế giới yên bình hơn.

Ngay sau khi tổng thống Obama tuyên bố, lãnh đạo của nhiều nước đã lên tiếng chúc mừng nước Mỹ.

Khá muộn mằn, ngày 3/5/2011 bà Nguyễn Phương Nga, người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam, trong một tuyên bố rất ngắn gọn dưới dạng “trả lời câu hỏi của phóng viên” – nhưng không rõ phóng viên nào- cho biết: “Việt Nam phản đối chủ nghĩa khủng bố và lên án các hoạt động khủng bố dưới mọi hình thức”.

Vấn đề đặt ra là Việt Nam quan niệm ra sao về khủng bố?

Cùng lúc tuyên bố của bà phát ngôn viên Phương Nga, các blogger đã phát hiện ra báo chí Việt Nam nhân kỉ niệm 36 năm ngày thống nhất đã đăng tải nhiều bài báo ca ngợi việc khủng bố của VC trong thời kỳ còn chiến tranh. Tờ VietNamNet sau phản ứng của một số bạn đọc đã xóa bỏ bài viết những bài này vẫn có thể truy cập trên nhiều báo khác như Dân Việt, Dân Trí và những tờ đăng tải sau đó.

Bài thứ nhất “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn” ca ngợi chiến công hiển hách của 2 biệt động Sài Gòn là Hùng và Châu. Người viết Vũ Quang Hùng- cũng chính là người đặt bom giết chết giáo sư Nguyễn Văn Bông- từng là phó Tổng biên tập báo Công an TP. HCM. Giáo sư Bông bị sát hại khi 42 tuổi, là một trí thức cấp tiến có khả năng trở thành thủ tướng của Việt Nam Cộng Hòa. Lúc mất ông là Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, cố vấn cho Tối cao Pháp viện, ủy viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Cùng thiệt mạng với ông còn có 3 người khác là vệ sĩ là lái xe. Ông để lại người vợ góa 30 tuổi và 3 con nhỏ.

Bình luận về điều này, blogger Anhbasam cho rằng, câu chuyện đặt trong bối cảnh chống khủng bố hiện nay thật là “khó nuốt”, bạn đọc khác nói “đã khủng bố còn đi khoe”!

Câu chuyện thứ 2 kể về một cô gái đi đánh bom khủng bố từ lúc 14 tuổi, người tự khoe là đã từng mưu sát Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

“Ký ức hào hùng” của bà Trịnh Thị Thanh Mão như sau, năm 1964, khi 14 tuổi, lợi dụng sự ít chú ý tới trẻ con, bà đã “chuyển vũ khí, thuốc men vào căn cứ cách mạng; hóa thân vào làm người bán hàng rong trà trộn vào lòng địch cài bom hẹn giờ nổ đánh xe, tiêu diệt địch“… Sau một loạt thành tích đặt bom, năm 18 tuổi bà được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng. Việc ám sát Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được bà thực hiện vào năm 1970 trong buổi khánh thành hệ thống “ấp chiến lược”, bà bắn 2 viên đạn nhưng không viên nào nổ.

Ngay từ những ngày đầu thành lập, đảng Cộng sản đã thực hiện nhiều vụ khủng bố, thanh trừng ám sát những nhân vật thân Pháp, hay không theo cộng sản. Sử sách còn ghi lại những đội cảm tử, có tới cả trăm người, ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch. Trước khi thi hành nhiệm vụ, họ đã thực hiện lễ truy điệu sống..


April 30, 1967: A civilian bus traveling on Highway 1, east of Trang Bang, came upon a bridge destroyed by the Viet Cong. While turning his bus around, the driver ran over a Viet Cong land mine. Twenty persons were wounded and one died later as a result of injuries. (Ngày 30 tháng Tư, 1967: Một chuyến xe đò chở khách trên Quốc lộ 1, phía tây Trảng Bàng, đi đến một chiếc cầu nhưng cầu đã bị Việt cộng phá sập. Trong khi tài xế cho quay đầu xe ngược lại, xe đò cán phải một trái mìn do Việt cộng gài. Hai mươi người bị thương và sau đó một người bị chết vì vết thương quá nặng.)
Ngày 25/6/1965, Việt cộng gài bom tại nhà hàng nổi Mỹ Cảnh, Sài Gòn.
Bom nổ làm 42 người chết và 81 người bị thương

Những vụ việc trên xảy ra trong thời gian chiến tranh và khi đó quan niệm về khủng bố cũng khác xa so với ngày nay. Những chiến công hiển hách trước kia, nếu soi xét dưới góc độ ngày nay chỉ là những vụ khủng bố đẫm máu, đánh bom tự sát. Những gì đã thuộc về quá khứ, thì không thể thay đổi được nữa và cần được xem trong bối cảnh lịch sử tương thích. Nhưng thiết nghĩ, trong lúc hô hào hòa hợp hòa giải dân tộc và xóa bỏ hận thù, những vụ việc xưa, nếu có viết lại nên viết theo kiểu tư liệu lịch sử thay vì tung hô, ca ngợi rùm beng.
Nếu việc khủng bố chỉ được đảng CS thi hành trong chiến tranh thì cũng chưa phải là điều đáng nói. Thực tế, sau 36 năm thống nhất đất nước, họ vẫn tiếp tục hành động khủng bố của mình bằng nhà tù, bằng còng số 8 thông qua điều 88 và 79 của bộ luật Hình sự.
Phương tiện họ dùng khủng bố không phải là bom ba càng, mìn hẹn giờ mà dùng chính Hiến pháp, thông qua điều IV và lực lượng công an, an ninh dày đặc để o bế và đàn áp những người bất đồng chính kiến.
Hàng loạt các trí thức, nhân sĩ yêu nước bị bỏ tù vì đòi hỏi thực thi dân chủ nhân quyền đã bị kết án như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, LM Nguyễn Văn Lý, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Vi Đức Hồi, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ.v.v. Đó chính là sự tiếp tục chủ nghĩa khủng bố từ những năm xưa. Những trí thức trên và còn nhiều người khác nữa bị kết những bản án từ vài năm tới cả chục năm tù chỉ vì quan điểm của mình qua phỏng vấn hay các bài viết. Vậy không là khủng bố thì sao?
Chỉ khác là, thay vì khủng bố nhằm vào những kẻ ngoại bang, giờ đây họ, đảng cộng sản đang khủng bố chính nhân dân mình.
.

Tham khảo thêm:
Các vụ khủng bố của Việt cộng ở miền Nam Việt Nam
http://www.11thcavnam.com/education/namterror.htm


image001.jpg (94562 bytes)Viet Cong Terrorists Kill 160 In US Embassy Bombing In Saigon Wrecked Embassy Interior: This is the interior of the US Embassy in Saigon after the Viet Cong terrorist bomb exploded near the building on March 30. More than 160 Vietnamese and Americans were killed or injured in the blast. Many were passers-by or persons in shops across the street from the Embassy. President Johnson called the attack an outrage and said 'this will only reinforce the determination of the American people and government to continue to strengthen their assistance and support for the people and government of Vietnam.'
image002.jpg (88140 bytes)Viet Cong Terrorists Use 250-Pound Bomb To Destroy Metropole Hotel
Saigon, December 4, 1965-- US Representative David S. King of Utah, standing behind one of the many private Vietnamese vehicles destroyed when Viet Cong terrorists exploded an estimated 250-pound bomb in front of the Metropole Hotel, a US enlisted men's billet, early this morning. Talking with an unidentified US serviceman is Louis I. Freed, a staff investigator for the US House of Representatives.
image003.jpg (68817 bytes)US Marines 'Adopt' Vietnamese Boy Injured By Land Mine
Viet Cong Victim And Benefactor: Le Dac, a South Vietnamese boy who lost a leg in 1965 when he stepped on a Viet Cong land mine while herding cows near his home village southwest of Da Nang, enjoys a stroll with Corporal Gary Cooper of the 3rd US Marine Division. Corporal Cooper and other members of the division, stationed at Da Nang, have made arrangements for the young lad to be flown to Saigon to be fitted with an artificial leg. The Marines are also teaching Le Dac to read and write, and have started a fund for his future schooling.
Newspaper
Americans Killed And Wounded In Red Attacks At Pleiku
7 U.S. servicemen were killed and 80 wounded when North Vietnamese forces launched to sneak night attacks on two U.S. compounds at Pleiku, 240 miles north of Saigon.
image004.jpg (65484 bytes)Air Force Evacuates Refugees To Saigon Refugee Evacuation: Saigon: Flight For Freedom: Vietnamese refugees forced by Viet Cong attacks to abandon their central highlands village board an Air Force CH-3C heliocopter for a trip to a safe area near Saigon. In the wake of major battles and Viet Cong attacks, Air Force helicopter and troop transport crews move hundreds of Vietnamese to safety.
image005.jpg (50437 bytes)Victims Of Viet Cong Midnight Raids
Vietnamese Farmers Victims Of Viet Cong Midnight Raids - Nguyen Van Buong (shown in casket) was a 38-year-old rice farmer and the father of three children. His wife and aged father are shown standing around his casket in their thatched-roof, dirt-floored, one room home.
image006.jpg (77831 bytes)Viet Cong Land Mine Kills 1 And Injures 20 On Civilian Bus
On April 30, 1967, a civilian bus traveling on Highway 1, east of Trang Bang, came upon a bridge destroyed by the Viet Cong. While turning his bus around, the driver ran over a Viet Cong land mine. Twenty persons were wounded and one died later as a result of injuries.
image007.jpg (73550 bytes)Infant Burned In Dak Son Massacre With the aid of a convalescent patient at the hospital in Song Ba, a badly burned infant is carried to temporary quarters. The Vietnamese government has promised to rebuild their home.
image008.jpg (124007 bytes)Victims Of Dak Son Massacre Await Burial
Bodies wrapped in available material await burial in one of the few remaining huts. These bodies were removed from a tunnel shelter.

image009.jpg (100368 bytes) Viet Cong Attack Sam Bua In Vinh Binh Province
Victims of a Viet Cong attack on Sam Bua hamlet, Vinh Binh Province, on July 8, 1967, sit beside their destroyed homes.
The communist leaders of Vietnam responsible for subjecting anti-Communist Vietnamese and U.S. prisoners of war to concentration camps, brutal guards, starvation rations, decapitation, killing fields and mass graves. The facts needed to investigate and successfully prosecute Vietnamese war criminals are clearly laid out in thousands of pages of documentation and testimony on file with the U.S. government, including statements and reports received from victims, witnesses, other governments, UN agencies, international organizations and non-governmental organizations.

The Vietnamese Communist Leaders, have a well-defined and recorded history as a black-hearted war criminal. Vietnamese Communist Party recruited young Vietnamese men and women (children included) and trained them as terrorists for terrorism acts against the civilian population of South Vietnam .


The communist leaders responsible for the Viet Cong's official policies pertaining to the treatment of U.S. prisoners of war, policies which resulted in the deaths of nearly 40 percent of all U.S. prisoners in Viet Cong prisons.

In the name of justice and for the sake of all the victims of Vietnamese Communist's war crimes, please ask that they (VCP) be investigated and prosecuted by the newly formed United Nations War Crimes Tribunal.

For your information, here is a list by date of some of the war crimes members of the Vietnamese Communist Party are guilty of.


Viet Minh gained political power in 1954 , members of the Lao Dong (Communist Party) invaded South Vietnam after the end of the French-Indochina . Vietnamese communists conceal their involvement in ordering brutal acts of terrorism.

1957-58: VCP used the application of violence, elimination of anyone who might potentially support, or form the core of, opposition to their communist ideologies deliberate policy of exterminating possible opponents had been refined to an art, with South Vietnamese village chiefs and their families serving as primary targets for wholesale campaigns of assassination.


The following is a partial chronological list of terrorist acts which were a part of VCP's campaign of terror against the civilian population of South Vietnam.

Feb. 2, 1960: Terrorists sack and burn the Buddhist temple at Phuoc Thanh, Tay Ninh province. They stab to death 17-year old Phan Van Ngoc, who tries to stop them.

April 22, 1960: Some 30 armed communists raid Thoi Long, An Xuyen province. They attempt to take away villager Cao Van Nanh, 45. Villagers protest en masse. Farmer Pham Van Bai, 56, is particularly argumentative. The communists, angered, seize him.
This arouses the villagers who swarm toward the Viet Cong and their prisoner. The communists fire into the crowd. A 16-year old boy is shot dead.

August 23, 1960: Two school teachers, Nguyen Khoa Ngon and Miss Nguyen Thi Thiet, are preparing lessons at home when communists arrive and force them at gun point to go to their school, Rau Ran, in Phong Dinh province. There they find two men tied to the school veranda. The communists read the death order of the two men, named Canh and Van. They are executed, presumable to intimidate the school teachers.

September 24, 1960: An armed band sacks a school in An Lac. An Gian province. It piles seats and desks together and fires them and the school. All that remains is four bare walls.

September 28, 1960: Father Hoang Ngoc Minh, much beloved priest of Kontum parish, is riding from Tan Canh to Kondela. A communist road block halts his car. A bullet smashes into him. The guerrillas drive bamboo spears into Father Minh's body, then one fires a submachine gun point blank, killing him. The driver Huynh Huu, his nephew, is seriously wounded.

September 30, 1960: A band of ten armed communists kidnap farmer Truong Van Dang, 67, from Long Tri, Long An province. They take him before what they call a "people's tribunal." He is condemned to death for purchasing two hectares of rice land and ignoring communist orders to turn the land over to another farmer. After the "trial" he is shot dead in his rice field.

December 6, 1960: Terrorists dynamite the kitchen at the Saigon Golf Club, killing a Vietnamese kitchen helper and injuring two Vietnamese cooks.

December 1960: The GVN reports to the ICC that during the year the communists destroyed or damaged 284 bridges, burned 60 medical aid stations and, through destruction of schools, deprived some 25,000 children of schooling.

March 22, 1961: A truck carrying 20 girls is dynamited on the Saigon-Vung Tau road. The girls are returning from Saigon where they have taken part in a Trung Sisters Day celebration. After the explosion terrorists open fire on survivors. Two of the girls are killed and ten wounded. The girls are unarmed and traveling without escort.

May 15, 1961: Twelve Catholic nuns from La Providence order are traveling on Highway One toward Saigon. Their bus is stopped by communists who ransack their luggage. Sister Theophile protests and is shot dead on the spot. The vehicle is sprayed with bullets seriously wounding Sister Phan Thi No. The ambush takes place near Tram Van, Tay Ninh Province.

July 26, 1961: Two Vietnamese National Assemblymen Rmah Pok and Yet Nic Bounrit, both Montagnards, are shot and killed by terrorists near Dalat. A schoolteacher, traveling with them on their visit to a Montagnard resettlement village, is also killed.

September 20, 1961: One thousand main force communist soldiers storm Phuoc Vinh, capital of (then) Phuoc Thanh province, sac and burn government buildings, behead virtually the entire administrative staff. They hold the capital for 24 hours before withdrawing.

October, 1961: A U.S. State Department study estimates that the communists are killing Vietnamese at rate of 1,500 per month. December 13, 1961: Father Bonnet, a French parish priest from Konkala, Kontum is killed by a terrorist while visiting parishioners at Ngok Rongei.

December 20, 1961: S. Fuka, a Japanese engineer at the Da Nhim dam, a Japanese government war reparations project to supply electric power to Viet-Nam, is kidnapped after being stopped at a road block. His fate is never learned.

January 1, 1962: A Vietnamese labor leader, Le Van Thieu, 63, is hacked to death by terrorists wielding machetes near Bien Hoa, in the rubber plantation on which he works.

January 2, 1962: Two Vietnamese technicians working in the government's anti-malaria program, Pham Van Hai and Nguyen Van Thach, are killed by communists with machetes, 12 miles south of Saigon.

February 20, 1962: Terrorists throw four hand grenades into a crowded village theater near Can Tho, killing 24 women and children. In all, 108 persons are killed or injured.

April 8, 1962: Communists execute two wounded American prisoners of war near the village of An Chau in Central Viet-Nam. Each, hands tied, is shot in the face because he cannot keep up with the retreating captors.

May 19, 1962: A terrorist grenade is hurled into the Aterbea restaurant in Saigon, wounding a Berlin circus manager and the cultural attache from the German Embassy.

May 20, 1962: A bomb explodes in front of the Hung Dao Hotel, Saigon, a billet for American servicemen, injuring eight Vietnamese and three Americans who are in the street at the time.

June 12, 1962: Communists ambush a civilian passenger bus near Le Tri, An Giang province, killing the passengers, the driver and the driver's helper, a total of five men and women.

October 20, 1962: A teenage communist hurls a grenade into a holiday crowd in downtown Saigon, killing six persons, including two children, and injuring 38 persons.

November 4, 1962: A terrorist hurls a grenade into an alley in Can Tho, killing one American serviceman and two Vietnamese children. A third Vietnamese child is seriously injured.

January 25, 1963: Communists dynamite a passenger freight train near Qui Nhon, killing eight passengers and injuring 15 others. The train is carrying only rice as freight.

March 4, 1963: Two Protestant missionaries-Elwood Forreston, an American, and Gaspart Makil, a Filipino, are shot dead at a road block between Saigon and Dalat. The Makil twin babies are shot
and wounded.

March 16, 1963: Terrorists hurl a grenade into a Saigon home where and American family is having dinner, killing a French businessman and wounding four other persons, on of them a woman.

April 3, 1963: Terrorists throw two grenades into a private school near Long Xuyen, An Gian province, Killing a teacher and two other adults. Students are performing their annual variety show at the time.

April 4, 1963: Terrorists throw grenades into an audience attending an outdoor motion picture showing in Cao Lanh village in the Mekong Delta, killing four persons and wounding 11.

May 23, 1963: Two powerful explosions set off by terrorists on bicycles kill two Vietnamese and wound ten others in Saigon. Police believe the explosion was accidentally premature.

September 12, 1963: Miss Vo Thi Lo, 26, a schoolteacher in An Phuoc, Kien Hoa province, is found near the village with her throat cut. She had been kidnapped three days earlier.

October 16, 1963: Terrorists explode mines under two civilian buses in Kien Hoa and Quang Tin provinces, killing 18 Vietnamese and wounding 23.

November 9, 1963: Three grenades are thrown in Saigon, injuring a total of 16 persons, including four children; the first is thrown in a main street, the second along the waterfront, and the third in the Chinese residential area.

February 9, 1964: Two Americans are killed and 41 wounded, including four women and five children, when a communist bomb is set off in a sports stadium during a softball game. A second portion of the bomb fails to explode. Officials estimate that if it had, fifty persons would have died.

February 16, 1964: Three Americans are killed and 32 injured, most of them U.S. dependents, when terrorists bomb the Kinh Do movie theater in Saigon.

July 14, 1964: Pham Thao, chairman of the catholic Action Committee in Quang Ngai, is executed when he returns to his native village of Pho Loi, Quang Ngai province.

October, 1964: U.S. officials in Saigon report that from January to October of 1964 the communists killed 429 Vietnamese local officials and kidnapped 482 others.

December 24, 1964: A Christmas eve bomb explosion at the Brink officers' billet kills two Americans and injures 50 Americans and 13 Vietnamese.

February 6, 1965: Radio Liberation announces that the communists have shot two American prisoners of war as reprisals against the Vietnamese government, which had sentenced two terrorists to death.

February 10, 1965: Terrorists blow up an enlisted men's barracks in Qui Nhon, killing 23 Americans.

March 30, 1965: A bomb explodes outside the American Embassy in Saigon, killing 2 Americans, 18 Vietnamese and injuring 100 Vietnamese and 45 Americans.

June 24, 1965: Radio Liberation announces the execution of an American prisoner.

June 25, 1965: Terrorists dynamite the My Canh restaurant in Saigon, killing 27 Vietnamese, 12 Americans, two Filipinos, one Frenchman, one German; more than 80 persons are injured.

June 1965: Vietnamese officials report the rate of assassinations and kidnappings of rural officials has double din June over May and April; 224 officials were either killed or kidnapped.

August 18, 1965: A bomb at the Police Directorate office in Saigon kills six and wounds 15.

October 4, 1965: One of two planted bombs explodes at the Cong Hoa National Sports Stadium, killing eleven Vietnamese, including four children, and wounding 42 persons.

October 5, 1965: A bomb goes off, apparently prematurely, in a taxi on a main street in downtown Saigon, killing two Vietnamese and wounding ten others.

December 4, 1965: In Saigon a terrorist bomb kills eight persons when it explodes in front of a billet for U.S. enlisted men; 137 are injured, including 72 Americans, three New Zealanders and 62
Vietnamese.

December 12, 1965: Two terrorist platoons kill 23 Vietnamese canal construction workers asleep in a Buddhist Pagoda in Tan Huong, Dinh Tuong province; wound seven others.

December 30, 1965: Saigon editor Tu Chung of the newspaper Chinh Luan is gunned down in point blank fire as he arrives home at noon for lunch. Earlier he had published the texts of threatening notes he had received from the communists.

January 7, 1966: A Claymore mine explodes at Tan Son Nhut gate (entrance to Saigon airport), killing two persons and injuring 12.

January 17,1966: Communists in Kien Tuong detonate a mine under a highway bus, killing 26 civilians, seven of them children. Eight persons are injured and three are listed as mission.

January 18, 1966: Communists mine a bus in Kien Tuong province, killing 26 civilians.

January 29, 1966: Terrorists kill a Catholic priest, Father Phan Khac Dau, 74, at Thanh Tri, Kien tuong province. Five other civilians, including a church officer, are also killed. The marauders desecrate the church, destroying its statuary and religious artifacts.

February 2, 1966: A communist squad ambushes a jeep load of Vietnamese information workers, killing six and wounding one: in Hau Nghia province.

February 14, 1966: Two mines explode beneath a bus and a three- wheeled taxi on a road near Tuy Hoa, killing 48 farm laborers and injuring seven others.

March 18, 1966: Fifteen Vietnamese civilians are killed and four injured by the explosion of a homemade mine on a country road eight kilometers west of Tuy Hoa, Phu Yen province.

May 22, 1966: Terrorists kill 18 sleeping men, a woman and four children during an attack on a housing center for canal workers in the Mekong Delta province of An Giang. "We are doing this to teach you a lesson," a communist cadre is reported to have said just before he pulled the trigger.

September 10, 1966: On the eve of South Vietnam's Constituent assembly elections, communists stage 166 separate incidents of intimidation, abduction and assassination, Polling places also are destroyed.

September 11, 1966: On election day, communists kill 19 voters wound 120, in fire on polling places, mining of roads, and in individual assassinations.

September 24, 1966: American troops free eleven persons from a communist "jail" in Phu Yen province who report that 70 fellow prisoners were deliberately starved to death and 20 others tortured until they died.

October 11, 1966: Acting on information from a 14-year old boy, allied forces discover a prison complex in Binh Dinh province containing the bodies of 12 Vietnamese who had been machine gunned and grenaded by fleeing guards.

October 22, 1966: A youth worker in Binh Chanh, Gia Dinh province, is shot and killed by raiders while asleep in his home.

October 24, 1966: The Hue-Quang Tri bus runs over a mine in Phong Dien district, Thua Thien province;
15 passengers are injured.

October 27, 1966: A grenade is thrown into a home in Ban Me Thout, Darlac province, killing a 63-year old man and a nine- month old child; seven other persons , six of them women, are wounded.

October 28, 1966: An alert policeman arrests a female communist agent who is about to place a time-bomb under the reviewing stand at a festival in Khanh Hung (Soc Trang), Ba Xuyen province.

November 1, 1966: Communists direct long-range recoilless rifle fire into downtown Saigon during National Day celebration killing or wounding 51 persons.

November 2, 1966: A grenade is thrown by a terrorist at Phu Tho racetrack, Saigon, killing two persons and wounding eight others, including two children.

November 2, 1966: A squad of armed guerrillas attacks a hamlet in Chau Thanh district, Phong Dinh province, then withdraw after detonating a 10-kilogram charge which wrecks a steel bridge across the Dau Sau canal. An aged woman and two children are wounded.

November 3, 1966: Communist squads infiltrate the outskirts of Saigon, fire 24 recoilless rifle shells on the city. Among the buildings hit are Saigon Central Market, Grall Hospital, Saigon Cathedral, a seminary chapel and several private homes. Eight persons are killed and 37 seriously wounded.

November 4, 1966: Communists lob mortar shells into a village in Hau Nghia province, killing one civilian and wounding eight.

November 4, 1966: Communist attack an outpost in Tay Ninh province, killing six civilians and wounding Revolutionary Development team members.

November 7, 1966: A communist squad on Provincial Road 8, Quang Duc province, abducts a hamlet chief and deputy chief.

November 8, 1966: In Chau Doc province, a 53-year old woman is tortured and shot to death; a note pinned to her body accuses her of supporting the South Vietnamese government.

November 16, 1966: A terrorist bomb-laden bicycle on Nguyen Van Thoai Street, Saigon, explodes; two South Vietnamese soldiers and a civilian are wounded.

November 19, 1966: Eight mortar rounds on Can Giuoc, Long An province, kill two children; 12 civilians are wounded some 20 mortar rounds drop on Can Duoc, wounding five civilians.

November 20, 1966: Two policemen are wounded when they attempt to remove several communist banners equipped with explosive devices.

November 23, 1966: Three terrorists dressed in South Vietnamese army uniforms kill a policeman guarding a bridge at Khanh Hung (Soc Trang), Ba Xuyen province. While escaping, they throw two
grenades, wounding seven civilians and two soldiers.

November 26, 1966: A Claymore-type mine is set off in the playground of the Trinh Hoai Duc boys' school, An Thanh, Binh Duong province. Korean troops are using adjacent area as a training site. Three Koreans are killed and a Vietnamese student is wounded.

November 30, 1966: Communist shell Tan Uyen market, Bien Hoa province, killing three civilians and wounding seven.

December 4, 1966: A village chief in Gia Dinh province is abducted from his home in Phu Lam by four men and assassinated by rifle fire.

December 7, 1966: Tran Van Van, Constituent Assemblyman, is assassinated while en route to the National Assembly building; death weapon is a .32 caliber East German pistol; his killers are captured.

December 10, 1966: A terrorist throw a grenade into the Chieu Hoi district playground, Binh Duong City, severely injuring three children.

December 10, 1966: A taxi on Highway 29, Phong Dinh province runs over a mine. Five passengers, all women, are killed and the driver badly wounded.

December 13, 1966: Revolutionary Development personnel attend a course at the Ca Mau school, An Xuyen province; a charge explodes in the classroom, killing three and wounding nine.

December 20, 1966: A squad infiltrates a hamlet in Quang Tin province, kidnaps a former Viet Cong member who recently defected, carries him to another location and shoots him.

December 27, 1966: National Constituent Assemblyman, Dr. Phan Quang Dan, narrowly escapes death when his car explodes in Gia Dinh province. A charge is concealed beneath the vehicle and detonates as Dr. Dan opens the door. Dan escapes with minor wounds but a woman passerby is killed and five civilians wounded. January 6, 1967: A South Vietnamese policeman kin Tan Chu, Kien Phong province, is shot and killed while members of his family look on.

January 7, 1967: An explosion destroys a school and health station in Hong Ngu district, Kien Phong province.

January 8, 1967: In An Xuyen province, terrorists throw a grenade into the house of a hamlet chief. One of the children is killed and three other civilians are wounded.

January 12, 1967: Three civilians are killed and three South Vietnamese soldiers are wounded in an ambush of a truck on National Highway 14, two kilometers south of Tan Canh village.

January 15, 1967: At Thanh Tho, Quang Tin province, communists shoot a merchant when he refuses to give them two oxen.

January 21, 1967: Several communists force their way into Buon Ho, Darlac province, gather the people for a propaganda lecture; kidnap six young men.

February 6, 1967: Communists raid Lieu Tri, Quang Tin province, and abduct a teacher and a local officials. The teacher is killed.

February 6, 1967: A grenade is thrown onto the porch where Kontum deputy province chief is entertaining a group of South Vietnamese officials. The provincial Chief of Education is killed instantly; the Chief of Montagnard Affairs and another official die of wounds the next day. Eight other are seriously wounded.

March 4, 1967: Only two badly wounded prisoners survive as communist prison guards near Can Tho tie 12 South Vietnamese captives together, shoot and stab them before fleeing from advancing South Vietnamese troops; both survivors live despite having their throats cut.

March 5, 1976: In an nocturnal raid, terrorists murder two young Revolutionary Development workers in Vinh Phu, Phu Yen province. Seven additional Revolutionary Development team members are killed in the ensuing gunfight and four are wounded. The raid is the 113th attach on Revolutionary Development workers since the first of the year.

March 30, 1967: Recoilless rifle fire directed at homes of families of South Vietnamese troops demolishes 200 houses and kills 32 men, women and children in the capital city of Bac Lieu province.

April 13, 1967: A South Vietnamese entertainment troupe is the target of nocturnal raid in Lu Song hamlet, near Da Nang. The team chief and his deputy are killed; two team members are wounded.

April 14, 1967: Terrorists kidnap Nguyen Van Son in Binh Chanh district, Gia Dinh province; he is a candidate inthe elections for village council.

April 16, 1967: A squad enters Cam Ha, Quang Nam province and murders an election candidate. One child is killed and three civilians are wounded.

April 18, 1967: Sui Chon hamlet northeast of Saigon is attacked by assassins and arsonists who slay five Revolutionary Development team members, wound three, abduct seven; three of those slain are young girls, whose hands are tied behind their backs before they are shot in the head. One-third of the hamlet's dwelling is destroyed by fire.

April 26, 1967: Nguyen Cam, chief of Ba Dan hamlet, Quang Nam province, is shot and killed by a terrorist. Cam had been a candidate in recent elections.

May 10, 1967: A bus loaded with South Vietnamese civilians runs over a land mine near Than Bach Thach, Phu Bon province. One passenger is killed; the driver and five passengers are wounded.

May 11, 1967: More than 200 doctors and medical workers of the Republic of South Viet-Nam have been victims of the communists in the past 10 years, State Health Secretary Dr. Tran Van Lu-Y tells the World Health Organization in Geneva. He says 211 members of his staff have been killed or kidnaped; 174 dispensaries, maternity homes and hospitals destroyed; 40 ambulance mined or machine-gunned.

May 16, 1967: In two separate attacks in Quang Tin and Quang Tri provinces, communists kill eight Revolutionary Development team members and injure five.

May 24, 1967: The information officer of Phu Thanh, Bien Hoa province, and his two children are killed by grenades thrown into their home at 3 a.m.

May 29, 1967: Frogmen emerge from the Perfume River in Hue to blow up a hotel housing members of the International Control Commission. No member of the Indian-Canadian-Polish team is hurt, but five South Vietnamese civilians are killed and 15 wounded. The hotel is 80 percent destroyed.

June 2, 1967: Armed with automatic weapons, two platoons make a post-midnight raid on a Chieu Hoi camp in Long An. they injure five South Vietnamese soldiers and five civilians.

June 27, 1967: Twenty-three civilians are killed when their bus strikes a mine in Binh Duong province, southeast of Lai Khe.

July 6, 1967: Several children walking on the road to a pagoda at Cam Pho hamlet, Quang Nam province, are wounded when a passing truck explodes a Viet-Cong antitank mine. One child dies of wounds.

July 13, 1967: An explosion in a Hue restaurant kills two Vietnamese. Twelve Vietnamese, seven Americans and one Filipino are injured.

July 14, 1967: Terrorists dressed in Vietnamese Army uniforms capture a prison in Quang Nam province, releasing about 1,000 of the 1,200 inmates; they execute 30 in the prison yard. Ten civilians are killed and 29 wounded as the terrorists fight their way out of the area.

July 25, 1967: Communists appear at homes in Binh Trieu, Long An province and kidnap four men, a woman and the woman's 16-year-old son. All six are found the following morning along Highway 13, hands tied behind their backs, a bullet in each head.

August 5, 1967: During a special devices class in a secondary school in An Xuyen province, part of the September election "get out the vote" campaign, a terrorist gives a small girl a hand grenade with the pin extracted and tells her to carry it carefully to her teacher. At the classroom door the child drops the grenade, killing herself and injuring nine children.

August 24, 1967: Terrorists kill one and wound four when they detonate a charge at the home of a Vietnamese policeman in Can Tho, Phong Dinh province.

August 26, 1967: Twenty-two civilians die and six are injured when their bus strikes a mine in Kien Hoa province.

August 27, 1967: A week before presidential and senate elections, terrorists step up their activities. A recoilless rifle and mortar attack on Can Tho kills 46 and injures 227. Ten die and ten are injured in an attack on a Revolutionary Development team in Phuoc Long province. Fourteen civilians, including five children, are wounded by mortar fire southeast of Ban Me Thuot, Darlac province. Two civilians die and one is wounded in an attack on a hamlet in Binh Long province. Six civilians are kidnapped from Phuoc Hung village in Thua Thien province.

August 29, 1967: Groups of communists infiltrate four hamlets in Thanh Binh district, Quang Nam province, kill two civilians and abduct six, including an inter-family chief.

September 1, 1967: Terrorist explosives blast six craters in National Route 4 in Dinh Tuong province, stopping all vehicular traffic except a South Vietnamese army ambulance bus which runs over a pressure mine, killing 13 passengers, injuring 23.

September 3, 1967: Shortly after polls open in Tuy Hoa, Phu Yen province, communists detonate a bomb hidden in a polling place. Three voters are killed and 42 are wounded. Election morning attacks, including long-range shellings, claim 48 lives.

November 8, 1967: The Ky Chanh refugee center in Quang Tin province is infiltrated by terrorists who kill four persons, wound nine others and kidnap nine more; they also fire the camp's school.

December 5, 1967: A name that should be remembered as long as Lidice is Dak Son, a Montagnard village of some 2,000 in Phuoc Long province, the scene of what in some ways remains the worst atrocity in the entire atrocity-ridden war. Some 300 communists stage a reprisal raid on Dak Son. The chief weapon: the flame thrower, 60 of them. The purpose: purely to terrorize. The result: a Carhaginian solution, all but sowing of the salt. After breaking through the flimsy hamlet militia defense, the communists set about systematically to destroy the village and the people in it. Families are incinerated alive in their grass-roofed huts or in the shelters dug beneath their beds. Everything combustible is put to the torch: houses, recently harvested grain on the ground, livestock, fences, trees, people. One of the first Americans to approach the scene the following day: "As we approached the place I thought I saw charred cordwood piled up the way you pile up logs neatly beside the road. When we got closer I could see it was burned bodies of several dozen babies. The odor of burned flesh, which really is an unforgettable smell, reached us outside the village and of course got stronger at the center. People were trying to breath through cabbage leaves . . . I saw a small boy a smaller girl, probably his sister, sort of melted together in a charred embrace. I saw a mother burned black still hiding two children, also burned black. Everything was burned and black. The worst was the wail of the survivors who were picking through the smoldering ruins. One man kept screaming and screaming at the top of his lungs. For an hour he kept it up. He wasn't hurt that I could tell. He just kept screaming until a doctor gave him a shot of morphine or something . . . Fire bloats bodies I learned, and after a few hours the skin splits and peels and curls . . . The far end of the village wasn't burned; the communists ran out of flamethrower fuel before they got to it . .
." Estimated toll: 252 dead, about two-thirds of them women and children; 200 abducted, never to return.

Dec. 14, 1967: Bui Quang San, member of South Viet-Nam's lower house, is gunned down in his home near Saigon. Two days before his murder, San told friends of receiving a letter from the communists threatening his life. His mother, first wife and six children were killed in an earlier Vietnamese Communist raid the city of Hoi An.

December 14, 1967: Saigon reports a total of 232 civilians killed by acts of terrorism in one week.

December 16, 1967: During the intermission at a classical drama at the University of Saigon, a communist appears on stage and begins a propaganda speech about the NLF. A student attempts to climb to the stage and is shot in the stomach. Two other students are shot in the melee that follows.

January 20, 1968: An armed propaganda team enters Tam Quan, Binh Dinh province, gathers 100 people for a propaganda session; one prominent village elder objects and is shot to death.

January 30, 1968: On the night of the new moon marking the new lunar year during a negotiated truce, a Vietnamese communist force of approximately 12,000 invaded Hue quickly turned it into one of the saddest cities on Earth.

The communists stayed for 26 days, during which time they executed nearly 6,000 Hue civilians who the National Liberation Front Central Committee had blacklisted as enemies of Communism.
After being forced to withdraw from Hue, South Vietnamese officials found the bodies of over 3,000 men and women buried in a river bed with their hands tied behind them. Many had been buried alive.

April 6, 1968: A band of communists enters That Vinh Dong, Tay Ninh province; they sell several thousand piasters worth of "war bonds" and then depart, taking with them a school teacher, the hamlet chief's two daughters and nephew and six other males age 15 or 16.

May 5 - June 22, 1968: Some 417 rockets are fired indiscriminately into Saigon, chiefly in the densely-populated Fourth District. The rockets are 107mm Chinese-made and 122mm Soviet-made. Result: 115 dead, 528 hospitalized.

May 29, 1968: A band of communists stops all traffic on Route 155 in Vinh Binh province; 50 civilians are kidnapped, including a Protestant minister; 2 buses and 28 three-wheeled taxis are burned.

June 28, 1968: A major attack is made against the refugee center and fishing village of Son Tra, south of Da Nang. In all, 88 persons are killed and 103 are wounded by mortar and machine gun fire, grenades and explosive charges. Some 450 homes are destroyed leaving 3,000 of the 5,000 persons there homeless.
Later, villagers gathering bamboo to rebuild the center are fired on from ambush.

July 28, 1968: Four gun-wielding terrorists, two of them women, detonate a 60-pound plastique charge in city room of Cholon Daily News, most prominent of city's seven Chinese-language newspapers, after ordering workers out of building; the four escape before police arrive.

September 1, 1968: Doctors at the American Division's 27th Surgical Hospital report two Montagnard women have been brought in for treatment for advanced anemia. It is determined that the North Vietnamese had been systematically draining them of blood for treating their own wounded.

September 12, 1968: A communist report (captured in Binh Duong province) from the Chau Thanh district Security Section to the provincial party Central Committee says that seven prisoners in the district's custody were shot prior to an expected enemy sweep operation: "we killed them to make possible our safe escape," the report says.

September 26, 1968: A grenade is thrown into the crowded Saigon central market, killing one person and wounding 11.

December 11, 1968: A band of terrorists appears at the home of the provincial People's Self-Defense Force chief in Tri Ton, Chau Doc province; they bind his arms with rope and lead him 50 yards from his home where they fire a burst from a submachine gun into his body.

January 6, 1969: The Vietnamese Minister of Education, Dr. Le Minh Tri, is killed when two terrorists on a motorcycle hurl a hand grenade through the window of the car in which he is riding.

February 7, 1969: A satchel charge is exploded in the Can Tho market place, killing one and wounding three.

February 16, 1969: Communists invade and occupy Phuoc My village, Quang Tin province, for several days. Later, survivors describe a series of brutal acts: a 78-year old villager shot for refusing to cut down a tree for a fortification; a 73-year old man killed when he could not or would not leave his home, pleading that infirmities prevented him from walking; an 11-year old boy stabbed; several families grenaded in their homes.

January 19, 1969: A bicycle bomb explodes in a shop in Kien Hoa province (Truc Giang), killing six civilians and wounding 16.

February 24, 1969: Terrorists enter the Catholic Church in Quang Ngai province, assassinate the priest and an altar boy.

February 26, 1969: A bicycle bomb explodes in a shop in Kien Hoa province, killing a child and wounding three other persons.

March 4, 1969: Rector of Saigon University, Professor Tran Anh, is shot by motorcycle-riding terrorists; previously he had been notified that he was on the "death list" of something called the "Suicide Regiment of the Saigon Youth Guard."

March 5, 1969: An attempt is made to assassinate Prime Minister Tran Van Huong by hurling a satchel charge against the automobile in which he is riding. The attempt fails and most of the terrorists are captured.

March 6, 1969: An explosive charge explodes next to a wall at Quang Ngai city hospital, killing a maternity patient and destroying two ambulances.

March 9, 1969: Terrorists enter Xom Lang, Go Cong province, take Mrs. Phan Thi Tri from her home to a nearby rice field where they behead her, explaining that her husband had defected from the communists.

March 9, 1969: A band of communists attack Loc An, Loc My and Loc Hung villages in Quang Nam province, killing two adults and kidnaping ten teenage boys.

March 13, 1969: Kon Sitiu and Kon Bobanh, two Montagnard villages in Kontum province, are raided by terrorists; 15 persons killed; 23 kidnaped, two of whom are later executed; three long-houses, a church and a school burned. A hamlet chief is beaten to death. Survivors say the communists' explanation is: "We are teaching you not to cooperate with the government."

March 21, 1969: A Kontum province refugee center is attacked for the second time by a PAVN battalion using mortars and B-40 rockets. Seventeen civilians are killed and 36 wounded, many of
them women and children. A third of the center is destroyed.

April 4, 1969: A pagoda in Quang Nam province is dynamited, killing four persons, wounding 14.

April 9, 1969: Terrorists attack the Phu Binh refugee center, Quang Ngai province and fire 70 houses, leaving 200 homeless. Four persons are kidnaped.

April 11, 1969: A satchel charge explodes in the Dinh Thanh temple, Long Thanh village, Phong Dinh province, wounding four children.

April 15, 1969: An armed propaganda team invades An Ky refugee center, Quang Ngai province, and attempts to force out the people living there; nine are killed and ten others wounded.

April 16, 1969: The Hoa Dai refugee center in Binh Dinh province is invaded by an armed propaganda team. The refugees are urged to return to their former (communist dominated) village, but refuse;
the communists burn 146 houses.

April 19, 1969: Hieu Duc district refugee center, Quang Nam province, is invaded and ten persons kidnaped.

April 23, 1969: Son Tinh district refugee center, Quang Ngai province, is invaded; two women are shot and 10 persons kidnaped.

May 6, 1969: Le Van Gio, 37, is kidnapped and later shot for refusing to pay "taxes" to a communist agent who entered his village of Vinh Phu, An Giang province.

May 8, 1969: Communist sappers detonate a charge outside the Postal-Telephone Building in Saigon's Kennedy Square, killing four civilians and wounding 19.

May 10, 1969: Sappers explode a charge of plastique in Duong Hong, Quang Nam province, killing eight civilians and wounding four.

May 12, 1969: A communist sapper squad attacks Phu My, Binh Dinh province, with satchel charges, rockets and grenades; 10 civilians are killed, 19 wounded; 87 homes are destroyed.

May 14, 1969: Five communist 122mm rockets land in the residential area of Da Nang, killing five civilians and wounding 18.

June 18, 1969: Three children are wounded when they step on a communist mine while playing near their home in Quan Long (Ca Mau) city, An Xuyen province.

June 19, 1969: In Phu My, Thua Thien province, communists assassinate a 54-year old man and his 70-year old mother.

June 24, 1969: A 122mm communists rocket strikes the Thanh Tam hospital in Ho Nai, Bien Hoa province, killing one patient.

June 30, 1969: Communist mortar shells destroy the Phuoc Long pagoda in Chanh Hiep, Binh Duong province; one Buddhist monk is killed and ten persons wounded.

June 30, 1969: Three members of the People's Self-Defense Force are kidnaped from Phu My, Bien Hoa province.

July 2, 1969: Two communist assassins enter a hamlet office in Thai Phu, Tay Ninh province, shoot and wound the hamlet chief and his deputy.

July 17, 1969: A grenade is thrown into Cho Con market, Da Nang, wounding 13 civilians, most of them women.

April 22, 1960: A communist unit attacks the Chieu Hoi center in Vinh Binh province killing five persons, including two women and a youth, and wounding 11 civilians.

July 18, 1969: Police report two incidents of B-40 rockets being fired into trucks on the highway, one in Quang Duc province in which three civilians were wounded and one in Darlac province which killed the driver.

July 19, 1969: Communist seize and shoot Luong Van Thanh, a People's Self-Defense Force member, Tan Hoi Dong, Dinh Tuong province.

July 30, 1969: Communists rocket the refugee center of Hung My, Binh Duong, wounding 76 persons.

August 5, 1969: Two grenades are thrown into the elementary school in Vinh Chau, Quang Nam province, where a school board meeting is taking place. Five persons re killed and 21 are wounded.

August 7, 1969: Communist sappers set off some 30 separate plastique charges in the U.S. Sixth Evacuation Hospital compound, Cam Ranh Bay, killing two and wounding 57 patients.

August 13, 1969: Officials in Saigon report a total of 17 communist terror attacks on refugee centers in Quang Nam and Thua Thien provinces, leaving 23 persons dead, 75 injured and a large number of homes destroyed or damaged.

August 26, 1969: A nine-month-old baby in his mother's arms is shot in the head by terrorists outside Hoa Phat, Quang Nam province; also found dead are three children between ages six and ten, an elderly man, a middle-aged man and a middle-aged woman, a total of seven, all shot at least once in the back of the head.

September 6, 1969: Communists rocket and mortar the trainingcenter of the National Police Field Force in Dalat, Killing five trainees and wounding 26.

September 9, 1969: South Vietnamese officials report that nearly 5,000 South Vietnamese civilians have been killed by communist terror during 1969.

September 20, 1969: Communists attack Tu Van refugee center in Quang Ngai province, killing 8 persons and wounding two, all families of local People's Self-Defense Force members. In nearby Binh Son, eight members of a police official's family are killed.

September 24, 1969: A bus hits a mine on Highway 1, north of Duc Pho, Quang Ngai province; 12 passengers are killed.

October 13, 1969: A grenade is thrown in the Vi Thanh City Chieu Hoi center, killing three civilians and wounding 46; about half those wounded are dependents.

October 13, 1969: Communists kidnap a Catholic priest and a lay assistant from the church at Phu Hoi, Bien Hoa province.

October 27, 1969: Communists booby trap the body of a People's Self-Defense Force member whom they have killed. When relatives come to retrieve the body the subsequent explosion kills for of them.

These are just a few of the war crimes committed against the civilian population of South Vietnam--more than enough to indict and convict Vietnamese Communist Party.

NHỮNG TÊN TRÙM KHỦNG BỐ CỘNG SẢN VIỆT NAM

Tin Đồn: 9 tỉnh Miền Bắc Dâng Hiến Cho Trung Cộng

Mất 9 tỉnh Miền Bắc VN, mà csVN dấu nhân dân

image


“…đảng CSVN chịu đem gia sản của Tổ quốc để thế chấp không cần nhận biên lai, chỉ qua lời hứa, đúng ngày hẹn trả vốn lẫn lời cho đảng CSTQ…”

Sáng nay chúng tôi đến nhà anh Linh, kiểm tra lại mọi vật cần thiết cho hành trình dài ngày, nào là vải nilông để làm lều ngủ bên đường, áo tơi, mền biên giới may hai đầu không có lớp nilông (sacs de couchage), chuẩn bị phần lương thực khô cho sáu ngày đi đường, đem theo phụ tùng cần thiết phòng bị nhỡ khi xe đạp hư dọc đường, vài loại thuốc Tây thông dụng, và đem theo 10 gói than hoá học của Nhật-bản để chống mưa gió, bão rét có khả năng sưởi ấm toàn thân, tất cả mọi thứ cho vào balô. Đúng 7 giờ 30 phút, chúng tôi ra khỏi đầu làng, đi xuống hướng Nam được một khoảng đường vào chiến lũy thứ nhất do dân quân địa phương phòng vệ, anh Linh cho biết: Tuy ngày nay Bộ Quốc Phòng Trung Cộng không có mặt tại chiến lũy này, nhưng đến khi hữu sự nó trở thành nơi đặt bản doanh chiến tranh. Trong quân sự lấy điểm cao nhất làm chiến lược, hệ thống giao thông hào làm phòng thủ và chiến hào điểm tựa lưng tấn công vị trí địch. Ngày 17/02/1979 tất cả bộ não chiến tranh đặt tại chiến luỹ thứ nhất, chạy từ Đông qua Tây, do 27 tướng lãnh Trung Cộng tham chiến. Chúng ta hiểu được tầm quan trọng chiến lũy này, mới thấy chiến lựợc của Trung Cộng hôm nay đã chuẩn bị cho tương lai, hãy nhớ chiến lũy này trước ngày 17/02/1979 là lãnh thổ của Việt Nam .

image

Chúng ta đang đứng trên độ cao 2.800m, một gốc nhìn thêng thang tứ phía, về hướng Đông thấy toàn cảnh Cao Bằng rất gần, xa xa thì thấy Lạng Sơn, còn Quảng Ninh chỉ thấy lờ mờ, xoay qua hướng Tây thấy Hà Giang trước mặt. Lào Cai trong tầm mắt, Lai Châu hầu như ẩn trong sương mù.Anh Linh nói tiếp:─ Chúng ta đang đi trên chiến lũy thứ nhất có nhiều nghi đoạn phải tránh, tuy là dân quân địa phương phụ trách biên phòng, nhưng do một tên tướng về hưu bí mật lãnh đạo, ngoài ra còn có một đơn vị chủ lực phản công nếu có biến động. Chiến lũy này có bốn đoạn, như đoạn đất là nơi mồ lạng (lính chết không thấy thi thể), đoạn xuyên núi nơi đặt bản doanh chỉ huy, đoạn suối thường có bẫy mìn, và nhiều đoạn đường trải xi-măng đi xuyên qua các quận huyện, chúng ta ngủ trên những đoạn đường này rất an toàn.

Anh Linh nói tiếp:─ Chú em hãy nhìn đằng xa trên núi cao có những đường trắng ngoằn ngoèo đó là chiến lũy thứ hai, nơi đó Bộ Tư lệnh Quân khu Vân Nam đang trấn ngự, dân quân biên phòng địa phương không được ăn cỗ phần ở đây và chúng ta càng không có lý do nào bén mảng đến gần nơi đó.- Còn chiến lũy thứ ba khuất bên kia rặng núi do Bộ Tư lệnh Quân khu Quảng Tây điều động, chỉ huy chiến trường, dưới sự giám sát của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Cộng, đồng thời một Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh quốc gia,Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương Trung Cộng, tập hợp thành Bộ Tham Mưu chiến tranh để bành trướng xuống hướng Nam Việt Nam.

image


Hành lang chiến lũy thứ 2, trong lãnh thổ Việt Namdo quân đội chủ lực Trung Cộng đang trấn ngự.

Tôi suy nghĩ một hồi lâu nói:─  Thưa anh Linh, thế thì bọn bành trướng Bắc Kinh trong 10 năm qua, đã xua quân đến 3 lần chiến tranh với Việt Nam.• Lần thứ nhất năm 1974. Trung Cộng đã đặt vấn đề chia cắt biên giới phía Bắc với đảng CSVN nhưng không như ý nguyện, sau đó có một mật ước giữa hai đảng CSVN-TQ.Trung Cộng thừa cơ hội mật ước chọn chiến trường Hoàng Sa. Đảng ủy Quân sự Trung ương Trung Cộng liền mở cuộc thăm dò quân sự và chuẩn bị hải chiến. Trung Cộng tiến vào quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, vào ngày 17 đến 19 tháng 1 năm 1974. Một trận chiến giữa Hải quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải quân Trung Cộng tại Hoàng Sa diễn ra khốc liệt, Việt Nam Cộng Hòa quyết sống chết bảo vệ phần lãnh hải của Tổ quốc,cuối cùng Hải quân Việt Nam Cộng Hòa bị thua, quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay quân xâm lăng Trung Cộng, trong thời điểm này người dân hai miền Nam Bắc Việt Nam đồng chú ý đến cuộc chiến tranh Hoàng Sa và tự hỏi :Lý do nào đảng CSVN không lên tiếng phản ứng với Trung Cộng về Hoàng Sa… ?Đôi mắt của tôi hướng ra biển Đông hỏi tiếp:─ Thưa anh Linh và anh Bá, nguyên hai anh một là Đại úy, một là Trung úy, thành viên quân sự cấp chỉ huy của MTGPMN có suy nghĩ gì về Hải chiến Hoàng Sa?

image

Anh Phó Như Bá đáp:─ Thực ra, lúc ấy mình đang ở trong bưng biền của MTGPMN nơi ấy chỉ biết thi hành mệnh lệnh cấp trên không được hỏi, và không ai được nói điều gì ngoài nhiệm vụ của mình, nếu có biết thì phải câm miệng như hến, nếu có chết thì đem theo xuống mồ! CS là vậy đó. Mãi đến sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 chúng tôi mới biết trận Hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải quân Trung Cộng. Đương nhiên mỗi người trong chúng tôi có nhiều suy nghĩ khác nhau, riêng tôi: “Đây là cuộc trao đổi của kẻ háo quyền, sống vì ích kỷ cá nhân mà hại cả một dân tộc, lý do đảng CSVN tiếp nhận vũ khí và cố vấn của Trung Cộng, rồi ngày nay đảng CSVN phải trao tặng lãnh thổ cho Trung Cộng, nói một cách khác đảng CSVN tùy ý hành động, xem đất nước này là của riêng CSVN, cho nên họ đứng trên đầu dân tộc Việt Nam. ”Bởi thế chuyện dưới ánh sáng mặt trời thì đảng CSVN không bao giờ thực hiện được, trái lại chuyện càng tối đen chừng nào đảng CSVN càng thừa sức thành công và còn thực hiện tuyệt vời hơn ngoài sự tưởng tượng của loài người, như buôn lậu thuốc phiện ma túy, cướp của giết người, tráo trở lật lọng với dân, bưng bít, thông tin một chiều với thế giới, vu cáo người yêu nước, bạo lực khủng bố, bắt cóc tống tiền, hay vụ CCRĐ, NVGP, CTCTN và sự kiện biên giới hoàn toàn bí mật.
image

Anh Phó Như Bá biểm môi nói tiếp:─ Hồ Chí Minh là một chuyên gia đổi trắng thay đen lịch sử rất lỗi lạc, cuộc đời của ông ta rất lố bịch, tự viết cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch”, viết vào năm 1948, dưới bút hiệu Trần Dân Tiên và chôm tập thơ “Ngục Trung Nhật Ký” trong đó có trăm bài thơ ca ngợi Trung Hoa. Sau đó ông chưa hài lòng, tự viết cho mình “Vừa đi đường vừa kể chuyện”viết vào đầu năm 1961, dưới bút hiệu T. Lan, Nxb Sự thật 1961. [1] Làm người phải biết liêm sỉ, những chuyện ấy tôi làm không được, đừng nói chi việc làm của đảng CSVN, tôi càng không chấp nhận, dù mất một phân-ly đất cũng không trao phần lãnh thổ nhỏ này cho Trung Cộng, tuy rằng tôi là người Hoa thà chết không đồng tình với đảng CSVN, hôm nay chúng nó bán được quốc gia này, ngày mai chúng nó cũng bán được thân tôi”.

image

Tôi nghiêm nghị nói:─ Chúng ta và cả dân tộc Việt Nam bị đảng CSVN rao bán qua các buổi chợ, bằng nhiều hình thức khác nhau, đảng CSVN bán cả gói (người lẫn đất) cho Trung Cộng vào ngày 17/02/1979, bởi thế hôm nay chúng ta gặp nhau tại đỉnh núi cao số 132 trên lãnh thổ Trung Cộng. Tất cả đồng bùi ngùi, anh Hứa Bông Linh nói:─ Phần tôi lúc ấy thường về thành (Chợ Lớn) có nghe chuyện Hải chiến Hoàng Sa, giữa Hải quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải quân Trung Cộng, mấy ngày sau tin Hoàng Sa thất thủ lòng tôi xao xuyến. Tự hỏi, dù lúc ấy Việt Nam đã chia thành hai chiến tuyến nhưng chuyện chung vì Tổ quốc phải bảo vệ lãnh thổ. Đằng này bọn Hà Nội không gióng lên được một tiếng nói to nhỏ nào. Người điên cách mấy cũng thừa biết đảng CSVN đồng ý bán đứng Hoàng Sa cho Trung Cộng để đổi lấy vũ khí và yên ổn biên giới phía Bắc, trong lúc ấy họ cũng đang chuẩn bị lực lượng xua quân Bắc vào Nam, tăng cường cho MTGPMN, nhằm tấn công Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi đã sớm biết và nhận diện được bộ mặt thực của đảng CSVN. Những bài học lịch sử Việt Nam có ghi, một khi lệ thuộc vào Trung Cộng cả hai mặt quân sự và chính trị, thì nhất định bị mất lãnh thổ, tiếp theo làm kiếp chư hầu.
image
Hà Giang

Ngày nay người ta thường nói về (vết dầu loang) nhưng mấy ai biết lịch sử cổ điển của Trung Cộng về cái (chiếc chiếu loang) của đảng CS Trung Cộng đang áp dụng, hiện thời rất thành công tại Việt Nam. Thử hỏi mai này Sài Gòn, Hà Nội bị đô hộ qua nhiều hình thức khác nhau, như kinh tế, tài chính và môi trường v.v… khi đã bị trị rồi, dù có một tiếng đánh dấm của thằng Hoa kiều, tức thì đảng CSVN răm rắp cúi đầu ngửi mùi thơm thúi đó. Chưa nói đến toàn đảng CS Trung Cộng, thế thì dân tộc Việt Nam ta sẽ không sống được với chúng nó! Quả nhiên anh Hứa Bông Linh nguyên là Hoa đỏ, am tường xương tủy đảng CS Trung Cộng, anh nói không sai.

Tôi nói tiếp về chiến tranh lần thứ hai:─ Thưa quý anh, thử tìm nguyên do nào có cuộc chiến giữa Việt Nam và Trung Cộng vào ngày 17 tháng 02 năm 1979. Trung Cộng xua quân tràn vào chiếm thủ phủ 6 tỉnh phiá Bắc của Việt Nam, như Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh.

image

Anh Phó Như Bá đáp: ─ Chúng ta chỉ đưa ra một câu chuyện dân gian để dễ hiểu hơn: Việt Nam ở gần nhà Trung Cộng thì đừng chớ vay mượn một thứ gì của họ, nhất là đừng dựa lưng vào họ, như văn hóa, kinh tế, tài chính, chính trị, quân sự và càng không nên ăn Tết trùng ngày với họ. Không khác nào những đề cập vừa rồi tự nguyện đưa đầu vào (tiệm cầm đồ). Nhớ rằng người Trung Cộng chuyên về nghề cầm đồ khi con người biết trao đổi đồ vật. Nay đảng CSVN chịu đem gia sản của Tổ quốc để thế chấp không cần nhận biên lai, chỉ qua lời hứa, đúng ngày hẹn trả vốn lẫn lời cho đảng CSTQ. Sau khi CSVN quá ngày hẹn không trả vốn lẫn lời, đương nhiên đảng CSTQ đến nhà xiết nợ, vốn tiệm cầm đồ tham lam, bao nhiêu nợ cũng chưa đủ, biển Đông, biên giới cũng là một cách xiết nợ, và Trung Cộng sẽ còn làm khó Việt Nam dài dài! Anh Phó Như Bá đứng đờ người ra, thở dài. Anh Hứa Bông Linh nói:─ Việt Nam chúng ta có 46 điểm chiến lược, núi cao trên 3.700m đã bị mất ngày 17/02/1979. Đến ngày 20/02/1979, có 9 Quân đoàn Trung Cộng tiến sâu vào lãnh thổ 40 km, từ núi cao xuống đồng bằng và làm chủ 6 tỉnh của Việt Nam, như Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh.

image
Việt Nam hay Trung Cộng chiếm được những địa hình chiến lược núi cao 4.200m, sẽ làm chủ nhân ông của 6 tỉnh biên giới,như Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh.

Quân đoàn Trung Cộng chia nhau làm chủ mặt trận 6 tỉnh của Việt Nam, gồm Quân đoàn 43, Quân đoàn 55 lập doanh trại chỉ huy hành quân tại Quảng Ninh, Quân đoàn 42, Quân đoàn 54 doanh trại tại Lạng Sơn, Quân đoàn 50, Quân đoàn 41 doanh trại Cao Bằng, một phần Quân đoàn 41 và Quân đoàn 14 chia nhau chỉ huy tỉnh Hà Giang, Quân đoàn 14, Quân đoàn 13 doanh trại Lào Cai, Quân đoàn 11 doanh trại Lai Châu. Anh Linh và anh Bá trình bày như người trong cuộc chiến, riêng tôi ngẩn ngơ trước sự kiện chiến tranh biên giới, tôi hỏi:─ Thế thì từ đâu và tại sao lại có cuộc chiến quyết tử, lần thứ ba vào năm 1984, cho đến ngày nay (1987) vẫn còn tiếp diễn ở những cao điểm chiến lũy thứ 3, như cao điểm 124, 544, 128, 162, 116 v.v…

Anh Hứa Bông Linh đáp:─ Sau khi Trung Cộng bỏ đồng bằng và 6 tỉnh lỵ, rút quân tập kết tại những vị trí chiến lược giao thông hào 3, đứng về chiến thuật xem như chiếm được 3 tỉnh phía Tây trên đường biên giới Việt Nam – Trung Cộng. Và 6 địa hình phiá Đông với tầm cỡ chiến lược vô tận cũng đồng loạt vào tay Trung Cộng, trên thực thế Việt Nam chưa hoàn toàn mất nước, nhưng nhà quân sự thì có cách nhìn tương lai hơn, cho nên lực lượng quân sự Trung Cộng trấn giữ giao thông hào thứ 3 làm biên giới tiền tuyến, và có đến 26 tướng lãnh tham chiến vào ngày 17/02/1979 dưới sự động binh của Đặng Tiểu Bình.

image
Sáu (6) địa hình chiến lược núi cao, gồm có núi Ban Đoan Nam Tắc (415) 1.200m,núi Ban Đoan Nam Tắc hai 1.500m, núi Vô Danh 1.900m,núi Khấu Đức Sơn (512) 3.300m, núi Thiệu Khà Sơn 500m,kiểm soát được phía Đông như Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

image
Và 6 địa hình núi cao hướng ra biển Đông, như 146 độ cao 4.780m, 147 độ cao 4.500m, -3, 255, 211, 227. Ngày nay đã vào tay Trung Cộng, đang kiểm soát cả vùng biển Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam . Vịnh Bắc Bộ trở thành người tàn phế, liệt tứ chi, toàn thân bất toại.

Đôi mắt của tôi rơi lệ, hướng về Tổ quốc, một hồi lâu hỏi:─ Thưa anh Linh và anh Bá, bằng cách nào quý anh nắm vững được chiến lược và chiến thuật của Trung Cộng?

Anh Linh đáp:─ Đã là một quân nhân như chúng tôi, dù ít hay nhiều cũng phải quan tâm đến qui luật chiến tranh, một phần chính nhờ làng tị nạn tọa lạc trên núi cao mới được dịp theo dõi cuộc chiến, và nghe radio mỗi ngày, chúng tôi còn bình luận chiến tranh đi trước thời sự, mà radio chỉ loan tin theo nửa lưỡi, phần còn lại bí mật quân sự, đối với chúng tôi thì không có những gì là bí mật cả.

Thưa anh Linh và anh Bá, có thể nào trình bày từng điểm, từng diễn biến một, cũng có thể trước ngày 17/02/1979 cho đến lúc này [1987]. Trung Cộng khởi động chiến tranh tại biên giới Việt Nam có bao nhiêu địa danh đã bị mất và bao nhiêu chiến trận, đội hình, phòng thủ, tấn công, đơn vị phòng ngự tại biên giới Việt Nam, quân giới, những danh tướng của Trung Cộng tham chiến tại Việt Nam, họa đồ chiến thuật quân đội Trung Cộng, điệp viên, tình báo của Việt Nam


image

, Trung Cộng v.v…Những lý do nguyên cớ nào quân Trung Cộng tiến quân sâu vào lãnh thổ Việt Nam đến 40 km và làm chủ tình hình 6 tỉnh thành phố Việt Nam, sau đó Trung Cộng lui binh thay vì lập phòng tuyến để phòng ngự. Theo nhận định của quý anh, sau cuộc chiến này Trung Cộng có ép được Việt Nam sống chung với người Hán không? Hiện giờ em chỉ hiểu khái quát về chiến tranh biên giới của hai đảng CSVN – TQ, có thể nói trong ưu tư của em mới mở đầu đề dẫn nhập chiến tranh biên giới. Nếu em không đi cùng quý anh trên chiến lũy hành lang số 1 này, thì hoàn toàn không hình dung được cuộc chiến có tính cách quyết định lịch sử của hai đảng CSVN – TQ.

Anh Hứa Bông Linh suy nghĩ một hồi lâu, nói: Quả nhiên, chú em đặt vấn đề chiến tranh biên giới Việt Nam và Trung Cộng, như một đầu đề tiếp nối lịch sử chiến tranh Việt Nam – Trung Cộng.
Trong thời đại này, chính đảng CSVN mời đảng CSTQ anh em khởi động trước chiến tranh, Trung Cộng chỉ chờ thời gian là điểm tiếng súng, thế là họ lấy quyết định chiến tranh ngày 17/02/1979. Trong khi ấy đảng CSVN mở cửa biên giới để quân bành trướng Bắc Kinh thong dong xua quân vào Việt Nam như chốn đồng hoang, đương nhiên đảng CSVN trên tay cầm thẻ giả vờ thua trận.

image

Hôm nào thư thả, chúng ta sẽ luận bàn tiếp về cuộc chiến tranh bỉ ổi này, bây giờ chúng ta tìm một chỗ dừng lại dùng cơm buổi trưa.
Tôi đã nghe anh Linh và anh Bá trình bày rất nhiều về cuộc chiến trước mặt, hình dung thấy được đạn pháo của Trung Cộng đang rơi trên đầu quê hương mình.

Chiến tranh dữ dội ở bên kia chiến lũy thứ 3 trong lãnh thổ Việt Nam không ngơi tiếng vang dội của súng liên thanh, đạn pháo, tôi tưởng chừng mọi thảm khốc đang diễn ra, cướp mất thân thể của người đồng sinh đất Việt, hy vọng chiến tranh dừng lại ở thời điểm này, cảnh thảm khốc không còn tiếp tục.

Hiện chúng tôi đang trên hành trình xuyên qua biên giới Đông – Tây vòng chiến lũy 1, nơi nguy hiểm không thể khẳng định an toàn cho bất cứ ai, bởi trên đầu lơ lửng lựu đạn cài cành cây, dưới mặt đất bẫy mìn. Nơi đâu cũng có hầm chông, đạn pháo cày đồng bằng thành hố sâu, núi cao đạn pháo gọt trọc đầu rừng nguyên sinh!

Riêng tôi cần phải biết nhiều hơn tại miền ải địa đầu Tổ quốc, bởi biên giới là giáp ranh chiến lược, nơi thường sôi bỏng dễ đưa đến chiến tranh, khói lửa điêu tàn đến từ đó và một khi vận nước suy vong, lân bang thừa cơ chiếm biên giới trước nhất v.v…


image
Chúng tôi đi vào một đoạn chiến lũy đầy chướng khí của tử thi, trên đầu lúc nào cũng có những chùm lựu đạn, cài trên cành cây, sẵn sàng nổ khi người vấp phải bẫy mìn.

image
Quân đội Trung Cộng lập chiến hào theo mẫu Ách-chuồn tại núi cao thuộc điểm (D) trong lãnh thổ của Việt Nam , nay thuộc biên giới Trung Cộng.

Chúng tôi tạm dừng chân nơi đây, mượn chiến hào đánh một buổi cơm trưa dã chiến và ngả lưng nghỉ ngơi 15 phút, sau đó tiếp tục lên đường.



Huỳnh Tâm Paris


Tin Đồn Có Thiệt :Nội Bộ “Cõng Rắn Cắn Gà Nhà”

Truong Tan Sang.jpgTrương Tấn Sang Qua Vụ Bầu Kiên.
  Đối với đảng Cộng sản Việt Nam ngày 2 tháng 9 hằng năm là một ngày vô cùng quan trọng, ngày cướp được chính quyền. Nó quan trọng đến độ Lê Duẩn không dám loan báo Hồ chí Minh chết đúng ngày này.
Năm nay thì ngược lại. Không khí được thay đổi bằng những màn đấu đá tranh giành quyền lực. Ngày 20 tháng 8 công an đến tận nhà còng tay hai ông “trùm tài chính” Nguyễn Đức Kiên và Lý Xuân Hải. Tiếp đến là cảnh người rút tiền, người bán cổ phiếu, người bàn ra, kẻ tán vào, tưởng đâu cả một hệ thống ngân hàng và tài chính Việt Nam đến hồi sụp đổ. Chẳng mấy ai còn quan tâm đến ngày “Quốc Khánh” của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Đến nay cũng chưa rõ hai ông Kiên và Hải phạm tội gì ? Tướng công an Phan Văn Vĩnh cho biết “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo lực lượng công an cần khởi tố, điều tra để đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật nhằm thâu tóm ngân hàng, gây mất ổn định hoạt động ngân hàng.” Nhưng đó có phải là tội hay chỉ là lý do ? Tin khác lại cho rằng ông Kiên cấu kết với ông Hải lấy tiền Ngân Hàng Á Châu làm vốn cho ba công ty do ông Kiên đứng tên.

Vì thiếu công khai minh bạch lại nhiều quyền lực quyền lợi, người làm trong ngành ngân hàng tại Việt Nam ai lại không có tội. Không thụt két thì rửa tiền. Không lạm dụng quyền lực thì tham nhũng, bán thông tin. Đó là nhân viên bình thường còn ông “trùm” Bầu kiên thì phải biết mua vua bán chúa.
Dư luận cho rằng Bầu kiên là tay chân Nguyễn Tấn Dũng, giầu là nhờ tham nhũng và rửa tiền. Nên ngay khi Bầu Kiên bị bắt nhiều người đã tin rằng phe cánh của Nguyễn Tấn Dũng bị phe cánh của Trương Tấn Sang và Nguyễn Phú Trọng hạ độc thủ. Thậm chí có người tung tin chế độ Nguyễn Tấn Dũng sẽ sụp đổ và phe cánh Nguyễn Tấn Dũng đang bỏ của chạy lấy người.
Đến ngày 23 tháng 8 Trương Tấn Sang tung một bài viết được báo Tuổi Trẻ đặt tựa đề “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân”. Tựa đề xem thật hấp dẫn nhưng khi xem xong thì dư luận khen ít chê nhiều. Ở thời điểm hệ thống ngân hàng tài chính gần như sụp đổ đúng ra ông Sang nên viết bài “Phải biết hổ thẹn với tiền của nhân dân”. Mà lạ thật tòan bài viết không tìm ra hai từ “tham nhũng”, ngược lại ông Sang đổ mọi “tiêu cực” là mặt trái của kinh tế thị trường. Bài viết này xin được chia sẻ cùng bạn đọc tình hình đất nước hiện nay và vài nhận định về nhân vật Trương Tấn Sang.

Ngân Hàng qua vụ Bầu Kiên
Nếu bàn tay vô hình của thị trường là tòan hảo thì đã không có mặt trái và đâu cần đến nhà nước làm gì. Nhưng bản chất của con người là chạy theo lợi ích cá nhân, ích kỷ hoặc có thể không biết đến lợi ích của mình đụng chạm đến lợi ích người khác hay lợi ích xã hội. Nói cách khác hành xử ích kỷ thường không mang đến lợi ích tối đa cho chính họ, cho xã hội, và chính vì thế chính phủ mới được thành hình.
Các chính phủ dân chủ hình thành dựa trên Hiến Pháp, một bản hợp đồng giữa các cá nhân trong xã hội. Hiến Pháp quy định phương cách thành lập chính phủ, cũng như quyền hạn và bổn phận của chính phủ.
Riêng về lãnh vực tài chính, chính quyền thường được quyền thu thuế, quyền vay mựơn, quyền cho phép khai thác tài nguyên và độc quyền ấn hành tiền. Để có được những quyền này chính phủ phải đề ra những chính sách và những đạo luật tạo ổn định xã hội và an sinh công cộng.
Ngân hàng Nhà nước giữ việc phát hành, quản lý tiền tệ và soạn thảo các chính sách liên quan đến tiền tệ, soạn thảo các dự thảo luật kinh doanh ngân hàng và tổ chức tín dụng, cho phép thành lập các ngân hàng và tổ chức tín dụng, quản lý các ngân hàng thương mại... vì thế vụ Bầu Kiên trực tiếp trong quyền hạn và trách nhiệm của Ngân hàng nhà nước.
Theo luật Việt Nam, để tránh tình trạng ngân hàng thương mại không đủ tiền mặt hòan trả khách hàng, mọi Ngân hàng tư nhân cần giữ một khỏan tiền mặt dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước. Khi ngân hàng tư nhân không đủ tiền mặt thì Ngân Hàng Nhà Nước có bổn phận phải phát hành thêm tiền mặt để “cứu” ngân hàng tư nhân không bị phá sản. Ngân Hàng Nhà nước còn được xem là người cho vay cuối cùng (the lender of last resort).
Đó là chính sách đã thành luật tại Việt Nam. Trong trường hợp khách hàng Ngân Hàng Á Châu đổ xô rút tiền khi nghe tin Bầu Kiên bị bắt thì bổn phận của Ngân Hàng Nhà nước là phải đứng ra cho vay “tiếp cứu”. Chính sách này có khuyết điểm là khi Ngân Hàng Nhà Nước phát hành thêm tiền sẽ gây ra lạm phát ảnh hưởng đến tòan xã hội.
Tại Úc trên 20 năm nay chính phủ đề ra một định mức tối đa là 3 phần trăm lạm pháp do đó hệ thống ngân hàng đã được cải tổ, Ngân Khố không còn giữ vai trò tiếp cứu các ngân hàng bị phá sản. Các ngân hàng tư nhân đều cạnh tranh một cách tự do, vay mượn lẫn nhau hay trên thị trường quốc nội và quốc tế. Khi một ngân hàng thiếu khả năng thanh tóan và phá sản, thì ngân hàng khác hay công ty thanh lý đứng ra thâu tóm và hòan trả tiền vay cho khách hàng.

Thống đốc Tồi
Vụ Bầu Kiên còn đang nóng hổi thì dư luận Việt Nam lại rộ lên việc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình được tạp chí Thế Giới Thương Mãi (Global Finance) xếp hạng thống đốc kém nhất thế giới. Tạp chí này đánh giá nhân vật qua các lĩnh vực như kiểm soát lạm phát, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, quản lý lãi suất, quyết tâm đối chọi với sự can thiệp chính trị và duy trì sự độc lập của mình. Nhưng qua vụ Bầu Kiên chúng ta có thể xếp ông là một Thống đốc tồi.
Ngày 25/08/2012, được báo Thanh Niên hỏi tại sao Ngân Hàng Nhà Nước can thiệp để cứu Ngân Hàng Á Châu không để ngân hàng này phá sản, ông Nguyễn Văn Bình thay vì nói về chính sách và luật pháp Việt Nam lại quay sang đổ thừa : ”Do dân trí, tập quán ở Việt Nam chưa cao như ở một số nước. Rất nhiều người dân hiện nay đi gửi tiền nhưng cũng không để ý đó là Ngân Hàng tốt hay xấu. Có khi chỉ vì Ngân Hàng này ở ngay đầu ngõ nhà mình nên mang tiền đến gửi cho thuận tiện. Nên cách làm của chúng tôi là tái cấu trúc từ bên trong để Ngân Hàng lành mạnh lên. Nhưng đến một giai đoạn nào đó, khi nền kinh tế phát triển, mặt bằng pháp luật hoàn thiện hơn, dân trí cao hơn, tiềm lực của hệ thống tài chính mạnh hơn thì cũng phải sẵn sàng cho phá sản những Ngân Hàng yếu kém.”
Việc quản lý không để ngân hàng thiếu khả năng thanh tóan nhều nợ xấu là nhiệm vụ của Ngân Hàng Nhà Nước thế mà ngài Thống Đốc nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại đổ cho dân chúng có tiền thì phải có “dân trí” để chọn “Ngân Hàng tốt hay xấu.”
Và thật hết sức buồn cười khi trước đó cũng chính cửa miệng của ngài Thống Đốc đã trả lời phóng viên báo Thanh Niên như sau: “Cô nói đúng, trước khi sự việc này xảy ra thì ACB (Ngân Hàng Á Châu) được cả các tổ chức trong nước và quốc tế đánh giá là một trong những Ngân Hàng có chất lượng hoạt động vào loại tốt nhất Việt Nam. Hoạt động giám sát của Ngân Hàng Nhà Nước cũng cho thấy, các chỉ tiêu an toàn của Ngân Hàng này luôn luôn đạt và vượt chuẩn.”  Chẳng khác nào ngài Thống Đốc báo cho mọi người biết hãy giữ tiền mặt, ngọai tệ, vàng, tốt nhất là chuyển ngân ra ngọai quốc hay gởi tiết kiệm trong các ngân hàng ngọai quốc, đừng tin vào hệ thống ngân hàng và tài chính Việt Nam, tất cả các ngân hàng tại Việt Nam đều xấu cả !!!
Ông Thống Đốc đã kém vì không hiểu chính sách và luật pháp Việt Nam, vì thiếu hiểu biết về tâm lý quần chúng và tồi vì chuyên đổ trách nhiệm cho dân. Thế mới thấy “quan trí” Việt Nam vừa kém lại vừa tồi và càng lên cao càng kém lại càng tồi.
Mời bạn đọc tiếp tục nhận xét về cái kém và cái tồi của ngài chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang.

Cộng Hòa Giả Hiệu
Trong dịp “Cách Mạng Mùa Thu” năm 2005, người viết đã phổ biến bài “Trưng Cầu Dân Ý: Ý Đảng Hay Ý Dân ?” có phân tích và tiên đóan về tình trạng tham nhũng tại Việt Nam.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ chí Minh đọc tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cộng Hòa có nghĩa là mọi người đều bình đẳng. Thế mà đứng đằng sau cái bóng của Cộng Hòa là đảng Cộng sản, chủ trương đấu tranh giai cấp và lấy sự trung thành với đảng làm căn bản chia chác quyền lực và quyền lợi.
Sau đó thì Chủ Tịch đảng và nhà nước Hồ Chí Minh lại đặt mình trên cả Hiến Pháp. Điều thứ 49 của Bản Hiến Pháp 1946 cho phép Hồ chủ tịch những quyền hạn tối cao, quyền lực tối thượng. Còn điều thứ 50 lại hết sức phi lý "Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc." Thế rồi sau đó ít lâu Hồ chí Minh sang Tầu sang Nga cõng rắn về và từ đó sản sinh một đàn rắn tồn tại đến ngày nay.
Khi đã nắm được quyền hành, đảng Cộng sản dùng bạo lực để cưỡng đoạt hòan tòan quyền làm chủ đất nước cuả người dân. Thay vì dân chủ cộng hòa, đảng Cộng sản lấy cương lĩnh của đảng làm Hiến Pháp, lấy quyết định của đảng làm luật pháp.
Tất cả những đặc quyền và đặc lợi, về kinh tế, ngân hàng, tài nguyên, đất đai, y tế, giáo dục ..., đều được đặt dưới sự kiểm soát và quản lý cuả những người cộng sản. Giới cầm quyền bổ nhiệm những người trung thành với đảng với lãnh tụ đảng vào những chức vụ có quyền lực để tóm thu quyền lợi. Hậu qủa là các hoạt động chính trị bao che, bè phái, ràng buộc gia đình, dòng họ, bạn bè, ... Dẫn đến tình trạng sứ quân xâu xé đất nước như hiện nay.
Tham nhũng chẳng qua chỉ là một sự phân phối các phúc lợi tập thể, các tài sản quốc gia,... giữa một số các đảng viên với nhau. Và cũng không ngoài mục đích bảo vệ lẫn nhau hay bảo vệ đảng. Không riêng gì Việt Nam, mọi quốc gia bị cộng sản chiếm đóng Nga, Tàu, Đông Âu, Cu Ba, Bắc hàn, Lào … đều có chung một hòan cảnh.
Những điều được viết bảy năm về trước nay đã rõ như ban ngày. Tiền đi cạnh quyền. Từ quyền chuyển thành tiền. Từ tiền lại biến hóa ra quyền. Sức mạnh quyền tiền là sức mạnh để bảo vệ chế độ. Nguyễn thanh Phượng con Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Đức Kiên, Nguyễn Đăng Quang, Hồ Hùng Anh, Trầm Bê, Thái Hương và hằng trăm hằng vạn các đại gia khác gắn bó với chế độ cộng sản như một đàn sâu ra sức đục khóet quốc gia.
Con sâu Bầu Kiên bị bắt, động đến cả rừng sâu và đến sự sống còn của “Đảng” của chế độ. Việc bắt sâu Bầu Kiên để lộ ra mọi yếu kém của nền tài chính, kinh tế, chính trị Việt Nam và cho thấy mọi cải cách hay cải tổ chỉ là ảo tưởng. Chống tham nhũng cũng chính là chống lại một đảng cầm quyền gắn bó với nhau bằng lợi ích (nhóm lợi ích). Và cũng vì sợ mất đảng trong bài luận văn Trương Tấn Sang đã không dám đá động đến hai từ “tham nhũng” mà lại tồi bại lý luận “tiêu cực” là mặt trái của kinh tế thị trường.

Trương Tấn Sang “sợ lạnh”
Trong bài có đọan Trương Tấn Sang tả tình như sau: “Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”... Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”... ”
Sau sáu mươi bảy năm cầm quyền đảng Cộng sản đã tước hết mọi quyền lực và quyền lợi của người dân. Cái “chăn ấm” là của đảng. Trước đây tất cả đều do bàn tay của đảng: đảng muốn nó sang bên này thì bên này được ấm, đảng muốn kéo nó sang bên kia thì bên khi được ấm. Ai không vào “Đảng” thì chịu lạnh. Chống “Đảng” thì bị tiêu diệt. Nay đã khác cái chăn đã bị vài nhóm người thâu tóm, từ đó mới đâm ra công khai đánh đấm cấu xé lẫn nhau.
Diễn giải theo lối bình dân thì lợi quyền như miếng bánh. Miếng bánh không đựơc chia đều mới dẫn đến đấu đá lẫn nhau. Người thua vẫn chỉ là người dân thấp cổ bé miệng.

Trương Tấn Sang “cõng rắn cắn gà nhà”
Nội dung bài luận văn của Trương Tấn Sang chỉ để tung hô ba khẩu hiệu đòan kết, hòa hợp và thống nhất. Khi hô khẩu hiệu về đòan kết Trương Tấn Sang lại để lộ bản chất bán nước như sau: “Đó là bài học về tăng cường củng cố đoàn kết - đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết là truyền thống quý báu và nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đó là bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam... Những bài học này, nếu được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, ai cũng quán triệt thực hiện trên thực tế, không phải chỉ là những khẩu hiệu suông, thì bất cứ khó khăn nào chúng ta đều có thể vượt qua!”.
Chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa quốc tế. Đảng Cộng Sản là một đảng Quốc Tế. Cách Mạng Mùa Thu là một cuộc cách mạng quốc tế. Nó đưa Việt Nam vào guồng máy cộng sản quốc tế. Vì quan niệm như thế nên Trương tấn Sang vẫn tin rằng phải “tiếp tục con đường Cách Mạng Tháng Tám” và muốn tiếp tục con đường này phải “đòan kết quốc tế”. Mà quốc tế cộng sản thì nay chỉ còn 5 nước Cuba, Bắc Hàn, Lào, Việt Nam và Trung cộng.
Tòan bài luận văn, Trương Tấn Sang không nhắc đến tình hình biển đảo biên giới Việt Nam đang bị Trung cộng lấn chiếm, đến tình trạng tài nguyên đất đai Việt Nam bị bán cho Tầu, tình trạng Trung cộng cướp bóc ngư dân, phá họai nền kinh tế quốc gia. Đã không lên tiếng thì thôi Trương Tấn Sang còn kêu gọi “đòan kết quốc tế cộng sản” thì có khác gì Tấn Sang công khai kêu gọi xóa bỏ biên giới Việt Nam. Thế rõ ràng Trương Tấn Sang đang “cõng rắn cắn gà nhà”.
Tham nhũng là tội trước pháp luật. Còn bán nước là tội trước dân tộc. Kẻ bán nước không phải chỉ hổ thẹn với tiền nhân như Trương Tấn Sang đã biết mà còn bị muôn đời nguyền rủa. Quay về với dân tộc là con đường duy nhất cho những người bán nước như Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và tập đòan cộng sản.

Trương Tấn Sang mơ Thời Chiến Tranh …
Làm người ai lại không mong ước có hòa bình. Nhất là người Việt Nam mấy mươi năm qua, hết đánh Nhật, đánh Tây, rồi nội chiến lại sang đánh Cam Bốt đánh Tầu. Đảng Cộng sản không sợ chiến tranh nhưng người Việt khi nghe đến chiến tranh đều tỏ ra ngao ngán.
Thế mà ông Trương Tấn Sang lại ao ước mang phương cách, lề lối, tư duy của chiến tranh vào cuộc sống ngay nay. Ông viết: “Niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi” trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm xưa, phải được thể hiện bằng niềm tin mới “sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nhất định thành công” trong giai đoạn hiện nay!” Ông ao ước vì nhờ có chiến tranh đảng Cộng sản đã tiêu diệt được mọi niềm tin mọi ý kiến khác biệt.
Nhưng niềm tin và ý kiến khác biệt với đảng Cộng sản, sau chiến tranh lại phục hồi sống dậy. Quá trình này đã từng nhiều lần bị ông Trương Tấn Sang phê phán và khép những từ như diễn biến hòa bình, tự diễn biến, tự chuyển biến. Quá trình này càng lúc càng nhanh hơn, càng mạnh hơn nhất là sau vụ Bầu Kiên bị bắt.

Kết Luận
Qua bài luận văn tả tình “Cách Mạng Mùa Thu” của Trương Tấn Sang, bạn đọc dễ nhận thấy chỉ vì yếu kém về mọi mặt ông Sang đâm ra lo sợ thay đổi, sự lo sợ biến ông thành tồi bại không dám nhìn nhận sự thật, rồi trở nên bảo thủ và chấp nhận làm tay sai cho Tàu cộng. Không phải chỉ riêng Trương Tấn Sang mà tất cả giới cầm quyền cộng sản đều “cá mè một lứa” như thế.
Việc những người cộng sản công khai đấm đá lẫn nhau vẫn chỉ là những chuyện nội bộ và vì quyền lực quyền lợi cá nhân. Bài học Nga và Đông Âu cho thấy con đường duy nhất là tòan dân phải đứng dậy thì mới có thể giành lại được chính quyền.
Và bài học từ Nga và Đông Âu cũng cho thấy, khi nội bộ các đảng Cộng sản (Nga, Đông Âu) và khi các đảng viên cộng sản công khai đấm đá lẫn nhau là lúc để tòan dân liên kết đứng lên làm cách mạng dân tộc, xây dựng một Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ và phú cường.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
6/9/2012

Bài Xem Nhiều