We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 9 April 2014

39 năm Dấu Tích Thương Đau...tháng 4 lại về (10)

39 năm nhìn lại

Xuân về cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, rộn rã tiếng chim ca dưới bầu trời xanh với những áng mây bay như dải lụa trắng. Trên nền cỏ xanh mượt điểm những cánh hoa màu tím nhạt, hoa anh đào màu hồng nở rộ tăng thêm nét đẹp buổi bình minh, có nắng hanh vàng, nhưng không khí còn se lạnh. Mùa xuân về gợi chúng ta nhớ lại biến cố 39 năm trước chiến tranh Việt Nam trong giai đoạn khốc liệt nhất. Ngày 14/3/1975 quân đội VNCH triệt thoái Cao Nguyên, máu của quân dân miền Nam đã đổ ra trên tỉnh lộ 7 về đến Nha Trang. Ðà Nẵng di tản chiến thuật ngày 29/3 hàng trăm ngàn người hải hùng lên các tàu hải quân di tản hy vọng tìm được tự do… cho đến ngày 30/4 Việt Nam Cộng Hòa bị bức.

Chiến tranh Việt Nam kéo dài hơn 2 thập niên thực chất chỉ là cuộc tàn sát gần 4 triệu đồng bào ở cả hai miền Nam Bắc, do đảng cộng sản quốc tế hỗ trợ CSVN nhân danh “kháng chiến giành độc lập” và “giải phóng dân tộc “  “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam”. (theo kế hoạch của Mao: đánh Mỹ cho tới người Việt cuối cùng để mở rộng đế quốc Tàu đỏ),  Cố tổng bí thư Lê Duẩn (1907-†1986) tuyên bố „ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc“ cuộc chiến đã gây ra tang tóc lầm than khói lửa. CSVN áp dụng chủ thuyết Mác xít, các lãnh tụ độc tài như  Stalin, Mao Zedong (1893-†1976) Lénin được tôn thờ.  Bộ Chính trị đảng cộng sản giữ độc quyền “kinh thánh” Marxismus, trong sinh hoạt chính trị và kinh tế qua từng giai đoạn. Chủ trương của cộng sản là “chính trị đảng và xã hội không được phân biệt. Nhà nước là định chế duy nhất của xã hội”, Người công dân không có quyền nào ngoài bổn phận làm theo ý của đảng cầm quyền. Giai đoạn đầu chiếm Sài Gòn đảng CS mù quáng chủ trương “bài trừ văn hoá”, thư viện Quốc Gia kho tàng sách vở tài liệu quý giá của VNCH  bị “cán bộ” đem bán giấy vụn. Văn hóa phẩm như nhạc, các tủ sách gia đình bị tịch thu giống như thời Tần Thủy Hoàng (246-209) kết thúc thời Chiến quốc, đốt sách chôn học trò, bài trừ Nho giáo.

Sau ngày 30/04/1975 cộng sản Việt Nam luôn tự hào “chiến thắng hai Ðế quốc lớn”, thi hành chính sách “tập trung cải tạo” những người làm việc với chế độ cũ. Ðảng chủ trương cướp đoạt tài sản miền Nam qua các cuộc “cải cách công thương nghiệp”, đổi tiền, đánh tư sản, đưa đi kinh tế mới…

Đổi tiền lần đầu người miền Nam dù có nhiều tiền cũng chỉ được phép đổi tối đa 200 đồng tiền mới “Hồ”, hối suất tính như sau : 500 đồng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam (VNCH) đổi lấy 1 đồng tiền Hồ, vào thời điểm đó 1.USD = 118 đồng VNCH. Nhiều người có tiền trong các trương mục Ngân hàng trước 1975 đều mất hết, nhà cầm quyền không cho họ lấy tiền ra, ngược lại nếu trước đó có nợ thì phải tiếp tục trả! Người buôn bán có tiền không đổi được trở thành trắng tay phải tự tử… Đổi tiền lần thứ 2 và “đánh tư sản”, “cán bộ” cộng sản tịch thu tài sản đuổi người đi kinh tế mới! thành phần “cán bộ” cộng sản bỗng dưng giàu hơn, có nhà có xe…

Ðời sống người dân miền Nam từ phồn thịnh đi xuống tận cùng khổ đau nghèo khó. Nhiều người bị “tập trung cải tạo” đã chết trong núi rừng khắc nghiệt miền Bắc, hoặc trong các trại tù. Hàng triệu người liều chết trên những chiếc thuyền con vượt biển Đông bất chấp phong ba bão tố,  hải tặc cướp của, hảm hiếp, giết người, hay bất chấp gian khổ vượt thoát bằng đường bộ đi tìm cái sống trong cái chết, để đổi lấy hai chữ Tự Do. CSVN làm xã hội chậm tiến, không có Tự do, Dân chủ, Kinh tế không phát triển trong lúc các nước Á Châu vươn lên trên mọi lãnh vực vv.. Theo triết gia Kim Định:

”Ngày 30/4/1975 không chỉ là cái tang của người Việt Nam, mà còn có thể nói là cái tang chung của nhân loại ……” . Lời của cố T.T Ronald Reagan (1911-†2004) “ Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation's Viet Nam borned ” ... Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong, bởi vì cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau.”

“Thiên đường” cộng sản tại Nga cùng các nước Ðông Âu sụp đổ từ năm 1989. Việt Nam bang giao với khối cộng sản trở thành ngỏ cụt, nên phải mở cửa “đổi mới” nghiêng về khối Tây phương để khỏi bị loại ra khỏi thế giới văn minh. Nhưng vẫn giữ chính sách cai trị đóng khung giáo điều của chủ thuyết cộng sản gian ác, lỗi thời.

Các tôn giáo đều bị đàn áp, CSVN thành lập Giáo Hội quốc doanh, bỏ tù các người yêu nước lên tiếng chỉ trích chế độ đòi hỏi tự do dân chủ và nhân quyền. Nhiều sách vở, bút ký viết về cuộc đổi đời sau năm 1975 trong hơn một phần ba Thế kỷ đủ để mọi người nhìn lại những thương đau còn in hằn trong tâm khảm của dân tộc Việt Nam!

Nhà cầm quyền CSVN từng kết án những người tỵ nạn cộng sản là “thành phần phản quốc, bỏ nước ra đi vì kinh tế, bọn làm tay sai…”. Nhưng rồi vì quyền lợi đối với khối người Việt tỵ nạn từ đó họ đổi cách gọi “Việt Kiều là những khúc ruột ngàn dặm”, khuyến khích hơn 3 triệu người Việt hải ngoại về thăm nhà, hàng năm gởi tiền tỷ về giúp gia đình bạn bè, làm từ thiện… Việt Nam có số ngoại tệ khổng lồ, chỉ cần in thêm tiền giấy không vàng bảo chứng để đổi lấy đô la.

Dù đất nước nối liền Nam-Bắc nhưng lòng người chưa được thống nhất! Chúng ta không muốn gợi lại lòng thù hận. Nhưng tôi nhắc lại những gì đáng quên và đáng nhớ để những người may mắn rời khỏi Việt Nam trước 75, hoặc những ai không sống tại miền Nam, chưa thấy được hoàn cảnh ngày đổi đời, nhất là các thế hệ con cháu sinh sau 1975 trong, cũng như ngoài nước biết bản chất, chính sách độc tài của chế độ cộng sản dù họ luôn tuyên truyền đánh bóng.  Người Việt tỵ nạn trân quý cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ, bởi vì cờ Vàng là linh hồn cho tự do, dân chủ của người Việt hải ngoại. Lá cờ này mãi vẫn là một biểu tượng của tự do và niềm hy vọng cho một ngày mai tươi sáng, tốt đẹp hơn.

Tổ tiên chúng ta đã hy sinh biết bao xương máu để bảo vệ đất nước “tấc đất tấc vàng” mà nay đảng CSVN cắt lãnh hải, biên giới dâng cho Trung cộng, hành động bán nước qua các Hiệp ước giữa hai đảng cộng sản Việt-Hoa, che giấu không công báo cho Quốc dân biết.. Ải Nam Quan địa đầu tỉnh Lạng Sơn nhiều thế kỷ trước ngăn chận quân Tàu muốn tiến về phương nam, đều bị chận đứng nơi đây. Thác Bản Giốc ở Cao Bằng đẹp với cảnh thiên nhiên hùng vĩ, Tục Lãm nay đã mất một phần…. Trình trạng cho ngoại quốc thuê rừng, thuê đất, khai thác Bauxite làm ảnh hưởng môi sinh, thiệt hại đến an ninh quốc gia, nhà cầm quyền vay mượn nợ các quốc gia trên thế giới là gánh nặng cho con cháu không biết đến mấy đời mới trả xong ? Trong khi biển đảo, tài nguyên phong phú đã bị cán bộ CS bán chia nhau tiền đầy túi….

Nhìn lại Hiệp định Paris ký giữa Hà Nội và Ngoại trưởng Kissinger ngày 27/01/1973. Hoa Kỳ rút quân trong danh dự. Bắc Việt lợi dụng cơ hội xua quân xâm lăng và cưỡng chiếm miền Nam. Quốc Hội Hoa Kỳ cắt mọi viện trợ Quân sự và Kinh tế cho miền Nam (VNCH) tài khóa 1974-1975, trong lúc Bắc Việt nhận viện trợ vũ khí tối đa của khối cộng sản Nga-Tàu và Ðông Âu.

Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên khi tân T.T Dương Văn Minh (1916 -†2001) tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn lúc 11 giờ ngày 30.4.75.  Ðường phố Sài Gòn u buồn, vắng lặng... tiếng đại bác 130 đã ngưng, trên đường phố còn xác chết rải rác qua các cuộc giao tranh hay những toán quân nhân tự tử vì phẩn uất khi nghe lệnh đầu hàng. Xe tăng T54, “bộ đội” CS được các thành phần nằm vùng, mặc thường phục, cổ đeo cờ xanh đỏ sao vàng hướng dẫn chạy về dinh Ðộc lập. Khắp nơi súng đạn, giày dép, quần áo, đủ màu sắc của quân đội VNCH cởi bỏ ngổn ngang... Họ uất hận những người chủ bại phản bội, bọn hèn tướng bỏ chạy trước mà còn lừa bịp ra lệnh “tử thủ chiến đấu đến giây phút cuối cùng”.

Những chiến sĩ vô danh tử trận không có quan tài chôn cất. Các thương binh của quân đội VN CH bị đuổi ra khỏi các quân y viện, lê lết trên đường phố vết thương còn rớm máu, nhìn họ lòng tôi chùng xuống, nước mắt lưng tròng, nỗi đau khó quên của người chiến bại và lo sợ như cảnh đấu tố trong đợt “cải cách ruộng đất” lại tiếp tục xảy ra!  Người Sài Gòn ngỡ ngàng, nỗi lo âu dồn dập, ngổn ngang, tâm tư buồn bã trước nghịch cảnh đổi đời, lạnh lùng nhìn đoàn quân “chiến thắng” trên đường phố, với chiếc mũ cối và đôi dép râu xa lạ. Chỉ có đám “Cán bộ” nằm vùng xách động “hoan hô chiến thắng...

Sinh hoạt Sài Gòn trước 1975 với chế độ tự do, sinh viên, học sinh xuống đường biểu tình. Các cán bộ nằm vùng đội lốt tôn giáo lợi dụng tự do dân chủ để làm chính trị phản chiến. ”Thành phần thứ Ba Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, Ký giả ăn mày...” Tuổi trẻ vào thời đó bị ảnh hưởng thuyết hiện sinh của Heming Way, Fitgerald, nhất là của J. Paul Sartre (1905-†1980) và ảnh hưởng làng sóng phản chiến xuất phát từ đại học Harward Hoa Kỳ, các cuộc biểu tình tại Berlin Ðức. Sinh viên học sinh bị lôi cuốn vào “phong trào tranh đấu” xuống đường. Sài Gòn vui chơi hát nhạc phản chiến trong lúc ngoài chiến trường Quân đội chiến đấu gian khổ, bị thương hy sinh để bảo vệ hai chử Tự Do tại miền Nam! 39 năm nhìn lại Huế-Sài Gòn-Hà Nội có những cuộc xuống đường nào không?  Một số người yêu nước biểu tình chống Trung Cộng đều bị nhà cầm quyền  đàn áp, đánh đập không nương tay, bị kết án bỏ tù, ghép tội làm mất trật tự công cộng, hay âm mưu lật đổ chế độ, v vv

“Ni sư khất sĩ” Huỳnh Liên (Nguyễn thị Trừ 1923-†1987) “TT” Thích Trí Quang trụ trì Chùa Ấn Quang... từng xách động tôn giáo xuống đường biểu tình phản chiến. Sau ngày 30/4/75 họ không còn tự do để đứng lên đòi quyền sống cho người miền Nam, các Chùa, nhà Thờ bị phong tỏa, tài sản của Giáo Hội bị tịch thu, tòa soạn các báo bị đóng cửa không có Ký giả nào phản đối? hay đi ăn mày?

Chương trình giáo dục miền Nam tự do, nhân bản. Không có học thuyết nào gây hận thù. Học sinh, sinh viên, được hoản dịch theo học đại học. Tu sĩ, con độc nhất trong gia đình, được miễn thi hành quân dịch. Sinh viên du học đến các nước Tây phương nếu đủ điều kiện: tự túc, hay học bổng không phân biệt lý lịch. Các Giáo Hội mở các trường Ðại học tự trị, Ðại học Vạn Hạnh của Phật Giáo, Ðại học Tây Ninh của Cao Ðài, Ðại học Chính trị Kinh Doanh Ðà Lạt của Công giáo, Ðại học Hòa Hảo ở Long Xuyên. Còn một số Ðại học tư như: Ðại học Y khoa Minh Ðức, Tri Hành, Phương Nam vv. Nhìn chung các Ðại học được hưởng mọi quy chế như Ðại học công lập: Sài Gòn, Huế, Ðà Nẵng, chỉ khác nhau sinh viên học trường tư phải đóng tiền học phí.

Các đảng phái như Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Tân Ðại Việt, Dân Xã Ðảng, Ðảng Công Nông..vv sinh hoạt công khai đối lập chính quyền. Các Tôn giáo đều có đại diện Dân biểu, Nghị sĩ, tham gia chính quyền. Trong lúc tại miền Bắc chỉ có một đảng cộng sản cai trị. Miền Nam không đói khổ như miền Bắc, nhưng CS tuyên truyền rằng: “miền Nam nghèo khổ bị bóc lột, hột gạo cắn làm tư chia cho miền Nam”. Các “Cán bộ tập kết” trở về xách theo quần áo cũ, chén đất về cho gia đình. Trên đường về Nam họ nhìn thấy sự thật! “đừng tin những gì CS nói..”

Thời chống Tây miền Nam có quan Ðại thần Phan thanh Giản (1796-†1867) tuyệt thực 17 ngày phản đối và uống thuốc độc tự tử vào ngày 04.08.1867 khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Thế hệ năm 1975 tướng Nguyễn Khoa Nam tại Cần thơ tự bắn vào đầu không chịu đầu hàng, tướng Trần văn Hai uống thuốc độc tại bộ chỉ huy căn cứ Ðồng Tâm, các tướng Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ  cùng nhiều quân nhân đã tự tử không chấp nhận chế độ cộng sản... Hình ảnh xúc động nhất Trung tá Nguyễn Văn Long CSQG tự sát dưới bức tượng trước Quốc hội. Sài Gòn mất tên như nhà văn Nguyễn Đình Toàn viết được phổ nhạc:

“Sài gòn ơi! ta mất người như người đã mất tên, mất từng con phố đổi tên đường, khi hẹn nhau đã lạc lối tìm.”

Miền Nam là vựa lúa, trái cây ngon nhưng dân Sài gòn phải ăn hột bo bo thức ăn dành cho ngựa vì đảng CS chiếm đoạt vơ vét trả nợ cho đảng CS anh em. Các bệnh viện sau 1975 cấp thuốc dân tộc, như loại cây Xuyên tam liên thay thế thuốc trụ sinh, các Y tá cách mạng lên làm bác sĩ Giám đốc, không biết dùng thuốcTây, nên ghi thuốc bào chế dân tộc. Chợ trời mọc lên như nấm, các chợ quần áo cũ, đồng hồ, quạt máy, Radio nhạc Cassette, Tivi, máy may, vàng, hột xoàn, đô la, tủ bàn ghế, xe đạp thuốc tây...Các loại hàng nầy nhiều gia đình không có tiền phải bán dần để sống. Con buôn mua về tân trang xi, sơn đánh bóng.. Khách hàng là những cán bộ, bộ đội miền Bắc. Trên quốc lộ I hàng trăm đoàn xe bộ đội, vận tải quốc doanh của CS chuyên chở đủ thứ vật dụng, hàng hóa từ Nam ra Bắc. Nhiều người đã nói “cướp đêm là giặc cướp ngày là quan” những  tấn vàng và ngoại tệ trong Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam chở về Hà Nội, số vàng ấy đi về đâu?

Các công tử Hà nội (con ông cháu cha) đến chợ Vườn chuối trên đường Phan đình Phùng, tìm các thợ cán vàng lô, (lượng vàng có hai miếng rưởi đúng tiêu chuẩn 37,4 g vàng 24 K). Nhưng các chàng nầy mướn thợ làm vàng 2 da (phần trong hợp chất kim loại, ngoài bọc lớp mỏng bằng vàng thật 24) nếu khách hàng không rành khó có thể phân biệt được. Họ đem về đánh tráo vàng trong kho của nhà nước?  Ðây là vụ biển thủ lớn có tổ chức, của những giai cấp quyền thế trung ương đảng CSVN.

Những tà áo dài thước tha của Sài Gòn biến mất, chỉ thấy toàn quần đen áo bà ba, đàn ông mặc áo bỏ ra ngoài đi xe đạp, xe gắn máy chỉ dành cho cán bộ họ có thẻ mua xăng. Người ta có thói quen gọi là ngày “giải phóng” Ngày 30 tháng 4 là một biến cố lịch sử, ai giải phóng ai? Khi hàng triệu người miền Nam phải bỏ nước ra đi tìm tự do.  Đời sống xã hội bị đảo lộn không ai có thể đưa ra con số chính xác về số phụ nữ trẻ người Việt sang Campuchia làm nghề buôn phấn bán hoa là bao nhiêu, các tỉnh của xứ Chùa Tháp đều hiện diện gái mãi dâm người Việt, trong đó có nhiều em tuổi vị thành niên, đã gây ra những tranh cãi sôi nổi trong giới nhân viên xã hội tại Campuchia, những em này là nạn nhân của việc đưa lậu người qua biên giới. Phẩm giá đàn bà Việt Nam không được tôn trọng, các chợ rao tìm chồng ngoại quốc, các thiếu nữ ngồi chờ các anh chàng ngoại quốc: luống tuổi ế vợ, quê mùa ít học.. từ Ðài Loan, Ðại Hàn.. đến Việt Nam tìm vợ, họ chỉ cần bỏ vài ngàn đô la có được cô vợ trẻ đẹp đem về bản xứ phục vụ... đôi khi bị đánh đập phải nhảy lầu tự tử hay bị  bán vào động cho các tú bà... nhưng nhà cầm quyền Việt Nam vẫn làm ngơ! xã hội ngày nay băng hoại có nhiều quán bia, cafe, các quán đèn mờ, hớt tóc... kinh doanh về tình dục, tuổi trẻ tự do luyến ái phá thai bừa bải, trong thời gian qua tại Singapor, Mã Lai… xuất hiện nhiều đàn bà Việt Nam lợi dụng là du lịch sang đó để buôn phấn bán hoa, đứng đường đón khách. Đến Nhật ăn cắp mỹ phẩm đắt tiền có nhiều shopping để bản cấm người Việt vào, đã làm xấu hổ cho cả dân tộc Việt Nam.

Bệnh Aids truyền nhiễm HIV , Xì ke ma tuý... Bộ Y tế Việt Nam báo động hiện tượng phá thai ngày càng nhiều ở lứa tuổi vị thành niên, chiếm hết một phần ba trong tổng số trên 400.000 trường hợp phá thai “được ghi nhận chính thức” ở Việt Nam hằng năm. Nhưng con số thật sẽ cao hơn nhiều vì đa số gái vị thành niên, chưa lập gia đình khi có thai thường giấu chuyện mang thai của mình và đi phá ở những cơ sở phá thai tư nhân.

Các quốc gia trên thế giới xuất cảng các loại hàng tiểu, công thương nghiệp, nhưng ngược lại  Việt Nam  xuất cảng người đi lao động, trình trạng mua bán nô lệ mới ngày nay được áp dụng tại Việt Nam! dù Tổng Thống thứ 16 của Hoa Kỳ ông Lincoln Abraham (1809-†1865) giải phóng chế độ nô lệ từ năm 1862. Hiện tượng chất xám bị mua, các nước Tây Phương cấp học bổng cho một số sinh viên giỏi tại các Ðại học Việt Nam ra nước ngoài làm luận án cao học hay tiến sĩ, cũng như những sinh viên du học tại các nước Ðông Âu, khi xong học trình mấy ai về nước phục vụ! Bởi vì họ thấy đời sống Tây phương tiến bộ tự do, ai giỏi thì có việc tốt không cần phải vào đảng CS để có việc làm. Theo thống kê của Bộ Khoa học - Công nghệ (KH-CN), cả nước có trên 24.000 tiến sĩ, hơn 100.000 thạc sĩ. Số giáo sư, tiến sĩ VN nhiều nhất Đông Nam Á nhưng không có trường ĐH Việt Nam nào được đứng trong bảng xếp hạng 500 trường ĐH hàng đầu thế giới. Lý do các trường đại học VN đào tạo sinh viên không đúng tiêu chuẩn và trình độ chuyên môn, có nhiều trường hợp bằng giả, bằng dỏm, mua bán bằng cấp “hữu danh vô thực”. Trình độ giáo dục chênh lệt, một số cán bộ đảng cộng sản có nhiều bằng đại học cử nhân, tiến sĩ nhờ học bổ túc văn hóa. Người ta nói “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”.. Thế hệ trẻ lớn lên mỗi ngày mất hy vọng thiếu tự tin, dù học giỏi ra trường không thế lực, không có tiền hối lộ sẽ không có việc làm! không biết tương lai sẽ đi về đâu?  Bằng cấp, cũng giống như tiền của ngân hàng VN phát hành chỉ sử dụng trong nước ra nước ngoài không có giá trị.

Việt Nam thiếu chuyên viên kỷ thuật trầm trọng! Thời chiến quốc Lưu Bị muốn khôi phục nhà Hán phải nhiều lần đến mời Khổng Minh Gia Các Lượng ra giúp nước. Nhà cầm quyền Việt Nam không biết trọng dụng trí thức, khoa học kỷ thuật để họ phục vụ đất nước, chỉ biết kết bè phái đưa thân nhân, gia đình vào giữ những chức vụ quan trọng để vinh thân phì gia … Nhà cầm quyền không xây dựng thêm bệnh viện công để phục vụ cho dân, hay những trường Trung và Ðại học công lập đúng tiêu chuẩn, mở rộng hệ thống giáo dục theo các nước tiên tiến của thế giới, ngược lại phát triển những khu ăn chơi hưởng thụ, lãng phí tài nguyên quốc gia. Nạn lạm phát gia tăng hàng năm  từ 10% đến 20%, vật giá leo thang đời sống người dân nghèo càng khốn khổ hơn. Thức ăn, nước uống độc hại do các hóa chất từ Tàu tràn ngập thị trường, bọn lái buôn Tàu phá hoại kinh tế Việt Nam như các trường hợp lường gạt: mua rể tiêu, dây khoai lang, mua chân trâu, đuôi bò, nuôi đỉa, ốc bưu vàng… Người nông dân không ý thức ham tiền bị lừa. Nhà cầm quyền không có hành động ngăn ngừa thủ đoạn đê hèn của bọn lái buôn đó. Công an không kiểm soát, bắt trục xuất là một hành động đồng lõa ngậm miệng ăn tiền của gian thương.

Tại Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc họp ở Genèva Thụy Sĩ bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phổ biến bản phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền trên thế giới, nói rằng CSVN vẫn là một trong những nước ở Đông Nam Á, tiếp tục đàn áp nhân quyền nghiêm trọng, không có tự do báo chí… Việt Nam là nước ngăn chận tự do báo chí đứng thứ  174 / 179 các quốc gia còn độc tài. Những người bất đồng chính kiến đấu tranh bất bạo động cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền đều bị cầm tù. Trên lý thuyết việc bảo vệ các quyền tự do công dân về mặt luật pháp của Việt Nam. Điều 25 của Hiến Pháp 2013 của Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, thông tin, tôn trọng những quyền hội họp, lập hội, biểu tình. Trên thực tế, công dân Việt Nam không có những quyền tự do trên. Vì vi phạm nhân quyền VN khó gia nhập theo Hiệp ước thương mại Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership - TPP).

Chúng ta may mắn vượt thoát khỏi địa ngục có thật sau 30/4/75. Thời gian trôi qua 39 năm xã hội Việt Nam vẫn sống dưới chế độ độc tài, tham nhũng đảng viên càng ngày càng giàu hơn, gởi con cháu đi du học sung sướng họ không quan tâm tới người khác, sống ích kỷ, thủ lợi xem trọng vật chất, không cần để ý đến phát triển đất nước, “Thượng bất chính hạ tất loạn” mạnh ai nấy sống, có tiền đầy túi là được, luân lý, đạo đức xã hội suy đồi…. Cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới lên tiếng ủng hộ những nhà dân chủ cũng như người dân oan trong nước bị áp bức, bị chiếm đoạt tài sản, phải đi khiếu kiện nhiều năm không được giải quyết còn bị đánh đập đàn áp. Phần lớn người Việt bỏ nước ra đi có cuộc sống ổn định, an cư lạc nghiệp, con cái có địa vị công việc như người bản xứ. Nhiều người về hưu hưởng tiền hưu có  bảo hiểm xã hội đời sống an nhàng, không ai nuôi tham vọng trở về nước tranh giành địa vị.  CSVN không biết canh tân đất nước mà luôn lo sợ rêu rao “diễn biến hòa bình hay thế lực thù địch…”

Nhiều người về thăm lại quê hương, mỗi người một hoàn cảnh riêng. Nhưng nên nhìn lại những ngày khó quên của 30/4/1975 , tại sao chúng ta rời Việt Nam làm kiếp người lưu vong? Dù ngày nay Việt Nam có đổi mới, nhưng địa ngục vẫn còn đó, nếu cờ đỏ sao vàng còn tung bay trên vùng trời Việt Nam! Là còn cảnh chậm tiến, lạc hậu do một đảng CS độc quyền cai trị “cán bộ” thiếu văn hóa bất lực, chỉ biết tham nhũng và hưởng thụ… “Việt Nam bây giờ cần ngay chính những công dân đang sinh sống trong nước lên tiếng và tranh đấu cho lẽ phải. Bởi lẽ bên ngoài dù có ủng hộ hay hoạt động đến đâu cũng không mấy tạo được sự thay đổi bằng chính những người trong nước.”

Sự sụp đổ của chế độ CS Đông Âu là bài học cho người dân nhiều nước còn bị cai trị dưới chế độ độc tài chậm tiến, trong đó có Cộng sản Việt Nam

Nguyễn Quý Đại

Tháng Tư 2014

http://www.lyhuong.net/uc/index.php/bandoc/3497-3497

Khi thằng CS nói láo: NHỮNG SỰ THẬT ĐÃ LỘ DIỆN

“Khi thấy thằng CS nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói láo. Nếu ta không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại, những lời nó đã nói láo với người khác”. Vâng, tôi chỉ làm cái việc mà lương tri dân tộc bắt phải làm. Tôi buộc lòng phải nói lên sự thật trước những lời nói láo của Nguyễn Thanh Sơn, một tên cộng sản. 
Trần An Lộc
danlambaovn.blogspot.com
-----
NHỮNG SỰ THẬT ĐÃ LỘ DIỆN

Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt cộng Nguyễn Thanh Sơn vừa đi một chuyến công du Bắc Mỹ, đã sang Canada hôm 12/3/2014, rồi sau đó đi Houston, Bắc và Nam California. Khi ghé Nam Cali, ông đã trả lời phỏng vấn của phóng viên Phố Bolsa tivi. Qua cuộc phỏng vấn, chúng ta nhận thấy công tác của ông ta trong chuyến công du này là để chuẫn bị cho đợt tổng kết thành quả 10 năm của việc phát động Nghị quyết 36 mà bạo quyền Cộng sản Việt cộng chủ trương, nhận thấy có những điểm như sau:

1.- Hòa hợp hòa giải: Công tác nầy của Việt cộng đã thực hiện từ lâu và liên tục cho đến ngày nay và chỉ được xem như thành công đối với một số hạng người “Ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng sản”. Những loại người nầy tuy núp bóng trong hàng ngũ Quốc Gia, nhưng tư chất của họ chẳng khác gì bọn người Việt cộng, tức là phản bội: phản bội lý tưởng mà họ từng tuyên bố, phản bội Cộng đồng đã nuôi dưỡng cho sự nghiệp của họ, phản bội anh chị em đã từng gắn bó với họ trong những thời gian lâu dài và đặc biệt nhứt là phản bội tổ quốc, vô ơn, bạc nghĩa với đất nước Việt Nam Cộng Hòa, một chánh quyền đã ưu đãi gia đình họ để cho họ có được vị trí mâm cao cổ đầy như ngày hôm nay.

Những lọai người nầy chỉ biết có quyền lợi là trên hết, dân tộc khổ đau đối với họ chỉ là chuyện đầu môi chót lưỡi mà thôi, vì vậy, suốt đời của họ chỉ có chạy theo những kẻ quyền thế, có nghĩa là chỉ “phù thịnh chớ không phù suy” mà quên rằng những kẻ thịnh chỉ cần họ để lợi dụng cho một vài nhu cầu nào đó rồi sau cùng sẽ vắt chanh bỏ vỏ, điển hình như nhóm Trịnh Vĩnh Bình ở Hòa Lan, như Trần Trường ở Cali,…
Ngày xưa ở bên Tàu, bọn nữ nô nhà Thương bị người đời khinh bỉ qua mấy câu thơ:

Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa

Không ngờ ngày nay, trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản của chúng ta lại có một số người mà bản chất lại hèn hạ không kém bọn nữ nô nhà Thương bên Tàu cách nay đã hơn hai ngàn năm. Thật là đáng tiếc.

Nhưng điều may mắn là những hạng người nầy rất ít, vì trong suốt thời gian công du, Nguyễn Thanh Sơn chỉ đề cập được tên của một người duy nhứt ở Canada mà thôi, ngoài ra không còn ai khác (mà ông ta ngụy biện là giấu tên theo yêu cầu) trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản, những kẻ phản bội nầy đã bị đồng bào hải ngoại tẩy chay ngay khi họ vừa ló dạng, giống như bọn văn nô.

Bởi vậy, khi Nguyễn Thanh Sơn tuyên bố là Nghị quyết 36 của bè lũ Việt cộng đã thành công là hàm ý về sự thất bại nặng nề của chúng, vì nếu thành công thì tên Thứ trưởng ngoại giao nầy sẽ không bao giờ chịu mất công sức và lao lực để đi kêu gào mời gọi trong chuyến công du vừa qua. Hơn nữa, chúng cũng thừa biết rằng những kẻ “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản” đến với chúng là một lẽ tự nhiên chớ cần gì phải kêu gọi, bởi vậy, gom những kẻ nầy lại rồi tuyên bố rêu rao mục đích chỉ để làm lũng đoạn Cộng Đồng chớ đâu phải là một sự thành công của Nghị quyết 36.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ở hải ngoại bao giờ cũng chống lại việc hòa hợp hòa giải với bạo quyền Việt cộng dưới bất cứ hình thức nào, cụ thể là Quan Điểm 5 Không của cố Gs.Nguyễn Ngọc Huy và những cuộc biểu dương với rừng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong những cuộc tuần hành của Người Việt Quốc Gia ở khắp mọi nơi trên thế giới. Điều nầy đã là những trở lực lớn lao trong việc tuyên truyền của chúng đồng thời cũng là những thất bại lớn của chúng trong việc vận động phá hoại hàng ngũ Người Việt Quốc Gia. Cho nên, việc công du của Nguyễn Thanh Sơn vừa qua chỉ là một sự cố gắng trong những cố gắng, dù luôn chỉ đem lại thất bại cho chúng trong việc thi hành Nghị quyết 36 chớ chẳng có gì khác hơn.

Nếu là thực tâm hòa hợp hòa giải dân tộc thì trước tiên bạo quyền phải làm điều nầy một cách nghiêm chĩnh với nhân dân trong nước, làm được như vậy thì đâu cần gì phải mất công cho những chuyến công du như Nguyễn Thanh Sơn vừa qua.

Trong nước thì bạo quyền đàn áp dã man những nhà bất đồng chánh kiến, những nhà hoạt động Tôn Giáo, đàn áp thô bạo những dân oan khiếu kiện, bắt bớ, xử án nặng nề để tù đày những người đã dám nói lên những điều sai trái của bạo quyền, những người đã dám tố giác những tội ác và tham nhũng của những đảng viên, dám vạch trần những bất công trong xã hội, như vậy thì Nguyễn Thanh Sơn lấy tư cách gì để kêu gọi hòa hợp hòa giải với Người Việt Quốc Gia? Một việc làm chỉ hoài công giống như việc đi “mò trăng đáy biển”.

2.- Nguyễn Thanh Sơn tuyên bố: Trong số 4,5 triệu Người Việt hải ngoại đã có 95% người về Việt Nam thăm quê hương:
Con số 95% nầy không có căn cứ mà chỉ là nói bừa vì có nhiều người đi đi về về nhiều lần trong một năm, ví dụ như những con buôn bất chánh, những “du sinh”, những thân nhân của chúng đi rửa tiền, những “lao động xuất khẩu”, những kẻ có tiền, phản bội vợ con về Việt Nam nhiều lần trong năm để du hí, những văn nghệ sĩ, bầu sô về nước ca hát tranh giành với đồng nghiệp nghèo khổ của họ để kiếm ăn, v.v…Có một ca sĩ tiếng tăm ngày trước đã từng tuyên bố là nàng ta được mời về nước 25 lần trong năm 2011 để ca hát làm từ thiện. Con số những kẻ nầy không thể kể vào tỷ lệ phần trăm trên tổng số Người Việt ở hải ngoại được, mặc dầu trên Passport của họ đều được đóng dấu cho mỗi chuyến đi.

Tất cả bọn Việt cộng từ trên xuống dưới đều giống nhau, tên nào cũng xấc xược, nói dai, nói dài, nói nhiều, nói bừa và nói dóc. Bởi vậy mới có câu nói của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”. Quả thật không sai.

3.- Việt cộng cần gì qua chuyến công du của Nguyễn Thanh Sơn: Chuyến công du của Nguyễn Thanh Sơn lần nầy cũng như những chuyến đi trước đó của những cán bộ cao cấp khác đều không ngoài mục đích là để tìm cách chứng minh với Mỹ và các nước Tây phương là 95% số người Việt ở hải ngoại đã về thăm quê hương, gởi tiền về để xây dựng đất nước năm nay đã lên tới một số tiền khổng lồ là 18 tỷ đô la Mỹ. Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho nhu cầu sanh tử nầy, từ trước đến nay chúng luôn tìm cách cài người trong hay ngoài các Cộng Đồng, lên tiếng bài bác việc treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, dựng lên nhiều cơ sở Tôn Giáo Quốc Doanh ở hải ngoại không treo cờ Việt Nam Cộng Hòa lẫn cờ Cộng sản, lén lút treo cờ Cộng sản ở một vài nơi như các trường học chẳng hạn…

Nêu lên những con số và các sự kiện nầy để bọn chúng chứng minh với các nước Tây phương là việc cai trị của chúng là đúng nên được đông đảo đồng bào hải ngoại chẳng những không chống đối mà còn ủng hộ họ một cách mạnh mẽ, ngoại trừ 5% những người già cả, cố chấp, không chịu tìm hiểu thời cuộc như Nguyễn Thanh Sơn đã nhấn mạnh trong cuộc phỏng vấn nói trên.

Các nước Tây phương vì quyền lợi kinh tế của quốc gia họ nên họ chỉ cần có những con số và những sự kiện như vậy để nhắm mắt ký vào các hợp đồng làm ăn cho khỏi bị mang tiếng mặc dầu họ vẫn rất am tường về thực trạng tại Việt Nam.

Bởi vậy, những cuộc biểu dương lực lượng của Người Việt Quốc Gia với rừng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong những cuộc tuần hành và những bài viết vạch trần những âm mưu lừa đảo và sự dối trá để lừa bịp dư luận của bạo quyền Việt cộng cũng như tất cả những sự vận động về Nhân Quyền đến những cơ quan và chánh giới Tây phương lúc nào cũng làm cho bạo quyền cực kỳ cay cú và ăn ngủ không yên.
Vì thấy rằng những cuộc vận động Nhân Quyền hiện nay của Người Việt Quốc Gia đang sôi nổi khắp nơi, vì bị những tố cáo làm tay sai, bán nước cho Trung Cộng với đầy đủ lý lẽ của nó, thấy những điều nầy được phơi bày sẽ đem đến nhiều nguy hại cho sự tồn vong của chế độ nên bạo quyền mới có chuyến công du của Nguyễn Thanh Sơn, không gì khác hơn là để tìm cách “giải độc”. Điều nầy đủ để chứng minh, cho thấy rằng những nổ lực của Người Việt Quốc Gia đang làm cho bạo quyền run sợ.

4.- Nhửng điều cần nói: Là một thành phần dù nhỏ hay lớn trong tập thể Người Việt Quốc Gia, là những người đã và đang nắm giữ những chức phận lãnh đạo của một tập thể có thành tích đấu tranh chống Cộng, là những nhân sĩ, trí thức độc lập, là những người có địa vị trong các chánh quyền sở tại của quốc gia mình đang tạm dung, xin quý vị đừng mệt mỏi khi còn năng lực để nối tiếp con đường mình đã đi, nhưng dù có mệt mỏi thì cũng xin đừng có những hành động phản bội quê hương, xin đừng vì quyền lợi riêng tư mà tiếp tay với kẻ độc tài, ngoảnh mặt quay lung với đồng bào đang chịu đọa đày dưới gông cùm nghiệt ngã của bạo quyền Việt cộng và bọn Việt gian bán nước.

Sau lời tuyên bố của Nguyễn Thanh Sơn, ông Thượng nghị sĩ Canada gốc Việt đã bị đồng bào liên tiếp chỉ trích rất nặng nề về một số điểm như:

a.- Phản bội cố Gs.Nguyễn Ngọc Huy để thực hiện mưu đồ hòa hợp hòa giải với bạo quyền Việt cộng qua việc tiếp xúc riêng với cán bộ Việt cộng.
b.- Đồng thuận về sự thành công của Nghị quyết 36 và đồng thuận với sự đánh giá của Việt cộng cho rằng những nhà tranh đấu trong nước là phạm pháp và đặc biệt đồng ý về Việt Nam thăm quê hương theo lời mời của Nguyễn Thanh Sơn.
c.- Không đặt vấn đề đa nguyên, đa đảng trong cuộc thảo luận,…

Lẽ ra khi được đề cử làm Thượng nghị sĩ, đương sự phải nên rời chức vụ Chủ tịch Ũy Ban Chấp Hành Trung Ương/Liên Minh Dân Chủ VN, để vừa hợp lệ, rảnh tay làm việc cho nước Canada, vừa tránh tiếng xấu cho tổ chức nầy khi trong lòng ông đã có ý định bắt tay với bạo quyền mà trước đây ông đã từng chống đối.

Nếu những lời tuyên bố trên của Nguyễn Thanh Sơn chỉ là chuyện bịa đặt thì đương sự cần phải lên tiếng ngay lập tức để cải chánh, còn nếu không cải chánh gì cả tức là mặc nhiên chấp nhận sự thật là như vậy. Nếu quả đúng là như vậy thì xét về mặt tư cách chánh trị, ông Thượng nghị sĩ ngưòi Canada gốc Việt nầy còn tệ hơn ông Dân biểu Cao Quang Ánh của Mỹ ngày nào gấp bội phần. Điều nầy mới thật là đáng nói và đáng tiếc.

Thanh Thủy (03/4/2014)
 


39 năm Dấu Tích Thương Đau...tháng 4 lại về (9)

VÌ ĐÂU NÊN NỖI?


      Lý do mất miền Nam vào tay cộng sản đến bây giờ vẫn còn được tranh cãi, dù ai cũng thấy nguyên nhân chính là việc Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam VN. "Tiền đồn chống cộng" này không còn cần thiết nữa, sau khi Mỹ biết Trung Cộng vào thời gian đó không có ý định và chưa đủ khả năng nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á. Những sửa soạn cho việc Mỹ rút khỏi VN đã được thực hiện với chương tình Việt Nam Hóa chiến tranh. Đến năm 1972, sau khi Cố vấn An ninh Kissinger và TT Nixon sang Tàu nói chuyện với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai thì ván bài đã được lật ngửa. Không đầy một năm sau, ngày 27-1-1973, Hiệp Định Paris chấm dứt chiến tranh VN được ký kết, với phần thua thiệt về phiá Nam VN, phần thắng lợi bất ngờ về phiá Bắc Việt, và Hoa Kỳ được "rút lui trong danh dự".


                Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu kinh lý

      Cầm bản dự thảo Hiệp Định đã được Mỹ và Bắc Việt phó thự (initial), Cố vấn Kissinger đi Sài Gòn bắt TT Nguyễn Văn Thiệu ký. Nếu TT Thiệu ký ngay thì chẳng khác gì ký vào tờ khai tử của chính ông và của cả miền Nam. Bản dự thảo coi như chung quyết (final draft) này dự trù TT Thiệu phải từ chức liền, trao chính quyền cho Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc gồm 3 thành phần (Quốc, Cộng và thành phần thứ ba ở giữa). Hội đồng sẽ tổ chức một cuộc tổng tuyển cử để bầu lên một chính quyền mới cai trị miền Nam. Một điều khoản khác vô cùng tai hại là trong khi các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ và của các nước đồng minh (Đại Hàn, Úc, Thái, Phi Luật Tân) phải rút đi thì những đơn vị quân đội chính qui của Bắc Việt vẫn được quyền ở lại miền Nam. Dĩ nhiên TT Thiệu, Quốc Hội và chính phủ VNCH phản đối. Kissinger không thành công trong việc thuyết phục TT Thiệu. Ông ta giận dữ ra về và thề không trở lại Sài Gòn nữa. TT Nixon phải cử tướng Alexander Haig, Tổng Quản Trị (Chief of staff) Phủ Tổng Thống, qua Sài Gòn điều đình và làm áp lực tiếp. Cuối cùng Mỹ cũng phải thỏa hiệp không đòi TT Thiệu từ chức, không thay thế chính quyền miền Nam bằng Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc, nhưng giữ nguyên điều khoản không buộc quân đội Bắc Việt rút khỏi miền Nam, vì sợ cộng sản sẽ không nhượng bộ điều này. Kissinger phải đi điều đình lại với Lê Đức Thọ. Phiá cộng sản không chịu sửa đổi bản thảo Hiệp định, Mỹ phải dội bom Hà Nội và phong tỏa hải cảng Hải Phòng vào những ngày cuối năm 1972 để làm áp lực. Cuối cùng Hà Nội cũng phải nhượng bộ nhưng vẫn còn lời chán vì họ được giữ quân tại miền Nam để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm chiếm. Thế là Hiệp định Paric được ký vào ngày 27-1-1973.

      Để buộc TT Thiệu phải làm theo ý Hoa Kỳ, TT Nixon dùng chiến thuật vừa dỗ vừa dọa. Một mặt ông viết thư cho TT Thiệu hứa hẹn tiếp tục gúp đỡ VNCH, trừng phạt cộng sản nếu vi phạm Hiệp định, một mặt ông chính thức hăm dọa "không muốn trường hợp TT Ngô Đình Diệm tái diễn" (Xem Palace Files và Khi Đồng Minh Tháo Chạy của Nguyễn Tiến Hưng). Những tài liệu liên quan tới những lời TT Nixon nói về TT Thiệu đã được giải mật và lưu trữ tại Thư viện Nixon ở Yorba Linda, California, cho thấy Nixon rất giận dữ trước việc ông Thiệu chống đối những điều khoản căn bản của bản dự thảo Hiệp định. Cuốn băng ghi âm từ 1973 dài 150 giờ và viết lại thành 30,000 trang đã được giải mật và đã được ông Hughes, nhà chuyên môn nghiên cứu các băng ghi âm của các tổng thống Mỹ, tiết lộ Nixon đã từng nói trong một phiên họp tại Bạch Ốc về ông Thiệu: "Tôi không rõ đe dọa đó có đủ hay không, nhưng tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì, kể cả cắt đầu của hắn nếu cần thiết" (cut off his head if necessary - Nguồn: BBCvietnam.com June 24, 2009). Dĩ nhiên, Nixon nói điều này trong lúc nóng giận nhưng cũng phản ảnh một phần sự thật. Chính tướng Alexander Haig cũng viết trong hồi ký là vào thời điểm đó, tên ông Thiệu thường được nhắc tới trong các cuộc thảo luận và có người đưa ý kiến ám sát ông Thiệu. Tướng Alexander Haig viết thêm: "Nixon rất mong muốn giải quyết chuyện Việt Nam cho xong và chia sẻ sự bực bội và tức giận như núi lửa của Kissinger đối với người đồng minh cứng đầu này (ám chỉ ông Thiệu) đã gây trở ngại lớn nhất cho ông trong việc kết thúc cuộc chiến" (1).

      Dọa nhau như thế, nhưng Mỹ đã không dám làm, vì không dại gì gây chuyện rắc rối mới khi sắp đến cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2 của TT Nixon. Vì vậy thầy trò Nixon phải thuyết phục VNCH bằng những hứa hẹn trừng phạt những vi phạm Hiệp định và tiếp tục viện trợ cho Nam VN. Khi tiếp ông Nguyễn Phú Đức, Phụ Tá Ngoại Giao của TT Thiệu tại tòa Bạch Ốc, TT Nixon đã hứa sống hứa chết (he repeated his bedrock assurance) là sẽ bỏ bom Bắc Việt một cách nặng nề nếu Bắc Việt vi phạm hỏa ước (2). Về phần Ngoại Trưởng Henry Kissinger (nhận chức Bộ Trưởng Ngoại Giao ngày 22-9-1973) cũng viết trong hồi ký rằng chính TT Nixon, Bộ trưởng Quốc Phòng và các giới chức cao cấp của Mỹ đều xác nhận nhiều lần với ông Thiệu là chính phủ Hoa Kỳ sẽ buộc Bắc Việt phải tôn trong Hiệp định (3). Hứa như vậy chỉ là để ông Thiệu yên tâm ký một hiệp ước bất lợi. Thực tế, Mỹ chỉ muốn chấm dứt chiến tranh "trong danh dự", có nghiã là lấy được tù binh về, rút chân khỏi vũng lầy VN, mặc cho Nam VN rơi vào tay cộng sản, trong một "khoảng thời gian coi được" (decent interval). Vì thế Hành Pháp bầy trò đề nghị Lập Pháp viện trợ cho Nam VN 700 triệu Đô-la. Lập Pháp lờ đi. TT Gerard Ford lại yêu cầu viện trợ khẩn cấp 300 triệu. Quốc Hội lấy cớ nghỉ hè, không thể triệu tập phiên họp cứu xét. Một khi người ta đã quyết tâm bỏ cho chết luôn, làm sao có thể cho tiền để sống lay lứt thêm một thời gian nữa?

      Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản, ông đạo diễn phù thủ Kissinger mới viết vuốt đuôi "Lúc này tôi nghĩ tới một ông tướng VN nhỏ bé, một người yêu nước". Ở một đoạn khác, ông viết:"Tôi có rất ít tình bạn cá nhân với ông Thiệu, nhưng nhìn ông theo đuổi cuộc chiến đấu một cách cô độc sau khi người Mỹ rút lui, tôi thấy mến phục ông ấy rất nhiều. Ông ít được thương hại, cũng cũng không được nhiều người hiểu, nhưng những điều đó không ảnh hưởng gì tới nhân cách của ông" (4).

      Đúng là những lời ai điếu để an ủi. Chính Kissinger đã tiên đoán với Nixon là sau 2 năm ký Hiệp định Paris, miền Nam VN sẽ sụp đổ. Các chính khách có thói quen chỉ đấm ngực nhận lỗi sau khi rời chức vụ. Về trường hợp Việt Nam, cựu Tổng Thống Richard Nixon viết cả một cuốn sách rút những kinh nghiệm sai lầm, No More Vietnams. Cựu Ngoại Trưởng Henry Kissinger viết hồi ký có những đoạn xoa vuốt Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và gần đây đã chính thức xin lỗi về những sai lầm của mình. Ông còn xác nhận trong khi Mỹ chấm dứt viện trợ cho miền Nam thì khối Xô Viết vẫn tiếp tục cung ứng đầy đủ các tiếp liệu cho Bắc Việt. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird nói rằng các khoản viện trợ Mỹ dành cho VNCH đã bị cắt theo yêu cầu của các thế lực chính trị Mỹ, đưa tới kết qủa chung cuộc là chế độ miền Nam VN thua trận vào ngày 30-4-1975 (VOA 2-7-2007).

      Khi nhìn thấy vấn đề thì đã trễ. Nhưng khi tại chức, họ chỉ nghĩ tới quyền lợi của nước họ, tới ghế ngồi và danh dự của cá nhân họ. Một tay cầm súng, một tay cầm túi Đô la, họ cứ bước lên đầu người khác mà đi. Vì vậy, chúng ta phải nhớ, trong trường chính trị, không có đồng minh vĩnh viễn và cũng không có kẻ thù vĩnh viễn. Lý tưởng còn thay đổi huống chi chính sách. Khi nhu cầu đòi hỏi, họ có thể xoay đổi chính sách 180 độ, bất kể bao nhiêu tiền bạc và xương máu đã đổ ra. Tiền và mạng người được coi là những chi phí cần thiết cho một giai đoạn với một chính sách giai đoạn. Lúc phải tiêu là tiêu. Tiêu rồi không tiếc.

      Dù quy trách nhiệm lớn nhất cho Hoa Kỳ trong việc mất miền Nam, chúng ta cũng phải tự nhận lỗi về những khuyết điểm của mình. Những tính toán sai của các lãnh đạo quân sự và  dân sự, nạn tham nhũng, lính ma lính kiểng, hối mại quyền thế... đều có xảy ra dù không ở mức độ trầm trọng như dưới chế độ cộng sản. Không thể chấp nhận những tệ nạn này nhưng chúng không làm mất nước khi ở một mức độ thấp. Dân miền Nam vẫn sống no đủ, tự do, xây dựng hiện tại và tương lai với đà tiến triển không ngừng. Tội nặng nhất phải quy vào những kẻ chỉ biết vụ lợi, những kẻ "ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản". Họ là những con buôn bán lén gạo và thuốc Tây cho cộng sản với giá cao. Họ là những người hướng về rừng với hoài cảm thời Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Họ là những trí thức viễn mơ đề cao giá trị dân tộc và chống sự hiện diện của người ngoại quốc trên đất nước. Họ lý luận rằng cộng sản hay quốc gia đều là người Việt, chắc không xử tệ với nhau như người ngoại chủng xử với dân mình. Từ đó, họ chống đối chính quyền quốc gia, gán cho mọi thứ xấu và sẵn sàng nghe theo những lời dụ dỗ của những cán bộ cộng sản nằm vùng. Họ là những người trẻ bị đàn anh phỉnh gạt bằng những lý luận sai lầm. Cuối cùng, họ là những người lãnh đạo tinh thần của một số tôn giáo đã vô tình hay hữu ý lẫn lộn chuyện đạo với chuyện đời, không phân biệt đấu tranh cho công lý với đấu tranh chính trị để lật đổ một chế độ hợp pháp, chưa kể mộ số tu sĩ là cộng sản nằm vùng khéo ngụy trang. Để cai trị một xã hội bị lũng đoạn như thế, chính quyền vẫn phải áp dụng những nguyên tắc dân chủ, hơi mạnh tay là bị kết án đàn áp, sửa đổi luật lệ cho hữu hiệu thì bị kết án độc tài. Có bàn tay cộng sản nhúng vào mọi chỗ mà nhiều người không biết, cứ tưởng mình đang tranh đấu cho hòa bình, tự do và quyền lợi của dân tộc. Chính những người như vậy đã tiếp tay cho cộng sản mau chiếm miền Nam.

     Mất rồi mới tiếc. Mắt mở ra mới thấy mình lầm. Trong khi dân trong nước đang đấu tranh gian khổ để đòi lại những quyền công dân và quyền con người đã bị cướp mất, đang vật vã đòi lại và giữ gìn những phần biển, đảo mà ông cha để lại, chúng ta ở hải ngoại đang làm gì? Còn bao nhiêu người nghĩ tới quê hương? Có bao nhiêu người dấn thân trong những hành động tranh đấu đòi công lý và nhân quyền cho anh em ruột thịt trong nước? Hay đa số chúng ta vẫn thờ ơ, coi  đó là việc của người khác? Có người còn tiếp tay cho những kẻ cầm quyền bán nước và hà hiếp dân dù chính họ đã từng là nạn nhân. May mắn thay, vẫn còn nhiều người âm thầm tranh đấu, hay ít ra cũng âm thầm góp công góp của để yểm trợ những người tranh đấu. Họ thuộc đa số thầm lặng, chỉ lên tiếng khi cần. Vì sống trong những xã hội tự do, các đoàn thể của người Việt đua nở như nấm gặp mưa. Có những đoàn thể tốt nhưng cũng có những đoàn thể hữu danh vô thực, thùng rỗng kêu to. Có những người tốt nhưng cũng có những người chỉ thích danh lợi, thích làm lãnh tụ, mới làm chủ tịch một hội nhỏ xíu đã mơ và cư xử như một thủ tướng, bộ trưởng, dân biểu tương lai. Do đó sự đố kỵ và chia rẽ gia tăng, cộng thêm những bàn tay bí mật của cộng sản và tay sai nhúng vào quậy phá các cộng đồng. Trước những tệ nạn trước mắt, chúng ta vẫn không thất vọng khi thấy sau 39 năm, cộng sản vẫn chưa chiếm được một cộng đồng người Việt nào ở hải ngoại, chưa đưa được khối người Việt hải ngoại vào vòng chi phối và thần phục nhà đương quyền Hà Nội, dù cộng sản đã tốn bao công sức và tiền bạc để thi hành Nghị Quyết 36.

       Kỷ niệm 39 năm miền Nam bị đặt dưới chế độ cộng sản, chúng ta cần thay đổi phương cách hành động. Chúng ta nên ý thức rằng việc trực diện đấu tranh với cộng sản phải là việc của người trong nước, người ở ngoài chỉ có thể yểm trợ tinh thần, ngoại vận và phương tiện. Chúng ta không nên phí tiền bạc vào những việc phô trương bề ngoài. Hãy dồn phương tiện giúp anh chị em trong nước. Khi tranh đấu trong thời đại điện tử và thông tin nhanh chóng như hiện nay, họ cần phải có máy hình, điện thoại di động, computer... Khi ốm đau hoặc khi bị bắt vào tù, họ cần được tiếp tế lương thực và thuốc men, chưa kể những hoạt động khác đòi hỏi nhiều phương tiện hơn. Các đoàn thể ở hải ngoại nên phối hợp trong việc phân phối sự yểm trợ cho trong nước để tránh tình trạng chỗ ít qúa, chỗ nhiều qúa. Hãy tạo thêm những đường dây liên lạc mới, tìm kiếm thêm những người dấn thân mới và giúp đỡ họ. Nếu làm được như thế, đồng bào trong nước sẽ lên tinh thần và phong trào tranh đấu có cơ lớn mạnh nhanh chóng vì có sự yểm trợ cụ thể và hữu ích của đồng bào ngoài nước.

      Mong rằng ngày 30-4 năm tới, chúng ta sẽ có một nước Việt Nam đẹp hơn nước Việt Nam hiện nay.
___MẶC GIAO______________________________________________
(1) Alexander M. Haig, Jr., Inner Circle, tr 307, Warner Books, New York 1992
(2) Alexander Haig, sách đã dẫn, tr 306
(3) Henry Kissinger, Les Années Orageuses, tr 355, Fayard, France 1982
(4) Henry Kissinger, sách đã dẫn, tr 365

 http://vietmunich.blogspot.co.uk/2014/04/vi-au-nen-noi-mac-giao.html

Tù nhân béo: ViệtNam "Lương Y" đành bó tay!!!

CHÚNG TA NGHĨ GÌ VỀ
NHÀ BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN CÙ HUY HÀ VŨ 


Cù Huy Hà Vũ nhập viện dưỡng lão Huê Kỳ

Cù Huy Hà Vũ nhập viện dưỡng lão Huê Kỳ
Sau hơn 30 năm Việt Cộng chiếm được miền Nam, không phải chỉ có người miền Nam mới ghét bọn Việt Cộng, mà ngay cả những người miền Bắc, miền Trung cũng ghét. Bởi vì họ đã nhận thấy những gì bọn Việt Cộng đã tuyên truyền, đã hứa hẹn với họ trong thời kỳ chiến tranh đều là gỉa dối, là láo khoét. Người nông dân nơi đồng quê cũng như người lao động chốn thị thành, vẫn ở trong tình trang nghèo đói, khổ sở và bị áp bức như xưa, chẳng có gì khá hơn trước. Nhiều người còn khổ hơn trước và bị áp bức hơn cả thời Pháp thuộc. Họ vẫn phải làm quần quật suốt ngày mới có được miếng ăn. Con cái họ, nhiều khi phải bỏ dở việc học để đi làm lao nô cho ngoại quốc, làm vợ cho mấy anh gìa Đài Loan, Hàn Quốc để mong cho gia đình được khá hơn. Nhưng rút cục cũng chẳng hơn gì, chỉ làm béo cho bọn môi giới, dich vụ và cán bộ Cộng Sản có chức, có quyền.
Vì thế, không những người Việt hải ngoại mà cả người dân trong nước, nhất là giới nông dân và thợ thuyền cũng mong muốn cho chế độ Cộng Sản sớm xụp đổ. Do đó, mỗi khi có một người bất đồng chính kiến nào đó trong nước dám bầy tỏ thái độ phản kháng hay chống đối bọn ngụy quyền Việt Cộng, chưa biết thật hay gỉa, đều được, không những được người trong nước lên tiếng hoan hô, cổ võ mà ngay cả người Việt hải ngoại cũng hăng say ủng hộ. Người trong nước hoan hô cổ võ người bất đồng chính kiến để người này thêm tinh thần, thêm quyết tâm tranh đấu để chế độ Cộng Sản sớm sụp đổ ngõ hầu cuộc sống của họ sớm được cải tiến. Người Việt hải ngọai ủng hộ, không phải vì họ mong muốn có sự thay đổi để họ có thể trở về VN để ăn trên ngồi trốc hay đòi lại những tài sản của họ đã bị bọn cộng sản tước đoạt, mà vì họ không muốn thấy đất nước được quản trị bởi một lũ ngu dốt và hèn nhát, không muốn thấy lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm dần mòn, không muốn thanh niên, thanh nữ phải đi làm lao nô, đĩ điếm cho ngoại bang.
Cù Huy Hà Vũ, người tù trong chế độ dã man VC
Ngày 11/6/09 vừa qua, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ, một Luật Sư đang hành nghề tại Hà Nội đã nạp đơn kiện Nguyễn Tấn Dũng, đương kim Thủ Tướng của ngụy quyền Việt Cộng, lấy cớ rằng quyết định cho phép khai thác Bô Xít ở Cao Nguyên Trung Phần của Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng là trái với luật Bảo Vệ Môi Trường, Luật Quốc Phòng, Luật Di Sản Văn Hóa và Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật.
Ở các nước tự do, dân chủ, chuyện người dân di kiện chính phủ là một chuyện rất bình thường. Nếu thắng kiện còn được bồi thường. Còn thua kiện thì phải chịu án phí và có thể bị phạt tiền. Nhưng ở dưới chế độ độc tài, nhất là chế độ độc tài chuyên chế Cộng Sản thì lại là chuyện khác. Trước khi bàn tới hành vi kiện Thủ Tướng VC Nguyễn Tấn Dũng của luật sư Cù Huy Hà Vũ, tưởng cũng nên biết qua lý lịch của luật sư Cù Huy Hà Vũ.
 Luật Sư Cù Huy Hà Vũ là ai ?
Cù Huy Hà Vũ là con của nhà thơ Cù Huy Cận, một đảng viên nồng cốt của đảng Cộng Sản VN và được coi là “bậc khai quốc công thần” của triều đại Hồ Chí Minh. Ông Cù Huy Cận từng giữ chức Bộ Trưởng Canh Nông trong chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rồi Bộ Trưởng Đặc Trách Văn Hóa Thông Tin. Luật Sư Vũ được Cộng Sản cho đi du học tai Pháp, vào thập niên 70, một thập niên mà mọi sự học hành thi cử đều chấm theo lý lịch chứ đừng nói tới việc tuyển chọn cho đi du học. Trong lý lịch nói anh không vào đảng. Anh tốt nghiệp cả 2 bằng Tiến Sĩ Luật Khoa và Tiến Sĩ Văn Chương. Về nước, anh hành nghề Luật Sư. Tuy là Luật Sư, nhưng anh lại thích hoạt động trong lãnh vực văn hóa. Anh đã nộp đơn xin ứng cử chức vụ Bộ Trưởng Văn Hóa Thông Tin để có thể phục vụ cho chế độ Cộng Sản được tích cực hơn. Điều đó chứng tỏ anh không phải là người bất đồng chính kiến. Nếu bất đồng chính kiến, anh đã không nạp đơn xin chức Bộ Trưởng Thông Tin Văn Hóa. Không ai ghét một chế độ lại xin phục vụ cho chế độ ấy.
Nơi ở trong tù của Cù Huy Hà Vũ
Vậy thì anh nộp đơn kiện chính phủ để làm gì?
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Phải chăng việc anh làm chỉ là việc của một người công dân yêu nước? Anh cho biết việc khởi kiện của anh là “để mong chấm dứt hành vi gây tổn hại cho lợi ích quốc gia và cũng là để thể hiện lòng biết ơn đối với các thế hệ cha ông đã góp công xây dựng và bảo vệ tài nguyên, bờ cõi, đất nước trước mọi xâm lấn của nước ngoài”. Là luật sư, lại là con một đảng viện Cộng Sản gộc và được đào tạo trong chế độ Cộng Sản, anh thừa biết thế nào là chế độ Cộng Sản, Cộng Sản coi luật pháp là gì và hành động của anh có kết qủa hay không. Vậy mà anh vẫn nạp đơn. Lý do của anh là gì?
Hành động kiện Thủ Tướng Việt Cộng của luật sư Cù Huy Hà Vũ là một hành tuyệt vời và hết sức dũng cảm?
Một số Luật Sư trong nước tức giới hiểu luật pháp dưới chế độ Cộng Sản nhất, thì cho rằng người dân, dù là luật sư đi nữa, mà di kiện Thủ Tướng, người đại diện cho chính phủ thì không khác gì “Con kiến đi kiện củ khoai”. Nhưng một số người khác chẳng hạn như luật sư Lê Quốc Quân thì lại cho rằng “Đó là một hành động tuyệt vời, nó tạo cái ý thức trách nhiệm của công dân, nói chung, và của luật sư, nói riêng. Nó tạo ra một cái dư luận rộng rãi rất lớn và cũng khích lệ cho những người khác”. Luật sư Huỳnh Văn Đông còn ca tụng ghê gướm hơn nữa: “Chúng tôi rất vui mừng bởi vì trong cuộc đấu tranh cho dân chủ và công bằng tại Việt Nam, thì có những luật sư và cá nhân đứng lên để khởi kiện người đứng đầu một chính phủ thì đó là một việc làm hết sức dũng cảm của một người luật sư như luật sư Vũ. Chúng tôi ủng hộ việc làm của luật sư Vũ, mong là anh có đủ sức mạnh và kiên trì để theo đuổi vụ kiện mà anh cho là đúng”.
Nếu chế độ Cộng Sản Việt Nam vẫn còn bức màn sắt bao trùm như chế độ Cộng Sản Bắc Hàn thì những lời ca tụng của 2 luật sư Lê Quốc Quân và Huỳnh Văn Đông cũng không có gì là qúa đáng. Nhưng vì sự sống còn, chế độ Cộng Sản Việt Nam đã phải bỏ bức màn sắt đi để giao tiếp với thế giới bên ngoài. Hệ thống thông tin điện tử đã phát triển và lan rộng. Tai mắt thế giới khắp nơi nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội, Cộng Sản VN không thể áp dụng những phương sách cho đi mò tôm như trước kia đối với những người bất đồng chính kiến có tên tuổi hay có danh chức như luật sư Vũ, mà phải đưa ra tòa. Nên việc bỏ tù luật sư Vũ cũng không phải là một việc dễ dàng, nhất là anh lại là con của Cù Huy Cận.
Dù sao, dưới chế độ Cộng Sản, hành động của luật sư Cù Huy Hà Vũ cũng là một hành động khác thường. Nhưng hành động đó không thể coi là một hành động là hết sức dũng cảm như luật sư Huỳng Văn Đông đã ca ngợi vì hành động này chẳng có gì gọi là chống đối chế độ cả, lại càng không thể coi là một hành động phản động.
Hành động kiện thủ tướng của luật sư Vũ có làm tổn hại gì cho chế độ Cộng Sản Việt Nam hay uy tín gì của Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng không?
Vấn đề để cho Trung Cộng khai thác Bô Xít tại cao nguyên Trung phân đã xẩy ra cả năm nay và đã được nhiều người nói tới. Tướng Võ Nguyên Giáp đã nhiều lần viết thư gửi cho Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng, Ban Chấp Hành Trung Ương và Bộ Chính Tri, Quốc Hội yêu cầu ngưng ngay các dự án khai thác Bô Xít tại Cao Nguyên. Tướng Giáp cho rằng “khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng”. Như vậy việc luật sư Vũ kiện Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng cũng không có gì là ghê gướm mà chỉ là lập lại những gì mà tướng Giáp đã nói.
Phòng ngủ trong nhà tù của Cù Huy Hà Vũ
Anh không có chỉ trích chế độ, anh không có nó xấu Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng. Đơn của anh hoàn toàn chỉ căn cứ vào khía cạnh luật pháp và quyền lợi quốc gia, dân tộc. Đơn của anh cũng không hề tuyên truyền tư tưởng tự do, dân chủ hay nhân quyền. Vì thế không thể coi hành vi kiện Thủ Tương của luật Sư Vũ là làm hại chế độ hay làm hại tới uy tín của Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng. Hành động của Luật Sư Vũ chỉ là một hành động hơi khác thường một chút nhất là anh lại là con của một vị khai quốc công thần của chế độ.
Nếu đơn kiện của Luật Sư Vũ được đăng đường xét xử, tòa án chắc cũng chẳng cần phải đề cử một chánh án có nhiều kinh nghiệm để xét xử, mà chỉ cần trao cho một chánh án tầm thường xét vì luật sư Vũ không có quyền lợi gì trong vụ này cả. Chánh án chỉ cần nói vắn tắt mấy chữ bác đơn về hình thức vì không có quyền lợi thì không có tố quyền mà không cần xét nội dung, trừ phi Nguyễn Tấn Dũng đã tới số và đảng Cộng Sản Việt Nam muốn đưa y ra làm vật tế thần.
Nếu qủa thực luật sư Vũ yêu nước, nếu qủa thực luật sư Vũ muốn  “chấm dứt hành vi gây tổn hại cho lợi ích quốc gia và cũng là để thể hiện lòng biết ơn đối với các thế hệ cha ông đã góp công xây dựng và bảo vệ tài nguyên, bờ cõi, đất nước trước mọi xâm lấn của nước ngoài”, sao luật sư Vũ không tìm một phương sách khác hợp lý hơn và hữu hiệu hơn chẳng hạn như tới Cao Nguyên mở văn phòng bênh vực cho những đồng bào Tây nguyên đang bị tổn hại trực tiếp vì những dự án khai thác Bô Xít? Là một luật sư, nhất là một luật sư có bằng tiến Sĩ Luật Khoa tai Đại Học Sorbonne ở Pháp, không thể không biết “không có quyền lợi, không có tố quyền”. Không có “tố quyền” mà đi kiện thì không những thua mà còn thua một cách thảm bại vì Tòa sẽ chẳng cần xét tới nội dung mà bác đơn về hình thức là cái chắc. Chưa kiện mà đã biết thua thì kiện làm gì? Kiện để lấy tiếng hay kiện để đánh bóng chế độ? Dù bị bác đơn  thì nguyên đơn tức luật Sư Vũ cũng được tiếng là dám kiện chính quyền và bị đơn, Nguyễn Tấn Dũng tức ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam cũng được tiếng có tự do.
Dù sao ta cũng phải công nhận rằng luật sư Vũ là người bất đồng chính kiến, nhưng ông không phải là người chống đối chế độ Cộng sản Việt Nam, mà chỉ là người muốn cải tổ chế độ, một chế độ hèn với giặc, ác với dân. Nhưng làm sao cải tổ được vì nếu cải tổ được thì chế độ Cộng Sản đâu còn là chế độ Cộng Sản nữa? 
Nếu qủa thực luật sư Vũ cảm thấy nhục nhã trước thái độ hèn nhát của nguỵ quyền Hà Nội, sao luật sư Vũ không bắt chước luật sư Lê thị Công Nhân, luật sư Nguyễn Văn Đài, hay ít nhất cũng như luật sư Lê Trần Luật hay Lê Công Định, lập đảng đấu tranh hay viết bài cổ võ cho tự do, dân chủ và nhân quyền? Phải chăng luật sư Vũ chỉ muốn cải cách chế độ Cộng Sản mà thôi chứ không muốn dẹp bỏ cái chế độ này? Nhưng làm sao cải sửa được? Chính ông Boris Yeltsin, cố Tổng Thống Nga, một người đã từng là Cộng Sản đã phải công nhận rằng: “ Cộng Sản không thể nào sửa chữa được, mà cần phải đào thải nó”.  


Nghe tin ông được ngụy quyền Cộng Sản VN sẽ trả tự do cho ông, mặc dầu ông mới thụ hình được có 3 năm, còn 4 năm nữa mới mãn hạn tù, và cho ông ra ngọai quốc chữa bệnh cao áp huyết, một chứng bệnh thông thường của những người mập như ông. Tôi thành thật mừng cho ông.
Nhưng ông có biết không, ông đi là ông đã quảng cáo cho ngụy quyền Cộng Sản đó và làm cho thế giới lầm tưởng rằng ngụy quyền Cộng Sản Viêt Nam là chính quyền nhân đạo nhất thế giới. Một chế độ không những đã nuôi cho  tốt mà còn rất nhân đạo vì đã cho cả tù nhân ra ngọai quốc để chữa bệnh dù cho đó chỉ là một căn bệnh rất thông thường là bệnh cao áp huyết ?

Lê Duy San

Bài Xem Nhiều