We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 14 April 2014

Chết dưới tay CS : BỨNG GỐC HAY TỈA CÀNH

  Thiết nghĩ trường hợp Ls Cù huy Hà Vũ bị trục xuất đi Mỹ cũng có nhiều ý nghĩa. Lý do Chu Tất Tiến đưa ra là một lý do khá cổ điển. Không giết dược "xác" thì giết "hồn", giết uy tín, cắt đứt mọi phương tiện hoàn cảnh của đối phương có di hại cho kẻ cầm quyền. Nhưng với bọn csVN  chúng ta nên cẩn thận, bởi lẽ chúng quá gian xảo, quỉ quyệt, dối trá và lưu manh. Nghệ thuật cài người của chúng cũng như trồng người vậy. Cứ nhìn lại thời VNCH thì biết, chúng cấy người, cài người, để trèo that cao, vào thật xâu vào long địch, đọi thời cơ thì hành động. Bọn bắc bộ phủ bây giờ thừa biết có ngày chúng phải bị "đá" văng, nên luôn luôn chuẩn bị quân cờ mai sau. Cù Huy Hà Vũ, dù sao cũng là người của chúng, chúng phải tin hơn những tên gọi là đón gió trở cờ. Chúng sẽ được bảo vệ để hạ cánh an toàn và chờ thời vùng dậy nữa. Cẩn thận đề phòng vẫn là sự khôn ngoan. Đừng quá hồ hỡi mà tung hô những tên "gộc" phản tỉnh. Kinh nghiệm của người quốc gia với cs, việt minh vẫn còn đang rướm máu.
NTC
Yêu Nước Việt's photo.
----


----
KẾ SÁCH TUYỆT DIỆU CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM: TRỤC XUẤT NGƯỜI PHẢN KHÁNG.


Aleksandr Solzhenitsyn, nhà văn đoạt giải Nobel năm 1970, tác giả của nhiều cuốn sách lẫy lừng như “Một ngày trong đời của Ivan Denisovich” (One Day in the Life of Ivan Denisovich) và “Quần Đảo Ngục Tù” (The Gulag Archipelago) đã là một nạn nhân của chính sách độc tài Sô Viết. Ông bị tù 8 năm về việc viết văn chống lại chính sách diệt chủng của Liên Xô. Tháng 3 năm 1953, sau khi mãn hạn tù, ông lai phải đi đầy ở Kok-Terek, miến Đông Bắc Kazakhstan. Ở đó, ông bị bệnh ung thư nặng tưởng như sắp chết, nhưng vì tên tuổi ông đã vượt quá ranh giới quốc gia, nên nhà cầm quyền phải gửi ông đi chữa trị tại Tashkent, nơi đây với kỹ thuât cao, đã cắt bỏ khối ung thư thành công. Năm 1970, ông được Giải Nobel về Văn Chương, nhưng ông không được đi nhận giải này, đến mãi năm 1974, sau khi ông bị “trục xuất” ra khỏi nước Nga, ông mới được lãnh giải này. Năm 1990, một năm trước khi chế độ Liên Bang Sô Viết sụp đổ, ông được Nhà Nước Liên Xô gọi để trả quyền công dân, tuy nhiên, mãi đến 1994, ông mới trở về Nga với bà vợ, Natalia, người mà sau đó đã trở thành công dân Hoa Kỳ. Nhà văn chiến đấu thiên tài này mất năm 2008, vào tuổi 89. Suốt thời gian ở nước ngoài, Solzhenitsyn không sáng tác được tác phẩm nào vượt qua hai cuốn truyện lừng danh khi trước, và tên tuổi ông cũng chìm dần trong sự lãng quên của thiên hạ.

Nhìn lại tình hình những người tranh đấu cho Dân Chủ tại Việt Nam, chúng ta thấy có nhiều trường hợp tương tự. Bên cạnh năm trường hợp với tên tuổi không được phổ biến vì sợ liên lụy cho những thân nhân còn lại, có những khuôn mặt lớn như Mục Sư Hồ Hiếu Hạ, Giáo Sư Nguyễn Chính Kết, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Chiến Hữu Võ Đại Tôn, Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện, Đốc Sự Phạm Trần Anh, Luật Sư Bùi Kim Thành, Nhà Văn Trần Khải Thanh Thủy, và gần đây, Cù Huy Hà Vũ đã bị “trục xuất” ra khỏi nước. Thật sự, dùng chữ “trục xuất” ở đây cũng chưa hẳn đúng, vì tất cả mọi trường hợp ra đi, đểu có sự can thiệp cực mạnh của Hoa Kỳ cũng như của các cơ quan Nhân Quyền quốc tế. Vì sự thúc đẩy của Hoa Kỳ mạnh nhất nên Công Sản Việt Nam đành cho tất cả những người nói trên được sang Hoa Kỳ và sinh sống ở đây. Đa số người đã đi trực tiếp từ nhà tù hoặc chỉ ở ngoài nhà tù có một ngày rồi bay đi Mỹ luôn. Năm 1990, Mục sư Hồ Hiếu Hạ đang ở tù thì đột nhiên được đưa về Saigon, ngủ một đêm (?), rồi bay thẳng sang Mỹ. Chiến Sĩ Võ Đại Tôn thì được một khoảng thời gian Tự Do ngắn ngủi trước khi qua Hoa Kỳ. Với Luật Sư Bùi Kim Thành, bà cho biết cũng không được đoàn tụ với gia đình quá một ngày mà được đưa thẳng sang Mỹ. Nhà Văn Trần Khải Thanh Thủy cũng thế. Gần đây nhất, Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ cũng được trả tự do cùng ngày với chuyến bay đi Mỹ.

Điều quan trọng liên hệ đến những việc “trục xuất” hay di tản này, là những hệ quả của việc ra đi gấp rút đó. Tùy trường hợp và tùy theo hoạt động của mỗi người khi còn ở trong nước, mà họ đã thành công hay thất bại ở Mỹ một cách cay đắng.

-Năm vị mà tên tuổi không được lưu tâm mấy (không thể trình bầy trong bài này, vì sẽ có những hậu quả không tốt cho gia đình còn kẹt lại ở Việt Nam), thì hầu như biến mất trong diễn đàn chính trị và không được ai nhắc nhở đến và chính họ cũng không muốn được nhắc đến vì đang phải vật lộn với cuộc sống trước mắt đầy gian lao, thử thách. Có người đi học “nail”, người thì nhận tiền bệnh, người thì phải chấp nhận đi săn sóc các bệnh nhân già hay gần chết, phải quen với máu mủ, đi tiểu, đi tiêu, tắm rửa.. Làm được điều này thực sự là cực kỳ khó khăn cho những ai đã từng có đời sống thoải mái ở Việt Nam. Một, hai vị chịu không nổi với áp lực của cuộc sống, không thể kiếm gạo tại nơi này lại đang chuẩn bị trở về nước.

-Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt thì hầu như không xuất hiện nơi chốn đông người, chỉ thỉnh thoảng mới lên tiếng trong một vài cơ hội gặp gỡ nhỏ lẻ tại các cuộc hội thảo không lớn. Hầu như ông né tránh cộng đồng sau khi ông ngỏ ý thiên về biện pháp hòa hợp hòa giả với Cộng Sản. Nhiều bài báo nêu tên ông ra như một cái đích để bắn tỉa với những luận điệu rất kỳ quặc. Do đó, hầu như ông đã biến mất khỏi diễn đàn chính trị hải ngoại.

-Luật Sư Bùi Kim Thành thì tên tuổi hoàn toàn bị cháy, vì những hành động không được cộng đồng chấp nhận và những lời phát ngôn không đúng chỗ. Ngoài ra, sự liên hệ của bà với nhóm Nguyễn Hữu Chánh, rồi Việt Weekly, Nguyễn Phương Hùng, đã làm cho cộng đồng xa lánh bà. Hiện nay, bà bị tẩy chay trong tất cả các cuộc mít-tinh, hội thảo cộng đồng.

-Mục Sư Hồ Hiếu Hạ thì hầu như chỉ còn lo việc phụng sự Chúa mà không tham gia sinh hoạt chính trị nào nữa. Dư luận không hề nhắc đến tên ông từ gần hai thập niên nay.

-Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện thì đã dùng hết khả năng văn chương của mình mà tiếp tục chiến đấu trên các diễn đàn chính trị quốc tế cũng như tại Mỹ, bất chấp lời ông tiếng ve của bọn nằm vùng và tay sai cũng như của một số người thích “độc quyền chống Cộng”. Không để ý đến những lời vu cáo, mạ lị, chửi bới tục tĩu hàng tôm hàng cá của ngay chính những người mệnh danh là chống Cộng, ông vẫn tham gia vào nhiều tổ chức, sinh hoạt chính trị chống Cộng và vẫn dõng dạc cất lên tiếng nói của một người công chính cho đến khi ông ra đi. Bên cạnh ông, Đốc sự Phạm Trần Anh vẫn có mặt trong hầu hết các sinh hoạt cộng đồng và nhờ sự trợ giúp của bạn hữu, đã ra mắt sách vài lần, nhưng kết quả không được như ý muốn vì sự hờ hững của thiên hạ.

-Giáo sư Nguyễn Chính Kết vẫn tiếp tục tranh đấu theo phương tiện của ông, và trên các diễn đàn chính trị của đài phát thanh, truyền hình, và một số bài trên Net. Tuy nhiên, vì phải lo sinh sống với cái tuổi không còn trẻ, ông đã không còn hăng say như những ngày đầu. Vì thế, tên của ông chỉ được nhắc đến trong những lần sinh hoạt thật lớn. Dĩ nhiên, ông cũng bị mạ lị tơi bời trên Net.

-Chiến sĩ Võ Đại Tôn, khi mới sang Mỹ được tiếp đón rạng rỡ, nhưng sau khi có những bài viết gây bất lợi cho ông đến từ trong nước hay ngay tại hải ngoại, ông đã mất đi hào quang của ngày mới trở lại Mỹ, mặc dù ông vẫn tiếp tục tham gia tranh đấu theo phương diện văn chương. Ngay sau khi ông về Hoa Kỳ, Công Sản Việt Nam gửi theo môt tấm hình mà chúng cho là ông đang nhậu với công an, và bản tự kiểm mà bất cứ người tù chính trị nào cũng phải viết trước khi ra khỏi trại. Một tờ báo vớ được tài liệu đó vội vã tung lên ngay, làm cho hào khí của những người ngưỡng mộ ông dần phai lạt.

-Nhà Văn Trần Khải Thanh Thủy hiện tại cũng đang tiếp tục đấu tranh cho Dân Oan bằng các tuyển tập văn chương và các buổi nói chuyện với cộng đồng, tuy mức độ không được như ý, nhưng vẫn giữ vững tinh thần của mình không mệt mỏi. Lý do mà hoạt động đấu tranh của bà không được cộng đồng ủng hộ nhiệt tình, vì trong phương diện một người ở Việt Nam xa lắc, không thể hiểu nổi được những sự thực phũ phàng tại hải ngoại, bà đã tham gia vào Việt Tân, một đảng phái không được đa số ưa chuộng rồi sau đó, lại tách ra khỏi đảng ấy qua những tranh cãi vô ích. Do đó, lời phê phán bà nhiều hơn là hỗ trợ. Hiện nay, bà cũng đang chật vật với cuộc sống trên xứ người vì không còn được chính phủ trợ cấp nữa.

-Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ, vì mới tới được một, hai ngày, chưa hoạt động gì, nên cộng đồng phải chờ xem môt thời gian nữa, mới có thể kết luận được việc làm của ông có ảnh hưởng và y nghĩa như thế nào trong cuộc chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ tại Việt Nam.

Trong tất cả các trường hợp ấy, có môt điểm chung nhất mà tất cả những vị trên phải đối diện một cách căng thẳng là “dư luận tại hải ngoại”. Dư luận tốt thì ít, mà dư luận xấu thì tràn ngập. Điểm xuất phát từ những dư luận xấu là từ những chuyên viên Cộng Sản nhận lệnh phải trù dập những người ra đi này cho tàn mạt, do tay sai nằm vùng tại hải ngoại, do những tên phản bội, trở cờ, theo Cộng để nhận chút tiền bố thí của Cộng hầu sống sót qua ngày, cũng có thể là những dư luận viên thích “Nổ”, hay khoe khoang tài năng tiên đoán chính trị của mình, và những người ghen tị, thấy ai nổi lên được thì phải dìm xuống cho cùng tầng lớp với mình mới khoái chí. Rất ít dư luận viên có tinh thần khoa học, khách quan, phân tích tường tận vấn đề có lợi cho đất nước qua những nhân vật từng là những đốm lửa sáng chói kia. Nhưng tất cả những hậu quả ấy, đều nằm trong một kế sách của Cộng Sản Việt Nam, bắt chước Liên Xô. Đó là kế sách: Mượn đao giết người. Khi không thể bỏ tù lâu hơn được vì sức ép của quốc tế, muốn lừa gạt thế giới, cho thấy rằng chế độ cũng có chút nhân đạo, thì trục xuất những nhà tranh đấu ra khỏi nước, rồi đuổi theo giết chết tên tuổi đó bằng các dư luận viên của chúng, trong khi kích động các như dư luận viên, các nhân vật “Nổ” ở hải ngoại bằng những lời lẽ tưởng như là chân lý. Vì sống trong tiện nghi dân chủ ở nước Mỹ lâu rồi, một số các quan sát viên, không thông cảm được nếp sống thực ở Việt Nam, bị ảnh hưởng bởi dư luận linh tinh, nên cũng vô tình tiếp tay với Cộng Sản, viết bài phê bình nặng nề, làm chết tên tuổi của các nhà tranh đấu đó. Dĩ nhiên, những nhân vật thích “Nổ” thì khi vớ được đề tài, vội vã lên án ngay, để chứng tỏ mình là “trên thông thiên văn, dưới làu địa lý, tiên đoán như Khổng Minh, lầu thông binh pháp như Tôn Tẫn.” Những người này bung ra một loạt câu hỏi: “Tại sao người ấy lại làm như vậy? Tại sao người ấy lại không làm như vậy?” nghĩa là chặn cả hai đầu, nói “có” cũng chết, mà nói “không” cũng chết.

Thực tế, nhà cầm quyền Cộng Sản nhận thấy rằng nếu trả tự do cho các nhà tranh đấu, để họ sống thong dong trong nước thì nhức đầu, sợ mấy người này “quậy tới bến”, sợ họ lôi kéo thêm được cảm tình viên, sợ tiếng tăm của họ nổi như cồn trên thế giới làm ảnh hưởng đến việc bám trụ vào quyền lực của Đảng. Vì thế, giải pháp thần sầu nhất là “Mượn Đao Giết Người”, cho những người này, sau khi sang Mỹ thì mất đi hào quang của những ngày còn trong tù ngục và có thể còn bị nhục nhã nữa. Sau khi nhà thơ Nguyễn Chí Thiện được tự do, thì lập tức hàng loạt bải viết mạ lị ông, vu cáo ông, phân tích lý lịch tập thơ của ông, đồng thời chụp cho ông một loạt “mũ” xấu xí như “Nguyễn Chí Thiện từng làm chủ động điếm ở Bà Mâu…”, “Nguyễn Chí Thiện này là giả, Thiện thật đã chết trong tù”, “Thiện ở Mỹ là cán bộ tình báo của Trung Cộng”…vân vân… Với các nhân vật khác cũng thế, ai cũng bị chụp mũ, nhiều hay ít, thì tùy hoàn cảnh. Kế sách “Mượn Đao Giết Người” của Cộng Sản thật là hữu hiệu, không đổ mồ hôi, không lo chặn bắt, canh giữ mà các nhân vật bị “Trục xuất” kia cứ từ từ mà chết dần. Một nhà lý luận trí thức, tác giả của bài “Trần Khải Thanh Thủy đã chết”, nay lại viết thêm một bài nữa: “Cù Huy Hà Vũ đã Chết!”. Thật độc địa!

Còn với Cù Huy Hà Vũ, thì ngoài luận điệu là “sao không tiếp tục ở tù mà lại sang Mỹ làm chi?” còn luận điệu khác là : “Coi chừng Cù Huy Hà Vũ là con cờ của Cộng Sản.Cù Huy Hà Vũ được cài sang Mỹ để mai mốt về nắm quyền hành, môt khi chế độ Cộng Sản xụp đổ, thì cũng có người cứu bồ…” Hoặc khoa học hơn: “Cù Huy Hà Vũ không thể trở về…” vân vân và vân vân…

Những tác giả vu chụp ấy, thường ngồi viết bên cạnh cái bàn viết đầy đủ tiện nghi, và ly cà phê sữa hột gà nóng hổi, không hề nghĩ rằng nhu cầu đấu tranh cho Dân Chủ và trách nhiệm cứu nước không phải là nhiệm vụ riêng của những nhà tranh đấu ấy. Việc chống Cộng cứu nước là của toàn dân, trong đó có những tác giả thích lý luận ấy! Tại sao chính các tác giả các bài lý luận đó không đứng lên tranh đấu cho Dân Chủ đi, mà buộc những người kia phải tiếp tục làm hoài cho đến chết? Những người vu chụp đó đã làm gì cho dân tộc chưa? Hay chỉ ngồi sa lông mà lý luận xuông? Họ có biết rằng “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” không? Trên hết, những ngày tù ngục đó cũng có thể là mồ chôn của họ, nếu bọn cai tù muốn giết chết họ rồi báo cáo là tù nhân tự treo cổ bằng chính dây giầy của mình? Lúc ấy, có thế lực nào có thể cải tử hồi sinh cho họ không?

Thảng hoặc, họ được tha về, sống lây lất, không nghề nghiệp, đói lả người, vợ con nheo nhóc, có ai yểm trợ cho họ sống bình thường được không? Thường thì các nhà Dân Chủ, sau khi bị tù, thì lập tức công an vây chặt gia đình, bủa lưới dăng bắt cả bạn bè, người quen, họ hàng xa gần nữa. Vợ và chị em của ông Đoàn văn Diên bị xua đuổi đến cùng, cho đến khi bà vợ phải chạy xe ôm, thì cũng bị công an cho xe đụng, què luôn. Luật Sư Lê Trần Luật bị xua đuổi, không chỗ ở, vợ chồng con cái lang thang, đến ngụ chỗ nào cũng bị công an phong tỏa. Chủ nhà bị đe dọa: “Chị có biết đang chứa chấp một tên phản động không?”, thế là chủ nhà chắp tay, van lạy Luật Sư Lê Trần Luât ra đi giùm! Trong khi Hồ Thị Bích Khương đang chiến đấu ở Hà nội, thì công an ở nhà bóp cổ giết chết chồng cô, rồi vất ra sông cho trôi lềnh bềnh nhiều này. Bọn khốn còn dàn dựng đụng xe cho cô chết, nhưng may mắn, cô chị bị gẫy xương vai và xương sườn. Chúng vá xương vai của cô bằng cái đinh bù long đóng từ ngoài bả vai vào trong, đầu đinh thò ra ngoài, máu mủ chẩy tươm suốt ngày. Chưa đủ, bây giờ chúng lại bắt cô nhốt tù như nhốt chó. Lê Thị Kim Thu bị đánh hội đồng trong tù, khi ra tù, chúng lột quần lót của cô, chỉ cho mặc quần dài rồi đuổi ra đường. Sau một thời gian, chúng lại nhốt lại. Tạ Phong Tần, luật gia, cựu Đại Úy Công An, luôn luôn bị côn đồ làm nhục. Chúng còn muốn tụt quần cô ra giữa đường, sau đó thì bưng cô lên vất vào phường, bỏ đó, bỏ khát… Nguyễn Hoàng Vi bị công an bắt cởi hết quần áo, rồi xâm phạm cô. Huỳnh Thục Vy nuôi con nhỏ trong buồng, thì ngoài cửa bọn khốn đổ đầy phân người vào, khiến mẹ con cô nôn thốc nôn tháo. Cháu bé bị mùi thối, muốn xỉu… Còn rất nhiều vụ hành hạ vô nhân đạo như bởi bàn tay ma quỷ nữa cho tất cả những ai can đảm dám đứng lên tranh đấu. Và, biết bao người, đột nhiên bị công an kêu lên làm việc, sáng hôm sau, đã chết và thân nhân chỉ nhận được một câu: “Anh ấy tự tử bằng cách tự nhét giẻ vào mồm cho đến chết!” Có ai làm gì được chúng nó không? Các nhà lý luận kia có về cứu được họ ra khỏi tù không? Có dám thử làm tù nhân môt ngày trong cái xã hội khủng khiếp, ghê rợn đó, đang bị Sâu Bọ Lên Làm Người cai trị không?

Xin hãy trả lời trước khi dùng chữ giết chết các nhà Dân Chủ mới được tự do ở Thế Giới Tự Do này. Và nên nhớ là họ tự nguyện làm việc đó chỉ vì lòng yêu nước chan chứa, chứ không có ai trả tiền hay ra lệnh cho họ cả. Cứu Nước là việc chung của tất cả chúng ta, không phải là nhiệm vụ đặc biệt của những người đang chấp nhận sống, chết, lên tiếng nói cho Lẽ Phải kia. Xin hãy đứng dậy và làm điều gì cho đất nước đi, còn nếu cứ ngồi xuông mà phê phán thì bất cứ một “teenager” nào cũng làm được


Chu Tất Tiến.
----
Đọc tiếp: NGƯỜI KHÔN NÓI MÁNH NGƯỜI DẠI ĐÁNH ĐÒN

Tháng Tư Bi Thương : 39 năm Dấu Tích Thương Đau...tháng 4 lại về (13)

Tháng Tư Bi Thương

 

chetvisongnui
Như thế là gần 40 năm... Những ngày của tháng 3 và tháng 4 trong năm 1975 vẫn hằn trong trí nhớ nhiều triệu người, vì các hình ảnh trải qua thực rất khó phai mờ -- nơi đó, một Ban Mê Thuộc bị Cộng quân tấn công trước tiên, đúng vào ngày 10 tháng 3-1975, và rôì thời gian ngắn sau, Quân Đoàn 2 di tản ra khỏi Pleiku, dẫn tới những cuộc di tản dây chuyền.

Có vẻ như tiền định? Hay tình cờ? Hay sắp xếp từ những huyền bí thiên cơ bất khả lậu? Thực ra, mọi chuyện đơn giản hơn. Miền Nam không có viện trợ nữa, súng đạn và tiếp liệu co cụm dần, trong khi lệnh Tổng Động Viên ban ra thực hiện từ 1972, tức là từ Mùa Hè Đỏ Lửa... để chuẩn bị tăng lực cho quân đội VNCH trong khi quân lực Mỹ từ từ rút về trưóc áp lực chủ hòa của Quốc Hội Mỹ và dư luận Mỹ.

Khi Hoa Kỳ bắt tay với Trung Quốc, thế giới và cả toàn dân Hoa Kỳ nhìn thấy Cuộc Chiến VN không cần thiết nữa, vì lý thuyết domino không đứng vững nữa, và do vậy Cuộc Chiến VN trở thành một cuộc nội chiến, đơn giản như thế, chứ không còn là cuộc chiến nơi tuyến đầu của hai thế giới tự do và cộng sản.

Henry Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng Thống Mỹ Richard Nixon, đã bí mật bay tới Bắc Kinh từ Pakistan, và chuyến đi này kéo dài từ ngày 9 tới ngày 11 tháng 7-1971. Chuyến đi này dọn đường cho Nixon sang thăm Bắc Kinh vào tháng 2-1972.

Như thế, khi căng thẳng giữa các anh lớn tự do và cộng sản lắng dịu xuống, dân Mỹ thấy rằng hy sinh của chiến binh Mỹ ở VN đã đủ rồi, và chính phủ Sài Gòn đã thấy cần phải tự lực từ giây phút này.

Trong khi Nixon tới Bắc Kinh, không chỉ Sài Gòn lo ngại, mà cả Đài Loan cũng cảnh giác vì không hiểu rằng TT Nixon sẽ tặng món quà nào trong ván cờ Châu Á cho Bắc Kinh.

Nhưng phải tới một năm sau, đơn vị quân sự Hoa Kỳ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, lúc đó là ngày 29-3-1973, theo Encyclopỉdia Britannica.

Thời điểm này được các sử gia gọi là Cuộc Chiến VN chuyển sang thời kỳ “cuộc chiến hậu chiến” (“postwar war”). Nghĩa là, đối với Hoa Kỳ, không còn Cuộc Chiến VN nữa. Tình hình này xảy ra một năm sau khi Nixon thăm Bắc Kinh.

Nixon cam kết là sẽ vẫn giữ viện trợ quân sự cho VNCH, nhưng cú tai tiếng Wategate đã làm ông bó tay, khi Quốc Hội Mỹ quyết định ngăn cản bất kỳ hành vi quân sự nào khác của Mỹ tại VN. Nghĩa là, khi đơn vị quân lực cuối cùng của Mỹ đã rời VN (ngày 29-3-1975), Quốc Hội Mỹ muốn xoa tay và nói, thế là xong.

Chính thức, vào mùa hè 1973, Quốc Hội Mỹ thông qua quyết định ngăn cấm bất kỳ hoạt động quân sự nào của Mỹ trên lãnh thổ toàn vùng Đông Dương (Indochina) sau ngày 15-8-1973. Nghĩa là, trên toàn vùng Đông Dương, chứ không chỉ VN.

Sau đó là chuyện của hoàn toàn Việt Nam, hàng trăm người Việt chết mỗi ngày vì các trận đánh bất tận để giành đất của cộng sản và quốc gia. Vào mùa hè 1974, Nixon xin rời chức vụ Tổng Thống, Quốc Hội Mỹ trước đó đã cắt viện trợ quân sự và kinh tế cho VN tới 30%.

Chế độ Lon Nol ở Cam Bốt thấy rõ là sắp thảm bại.

Khi tỉnh Phước Long, phía đông bắc Sài Gòn, bị Cộng quân chiếm, sau các trận đánh trong tháng 12-1974 và tháng 1-1975, Hà Nôị tin là chiến thắng sắp tới.

Tổng Thống Gerald R. Ford, người kế vị Nixon, xin Quốc hội Mỹ tăng viện trợ cho VN... nhưng vô ích.Quốc Hội và dân Mỹ không muốn liên hệ tới “cuộc chiến hậu chiến” tại Việt Nam.

Ngày 21-4-1975, TT Nguyễn Văn Thiệu thoái vị, bay sang Đaì Loan. Và lặng lẽ, trong ccá ngày kế tiếp, nhiều quan chức cũng di tản ra đi.

Thực ra, mầm thất trận đã thấy từ tháng 3-1975 rồi, khi hàng loạt đơn vị tan rã, di tản và lũ lượt xuôi về Nam; không cách nào tái phối trí để tác chiến nữa, khi tất cả các chiến binh VNCH đã bị tước súng ngay khi vào cửa Vũng Tàu. Hoàn toàn không có quân viện nào khác, dù là trang phục hay súng đạn để phối trí nữa.

Ngày 30-4-1975, chính phủ ông Dương Văn Minh tuyên bố buông súng toàn Miền Nam.

Nhìn lại các con số viện trợ, cũng thấy hướng diễn tiến này. Tự điển Bách khoa Wikipedia kể lại:

“Sau Hiệp định Paris tinh thần và khả năng của quân đội Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng nhất là sau khi Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate, vào tháng 8 năm 1974.

Sự cắt giảm viện trợ từ Hoa Kỳ

Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa đã cắt giảm nhiều:

Tài khóa 1973: 2,1 tỷ USD

Tài khóa 1974: 1,4 tỷ USD

Tài khóa 1975: 0,7 tỷ USD

Theo lời kể của ông Nguyễn Tiến Hưng, Tổng trưởng kế hoạch và phát triển Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ, thì Giáo sư Warren Nutter là cựu Phụ tá Tổng trưởng quốc phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình "Việt Nam hóa". Khi dự điểm tâm với Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vào sáng ngày 23 tháng Tám năm 1974 tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu bày tỏ sự lo ngại về viện trợ:

- Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi Tokyo

Giáo sư Nutter cũng rất bối rối và giải thích hành động của Quốc hội:

- Quốc hội Hoa Kỳ đôi khi hành động vô trách nhiệm như vậy… Cái Trung Tâm Tài Nguyên Đông Dương (Indochina Resource Center, 1 trung tâm của những người phản chiến) đang hết sức tìm cách tiêu diệt quý quốc

Sau này, trong tập hồi ký Mùa Xuân Đại Thắng, Đại tướng Văn Tiến Dũng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã viết về động cơ thúc đẩy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công ở miền Nam là do Mỹ đã giảm viện trợ làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn không thể thực hiện theo như ý muốn. Đó là vì "hỏa lực đã sút giảm gần 60% vì thiếu bom, đạn; khả năng di động cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe cộ, và nhiên liệu."...”(hết trích)

Nhà nghiên cứu quân sử Vương Hồng Anh, trong bài viết tưạ đề “Đại Tướng Cao Văn Viên Kể Lại Chiến Sự 1975: Chương Trình Việt Nam Hóa Của Tổng Thống Nixon” trên Việt Báo ngày 26/01/2002 đã kể lại ghi nhận của Đại Tướng Viên:

“Sau đây là tình hình hoạt động của Không quân VNCH trong giai đoạn cuối của kế hoạch "Việt Nam hóa" do Tổng thống Nixon đề ra. Phần này được biên soạn dựa theo Hồi ký của Đại tướng Cao Văn Viên do Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ xuất bản.

* Những khó khăn của Không quân VNCH từ 1973 đến 1975

- Ngưng hoạt động hơn 200 phi cơ, trong đó có các phi cơ ném bom A-1, phi cơ thám thính 0-1 và các loại phi cơ vận tải loại C-7, C-119, và C-47. Chấm dứt việc thay thế F 5A bằng F-5E. 36 chiếc được đặt mua nay phải giao lại cho Không quân Hoa Kỳ, và số tiền hoàn trả chỉ dùng vào công việc bảo trì và hoạt động của các phi cơ hiện hữu.

- 400 sinh viên sĩ quan phi công đang thụ huấn tại Hoa Kỳ phải bỏ ngang khóa học trở về nước. Hơn 1,000 khóa sinh Không quân vừa phi hành vừa không phi hành đang theo học đang theo học các khóa Anh ngữ để chuẩn bị đi học chuyên môn phải chuyển sang học Bộ binh tác chiến. Điều này tạo một ảnh hưởng tâm lý tai hại cho Không quân Việt Nam.

- Cắt bớt số giờ bay cho các phi vụ huấn luyện và yểm trợ mà trong đó các phi vụ yểm trợ bị cắt xuống còn một nửa so với mức độ của hai năm 1973-1974, các phi vụ thám thính bị cắt 58% Như vậy vấn đề phát giác và theo dõi các cuộc chuyển quân của địch bị trở ngại và công tác bảo vệ đoàn tiếp tế cũng bị hạn chế rất nhiều. Trực thăng vận bị cắt giảm 70%. Điều này làm ảnh hưởng nặng nề trong công tác tải thương hay đổ quân tăng cường và tiếp tế, nhất là trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống kênh đào chằng chịt như bái quái trận đồ. Nơi đây nhờ chiến thuật trực thăng vận mà rất nhiều binh sĩ bị thương được kịp thời cứu sống và nhiều đồn bị vây hãm được giải tỏa kịp thời. Nay thiếu vắng các trực thăng này buộc Quân đội phải dùng đến thuyền tam bản và ghe để tải thương, việc tiếp tế đạn dược trở nên vô cùng khó khăn. Thêm vào đó, vấn đề tâm lý rất khó nguôi.

Các chuyến chuyên chở bằng đường hàng không cũng bị cắt một nửa. Sự kiện này có ảnh hưởng nặng đến khả năng di quân của các đơn vị Tổng trừ bị. Vì Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến là hai lực lượng tổng trừ bị nên cần phải có mặt tại bất cứ nơi nào cần đến trên toàn lãnh thổ, do đó khả năng cơ động của hai lực lượng này vô cùng quan trọng. Suốt trong năm 1972, khi Cộng quân tấn công, Sư đoàn Nhảy Dù phải di chuyển từ Sài Gòn lên Pleiku rồi từ Pleiku ra Vùng 1 chỉ trong vòng 48 giờ. Việc di chuyển này vẫn do phi cơ của chính phủ hay của Hoa Kỳ nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến các hoạt động không vận khác. Thế nhưng qua năm 1975 cũng với hoạt động như vậy thì phải mất 7 ngày và phải cắt bớt các chuyến bay khác để lấy phi cơ chuyển quân. Các loại phi cơ C-130A là phương tiện không vận chính, đã phải thi hành một số phi vụ ném bom vào các tháng đầu năm 1975. Nhưng vì yếu tố kỹ thuật cũng như cánh phi cơ nứt, bình xăng rỉ cộng với sự cắt giảm các chuyến bay nên mỗi ngày chỉ có 8 trong 32 chiếc C-130 A được sử dụng...”(hết trích)

Mọi chuyện rất đơn giản, về phía VNCH: không còn đủ tiếp liệu để tác chiến nữa.

Và đất nước chuyển qua một trang sử mới, u ám và bi thương, từ các trại tù cải tạo khổng lồ khắp các nơi, cho tới những cuộc ra đi, liều thân vượt biển..

THƯƠNG XÓM ĐẠO : Mùa Quốc Hận, 30 tháng 4


Lệnh Đầu Hàng

Lệnh đầu Hàng -tpk



THƯƠNG XÓM ĐẠO


          
Có một hôm con về qua Xóm Đạo
Mỹ Đông buồn thiếu bóng dáng thân yêu
Cảnh vật xưa, ôi hoang vắng tiêu điều!
Nghe thương nhớ, những ngày xưa thân ái

Cha tác chiến, mẹ, con về quê ngoại
Sống những ngày lo lắng nhớ thương cha
Trước sân nhà ngoại trồng đủ loại hoa
Con luôn phụ giúp bắt sâu, tỉa lá
Có những hôm mẹ bận ngoài bệnh xá
Theo bạn ra đồng câu cá bẫy chim
Dòng sông Cái Thia tha thiết êm đềm
Gió lay nhẹ, hàng dừa xiêm in bóng
Cha trở về sau mùa vui thắng trận
Đưa mẹ, con ra phố thị mua quà
Quà cho con, cho mẹ, cho ông bà
Khi xem hát, lúc dạo vườn bách thú
Con đến tuổi được vào trường học chữ
Mẹ thay cha nắn nót dạy từng câu
Cuộc chiến gian nguy, cha mãi tuyến đầu
Lâu lắm không về thăm con và mẹ…
Bỗng một hôm đất trời như sụp đỗ!
Mẹ qua đời trong khói lửa đau thương
Sau tang mẹ, cha trở ra sa trường
Nhà mình vắng, vì quê hương chinh chiến

Ba Mươi Tháng Tư! Cộng nô cưỡng chiếm
Cha lưu đày tù cải tạo chung thân!
Con mười bảy, nguyện vào chí nguyện quân

Tiêu diệt địch trên mọi miền đất nước


Nay con đứng nơi nhà mình ngày trước
Nghe lòng lưu luyến thương nhớ mẹ cha
Cha ở đâu, Suối Máu hay Chí Hòa…
Phú Quốc, U Minh… rừng già Bắc Việt?

Chuông nhà thờ âm vang nghe tha thiết
Nhưng giáo đường thưa thớt bóng giáo dân
Bởi Cộng nô xây chủ nghĩa vô thần
Con chua xót, ngậm ngùi thương Xóm Đạo!

Mùa Quốc Hận, 30 tháng 4

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

 Email : dtdbuon@...                 
http://batkhuat.net/tho-thuong-xomdao.htm

Chúng tôi ở lại đây. Wir bleiben hier


Cái chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa“ của Đông Đức trước đây thực chất hầu như chỉ hiện diện trên đầu môi chót lưỡi của những người cộng sản và dựa vào ba cột trụ để thống trị dân chúng : khủng bố, đàn áp công dân qua bộ máy an ninh mật vụ công an cảnh sát là một, tuyên truyền xuyên tạc mạ lỵ phương Tây là hai và hù doạ bằng hình ảnh người anh em vĩ đại Liên Xô sẵn sàng can thiệp bảo vệ chính quyền nhân dân trong trường hợp hai cột trụ một và hai gãy đổ là ba. Cái cột thứ ba đổ nhào trước tiên qua đường lối cải cách của Gorbatschow, tuy rằng mới đầu giới lãnh đạo cộng sản Đông Đức đã tỏ ra không mấy lo ngại vì hy vọng triều đại Gorbatschow sẽ không tồn tại lâu dài. Cái cột thứ hai gãy gục khi hàng vạn người Đông Đức tràn qua biên giới Hung-Áo ngày 11.09.1989, sau những làn sóng tỵ nạn chiếm cứ các toà đại sứ Tây Đức ở Prague, ở Warsaw, thực hiện hình thức bỏ phiếu bằng chân và bằng xe. Cái cột thứ nhất đứng vững lâu nhất. Nó chỉ lung lay khi chính người dân Đông Đức bắt đầu không còn sợ chế độ stalinit nữa để đưa ra những khẩu hiệu đấu tranh mới Wir sind das Volk (Chúng tôi là nhân dân) và nhất là Wir bleiben hier (Chúng tôi ở lại đây).

Thực vậy, bốn mươi năm lịch sử quốc gia Đông Đức là bốn mươi năm lịch sử hoạt động đối lập và bốn mươi năm lịch sử đàn áp đối lập. Hoạt động liên tục và đàn áp liên tục. Để đối phó lại chiến dịch đàn áp mạnh mẽ tàn bạo, thoạt tiên người dân Đông Đức chỉ có biện pháp trốn chạy. Họ vượt thoát thiên đường “xã hội chủ nghĩa“ bằng mọi hình thức bộ não con người có thể nghĩ ra : chui vào thùng xe hơi, leo lên khinh khí cầu, đào đường hầm dưới đất, căng dây thép ngang trời, nhảy qua bức tường Berlin v.v.. Trên lãnh thổ Đông Đức thì họ biểu tình đòi thống nhất đất nước, đòi thống nhất tiền tệ. Họ nêu khẩu hiệu : “Nếu đồng DM không đến với chúng tôi thì chúng tôi đến với đồng DM“. Nhưng kể từ khoảng cuối thập niên 70 thế kỷ vừa qua, quần chúng đấu tranh chống cộng thay đổi chiến thuật. Lực lượng đối lập càng ngày càng phát triển cả về nhân sự lẫn tổ chức. Thoạt tiên là những phản kháng thuộc lĩnh vực văn hoá. Rồi hướng đấu tranh trở nên đa dạng, lan toả sang phạm vi bảo vệ hoà bình và bảo vệ môi sinh. Kế đến các giáo hội đứng ra nhận vai trò đầu tầu, đứng lên nắm tác dụng đầu não. Mặt khác, giới trẻ càng ngày càng ý thức rõ trách nhiệm và chức năng của mình, càng ngày càng tỏ ra bất bình đối với chế độ toàn trị độc đảng. Tuy cơ quan Mật vụ Stasi cũng thành công trong công tác nội vận lũng đoạn các tổ chức đối lập và trong nhiều trường hợp từng tàn bạo đàn áp nhưng thanh thế và sức mạnh các phe đối kháng vẫn cứ càng ngày càng bành trướng, song song với những biến chuyển ở các quốc gia lân cận.

Năm 1989, cả Đông Đức lẫn Tây Đức đều cùng kỷ niệm bốn mươi năm thành lập. Tuy nhiên tình hình ở Đông Đức dưới sự khống chế sắt máu của đảng cộng sản SED với thủ lãnh Honecker cứ càng ngày càng xấu đi. Trong khi hàng vạn công dân Cộng hoà Dân chủ Đức trốn chạy qua biên giới Hung Gia Lợi và Tiệp Khắc thì lực lượng đối lập tại quốc nội cứ mỗi ngày mỗi mạnh. Chỉ vài hôm sau ngày “quốc khánh“, hàng trăm ngàn người tụ tập biểu tình bất bạo động chống bạo quyền áp bức. Rồi sáng kiến đấu tranh mới nảy sinh : dân Đông Đức đòi thống nhất với Tây Đức. Khẩu hiệu thuở ban đầu Wir sind das Volk (Chúng tôi là nhân dân) được đổi thành Wir sind ein Volk (Chúng tôi là một dân tộc). Các lực lượng đối lập cứ tiến dần từng bước như thế để đi đến giai đoạn đòi hỏi cải cách dân chủ. Kết quả : một bàn tròn (der Runde Tisch) qui tụ các tập thể phản kháng và đảng cộng sản SED cùng các tổ chức vệ tinh của nó đạt được chiến thắng quyết định đầu tiên khi bức bách Stasi phải giải tán, khi đòi hỏi biên soạn được hiến pháp dân chủ và tổ chức bầu cử quốc hội tự do.

Người dân Đông Đức đã biết lợi dụng cả thời lẫn thế và nhất là họ đã thấy được rằng chỉ có họ mới đòi được tự do cho họ. Cho nên họ đã chuyển hướng và chuyển hoá hình thức đấu tranh. Thoạt đầu là bỏ nước ra đi bằng mọi giá, kể cả bằng sinh mệnh bản thân. Nhưng đến một thời điểm nhất định, họ không bỏ phiếu bằng xe bằng chân nữa, họ bỏ phiếu bằng tay bằng miệng. Họ quyết định ở lại để đấu tranh, wir bleiben hier.

Dân tộc Việt Nam cũng đã từng cả triệu triệu người bỏ phiếu bằng chân, bằng thuyền, bằng máy bay. Chúng ta đã đứng lên thực hiện giai đoạn chống đối thứ nhất. Chúng ta đã chống cộng qua thái độ phỉ nhổ chế độ đồng thời chúng ta cũng truy tố tội ác cộng sản Việt Nam. Chúng ta không truy tố tội ác của giặc trước bất kỳ toà án cấp quốc gia, cấp liên quốc hay cấp quốc tế nào cả mà chúng ta truy tố tội ác của giặc trước công luận quốc tế, trước dư luận thề giới, trước lương tri nhân loại. Đến nỗi Toà Thánh Vatican cũng phải lên tiếng vì lời tố cáo của chúng ta, đến nỗi Nữ Hoàng Anh quốc cũng không thể giữ im lặng trước lời tố cáo của chúng ta. Chúng ta đã góp máu, góp nước mắt, góp tù đày, góp chết chóc, góp hãm hiếp, góp vàng, góp nhà, góp của cho giai đoạn một. Chúng ta đã góp nhục nhằn, góp cơ cực, góp những tháng năm còng lưng làm nail, góp những ngày xuân làm vệ sinh nhà xí. Và chúng ta cũng không hề ngần ngại quay trở lại góp công, góp sức, góp đầu óc, góp suy tư cho đại cuộc chính nghĩa chống cộng tại cả hải ngoại lẫn quốc nội.

Bây giờ là giai đoạn chống đối thứ hai, giai đoạn này do đồng bào quốc nội thủ vai chánh. Tuy nhiên nếu như người dân trong nước không tự mình tranh đấu, nếu như tuổi trẻ Việt Nam trong nước không can đảm dấn thân thì đảng cộng sản sẽ vẫn tiếp tục ngồi lên đầu lên cổ dân tộc và dân tộc vẫn phải cúi đầu quì gối mang nỗi nhục lạc hậu và yếu hèn. Nếu quốc nội không ý thức được trách nhiệm của mình thì chữ S bên bờ Thái bình dương sẽ còn lâu mới được như mảnh đất nhìn ra Bắc hải.

Giữ vai trò độc tôn trực tiếp chống cộng, đồng bào quốc nội cần ý thức rằng phải diện đối diện với kẻ thù thì mới chống nó hữu hiệu được. Muốn thực tình chống Việt cộng thì phải ở lại Việt Nam.

Trần Văn Tích
13.04.2014

Bài Xem Nhiều