We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 16 April 2014

Cãm thấy nhục ăn cắp nơi xứ Nhật : Giáo dục xã hội thiên đường cs tốt hay xẩu..?

Cộng đồng Việt ở Nhật sẽ hết đường sống?


Cả nước Việt lẫn người Việt đang sống ở Nhật đã cảm thấy vô cùng xấu hổ, khi clip người Việt ăn trộm ở Nhật được phát trên đài truyền hình.
Clip được phát trên Nippon TV và Yahoo tại Nhật sáng 13/4 hiện đang gây rúng động trong cộng đồng người Việt đang làm việc, học tập sinh sống tại Nhật sau nhiều vụ việc tai tiếng gần đây.

Ảnh cắt từ clip

Đó là những người Việt bị nghi ngờ đã  một số lượng lớn mỹ phẩm trong các hiệu thuốc ở tỉnh Kagawa. Cùng với vụ nữ tiếp viên của Vietnam Airlines, Nguyễn Bích Ngọc (25 tuổi) bị bắt ở cuối tháng 3, do cảnh sát Nhật nghi ngờ cô đã mua hàng có nguồn gốc trộm cắp từ Nhật Bản về Việt Nam; uy tín của người Việt Nam tại Nhật đang xuống thấp hơn bao giờ hết.
Trong clip, một người tình nghi tên Đỗ Trung (quốc tịch Việt Nam) đã bị cảnh sát bắt giữ tại thành phố Sakaide tỉnh Kagawa trong khi đang chạy trốn. Bốn trong 5 người bị bắt đã bị khởi tố vì hành vi trộm cắp, trong đó có một người là nữ giới.

Theo điều tra, từ tháng 12/2013 đến tháng 1/2014, của cảnh sát Nhật Bản đã bí mật theo dõi một nhóm gồm 5 người Việt bị tình nghi ăn trộm mỹ phẩm và thực phẩm chức năng tại các cửa hàng thuốc thuộc 2 thành phố Muragame và Mitoyo, ước tính giá trị hàng hóa lên tới 188.000 yên (37 triệu đồng).

Sau khi clip này được đưa lên facebook Cộng đồng Nhật ngữ, đã tạo nên 2 nguồn dư luận. Đầu tiên là sự căm ghét vì hành động làm nhục quốc thể của một nhóm người lười lao động, nhưng thích “ngồi mát ăn bát vàng” dẫn tới hành động trộm cắp. Thứ hai là sự hoang mang của rất nhiều người Việt đang sinh sống, học tập và làm việc tại đất nước mặt trời mọc.

Cư dân mạng hết sức bức xúc và hoang mang
Cư dân mạng hết sức "bức xúc" và hoang mang

Một vài người đổ lỗi cho hoàn cảnh, như: “Mấy thằng chúng mày chưa sang nên nói hay lắm. Tao ví dụ chúng mày sang không có việc làm, không còn tiền thì mày về Việt Nam hay đi ăn trộm; có người còn có số đỏ, số đen. Tao tin mày sang cũng sẽ đá tàu với ăn cắp vặt thôi….”, liền nhận được rất nhiều gạch đá của dư luận: “Đã óc * rồi còn tỏ ra nguy hiểm. Giờ tui hỏi một câu đơn giản: Trộm cắp là xấu hay tốt”, hay "Có chết đói, mình cũng không ăn cắp. Biết là cuộc sống quá bon chen, khó khăn, nhưng thiếu gì cách mà phải như vậy”.
Hầu hết comment thể hiện sự tiếc nuối cũng như đau lòng khi thấy nhiều người Việt Nam làm việc xấu trên đất Nhật.
“Đau lòng khi Việt Nam có những kẻ như vậy”, em gái có nick Cobemua Dong bình luận. Còn bạn Thanh Giau thì muốn có biện pháp mạnh hơn: “Tống về nước, phạt tiền thật nặng cho chừa và cảnh cáo nhưng người chưa bỏ tật xấu này”. Có bạn còn khẳng định: “Ở Việt Nam thì còn xem hoàn cảnh của bạn khổ đến mức nào. Chứ đi ra nước ngoài thì khác. Chỉ cần bạn làm một việc xấu, người ta đánh giá cả dân tộc bạn hiểu chưa”.
Nổi bật nhất là sự lo lắng cũng như hoang mang của cộng đồng Việt tại Nhật. Cuộc sống của họ vốn đã khó khăn, tủi nhục; sau những chuyện kia, có lẽ còn kinh dị hơn.
“Nói thế nào đi nữa, ăn trộm ăn cắp là không được rồi, bênh vực gì chứ. Đủ chân đủ tay không chịu lao động, ăn cướp sức lao động của người khác. Đi đâu nói là người Việt cũng bị nhìn từ đầu đến chân. Con sâu làm rầu nồi canh. Chỉ khổ các du học sinh sau này không có việc làm. Cuộc sống càng thêm khó khăn. Cứ thế này chắc một thời gian nữa Nhật sẽ không dám nhận lao động Việt nữa”, bạn TanhThuc Love quan ngại.
“Nhục như chó! Đưa lên tivi thế này thì còn mặt mũi gì mà đi làm đây”, Nguyen Thuong, lao động ở Nhật tức giận.
Còn bạn Son Tran Huy bức xúc: “Nhục nhã đến mức này đấy. Cứ nhắc đến Việt Nam là chỉ thấy ăn trộm, ăn cắp. Nhiều khi đi tàu mà không dám nói tiếng Việt, chỉ sợ người Nhật nghe được họ ghét”.

Người Nhật là dân tộc nổi tiếng về sự siêng năng, cần cù. Họ lao động vất vả gấp đôi người Việt Nam chúng ta. Theo đó, họ cực ghét những kẻ ăn cắp vặt, lười lao động, còn đánh cắp công sức của người khác. Thế nên, ở Nhật rất ít ăn cắp vặt, cửa hàng hoặc quán xá nhỏ của họ ít biện pháp an ninh. Và đó là thời cơ để nhiều người Việt Nam chúng ta ở Nhật thể hiện sự khôn lõi, lợi dụng sự lỏng lẻo an ninh của người bản địa để ăn trộm. Khi sự khôn lõi của người Việt thể hiện không đúng chỗ, khiến cả một một dân tộc phải xấu hổ; nhiều người Việt Nam khác ở Nhật chịu sự kỳ thị không đáng có.

Xem thêm clip: Nhật bắt nhóm người tuồn hàng ăn cắp cho tiếp viên Hàng không Việt Nam (nguồn You Tube)
Hồ Chủ Tịt chôm chĩa thơ văn

Già Hồ có tật hay chôm chỉa, đạo thơ trộm văn của người ta, cho nên những câu nói trứ danh của người khác, bác không ngại ngần mà lấy làm của mình. Như câu nói trồng cây trồng người của Quản Trọng.

Bác lấy câu đó làm của mình, đàn em thì vẫn cứ ca ngợi rằng bác đã nói :

"Một năm trồng lúa, 10 năm trồng cây, 100 năm trồng người."

Thi sĩ Hà Huyền Chi đã cười vào mặt bác về cái "ăn tục nói phét" trên của bác một cách chính xác và duyên dáng dí dõm :

Mười năm bác đảng trồng cây

Những rừng danh mộc mỗi ngày hiếm hoi

Trăm năm bác đảng trồng người

Khỉ trình phương án, đười ươi giảng bài."

Cả nước đã bị lừa : 39 năm Dấu Tích Thương Đau...tháng 4 lại về (17)






Cả nước đã bị lừa.


Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!

150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 37 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.
Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.



Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :

_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?



_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?

_ Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?

_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?

Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

_ Tại sao đàn ông? của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?

_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?

Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?

_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?

Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xã hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghỉa.

Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.
Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.



Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .
Hiện tượng "Mửa ra rồi nuốt lại" này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.

Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.
Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và "nhai lại" suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối , những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…
Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành "phương hướng hành động" chung cho tất cả mọi người.

Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…

Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang , vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian .
Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp "vô sản" âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.



Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vủ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muỗi mòng giữa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo.
Chẳng hạn đảng nói "xây dựng xã hội không có bóc lột" thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói " một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản" thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói "đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất" nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là... còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !
Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lỗi tầy trời của mình . Đảng sẻ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.
Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi" mà kết luận: "Tất cả đều là lừa bịp!”
Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ ... đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.
Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :

"Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!"


Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ?

Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy ?

Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chổ cho cái xấu?

Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai !
Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.



Châu Hiển Lý
Bộ đội tập kết 1954

----
 
   QUA MẶT MỸ
Sài gòn. Sau ngày 30-4-1975; hai anh em, một Nam một Bắc gặp lại sau bao nhiêu năm xa cách cùng nhau ra quán nhậu lai rai…
Anh cán bộ miền Bắc nói:
Nay hòa bình rồi, nước ta XHCN là đỉnh cao trí tuệ và trong một ngày rất gần sẽ tiến mạnh và vượt xa các nước trên thế giới, vượt qua cả Mỹ nữa.
Anh miền Nam ở Sài-gòn nói:
Ấy, đừng nên  vượt qua mặt Mỹ, chỉ nên đi ngang hàng  thôi.
Anh cán bộ miền Bắc hỏi:
Tại sao lại không vượt qua mặt mà chỉ đi ngang hàng thôi, khờ thế!
Anh Miền Nam nói:
     -Nếu vượt qua trước mặt Mỹ,
      Mỹ nó thấy quần mình rách lòi đít.

Nghệ An: Cô bé trái tim nhân hậu viết lên bài văn

BÀI VĂN 9,5 ĐIỂM GÂY XÔN XAO THÀNH PHỐ VINH!


Trong buổi lễ chào cờ đầu tuần (6/11), thày Lê Trần Bân, Hiệu phó THPT Huỳnh Thúc Kháng (thành phố Vinh, Nghệ An) đã đọc bài văn viết về bố của học sinh Nguyễn Thị Hậu. Thày ngân ngấn nước mắt, cả sân trường xúc động lặng im. Sau hôm đó, người dân thành phố Vinh photo bài văn, chuyền tay nhau đọc.

Nguyễn Thị Hậu - học sinh chuyên Toán lớp 10A2 THPT Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Vinh, Nghệ An - chỉ có 45 phút ngồi trên lớp học để viết lên bài văn này. Bài văn với gần 1.500 từ trên 4 trang giấy kiểm tra ướt nhoè nước mắt của Hậu khi làm bài.

Bóng dáng người bố yêu thương hiện lên trang văn, người đọc đường như thấy một chút bóng dáng người bố thân yêu của mình và thôi thúc nuôi dưỡng ước mơ và thúc giục sống tốt hơn. Bài làm văn của em đã viết lên cảm nghĩ chân thực về người cha thân yêu làm nghề xe lai (xe đạp ôm), nhưng bị căn bệnh quật ngã ra đi.

"Thày Bân đọc được nửa bài văn quá xúc động nghẹn lời, ngân ngấn nước mắt. Chúng tôi đều rưng rưng, mến phục thương em Hậu và thôi thúc chúng tôi sống và giảng dạy tốt hơn. Từ nay vào các buổi lễ chào cờ đầu tuần chúng tôi chọn lọc những đề văn và bài làm hay đọc dưới cờ để nhân lên sự yêu thích văn chương của học sinh" - thày Võ Tuấn Thiện, hiệu trưởng THPT Huỳnh Thúc Kháng, cho biết.
Ngay sau đó từ học sinh, giáo viên các trường trên địa bàn thành phố Vinh cho đến bà bán nước bác xe ôm đã photo bài văn, chuyền tay nhau đọc. Cứ thế bài văn nhân thêm nhiều bản, và chuyền về tận các huyện...
Đề bài: “Em hãy phát biểu cảm nghĩ về một người thân yêu nhất"

Bài làm

Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa? Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này.

Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiềubiến chứng. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.

Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánhtay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình.

Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.

Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngã bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sươngsớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.

Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-48 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diệnvới mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.

Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố.Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không?

Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.

Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.

Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng...

Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bốlà gương sáng để noi theo.

Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố. Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi.

Những giỏ phong lan có bao giờ bố quêncho uống nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào? Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoamà bố còn rất thích nuôi động vật.

Tuy nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa.Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trờichung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.

Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đaukhổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại. Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.

Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.

Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình.

NGUYỄN THỊ HẬU
(Lớp 10A2, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, TP Vinh, Nghệ An)
Lời phê của cô giáo Phan Thị Thanh Vân:
"Em là một người con ngoan, bài viết của em đã làm cho cô rất xúc động.Điều đáng quý nhất của em là tình cảm chân thực và em có một trái tim nhân hậu, em đã cho cô một bài học làm người."
Mong rằng đây không chỉ là trang văn mà còn là sự hành xử của em trong cuộc đời”.

NHẤN CHIA SẺ ĐỂ MỌI NGƯỜI CÙNG ĐỌC NHÉ!


VN Tôi Đây !!em bé cởi truồng mò cua bắt ốc 
                                                                               Hàn Trung Chính
Thay vì được ăn no ngủ kỹ, em bé phải lao vào vòng xoáy cơm áo gạo tiền, san sẻ một phần lo lắng với bố mẹ.
Ngày hôm nay (3/4), trên mạng xã hội đã xuất hiện một bức ảnh rất cảm động về một em bé được cho là ở Điện Biên.
Bức ảnh đã lột tả rất chân thực về nỗi kham khổ của trẻ em nghèo. Tuy tuổi đời còn rất nhỏ (khoảng 3,4 tuổi – PV) nhưng đứa bé đã sớm phải xuống ruộng để mò cua bắt ốc phụ giúp gia đình. Trên người em không có lấy mảnh vải che thân, thứ duy nhất bao bọc lấy đứa bé chỉ là lớp bùn lầy nhớp nháp, bẩn thỉu.
Cánh tay nhỏ nhắn của em đang cố siết chặt sợi dây thừng được nối với chiếc rọ, điều mà phần lớn những đứa trẻ sẽ không thể nào làm được nếu không có sự giúp đỡ của người lớn. Có thể đối với em bé, đó chỉ là hành động thường ngày nhưng với những người xem ảnh, điều này thực sự khiến họ cảm thấy chua xót.
Bạn Trần Tuấn Nam xúc động nói: Tuổi còn nhỏ thế kia mà đã phải lam lũ, thương thay cho những trẻ em vùng cao, còn quá nhiều thiếu thốn. Nhìn cảnh đứa bé phải vùi mình trong ruộng bùn thử hỏi có ai là không động lòng. Ở ngoài kia vẫn còn quá nhiều mảnh đời cần được giúp đỡ. Mong rằng mọi người sẽ hiểu thêm được giá trị nhân văn phía sau bức ảnh này”.
Nỗi vất vả của những người nghèo khó, trẻ em không có điều kiện để đến trường, người già phải bon chen cực khổ trong xã hội để có được miếng cơm manh áo… Đó là những hình ảnh xúc động đến rơi lệ của hàng nghìn cư dân mạng muốn thông qua đó nhằm truyền tải thông điệp ý nghĩa đến mọi người
Bạn Dương viết Quân bức xúc nói : “Mả cha cái lũ cán bộ Đảng Viên Đảng CSVN ăn trên ngồi trước, bóc lột và chà đạp lên mọi tầng lớp nhân dân kể cả những trẻ con nghèo khổ để xây nhà cao cửa rộng, tiêu xài xa hoa. Tại sao Trời chưa tru, Đất chưa diệt hết cái lũ tham ô và bán nước này. Rõ là ông trời đi vắng !”

Cái Dũng của Người Đông Phương : 39 năm Dấu Tích Thương Đau...tháng 4 lại về (16)


Mỗi năm khi tháng tư trở về người công dân VNCH dâng lên nỗi bùi ngùi, hồi tưởng cảnh chiến xa của CSVN lăn bánh vào cưỡng chiếm thủ đô Sài Gòn, để rồi đất nước Việt Nam nói chung phá sản, tụt hậu mọi giá trị tốt của dân tộc, mọi phạm vi sinh hoạt của đất nước bị suy đồi bởi thể chế độc tài, tham ô do đảng CSVN du nhập vào để thống trị người dân, cái chủ thuyết ngoại lai, vong bản do những người CS u mê, tham lam quyền bính, những machiavellists, marxists, leninists, stalinists, maoists, putinists,... lãnh đạo xứ sở Việt theo con đường sai lầm. Tưởng niệm 30 tháng Tư, xin ghi khắc gương can trường của QLVNCH, một đạo quân tinh nhuệ có thể bị gãy súng, nhưng không đánh mất ý chí và niềm tin. Bởi vì ý chí và niềm tin đó vẫn được nuôi dưỡng bởi những người công dân VNCH dù sống trên quê hương hay ở xa quê hương.

"Nơi nào có áp bức, nơi đó có nổi dậy", Karl Marx

"Chủ nghĩa Cộng Sản là giấc mơ của vài người, nhưng là cơn ác mộng của nhân loại", Victor Hugo.



<



Cái Dũng của Người Đông Phương

Những cái gương can đảm của các binh lính trong đạo quân Kamikaze quyết tử của quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản đốt nén nhang lên đường sáng hôm 7 tháng 12 năm 1941 để tấn công hạm đội Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng làm con trai tôi tự hỏi vì sao họ lại như thế khi tôi cùng các con xem cuốn phim tài liệu chiến tranh "Pearl Harbor" do đạo diển Michael Bay dàn dựng. Sau khi liệng hết bom, bắn hết đạn, từng chiếc phi cơ của phi đội quyết tử Thiên Hoàng nhắm vào các boong tàu hải quân Hoa Kỳ cứ lao vào như điên dại. Nước Mỹ sững sờ, nước Mỹ rúng động, và nước Mỹ đau thương trong trận Trân Châu Cảng.

Từ sự đau thương đó đến 4 năm sau nước Mỹ nhất quyết kết thúc chiến tranh mau lẹ bằng đường tắt ném hai quả bom nguyên tử vào ngay trung tâm thành phố Hiroshima và Nagasaki, số thương vong của người Nhật là 66,000 và bị thương 69,000 tại Hiroshima, và 39,000 chết và 26,000 bị thương tại Nagasaki. Hằng triệu người Nhật ngơ ngác trong cơn chấn động khủng khiếp của bom nguyên tử vốn xa lạ với con người thuở đó. Nước Nhật kinh hoàng, nước Nhật giận dử và nước Nhật đau thương. Để tránh thêm thiệt hại và chết chóc cho nhân dân vô tội, ngày 2 tháng 9 năm 1945 Nhật hoàng Hirohito ký hoà ước chấp nhận thua trận vô điều kiện trên chiếc hàng không mẫu hạm USS Missouri. Tin buồn đến với quân đội Nhật, hàng ngàn binh sĩ Nhật từ chối thua trận và những thước phim lịch sử đã thu nhận tinh thần dũng sĩ quả cảm của người lính Nhật, mặc dù thế giới lên án sự dã man của quân đội Nhật trong thời chiến tranh. Nhưng người ta không khỏi bùi ngùi, thương tâm khi thấy trong tinh thần samurai của kiếm sĩ đạo kendo hay võ sĩ đạo bushido, người lính thất trận tự đâm và mổ bụng chính mình, theo truyền thống harakiri, vì danh dự họ từ chối đầu hàng. Chỉ trong vài ngày sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các đơn vị quân đội Nhật Bản ghi nhận gần 600 binh sĩ Nhật tự vận và con số tiếp tục, số binh sĩ tự vận tại hải ngoại không đuoc kiểm kê. Trong hàng tướng lãnh của Nhật có bộ trưởng chiến tranh Korechika Anami, tướng Seiichi Tanaka, tướng Hajime Sugiyama, tướng Umetzu, đô đốc Hải quân Ugaki và đô đốc Takijiro Onishi đã tự rút gươm đâm thủng bụng mình tự sát, họ để lại cho quân sử Nhật bản những tấm gương samurai bất khuất mãi mãi.

Cũng chuyện ngày xưa của nước Tàu, trong thời xuân thu chiến quốc, chuyện kể rằng một vị tướng quân thua trận, ông và người hầu cận bị đánh đuổi bỏ chạy lên núi cao. Hết ngày này qua ngày nọ, hết tháng này sang tháng kia, ông cảm thấy ô nhục mãi ẩn náu trên miền cao sơn và ngày về vô vọng, ông từ chối chết dần, chết mòn. Ông bảo người hầu cận chuẩn bị cho ông con chiến mã. Sau khi khoác chiến bào với thanh kiếm trên tay như thuở xông pha nơi chiến trận, ông thúc chiến mã phi bay từ cao sơn rơi xuống vực sâu thẳm để chọn cái chết xứng đáng cho đạo làm tướng. Câu chuyện này nói lên cái ý niệm đơn giản: Là ngừời lãnh đạo, chỉ huy phải tròn trách nhiệm với sơn hà, là một tướng quân là giữ phong cách, danh dự và sĩ khí của người làm tướng mà phong vị của họ gầy dựng do công trạng "Nhất tướng công thành vạn cốt khô".

Do đó từ những phi đội thần phong quyết tử hay những bushido hay kendo đã harakiri của người Nhật cho đến viên tướng Tàu trong thời tao loạn xuân thu thuở xưa chỉ nêu lên cái giá trị của người Đông phương liều chết cho lý tưởng mà họ mang để quên thân mình. Như lịch sử Việt Nam không thiếu gương can đảm từ Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương,... Tôi bùi ngùi nhớ về các vị Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn,... mang cái "Dũng" của người xưa.
Anh Hùng Tử, Khí Hùng Bất Tử

 
Nói những dòng này như vậy để tôi cũng xin khơi lại lòng dũng cảm của vô số anh hùng vị quốc vô danh trong QLVNCH mà những ngày cuối cùng của trang sử miền Nam, tổng thống của họ vì sợ nhân dân vô tội chịu cơn mưa đại pháo của "cái-gọi-là" Quân đội Nhân dân Việt Nam (QDNDVN) man rợ, vô nhân tính xâm lăng từ bắc phương, hàng ngàn chiến binh VNCH đang chiến đấu tới cùng như các Thiên Thần Mũ Đỏ của binh chủng Dù quyết tử thủ bảo vệ thành trì Hoàng Hoa Thám chận sức tiến quân của địch từ hướng Hốc Môn hay những chiến binh cọp biển của Thủy Quân Lục Chiến tiếp tục bảo vệ tuyến đường xa lộ Biên Hòa chận đoàn quân CS tràn về thủ đô. Họ chiến đấu trong danh dự, họ quyết tử vì lý tưởng bảo vệ sơn hà, cũng như nhiều anh em quân nhân khác từ chối thua cuộc cùng nhau rút chốt lựu đạn ôm nhau nổ tung để chọn cho mình cái chết xứng đáng nhất mà sử xanh của QLVNCH sẽ mãi mãi tri ân họ. Sự ra đi hào hùng của ho là cái uy dũng khi bảo vệ từng tất đất quê hương của quân đội VNCH, tương phản với cái hèn hạ đốn mạt của người CSVN là âm thầm triều cống đất đai của tiền nhân để lại để được nước đàn anh Trung quốc xoa đầu cho an vị tiếp tục thống trị quê hương Việt Nam.

Trong bầu không khí 30-04 lại về, tôi xin hân hạnh giới thiệu hai tác phẩm viết bằng kinh nghiệm đau thương của nhà văn Dương Viết Điền (DVĐ), có bút hiệu là Hạ Ái Khanh, anh là một sĩ quan ngành chiến tranh chính trị, một tù nhân nếm mùi khắc nghiệt của cái cụm mỹ từ gọi là "học-tập-cải-tạo", một hình thức tù tội bịp bợm trá hình, một phương cách trả thù người quân dân VNCH để hòng đánh lừa dư luận quốc tế. Anh DVĐ đã bỏ ra một thời gian dài để hoàn tất hai tác phẩm, loại biên khảo có giá trị về sử liệu "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân" và thiên hồi ký bi thương "Trại Ái Tử và Bình Điền". Cả hai tác phẩm khi đọc người ta không khỏi ngậm ngùi cho tinh thần bất khuất hay thán phục cũng như cảm thông vì cái dũng khí mà những người lính QLVNCH đã kinh qua.

Trong cuốn "Trại Ái Tử và Bình Điền", tác giả có đề cập một gương bất khuất của một vị sĩ quan đáng kính QLVNCH là Thiếu tá TQLC Võ Đằng Phương noi gương theo tinh thần sống vinh hơn chết nhục, năm 1985 từ trại tù Bình Điền ông viết thơ gởi cho Thủ tướng CSVN là Phạm Văn Đồng để tố cáo chính sách thâm độc trả thù dã man, ngược đãi tù nhân là những quân nhân cán chính VNCH. Trong khi trước đó Phạm Văn Đồng khoe khoang tuyên bố với các phóng viên quốc tế họ đối xử nhân đạo, khoan hồng với các viên chức phục vụ trong chế độ cũ và người CS không hề chủ trương đánh người ngã ngựa. Bài sưu khảo của tác giả DVĐ cho thấy tội ác đê hèn của nhà cầm quyền CSVN là sự tra tấn, đánh đập tù nhân cho đến chết hay gây thương tích cho họ lâu dài. Trích đoạn như sau:

"Thiếu tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG:
Biểu tượng bất khuất và kiêu hùng của một sĩ quan Quân lực VNCH (QLVNCH). Nói đến cuộc bạo động trong tù, chúng ta không thể quên được "Vụ 20 tháng 04 năm 1979" xảy ra tại phân trại 04 thuộc trung tâm trại "cải tạo" Bình Điền tại tỉnh Thừa Thiên. Vụ này do một ban tham mưu gồm 9 sĩ quan của QLVNCH chỉ huy toàn thể 500 tù nhân trong trại vùng dậy đòi cải tổ chế độ lao tù.
9 sĩ quan trong ban tham mưu đó là:
- Trung tá Nguyễn Tri Tấn: Trung đoàn phó trung đoàn 2/SĐ3BB
- Thiếu tá Vũ Ngọc Tụng: Quân Trấn Đà Lạt
- Thiếu tá Phạm Cang: Tiểu đoàn trưởng TQLC
- Thiếu tá Lê Quang Liển: Sĩ quan TQLC
- Thiếu tá Hoàng Hưng: Sĩ quan Bộ Binh
- Thiếu tá Phan Văn Lập: Chi đoàn trưởng Thiết giáp.
- Đại uý Trần Biên: Sĩ quan Truyền tin SĐ5/BB
- Đại uý Nguyễn Thuận Cát: Sĩ quan Biệt Động Quân
- Đại uý Nguyễn Đình Khương: Tiểu đoàn phó TĐ120 Địa Phương Quân, tiểu khu Quảng Trị...

Sau vụ này nhiều anh em tù nhân đã bị bọn công an đánh đập một cách bạo tàn đến gãy xương, trào máu, bầm gan, tím ruột. Nhiều sĩ quan đã bị chết trong tù sau những trận đòn dã man vô nhân đạo như Đại uý Nguyễn Văn Báu, Đại uý Nguyễn Thuận Cát, Thiếu uý Trần Hữu Sơn. Còn tất cả 9 sĩ quan trong ban tham mưu nói trên đều bị cùm tay, cùm chân gần năm năm trời trong nhà biệt giam. Nếu ai có ở tù tại phân trại 4 thuộc trung tâm trại "cải tạo" Bình Điền lúc bấy giờ (20 tháng 04 năm 1979) mới chứng kiến được cảnh công an từ dưới Ty Công An thuộc tỉnh Bình Trị Thiên lên tàn sát tù nhân bất chấp cả bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Chúng đã dã man, bạo tàn đánh đấm liên tục không biết mệt. Sau khi hành nghề đánh, đấm, đá, đạp 3 tiếng đồng hồ, bọn Công An "thợ đấm" bắt đầu rút khỏi trại để lại trong trại 50 tù nhân nằm la liệt, rên la quằn quại trên những vũng máu như anh Nguyễn Văn Thiện, anh Nguyễn Văn Vy, anh Nguyễn Hữu Ái,anh Đôn, anh Nguyễn Trung Việt, anh Nguyễn Hữu Tứ, v.v. giống như cảnh ở ngoài chiến điạ hoang tàn chờ trực thăng đến bốc xác chết và những người bị thương vậy.

Chứng kiến cảnh đánh đập một cách man rợ như vậy tất cả tù nhân trong trại đều căm thù đến uất nghẹn. Có một sĩ quan trong phân trại 4 lúc bấy giờ cảm thấy hận thù thêm chất ngất. Mang sẵn trong người giòng máu bất khuất và anh hùng Lê Lợi, Quang Trung, giòng máu kiên cường và dũng cảm của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng cũng như ý thức được Trách nhiệm, Danh dự và Tổ quốc, anh nguyện dấn thân lao vào cuộc chiến mới ngay trong ngục tù Cộng sản; Tiếp tục nuôi dưỡng ý chí đấu tranh đến giọt máu cuối cùng, ngõ hầu mang vinh quang về bồi đắp cho quê mẹ, tô thắm cho non sông. Bởi vì anh ta biết rằng, chân lý dù có bị đè bẹp xuống dưới bùn lầy nước đọng rồi cũng sẽ ngóc đầu dậy mĩm cười với trời xanh bất chấp cả thời gian lẫn không gian. Cho dù anh có thể bị đoạ đày trong kiếp tù tội thêm 10 hay 20 năm nưã, cho dù anh có thể bị xử bắn theo luật rừng, anh vẫn hiên ngang bảo vệ chân lý đến cùng không một chút nao núng trong lòng, đó là:
Thiếu tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG, thuộc Lữ-đoàn 258 TQLC/QLVNCH. Nhận thấy Cộng sản đã đối xử quá tàn nhẫn vơí tù nhân qua chế độ lao tù trong các trại "cải tạo" nhận thấy Cộng sản đối xử tàn tệ vơí vợ con cuả tất cả các sĩ quan cũng như cuả các viên chức thuộc chính phủ Việt Nam Cộng hoà trước đây, nhận thấy Cộng sản sau khi chiếm được miền Nam vẫn cổ xuý chiến tranh gây hấn Kampuchia làm con dân nước Việt chết thêm hàng chục nghìn người, nhận thấy Cộng sản không chịu thực thi những lời cam kết hòa giải dân tộc mà vẫn làm cho nhân dân Việt Nam đói khổ sau hơn 10 năm chiếm được miền Nam,Thiếu tá Võ Đằng Phương mặc dầu đang ở trong ngục tù Cộng sản, quyết định viết một bức thư gởi cho tên Thủ tướng Phạm Văn Đồng để yêu cầu tên thủ tướng nầy giải toả những vấn đề nêu trên. Anh Võ Đằng Phương ở tù lúc bấy giờ đã hơn 10 năm rồi, nhưng anh vẫn dứt khoát viết một bức thư gởi tên Thủ tướng Phạm Văn Đồng để đại diện cho nhân dân Việt Nam yêu cầu chính phủ Hà Nội xét lại chính sách hà khắc cai trị nhân dân cuả đảng Cộng Sản Việt Nam. Chính Đại uý Nguyễn Đình Khương, Tiểu đoàn phó TĐ 120 Điạ Phương Quân, người đã tham gia vụ 20 tháng 04, đã bị Cộng Sản cùm gần 5 năm mới được thả ra, đã được anh Phương móc nối để cùng nhau thảo nên bức thư đó. Nội dung bức thư mà anh Võ Đằng Phương gởi lên tên thủ tướng Phạm văn Đồng rất cương trực."

Thơ khá dài, lời lẽ khúc chiết, thẳng thắng, và hợp lý yêu cầu chính quyền CS hãy thực thi vấn dề nhân đạo và hoà giải dân tộc. Hậu quả của lời kêu gọi từ đáy ngục này của các tù nhân VHCH là những trận đòn trả thù và rồi CS đưa ông Võ Đằng Phương ra một tòa án ngụy tạo và kết án ông thêm 10 năm tù. Trong thời gian bị giam cầm ông bị đánh đập tàn nhẫn đến mang thương tích. Khi được trả ra khỏi tù năm 1995 thì sau đó cơn bệnh nội thương do những trận đòn trong ngục tù làm ông từ trần.
Quyển sách này còn kể lại nhiều chi tiết động trời khác của chính sách trả thù tù nhân rất đê hèn của kẻ chiến thắng mà tác giả là nhân chứng sống trong trại, ngày nay anh ghi nhận lại để đóng góp thêm cho nguồn sử liệu của quê mẹ Việt Nam.


 

 
Tôi xin đi sang quyển sách thứ hai mà cựu tù nhân Dương Viết Điền viết, đó là quyển "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân".
Sách dầy khoảng 430 trang, gom góp nhiều tài liệu về những tấm gương kiêu hùng sáng ngời của 5 vị tướng tuẩn tiết là Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú,Trần Văn Hai và Lê Nguyên Vỹ cùng cái chết vô cùng bất khuất của đại tá Hồ Ngọc Cẩn, một hiện thân của tướng Trần Bình Trọng trong cuộc chiến ý thức hệ mà hệ lụy của biến cố đau thương 30-04-1975 vẫn làm cho chúng ta nhức nhối. Sách được chia ra làm 3 chương chính:
* Chương 1: từ trang 1 đến 13 tác giả luận bàn về Đạo làm tướng, trích dẫn sách Khổng Minh, các gương bất khuất của tiền nhân Việt Nam trong lịch sử chống Tàu, kháng Tây.
* Chương 2: trang 41 đến 246, xem như chương một trong hai chính của sách, nói về cái chết oai hùng của 6 vị sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
* Chương 3: trang 264 đến 415, nói về những cái chết tức tưởi, những cuộc tự sát khác của các quân nhân cán chính VNCH không để lọt vào tay giặc.

CHƯƠNG I:(Trang 1 đến 40)

Tóm tắt chương luận bàn về cái Dũng của người Đông Phương, gồm những điển tích, gương lịch sử Tàu, Nhật và Việt Nam:

"Một dũng tướng là một vị tướng hùng dũng, mạnh mẽ, can đảm, gan dạ, thấy việc nghĩa thì làm ngay, sẵn sàng gánh lấy trách nhiệm trước lịch sử, sẵn sàng hy sinh vì chính nghĩa, vì tổ quốc để bảo vệ danh dự và khí tiết của mình.
Vì vậy, trong thiên thứ bảy, Khổng Minh cũng đã đề cập đến lòng trung nghĩa của tướng súy như sau: "Việc binh là việc dữ, tướng súy là người giữ nhiệm vụ nguy hiểm. Do vì chí khí cứng cỏi thì phải thiếu thốn, lầm lỗi, nhiệm vụ quan trọng thì nguy hại đến thân thể.".
Hạng tướng mà có lòng trung nghĩa (một lòng vì nước) thường không sợ nguy hiểm, lầm lỗi và không sợ nguy hại đến thân thể, nghĩa là xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, chỉ biết chu toàn nhiệm vụ giao phó...

Khi phong trào Cần Vương nổi lên, ở miền Trung, cử nhân Mai Xuân Thưởng đã ngạo nghễ với câu, "Thà làm đoạn đầu tướng quân, chứ không thà làm hàng đầu tướng quân." Ở miền Bắc, cử nhân Nguyễn Cao đã khoét rún, móc ruột ném vào mấy tên giặc Pháp rồi cắn lưỡi tự tử, được người đời ca ngợi:

"Thệ tâm thiên địa phi trường xích
Thiết xỉ giang san mãn thiệt hồng"
(Rút ruột đỏ phơi tim vũ trụ
Nghiến răng hồng nhai lưỡi non sông)


Còn ở trong Nam, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, Cử nhân Phan Văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, thà chịu tử hình chứ không bao giờ đầu hàng giặc Pháp."

CHƯƠNG 2: (Trang 41-263)

Tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu Việt Nam cũng như ngoại ngữ khi tham khảo viết sách nàỵ chương hai đề cập đến những tấm gương vị quốc vong thân như tựa đề sách này. Noi gương những vị anh hùng dân tộc nói trên, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản vì bị Đồng minh Hoa Kỳ phản bội khi bỏ rơi phủi tay ra đi, nhiều tướng lãnh trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tự sát để bảo toàn danh nghĩa của một dũng tướng thời chiến. Tôi xin làm phần tóm lược như sau:

 Nguyễn Khoa Nam: Sinh ngày 23 tháng 9, 1927 tại Thừa Thiên. Tốt nghiệp khóa 3 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức vào năm 1953. Là một trong những sĩ quan trẻ tuổi được vinh thăng cấp tướng lẹ nhất do chiến công. Cấp bậc cuối cùng làm Thiếu tướng. Giờ cuối trước khi miền nam thất thủ ông là Tư lệnh Quân đoàn 4. Tướng Nam là một vị tướng cương trực, đức độ, thanh liêm và gan dạ. Sau khi Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội VNCH buông súng, bàn giao quyền hành lại cho quân đội Bắc Việt, ông ra lệnh cho quân các cấp hãy trở về với gia đình và ông tự sát bằng cách bắn vào đầu mình.

 Lê Văn Hưng: Sinh ngày ngày 27 tháng 3 năm 1933 tại Hốc Môn. Tốt nghiệp hai quân trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và Võ bị Đà Lạt. Cấp bậc cuối cùng là Chuẩn tướng, ông có 50 huy chương đủ loại, mà trong số đó có nhiều huy chương cao quí. Chức vụ cuối là Tư lệnh pho Quân đoàn 4, trú đóng tại Cần Thơ. Năm 1972, Tướng Hưng lập chiến công anh dũng tại An Lộc. Như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, ông tự sát bằng súng để bảo toàn danh dự của QLVNCH. Tướng Hưng có thành tích cương trực, đạo đức và gan dạ khi chiến đấu.

 Phạm Văn Phú: Sinh năm 1929 tại Hà Đông. Ông tốt nghiệp trường Võ bị Liên quân Đà Lạt khoá 6. Ông là sĩ quan dù từ thuở chiến trường sôi động Điện Biên Phủ, năm 1954. Sau cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên khi ông phụ trách làm Tư lệnh Quân khu 2, ông về Sài Gòn lâm bệnh được điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hoà. Sáng ngày 29/04/1975 trước tình thế nguy ngập của Sài Gòn ông kết liễu đời mình bằng một liều thuốc cực mạnh.

 Trần Văn Hai: Sinh năm 1926 tại Cần Thơ. Ông xuất thân Khóa 7 trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Ông là cựu Chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Động Quân, cựu Tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Chức vụ cuối của Chuẩn tướng Hai là Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh đóng tại Mỹ Tho. Trong khi bàn giao nhiệm sở cho quân thù, ông dùng súng bắn vào đầu tự sát.

 Lê Nguyên Vỹ: Sinh ngày 22 tháng 8, năm 1933 tại Sơn Tâỵ Ông tốt nghiệp khóa 2 trường Võ bị Địa phương Trung Việt tại Đập Đá, Huế năm 1951. Ông cùng với tướng Lê Văn Hưng lập công đẩy lui cộng quân ra khỏi An Lộc, tỉnh Bình Long trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972. Chức vụ cuối của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ là tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Ông là tướng đánh giặc can đảm, kỷ luật và thanh liêm. Khi được lệnh buông súng, bàn giao nhiệm sở, ông kê súng vào cằm tự sát để giữ khí tiết của QLVNCH.

 Hồ Ngọc Cẩn: Sinh ngày 24 tháng 3, năm 1938 tại Cần Thơ. Ông theo học trường Thiếu Sinh Quân, theo học khóa 2 Sĩ quan Đặc biệt Nha Trang. Ông giữ nhiều chức vụ tác chiến trong binh chủng Biệt Động Quân trong giai đoạn đầu đường binh nghiệp, rồi được biệt phái sang các Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 Bộ Binh. Chức vụ cuối cùng của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn là Tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện. Sau khi lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng ông vẫn còn chiến đấu để cuối cùng địch quân vây bắt và mang ra xử bắn tại Sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8, 1975.

Cái chết của các vị sĩ quan cao cấp này đem lại những đóa hồng tô điểm cho danh dự và sĩ khí của QLVNCH trong cơn đại hồng thủy đến với VNCH. Vị cố vấn Hoa Kỳ của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã phải hối hận thốt lên lời nuối tiếc như sau: "Là một người Mỹ tôi cảm thấy hối hận để miền Nam Việt Nam bị bức tử và Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị giết" (Trung tá Craig Mandeville).

CHƯƠNG III: (Trang 264-426)




Ngoài những vị tướng lãnh đã tự vẫn nói trên, còn có rất nhiều sĩ quan cấp tá, cấp úy, cấp hạ sĩ quan, binh lính và một số công chức, cảnh sát, cán bộ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước đây cũng đã tự sát trong biến cố đau buồn này. Cho đến hôm nay người ta mới chỉ biết tổng quát khoảng 22 Trung đoàn trưởng, Liên đoàn trưởng và hơn 100 sĩ quan đã tự sát sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản. Trên thực tế con số có thể cao hơn. Sau đây tôi cũng xin được trích ra hai trường hợp mà tác giả Dương Viết Điền ghi nhận trong chương này:

* The Seven Samurai in VietNam: Theo tài liệu 30-04 trong kho dữ liệu của hãng Thông tấn Nhật bản Kyodo về "Bảy Hiệp Sĩ Việt Nam". Ngày 30-04-1975 là ngày đau thương vì QLVNCH bị bức tử, người lính bị bẻ gãy súng bởi chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi. Bảy người lính Dù mà trưởng toán là thiếu úy Hoàng Văn Thái tụ họp tại một bùng binh trong Chợ Lớn, và họ chọn lựa sự buông súng trong danh dự khi tự kết liễu đời mình sau khi hát xong bài quốc ca VNCH, họ xếp thành vòng tròn, mỗi người tay trong tay một quả lựu đạn, mở chốt một lượt. Một tiếng nổ chát chúa tiễn biệt họ ra đi vì danh dự.

* Một trường hợp thứ hai tang thương không kém. theo lời tường thuật của anh Trung úy Cảnh sát Nguyễn Văn Đình định cư ở Houston chứng kiến tại hiện trường sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù, họ nằm trong toán bảo vệ Đài Phát Thanh và Đài Truyền Hình. Khi lệnh buông súng ban ra toán quân nhân này đã xã súng bắn vào nhau, xác thân họ tan nát cho sự ra đi nhuốm màu máu anh hùng nhất, đáng kính nhất của QLVNCH.

Như đã bàn ở phần trên, chương này được kéo dài khi tác giả nêu ra vô số những gương anh dũng của các chiến binh khắp các binh chủng, và các cán bộ, viên chức VNCH. Họ là những người con yêu, trung thành với lý tưởng QG, họ nêu cao những nguyên tắc: Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm. Một khi sứ mạng bảo vệ non sông đất nước không vẹn toàn, họ chọn sự ra đi trong danh dự. Họ mang cái dũng khí như những Samurai Nhật Bản, họ trọng danh dự cá nhân. Quân sử VNCH muôn đời sẽ vinh danh họ.

30-04-2004 này, tôi chọn 2 quyển sách "Trại Ái Tử và Bình Điền" và "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân" này để tưởng niệm gương hy sinh của bao nhiêu anh hùng tử sĩ của VNCH. Họ chiến đấu bảo vệ quê hương, họ không hèn, dù bạn bè đồng minh bỏ họ, người chiến sĩ can trường Hồ Ngọc Cẩn cũng như vô số anh hùng vô danh từ Dù, BĐQ, TQLC, LLĐB, Thiết Giáp,..., Địa Phương quân, Cảnh Sát QG vẫn còn chiến đấu. Họ biên những trang sử cuối cùng hào hùng nhất cho VNCH, lòng dũng cảm, cái hào khí "Chết Vinh Hơn Sống Nhục" này của họ chắc chắn sẽ được ghi nhớ và lưu danh muôn thuở...
 
 
Việt Hải - Los Angeles, California

Bài Xem Nhiều