We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 23 April 2014

Phải chăng NQ 36 của cộng sản HAY “Cái Tôi” gây nên quốc nhục kéo dài hơn 39 năm ...?

Phải chăng tình trạng chia rẽ trong cộng đồng đều do cộng sản gây nên?
T
Ma quỉ, làm như không có ma quỷ thì con người không hề phạm tội, thì quả thực là quá sai lầm và có hại. Nếu thế, người phạm tội sẽ được coi là vô tội vì trách nhiệm chủ yếu là do ma quỷ gánh chịu hết. Con người chẳng cần phải tự xét mình để sửa lỗi. Do đó, tình trạng phạm tội sẽ chẳng bao giờ được cải thiện. Vì chỉ khi nào con người tự nhìn nhận lỗi về phía mình thì họ mới cố gắng sửa chữa và sự việc mới trở nên tốt đẹp. Chính “Kinh Cáo Mình” trong Kitô giáo cũng giúp các tín hữu tự nhận lỗi về mình qua câu: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Điều này rất phù hợp với câu “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” (Hãy trách mình trước đã, rồi mới trách người sau).
Thật ra, có biết bao người trong rất nhiều trường hợp bị cám dỗ mà đâu có phạm tội. Nếu ai cũng bị cám dỗ, nhưng có người phạm tội, có người không, thì rõ ràng chuyện sa chước cám dỗ không chỉ tùy thuộc vào ma quỷ, mà còn tùy thuộc vào con người. Nếu con người không có những khuynh hướng xấu trong bản thân, như tham lam, đố kỵ, ghen tương, ham danh, ham lợi, ích kỷ, v.v… thì ma quỷ có cám dỗ thường xuyên và mạnh đến đâu, con người cũng khó mà sa ngã.
Cũng vậy, tình trạng chia rẽ trong các cộng đồng người Việt hải ngoại, nhiều người cho rằng chủ yếu là do kế ly gián của cộng sản, do nghị quyết 36, do bọn nằm vùng được cài cắm trong hàng ngũ đấu tranh dân chủ… Quan niệm như thế thì hóa ra ngoại trừ bọn cộng sản được cài cắm, chẳng ai trong cộng đồng phải chịu trách nhiệm về tình trạng chia rẽ nội bộ của cộng đồng, vì thế chẳng cần ai phải quan tâm sửa lỗi cả. Quan niệm như thế ắt nhiên sẽ đi đến chủ trương: muốn chấm dứt chia rẽ trong cộng đồng để cộng đồng mạnh lên thì phải diệt trừ những tên cộng sản nằm vùng trong cộng đồng, chứ không ai phải xét lại xem bản thân mình có gây nên chia rẽ không. Và như thế thì hẳn nhiên ngoài những tên cộng sản  đích thực, sẽ có nhiều người bị nghi ngờ và bị tố cáo oan ức là cộng sản.
Thật vậy, kinh nghiệm cho ta thấy, trong cộng đồng, ngoài số ít bọn nằm vùng tìm cách đánh phá cộng đồng (chắc chắn là có), không thiếu gì những người hàm hồ sẵn sàng chụp mũ cộng sản cho người khác mà không cần đủ bằng chứng, nhất là khi họ bị cảm tính (tức tham, sân, si cùng hỷ, nộ, ái, ố, dục) chi phối. Họ giống như người mới thấy một đôi nam nữ rủ nhau uống càphê hay khiêu vũ với nhau đã vội kết luận như đinh đóng cột rằng đôi nam nữ ấy có tình ý với nhau. Nói theo kiểu toán học thì mới thấy hai tam giác có một hay hai cạnh bằng nhau đã kết luận chúng bằng nhau rồi. Và trong cộng đồng cũng không thiếu gì những người dễ tin, sẵn sàng tin những gì mình đọc thấy trên báo, trên net, nhất là khi chúng hợp với quan niệm hay thành kiến của mình mà không cần lý luận xem điều đó có lý, có đáng tin không. Do đó, có rất nhiều người bị nghi ngờ hay kết án là cộng sản một cách oan ức, cụ thể như trường hợp của Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Có những trường hợp hai người hay hai nhóm nghi ngờ hay tố cáo lẫn nhau là cộng sản, mặc dù cả hai bên đều là những người chống cộng quyết liệt. Rất nhiều trường hợp chỉ cần một chút suy nghĩ, một chút lý luận là thấy ngay những điều xác quyết ấy không có chút cơ sở nào.
Hậu quả là mọi người trong cộng đồng trở nên hoang mang, không thể tin tưởng nhau, không dám liên kết với nhau để trở thành sức mạnh, chỉ vì sợ mắc bẫy cộng sản. Thậm chí còn thù oán và đánh phá lẫn nhau khiến cộng đồng trở nên suy yếu hoặc tan nát.
Như vậy, thái độ đổ lỗi hết cho cộng sản về mọi tình trạng chia rẽ trong cộng đồng chỉ làm cho cộng đồng ngày càng chia rẽ, cho dù cộng sản chưa cần tác động gì cả hoặc mới chỉ ra tay chút ít.
Chúng ta thử nhìn vào trong nước, nơi mà cộng sản có đầy đủ mọi điều kiện thuận lợi, nào là nhân lực, quyền lực, tài lực, v.v… để thực hiện kế ly gián đối với các nhà đấu tranh dân chủ. Nhân lực của chúng đông gấp rất nhiều lần số người tham gia đấu tranh. Hơn nữa, tại Việt Nam, người dân nói chung tương đối nghèo với mức sinh hoạt khá thấp, nên với số tiền tham nhũng và cướp đoạt được của dân chúng, cộng sản quá dư tiền bạc để có thể mua chuộc người dân vốn nghèo và cần tiền làm tay sai cho chúng, kể cả những người trong hàng ngũ đấu tranh dân chủ. Với những điều kiện khách quan rất thuận lợi để thực hiện kế ly gián đối với lực lượng dân chủ trong nước, thế mà chúng không thành công.
Thật vậy, trong khi tại hải ngoại, có vô số trường hợp người này công kích hay chụp mũ người khác là cộng sản, thì ở trong nước, chúng ta chỉ có thể kể ra được một vài trường hợp các nhà đấu tranh dân chủ nghi ngờ và công kích lẫn nhau mà thôi. Nói chung, các nhà đấu tranh dân chủ trong nước vẫn đoàn kết, tin tưởng lẫn nhau nên đã kết hợp với nhau thành nhiều tổ chức dân sự có độ bền chặt, bất chấp cộng sản chủ trương tiêu diệt bằng mọi cách. Nếu có tổ chức nào bị tan rã thì hoàn toàn không phải do khả năng ly gián của cộng sản, mà do cộng sản chủ trương “đánh rắn phải đánh vào đầu” nên bắt bớ, bỏ tù những người lãnh đạo và những người hoạt động tích cực trong những tổ chức ấy.
Còn tại hải ngoại, chắc chắn số cán bộ cộng sản nằm vùng ít hơn cán bộ cộng sản trong nước hàng ngàn lần. Thế nhưng dư luận trên các diễn đàn của người Việt ở hải ngoại khiến người ta dễ hiểu rằng cộng sản nằm vùng đầy dẫy ở hải ngoại, và nghị quyết 36 của chúng đang tác động hữu hiệu và thành công. Thật ra tỷ lệ giữa cán bộ cộng sản và số người đấu tranh chống cộng hoàn toàn ngược lại với tỷ lệ ấy ở trong nước. Nếu có tên cộng sản nằm vùng nào bị vạch mặt chỉ tên, lập tức hắn bị cô lập ngay, thậm chí cả những người bị chụp mũ oan là cộng sản cũng bị cô lập. Chắc chắn số cộng sản nằm vùng tại hải ngoại rất ít, không thể nhiều được, vì nếu nhiều thì cộng sản lấy tiền đâu mà trả lương cho bọn chúng khi mà mức sinh hoạt tại hải ngoại rất cao, đòi hỏi phải trả lương cao gấp bội so với mức lương trong nước. Vả lại, nếu là cán bộ cộng sản, chắc chắn chúng không bao giờ chấp nhận sống thanh bạch để hy sinh cho lý tưởng cộng sản vốn không còn mấy ai bị ảo tưởng là cao đẹp. Lý tưởng ấy hoàn toàn không còn khả năng thúc đẩy chúng hy sinh như thời trước 1975 nữa. Chắc chắn là như thế!
Người viết bài này không thể tin rằng CSVN lại có đủ tài năng để đào tạo hay mua chuộc được quá nhiều người làm việc cho chúng tại hải ngoại. Lại càng không có khả năng quyến rũ hay chiêu hồi được những người chống cộng tại hải ngoại về với chúng, làm tay sai cho chúng. Trái lại, tôi còn nghĩ rằng những người đã từng làm việc cho chúng ngày càng ít đi khi họ được sống trong một thể chế dân chủ với đầy đủ thông tin để thấy rằng chế độ cộng sản là một chế độ vô cùng tàn bạo, phản dân hại nước, hèn với giặc ác với dân, nhất là khi cộng đồng Người Việt hải ngoại luôn luôn vạch rõ tội ác của chúng. Cộng sản chỉ có thể giữ lại được những người đang bị chúng nắm tẩy hoặc “cấy sinh tử phù”, hoặc một số rất ít người đang hưởng ơn mưa móc của chúng.
Những tên này được đào tạo có bài bản để lường gạt chúng ta, bằng cách dùng kế “củi đậu nấu đậu”, “nồi da sáo thịt”, “gậy  ông đập lưng ông”, mượn tay chúng ta đánh phá chúng ta, dùng chính chúng ta chụp mũ chúng ta. Tuy rất ngu xuẩn trong điều thiện, nhưng chúng vô cùng khôn lanh trong việc lợi dụng tính “tham, sân, si” (tham lam, giận dữ, ngu xuẩn), và “hỷ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục” (mừng, giận, thương, ghét, buồn, sợ, tham vọng) vốn có trong bản tính con người để biến những người thường chống cộng theo cảm tính thành công cụ cho kế ly gián của chúng. Trở thành công cụ ly gián của chúng mà không biết, những người này vẫn cứ tưởng mình là những người chống cộng hết sức quyết liệt.
Những cộng đồng người Việt tại hải ngoại bị chia rẽ có thể phần nào vì đã quá “thần thánh hóa” bọn cộng sản nằm vùng, bị nghị quyết 36 hù dọa, trong khi chúng thật sự không có “thần thông biến hóa” hay “ba đầu sáu tay” như chúng ta nghĩ lầm. Từ đó, chúng ta tưởng tượng rằng số người thân cộng hay hoạt động cho cộng sản đầy dẫy ở hải ngoại, khiến chúng ta nghi ngờ lẫn nhau và dễ kết án lẫn nhau. Có thể chính cộng sản cố tình tạo ra sự lầm tưởng này nơi chúng ta khi chúng có quá ít người tại hải ngoại. Trong những trận tuyến trước đây, khi ra trận với số quân quá ít, chúng thường dùng kế nghi binh để làm cho đối phương tưởng chúng rất đông bằng cách bắn ở chỗ này một vài phát, rồi chạy sang nhiều chỗ khác mỗi chỗ bắn vài phát.
Chúng ta cần tỉnh táo nhận định, đừng để mắc bẫy chúng. Khi có ai vốn nằm trong hàng ngũ chúng ta bị một ai đó kết án là cộng sản, hay là đảng viên một đảng nào đó không được quần chúng tin tưởng, chúng ta cần bình tĩnh suy xét. Đừng quá dễ tin.
Hãy suy nghĩ rằng chế độ cộng sản trên thế giới đang trên đường suy vong trước làn sóng dân chủ hóa toàn cầu. Chế độ cộng sản trong nước đang run sợ trước sự căm phẫn ngày càng gia tăng của dân chúng. Viễn cảnh bị lật đổ bởi những cuộc cách mạng như ở Đông Âu, hoặc như ở Tunisia, Ai Cập, Lybia… đang làm chúng bấn loạn. Người Việt có đầu óc tại hải ngoại, nhất là những người có địa vị tương đối vững chắc và cuộc sống tương đối bảo đảm không ngu gì lại đi “phù suy” chứ không “phù thịnh”. Điều đó lại càng đúng đối với những người đã từng có thành tích chống cộng vững mạnh trong quá khứ.
Theo Linh mục Lê Ngọc Thanh phát biểu trong một video clip nọ thì nguyên nhân của sự chia rẽ trong các cộng đồng người Việt hải ngoại do kế ly gián của cộng sản thì rất ít, mà chủ yếu là do tâm lý đố kỵ của người Việt: “Trâu cột ghét trâu ăn”, “con gà tức nhau tiếng gáy”, “hai ca sĩ có bao giờ ưa nhau?” Tương tự như trường hợp Chúa Giêsu bị các tư tế và người Pharisêu nộp Ngài cho quan tổng trấn Philatô để nhờ tay ông giết Ngài,  nhưng “ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Ngài” (Matthêu 27,18).
Nhiều người cho rằng tính phe phái của người Việt rất nặng, nó chính là nguyên nhân gây chia rẽ nội bộ. Một số người khác cho rằng việc đặt quá nặng “cái tôi” cá nhân hay “cái tôi” tập thể, coi quyền lợi cá nhân hay tập thể mình lớn hơn quyền lợi tổ quốc góp phần rất lớn vào tình trạng chia rẽ trong các cộng đồng. Có người cho rằng thủ phạm của tình trạng chia rẽ chính là tính độc tài độc đoán, luôn luôn cho mình là duy nhất đúng nên muốn ép buộc tất cả mọi người phải quan niệm như mình, chủ trương và hành động như mình, ai khác với mình là sai, là phá hoại, là cộng sản.
Thiết tưởng nếu chúng ta thật sự yêu nước, yêu dân chủ, thì chúng ta phải thể hiện tinh thần yêu nước, yêu dân chủ ấy bằng những hành động cụ thể.
Trong Kinh thánh có câu:  “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (xem 1Gioan 4,20).
Tương tự như vậy: Nếu ai nói: “Tôi yêu đất nước tôi”, mà lại sẵn sàng mạt sát, chụp mũ, chỉ trích cách bất công những người cùng tổ quốc, cùng chống cộng, cùng đấu tranh cho tự do dân chủ với mình chỉ vì họ khác đường lối chống cộng với mình, người ấy là kẻ nói dối. Ai nói “tôi quyết đấu tranh cho tự do dân chủ nhân quyền” mà chính họ lại không thể hiện tinh thần dân chủ, không tôn trọng nhân quyền người khác, đấy là kẻ nói dối. Người cùng chiến tuyến với mình, sống cụ thể bên cạnh mình, cùng chống cộng sản với mình mà mình không thể hiện tình yêu thương được, thì làm sao mình yêu được quê hương đất nước, vốn là một thực thể khá trừu tượng?”
Còn tình trạng chia rẽ trong cộng đồng, chúng ta cần tự xét xem nguyên nhân từ đâu? Do cộng sản nhiều hơn hay do chính chúng ta nhiều hơn? Nếu chúng ta không đố kỵ nhau, không bực bội lẫn nhau, không đặt nặng tính phe phái, không tự ái dởm, không quá coi trọng “cái tôi”, thì cộng sản có thể ly gián chúng ta được không?
© Nguyễn Chính Kết
------------------------

HẢI NGOẠI VỚI MẶT TRẬN VĂN HOÁ
Phạm Bá  Hoa

1. CSVN dạy Việt ngữ cho Cộng Đồng hải ngoại? 
Từ e-mail “têhát” ngày 29/08/2009 chuyển bài viết “CSVN định xâm nhập Cộng Đồng hải ngoại nhưng sẽ thất bại” của nhà báo Vi Anh, với đoạn mở đầu như sau: “Hai tin từ nhà cầm quyền CS Hà nội tung ra gần như đồng loạt là mở lãnh sự quán ở Houston, tiểu bang Texas của Mỹ  vào tháng 9, và đưa giáo viên đem chương trình và cấp sách giáo khoa ra nước ngoài dạy tiếng Việt cho trẻ em gốc Việt ở  các nước Miên, Lào, Tiệp, Nga, Canada và Mỹ, sẽ bắt đầu từ nay cho đến năm 2010”.   
Bài viết này chỉ tách riêng điều mà CSVN nói là sẽ đưa giáo viên ra hải ngoại dạy Việt ngữ cho trẻ em gốc Việt tại Canada và Hoa Kỳ. Điều này cũng không có gì là lạ, vì mục tiêu thứ 5 trong 9 mục tiêu của Nghị Quyết 36 (NQ 36) có nói vấn đề này.   
2. Trích bài tổng phản công NQ 36 (tôi viết ngày 10/07/2004 tại Orlando, Florida). 
NQ 36 của cộng sản Việt Nam (CSVN) ngày 26/03/2004 gồm 9 mục tiêu, trong đó từ mục tiêu 1 đến mục tiêu 7 tấn công thẳng vào Cộng Đồng tị nạn mà CSVN nói là giúp đỡ người Việ t ở nước ngoài(?). Khi viết bài “Tổng phản công NQ 36” tôi quan niệm: “Mỗi mục tiêu của CSVN tôi chia thành những mục tiêu nhỏ, rồi đưa những sự kiện liên quan mà CSVN sử dụng trong lời nói, lời viết, cùng những hành động, để chứng minh sự gian manh dối trá của CSVN chỉ nhắm phục vụ mục tiêu chính trị của chúng. Nói cho đúng, CSVN ra cái điều lo lắng cho Cộng Đồng tị nạn cộng sản mà chúng gọi chúng ta là “người Việt Nam ở nước ngoài” như thể chúng ta chỉ là những cá nhân riêng rẽ. Mục tiêu chính của chúng chắc hẳn là tìm cách đầu độc thế hệ 2 thế hệ 3 sinh ra và lớn lên ở hải ngoại qua những bài học xã hội chủ nghĩa nói theo ngôn ngữ xã hội chủ nghĩa, để tách hai thế hệ này ra khỏi các thế hệ trước. Bởi, chúng rất thèm muốn được sử dụng khối nhân lực trí thức quí giá giúp chúng bảo vệ quyền lực, và sử dụng khối tài lực quan trọng giúp chúng gia tăng khối tài sản riêng tư.           
Đây là nguyên văn của mục tiêu 5:  
“Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, truyền thanh, và trên mạng internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh thiếu niên ngưởi Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi dấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hoá, văn học, nghệ thuật, triển lãm hội thảo, và du lịch về nguồn”. 
Trong mục tiêu này tôi chia ra 3 mục tiêu nhỏ:   
a. Giáo dục.
Đầu tiên họ nói “sẽ gia tăng đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, truyền thanh, và trên mạng internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt”.  
Thật ra thì ai cần học tiếng Việt đây? Lãnh đạo CSVN hay Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại? Bởi vì tiếng Việt mà lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước Việt Nam sử dụng, đã lai một thứ ngôn ngữ nào không ai biết. So với ngữ  nghĩa thông thường từ trong lịch sử dân tộc mà bao thế hệ ông cha đã sử dụng, hơn 50 năm cai trị đất nước, họ đã tráo nghĩa để thành một nghĩa khác, họ bẻ cong ngữ nghĩa theo điều mà họ gọi là văn hoá mới xã hội chủ nghĩa do họ sáng chế, và họ dám khoe là chính họ dựng nên nền văn hoá mới cho lịch sử nữa chớ!  
Đến sách giáo khoa mà họ nói là họ sẽ hoàn chỉnh. Chữ hoàn chỉnh mà lãnh đạo CSVN dùng ở đây, chắc không có cách nào hiểu khác hơn là họ sẽ đưa sách giáo khoa xã hội chủ nghĩa của họ in lại bìa cho sáng sáng một chút để đưa ra ngoại quốc xâm nhập vào Cộng Đồng tị nạn chúng ta đó quí vị à! Cái thứ sách giáo khoa mà lúc còn trong tù trên đất Bắc, tôi có đọc tập sách dạy lớp mẫu giáo trong đó chúng nó dạy rằng: “3 tên Ngụy chết cộng với 2 tên Mỹ chết, là 5”. Quí vị có thấy chúng nó đầu độc tuổi thơ về chế độ chính trị, về hận thù, về bắn giết một cách khủng khiếp không? Ngay từ tuổi lên bốn lên năm đã bị đầu độc như vậy cho đến tuổi thành niên, thử hỏi những thế hệ đó nhìn mọi người không cộng sản như thế nào, nếu Cộng Đồng tị nạn chúng ta tại hải ngoại cũng như thế giới văn minh không kịp giúp phần nào trong những thế hệ đó nhìn thấy mặt bên kia của cuộc sống, thì toàn bộ xã hội Việt Nam ngày nay ra sao! Mặt bên kia tức đối nghịch với xã hội xã hội chủ nghĩa mà trong đó tuổi trẻ trên quê hương Việt Nam luôn bị bịt mắt bịt tai bịt miệng.  
“Cũng là sách giáo khoa”. Vào cuối năm 1991, sau khi đến Hoa Kỳ vài tháng, tôi sang làm việc ở quận Cam, Nam California, cùng với cựu giáo sư Võ Hồng Lạc. Anh kể câu chuyện về bản thân Anh như thế này.  
“Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh là Hiệu Trưởng trường trung học Mạc Đỉnh Chi, Phú Lâm, Sài Gòn. Ngay sau đó, Anh chỉ là giáo sư sử địa vì chức Hiệu Trưởng có người từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa nhận rồi. Trước khi dạy, Anh cầm cuốn sử địa vào trình với Hiệu Trưởng bài giảng về sông Cửu Long. Theo sách giáo khoa xã hội chủ nghĩa thi sông Cửu Long có đoạn chảy ngang Sài Gòn, Anh bảo điều này không đúng nên Anh không thể dạy học trò được. Thế là tên bí thư chi bộ của trường phán một câu không thể tưởng tượng được cái mức độ đần độn của hắn. Câu mà hắn phán như thế này: “Sách giáo khoa đã do trung ương đảng duyệt, mà khi trung ương đảng duyệt thì tuyệt đối không có vấn đề sai sót”.  
Anh Lạc bèn làm đơn xin nghỉ việc. Lập tức Anh bị  qui tội chống đảng vì không thi hành lệnh đảng. Thế là anh Lạc tối tăm mặt mũi vì tự nhiên bị gắn cho cái tội chống đảng tuy Anh chưa biết tội này sẽ bị trừng phạt ra sao. Thôi thì xuống nước năn nỉ để được thất nghiệp còn hơn là mang cái tội chưa từng biết.  
Cái thứ sách giáo khoa xã hội chủ nghĩa mà lãnh đạo CSVN nói là sẽ mang ra dạy cho Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại để trở thành con người mới văn hoá mới xã hội chủ nghĩa, quí vị có chấp nhận không? 
Còn  “cử giáo viên ra hải ngoại giúp bà con học tiếng Việt” nữa chớ! Có thiệt không đây? Nếu lãnh đạo CSVN cần gởi giáo viên ra hải ngoại để nhờ Cộng Đồng tị nạn dạy những bài học thế nào là tiếng Việt chân chính thì rất nên, và trường hợp này Cộng Đồng tị nạn sẳn lòng dạy miễn phí. Vì chỉ riêng Cộng Đồng tị nạn tại Hoa Kỳ, đã có hằng mấy trăm trung tâm dạy Việt ngữ, chẳng những dạy cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại mà con dạy cho tuổi trẻ ngoại quốc nữa, nhất là tuổi trẻ Hoa Kỳ. Với lại, môn học Việt ngữ cũng đã và đang dần dần trở thành một môn học hệ thống giáo dục bậc trung học và đại học tại Hoa Kỳ, và mạnh nhất là trong hệ thống giáo dục tại Australia. Đó là bằng chứng cho thấy Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại rất quan tâm đến vấn đề dạy Việt ngữ cho những thế hệ sinh ra và lớn lên trên các quê hương thứ hai, đâu cần đến cái thứ giáo dục ngu dân của chúng.  
Vậy, CSVN nên gia tăng ngân sách giáo dục để xây dựng và  hoàn chỉnh toàn bộ sách giáo khoa thích hợp với nền nếp dân tộc, thích hợp với hoàn cảnh đất nước, thích hợp với khoa học kỹ thuật, và thích hợp với trào lưu dân chủ hóa toàn cầu. Đó là điều mà CSVN cần làm và phải làm. 
b. Nghệ thuật. 
Trong vế thứ hai, họ nói “sẽ tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế”. 
Thưa quí vị, quí vị có nghĩ là các cơ quan ngoại giao của CSVN có dám công khai tổ chức những trại hè mà họ nói trong NQ 36 không? Tôi suy đoán là họ không dám hành động công khai như vậy đâu, mà những trại hè đó nếu có, sẽ do những tên tay sai hay tổ chức tay sai tổ chức. Cũng có thể họ không có tay sai trong tổ chức mà họ muốn qua đó để họ đạt mục đích, họ sẽ làm như người tốt bụng nào đó bỗng dưng yểm trợ một khoản tiền đáng kể, rồi ra vẻ như vui miệng kèm theo một vài điều kiện mà ban tổ chức tưởng như chẳng có gì dính dáng đến chính trị, thế là nhận lời và nhần tiền. Vậy là trúng kế của họ rồi, vì khi nhận tiền thì nay họ thêm một ý kiến mai thêm một ý kiến theo ý họ, thế là mình thực hiện nhưng mục đích thì họ đạt. Cái gì chớ mưu mô mánh khóe láu lỉnh thì lãnh đạo CSVN là bậc thầy đó quí vị à! 
Lại nói đến mục tiêu như là “trao đổi giữa các lực sĩ cùng với những nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại và hải ngoại về trong nước”. Ở cái khoản này, quí vị cũng rõ là Cộng Đồng tị nạn hải ngoại chúng ta chưa có một vị hay một tổ chức nào -nói đúng là chưa có lãnh đạo- khả dĩ đủ tư cách để hoạch định chương trình chung cho bất cứ vấn đề gì, vì lẽ các tổ chức trong Cộng Đồng tị nạn chúng ta do tinh thần trách nhiệm mà tự phát hình thành. Trong khi CSVN nắm quyền hoạch định thời biểu, chỉ định các lực sĩ cũng như văn nghệ sĩ của họ, và giao nhiệm vụ cho từng cá nhân hay từng nhóm, trước khi ra hải ngoại xâm nhập Cộng Đồng tị nạn chúng ta mà họ gọi là phục vụ chúng ta, thì những văn nghệ sĩ hay lực sĩ trong Cộng Đồng tị nạn chúng ta hoàn toàn hành động riêng rẽ. Điều này tự nó không có gì để phàn nàn, điều đáng phàn nàn là khi về nước thì những cá nhân đó không thể nào hành động hoàn toàn theo ý mình được. Chỉ mong là những vị nào nhân danh văn nghệ sĩ hay lực sĩ trong Cộng Đồng tị nạn mỗi khi về thăm thân nhân, vui lòng đừng bao giờ quên cái bản chất lọc lừa dối trá của lãnh đạo CSVN, cũng đừng quên cái tư cách tị nạn chính trị của mình nhé!  
Còn những người do đảng với nhà nước CSVN chỉ  định ra hải ngoại làm gì? Thuần túy trình diễn nghệ  thuật hay tạo tiền đề cho sự xâm nhập Cộng Đồng tị nạn hải ngoại ở bước kế  tiếp, chuẩn bị vai trò nội ứng cho cuộc tổng tấn công như Tết Mậu Thân đầu năm 1968, hay mùa hè năm 1975 đây? 
c. Văn học.  
Đến vế chót trong mục tiêu 5 họ nói ”thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hoá, văn học, nghệ thuật, triển lãm hội thảo, và du lịch về nguồn”.
Nhớ  lại từ năm 1945 đến 1975 trên đắt Bắc, và  từ 1975 đến nay trên toàn cõi Việt Nam, đã đảo lộn luân thường đạo lý trong cấu trúc xã hội Việt Nam. Chúng ta hãy nghe bà Dương Thu Hương, nhà văn nữ chuyên nghiệp của CSVN đang định cư ở Pháp, đã chua chát pha lẫn đớn đau khi thốt lên rằng:
“Trong lịch sử, không có chế độ nào man rợ bằng chế độ cộng sản, một chế độ bắt con gái con dâu tố cáo cha hiếp dâm mình, một chế độ bắt vợ chồng, cha mẹ, anh em, con cái, chủ tớ, láng giềng, đấu tố lẫn nhau, giết hại lẫn nhau”'.
Cô  Song Chi, nữ đạo diễn xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đạo diễn cuốn phim “Nữ Bác Sĩ” mà đài truyền hình CSVN đã chiếu, cô được định cư tại Na Uy từ ngày 24/04/2009 sau thời gian bị Công An sách nhiễu đe dọa. Bài viết “Nỗi Buồn Mang tên Việt Nam” vừa là tâm sự vừa là nguyên nhân khiến cô quyết định rời khỏi quê hương đi tị nạn chính trị tại hải ngoại. Hai đoạn dưới đây trích từ bài viết đó:
“... Biểu tình bộc lộ lòng yêu nước và là một phản ứng tối thiểu cần phải có của một dân tộc trước họa xâm lăng rành rành trước mắt của một nước khác mà còn “không được phép”, còn bị ngăn cấm thì hy vọng gì biểu tình để phản kháng trước bất cứ chuyện gì là nguyên nhân gây nên sự phi lý, bất công trong xã hội, hoặc đụng chạm đến quyền tự do, dân chủ, quyền con người trong xã hội, hoặc kéo lùi tiến trình phát triển của đất nước và có hại cho vận mệnh của quốc gia, của dân tộc?
“… Chưa bao giờ trong lịch sử, những người lãnh đạo đất nước lại hèn nhát, bảo thủ  đến cùng như lúc này, thà mất nước chứ nhất định không chịu từ bỏ con đường sai, không chịu mất quyền lực.“  
Trên Diễn Đàn Dân Tộc Việt ngày 29/08/2009, có bài thơ không tên của nhà văn trong nước Trần Mạnh Hảo.  Dưới đây là vài đoạn trích trong bài thơ đó:  
“Tôi yêu Tổ Quốc tôi mà bị bắt! ... Tổ Quôc là con giun đang bị séo quằn. Giặc chiếm Hoàng Sa Trường Sa. Biển Đông bị bóp cổ ... Hồng Hà Cửu Long giẫy dụa thở ra máu. Tuổi trẻ mít tinh đả đảo Trung Quốc xâm lược! Sông Bạch Đằng tràn lên phố biểu tình, sông Bạch Đằng bị bắt. Ải Chi Lăng theo Tuổi Trẻ xuống đường, ải Chi Lăng bị bắt. Gò Đống Đa nơi xương giặc vùi xương, sẽ bị bắt nếu biểu tình chống giặc! Có nơi đâu trên thế giới này, như Việt Nam hôm nay. Yêu nước là tội ác, biểu tình chống ngoại xâm bị Nhà Nước bắt? Các anh hùng dân tộc ơi! Ngô Quyền ơi Trần Hưng Đạo ơi! Nếu sống lại các ngài cũng sẽ bị bắt! ...” 
Vậy thì ai cần giao lưu văn hoá đây? Ai cần phục vụ  văn hoá đây? Văn hoá mà lãnh đạo CSVN nói  đến là thứ văn hoá lộn đầu, văn hoá  nói ngược, văn hoá đểu, văn hoá dối trá,  nói thế này phải hiểu thế khác. Chất thật thà trong sáng trong văn hóa truyền thống dân tộc từ ngàn xưa, đã bị giáo dục của CSVN làm băng hoại tất cả, để du nhập từ cộng sản quốc tế cái gọi là “con người mới văn hoá mới xã hội chủ nghĩa” vào xây dựng một xã hội mà mọi người sống với nhau bằng lọc lừa dối trá theo đúng bản chất của chế độ độc tài. Vì trong xã hội xã hội chủ nghĩa có cái gì tốt đẹp đâu, nên chúng phải tuyên bố dối, nói dối, làm dối, báo cáo dối, chẳng những dối với mọi người mà dối cả chính bản thân của chúng nữa. Cộng Đồng Tị Nạn Hải Ngoại đâu có cần thứ văn hoá đó mà đòi giao lưu. Trái lại, Cộng Đồng Tị Nạn Hải Ngoại sẳn sàng dạy cho chúng những bài học vỡ lòng về văn hoá dân tộc, và tất cả đều miễn phí, không cần phải giao lưu gì cho tốn công tốn của mà chỉ cần học xong mang về ứng dụng là được rồi.      
Nếu bây giờ lãnh đạo CSVN trở nên hiền lành tốt bụng, biết lo cho dân cho  nước thì chịu khó xem lại đống sách tịch thu của xã hội Việt Nam Cộng Hòa cũ, may ra còn sót lại cuốn nào sau khi thiêu hủy như hành động của vua Trung Hoa Tần Thỉ Hoàng, hãy đem ra ấn loát và đưa vào sử dụng trong hệ thống giáo dục, giúp xã hội Việt Nam khôi phục lại nền nếp văn hoá dân tộc ngày xưa đi. Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại đâu cần cái thứ văn hoá xã hội chủ nghĩa đó mà giao lưu. Điều quan trọng trước mắt là sử dụng ngân khoản đó chăm lo cho lớp trẻ trong nước có điều kiện đến trường, vì tuổi trẻ ở các bậc trong hệ thống giáo dục Việt Nam bỏ học ở tỷ lệ khá cao do gia đình không đủ sống nên các con của họ phải ở nhà phụ giúp cha mẹ. Bằng chứng:  
(1) Theo báo trong nước, tờ Lao Động ngày 14/08/2007 và tờ Tia Sáng ngày 20/08/2007 đăng bài viết của giáo sư Hoàng Tụy, ông là một trong những trụ cột giáo dục Việt Nam. Ông viết ”.. Số lượng học sinh năm 2000 là 9.700. 000nhưng đến năm học 2004 chỉ còn 7.800.000 trong khi dân số gia tăng hằng năm”. Điều này tự nó nói lên tình trạng bỏ học đáng quan ngại, vì số học sinh chẳng những không tăng theo tỷ lệ dân số tăng, mà lại giảm gần 2 triệu học sinh!  
 (2) Theo giáo sư Dương Thiệu Tống, cũng là một trụ cột giáo dục, cho báo Pháp Luật biết: “Ông không ngạc nhiên khi thông báo của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo (CSVN) có hơn 100.000 học sinh trung học phổ thông bỏ học, vì đó là điều tất yếu của quan điểm sai lầm về giáo dục”. Ngoài nguyên nhân quan điểm sai lầm, hệ thống giáo dục quá nặng trong khi thiếu giáo viên một cách trầm trọng, song song đó là thiếu ngân sách nên buộc học sinh phải đóng học phí mà là học phí quá cao dưới những tên gọi khác nhau dù chính sách giáo dục trung học là cưỡng bách.         
3. Phản công trong bình tĩnh.  
“Văn hoá mới” của CSVN là thứ văn hoá lọc lừa dối trá, vì trong xã hội xã hội chủ nghĩa có cái gì tốt đẹp đâu nên phải dùng những nhóm chữ thường gọi là “mỹ từ hấp dẫn” thoạt nghe y như thậy vậy, để che giấu mặt trái của chúng. Đó là cái mặt trái gian trá. Kinh nghiệm trong mấy chục năm CSVN cai trị toàn cõi Việt Nam, đã đủ cho chúng ta nhận ra rằng, “chúng nó nói với làm hoàn toàn trái ngược nhau”, đúng câu nói để đời của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”. Cho nên khi chúng nói “giúp thế hệ trẻ ở nước ngoài”, phải hiểu là chúng xâm nhập vào Cộng Đồng tị nạn để đầu độc con cháu chúng ta trong mục đích tuân phục chúng đó quí vị à! 
Với một chút kinh nghiệm do tham khảo tài liệu, với một số nhận thức trong cuộc sống trong nhà tù nhỏ (4 trại tập trung) và trong nhà tù lớn (xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam), tôi trình bày ở trên một số ước tính hành động của CSVN khi chúng thực hiện mục tiêu 5 về văn hoá giáo dục trong NQ 36 của chúng để xâm nhập vào Cộng Đồng chúng ta.     
Vậy, xin quí vị nhất là quí vị trách nhiệm lãnh đạo Cộng Đồng, thật bình tâm theo dõi những sự kiện dù lớn dù nhỏ xảy ra trong Cộng Đồng chúng ta liên quan đến những lớp học Việt ngữ cho tuổi trẻ, và phân tách những diễn biến để có kết luận “đó có phải là CSVN xâm nhập hay không?” Nếu phải, Cộng Đồng đối phó ngay. Chúng ta luôn luôn trong thế công khai chủ động, trong khi chúng nó lúc nào cũng lén lút thụ động, nhưng mọi hành động của chúng ta phải hết sức thận trọng để tránh tình cảnh “người chống cộng chống lại người chống cộng”, do chúng nó gài bẫy những người chống cộng một cách nóng vội, thiếu cân nhắc, như thể “mình là người chống cộng hơn những người khác”.        
4. Kết luận.
Điều mà CSVN rêu rao như thể Cộng Đồng chúng ta dưới quyền khống chế của chúng, nhưng thật ra chúng nó đã và đang tìm mọi khe hở trong sinh hoạt của chúng ta để xâm nhập vào mà đánh phá, đồng thời dụ dỗ thế hệ trẻ con cháu chúng ta phục vụ cho chúng dưới mỹ từ “phục vụ đất nước”.
Nếu chúng thực hiện NQ 36 về giáo dục tại hải ngoại, thể nào cũng gây cho chúng ta một số khó khăn nào đó, vì trong Cộng Đồng tị nạn cộng sản cũng có những người vì lợi lộc gì đó mà quên những cảnh CSVN thảm sát người vượt biên vượt biển cam tâm làm tay sai cho chúng, hoặc thiếu thận trọng nên bị chúng khống chế. Nhưng rồi chúng cũng thất bại như đã từng thất bại tại hải ngoại, mà thất bại lớn nhất của CSVN là những lãnh đạo của chúng mỗi khi đến các quốc gia có tổ chức Cộng Đồng chúng ta, đều phải giấu diếm lẫn trốn chớ không dám đương đầu trước sức phản kháng mạnh mẽ của Cộng Đồng tị nạn về những tệ hại trên quê hương Việt Nam dưới sự cai trị độc tài tàn bạo của chúng.       
Rõ ràng là CSVN sợ chúng ta chớ chúng ta đâu có gì phải sợ chúng, vì chúng ta là ánh sáng trong khi CSVN là bóng tối. Bằng chứng là CSVN tung tin thiết lập tòa tổng lãnh sự của chúng tại Houston từ năm 2008, và mới nhất là chúng loan tin Nguyễn Tấn Dũng sẽ khánh thành cơ sở ngoại giao vào hạ tuần tháng 9 này (2009), nhưng hôm nay là 07/09/2009 chúng vẫn che giấu địa điểm chớ đâu dám công khai.
Vậy, xin quí vị quí bà con trong Cộng Đồng chúng ta tị nạn cộng sản trên khắp thế giới luôn luôn bình tâm, nhưng phải để ý những cá nhân những tổ chức có từ lâu hoặc “mới mọc” lên liên quan đến những lớp học Việt ngữ hoặc chuyên môn nào đó dành cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại, đế kịp thời phối hợp với Cộng Đồng tố cáo chúng, và diệt trừ chúng.
Xin nhắn riêng với những ai trong Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại Houston đã “trở lại quốc tịch Việt Nam cộng sản”. Khi tòa tổng lãnh sự CSVN tại đây hoạt động, cầm chắc là chúng nó sẽ moi mỹ kim trong túi quí vị với muôn vàn lý do khác nhau đấy nhé! Miễn chiếu khán nhập cảnh, nhưng quí vị sẽ hai tay nộp tiền cho chúng nó, hết “bổn phận công dân cộng sản” đến sự kiện nhân đạo này rồi sự kiện nhân đạo khác, mà chỉ có Trời với chúng mới biết tiền đó sau khi rời túi quí vị sẽ vào túi ai. Chưa hết đâu, mỗi khi có cấp lãnh đạo cao thấp của chúng đến Houston, quí vị phải đi đón đó nghe!
Houston, ngày 7 tháng 9 năm 2009
(bài này trích trong bài “Tổng Phản Công NQ 36 của CSVN, bổ túc và hoàn chỉnh mới nhất)


http://www.vietquoc.org/modules.php?name=News&file=article&sid=1001

Tháng Tư Đen :Hậu duệ VNCH không tha-lột mặt nạ các nhóm Tăng lữ Việt cộng và tay sai nhóm Ấn Quang

Quốc Hận 39 Năm, Hậu duệ VNCH lột mặt nạ các ông Võ Văn Ái, Thích Quảng Độ, Thích Trí Quang, và nhóm Tăng lữ Việt cộng và tay sai tức là (GHPGVNTN)

 


Nhân dịp Tháng Tư Quốc Hận 39 Năm, Hậu duệ VNCH nhận được bản Thông Cáo Báo Chí ngày 22.4.2014 do ông Võ Văn Ái, Phát Ngôn Nhân của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), phổ biến từ Paris.
Trước hết, xin nói rõ về vị thế của GHPGVNTN hiện nay: Kể từ 30-8-2013 ngày mà ông Thích Quảng Độ ra thông báo từ chức Tăng Thống GHPGVNTN rồi chưa đầy 72 tiếng đồng hồ sau đó thì đáo chức trở lại, kéo theo hàng loạt sự kiện các tăng lữ trong nội bộ GHPGVNTN tố cáo nhau về các vấn nạn tà dâm, vọng ngữ, và tranh giành tiền cúng dường của Phật tử, đến hôm nay thì tổ chức GHPGVNTN đã hoàn toàn tàn lụi về mặt nhân sự và danh dự.

Chịu chung số phận thê thảm này là Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế tức cơ quan phát ngôn chính thức của GHPGVNTN. Giờ đây những lời phát ngôn của ông Võ Văn Ái cũng chẳng còn chút giá trị gì đối với công luận. Hậu duệ VNCH sẽ chẳng cần quan tâm nếu như TCBC ngày 22.4.2014 ông Nguyên Thái không có những lời lẽ xấc xượt, nhục mạ chính thể Việt Nam Cộng Hòa. (Nguyên Thái cũng chính là bút danh của ông Võ Văn Ái).
Bài phân tích này sẽ không lập lại những lời lẽ bóp méo sự thật của ông Nguyên Thái Võ Văn Ái về VNCH. Mục đích của bài phân tích này nhằm trả lại sự thật và danh dự cho VNCH. Xin trình bày tài liệu dẫn chứng nhằm lột mặt nạ ông Võ Văn Ái và GHPGVNTN ra trước công luận để thấy rõ thực chất họ là ai?
Vào ngày 20-10-1974 trong lúc các chiến sĩ VNCH đang ngày đêm đổ máu xương chống đỡ lại làn sóng xâm lăng của Cộng sản, thì kẻ ngoại nhập Thích Quảng Độ đã điên cuồng quyết tâm giật sập VNCH cho bằng được. Chính Thích Quảng Độ đã tuyên bố sặc mùi cộng sản trên tờ Washington Post như sau:
"Quang Do said that in case recalcitrance by Thieu, there could be direct An Quang Buddhists action soon or next year some time." "If he is not willing to go, then he will be pulled down." 
Lược dịch: Quảng Độ nói rằng nếu Thiệu ngoan cố không từ chức, thì nhóm Ấn Quang sẽ có hành động trực tiếp lôi ông ta xuống. Xem đầy đủ tài liệu Anh ngữ khác về những dã tâm và mưu đồ có sắp đặt của Thích Quảng Độ trong việc lật đổ Việt Nam Cộng Hòa: http://hoilatraloi.blogspot.com/2012/11/nhung-ieu-nen-biet-thich-quang-o-va.html#.U1cPgVcvnkc
Thiệu ở đây là Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu do dân bầu lên. Chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào năm 1974 là chính phủ hợp pháp. Còn Thích Quảng Độ là ai? Thích Quảng Độ xuất thân là một công dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của chính phủ Hồ Chí Minh. Điều đáng nói là trường hợp của Thích Quảng Độ không phải là trường hợp tị nạn Cộng sản như đồng bào miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954. Trong lúc đồng bào miền Bắc trốn chạy Cộng sản, có người không toàn mạng, thì Thích Quảng Độ đã được chính phủ Cộng sản Hà Nội đưa đi du học qua Ấn Độ. Sau đó, vào năm 1958 thì Thích Quảng Độ xâm nhập vào Việt Nam Cộng Hòa và làm phụ tá đặc biệt cho Thích Trí Quang trong các hoạt động lật đổ chính phủ VNCH cho đến tận ngày 30-4-1975. Vậy thì Thích Quảng Độ đích thực là ai? Hành tung của Thích Quảng Độ sau 39 năm vẫn còn bị cố tình làm cho lập lờ hòng lừa bịp thiên hạ. Vào ngày 30-8-2013, khi ánh sáng sự thật đang soi rọi về hành tung của Thích Quảng Độ thì Thích Quảng Độ... tự đốt cháy chính mình: Bằng một cuộc từ chức "vô tiền khoáng hậu" và đáo chức cũng "vô tiền khoáng hậu" để phơi bày ra một bộ mặt tham, sân, si, và độc ác đến bất ngờ. Thế nhân ngỡ ngàng và ngoảnh mặt vì quá khinh miệt một kẻ tà tu.

Tháng Tư, mùa Quốc Hận lại về, Quốc Hận 39 Năm, Hậu duệ VNCH lột mặt nạ các ông Võ Văn Ái, Thích Quảng Độ, Thích Trí Quang, và nhóm Tăng Lữ Việt cộng và tay sai tức là Nhóm Ấn Quang (GHPGVNTN), nhằm trả lại sự thật cho lịch sử và danh dự cho Việt Nam Cộng Hòa:

Thích Hộ Giác (1928-2012), năm 1966, hoạt động sát cánh Thích Trí Quang thề lật đổ cho được Việt Nam Cộng Hòa. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã viết thư gởi Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam để nhờ chuyển thông điệp của Chính phủ Hoa Kỳ đến Thích Trí Quang và GHPGVNTN rằng: Tổng Thống Hoa Kỳ cho biết nếu Thích Trí Quang và GHPGVNTN cố chấp mà tiếp tục theo hình thức vô trách nhiệm và theo đường lối phá hoại quốc gia VNCH, không những họ sẽ đánh mất mối thiện cảm công khai và chính thức mà Hoa Kỳ dành cho họ từ trước đến nay, mà có thể họ còn tạo nên tình hình hỗn loạn và vô chính phủ ở Nam Việt Nam. Điều này sẽ làm cho sự hỗ trợ của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa không còn hiệu quả nữa.

Chúng tôi đăng tải tài liệu I & II sau đây được trích dẫn từ website của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Mỗi bản dịch Việt ngữ được kèm theo một nguyên bản Anh ngữ bên dưới.

Xin đọc bức Công Điện của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Ông Dean Rusk gởi cho Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn thì sẽ thấy Chính phủ Hoa Kỳ muốn gì, và lời lẽ vừa nhục mạ vừa răn đe Thích Trí Quang cùng nhóm tăng lữ Việt cộng và tay sai tức nhóm Ấn Quang (cầm đầu bởi Thích Trí Quang và Thích Quảng Độ) thì sẽ thấy bọn chúng nhục nhã đến mức nào:

I- Điện Tín của Bộ Ngoại Giao gởi Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam[1]

Washington, ngày 16 tháng 3 năm 1966, lúc 4 giờ 13 phút chiều

2763. Tuyên bố của Thích Hộ Giác, được báo cáo bởi UPI (United Press International) cam đoan rằng Phật giáo sẽ chiến đấu đến “giọt máu cuối cùng và hơi thở cuối cùng” để đạt được yêu sách 4 điểm, trong đó việc loại trừ chính phủ VNCH hiện tại, được nhấn mạnh là yêu sách hàng đầu. Chúng ta, chính phủ Hoa Kỳ phải tìm cách làm cho Phật giáo hiểu rằng, với việc chính phủ Hoa Kỳ tham gia sâu vào việc bảo vệ quốc gia của họ chống lại sự thôn tính của Cộng sản, không có nghĩa là chỉ để ủng hộ chính phủ và quân đội của họ, đây không phải là thời gian để Phật giáo đập đổ mọi thứ và làm hỏng những nỗ lực mà đã bắt đầu có hiệu quả. Hơn nữa, Hoa Kỳ cũng như chính phủ Nguyễn Cao Kỳ cam kết sẽ tập trung thúc đẩy kinh tế và các tiến bộ xã hội mà Phật giáo cũng luôn nói như vậy. Nhưng những điều này không thể thành tựu qua đêm và chắc chắn sẽ không bao giờ đạt được nếu như Việt cộng chiếm Miền Nam. Ngoài ra, nếu thay đổi chính phủ thì những thành tựu của Việt Nam sẽ không được thúc đẩy nhanh hơn mà ngược lại sẽ chỉ làm cho chậm trễ thêm mà thôi.

Phật giáo phải được cho biết rằng trách nhiệm của chính phủ Hoa Kỳ về việc tiếp tục giúp đỡ người Việt Nam chống cộng và phát triển quốc gia tùy thuộc rất nhiều vào việc họ phải sẵn sàng dẹp bỏ sự khác biệt giữa họ với nhau và phải hợp tác với nhau.
Trong quyết định của Đại Sứ, ông có toàn quyền truyền đạt cho Thích Trí Quang cũng như các tổ chức Phật giáo khác và các người lãnh đạo các tổ chức này mà ông thấy cần thiết, rằng quan điểm của Tổng Thống Hoa Kỳ là, nếu họ tiếp tục việc phá hoại và vô trách nhiệm như hiện nay, thì không những họ sẽ mất thiện cảm của công luận và chính quyền Hoa Kỳ mà trước đây họ đã có, mà họ sẽ làm cho tình trạng hỗn loạn và vô chính phủ trầm trọng hơn lên, trong đó sự hỗ trợ của chính phủ Hoa Kỳ cho Việt Nam sẽ không có hiệu lực nữa. Tổng Thống Hoa Kỳ hy vọng rằng Phật giáo sẽ thể hiện điều này, rằng không những chỉ có những người yêu nước Việt Nam quan tâm đến vận mệnh của quốc gia mình mà những người lãnh đạo tôn giáo cũng phải biết quan tâm đến vận mệnh của các tín đồ của họ và những giáo lý mà họ cho là họ đại diện.
Rusk Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ [1] Dean Rusk, 16.3.1966. Telegram from the Department of State to Embassy in Vietnam



II- Những nhận xét của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về vụ Phản loạn Miền Trung do Thích Trí Quang cầm đầu:

Những quan hệ ngoại giao, 1964-1968[2]

Giờ đây một phần tử mới và nguy hiểm hơn đã nhảy vào cuộc. Những tên tu sĩ chính trị Phật giáo và những phần tử có thế lực mạnh ở Quân Đoàn I bây giờ đang bắt đầu gây rối cho chính phủ, dùng việc Nguyễn Chánh Thi bị loại trừ như là cái cớ và là điểm để khởi động tấn công. Những phần tử này trước đây đã nằm yên một thời gian. Họ không có tình cảm gì với chính phủ Kỳ nhưng cũng không căm ghét như lúc ban đầu. Tuy nhiên, chính phủ thì không có lợi cho những mệnh lệnh của họ. Rõ ràng rằng họ đã thấy tình hình chính trị mới ở Quân Khu I là một cơ hội để làm áp lực lên chính phủ, hy vọng rằng chính phủ phải thay đổi theo đúng hình thức mà họ muốn hoặc giả phải thay bởi một chính phủ khác mà họ thích.

[2] Foreign Relations, 1964-1968, Volume IV. http://history.state.gov/.



Nguyên Bản Anh Ngữ:





III- Biểu Tình Chiến Lược

Khi những cuộc biểu tình hoành hành dữ dội, nhóm tăng lữ Việt cộng và tay sai tức nhóm Ấn Quang công khai tuyên bố rằng chính họ đứng sau lưng tình trạng gây náo loạn này. Những lãnh đạo hàng đầu là Thích Trí Quang (hình dưới), người tạo ra việc lật đổ Tổng Thống Diệm, Thích Tâm Châu (phải) và Thích Thiện Minh (phía xa phải, trùng tên với TT Thích Thiện Minh ở Bạc Liêu). Trang kia, Thích Hộ Giác tuyên bố với đám đông rằng những cuộc biểu tình trong tương lai sẽ được nhóm Ấn Quang lên kế hoạch một cách chiến lược.

IV- Thành lập Đảng Chính Trị Phật Giáo 
Thích Hộ Giác từng thành lập Đảng chính trị Phật giáo (*) (a Buddhist political party) mang tên "Vietnamese Buddhist Force" và giữ chức Phó Chủ Tịch đảng này. 

King,  S., & Queen, C. (Eds.). (1996). Engaged Buddhism: Buddhist Liberation Movements in Asia. New York: State University of New York.

Trên đây là một số tài liệu cho thấy vai trò của Thích Hộ Giác cũng như sức công phá của nhóm Phật giáo VNTN trong cuộc chiến Quốc Cộng vừa qua.

Một dữ kiện gần đây, 2008, cho thấy nhóm Thích Hộ Giác và Võ Văn Ái lập lờ tuyên bố trước quốc tế rằng GHPGVNTN "là đại diện của hơn 2 triệu người Việt Nam theo đạo Phật ở 70 quốc gia khắp thế giới." (Xem phần Anh ngữ highlight màu vàng).
Điều nghịch lý là hầu hết đồng bào tị nạn CS là công dân của hai chính thể VNCH. Xét qua hoạt động của tổ chức GHPGVNTN chống VNCH có hệ thống, vậy thì do đâu mà họ lại có thể lập lờ tự nhận làm đại diện cho hơn 2 triệu công dân VNCH tị nạn CS ấy? Câu trả lời là: Do bản chất của họ chỉ là một nhóm Tà Tăng còn quá nặng lòng Tham, Sân, Si và do tâm địa chính trị lưu manh của ông Phát Ngôn Nhân GHPGVNTN Võ Văn Ái.

QUEME - 9.5.2008
"Representing a community of over 2 million Vietnamese Buddhists in 70 countries all over the world, the Most Venerables Thich Ho Giac (USA), Thich Thien Tam (Canada), Thich Tri Minh (Europe), Venerable Thich Phuoc Nhon (Australia) and UBCV International spokesman Vo Van Ai sent a letter to UN Secretary-general Ban Ki Moon urging him to seize the opportunity of the UN-sponsored international Buddhist celebration to make this gesture."
http://www.queme.net/eng/news_detail.php?numb=1004

Kết Luận:
Bốn tài liệu trên và rất nhiều nguồn tài liệu đã bạch hóa liên quan Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Lịch sử là lịch sử. Không ai có khả năng đổi tội ác thành ra công trạng. Tội ác của nhóm Tăng lữ Việt cộng và tay sai tức nhóm Ấn Quang (GHPGVNTN) qua những phát ngôn bất lương bóp méo lịch sử của Võ Văn Ái: Trời sẽ không dung, đất sẽ không tha, và lịch sử sẽ ghi lại cho muôn đời sau tường tận.

Bài Xem Nhiều