We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 27 April 2014

30-4: Nhìn Vượt Qua Một Ước Mơ Tan Vỡ

Nhìn Vượt Qua Một Ước Mơ Tan Vỡ

Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gởi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng
mộng bình yên
(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)


Có ai trong chúng ta còn nhớ giấc mộng thanh bình và quê hương sông Đuống của Hoàng Cầm? Gần 40 năm kể từ ngày đất nước thống nhất, ước mơ về một quê hương thanh bình, ấm no, hạnh phúc đã vuột khỏi tầm tay của người dân cả hai miền. Những ngày hội hoa đăng với áo the, guốc mộc và nụ cười như mùa thu toả nắng của cô hàng xén vẫn cứ mãi là giấc mơ của Hoàng Cầm. Thi sĩ mất năm 2010, còn chúng ta sau chiến tranh non nửa thế kỷ vẫn đứng mãi bên bờ sông mà nhớ tiếc!

Khi ước mơ tan vỡ, nó phải được nhận biết để khởi đầu cho một hy vọng mới.

Một cuộc chiến với quá nhiều hy sinh để đổi lấy một đất nước nghèo khó, phân hoá, băng hoại về mọi mặt thì phải can đảm nhìn nhận rằng cuộc chiến đó vô nghĩa, tiêu phí xương máu dân tộc. Ngày 30 tháng 4 lại đến, thành phố lại treo đầy cờ hoa để mừng chiến thắng, nhưng có lẽ điều cần thiết phải nhớ là ước vọng của những người đã ngã xuống trong cuộc chiến này. Máu xương của họ không đổ ra cho một ngày hoà bình nhưng lại đầy tiếng rên xiết của dân oan, một đất nước tham nhũng tràn lan, và một tổ quốc đang mất dần từng phần vào tay ngoại bang. Xin nhớ đến họ để những ước vọng, hoài bão của họ được tiếp tục sống nơi chúng ta, và chúng ta sẽ can đảm nhận diện mình để bắt đầu từ một điểm khởi hành mới.

Ông Võ Văn Kiệt đã phát biểu một câu phản ảnh sự hối hận cuối đời: “ngày 30 tháng 4 có triệu người vui, cũng có triệu người buồn”. Trong triệu người buồn, đâu chỉ có riêng người dân miền Nam; có nhà văn Dương Thu Hương ngỡ ngàng ngồi khóc bên lề đường khi thấy phần đất nước Miền Nam văn minh trù phú; có nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đau đớn khi cánh cửa tự do của miền Nam vừa đóng sập tức tưởi. Trong triệu người vui, lại cũng có cả những người Miền Nam - trong nỗi buồn của kẻ thua cuộc, vẫn dấy lên niềm hy vọng cho quê hương: “… Dù sao cũng hết chiến tranh rồi. Chủ nghĩa nào cũng vậy miễn dân mình được sống trong hoà bình để bắt đầu dựng xây lại cuộc đời.”

Cứ mỗi năm khi ngày 30/4 đến, nó lại nhắc chúng ta cái ước mơ cháy bỏng của cả một dân tộc. Ngoài một thiểu số cố tình lợi dụng, cuộc chiến khốc liệt với tất cả những hy sinh của người dân hai miền đều phát xuất từ tấm lòng thiết tha với tiền đồ của tổ quốc. Dù bên nào thắng hay thua thì đều chẳng còn ý nghĩa gì khi mà gần 40 năm sau biến cố 30/4, rõ ràng cả dân tộc Việt Nam đã thua lớn! Ngày 30/4 phải là một mốc điểm để nhìn lại xem chúng ta đã mất những gì?

Chúng ta đã mất một miền Nam trù phú và phát triển. Chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu năm 1970 đã có lời kêu gọi cả 2 miền hãy ngừng chiến tranh và thi đua phát triển. Giả thử lời kêu gọi đó được đón nhận và thực hiện, có xác suất cao là Nam Việt ngày nay đã vượt trội Nam Hàn. Ngay tại thời điểm 1975, Nam Việt đã hơn hẳn Nam Hàn trong khá nhiều lãnh vực. Cụ thể trong ngành sản xuất, lắp ráp xe hơi thì xe LaDalat của ta đã đi trước Hyundai từ 5 đến 10 năm. Các ngành nuôi gia súc kỹ nghệ, sản xuất trồng cây trái kỹ nghệ, rồi kỹ nghệ dệt, kỹ nghệ hàng tiêu dùng từ giấy viết cho đến kem đánh răng Perlon, bột ngọt Vị Hương Tố, bia 33, v.v … đều đang trên đà phát triển. Về hạ tầng kinh tế ta đã có các hãng xuất nhập cảng tư nhân, các hãng vận chuyển đường bộ và đường biển, rồi các ngân hàng tư nhân bên cạnh các ngân hàng quốc gia, đặc biệt là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp…

Về hệ thống chính trị, pháp luật và các quyền con người đã khá đầy đủ và vận hành đúng nghĩa trong xã hội. Từ các cuộc bầu cử đến tam quyền phân lập, các quyền tự do báo chí, tự do đi lại, tự do lập hội… được tôn trọng. Quyền công dân được quy định rõ ràng, cụ thể như cảnh sát không được quyền giữ dân quá 24 tiếng nếu không tìm được bằng cớ phạm tội, v.v...

Chính quyền miền Nam tin rằng việc cải cách ruộng đất là chiến lược quan trọng để tăng cao sản xuất nông nghiệp. Chính sách Người Cày Có Ruộng được ban hành vào năm 1970, trao quyền sở hữu đất vào tay nông dân, đã giúp cải thiện đáng kể đời sống nông thôn nói riêng, và cả nước nói chung. Về giáo dục, hệ thống giảng dạy và giáo dục miền Nam đã đạt mức hữu hiệu và uy tín đủ để các đại học quốc tế công nhận các bằng cấp tương đương.

Điều đáng nhấn mạnh là tất cả những thành quả trên đã đạt được, dù đất nước đang trong thời chiến tranh gay gắt. Nghĩa là một phần thành quả đáng kể đã bị chiến tranh phá nát. Cụ thể như những cây cầu xây cả năm trời nhưng chỉ dùng được vài tháng đã bị đặc công Miền Bắc đặt mìn phá hủy, ...

Từ góc nhìn của cả dân tộc, thật đáng tiếc nuối khi mọi thành quả đầy mồ hôi nước mắt đó đã bị đạp đổ, san bằng hoàn toàn để "xây dựng xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa". Cho đến nay dù đã gần 40 năm sống trong hòa bình, cả nước vẫn chưa phục hồi lại nổi lãnh vực nào cho bằng với Miền Nam thời 1975, chứ đừng nói gì đến việc bắt kịp thế giới đã tiến ồ ạt suốt từ ấy đến nay.

Nhưng cái mất đớn đau nhất vẫn là những mất mát biển đảo và những phần đất xương thịt của quê hương mà có thể là vĩnh viễn. Bên cạnh đó, cái mất nguy hiểm hơn nữa là sự biến mất gần hết niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm đối với tổ quốc. Mọi người con dân Việt nay được huấn luyện thuần thục để chỉ tập trung lo cho mình và gia đình mình; còn mọi chuyện khác hãy để cho lãnh đạo muốn làm gì thì làm.

Ai cũng biết nguyên nhân của tất cả các mất mát và hiểm họa nêu trên đến từ đâu, nhắc lại cũng bằng thừa. Nhưng chính sự xem là thừa đó lại làm chúng ta quen dần và xem tình trạng hiện nay là "bình thường". Chúng ta như những người đi lạc, run sợ, thoái thác trước mọi suy tư và quyết định, để mặc cho một nhóm tham quan và những biến cố bên ngoài quyết định chuyện đất nước mình.

Ngày hôm qua chỉ là cái bóng, nhưng nếu không đặt thành vấn đề và tính đến chuyện đổi thay tình trạng hiện nay, liệu năm, mười năm nữa chúng ta còn quyết định được gì không? Nhiều người đã trăn trở với câu hỏi đó và đã chọn lựa. Họ phải sống vì xương máu của các thế hệ cha ông đã đổ ra để gìn giữ đất nước này, họ dấn thân để tương lai các thế hệ Việt Nam không phải sống trên "đất Tàu". Họ là những Điếu Cày, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Quang A, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Đan Quế, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Xuân Nghĩa, và nhiều nhiều người can đảm khác nữa. Và ngay lúc này giữa thủ đô Hoa Thịnh Đốn là sự lên tiếng của những luật sư Nguyễn Đình Hà, nghệ sĩ Kim Chi, ký giả Ngô Nhật Đăng, blogger Tô Oanh, phóng viên Anthony Lê, blogger Nguyễn Tường Thuỵ, những người đã vượt nhiều trắc trở đến Mỹ để vận động cho quyền tự do báo chí tại Việt Nam.

Khi được hỏi liệu khi trở về nước, gặp khó khăn với nhà cầm quyền thì anh cảm thấy thế nào, người bạn trẻ Nguyễn Đình Hà đã trả lời: “Em không hề lo sợ, nếu lo sợ thì đã không đặt chân đến nước Mỹ. Còn khi về nước thì bất chấp mọi khó khăn, em vẫn quyết vì một VN tốt đẹp hơn”

Những ước mơ tươi đẹp đó xứng đáng là những ước vọng của tất cả chúng ta, đặc biệt trong ngày 30/4 năm nay.

Xin hãy tìm tay nhau, cùng can đảm bước tới. Những dân tộc khác đã khởi hành từ lâu.
Nguyệt Quỳnh

Tháng Tư Vì Đâu? : 39 năm Dấu Tích Thương Đau...tháng 4 lại về (23)

Tháng Tư Vì Đâu?


Tháng tư, tháng tư, tháng tư... Vì sao Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ trong tháng 4-1975?Có phải vì thiếu viện trợ? Đúng vậy, Hoa Kỳ giảm quân viện từ từ, vì Quốc Hội Mỹ không hài lòng tham chiến nữa.

Có phải vì sơ suất chiến lược của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh di tản cao nguyên đã làm tán loạn hàng ngũ quân lực VNCH? Đúng vậy, đó là nhận định của bản đúc kết thông tin tình báo của chính phủ Mỹ nêu ra tuần trước ở trang báo này.

Nhưng trong tận cùng, vì nhà nước Hoa Kỳ là nhà nước của ý dân Hoa Kỳ, có nghĩa là, yếu tố lớn nhất: dân Mỹ không muốn dính vào Cuộc Chiến VN nữa.

Những người đã từng sống ở Mỹ, tất thấy rằng cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq dai dẳng đã làm nhiêù người dân kêu gọi rút quân, cho dù là thời này không còn chế độ quân dịch ở Mỹ nữa, và cho dù là bây giờ quân đội Hoa Kỳ hoàn toàn là lính tình nguyện và tử vong cũng ít hơn thời Cuộc Chiến VN cũng đã làm người dân Mỹ mệt mỏi...

Có nhiều yếu tố để thấy rằng dân Mỹ không kiên nhẫn với Cuộc Chiến VN nữa.

Thứ nhất là, Trung Quốc bắt tay hòa với Mỹ, và cam kết không có chuyện domino dây chuyền.

Thứ nhì, quan trọng hơn: kinh tế Mỹ mệt mỏi rồi: cạn tiền, dầu cạn, phản chiến tăng, lạm phát tăng, thất nghiệp tăng... thế là dân Mỹ nổi giận.

Tình hình nước Mỹ cạn tiền xảy ra trong thời 1970-71 (xem:
http://en.wikipedia.org/wiki/Bretton_Woods_system). Vào năm 1970, Hoa Kỳ thấy trữ kim vàng cho đồng đôla sụt giảm từ 55% xuống còn 22%. Đó là lý do, vào ngày 15-8-1971, Mỹ đơn phương quyết định xóa bỏ chế độ đổi tiền ra vàng. Lúc đó, thâm thủng 56 tỷ đôla (trị giá tiền thời đó lớn nhiều lần hơn bây giờ); ngắn gọn, đồng đôla bị đẩy giá cao hơn trị giá lẽ ra tương đương với vàng.

Một điểm quan trọng nữa: Dân Mỹ rủ nhau chống chiến tranh, trốn quân dịch, không chịu đóng thuế.(xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Opposition_to_United_States_involvement_in_the_Vietnam_War)

Vào cuối thập niên 1960s, ¼ hồ sơ tòa án toàn quốc Hoa Kỳ xét xử là về chuyện trốn quân dịch và về những người nộp đơn xin miễn đi lính vì lý do lương tâm.

Có hơn 210,000 nam thanh niên bị cáo buộc trốn lính, 25,000 người trong đó bị truy tố.

Hơn 30,000 nam thanh niên trốn lính bằng cách xuất ngoại, sang Canada, Thụy Điển và Mexico.

Nhiều người dân Mỹ không trong diện đi quân dịch đã phản chiến bằng cách không đóng thuế, vì cho rằng tiền thuế sẽ kéo dài chiến tranh.

Trong năm 1972, có khoảng 200,000–500,000 người Mỹ không chịu trả tiền thuế tính trên hóa đơn điẹn thoại, và có thêm 20,000 người khác chống lại chuyện nhà nước đánh thuế lương của họ.

Lúc đó lại rơi vào trận khủng hoảng chứng khoán. (xem: http://en.wikipedia.org/wiki/1973%E2%80%931974_stock_market_crash). Trong vòng 699 ngaỳ, từ ngày 11 tháng 1-1973 cho tới ngày 6 tháng 12-1974, chỉ số Dow Jones của Thị Trường Chứng Khoán new York mất 45% trị giá, và trở thành thị trường tệ hại nhiều thứ 7 trong lịch sử chỉ số này. Bạn hãy suy nghĩ thế này: tờ giấy 100 đôla bạn cầm trên tay, bỗng nhiên bay mất và chỉ còn 55 đôla trên tay. Lúc đó, bạn sẽ nghĩ rằng Cuộc Chiến VN xa vời quá?

Chưa hết, lại còn khủng hoảng dầu nữa. Xem Khủng hoảng dầu (http://en.wikipedia.org/wiki/1973_oil_crisis

). Khủng hoảng dầu năm 1973 khởi sự từ tháng 10-1973, khi các nước sản xuất dầu trong khối OAPEC (bao gồm các nước Ả rập trong OPEC, cộng thêm Ai Cập, Syria và Tunisia) tuyên bố cấm vận dầu đối với Mỹ, để trả thù Mỹ tham dự giúp Do Thái trong cuộc chiến ngày 6 tháng 10-1973, có tên là cuộc chiến Yom Kippur War.

Khi kết thúc cấm vận vào tháng 3-1974, giá dầu tăng từ 3 đôla/thùng barrel lên tới gần 12 đôla/thùng barrel (nhắc lại: tiền thời đó).

Bạn hãy hình dung, giá xăng dầu tăng gấp 4 lần, dân Mỹ sẽ không muốn có cuộc chiến nào nữa hết.

Theo lời một người Việt có mặt ở Virginia, một tiểu bang phía đông bắc Mỹ giáp biên thủ đô Washington DC, lúc đó nhiều trạm xăng ở Mỹ đóng cửa, và người láí xe xếp hàng chờ cả tiếng đồng hồ mới tới lượt đổ xăng. Khi chuyện này xảy ra, người Việt này biết ngay, chính phủ VNCH sẽ không có đủ xăng dầu cho quân xa và phi cơ tác chiến nữa.

* * *

Cuộc chiến cuối cùng là như thế: Miền Nam sụp đổ.

Và nhiều người Miền Bắc vvào Nam, mới tỉnh ngộ. Trong đó có một thiếu nữ, sau này trở thành nhà văn Dương Thu Hương với nhiều tác phẩm nổi tiếng.

Khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Đinh Quang Anh Thái trên tuần báo Việt Tide, nhà văn Dương Thu Hương đã nói rằng bà đã “khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

Nhà văn Dương Thu Hương nói:

“Khóc thì tôi có hai lần khóc. Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ... nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải...”(hết trích)

Cũng một người từ “bên thắng cuộc” là nhà báo cựu đại tá Bùi Tín, khi trả lời phỏng vấn vào lúc 32 năm sau ngaỳ 30-4-1975 của nhà báo Mạc Việt Hồng trên mạng Đàn Chim Việt.

Trích:

“Mạc Việt Hồng: Xin phép ông được quay lại với ngày 30/4 của chúng ta. Cách đây 32 năm, ông đang say sưa với niềm vui chiến thắng, cảm giác của ông khi đó như thế nào?

Bùi Tín: Vâng, ngày 30/4 khi chúng tôi vào Sài Gòn có thể nói là vui vô cùng. Vì sau mấy chục năm bao nhiêu hy sinh, nay hòa bình, thống nhất, đất nước đứng trước bao nhiêu triển vọng làm sao không vui được.

Mạc Việt Hồng: Khi nào thì ông bắt đầu thấy thất vọng hay thấy kém vui đi?

Bùi Tín: Từ khi tôi thấy những người lính miền Nam hay những người làm việc cho chế độ cũ bị đi “học tập cải tạo”. Là một nhà báo nên tôi đến các trại cải tạo đó. Thực chất đó là những trại giam do Cục Quản lý Trại giam của Bộ Công an quản lý. Ở đó có cả xà lim, phòng giam… Lúc đó tôi cũng nông nổi. Tôi nghĩ chắc chỉ học tập vài ba tháng, tôi biết đâu là người ta dử vào đó rồi không xét xử, bỏ tù vô thời hạn… Nếu là học tập thì phải tiếp thu một cách tự do, bình đẳng chứ.

Từ đó tôi bị hẫng, hàng triệu người bị hẫng. Hiện nay ĐCS vẫn không muốn nói một điều đáng tiếc về chuyện đó. Ngay cả ông Võ Văn Kiệt cũng không dám nói ra, mặc dù những người chủ trương đường lối phi dân tộc, phi nhân tính đó đều đã chết.

Rồi việc giải thể không kèn không trống Chính phủ Lâm thời, Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam… Đáng ra nên để lại để giữ quan hệ với phương Tây để giữ sự hòa hợp giữa hai miền Nam- Bắc.

Tôi đã từ bỏ tất cả những huân huy chương của tôi vì tôi cho rằng nó không có gì là vinh hạnh cả. Mấy triệu người VN chết mà toàn là anh em giết lẫn nhau. Cuộc chiến vừa qua là một trang đen tối trong lịch sử VN, không có gì để kiêu ngạo, để hãnh diện cả...”(hết trích)

Một trang sử đen tối, toàn là anh em giết nhau. Khởi phát từ một lý thuyết Mác Lê cuồng vọng, với những người “xông tới, phất cao ngọn cờ ba dòng thác cách mạng”... để rồi bây giờ mất nửa thác Bản Giốc, mất một phần biển đảo...

Năm nay là năm thứ 39. Trang sử dân chủ và tự do cuả quê nhà vẫn đang lật ra từng trang, với các thế hệ sinh sau 1975, trong cuộc chiến mới của nhân bản, hy vọng và bất bạo động.

Xin chúc lành cho các thế hệ mới.
 Trần Khải

Bài Xem Nhiều