We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 6 May 2014

Chống Văn Hóa Cộng Sản

Chống CS xâm nhập công đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại mà để trống mặt trận chống văn hoá Cộng Sản là một khiếm khuyết lớn. Một khiếm khuyết có thể dẫn đến thất bại di hại cho lớp trẻ là tiền đồ của người Việt Quốc Gia hải ngoại. Một thất bại rất khó sửa chữa vì chữ nghĩa, ngôn ngữ, văn hoá là phạm trù tối quan trọng đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội.

Nếu cứ lơ là để cho CS xuất cảng chữ nghĩa CS vào các cộng đồng người Việt của Việt Nam hải ngoại như bây giờ, nếu cứ coi thường ảnh hưởng của việc coi phim ảnh, đọc báo trên Internet, nghe “phát biểu” của người trong nước nói nhanh như nuốt chữ, cướp lời ngươi khác, rồi quen miệng, quen tai dùng “từ CS” như “bứt xúc, nhất trí, đồng tình, vô tư vượt đèn đỏ”; thì CS không cần tuyên vận, CS không cần tuyên truyền quốc ngoại, người Việt hải ngoại sẽ bị nhuộm đỏ, bị Nghị Quyết 36 chi phối hồi nào không hay.

Lúc đó CS không cần tuyên truyền đen và xám ở hải ngoại (tiêu biểu như ở Mỹ có một cộng đồng người Việt lớn nhứt thế giới) để chiêu dụ “Việt Kiều”, rằng người Việt ở Mỹ bây giờ thành “Việt Kiều” Mỹ, theo văn hoá Mỹ, ở xa nước nhà nửa vòng trái đất cần về coi những tiến bộ ở VN. Đó là một luận điệu hồ đồ, chính người nói cũng không thể minh định thế nào là văn hoá Mỹ.

Thực tế nước Mỹ là một xã hội đa nguyên, đa văn hoá, đa sắc tộc, không người Mỹ chánh trực nào muốn những người Mỹ gốc các sắc tộc khác như người Mỹ gốc Việt phải từ bỏ bản chất, bản sắc, ngôn ngữ là văn hoá của sắc tộc nguồn cội mình. Không ai muốn người Mỹ gốc Việt thành những người Mỹ Da Vàng mất gốc Việt cả. Từ văn hoá, chánh trị đến xã hội học của Mỹ đều gọi người Việt công dân hay thường trú nhân hợp pháp của Mỹ là người “Mỹ gốc Việt” (Vietnamese Americans).

Ai cũng biết chỉ có Loài Người là linh vật tự làm ra văn hoá cho mình để xã hội mình cùng sống chung theo chuẩn mực đó. Loài thú như con ong, kiến, mối hạ đẳng nhưng cũng có lối sống có tổ chức: mối chúa chỉ đẻ, kiến thợ chỉ xây, ong lính chỉ tác chiến. Nhưng lối tổ chức đó biến thành phản xạ muôn đời, đó không phải là văn hoá, mà là phản xạ lưu truyền riết thành bản năng. Trái lại văn hoá của Con Người không phải là phản xạ, bản năng, không do di truyền, mà do bắt chước và học hỏi nên có nhiều thay đổi.

Ngay trong lịch sử văn hoá ngắn ngủi có mấy trăm năm của Mỹ, tiến trình cũng thay đổi nhiếu lần. Từ thuở khởi thủy di dân từ Âu châu qua, mủi lỏ, mắt xanh, tóc vàng là thành phần trội yếu với sự tiếp sức của Thực dân Anh, buộc các sắc tộc khác phải “đồng hoá” với họ. Tiếng Anh thành chuyển ngữ. Nhưng qua thời kỳ độc lập quan niệm đồng hoá theo kiều nấu chảy thành khuông văn hoá Mỹ (melting pot) chẳng ai theo. Các sắc tộc chỉ “ hoà nhập” biến văn hoá Mỹ như là một tô salad (salad bowl) trong đó rau quả, đường, muối giữ bản chất của mình để xã hội Mỹ gốc đa nguyên thành một, out of many, one.

Do vậy rất hợp tình, họp lý khi thấy văn hoá hay lối sống chung của người Việt Quốc Gia gốc tỵ nạn CS trên đất Mỹ có những sắc thái khác văn hoá VNCS trong nước. Người Việt Quốc gia có biểu tình chống Cộng sản bán đất dâng biển, quốc tế vận ủng hộ các tôn giáo và đồng bào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Có vận động hạ lá cờ máu của CS và giương cao quốc kỳ VN nền vàng ba sọc đỏ lên để chánh quyền các nước có người Việt định cư thừa nhận, v.v... và v.v... Ngần ấy việc biểu tình, đấu tranh, vận động rất qui mô, rầm rộ, bền bĩ suốt thời gian tỵ nạn CS mấy chục năm qua; đó là lối sống, là văn hoá đấu tranh, chớ không gì khác hơn.

Người Việt tỵ nạn CS không sống được với CS ở VN, di tản mang hồn thiêng sông núi VN theo mình. Đã thuyết phục nhân dân và chánh quyền Mỹ của hàng chục tiểu bang hàng trăm quận hạt, thành phố công nhận quốc kỳ VNCH là biểu tượng văn hoá, niềm tin thiêng liêng của ngươi Mỹ gốc Việt. Quốc kỳ ấy được người Việt đấu tranh cho tự do, dân chủ nhân quyền VN, kính trọng thiêng liêng như biểu tượng tôn giáo; đó là biểu tượng văn hoá của người Việt Quốc gia chống CS.

Còn cây cờ máu của CSVN dù có bang giao với Mỹ nhưng chỉ ru rú như con gián ngày trong không viên 1 toà đại sứ và hai toàn tổng lãnh sự và ăn theo ở trụ sở Liên Hiệp Quốc thôi.

Sở dĩ như thế là vì một biểu tương chỉ được xem là văn hoá khi được nhiều người chấp nhận là “của mình” và đồng ý sống theo chuẩn mực ấy. Cây cờ của CS Hà nội người Mỹ gốc Việt đa số gọi là cờ máu, là “phản văn hoá”, không ai treo trừ CS.

Bên cạnh những hoạt động qui mô và rầm rộ để bảo tồn và phát huy văn hoá Việt ấy của tập thể người Việt Hải Ngoại, còn nhiều cố gắng âm thầm, kiên nhẫn và can đảm, đòi hỏi nhiều chuyên môn. Mục đích tối hậu cuả những chiến sĩ văn hoá âm thầm này là, mặt này để bảo tồn bản chất và bản sắc văn hóa Việt Nam trong môi sinh mới lạ cách nước nhà nửa vòng Trái Đất. Và mặt khác là để phát huy văn hóa cho lớp trẻ hậu duệ sanh ra, lớn lên, ăn học nơi quê hương mới. Làm việc ấy là những thầy cô giáo tình nguyện dạy tiếng Việt ở tại các trung tâm Việt ngữ, chùa, nhà thờ, trụ sở hội đoàn và trên báo chí nữa. Tiếng Việt là còn thuyền chánh chuyên chở của văn hóa VN. Không có tiếng Việt thì hồn Việt, tâm Việt, đạo Việt, sử Việt, cộng đồng Việt, xã hội Việt, người Việt, dân Việt, nước Việt khó còn.

Và CS Hà nội muồn nhuộm đỏ các cộng đồng người Việt Quốc Gia ở hải ngoại cũng dùng văn hoá vận để tấn công bằng quyền lực mềm và cứng. Mềm qua lời ca tiếng hát, đưa sách báo, phim ảnh qua Mỹ, khai thác tình tự quê hương. Cứng như âm mưu dùng tiền lũng đoạn cộng đồng, hề hoá các cuộc đấu tranh. Mà Nghị quyết 36 của CS Hà nội là sách lược./.
 
 Vi Anh

SÀI GÒN THÁNG TƯ, HOA VẪN VÀNG NƠI ẤY



SÀI GÒN THÁNG 12 NĂM 1974
Anh hẹn tôi tại đường Trần Cao Vân, góc Hai Bà Trưng, chổ "cây điệp vàng thứ ba từ đường Hai Bà Trưng đi vô, bên phải..". Anh dặn tôi như vậy khi gặp nhau ở Bến Bạch Đằng. Cây điệp còn non, chưa ra hoa, đứng chỉ tới vai tôi. Đến giờ dù đã 40 năm trôi qua, tôi vẫn không hiểu tại sao anh lại biết cây điệp và tôi phải đứng chờ anh ở đó mà không là nơi khác?

Tan học ra, tôi đứng lơ ngơ một lát thì anh đến. Vẫn bộ quân phục màu xanh tím của Sĩ Quan Hải Quân, vẫn cái dáng cao cao phong trần, anh nhìn tôi bằng đôi mắt biết cười. Gần Noël rồi nên Sài Gòn rộn ràng lắm. Những ngọn đèn nhấp nháy. Những ánh mắt long lanh. Bên anh, tôi hồn nhiên vui, hồn nhiên cười nói. Gió chiều thổi bay bay mái tóc, phất phơ tà áo, tôi cùng anh đi qua Hồ Con Rùa, vào quán kem. Anh kêu cho tôi ly kem dâu và anh, ly cà phê đá. Từ trong quán, tôi nhìn ra con đường Duy Tân, nơi có ngôi trường Luật của tôi đang nép mình dưới hàng cây Sao đổ lá. Nhạc trong quán vừa đủ để tôi nghe: "...Trả lại em yêu khung trời Đại học, con đường Duy Tân, cây dài bóng mát...uống ly chanh đường, uống môi em ngọt...". Bài hát này tụi bạn tôi thường hay hát nghêu ngao, đứa nào cũng thuộc, cứ như là Tình ca của Sinh viên Luật vậy.

Tôi và anh đã ngồi bên nhau, nói vu vơ những câu chuyện không đầu không đuôi về trường lớp, về cái nơi xa xôi, khó hiểu với tôi là Biển. Tôi nhớ mình đã hỏi anh: "Anh cứ đi hoài, biển có gì hấp dẫn anh đến vậy?" Anh chỉ cười và im lặng. Tôi khi ấy còn quá ngây thơ. Tôi không biết gì về chiến tranh. Bởi chiến tranh ở đâu đó chứ không có ở Sài Gòn. Tôi đang ở nơi bình yên hoa lệ, tôi chỉ biết học hành, vui chơi. Tôi tha hồ lãng mạn với những bài thơ tình đăng báo của mình. Tôi cho vào thơ con tàu HQ 505 chở đầy hoa bướm, với áo trắng học trò, với con đường có lá me bay, có cả tôi: tóc chấm ngang vai và..."bờ môi chưa hôn ai một lần..". Sau này tôi mới biết HQ 505 không chở hoa thơm cỏ biếc, chỉ có hằng trăm tấn đạn chất nặng những khoang tàu để đưa ra vùng chiến sự, chỉ có máu và nước mắt, chỉ có những cuộc chia ly xé nát lòng người.

Sài Gòn rực rở đèn hoa chờ đón Noël 1974, thoảng trong gió có tiếng chuông nhà thờ Đức Bà thánh thót. Anh nói về chuyến hải hành sắp tới với nhiều khả năng anh sẽ đón Noël trên biển. Bổng dưng tôi thấy ghét biển. Biển đã dành anh trong đêm an lành đó. Khi tôi nói ra điều này, tôi thấy trong mắt anh phảng phất nổi buồn.
Chia tay nhau ở một ngã tư đường sáng đèn xanh đỏ, bàn tay tôi bé nhỏ đã run rẩy trong tay anh nắm chặt. Tôi cúi mặt, mím môi, tôi sợ mình bật khóc. Còn lần nào cho mình gặp lại nhau không? Sao anh chẳng dặn dò tôi đợi? Và tôi cũng quên không hỏi bao giờ anh sẽ trở về? Đó là lần cuối cùng tôi gặp anh vào một buổi chiều, giữa Sài Gòn lộng gió.
SÀI GÒN THÁNG 12 NĂM 1975
Sài Gòn vừa trải qua cơn đại hồng thuỷ. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là chiến tranh. Và cũng lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là đau thương, là chia lìa, là "vàng phai đá nát". Những điều không có trong thơ văn tôi.
Buổi chiều Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi một mình xuống Bến Bạch Đằng. Bến vắng. Nhìn qua bên kia bờ Thủ Thiêm, thăm thẳm một giòng sông chết. Những con đường dẫn về bến tàu đầy dẩy quân trang, quân dụng của những người tháo chạy. Tôi trông thấy một chiếc nón Sĩ Quan Hải Quân nằm lăn lóc bên vĩa hè đường Nguyễn Huệ. Tôi đã cúi nhặt, cầm chặt nó trong tay. Chủ nhân của chiếc nón chắc hẳn đã xuống tàu ra khơi, bỏ lại một phần đời, một phần hồn của mình bên lề đường bộn bề rác rưởi. Anh cũng vậy phải không? HQ 505 giờ này chắc hẳn đã ra khỏi hải phận Việt Nam. Anh đã đi rồi phải không?
Có giọt nước mắt nào rơi xuống nón. Tôi khóc sao? Khóc cho ai? Cho tôi và cho chiếc nón lạc loài này? Hay tôi khóc cho người đã ra đi không kịp nói câu từ giã?
Có ai đó nói Sài Gòn chỉ có hai mùa mưa nắng. Sài Gòn không có mùa Đông. Riêng tôi, Sài Gòn đã có mùa Đông dài nhất, lạnh nhất vào những ngày cuối năm 1975, lạnh hơn bất kỳ mùa Noël nào trước đó. Tôi trở vào trường với nổi tủi thân vô hạn. Không còn nữa Khoa Luật với Ban Tư Pháp, ước mơ trở thành Luật Sư của tôi vỡ vụn. Không còn nữa anh chàng Trung Uý Hải Quân đã cùng tôi hò hẹn. Chỉ  còn tôi một mình trở lại quán xưa, ngồi vào chổ cũ, tự kêu cho mình ly kem dâu, tự mình gặm nhấm nổi buồn. Co ro trong quán lạnh chợt thèm một bàn tay ấm áp, một ánh mắt dịu dàng của anh. Chợt tiếc thầm ngày ấy sao ta chẳng hôn nhau? Sao tôi không trao anh nụ hôn đầu đời con gái?
Nhà thờ Đức Bà đã đổ chuông cử hành Thánh Lễ mừng Chúa Giáng Sinh. Tiếng chuông nghe buồn bã và lạnh lẽo làm sao. Tiếng chuông gõ vào lòng tôi nổi đau có thật: tôi và anh đã lạc mất nhau mãi mãi trong đời.
SÀI GÒN THÁNG 4 NĂM 2014
Tôi đã đi suốt chiều dài 40 năm của cuộc đời mình với bao nỗi buồn vui. Tôi đã như con cá nhỏ từ sông hồ bơi ra biển lớn. Đuối sức. Hụt hơi. Trước những cơn sóng đời, để tồn tại, tôi phải quên đi việc mình biết làm thơ, vì thơ không cho tôi cơm áo. Tôi học hết Đại Học trong cảnh thiếu gạo, thiếu điện thắp sáng và ra trường đi làm bằng chiếc xe đạp. Sự vất vã khiến tôi nguôi dần nỗi nhớ.
Quá khứ có lẽ đã khép lại trong cái ngày tôi khăn áo theo chồng sau đó mười năm. Mười năm rồi mười năm nữa. Người đi có người đã quay về. Người về làm du khách, về tìm lại chút kỷ niệm được lưu dấu nơi mãnh đất trầm luân này. Anh có về không để nhớ lại một thời Sài Gòn có anh và có tôi?
Không biết bao lần trong 40 năm qua tôi đã đứng thẩn thờ dưới gốc cây điệp vàng ở đường Trần Cao Vân. Cây lớn lên từng ngày. Cây cao khỏi tầm tay tôi với. Cây trổ đầy hoa. Hoa nở vàng trên cây. Hoa bay trong gió. Hoa rụng xuống mặt đường. Màu hoa vàng nức nở. "Tại sao tôi phải đứng nơi này đợi anh mà không là nơi khác?" Câu hỏi đó theo tôi suốt 40 năm. Và có lẽ cả một đời người.
Sài Gòn lại Tháng Tư. Trong tôi lại man mác nỗi buồn. Anh biết không, cho dù anh không trở về, cho dù tôi đã có chồng, hoa vẫn vàng nơi ấy, nơi tôi đã đứng đợi anh, tình đầu.
KIM CHI

Bài Xem Nhiều