We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 18 July 2014

TÔN TRỌNG CUỘC SỐNG RIÊNG TƯ CỦA CON CÁI

Lâm Chi Vi
Thiếu niên là tuổi muốn được độc lập và vì muốn được độc lập cho nên cũng muốn có cuộc sống riêng tư nhiều hơn. Tuy nhiên, vì vẫn chưa phải là một người trưởng thành do đó, nếu không có sự hướng dẫn và nâng đỡ của cha mẹ, thiếu niên không thể tự mình làm những quyết định đúng đắn. Một mặt muốn có được cuộc sống riêng tư và độc lập, nhưng mặt khác lại vẫn cần được cha mẹ hướng dẫn và nâng đỡ: đó là tâm trạng của người thiếu niên. Về phía cha mẹ, làm thế nào để vừa tôn trọng cuộc sống riêng tư của chúng vừa vẫn có thể theo dõi và kiểm soát hầu có thể hướng dẫn và nâng đỡ một cách hữu hiệu, điều ấy đòi hỏi cha mẹ phải xử sự như thế nào để được con cái tin tưởng. Lâm Chi Vi xin được tóm dịch một vài nguyên tắc như được gợi ý trên trang mạng “Raising Children Network”.
Những điều cần biết
Cuộc sống riêng tư.Càng lớn lên, người thiếu niên càng cần có cuộc sống riêng tư, nghĩa là cần có nhiều sự thông thoáng về không gian thể lý cũng như tâm lý hơn. Sở dĩ cần có nhiều không gian riêng tư hơn là bởi vì người thiếu niên đang phải đối phó với nhiều thách đố lớn như phải chọn lựa một mẫu người để sống theo. Người thiếu niên cũng đang phát huy được những khả năng thể lý và cách suy nghĩ, đồng thời cũng bắt đầu quan tâm đến các quan hệ xã hội nhiều hơn. Việc tìm cách đối phó với những thách đố này một cách độc lập và với tinh thần trách nhiệm là một phần trong tiến trình làm người trưởng thành.
Cuộc sống riêng tư. Khi người thiếu niên muốn có nhiều thời giờ và không gian riêng tư hơn, điều đó không đương nhiên có nghĩa là họ muốn che giấu điều gì đó với cha mẹ mình. “Riêng tư” là điều luôn đi đôi với sự độc lập. Càng muốn được độc lập thì đương nhiên cần phải có cuộc sống riêng tư nhiều hơn. Đây là một thành phần tự nhiên của tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, khi cuộc sống riêng tư của người thiếu niên đã bị đi đến mức thái quá, thì đây là điều đáng lo ngại cho các bậc phụ huynh. Nếu con chúng ta giam mình quá lâu trong phòng riêng của chúng; nếu chúng không còn muốn nói chuyện với chúng ta hoặc thu mình trong vỏ ốc của chúng ngay cả khi chúng ta muốn nói chuyện với...thì đây có thể là một dấu hiệu đáng báo động về một điều gì đó rất trầm trọng đang xảy ra: có thểđang bị trầm uất, đang hút thuốc, sử dụng bia rượu hoặc các chất kích thích hay đang có vấn đề như bị bắt nạt. Đó cũng có thể là dấu hiệu cho thấy nó đang bỏ quá nhiều thời giờ trước màn ảnh máy vi tính hay mạng lưới Internet.
Theo dõi. Thiếu niên chưa sẵn sàng để tự mình đương đầu với thế giới người lớn. Não bộ của chúng vẫn còntrong thời kỳ đang phát triển. Điều đó có nghĩa là thiếu niên dễ hành động một cách nông nổi và liểu lĩnh. Thiếu niên vẫn còn cần có sự hướng dẫn và nâng đỡ của cha mẹ. Họ vẫn luôn cần sự giám sát của cha mẹ. Nói cách khác, cha mẹ vẫn cần phải theo dõi các sinh hoạt của con cái ở tuổi thiếu niên.
Nhưng bởi vì thiếu niên cũng cần có cuộc sống riêng tư và độc lập cho nên cách theo dõi của cha mẹ không thể giống như khi chúng còn nhỏ. Cha mẹ cần có nhiều sự tế nhị và cảnh giác.
Ở đây cũng cần lưu ý rằng, thiếu niên rất muốn được cha mẹ tôn trọng và cũng không muốn đánh mất sự tôn trọng đó của cha mẹ. Các cuộc nghiên cứu đều cho thấy rằng thiếu niên nào được cha mẹ tôn trọng thường thích duy trì mối liên lạc với cha mẹ, thích tâm sự và thành thật. Chúng cũng muốn tuân theo các “luật lệ” trong nhà và sống như cha mẹ mong đợi.
Tôn trọng cuộc sống riêng tư của con
Để có thể tôn trọng cuộc sống riêng tư của con đang ở tuổi thiếu niên, dĩ nhiên cha mẹ cần phải biết đâu là ranh giới giữa sự riêng tư của con và việc kiểm soát của cha mẹ. Có một số sinh hoạt của con mà cha mẹ không thể nhắm mắt làm ngơ. Chẳng hạn chúng đi đâu vào mỗi tối cuối tuần và làm thế nào để đi đến đó và trở về. Một số điều khác có thể được xem như chuyện riêng tư giữa con chúng ta và bạn bè của chúng. Chẳng hạn, con chúng ta và bạn bè nói chuyện gì với nhau trong một tiệc vui hoặc chúng khiêu vũ với ai...đó là chuyện riêng tư của chúng, không cần phải thắc mắc.
Sau đây là một vài cách cụ thể để cha mẹ tỏ ra tôn trọng cuộc sống riêng tư của con cái trong tuổi thiếu niên:
· Gõ cửa trước khi vào phòng của con
· Hỏi ý trước khi “lục soát” cặp, sách vở của con
· Khi con đi gặp bác sĩ, nên hỏi liệu con có muốn mình có mặt bên cạnh không
Cha mẹ cũng có thể thảo luận với con về cuộc sống riêng tư của chúng và cho chúng biết một số qui luật và giới hạn phải tôn trọng. Dĩ nhiên, những qui luật đó có thể thay đổi một khi con đã lớn hơn. Cha mẹ cũng có thể cho con biết một số hoàn cảnh buộc lòng họ phải vượt qua một số giới hạn mà hai bên đã thỏa thuận với nhau. Chẳng hạn một trong những hoàn cảnh đó là khi cha mẹ thực sự quan tâm về một điều gì đó không ổn trong cuộc sống của con.
Để cho con biết mình thật sự tôn trọng cuộc sống riêng tư của nó, cha mẹ nên tránh làm một số điều như:
· Nghe lén những cuộc nói chuyện trên điện thoại của chúng
· Lén nhìn vào phòng riêng
· Lén lục soát các ngăn kéo hay cặp sách đi học
· Đọc nhật ký của con
· Kiểm soát điện thư của con
· Theo dõi các trang mạng xã hội của con như Facebook và MySpace
· Gọi con trên điện thoại di động để theo dõi con từng giây từng phút
Theo dõi đúng cách
Cách tốt nhất để vừa tỏ ra tôn trọng cuộc sống riêng tư của con vừa vẫn theo dõi các sinh hoạt của con chính là tạo được sự tin tưởng nơi con và luôn luôn liên lạc với con. “Liên lạc” ở đây không có nghĩa là chốc chốc phải kiểm soát sinh hoạt của con mà là tạo được mối quan hệ hàng ngày tốt đẹp với con. Chỉ khi nào tin tưởng cha mẹ, đứa con trong tuổi thiếu niên mới cởi mở tấm lòng và không ngần ngại chia sẻ với cha mẹ về cuộc sống riêng tư của mình.
Sau đây là một vài gợi ý:
· Khi con ngỏ ý muốn nói chuyện, nên ngưng ngay việc đang làm và chăm chú lắng nghe con nói. Với thái độ này, cha mẹ muốn nói với con rằng họ thật sự quan tâm đến những gì đang xảy ra cho nó.
· Nên quan tâm đến bạn bè của con và tạo điều kiện để chúng được đến nhà một cách thoải mái. Nhờ vậy cha mẹ mới biết được ai là bạn của con mình và không phải thắc mắc về các mối quan hệ của con. Liên lạc với cha mẹ của các bạn của con cũng sẽ giúp tạo được một môi trường lành mạnh cho con mình và bạn bè của nó, đồng thời cũng dễ theo dõi được các sinh hoạt của chúng. Lắng nghe con kể chuyện về bạn bè.
· Ngay từ nhỏ nên tập cho con thói quen biết thông báo cho cha mẹ biết về sinh hoạt cũng như nơi sinh hoạt của nó. Đứa trẻ sẽ giữ mãi thói quen này khi bước vào tuổi thiếu niên.
· Bữa cơm gia đình là dịp tốt nhất để mọi người có thể quây quần bên nhau và chia sẻ cho nhau về sinh hoạt của mỗi người.
· Một khi đã biết rõ con mình làm gì, cư xử như thế nào thì cha mẹ mới có thể dễ dàng nhận ra những thay đổi và biết được vấn đề con đang phải đối đầu.
· Luôn theo dõi việc học hành, bài vởphải làm và hạn chót phải nộp bài nhưng không kiểm soát con từng ly từng tý. Theo dõi việc học hành của con sẽ dễ dàng hơn nếu cha mẹ tạo được quan hệ tốt với nhà trường và thày cô giáo.
· Nếu một trong hai người không thể có mặt ở nhà khi con ra khỏi trường, nên bảo con gọi cho biết nó đã về đến nhà chưa. Đây là một đòi hỏi hợp lý để nói lên trách nhiệm của mình.
· Nếu đã đưa ra một số qui định về những gì con sẽ làm khi rảnh rỗi, cha mẹ không nên theo dõi một cách quá chặt chẽ.
· Nhưng quan trọng hơn cả, cha mẹ nên quan tâm đến những gì con đang đọc hoặc đang xem trên màn ảnh truyền hình và Internet. Tốt nhất nên đặt máy truyền hình và máy vi tinh có nối mạng ở những nơi mà mọi người trong nhà đều có thể sử dụng chung. Nên giới hạn thời gian ngồi trước màn ảnh truyền hình hay Internet cũng là một điều tốt. Iphone và Ipad phải tắt vào một số giờ nhất định như giờ ngủ chẳng hạn.
Tóm lại,cha mẹ nên tránh xâm nhập vào cuộc sống riêng tư của con và như vậy đánh mất niềm tin của chúng. Nhưng dĩ nhiên, cha mẹ nên nhớ rằng họ có quyền biết về những sinh hoạt con, chẳng hạn đang làm gì và ở đâu. Không được theo dõi và hướng dẫn, thiếu niên có thể làm những quyết định sai lầm hoặc cư xử không đúng cách. Trái lại, theo dõi quá chặt chẽ lại khiến cho con cái nghĩ rằng cha mẹ không còn tin tưởng nơi chúng.
Khi cuộc sống riêng tư của con vượt quá tầm kiểm soát của cha mẹ
Trường hợp con cái lạm dụng lòng tin của cha mẹ và đặt cuộc sống riêng tư của nó ra khỏi tầm kiểm soát của cha mẹ, cha mẹ có thể sử dụng một số chiến thuật như:
· Buộc con phải tạm ngưng một số sinh hoạt xã hội trong một thời gian
· Rút lại một số “đặc ân” như giảm bớt thời giờ xem truyền hình hay sử dụng máy vi tính, Iphone
· Không cho tiền túi một thời gian
Nhưng tốt hơn cả là nên thương lượng với con về một số việc làm cụ thể, chẳng hạn như phải rửa chén bát hay quét dọn trong nhà trong một thời gian. Dĩ nhiên, mục đích của những việc làm này không phải là để trừng phạt mà để cho chúng thấy rằng cha mẹ vẫn yêu thương chúng mặc dù không hài lòng về cáchchúng sống. Dần dần, thiếu niên sẽ nhận ra những sai lầm của mình và cư xử như thế nào để được cha mẹ tin tưởng lại.
Làm thế nào để vừa theo dõi nhưng đồng thời vẫn tỏ ra tôn trọng cuộc sống riêng tư của con trong tuổi thiếu niên là cả một nghệ thuật. Nhưng cha mẹ nào giữ được sự cân bằng giữa hai thái độ trên đây sẽ luôn hài lòng về con mình. Các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng những thiếu niên nào mà cuộc sống riêng tư được cha mẹ vừa tôn trọng vừa theo dõi ít sa vào các tệ nạn xã hội, ít phiêu lưu vào các quan hệ tình cảm nguy hiểm, ít bị trầm uất, có nhiều tự tin và nhất là đạt kết quả học hành khả quan.

Sống Cho Người







Ngồi trước hai con người đặc biệt này tôi mới thấm thía câu :”Vợchồng đều do duyên số”. Đây đúng là cuộc sắp xếp kỳ dị của ông Tơ bà Nguyệt. Một người đàn bà, xinhđẹp, trẻ trung, duyên dáng lại lấy một thằng cha già nua, tướng tá bần tiện, trông giống đò ăn xin,ăn mày xấu xí như con quỉ, còn tư cách thì sau một vài lần tiếp xúc, chẳng có cái từ nào đúng hơn gọi hắn là thằng vô lại.Thế mà trong vụ này hắn lại là nguyênđơn ra toà xin ly dị người vợ đẹp như tiên của mình.
Lúc đó tôi mới hai mươi lăm tuổi, nổi tiếng là một ông quan toà tài giỏi, bằng cấp cao, trẻ nhất nước. Tôi tưởng mọi sự trên cõi đời này đều đã biết, ai dè sự đời chẳng đơn giản như tôi tưởng. Tại sao có người lại vứt đi cái của báu trời cho như thế này? Hôm nay tôi mời họ lại hoà giải lần thứ hai. Tôi hỏi:
-Tôi xem đơn thấy ông nại cớ vợ không còn yêu chồng nên xin ly dị.Nhưng tại sao chị này cứ khăng khăng nói vẫn còn yêu thương?
Hắn trả lời:
-Ra toà cô ta khai thế, trong bụng nghĩ khác.
-Ông nghi vợyêu người khác sao?
-Không!
-Cô ta khai nhưthế để làm gì?
-Để đừng có ly dị.
-Theo ông cô ta muốn duy trì cuộc hôn nhân này làm chi?
Hắn đáp rất lơ đễnh:
-Ai mà biết…
Hắn còn muốn nói gì đó nên ngập ngừng, sau thì đổi lý do, nói:”Hai người không hợp nhau”. Tôi nói pháp luật không công nhận lý do này. Phải có lý do nghiêm trọng hơn mới có thể xin ly dị. Nghe thế hắn nói :
-Cô ta sống với tôi hơn mười năm không có con, con trai con gái gì cũng không. Không lẽ tôi tuyệt tự? Lấy ai thờ cúng. Bất hiếu hữu tam, vô hậu chi đại…
-Pháp luật cũng không công nhận lý do này. Không con có thể do ngườiđàn ông .
Tôi thấy người vợ quay mặt đi, cô không cho người khác biết mình đau khổ, sắp khóc. Cô ta cúi xuống lấy khăn tay, ngẩn lên, mặt mũi đỏ ửng, giọng nói đầy nước mắt:”Thưa toà, tôi có sinh, sinh mấy lần, đều không nuôi được. Bác sĩ nói tại máu vợ chồng không hạp. Họ nói có yếu tố Rehsus âm dương gì đó. Tôi hỏi có chữa được không? Họ nói không “. Hắn cướp lời:”Không khí trong nhà lúc nào cũng như địa ngục, chịu không nổi”.Tôi hỏi :
-Lý do gì?
-Đủ thứ,chuyện vặt vãnh, đàn bà. Chuyện rất nhỏ cũng xé thành to. À mà còn có cả chuyện ngoại tình…
Tôi hỏi có phải hắn ta nghi vợ ngoại tình, với ai? Bằng chứngđâu. Hắn tỏ ra lúng túng. Người đàn bà đỡ lời:
-Có một thời gian gia đình lộn xộn chỉ vì nhà tôi ăn chơi tôi sợanh ấy bệnh.
Tôi thấy hắn không phản đối lời vợ nói. Tôi biết đó là sự thực. Tôi vừa tức vừa cười giận thằng cha này. Tôi hỏi ngoại tình là anh hay là chị ngoại tình? Hắn không nói. Tôi muốn dạy cho hắn bài học.
-Pháp luật có một nguyên tắc bất di bất dịch. Không thể nại ra lỗi của mình để yêu cầu một quyền lợi khác. ”Ví dụ:Không thể nói vì mình sơ xuất không đếm tiền nên bịthiếu để yêu cầu người kia đền bù. Anh cũng không thể nêu ra lý do vì anh ngoại tình nên gia đình xào xáođể xin ly dị. Làm như thế dễ quá, muốn bỏ vợ chỉviệc đi trai gái.”
Hắn cố cãi:
-Chuyện có gìđâu mà cô ấy cũng làm lớn. Trong nhà lúc nào cũng ồn ào.
Vợ:
-Thưa toà tôi có nói đôi lời. Tôi biết lỗi mình nên thông cảm đểnhà tôi đi kiếm con, miễn là người đàng hoàng, đừng dây vào gái mãi dâm, đem con về tôi nuôi.
Nghe nối thếhắn cười khảy, nói:”Ôi hoá ra lâu nay tôi sống vơí thiên thần mà tôi chẳng hay”. Hắn nhìn lên trần cười, cái cười vô nghĩa. Đã quá mười hai giờ, tôi kết thúc biên bản hẹn hai người trở về suy nghĩ. Sáu tháng sau toà xử. Hắn tỏ vẻ bất bình nói kể từ ngày nộp đơnđến nay gần giáp năm, nay kéo dài thêm sáu tháng vị chi năm rưỡi. Hắn cho rằng cái việc cỏn con tại sao lại kéo dài đến thế.Cuối cùng hắn khích :
-Hành hạ người ta đi lại nhiều lần. Làm ăn chậm như rùa…
Tôi giận lắm nhưng không được tỏ thái độ . tôi nhẫn nại giải thích :
-Không phải con rùa hành chính, cũng không phải hành hạ đương sự. Đây là sự cẩn trọng cần thiết của pháp luật. Luật tốtụng dân sự buộc thế. Thụ lý đơn xin ly hôn không thể đem ra xét xử ngay phải trải qua hai lần hoà giải, mỗi lần cách nhau sáu tháng. Hoà giải không thành sau mớiđược xét xử.
Nghe thế hắn hỏi vặn:
-Như thế không hành hạ người đi kiện là gì? Việc vợ chồng không hợp tính tình để bỏ nhau là chuyện thường đâu phải việc quốc dân đại sự.
Một lần nữa tôi cố dằn lòng giải thích:
-Vợ chồng cãi vã đánh đập nhau mà đem ra toà xử cho ly hôn ngay chẳng mấy chốc xã hội không còn gia đình. Phải kéo dài cho họ bình tâm suy nghĩ về tình yêu, hạnh phúc, tình nghĩa vợ chồng, trách nhiệm với con cái. Sau thời gian thử thách mà họ quả thấy không thể ăn ở với nhau lúc đó mới đem ra xét xử cho ly hôn .
Nghe cho ly hôn hắn tỏ vẻ hí hửng, ngược lại chị vợ đứng dậy lễ phép chào tôi, nét mặt buồn vô hạn. Hai người đi ra khỏi phòng, tôi bâng khuâng chưa muốn về. Tôi ngồi lại một mình suy ngẫm việc đời. Đời chẳng đơn giản như tôi nghĩ…Mùa này cây lộc vừng trong khu toà án nởhoa. Lộc vừng là loại cây thân gỗ cao to, tán toả rộng che rợp cả khu vườn, ngọn vươn cao tới nóc nhà. Hoa lộc vừng màu hồng nhạt, phủ đầy ngọn cây, mỗi bông hoa là một túm lông tơ màu hồn. Những bông hoa còn tươiđầy màu sắc sao đã vội lìa cành rơi đầy trên luống cỏ. Tôi phân vân phông biết phải giải quyết vụ án này ra sao? Bác đơn ly hôn thể theo nguyện vọng của người vợ hay cho ly hôn giải thoát người đàn bà tội nghiệp. Cuối cùng tôi quyết định lần tới tôi sẽtuyên bố ly hôn.Tôi ví nỗi khổ của người vợ trong trường hợp này như chiếc răng sâu, phải cương quyết chịu đau một lần nhổ phứt nó đi. Cô ta sẽ oán giận tôi nhưng sau này, khi đã vui duyên mới, nhớ lại quãngđời tối tăm đã sống với anh chồng tệ bạc ngày trước, cô ta sẽ cảm ơn tôi. Tôi một thanh niên mới hai mươi lăm tuổi, lúc nhỏ ở với cha mẹ,, ăn học, lớn lên đi làm , cuộc đời gặp toàn sự êm ả, may mắn, dễ dãi , chưa có chút kinh nghiệm sống đắng cay nào. Tôi đã nghĩ, đã tưởng hành động như thế làđúng,đúng lương tâm, đúng pháp luật. Tôi thanh thản ra về.
Công việc án từ bận rộn quanh năm, việc này giải quyết chưa xong đã xuất hiện việc khác. Tất cả mọi việc đều khó khăn, rắc rối, phức tạp. Không có cái gì đơn giản nhưtrong những bộ luật. Khi tôi đã gần như quên cặp vợ chồng kia thì họ lai xuất hiện. Trước toà lời khai và thái đôï của hai người vẫn không thay đổi. Người vợkhai vẫn còn yêu thương chồng, vì anh ta là người đàn ông tốt bụng hiếm có trên đời. Tôi tức cười vềviệc cô gái gọi hắn là người đànông lý tưởng. Còn hắn vẫn đổ mọi tội, lỗi lên đầu người vợ và khăng khăng đòi ly dị.
Tôi tuyên bố ly hôn. Hắn mừng rỡ đi như chạy ra khỏi phòng xửán.Người vợ đứng ngơ ngác trứơc quyết định của toà. Phải một lúc sau nàng mới hiểu mình đã thua, cái gia đình mà nàng đã bỏ ra biết bao công sức bảo vệ đã không còn. Cô ta sực tỉnh đi như chạy theo hắn.
Hắn đi khá nhanh tách hẳn đám đông. Hắn không trtở về nhà mà tiến về phía ngoại ô, nơi có cánh dồng xanh bao quanh thành phố. Người đàn bà lẽo đẽo theo sau. Tới chỗvắng hắn dừng lại. Xa xa là dòng sông có cây cầu bắt ngang. Chuyến đi và nơi dừng lại có vẻ ngẫu nhiên. Nhưng hình như không phải sự khó nhọc theo đuổi vụkiện , không phải bản án ly hôn mà hắn là người thắng, chính lúc này và nơi đây mới là cơ hội mà hắn mong đợi. Hắn giả bộ bình thản, tay đút túi quần, phóng tầm mắt nhìn ra phía cánh đồng lúa con gái xanh mơn mởn rờn lên những đợt sóng xanh run rẩy chạy tới chân núi màu lam mờ mờ phía chân trời.
Người vợ cũng vừa tới nơi, mệt nhọc, hổn hển :
-Mình ơi!
Hắn lạnh lùng:
-Không còn mìnhđầu gì cả. Tôi với cô là người dưng nước lã rồi.
-Tại sao mình khồng về nhà mà lại ra đây? Còn một vài việc cần bàn bạc với nhau trước lúc chia tay.
-Không còn việc gì. À mà có.
Hắn làm bộnhư chợt nhớ ra điều gì quan trọng. Hắn quay người lại, không nhìn mặt vợ mà nhìn chầm chặp vào tay cô ta. Người vợ chưa hiểu ý. Hắn nói giọng khác hẳn ngày thường đầy sự trơ trẽn:
-Chiếc nhẫn đính hôn tôi tặng cho cô lúc làm lễ ở nhà thờ rấtđắt tiền. Nhẫn bằng bạch kim, mặt nhẫn là hạt kim cương bốn ly bảy, giá tới mấy cây vàng. Tôi mua giá rất cao cho tới bây giờ tôi vẫn chưa trả hết nợ.Mình chẳng còn là vợ chồng, tháo ra trả cho tôi bán trảnợ cho người ta.
Cô gái bất ngờtrước thái độ kỳ dị của hắn. Nàng không hề tưởng tượng hắn hành động như thế. Nàng tỉnh ngộ. À hoá ra, hắn theo đuổi kiện tụng, để bỏ vợ, phá tan hạnh phúc gia đình cũng bởi cái lý do bỉ ổi này. Không đợi hắn nói tới lần thứ hai nàng cởi nhẫn ra.
Mười năm trước ngón tay cô gái còn xinh đẹp và mềm mại như búp măng vừa từ mái trường nữ trung học bước vào đời với những bước chân ngỡ ngàng thích thú khám phá thứ hạnh phúc vợ chồng lóng lánh xanh đỏ. Nàng còn nhớ hôm đó là một buổi chiều, trong ánh nến nhạt nhoà hư thực ởthánh đương, trước vị linh mục vô cùng nhân từ, trong tiếng thánh ca dìu dặt, chồng nàng một người đàn ông không đẹp trai nhưng rất có tư cách, đầy lý tưởng cao đẹp âu yếm đeo chiếc nhãn đính hôn vào ngón tay nhỏ nhắn rung động của nàng. Hôm nay mười năm sau. Mười năm đầy nhọc nhằn của cuộc sống. Nàng phải làm lụng suốt ngày, chăm sóc chồng, quét dọn, làm việc nhà, giặt áo quần, những ngón tay thô hơn xấu hơn, đôi tay to ra. Chiếc nhẫn năm xưa bây giờ chẳng thể tháo ra dễ dàng được. Nàng cố kéo nhưng chiếc nhẫn ra tới xương lóng tay thì dừng lại, không làm sao kéo ra được nữa. Hắn đứng hút thuốc, mắt nhìn về buổi chiều lan toả từ phía núi ra cánh đồng. Hắn không quay lại, giục :
-Xong chưa ?
-Tháo không ra.
-Kéo mạnh ra !
Một lúc sau hắn lại hối :
-Xong chưa?
-Chưa!
-Sao lâu thế?
-Tháo không ra.
Nàng tính nói“đau đớn lắm” nhưng tức tối, không thèm than, không muốn hắn thương hại. Hắn nói:Cắn răng lại, cố mà kéo ra”. Hắn vẫn còn quay lưng về phía vợ nhưng không còn giữ bình tĩnh như lúc trước, bước tới bước lui.
-Mau lên tôi không chờ được.
Người đàn bà nói liều :
-Tháo không ra,đau lắm, không tháo nữa.
Hắn quay lại nhìn nàng, cái nhìn lạ lẫm. Hắn nói ra một điều vô cùng tàn nhẫn với cái giọng rất ôn tồn.
-Tháo không ra thì chặt ngón tay ra mà lấy.
Người vợcương quyết:
-Về nhà tôi sẽchặt!
Hắn ra lệnh :
-Tôi không chờ đợi được. Đưa tay ra đây. Người vợ cũng chẳng cần,đưa tay ra cho hắn muốn làm gì thì làm. Nàng đưa bàn tay trái ra. Cái nhẫn nằm lại ở đốt xương ngón tay áp út. Nó chận dòng máu làm cho ngón tay sưng vù , tím ngắt. Nàng biết trong người hắn luôn luôn có một xâu chìa khoá trong ấy có con dao nhỏ. Hắn sẽ dùng con dao này cắt ngón tay nàng. Đối với người vợ , đến nước này cái chết cũng chẳng có ý nghĩa nào kể gì một ngón tay. Nhưng không, hắn chẳng làm thế. Hắn run rẩy cầm lấy bàn tay lạnh ngắt của người vợ cũ rồi hành động rất nhanh, làm như nếu không làm như thế thì sẽ không dám làm. Hắn dùng móng tay nhọn và khoẻ móc lấy cái nhẫn giật mạnh ra. Người vợ đau đớn hét lên ôm lấy ngón tay chảy máu ngồi bệt xuống cỏ. Hắn bỏ chiếc nhẫn vào túi quần, để mặc vợ, bỏ đi.
Người vợ ôm ngón tay đau đớn ngẩn lên, thấy cái bóng của hắn klom khom bước đi, lòng nàngphút chốc giá băng. Mười năm sống với con người ấy bỗng nhiên tan biến đi đâu cả. Nàng thầm cám ơn ông quan toà đã giải thoát cho nàng ra khỏi con quỉ mang mặt nạ thiên thần.Baonhiêu đau buồn, nuối tiếc, thất vọng về cuộc chia tay vừa qua tan biến hẳn. Nàng thấy lòng nhẹ tênh, đến nỗi lòng khinh bỉ sâu xa về con người đó cũng chẳng còn. Nàngđứng lên ra về thanh thản như dạo chơi trên cánh đồng lúa xanh mươt như lụa.Trước mắt nàng đã le lói những tia sáng ấm áp của cuộc sống mới.
Hắn lửng thửngđi tới bến sông. Dưới bến có người mẹ đem con ra tắm, cảnh tượng đơn sơ tầm thường nhưng đầy hạnh phúc khiến hắn chẳng dám nhìn lâu. Hắn bỏ bến sôngđi lên cầu. Ra tới giữa cầu hắn thấy đầy một thứgió ướt, lạnh lẽo pha lẫn mùi bùn non hai bên bờ với mùi tanh cá ươn. Hắn đứng lại giữa cầu, vịn lan can, nhìn xuống sông. Dòng nước chảy qua cầu bỗng sụp xuống vặn mình thành cái xoáy lớn chạy ngược lên quấn vào chân cầu. Hắn cảm thấy một tia rờn rợn chạy từbàn chân dọc theo xương sống, nỗi sợ hãi của ngườiở trên cao. Hắn tự nhủ :”Thôi, bỏ đi, đừng nhìn nữa, không khéo… Rồi hắn lại hỏi : Không khéo cái gì?Cái đó trước sau gì cũng đến. Có lâu lắm cũng chỉnăm nữa. Không biết giờ này em đã về tới nhà chưa? Tình yêu chết hẳn trong lòng em chưa?
Hắn cho tay vào túi tìm chiếc nhẫn đính hôn. Hắn lấy cái nhẫn ra, không dám nhìn nó. Hắn lấy hết sức ném thực mạnh, thực cao, thực xa, cái nhẫn tung lên đâu dó trong buổi chiều muộn trộn đầy bóng tối trên sông.Hắn tự hỏi sao không nghe tiếng rơi, không thấy ngấn nước? Và hắn tự trả lời, nó nhỏ và nhẹ quá làm chi để lại âm thanh với hình ảnh.Cái vật nhỏ nhoi ấy đã nằm trong tay người yêu suốt mười năm dài, nhiễm đầy hơi hám của nàng, cùng với nàng, với ta, với những ngày thăng trầm hạnh phúc, khổ đau mất biệt đâu đó trên dòng sông rồi. Hắn lửng thửng xuống cầu, trời đã tối thực rồi, con đường dưới chân hắn mờ mờ màu đất sét.. Hắn đi một đoạn, vào tới rìa thành phố kêu xe chạy thẳng vào viện ung thư của thành phố.
Người vợ đau khổ trong cuộc ly hôn và buổi chiều đầy ác mông ấyđã lấy lại quân bình tâm hồn và cuộc sống. Chẳng mấy khi nàng nghĩ ngợi về quảng đời sống với người chồng cũ. Hắn biệt tăm. Đi đâu hay đã rời thành phốnàng cũng chẳng quan tâm. Một năm sau nàng có chồng. Nàng vẫn còn trẻ và đẹp lắm. Lại một lần nữa nàng sắm vai cô dâu bước lên xe hoa. Đoàn xe hoa gồm nhiều chiếc ô tô lộng lẫy.Khách đưa dâu là những người giàu sang quyền quí. Xe hoa chở cô dâu chú rể dẫn đầu đoàn xe.Đoàn xe chạy vòng vèo qua nhiều đường phố, chạy ra con đường dọc bờ biển. Xe chạy đến đâu người hai bên đường dừng lại xem. Ai cũng trầm trồ: Đám cưới thực là sang trọng, cô dâu chú rể đẹp đôi.
Khi đoàn xe chạy vào con đường đi qua trước bênh viện gặp một chiếc xe từ trong ấy đi ra. Chiếc xe chạy rất chậm, nghênh ngang giữa đường. Cả đoàn xe phải giảm tốc độ. Ai cũng bực mình. Các tài xế bóp còi inh ỏi. Chiếc xe kia vẫn không chịu phóng nhanh. Bác tài xế chở cô dâu chú rể chạy đầu đoàn xe bực mình quá không chịu được dấn lên chèn chiếc xe kia, ép nó vào lề. Nhìn vào tong xe thấy có người nằm trên chiếc cáng bằng vải màu lá cây thẫm. Người ấy trọc lóc vì chất phóng xạ Cô-ban trong khi điều trị bệnh ung thư. Cặp mắt kẻ đó mởtrừng trừng, không biết còn sống hay đã chết. Mấy ngón chân hắn lộ ra dưới tấm chăn, cứng ngắt, khô, màu vàng đất sét giống như đẽo bằng gỗ, ấy đúng là ngón chân người chết. Trên đầu hắn treo lủng lẳng túi máu, dây nhợ ngoằn ngoèo. Túi máu còn nhỏ giọt hay hết, không rõ.
Chú rể đang tràn ngập trong niềm hạnh phúc mới tỏ ra là người rất biết điều, tốt bụng , nói với bác tài:
-Thôi lui lại, nhường cho người ta đi. Tới ngã tư kia ta rẽ vào đường nhỏ.
Cô dâu còn muốn khoe cái đám cưới sang trọng của mình, không chịu, nói:
-Tại sao phải rẽ vào đường hẹp. Cứ lướt tới, bóp còi, qua mặt nó đi.
 
 QÚY THỂ

Nghi án sáu chục năm








- Cách đây sáu chục năm, trước khi Việt Minh cộng sản tiếp thu Hà Nội (10-10-1954), tại thành phố nầy xảy ra vụ án mạng ông Đỗ Đình Đạo, một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, mà cho đến nay chưa biết ai là thủ phạm, nhưng lại ảnh hưởng lâu dài đến cuộc đời của nữ văn sĩ Thụy An.

1. Nữ văn sĩ Thụy An

Bà Thụy An tên thật là Lưu Thị Yến, sinh ngày 24 tháng 8 năm bính thìn (21-9-1916), con gái đầu của ông Lưu Tiến Ích và bà Phùng Thị Tôn, người làng Hòa Xá, huyện Ứng Hòa, Hà Đông. Bà từ trần tại Sài Gòn ngày 7 tháng 5 năm kỷ tỵ (10-6-1989), thọ 74 tuổi (tuổi ta), pháp danh Nguyên Quy. (Theo tộc phả Bùi tộc Châu Cầu, Phủ Lý, Hà Nam.)

Năm 1934, lúc 18 tuổi, bà kết hôn với ông Bùi Nhung (1907-1987). Bùi Nhung là con cụ Bùi Thức (tiến sĩ Nho học), người Châu Cầu, Phủ Lý, Hà Nam, và là em ông Bùi Kỷ (phó bảng Nho học), và cũng là em bà Bùi Thị Tuất tức bà Trần Trọng Kim. Hai ông bà Bùi Nhung-Thụy An có sáu người con là Bùi An Dương, Bùi Thụy Băng, Bùi Thu Linh (nữ), Bùi Dương Chi, Bùi Ngọc Trinh (nữ) và Bùi Châu Công.

Sau khi sinh người con út, Thụy An sống ly thân với Bùi Nhung, nhưng không ly dị. Lý do vì lúc đó, Bùi Nhung liên hệ tình cảm với bà Lưu Thị Trạch, tên thường gọi là Việt. Bà Trạch hay Việt là em ruột bà Thụy An, nên Thụy An im lặng rút lui, nhường chồng cho em.

Bùi Nhung là nhà văn, nhà giáo, bút hiệu Băng Dương, đã từng làm giám đốc Đài phát thanh Hà Nội năm 1948-1949 và sau đó 1951-1954. Bùi Nhung còn làm giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954, trong thời gian 300 ngày trước khi Hải Phòng bị Việt Minh tiếp thu. (Việt Minh tiếp thu Hải Phòng ngày 13-5-1955.) Trong thời gian nầy, xảy ra vụ án mạng Đỗ Đình Đạo ngày 29-7-1954. Bà Thụy An bị nghi ngờ và bị bắt giữ ở nhà ga xe hỏa gần Hải Phòng. Bùi Nhung biết được, đã đến thăm bà Thụy An.

Bà Thụy An là nữ tiểu thuyết gia duy nhất có tên trong bộ sách Nhà văn hiện đại do Vũ Ngọc Phan biên soạn. Bộ sách nầy gồm 4 quyển, do Tủ sách Tao Đàn, Nxb. Tân Dân ấn hành tại Hà Nội từ năm 1942 đến năm 1945, đánh số trang liên tục, trong đó quyển tư viết về các tiểu thuyết gia. Bộ sách nầy về sau được tái bản nhiều lần. Vũ Ngọc Phan cho rằng tiểu thuyết Một linh hồn (xuất bản 1943) của bà Thụy An là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam trước năm 1945.

Ngoài tài làm thơ và viết tiểu thuyết, bà Thụy An còn làm báo, viết phóng sư. Sau khi kết hôn, Thụy An cùng chồng vào Sài Gòn lập ra tuần báo Đàn Bà Mới. Bùi Nhung làm giám đốc chính trị (directeur politique), còn Thụy An làm giám đốc kiêm chủ bút (directrice et rédactrice-en-chef).

Tại Sài Gòn, lúc đầu báo quán Đàn Bà Mới nằm trên đường Leman. (Đường Leman về sau là đường Cao Bá Nhạ, quận 1.) Sau đó, báo quán đổi qua số 43 đường Galliéni. (Đường Galliéni về sau đổi thành đường Trần Hưng Đạo.) Báo Đàn Bà Mới xuất bản hàng tuần vào ngày Thứ Bảy, ra số đầu tiên (số 1) ngày Thứ Bảy 1-12-1934. Khi đổi trụ sở qua đườngGalliéni, Đàn Bà Mới cũng đổi ngày ra là Thứ Hai hằng tuần. Số cuối cùng (số 95) ra ngày Thứ Sáu 4-6-1937.
















Năm 1938, bà Thụy An ra Hà Nội, xuất bản tuần báo Đàn Bà, phát hành vào ngày Thứ Sáu hàng tuần, số đầu ra ngày 16-2-1938 và số cuối vào tháng 4-1939. Tòa soạn tuần báo Đàn Bà đặt trên đường Wiélé. (Đường nầy về sau đổi thành đường Tô Hiến Thành.)


Theo bà Bùi Ngọc Trinh, con gái của bà Thụy An, thì Thụy An từng làm Giám đốc Vietnam Press, nhưng theo người cháu của bà Thụy An thì ông biết chắc chắn Thụy An có làm việc cho Vietnam Press, nhưng không rõ chức vụ. (Nói chuyện với ông Quyền tại San Jose ngày 8-7-2014.)

Cũng theo nguồn tin trong gia đình, thì vào năm 1951, Thụy An đưa bốn trong sáu người con, vào sinh sống ở Sài Gòn. Đó là An Dương, Thu Linh, Ngọc Trinh và Châu Công. Hai người còn lại là Thụy Băng và Dương Chi sống với ông Bùi Nhung và bà vợ sau của ông Nhung.

Không được biết do tình trạng gia đình, hay do công việc, Thụy An lúc nầy hay ra vào Sài Gòn - Hà Nội. Theo lời kể của Bùi Thụy Băng, con trai bà Thụy An, thì khoảng nửa tháng trước khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội, Thụy An từ Sài Gòn ra Hà Nội. (Thụy Khuê, Nhân văn Giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, Virginia: Nxb. Tiếng Quê Hương, 2012, tr. 179.) Tuy nhiên, Việt Minh tiếp thu Hà Nội ngày 10-10-1954. Nếu nửa tháng trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội tức khoảng cuối tháng 9. Trong khi đó, Đỗ Đình Đạo chết ngày 29-7-1954. Lúc đó, Thụy An đã có mặt tại Hà Nội. Vậy Thụy An phải ra Hà Nội trước ngày nầy. Nếu trước nửa tháng thì có thể trước ngày ký kết hiệp định Genève 20-7-1954. Đây là chuyến đi cuối cùng của Thụy An vì sau đó bà mắc nạn và ở lại đất Bắc.

Văn nghiệp bà Thụy An khá phong phú. Bà có thơ đăng trên tạp chí Nam Phong năm 13 tuổi (1929). Bà làm nhiều thơ nhưng không in thành tập. Về tiểu thuyết, ngoài truyện dài Một linh hồn, bà xuất bản hai tập truyện ngắn là Vợ chồng (25 câu chuyện về hạnh phúc gia đình) vàBốn mớ tóc. Bìa sau của tập truyện ngắn Bốn mớ tóc có in dòng quảng cáo: Đón đọc Nhà lãnh tụ, là sách bà Thụy An dự tính sẽ viết về Đỗ Đình Đạo.

Thụy An còn nhiều tác phẩm viết sau năm 1954 ở Bắc Việt Nam và cả trong thời gian ở tù vì vụ Nhân văn Giai phẩm, chưa được ấn hành. Dầu bị xáo trộn trong gia đình, Thụy An vẫn tiếp tục hoạt động báo chí, sáng tác văn thơ, nhưng bất ngờ bà bị mắc nạn vào nghi án về cái chết của người bạn gia đình là Đỗ Đình Đạo.

2. Đỗ Đình Đạo bị đột tử

Đỗ Đình Đạo sinh ngày 17-7-1911 tại Hà Nội, là con của cụ Đỗ Đình Tiến (bị Việt Minh giết) và cháu nội của Đô thống Đỗ Đình Thuật. Ông gia nhập Đại Việt Dân Chính Đảng do Nguyễn Tường Tam thành lập năm 1938, rồi gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Năm 1952, thủ tướng chính phủ Quốc Gia Việt Nam là NguyễnVăn Tâm giao cho Đỗ Đình Đạo chỉ huy Đoàn Quân Thứ Lưu Động (Groupe Administratif Mobile en Opération viết tắt là GAMO) ở Bắc Việt. Trước hiệp định Genève, Việt Nam chưa bị chia hai, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ ngày 7-7-1954. Hai ngày sau (7-7-1954), ông Diệm bổ nhiệm Hoàng Cơ Bình làm đại biểu chính phủ tại Bắc Việt kiêm chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt. Uỷ ban nầy còn có Trần Trung Dung làm uỷ viên dân sự và thiếu tướng Nguyễn Văn Vận làm uỷ viên quân sự, chính thức hoạt động ngày 12-7-1954. Hoàng Cơ Bình mời Đỗ Đình Đạo vào Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt, có thể vì ông Đạo đang chỉ huy binh đoàn GAMO, nắm trong tay lực lượng quân sự.

Những người lúc đó ở Hà Nội cũng như ở Hải Phòng, chuẩn bị di cư vào Nam, cho biết là đã được tin Đỗ Đình Đạo bị ám hại vào cuối tháng 7-1954. Trong sách Việt Nam Quốc Dân Đảng, tác giả Hoàng Văn Đào xác định Đỗ Đình Đạo đột ngột từ trần tại nhà số 1 đường Tuyên Quang, Hà Nội tối 29-7-1954. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ II, Sài Gòn: 1970, tr. 489.)

Đường Tuyên Quang về sau đổi thành đường Cao Bá Quát. Ngôi nhà nầy là nhà của bà Thụy An. Lúc đó, Hà Nội vẫn còn thuộc chính quyền Quốc Gia Việt Nam. Nhà đương cuộc tìm thấy Đỗ Đình Đạo bị đột tử một mình trong nhà bà Thụy An, nên truy tìm bà để mở cuộc điều tra và chận bắt bà tại ga xe lửa nhỏ gần Hải Dương.

Được tin nầy, báo chí Hà Nội liền chạy những bài phóng sự về cái chết của Đỗ Đình Đạo, có tựa đề nóng bỏng, giật gân, nhằm hấp dẫn độc giả: Vụ án vì TÌNH, TIỀN HAY CHÍNH TRỊ? Báo chí còn cho biết bản khám nghiệm pháp y tử thi Đỗ Đình Đạo do bác sĩ Phán ký tên, kết luận rằng ông Đạo bị chết vì chất độc cyanure de mercure. (Theo lời người con ông Đạo.)

Khi Đỗ Đình Đạo bất ngờ từ trần, bà Đỗ Đình Đạo cùng 12 người con đang sinh sống ở Sài Gòn. Được hung tin, bà Đạo ngất xỉu, đau yếu. Chị của ông Đạo cùng người con gái đầu của ông Đạo, lúc đó 22 tuổi, từ Sài Gòn ra Hà Nội, lo việc tang ma cho nạn nhân.

Dựa vào những bài phóng sự trên báo chí, nhiều câu chuyện chung quanh cái chết của Đỗ Đình Đạo được bàn tán, nhất là mối liên hệ giữa Đỗ Đình Đạo với người chủ nhà là Thụy An.

3. Liên hệ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo

Để thấy rõ mối liênn hệ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo, trước hết cần chú ý là Đỗ Đình Đạo không phải chỉ là bạn của Thụy An, mà còn là bạn với cả Bùi Nhung, chồng bà Thụy An.

Về phía Thụy An, tuy sống ly thân với Bùi Nhung, nhưng bà không ly dị chồng. Thụy An đã im lặng hy sinh hạnh phúc của mình cho em ruột mình, và vẫn còn thương yêu chồng con nên không đoạn tuyệt chồng mà bà chỉ tự ý sống ly thân, chứ không phải bà ly thân vì phán quyết của tòa án. Đây là sự hy sinh mà ít phụ nữ có thể chịu đựng được.

Về phía Đỗ Đình Đạo, ông là một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, chỉ huy một binh đoàn lớn. Ông giao thiệp rộng, và ông cũng là bạn của Bùi Nhung. Ông không thể tự mình làm hại đến tình bạn và cũng là tình đồng chí với Bùi Nhung. Chắc chắn Đỗ Đình Đạo không dại gì có mối liên hệ bất chính với Thụy An để bị mang tai tiếng, mất bạn bè, mất đồng chí, còn bị giới chính trị, dân chúng và ngay cả binh đoàn GAMO, chê cười, khinh dễ mình, làm suy giảm niềm tin của mọi người.

Đỗ Đình Đạo có vợ và 12 người con. Người con đầu sinh năm 1932 và người con út sinh năm 1954, ngay trước khi Đỗ Đình Đạo qua đời. Đỗ Đình Đạo chăm sóc gia đình, vợ con rất chu đáo. Gia đình ông hạnh phúc. Các con ông Đạo xác nhận ông Đạo là chỗ thân tình với hai ông bà Bùi Nhung và Thụy An, chứ ông không phải là tình nhân của Thụy An.

Trong gia đình Bùi Nhung, người cháu của Bùi Nhung cho biết rằng Thụy An và Bùi Nhung đều là bạn của Đỗ Đình Đạo.Vảo đầu năm 1954, người cháu nầy sống trong nhà của Bùi Nhung ở Ngõ Nhà Đo (Hà Nội). Người nầy thấy Đỗ Đình Đạo thỉnh thoảng đến nhà Bùi Nhung, nhưng để theo dõi tin tức thời sự hơn là chuyện tình cảm. Người nầy khá kính trọng Đỗ Đình Đạo, cũng đã từng gặp gỡ riêng tư và có một lần đi xem hát giải trí ở Hà Nội với Đỗ Đình Đạo.

Như thế, trong thực tế, không hề có liên hệ tình cảm nam nữ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo. Cũng trong thực tế, những hoạt động cá nhân của hai bên cho thấy đây là mối liên hệ bạn bè và nhất là chính trị lúc bấy giờ. Các con cháu trong gia đình của cả hai bên, lúc đó đã khôn lớn, có người học lớp Đệ tứ (lúc đó học lớp đệ tứ tức lớp 9 là khá lớn tuổi), có người học năm cuối bậc trung học (chuẩn bị thi tú tài), biết quan sát, cũng chẳng thấy có dấu hiệu tình cảm gì giữa hai bên. (Người viết hỏi chuyện riêng biệt con cháu hai bên.)

Ngang đây vấn đề liên hệ bạn bè giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo đã khá rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “quan hệ vợ chồng”(?) như Việt Minh cộng sản tuyên tuyền khi kết án Thụy An và một số sách báo sau nầy viết lại.

4. Nghi án vụ Đỗ Đình Đạo bị đột tử?

Có một câu hỏi mà chắc chắn nhiều người đặt ra là tại sao Đỗ Đình Đạo bị đột tử tối 29-7-1954 tại nhà Thụy An? Lúc đó, Thụy An vừa từ Sài Gòn ra Hà Nội vì mục đích là để kiếm cách cứu Bùi Việt Quốc là con của Bùi Nhung với người vợ sau là Lưu Thị Trạch, em gái bà Thụy An. Bùi Nhung đang làm giám đốc Đài phát Hà Nội. Bùi Việt Quốc bị Việt Minh bắt cóc để áp lực Bùi Nhung không được di chuyển đài Phát thanh Hà Nội xuống Hải Phòng để tiếp tục tiếng nói của chính phủ Quốc Gia Việt Nam trước khi cộng sản tiếp thu Hải Phòng (13-5-1955), rồi mang vào Nam Việt Nam. Ngoài ra, Thụy An còn ra Hà Nội nhằm thông báo cho Đỗ Đình Đạo một số tin tức và diễn tiến chính trị ở Sài Gòn.

Khi Đỗ Đình Đạo bị đột tử trong nhà bà Thụy An, thì thủ tục đầu tiên chính quyền Hà Nội, thuộc chính phủ Quốc Gia Việt Nam, phải tìm chủ nhà để mở cuộc điều tra. Chủ nhà chính là bà Thụy An. Vụ án mới chỉ bắt đầu tiến hành, cuộc điều tra chưa kết thúc, chưa đưa ra xét xử trước tòa án. Đây mới chỉ là nghi án, chưa có kết luận gì cả, nhưng do đề tài báo chí TÌNH, TIỀN HAY CHÍNH TRỊ, nên nhiều dư luận đồn đoán lan truyền.

Một trong những lời đồn đoán quan trọng là người ta nghi ngờ phải chăng Thụy An làm việc cho Việt Minh cộng sản, nên nhận lệnh giết Đỗ Đình Đạo là một lãnh tụ quốc gia? Tuy nhiên, nếu Thụy An theo lệnh của Việt Minh giết Đỗ Đình Đạo, thì sau khi hành động, Thụy An phải tìm đường trốn vào mật khu của Việt Minh để được an toàn. Lúc đó Việt Minh đang bao vây Hà Nội và chờ đợi ngày tiếp thu. Đàng nầy, không có chuyện Thụy An trốn theo Việt Minh.

Ngoài ra, cuộc sống của Thụy An trước cũng như sau khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội (10-10-1954), cho thấy rằng trước sau Thụy An chẳng liên lạc gì với Việt Minh, cũng không cộng tác với Việt Minh. Chẳng những thế, Việt Minh còn trù dập và vu cáo Thụy An làm gián điệp cho Pháp trong vụ án Nhân văn Giai phẩm năm 1960.

Sau nầy, chính Thụy An cũng thổ lộ là bà không biết ai giết Đỗ Đình Đạo? Cần chú ý thêm là khi xuất bản tập truyện ngắn Bốn mớ tóc, Thụy An cho in trên bìa sau sách nầy dòng quảng cáo: Đón đọc Nhà lãnh tụ, là sách bà Thụy An dự tính sẽ viết để ca tụng Đỗ Đình Đạo. Như thế, xét cho cùng, nếu không giúp đỡ Đỗ Đình Đạo, người bạn của gia đình, thì Thụy An chẳng có lý do gì để đầu độc Đỗ Đình Đạo. Bà giết ông Đạo để làm gì? Chẳng vì tình, cũng chẳng vì tiền, mà cũng chẳng vì tranh chấp chính trị?

Thực tế, dư luận chung lúc đó cho rằng chính Việt Minh đã ám sát Đỗ Đình Đạo. Việt Minh vốn chủ trương giết tiềm lực, tiêu diệt tất cả những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, có khả năng đối kháng với Việt Minh. Từ năm 1945, nhiều lãnh tụ quốc gia bị Việt Minh thanh toán mà không vết tích như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Trương Tử Anh, Nguyễn Hữu Thanh (Lý Đông A), Nhượng Tống…

5. Thụy An bỏ trốn

Theo lời bà Thụy An sau nầy kể lại cho người cháu của ông Bùi Nhung, thì ngày 29-7-1954, Đỗ Đình Đạo mượn nhà Thụy An để tổ chức hội họp. Tin trong gia đình bà Thụy An cho biết hôm đó là một cuộc họp chính trị, có người không muốn dùng công sở của chính phủ, cũng không muốn thuê các nhà hàng hay khách sạn vì sợ lộ bí mật, nên ông Đạo mới mượn nhà bà Thụy An để tổ chức hội nghị, tức địa điểm trung lập. (Nói chuyện với ông Q., cháu Bùi Nhung ngày 8-7-2014.)

Cũng tin trong gia đình, Đỗ Đình Đạo bị đột tử tối 29-7-1954, thì sáng ngày hôm sau, Thụy An về nhà. Bà thấy Đỗ Đình Đạo đã chết, nằm ngay ngắn, trên bàn có một bát (tô) miến, mà về sau nhà đương cuộc Hà Nội nói là có chất độc. Bà Thụy An không biết ai đã giết Đỗ Đình Đạo, hay Đỗ Đình Đạo tự sát, nhưng trước tình trạng nầy, bà hoảng sợ bỏ trốn.

Trên chuyến tàu hỏa từ Hà Nội đi Hải Phòng, Thụy An bị bắt tại một nhà ga nhỏ cuối cùng trước khi đến Hải Phòng, và bị tạm giữ ngay tại đó, trong một căn phòng, bên ngoài do một người da đen, bận thường phục canh gác. Vì vậy Thụy An không biết cơ quan nào đã bắt mình: Phòng nhì Pháp, hay sở Liêm phóng (Công an), hoặc Cảnh sát?

Được tin vợ bị bắt, Bùi Nhung liền tìm đến thăm. Ông Nhung nói với vợ đại ý rằng ông không đủ thế lực và khả năng để bảo lãnh Thụy An ra khỏi tù. Bà hãy đợi xem thình hình, rồi sẽ liệu định sau. Thụy An liền nhờ Bùi Nhung mua giúp cho bà một chai rượu Tây (Pháp), để bà tặng cho người canh gác, nhằm nhờ ông ta giúp đỡ khi có việc cần. Bùi Nhung làm theo lời vợ yêu cầu. Bà Thụy An tặng chai rượu cho người canh gác. Tối hôm đó, người da đen canh gác uống rượu say. Bà Thụy An lợi dụng cơ hội bỏ trốn. (Toàn bộ câu chuyện về cái chết ông Đạo và bà Thụy An bị bắt, bỏ trốn theo lời bà Thụy An kể lại cho người cháu tên là Q. năm 1988. Ông Q. nói chuyện với người viết tại San Jose ngày 8-7-2014.)

Thụy An kể rằng khi người tây đen đang say sưa, bà xin đi nhà vệ sinh (cầu tiêu), rồi chui xuống lổ hầm nhà vệ sinh và bỏ trốn ra ngoài. Bà đến nhà một người bạn gần đó tắm rửa và thay áo quần, rồi theo xe hỏa trở ngược về Hà Nội.

Thời bấy giờ, loại cầu tiêu phổ thông là cầu tiêu đổ thùng. Cầu tiêu xây cao, phía dưới là một hầm cầu, xây kín 3 phía, còn chừa một phía làm cửa. Trong hầm cầu đặt một cái thùng để đựng chất uế thải. Mỗi tối hay sáng sớm, một người phu đổ thùng đến mở cửa, thay thùng cũ, đặt một thùng khác thế vào. Vì không dội nước, nên cái lỗ cầu thường rộng để khỏi bị dính khi đi cầu. Nhờ vậy, Thụy An mới chui xuống được hầm cầu để bỏ trốn.

Khi chính quyền Quốc Gia Việt Nam di chuyển vào Nam sau hiệp định Genève, hồ sơ vụ việc Đỗ Đình Đạo và Thụy An được Tòa thượng thẩm Hà Nội chuyển vào Tòa thượng thẩm Huế. Trong hồ sơ nầy, đến đoạn Thụy An bỏ trốn, thì người ta ghi rằng bà Thụy An trổ nóc cầu tiêu để thoát thân. (Theo lời kể của ông M. Đ.N. tức giáo sư Nguyễn Hữu Thứ, chánh án Tòa thượng thẩm Huế. Giáo sư Thứ kể cho người viết là ông đã tận mắt đọc lại hồ sơ nầy.)

Như thế là hai nguồn tin riêng biệt (tòa án và Thụy An) đều cho biết rằng Thụy An bỏ trốn sau khi vào cầu tiêu. Chỉ khác nhau là phía tòa án cho rằng Thụy An trổ nóc nhà cầu mà ra, còn Thụy An tự kể là đã chui xuống hầm cầu trốn đi. Thực ra sức vóc phụ nữ thì khó có thể trổ nóc để thoát thân và trước viễn cảnh bị giam cầm, Thụy An phải chấp nhận chui hầm cầu dầu thiếu vệ sinh và hôi hám để bỏ trốn.

Do bị chính quyền Quốc Gia Việt Nam truy nã, Thụy An lo ngại, không dám di cư vào Nam Việt Nam mà đành phải ở lại Bắc Việt Nam, trong khi Bùi Nhung và con cái đều vào Nam. Sau đó, tại Bắc Việt Nam, Thụy An lại bị liên hệ vào một vụ án khác.(Vào Nam Việt Nam, Bùi Nhung xuất bản năm 1965 tập hồi ký Thối nát, về giai đoạn 1945-1954.)

6. Thụy An và vụ án Nhân Văn Giai Phẩm

Sau năm 1954, tại Bắc Việt Nam nhà văn lão thành Phan Khôi chia giới văn nghệ sĩ Hà Nội thành hai thành phần rõ rệt: 1) Nhóm “lãnh đạo văn nghệ” hay những “ông quan văn nghệ”, viết văn theo lệnh của đảng Lao Động (LĐ tức đảng Cộng Sản), được đảng LĐ tin cậy, giao nhiệm vụ chỉ huy, đứng đầu là Tố Hữu. 2) Nhóm “quần chúng văn nghệ” là những thành phần còn lại, yêu tự do dân chủ, không muốn gò bó trong giáo điều và sự quản lý của “lãnh đạo văn nghệ.” Nhóm thứ hai đông đảo hơn, vận động cởi trói văn nghệ. Cao điểm của cuộc vận động là các báo Giai Phẩm vàNhân Văn xuất hiện năm 1956.

Đảng LĐ liền trấn áp, tổ chức học tập, bắt bớ, tù đày những văn nghệ sĩ phản kháng. Thế nhưng vẫn chưa đủ. Thụy An không tham gia và không viết bài cho cả hai báo Giai Phẩm và Nhân Văn, vẫn bị bắt giam tại ngục thất Hỏa lò Hà Nội vì bị cộng sản cho rằng bà tác động mạnh đến hai nhóm nầy. Khi viên công an cộng sản hỏi cung, y nói với bà Thụy An rằng: "Chị có mù đâu mà không thấy chế độ tốt đẹp ra sao, lại không giác ngộ và mất tin tưởng ở chế độ, trong đầu chứa chấp toàn ý tưởng phản động.” Trở về lại phòng giam, Thụy An tự chọc mù một mắt. Cán bộ trai giam hỏi Thụy An lý do vì sao tự chọc mù một mắt, bà trả lời: "Chế độ của các anh nhìn một mắt cũng đã thấy quá nhiều cái xấu xa chịu không nổi rồi, để cả hai mắt chắc tôi không sống nổi." (Thụy An kể chuyện cho người cháu là ông Q.) Đúng là đàn bà dễ có mấy tay!

Ngày 21-1-1960, Thụy An bị Tòa án cộng sản kết tội 15 năm tù giam, vì bị tố cáo là tiếp tay cho cả hai nhóm Giai phẩmvà Nhân văn, và làm gián điệp cho Pháp. Tuy nhiên, theo Thụy An, vụ án nầy chỉ là sự trả thù cá nhân của Tố Hữu mà thôi. Thụy An kể rằng trong một lần gặp nhau ở Hội nhà văn Hà Nội, Tố Hữu nói với Thụy An: "Tôi thấy chị làm thơ cũng khá, sao không đưa cho báo đăng?" Thụy An liền trả lời: “Thơ thì chỉ có một cái chiếu mà anh ngồi hết cả chỗ thì còn đâu ra chỗ mà ngồi. Tôi không thích ngồi ở mép chiếu." Từ đó Tố Hữu để tâm thù ghét và kiếm cơ hội ám hại Thụy An. Đó là nguyên nhân chính đưa đến việc Thụy An bị bộ máy tuyên truyền cộng sản dưới quyền Tố Hữu vu cáo và bà bị truy tố ra tòa án, để cuối cùng lãnh 15 năm tù giam.(Bà Thụy An kể cho ông Q.)

Thụy An ở bị nhà cầm quyền cộng sản giam từ 1960 đến 1973. Sau hiệp định Paris (27-1-1973), bà ra khỏi tù trong dịp mà cộng sản gọi là “Đại xá chính trị phạm”. Bà được cộng sản cho vào sinh sống ở Sài Gòn năm 1977. Lúc đó, một số con của bà đã di tản qua Hoa Kỳ. Bà liên lạc được với các con nhưng chưa có cơ hội gặp lại. Sau đây là thư bà Thụy An gởi cho người con trai đầu là Bùi An Dương: (thủ bút do ông Q. cung cấp)


























Kết luận
Trước đây, đã có nhiều sách báo viết về vụ án mạng Đỗ Đình Đạo, nhưng thiếu ý kiến của những người trong cuộc hoặc con cháu của người trong cuộc kể lại. Ngoài các tài liệu cũ, bài viết nầy chẳng những dựa vào những cuộc nói chuyện với con cháu của cả hai bên ông Đỗ Đình Đạo và bà Thụy An, mà còn kiểm chứng thêm với một số thân hữu lớn tuổi đã từng trải qua giai đoạn chuyển tiếp ở Hà Nội và Hải Phòng năm 1954, trước khi di cư vào Nam, đã từng đọc báo hay nghe thuật lại diễn tiến vụ án. Hy vọng bài báo nầy có thể góp thêm vài thông tin mới, ví dụ mối quan hệ giữa Đỗ Đình Đạo và Thụy An là tình bạn trong sáng giữa hai người và hai gia đình, chứ hai người không phải là tình nhân như một số tài liệu trước đây.

Tuy nhiên, cuối cùng vấn đề quan trọng là ai đã sát hại Đỗ Đình Đạo tối 29-7-1954 tại nhà số 1 đường Tuyên Quang, tức đường Cao Bá Quát, thì vẫn chưa có câu trả lời cụ thể, ngoài sự hoài nghi là cái chết của Đỗ Đình Đạo nằm trong kế hoạch giết tiềm lực của Việt Minh cộng sản, thủ tiêu tất cả những ai có khả năng chống lại cộng sản. Như thế, nếu cộng sản còn cầm quyền, thì có thể nghi án nầy sẽ chìm dần theo thời gian mà chẳng bao giờ có phần kết luận.

(Toronto, 16-7-2015)

Trần Gia Phụng

Tâm sự một bạn trẻ : Và tôi cúi đầu im lặng…

Và tôi cúi đầu im lặng…
(tâm sự một bạn trẻ ở VN)


Trước tiên, tôi xin nói với các bạn đây là câu chuyện từ chính kinh nghiệm của sếp tôi, một người nước ngoài “trăm phần trăm”, nhưng lại được nhìn nhận qua con mắt của tôi và suy nghĩ bằng cái đầu của tôi.

Tại sao lại là người nước ngoài “trăm phần trăm”? Bởi vì cô ấy chỉ vừa đến Việt Nam chưa đầy một năm, và cô ấy có thể sẽ sống tại đây một thời gian dài. Mà người nước ngoài sống lâu ở nước mình thì không còn là “trăm phần trăm” nữa mà phần nào đã bị Việt hóa để có thể tồn tại; còn ai mà chỉ vừa mới đến thì nhiều khi họ chỉ định ở vài tháng rồi thôi thì coi như chỉ là một cuộc viếng thăm. Còn cái nghĩa của tôi ở đây là người nước ngoài vừa đến nhưng kế hoạch là họ buộc phải sống lâu dài ở đây.

Tôi cũng chỉ vừa vào làm cùng cô mới 4 tháng, nhưng cảm giác bị nước lạnh tạt vào mặt thì hầu như ngày nào tôi cũng trải qua. Đến nỗi bạn tôi nói rằng: “Chắc bà ấy đang tiêm thuốc chống nhục cho mày.” Tại sao vậy? Vì cách làm việc của họ khác lắm các bạn à. Cách sống, suy nghĩ và cách giải quyết vấn đề nữa, và quan trọng hơn là chính những hoàn cảnh “trời ơi đất hỡi” mà cô ấy gặp phải cứ luôn xảy ra, và cái câu hỏi “Why? Why?” cứ lảng vảng trước mặt tôi. Nhưng tôi chỉ im thin thít, và ước gì có thể lặn luôn thì hay quá.

Chúng tôi làm việc dựa trên nguyên tắc là không đi trễ, đúng giờ làm việc, sau công việc, vứt tất cả tại văn phòng và không liên lạc trong ngày nghỉ trừ phi có trường hợp khẩn cấp. Từ hành động đến quyết định cần nhanh và quyết đoán, không do dự và dây dưa. Cả văn phòng chỉ có hai người phụ nữ nhưng ngày nào cũng có âm thanh của sự tranh luận. Thời gian đầu đương nhiên là tôi chỉ im lặng, nghe câu nào câu nấy thấm vào tận tim. Chưa bao giờ tôi thấy xấu hổ khi nhận lương cho đến khi tôi làm ở đây, dù tôi đã cố gắng hết sức.

Và lúc nào đi làm tôi cũng mong một điều duy nhất, hôm nay tôi sẽ được yên thân, đừng ai nói gì tôi. Nhưng mà nào có được vậy, riết rồi từ một kẻ chỉ biết im lặng, tôi mạnh dạn đáp trả, nói lên những gì tôi nghĩ và mạnh dạn nói rằng tôi không như thế. Khi đó, tôi nhận ra, một nụ cười trên gương mặt cô ấy, và cô ấy kết luận rằng: “Ít nhất bây giờ mày đã hiểu nên làm gì ở đây.”

Ôi trời! Thì ra đây là cái cô ấy muốn, cô ấy muốn tôi phải mạnh mẽ, phải kiểm soát tất cả những thứ mà cuộc sống này có thể quẳng vào tôi và mong rằng tôi có thể đấu tranh cho chính cái cuộc sống của mình. Cô ấy đã dạy tôi biết rằng sự phản kháng không hẳn là sai, nếu tôi phản kháng nhưng không thay đổi, có thể tôi đã nghỉ việc từ tuần đầu tiên, nhưng cô ấy thấy tôi có sự thay đổi dù là rất ít qua mỗi ngày của tôi ở đó, điều này có nghĩa là tôi “có hy vọng”.
Thế nhưng, có những chuyện rất kỳ lạ xảy ra đối với tôi, những việc mà có lẽ khi tôi nói ra không người Việt nào lại không biết đến nó. Thế nhưng, đối với sếp tôi, đương nhiên là mới mẻ rồi, nhưng đối với tôi, sao tự nhiên nó cũng trở nên… mới đến nỗi tôi chỉ biết im lặng.

Người cùng một nước nhưng không tin tưởng nhau sao?

Vì công việc của tôi là bán hàng, tôi thường xuyên trò chuyện với khách hàng, qua điện thoại có, gặp trực tiếp có. Thế nhưng, có cái khó là khi tôi gọi, hầu hết receptionist không muốn chuyển máy vì họ được dặn là không tiếp điện thoại chào hàng. Nhưng nếu là sếp tôi, một người nước ngoài thì họ nhanh nhảu chuyển máy. Có thể, một số không hiểu tiếng Anh, có thể một số nghe người nước ngoài thì thấy vấn đề chắc nghiêm trọng nên sẽ chuyển. Đến khi gặp khách hàng cũng thế, nếu họ nghe từ tôi, họ sẽ ngờ vực, nhưng nếu họ nghe từ sếp tôi, hay thậm chí không cần nói chuyện, chỉ cần nhìn cô ấy, thì họ sẽ tin.

Họ thường xuyên nói dối với tôi những lý do trời ơi đất hỡi và bị tôi phát hiện ra, tôi phải mất rất lâu mới thuyết phục họ đồng ý gặp mặt hay hợp tác. Nhưng nếu là sếp tôi gọi thì họ có bao nhiêu sự thật đều nói hết và chỉ chừng hai câu như: “Can I see you on…” hay “We would like to invite you to go to…” là y như rằng câu trả lời là “Yes”. Do đó, cô ấy kết luận rằng: “Tại sao người Việt và người Việt không muốn cùng nhau làm việc, không nói sự thật với nhau?” Vì thế, khi gặp một khách hàng có bản lĩnh, có kiến thức, lại nói tốt tiếng Anh, và quan trọng là biết chừng mực thì tôi cảm thấy rất cảm kích. Ít nhất thì dù không bán được hàng nhưng tôi vẫn thoải mái vì ít nhất người Việt ta có thể làm chủ được tình thế, và không để người nước ngoài xem thường như thế. Nhưng, được bao nhiêu người như thế?

Hoa hồng – Loài hoa giúp giải quyết tất cả vấn đề?

Đó là gì à? À, đơn giản lắm. Cái đầu tiên là tiền hoa hồng. Lần đầu tiên tôi làm Sale và cũng là lần đầu tiên có người nhìn thẳng mặt tôi và nói rằng, nếu không có hoa hồng, họ không làm việc. Tôi đứng chết trân, trong khi cô sếp bên cạnh liên tục hỏi: “Cái gì? Cái gì?” Tôi nói lại thì bạn biết tôi nghe được gì không? “Tại sao lại cần hoa hồng, công ty không trả tiền lương cho họ à? Vậy họ đến với chúng ta vì cái gì? Vì mong muốn cho chất lượng sản phẩm hay chỉ vì tiền của chúng ta?” – Làm sao tôi trả lời đây, nhưng bà ấy cứ hỏi mãi một câu ấy suốt ngày hôm đó kèm theo cái lắc đầu và tặc lưỡi.

Tôi vốn thấy nó cũng bình thường, ở nước mình thì điều này là dễ hiểu mà. Nhưng cô ấy nói rằng: “Nó không dễ hiểu tí nào cả, nó là một nỗi nhục, mày biết không? Ở Singapore không hề có điều đó.” Vâng, nhưng nhập gia tùy tục. Tôi đã nói như thế, và cô ta hất văng cái ghế rồi nói rằng: “Thảo nào đất nước của mày không bao giờ khá nổi – never, never.” Tôi muốn hất luôn cái bàn nữa kìa, nhưng lại tự chủ và suy nghĩ lại. Họ nói đúng không? Đúng hay sai? Và tôi im lặng nghĩa là tôi thừa nhận, nhưng tôi cãi như thế nào, làm sao để cãi đây? Rõ ràng nếu có hoa hồng, chúng tôi sẽ kinh doanh tốt hơn, nhưng trước khi tôi nói câu đó, tôi cần động não để trả lời cái câu hỏi lớn kia cùng cái câu kết luận hất văng ghế kia nữa.

Khi nào thì gọi là “cướp”, mà khi nào thì gọi là “ăn trộm”?

Đó là câu hỏi của cô ấy sau khi trải qua một vài cú sốc mà cô ấy bảo rằng tất cả đều là lần đầu tiên của cô ấy trong đời.

Cô ấy bị giật túi, nhưng may mắn là không mất gì vì tên cướp chỉ có một mình, và nó còn gan đến mức ngừng xe, quay đầu lại nhìn thẳng vào mặt cô. Và theo cô nói thì những người đàn ông ngồi bên đường vẫn thản nhiên uống cà phê và chẳng ai thèm tóm hắn giúp cô. Đương nhiên rồi, cô nói tiếng Anh nên họ không hiểu điều gì xảy ra. Lúc ấy cô ấy tạt vào mặt tôi một câu: “Chẳng lẽ không có mắt để nhìn sao? Tao không thể nói tiếng Việt nhưng tao đã la lên rất to, và họ đều nhìn thấy cái gì xảy ra, nhưng không ai giúp tao cả, và tên cướp vẫn có thời gian ngừng lại, nhìn thẳng vào mặt tao. Tại sao? Mọi người vô cảm thế? Tại sao?”
Tôi chỉ biết im lặng. Một lát sau tôi dạy cô nói từ “cướp”, và dặn rằng lần sau nếu có hoàn cảnh tương tự hãy nói to từ đó lên, sẽ có người giúp cô. Và đó là từ đầu tiên cô ấy học sau mấy từ như “xin chào” hay “xin lỗi, cảm ơn”. Trời ạ! Vì mấy từ này cô ấy tự học chứ chẳng cần tôi dạy.

Thế nhưng, tôi lại được học một từ khác đó là “burglary” là để chỉ kẻ đột nhập vào nhà, hay chúng ta hay gọi là “ăn trộm”. Không biết bạn tin hay không, nhưng đó là từ thứ hai tôi dạy cô ấy. Vì khu văn phòng của chúng tôi bị trộm, chúng đột nhập hơn mười hai văn phòng trong khu và đương nhiên phòng chúng tôi cũng có. May mắn là chúng tôi không mất gì, vì sếp của tôi kỹ đến mức dùng cả hai ổ khóa và thêm một ổ phụ, nhưng tất cả đều bị nạy hết. Hay thật, bọn trộm xem ra đã mất thời gian với cái văn phòng nhỏ của chúng tôi nhiều nhất, nhưng chúng chẳng thể trộm được gì, có thể vì hai người phụ nữ chúng tôi ngăn nắp quá chăng?
Và cô cứ ngồi hỏi tôi: “Tại sao không thấy cảnh sát, chúng ta đã đợi hơn 30 phút rồi?” Tôi muốn nói rằng từ từ sẽ có, thì một chú cảnh sát khu vực, nhẹ nhàng cắp tập tài liệu đi vào, xem xét qua loa, rồi đi loanh quanh. Cô ấy lại hỏi tôi: “Anh ta là ai? Sao lại được đi vào thế?” Khi biết đó là cảnh sát cô lại hỏi: “Sao chỉ có một cảnh sát? Lại còn từ từ, đủng đỉnh trong khi chúng ta đang lo lắng không biết chúng ta có mất gì không? Hôm nay chúng ta không thể làm việc?”

Vâng, và tôi lại… im lặng. Tôi làm sao trả lời được chứ, không lẽ tôi nói rằng ở Việt Nam việc mất trộm là bình thường? Hay tôi phải nói rằng vì đến đông thì cũng có bắt được kẻ trộm đâu, chỉ điều tra thôi thì từ từ cũng được. Nhưng nói sao cũng không được, nên tôi giữ yên lặng cho khỏi nghe cái từ “Why” nữa. Ấy vậy mà, hai giờ sau thì cả đống cảnh sát, người chụp hình, người lấy lời khai, làm tùm lum thứ đến hết buổi sáng, và coi như công việc ngày hôm đó của tôi bắt đầu sau giờ cơm trưa.

Và cô ấy vẫn tiếp tục hỏi: “Tại sao lại chậm chạp như thế? Ở Singapore, chỉ cần 15 phút, cảnh sát sẽ đến và làm nhanh chóng những gì cần làm và tạo điều kiện cho chúng ta tiếp tục làm việc.” Tôi muốn nói rằng đây không phải Singapore, nếu thích đến thế thì về nơi đấy mà sống. Nhưng, có cái gì cứ nghẹn ở cổ làm tôi không nói được. Và ngày hôm ấy tôi phải giải thích rằng không thể gọi là “cướp” mà nên gọi là “ăn trộm”. Và tôi biết đến từ “burglary”.

Không có lối thoát hiểm sao?

Bạn biết đấy, ở Việt Nam, cúp điện là chuyện bình thường. Nhưng thật nguy hiểm cho người nước ngoài nếu họ không được dạy điều đó. Câu chuyện dở khóc dở cười là sáng hôm ấy, cô ấy không thể đến chỗ làm đúng giờ vì cúp điện, và lúc cúp điện, cô ấy đang ở trong… thang máy. Cô ấy không biết nên đã không mang điện thoại, không mang bất cứ cái gì để có thể gọi ra bên ngoài. Vì cô chỉ định đi thang máy xuống để ra ngoài hút thuốc. Kết quả là cô sợ hãi đập cửa, kêu gào và, ơn trời, có người nghe thấy. Họ kéo cô ra và hỡi ôi, cái cửa cuốn vì cúp điện nên không thể mở ra được.

Mọi người không ai ra ngoài được, họ không thể chạy ra ban công mà nhảy xuống vì khá cao, và hầu hết đều là người nước ngoài với tùm lum các thứ ngôn ngữ được phát ra, mà đương nhiên là người chủ Việt Nam không thể hiểu, vì họ chỉ là người được thuê ở đây để trông nom và phụ giúp chứ cũng chẳng phải là chủ nhà thật sự. Phải mất hơn một giờ mới tạo được một khe hở cho cửa cuốn và mọi người cùng nhau đẩy nó lên. Khi sếp tôi đến công ty thì cũng gần hết buổi sáng, và cô lại hỏi: “Sao không có bình điện dự trữ? Đối với loại cửa đó, luôn có bình điện dự trữ kia mà? Tại sao cái chuông khẩn cấp trong thang máy không thể sử dụng? Và tại sao không có lối thoát hiểm, nếu xảy ra cháy thì sẽ như thế nào, tất cả sẽ chết như gà nướng à?”

Và lần này tôi trả lời được, câu hỏi này dễ quá mà. Tôi nói rằng bình điện dự trữ rất tốn kém, và các ông bà chủ thì tiết kiệm chi phí nên không muốn lắp đặt. Thang máy thì chắc chuông khẩn cấp bị hỏng. Lối thoát hiểm à? Tôi không chắc nhưng nhà ở Việt Nam không có nó. Và ngay sau câu trả lời của tôi, tôi nhận ra mình trả lời thật tệ. Vì “Cái gì? Tốn kém à, vậy hôm nay hơn mười người không thể ra ngoài đi làm đúng giờ, mỗi người sẽ bị trừ lương hoặc ngày phép, thử hỏi cái nào tốn kém hơn, nếu vì vậy mà hết mười người này dọn đi nơi khác thì sao? How? Rồi thang máy không bảo trì định kỳ à, không biết nó hư chuông à? Hay chuông đó chưa từng được lắp đặt để hoạt động? Vậy nếu tao chết ở đó vì thiếu oxy thì sao? Lối thoát hiểm à? Vậy các ngôi nhà ở Việt Nam không có, vậy khi xây nhà xong không có người của chính phủ đến kiểm tra độ an toàn à? Hay chỉ cần đưa hoa hồng thì mọi việc đều OK hết?” À, lần này tôi lại… im nữa. Tôi chỉ dặn cô là nên đem theo điện thoại để đề phòng bất cứ trường hợp nào có thể xảy ra.

Thế nhưng những điều trên đây có là gì so với bài học kinh khủng mà tôi sắp nói đây. Và có lẽ cái này là cái phiền muộn nhất. Khi câu hỏi là…

Nghèo và tự trọng, cái nào quan trọng hơn?

Một buổi sáng tháng sáu, bước vào văn phòng, tôi thấy gương mặt đăm chiêu của sếp mình. Chắc lại đang có cú sốc mới rồi. Nhưng lần này khác, cô không dồn dập hay bất bình nữa, mà nhẹ nhàng từ tốn, chậm rãi kể với tôi và sau câu chuyện, có lẽ cô cảm thấy buồn nhiều hơn là bất bình như những lần trước đó.

Cô nói rằng cô rất yêu quý hai vợ chồng giữ nhà nơi cô ở. Họ chỉ làm công cho chủ nhà, họ thay chủ nhà trông nom hết mọi thứ, như là dọn dẹp, giữ xe, bảo vệ. Chủ nhà thì ở nơi khác và mỗi tháng ghé qua để lấy tiền nhà. Cô thấy họ rất nghèo, nhưng tốt bụng và hay giúp đỡ cô. Tôi đã thấy có chút vui khi cô nhận xét về họ vì ít nhất người Việt chúng ta không hẳn để lại ấn tượng xấu trong cô. Nhưng, sáng nay, cô nói rằng cô đã lầm, hoàn toàn lầm. Cô nói rằng đêm hôm qua, một người bạn của cô đang bệnh và họ cần cô giúp đỡ. Vì đã rất trễ, khoảng gần 11 giờ tối, cô lò mò đi trong bóng tối bởi ở bên dưới cửa cuốn đã đóng và đèn tắt hết. Nhưng có một thứ ánh sáng le lói khiến cô phải chú ý, ánh sáng từ chiếc điện thoại di động. Cô đi theo ánh sáng đó, và khi mắt cô dần quen với bóng tối, cô đã thấy người đàn ông hằng ngày vẫn dắt xe, giữ nhà cho mọi người đang… trộm xăng trong những chiếc xe của mọi người sống ở đây.

Khoan đã, tôi biết các bạn mong muốn biết tiếp theo sẽ như thế nào, nhưng xin hãy bình tĩnh. Hãy khoan nói đến diễn biến tiếp theo, mà hãy nói đến phản ứng của tôi. Đôi mắt buồn ngủ của tôi tỉnh hẳn, mở to, và miệng tôi cứng như người bị tai biến. Cô nói rằng mặt người đàn ông thảng thốt, và ông ta gần như chết đứng ở đó. Nhưng vì cô cần phải đến giúp bạn mình nên cô đi ngay khi ông ta mở cửa giúp cô. Và tôi đã hỏi sau đó thế nào? Cô nói rằng cô đi thẳng lên phòng mình. Lát sau, cả hai vợ chồng họ cùng đến gõ cửa phòng cô và nắm lấy tay cô nói gì đấy nhưng cô không hiểu gì ngoài từ “xin lỗi”. Cô nói với tôi rằng cô đối với họ không tệ, hằng tháng ngoài tiền thuê nhà, và tiền giặt ủi, lần nào cô cũng đưa dư khoảng một trăm đến hai trăm và thường mua thêm thịt, cá cho họ nếu cô đi siêu thị. Vì cô chỉ sống một mình nên thỉnh thoảng cô mua luôn cho cả họ một ít thức ăn hay rau. Cô không nghĩ rằng họ lại như thế, họ đang trộm từ chính những khách hàng của họ, những người gián tiếp tác động đến tiền lương của họ và cô tự hỏi đây là lần thứ bao nhiêu họ làm điều này.

Và cô lại hỏi tôi, nhưng nhẹ nhàng hơn và không gắt gỏng như trước: “Bạn nghĩ sao về vấn đề này? Tôi có nên nói cho người chủ nhà thật sự, người đã đứng ra ký hợp đồng với tôi? Nếu tôi nói, có lẽ họ sẽ mất việc, và tôi hoàn toàn không muốn điều đó. Nhưng nếu tôi tiếp tục ở lại, tôi e mình sẽ chết vì mất ngủ, vì tôi không thể tin họ nữa khi mà chính mắt tôi nhìn thấy họ trộm cắp, và làm sao tôi có thể im lặng với tất cả hàng xóm của mình, những người mỗi ngày đều bị lấy trộm như thế. Họ cùng là người nước ngoài đến nơi xa lạ để sống, làm việc như tôi, chỉ có chúng tôi mới hiểu sự khó khăn khi sống ở một quốc gia khác như thế nào? Tôi phải làm sao? Làm sao đây? Xin hãy cho tôi lời khuyên?”

Lần này câu hỏi của cô ấy lại vang lên, không gắt gỏng như mọi khi, rất nhẹ nhàng, lại mang một chút van lơn. Nhưng sao tôi lại thấy nặng lòng thế này. Thà cứ như những lần khác, cứ phàn nàn, la lối um xùm, hỏi tôi gắt gỏng, có lẽ tôi còn thấy dễ chịu hơn lần này. Không biết nỗi buồn có lây lan hay không mà sau đó hai chúng tôi ngồi cạnh nhau nhưng đều im lặng, đâu đó vang lên tiếng thở dài.

“Thất vọng” là từ tôi hỏi cô ấy có cần tôi dạy cách nói bằng tiếng Việt hay không. Nhưng cô nói cô không cần, vì cảm giác của cô giờ đây hơn cả từ đó, cô muốn bỏ việc và quay về Singapore, cô muốn nói với bạn bè mình rằng không nên đến Việt Nam nữa vì nó đã làm cô quá thất vọng. Tôi chợt giật mình, lo sợ và nhanh chóng biện minh theo lối xuẩn ngốc nhất mà tôi từng làm. Tôi đã nói rằng hãy hiểu cho họ, vì có lẽ, chỉ là có lẽ thôi vì tôi không chắc. Vì họ nghèo quá, vì họ ở miền quê xa xôi, có thể họ còn có con, hay cha mẹ già. Tôi nói rằng trong cái nghèo, nó có rất nhiều điều phức tạp, và tôi hy vọng cô có thể hiểu cho họ, và đừng đánh giá người Việt chúng tôi qua tất cả những cái đó. Thế nhưng, câu trả lời tôi nhận được là..

“Tôi biết, tôi hiểu rằng nghèo không phải là một tội lỗi, thậm chí tôi đã rất thương họ khi thấy họ làm việc chăm chỉ mỗi ngày. Nhưng bạn có biết đến lòng tự trọng không? Nếu bạn dùng nghèo để biện minh, vậy lòng tự trọng bạn để đâu? Nó là cái bạn giữ lại cho chính mình, nếu nghèo mà không có lòng tự trọng, đất nước của bạn sẽ mãi như thế này, sẽ mãi không thể khá nổi. Đừng dùng cái nghèo để nói thay tất cả, bạn nghĩ rằng tôi giàu có à, không đâu, tôi cũng chỉ là người làm thuê, có khác chăng vì tôi đến từ nơi phát triển hơn với mệnh giá đồng tiền cao hơn mà thôi, tôi vẫn phải chăm chỉ mỗi ngày nếu không muốn bị đói. Vậy thì tại sao? Tôi coi họ như người nhà, vì chúng tôi cùng sống với nhau, thế nhưng họ lại trộm của tôi, người nhà của họ sao? Làm sao tôi có thể tin tưởng khi tôi đi làm mỗi ngày 10 giờ ở bên ngoài, làm sao tôi ngủ yên khi họ làm những việc đó?

Vấn đề không phải là tiền nữa, mà là sự nguy hiểm, bạn có chắc rằng họ làm thế sẽ không gây hỏa hoạn hay tai nạn? Bạn có chắc rằng nó chỉ là vấn đề nghèo thôi? Ở đây chính là con người, giữa người và người đấy. Hãy nhìn nước Nhật, họ đã từng nghèo, từng đói, từng bệnh tật. Bạn nghĩ nỗi đau của họ là đã nguôi ngoai? Không đâu, đến nay, họ vẫn chưa thể thống kê được bao nhiêu người chết từ hậu quả của hai quả bom nguyên tử và họ đã làm gì để họ được như ngày nay? Đó là nhờ lòng tự trọng đấy.”

Và lần này thì, tôi đã thật sự im lặng hoàn toàn, tôi không tỏ thái độ gì, tôi chỉ nhìn ra cửa sổ, và tôi thấy mặt tôi lạnh toát. Lần này gáo nước lạnh như bắc cực tạt vào mặt tôi, cả người tôi như run lên. Và tôi thở dài, thở dài cho một chuyện chẳng liên quan gì đến tôi nhưng lòng tôi nặng trĩu.

Ngày hôm nay tôi đã hỏi rằng cô ấy định sẽ thế nào. Cô ấy bảo rằng cô sẽ tha thứ cho họ, cô không nói với người chủ nhà, nhưng cũng sẽ dọn đi ngay khi cô tìm được nơi ở mới, và cô đã kể cho một vài người bạn của mình đang làm việc tại đây về điều này. Cô nói rằng nếu cô muốn sống ở đây thì cô cần phải quen với những việc này, cô chỉ muốn truyền đạt kinh nghiệm của chính mình lại cho bạn bè của cô, và hy vọng những kinh nghiệm này sẽ giúp họ không bị sốc với những điều này.

Tôi cũng chỉ biết im lặng khi nghe như thế, vì tôi đang nghĩ đến số lượng khách du lịch mỗi năm chúng ta bị mất đi. Số lượng người nước ngoài không thể làm việc được và quay về nước, hay số người Việt trẻ ra đi và không muốn quay trở lại vì họ tìm thấy một nơi mà họ cho là tốt hơn.

Thật ra trước đây tôi cũng từng bảo thủ và thầm trách một vài người mà tôi biết rằng họ tài giỏi và tư duy rộng mở nhưng lại ra đi và không muốn quay về. Tôi cho rằng họ ích kỷ, họ không biết cống hiến. Nhưng sao giờ đây tôi lại cảm thấy họ không hề như thế, có chăng họ đã tiếp cận với một môi trường mà ở đó cái tư duy của họ không bị hạn chế, cái nhân sinh quan của họ phù hợp. Bởi theo như tôi thấy thì ở thời điểm này, ngay tại đây, nhân sinh quan của cô sếp tôi không hề phù hợp với điều kiện đất nước ta. Thế nhưng, cái gì cũng phải thay đổi, nhưng quan trọng là thay đổi như thế nào. Một là đất nước ta thay đổi và khiến nhân sinh quan của cô ấy trở nên phù hợp. Hay cô ấy thay đổi để phù hợp với đất nước ta?

Bằng chứng cụ thể là giờ đây cô ấy có thể thoải mái hút thuốc và quăng tàn thuốc xuống chân mà đạp đạp, không thua gì người Việt chúng ta. Trong khi thời gian đầu, tôi thấy cô ấy mang theo cái túi nhỏ, cho tàn vụng vào đấy, rồi tìm thùng rác mà đổ. Nhưng giờ đây, cô thoải mái hút thuốc ở quán cà phê hay một vài nhà hàng có để gạt tàn trên bàn. Đấy, giờ cô ấy có thể như thế, và tôi hỏi, nếu cô ấy quay về Singapore, liệu có “dám” như thế? Câu trả lời là: “Of couse, no.”

Và tôi cúi đầu im lặng…


 Kachi

Bài Xem Nhiều