We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 22 July 2014

Bài Học Lịch Sử: Định cư 1 triệu người Bắc trên đất Nam

Định cư 1 triệu người Bắc trên đất Nam 

1
Ðể tránh tình trạng ứ đọng ở các trại tạm trú, các hoạt động định cư được thực hiện song song với hoạt động tiếp cư. Nhiều người ngay sau khi tới miền Nam hoặc sau một thời gian ngắn ở trại tạm trú đã tự lo liệu việc định cư ở những nơi có thân nhân hay bạn bè hoặc ở những vùng lựa chọn thích hợp với khả năng nghề nghiệp của mình. Con số này gồm khoảng 200,000 người hầu hết là gia đình công chức, thương gia và người hành nghề tự do. Ngoài ra còn gia đình các quân nhân di cư tổng số trên 100,000 người. Những người hoàn toàn trông cậy vào chương trình của chính phủ được xếp vào ba loại nghề nghiệp chính: nông nghiệp, ngư nghiệp hay tiểu công nghệ, sau đó được đưa đi định cư ở những địa điểm thích hợp tại các tỉnh miền Nam, miền Trung hay Cao Nguyên Trung Phần.


Tại những nơi này, Nha Ðịnh Cư thiết lập các trại định cư, cất nhà cửa, trường học, trạm y tế và đào giếng nước cho dân trong trại. Qua chương trình viện trợ Mỹ, Pháp và các chính phủ trong thế giới tự do cùng các tổ chức quốc tế như UNICEF, Hồng Thập Tự, và các cơ quan thiện nguyện từ khắp nơi trên thế giới, hàng trăm ngàn người làm nghề nông, nghề đánh cá hay tiểu công nghệ được cấp phát các dụng cụ và phương tiện thích hợp (trâu bò, hạt giống, phân bón; thuyền xuồng, lưới chài; nguyên liệu và vật liệu sản xuất.) Ngoài ra, trong thời gian đầu định cư, tất cả mọi gia đình đều được trợ cấp nhu yếu phẩm như gạo, muối, nước mắm, mùng mền, giường tủ... Tại mỗi tỉnh có đồng bào di cư, một Ủy Ban Ðịnh Cư tỉnh được thành lập do tỉnh trưởng làm chủ tịch gồm đại diện dân chúng và các cơ quan liên hệ. 

Chi phí định cư phần lớn do chính phủ Hoa Kỳ viện trợ, tổng cộng là 56 triệu đô la và khoảng 150 triệu đồng Việt Nam (theo hối suất chính thức hồi đó thì 1 đô-la bằng 35 đồng VN.) Trong số này, ngót 12 triệu đô la là chi phí chuyên chở của tàu Hải Quân Ðặc Nhiệm 90. Số tiền viện trợ còn lại, khoảng 45 triệu đô la, được dùng vào việc định cư tị nạn, gồm mọi sự giúp đỡ từ thời gian ở trại tạm trú đến trại định cư. Chi phí trung bình cho việc định cư là khoảng 80 đô la mỗi đầu người. 

Mấy tháng định cư đầu tiên có một số trở ngại do việc lựa chọn địa điểm không thích hợp với khả năng nghề nghiệp của người tị nạn. Chẳng hạn người làm ruộng ở đồng bằng không quen với công việc canh tác và trồng trọt ở miền núi, dân ngư phủ lại đưa đi định cư ở miền đồng ruộng. Nhiều vùng đất bỏ hoang trong tám năm chiến tranh lại nằm trong những khu kháng chiến cũ của Việt Minh. Dân tị nạn gặp không ít khó khăn khi sinh hoạt với dân chúng địa phương có ít nhiều liên hệ với những cán bộ và binh sĩ cộng sản đã ra Bắc tập kết. Ngoài ra còn có trở ngại về an ninh do cuộc xung đột giữa quân đội chính phủ với lực lượng nổi loạn Bình Xuyên hồi Tháng Tư 1955. Kết quả là khoảng 20,000 dân bị mất hết nhà cửa tài sản, trong đó một số là người tị nạn. 

Nhờ sự giúp đỡ tài chánh và huấn luyện kỹ thuật của các cơ quan viện trợ, nhất là các chuyên viên U.S.O.M. và phái đoàn cố vấn của Ðại Học Michigan, các dự án mới được thiết lập nhằm bãi bỏ một số trại định cư và chuyển dân tị nạn đến những nơi thích hợp hơn. Một thí dụ là trại định cư ở Thủ Dầu Một (Bình Dương). Trại này có 224 gia đình nông dân và ngư dân tổng cộng 1,036 người. Rừng Thủ Dầu Một không thích hợp với nghề làm ruộng, lại càng không thích hợp với nghề đánh cá. Những người này được chuyển tới Ba Ngòi, gần vịnh Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, 150 gia đình ngư dân được cấp phát phương tiện đóng tàu thuyền và đồ nghề chài lưới và 74 gia đình nông dân được chia đất ở bên trong, được giúp đỡ khẩn hoang và cấp phát phương tiện canh tác. Ðây là bước đầu của giai đoạn cuối cùng được gọi là giai đoạn kiện toàn định cư. Số dân do chính phủ định cư được phân phối theo tỉ lệ phỏng định 70% về nông nghiệp, 15% ngư nghiệp, 10% tiểu công nghệ và 5% tiểu thương. Tổng cộng có 315 trại định cư với 508,999 dân, phân phối như sau:

NAM PHẦN (14 tỉnh):


Ba Xuyên, 1 trại, 780 người
Phong Dinh, 3 trại, 10,683 người
Kiên Giang (Cái Sắn), 15 trại, 42,145 người
An Giang (*) 
Vĩnh Long, 6 trại, 2,803 người
Kiến Hòa, 11 trại, 12,268 người
Ðịnh Tường, 10 trại, 9,036 người
Long An, 9 trại, 14,108 người
Phước Tuy (Bà Rịa), 20 trại, 26,241 người
Ðô thành Sài Gòn, 12 trại, 24,925 người
Gia Ðịnh, 37 trại, 110,339 người
Biên Hòa, 56 trại, 107,947 người
Bình Dương, 12 trại, 16,353 người
Tây Ninh, 14 trại, 15,726 người
Tổng cộng: 206 trại, 393,354 người

TRUNG PHẦN (9 tỉnh Trung Nguyên):

Quảng Trị, 11 trại, 9,251 người
Thừa Thiên, 11 trại, 5,700 người
Ðà Nẵng, 5 trại, 7,917 người
Quảng Nam, 4 trại, 462 người
Bình Ðịnh, 1 trại, 275 người
Khánh Hòa, 6 trại, 4,608 người
Phú Yên, 2 trại, 1,129 người
Ninh Thuận, 1 trại, 312 người
Bình Thuận, 18 trại, 31,430 người
Tổng cộng: 59 trại, 61,094 người

NAM TRUNG PHẦN (5 tỉnh Cao Nguyên):

Ðồng Nai Thượng (Blao), 8 trại, 12,796 người
Ðà Lạt, 18 trại, 15,456 người
La Ngà I và II, 5 trại, 6,770 người
Ban Mê Thuột, 15 trại, 14,725 người
Pleiku, 4 trại, 4,804 người
Tổng cộng: 50 trại, 54,551 người
(*) Số trại và số người định cư ở An Giang không thấy ghi trong nguồn tài liệu của PTUDCTN, “Cuộc Di Cư Lịch Sử tại Việt Nam,” trang 169. Có lẽ các trại này lúc đó đang sáp nhập vào trại Cái Sắn ở giữa hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. 

Ngoài các thành phần kể trên, Nha Ðịnh Cư còn tổ chức những trại riêng biệt ở một số tỉnh miền Trung và Cao Nguyên miền Nam cho đồng bào sắc tộc. Tổng cộng có 14,794 người định cư tại bảy trại, gồm có:

Hai trại người Nùng ở Sông Mao và Phan Rí, tỉnh Bình Thuận.
Ba trại người Mường, một trại ở Biên Hòa, và hai trại ở Pleiku.
Một trại người Mán ở Ban Mê Thuột.
Một trại người Thổ và người Thái ở Trung Nghĩa, Ðà Lạt. 

Theo bảng phân phối trên đây, số dân định cư đông nhất là ở Nam Phần, và ngoại trừ vùng thủ đô Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Ðịnh, tỉnh Biên Hòa có nhiều dân định cư nhất nước với đại đa số là người Công Giáo. Chỉ trong vòng một năm, dân số tỉnh Biên Hòa tăng gần gấp đôi, từ 130,000 lên tới 240,000. Quân đội Pháp và Việt đem máy móc tới làm đường sá và khai quang những vùng đất bỏ hoang để giúp dân chúng cất nhà hay trồng trọt. Có tất cả sáu khu định cư trong tỉnh Biên Hòa gồm Hố Nai, Gia Kiệm, Tân Uyên, Phước Lý, Tân Mai và Bến Cỏ. Khu lớn nhất là Hố Nai gồm bảy làng chia theo thành phần dân di cư từ các tỉnh ở miền Bắc, xếp thứ tự theo số dân từ đông nhất đến ít nhất: Hải Phòng (20,000), Thái Bình (11,050) Bùi Chu (6,000), Bắc Ninh (4,000), Thanh Tâm (3,250), Thanh Hóa (2,858). Với khả năng tổ chức và điều hành của hệ thống Công Giáo, tinh thần kỷ luật và siêng năng của trên 50,000 giáo dân, Hố Nai đã tận dụng được các chương trình giúp đỡ và sớm vượt qua được những trở ngại lớn lúc ban đầu để trở thành khu định cư hoàn toàn tự túc với đủ mọi ngành nghề. 

Sau việc cất nhà, đào giếng và tổ chức bộ máy hành chánh trong các trại định cư, PTUDCTN bắt đầu cung cấp các phương tiện nghề nghiệp cho dân chúng. Riêng về nông nghiệp, nông dân được cấp phát đất hoang để làm vườn hay làm ruộng. Chỉ trong vòng một năm, 23 trại định cư tại 5 tỉnh miền Nam đã được chính quyền ký nghị định thiết lập thành làng xã địa phương. Cũng chỉ trong năm đầu tiên, công việc khẩn hoang tại các trại đã đạt được kết quả như sau:

NAM PHẦN:

Diện tích đã khẩn hoang: 30,565 ha
Diện tích đã cấy lúa: 21,057 ha
Diện tích đã trồng tỉa: 7,973 ha

TRUNG PHẦN:Diện tích đã khẩn hoang: 3,630 ha
Diện tích đã cấy lúa: 1,750 ha
Diện tích đã trồng tỉa: 1,870 ha

CAO NGUYÊN:
Diện tích đã khẩn hoang: 3,996 ha
Diện tích đã cấy lúa: 823 ha
Diện tích đã trồng tỉa: 3,100 ha
Trong số các trại định cư, có nhiều trại như Cái Sắn, La Ngà, Ban Mê Thuột, Pleiku được thành lập theo chương trình đặc biệt nhằm tái canh vùng Cái Sắn (Kiên Giang) và khai thác cao nguyên miền Nam. Các Bộ Cải Cách Ðiền Ðịa, Canh Nông, Công Chánh, Xã Hội hợp tác chặt chẽ với PTUDCTN để hoạch định và thực hiện các dự án kiện toàn định cư về kinh tế, văn hóa giáo dục, y tế và xã hội. 

Cái Sắn, được thành lập ngày 21 tháng 12, 1955, là thí điểm kiện toàn định cư lớn nhất, trong vòng hai năm, đã đem lại cho 7,500 gia đình gồm trên 42,000 người một đời sống hoàn toàn tự túc. Nhờ các cơ quan ngoại viện cung cấp vật liệu xây cất và nông cụ cần thiết, trong năm đầu tiên đã có trên 13,000 căn nhà được dựng lên và 12,000 ha (trong số trên 100,000 ha ruộng đất bỏ hoang) được khai khẩn và trở thành vườn ruộng phì nhiêu. Các tổ chức phi chính phủ, đặc biệt là tổ chức Thanh Thương Hội Quốc Tế, giúp đỡ tổ chức và điều hành các trạm y tế, nhà bảo sanh, thành lập các phòng thông tin và trụ sở sinh hoạt cộng đồng.

Công trình quan trọng nhất ở Cái Sắn là việc chính quyền và dân tị nạn với máy móc và dụng cụ viện trợ đã hợp lực đào được 17 con kinh dẫn nước từ sông Tân Hiệp vào các khu tiếp giáp với đồng ruộng và nơi cư trú của dân chúng, mỗi con kinh rộng 8 mét và dài trung bình 12 km, không những cần thiết cho việc trồng trọt mà còn là những tuyến giao thông, thương mại và chuyên chở bằng thuyền bè giữa các địa điểm trong trại với bên ngoài. Nhờ sự sinh hoạt tấp nập trên những con kinh này, Cái Sắn đã thay đổi hẳn đời sống kinh tế địa phương, gia tăng lợi tức và công ăn việc làm. Tỉnh Kiên Giang nhờ đó cũng có nhiều điều kiện phát triển thuận lợi.

Những trại định cư của gần 15,000 đồng bào sắc tộc tại cao nguyên Nam Trung Phần tập trung trong vùng Ðà Lạt, Pleiku, Ban Mê Thuột cũng được hưởng chương trình đặc biệt. Cơ quan viện trợ USOM (United States Operations Mission) lập dự án khai khẩn đất đai, làm đường, xây trường học, bệnh xá, cung cấp cho dân định cư vật liệu làm nhà và nông cụ, nông phẩm để trồng trọt. Ðến cuối năm 1957 dân chúng đã có thể tự túc nhờ sản xuất nông phẩm cung cấp cho thị trường địa phương. Chỉ riêng một làng đã có khả năng sản xuất mỗi tháng được 24 tấn rau đủ loại.

Lê Xuân Khoa
 (Trích từ “Việt Nam 1945 - 1995, Chiến Tranh, Tị Nạn và Bài Học Lịch Sử”

------------
------------------------------------


Tổ chức di cư và định cư 1954



Công cuộc di chuyển và định cư ngót một triệu dân tị nạn gồm ba công tác chính: chuyên chở, tiếp đón và định cư.


Trẻ em Việt Nam tị nạn xin các thủ thủy cho kẹo, trong hành trình trên đường từ Hải Phòng vào Sài Gòn, Ðông Dương, trên tàu USS Bayfield vào khoảng Tháng Chín năm 1954. (Hình: US Navy Department)


Việc chuyên chở do Pháp và Hoa Kỳ phụ trách, còn tiếp đón và định cư là trách nhiệm của Quốc Gia Việt Nam với sự viện trợ tài chánh và vật liệu của Pháp, Hoa Kỳ cùng một số chính phủ và tổ chức tư nhân ngoại quốc. Trước khi tìm hiểu chi tiết của mỗi loại hoạt động, ta cũng nên biết cơ cấu điều hành và phối trí các hoạt động trong suốt quá trình di cư và định cư của dân tị nạn 1954.

Do việc Pháp bỏ rơi Bùi Chu và Phát Diệm vào Tháng Sáu 1954, một số linh mục và giáo dân đã bỏ chạy về vùng Hà Nội, Hải Phòng. Chính phủ Ngô Ðình Diệm khi đó vừa được thành lập đã cấp tốc giao cho Bộ Xã Hội và Y Tế phối hợp với các Bộ Thanh Niên, Công Chánh, Thông Tin, Canh Nông và Kinh Tế để tổ chức công cuộc di cư và định cư tị nạn. Sở Di Cư thuộc Bộ Xã Hội và Y Tế được đặc biệt thành lập để phối hợp các hoạt động tiếp đón, chuyên chở, cổ động cứu trợ, và định cư tị nạn. Chuyến tàu chở dân di cư đầu tiên là chiếc tàu Anna Salen của Thụy Ðiển, rời cửa biển Bắc Việt ngày 17 Tháng Bảy, 1954, ba ngày trước Hiệp Ðịnh Genève, và cập bến Sài Gòn ngày 21 Tháng Bảy với trên 2,000 người tị nạn.

Trước tình hình gia tăng lũy tiến số dân tị nạn, ngày 17 Tháng Chín, 1954, Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm ký nghị định số 928-NV thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn (PTUDCTN), ngang hàng với một Bộ trong Nội Các. Thành phần gồm có:

Ngô Ngọc Ðối: Tổng Ủy Trưởng
Nguyễn Ngọc An: Ðổng Lý Văn Phòng
Nguyễn Lưu Viên: Tổng Ủy Phó
Nguyễn Thanh Diệu: Giám Ðốc Ðịnh Cư
Lê Văn Trà: Giám Ðốc Tài Chánh
Nguyễn Văn Trụ: Tổng Thanh Tra
Hoàng Văn Thận: Kỹ Sư Công Chánh
Ðỗ Trọng Chu: Công Cán Ủy Viên
Trần Phước Lộc: Chánh Sở Tiếp Cư
Nguyễn Công Phú: Chánh Sở Chuyển Vận
Ðỗ Ðức Trí: Thông Dịch Viên
Trung Tá Bùi Văn Hai: Sĩ quan liên lạc của Quân Ðội QGVN

Sau ông Ngô Ngọc Ðối còn có hai tổng ủy trưởng khác là Bác Sĩ Phạm Ngọc Huyến và ông Bùi Văn Lương. Ông Lương là người tại chức lâu hơn cả (từ Tháng Chín 1955 đến khi hết nhiệm vụ khoảng cuối năm 1957). Nhiệm vụ của PTUDCTN là phối trí với các cơ quan hữu trách của Pháp và Hoa Kỳ về vấn đề chuyên chở bằng phi cơ và đường thủy, và đảm nhiệm công cuộc tiếp đón, cứu trợ và định cư tị nạn. Bên cạnh PTUDCTN có các văn phòng liên lạc quân sự và tôn giáo, văn phòng an ninh để phối hợp với các cơ quan liên hệ. Trụ sở trung ương PTUDCTN đặt ở miền Nam với các Nha Ðại diện tại Bắc Phần, Trung Phần và Cao Nguyên.

Sau thời hạn di cư chấm dứt ngày 19 Tháng Năm, 1955, Nha Ðại Diện tại Bắc Phần đương nhiên chấm dứt nhiệm vụ. Các Sở Chuyển Vận và Tiếp Cư được sáp nhập vào Nha Ðịnh Cư để tập trung vào công cuộc kiện toàn định cư ở miền dưới vĩ tuyến 17. Một Ủy Ban Ðịnh Cư cũng được thiết lập tại mỗi tỉnh do tỉnh trưởng làm chủ tịch với các cơ quan trách nhiệm địa phương.

Vì phần lớn dân tị nạn 1954 là người Công Giáo (khoảng 70% trên tổng số tị nạn) nên song song với PTUDCTN của chính phủ còn có một tổ chức cứu trợ tư nhân do Giám Mục Phạm Ngọc Chi điều khiển, lấy tên là "Ủy Ban Hỗ Trợ Ðịnh Cư"(UBHTÐC), hoạt động từ 1 Tháng Chín, 1954. Ðáp lời kêu gọi của UBHTÐC, nhiều tổ chức Công Giáo trên thế giới đã nhiệt thành gửi tiền và phẩm vật cứu trợ. Nhờ sự giúp đỡ này cùng với sự trợ lực của chính phủ, UBHTÐC đã giúp thiết lập được trên 300 trại định cư, xây cất hàng trăm nhà thờ và trường học, cung cấp các dịch vụ cho người tị nạn không phân biệt tôn giáo. Sau hơn hai năm hoạt động, UBHTÐC gây được cơ sở vững chãi cho các trại định cư. Ngay cả sau khi ủy ban đã chính thức giải tán vào cuối năm 1957, các linh mục trưởng trại cùng nhiều cán bộ vẫn tiếp tục thực hiện các chương trình văn hóa, giáo dục và phát triển xã hội trong các trại.


alt

Tàu USS Bayfield neo tại Sài Gòn để đưa dân tỵ nạn xuống đất liền sau hành trình từ Hải Phòng, Tháng Chín 1954. (Hình: US Navy Department)


Như trên đã nói, ngoài Phủ Tổng Ủy và UBHTÐC, công cuộc định cư ngót một triệu người tị nạn được thực hiện thành công cũng là nhờ có các cơ quan ngoại viện và tổ chức từ thiện quốc tế, đặc biệt là chính phủ Pháp, Mỹ và cơ quan Cứu Trợ Công Giáo Hoa Kỳ.

Công cuộc chuyên chở bằng đường hàng không và đường thủy lúc đầu do chính phủ Pháp đảm nhiệm như đã cam kết tại Hội Nghị Genève. Một Ủy Ban Chuyển Vận Việt-Pháp được thành lập ngày 21 Tháng Bảy để phối trí công tác này. Cầu hàng không Hà Nội-Sài Gòn bắt đầu hoạt động mạnh mẽ với sự huy động các phi cơ quân sự và dân sự. Các tàu Hải Quân Pháp cũng được sử dụng đến mức tối đa. Tuy nhiên, vì số người di cư gia tăng quá nhanh, vượt hẳn ước lượng và khả năng tiếp nhận của nhà chức trách Pháp, chính phủ Quốc Gia Việt Nam phải kêu gọi sự tiếp tay của Hoa Kỳ. Do chỉ thị của Tổng Thống Eisenhower, Ðệ Thất Hạm Ðội thành lập đoàn Hải Quân Ðặc Nhiệm 90 (Navy Task Force 90) gồm 41 chiếc tàu đủ loại do thiếu tướng hải quân Lorenzo Sabin chỉ huy để giúp việc chuyên chở người tị nạn Việt Nam. Ðoàn tàu đặc nhiệm này có khả năng chở 100,000 người mỗi tháng. Con tàu lớn nhất là tàu Marine Serpent chở được 6,200 người. Chuyến đầu tiên là tàu U.S.S. Menard chở 2,100 người cập bến Sài Gòn ngày 16 Tháng Tám, 1954. Chuyến cuối cùng của đoàn Ðặc nhiệm 90 là tàu General A.W. Brewster chở 1,900 binh sĩ Liên Hiệp Pháp và 520 người tị nạn tới Sài Gòn ngày 15 Tháng Năm, 1955.

Việc chuyên chở vào Sài Gòn bằng đường hàng không được thực hiện từ các phi trường Gia Lâm và Bạch Mai ở Hà Nội hoặc phi trường Cát Bi ở Hải Phòng bắt đầu từ ngày 4 Tháng Tám. Cầu không vận dài nhất thế giới (khoảng 1,200 km đường chim bay) hoạt động với sự tham gia của các công ty được thuê mướn hay trưng dụng gồm có: Air-France, Air Vietnam, Aigle Azur, Air Outre-mer, Autrex, CAT, Cosara, và UAT. Hầu hết các máy bay đều được tháo gỡ hết ghế để chở được tối đa số hành khách, trung bình mỗi ngày là 2,000 người. Phi trường Tân Sơn Nhất trong một ngày hoạt động tối đa ghi được con số 4,226 người tới. Cứ mỗi sáu phút lại có một phi cơ hạ cánh, biến sân bay Tân Sơn Nhất thành phi trường bận rộn nhất thế giới hồi đó. Tổng cộng có 4,280 chuyến bay và có một tai nạn đã xảy ra ngày 15 Tháng Tám khi chiếc Bristol hai động cơ chở 47 người tị nạn và phi hành đoàn bốn người bị rớt ở Lào cách Sài Gòn 300 km. Chỉ có một phụ nữ với đứa con nhỏ và ba nhân viên phi hành sống sót.

Những người đi bằng đường thủy được đưa xuống Hải Phòng bằng xe lửa và di chuyển vào Nam bằng tàu của hải quân Pháp hay Hoa Kỳ. Ðoàn tàu đặc nhiệm 90 của Mỹ thả neo ở cửa sông Hồng để nhận người tị nạn do các tàu nhỏ của Pháp chở tới. Một số ít tàu của Anh, Trung Hoa và Ba Lan cũng tham dự vào việc chuyên chở người tị nạn. Nhiều người ở các tỉnh xa không thể tới Hà Nội hay Hải Phòng phải di chuyển bằng phương tiện riêng. Vì vào ngày chót của thời hạn di cư (19 Tháng Năm, 1955) vẫn còn một số người chưa được chuyên chở, Pháp yêu cầu Hà Nội gia hạn ba tháng và được chấp thuận.

Theo thống kê của PTUDCTN, tổng số dân rời bỏ miền Bắc vào Nam là 875,478 người, trong số đó 871,533 đi trước ngày 19 Tháng Năm và 3,945 người đi trong thời gian gia hạn. Nếu tính thêm số người vượt tuyến sau khi hết hạn, khoảng 76,000 người đi bằng thuyền hay đường bộ (xuyên rừng qua Lào), tổng số tị nạn lên tới gần 950,000 người.

Trong số 871,533 người đi đúng kỳ hạn có 213,635 người được Pháp chở bằng máy bay (4,280 chuyến), số còn lại gồm có 555,037 người được chở bằng tàu thủy và 102,681 người đi bằng phương tiện riêng.

Số 555,037 người đi bằng đường thủy chia ra như sau:

Pháp: 237,000 người (338 chuyến)
Mỹ: 316,000 người (109 chuyến)
Anh, Trung Hoa và Ba Lan: 2,000 người (8 chuyến)

Số 3,945 người đi trong thời kỳ gia hạn cũng được chở bằng đường thủy, trên chín chuyến tàu cuối cùng sau đây:

Djiring, ngày 2 Tháng Sáu, 55, chuyên chở 500 người
Nam Việt, ngày 6 Tháng Sáu, 55, chuyên chở 70 người
Gascogne, ngày 8 Tháng Sáu, 55, chuyên chở 818 người
St. Michel, ngày 16 Tháng Sáu, 55, chuyên chở 700 người
Espérance, ngày 27 Tháng Bảy, 55, chuyên chở 787 người
Durand, ngày 7 Tháng Tám, 55, chuyên chở 12 người
Phong Châu, ngày 6 Tháng Tám, 55, chuyên chở 286 người
Hương Khánh, ngày 16 Tháng Tám, 55, chuyên chở 310 người
Hải Phòng, ngày 19 Tháng Tám, 55, chuyên chở 462 người

Công cuộc tiếp cư bắt đầu từ việc tiếp nhận dân di cư vào những trại tạm trú ở Hà Nội, Hải Phòng, làm thủ tục di chuyển bằng máy bay hay tàu thủy, cho đến việc thu xếp nơi ăn chốn ở và tiếp tế vật dụng cần thiết cho mỗi gia đình khi mới đặt chân lên Sài Gòn, Vũng Tàu hay Nha Trang. Những hoạt động này diễn ra liên tiếp không kể ngày đêm từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng của thời hạn di cư. Sau khi Hà Nội và Hải Dương được chuyển giao cho Việt Minh vào cuối Tháng Mười, trung tâm tiếp cư Hải Phòng càng trở nên đông đúc và bận rộn. Tất cả trường học và một số lớn công sở được biến thành trại tạm trú cũng không đủ cho người tị nạn tạm trú. Nha Ðại Diện PTUDC tại Bắc Phần phải cho dựng lên hàng ngàn chiếc lều vải ở hai trú khu vùng ngoại ô, mỗi nơi chứa được khoảng 15,000 người, đủ cho các đợt người đến và đi liên tiếp.

Ngoài ra còn một trú khu khác chứa được 12,000 người ở cách Hải Phòng bảy cây số do Bác Sĩ Tom Dooley dựng lên và quản trị hoàn toàn riêng biệt.

Khi tới các sân bay hay bến cảng Sài Gòn hay Vũng Tàu, đồng bào được các nhân viên tiếp cư đưa lên xe đến các trạm tiếp cư hay tạm trú. Trường đua ngựa Phú Thọ, Nhà Hát Thành Phố và một số trường học trong thời gian nghỉ Hè được dùng làm nơi tiếp đón trước khi phân phối người tị nạn tới các trại tạm trú. Tại đây, họ được Sở Tiếp Cư cung cấp các phẩm vật cần dùng và tiền tiếp tế cho mỗi người. Có tất cả 20 trại tạm trú trong vùng Sài Gòn, Gia Ðịnh, và một trại ở Rạch Dừa, Vũng Tàu. Sau ngày cuối thời hạn di cư, các trạm tạm trú còn hoạt động thêm một tháng, tới ngày 17 Tháng Chín, 1955 mới chấm dứt.

Lê Xuân Khoa
(Trích từ "Việt Nam 1945-1995, Chiến Tranh, Tị Nạn và Bài Học Lịch Sử")

CHUYỆN VỀ NHỮNG CÁI LỖ


        Kính Thưa Văn Sĩ D/L Hà Tiến Nhất và Qúy Vị :
        1 - Sự so sánh " tỷ đối " về 2 cái lỗ từ thân thể con người  , dẫn nạp một luận đề mang nhiều triết lý văn hóa , đạo đức ,  tư cách  , nhơn phẩm  ... của  nhiều giai cấp từ  " Thượng Tầng - Hạ Cám " trong xã hội .
             Qua câu chuyện và các chủ đề giáo dục của thầy giáo Quyên Di và sự cộng tác chặc chẻ với  bọn Ác Ôn Côn Đồ cộng sản , thế nhơn  nghiệm luận theo   " Tri Thức Luận " thì :
             " Hữu lực giả tật dĩ  trợ nhân , hữu tài giả miễn dĩ phân nhân , hữu đạo giả khuyến dĩ giáo nhân  " ( Trích Thiên Thượng Hiền Hạ - Mặc Tử Chi Thuyết )
               Tạm hiểu  như nghiêm luận : " Như thế thì , kẻ đói nên được ăn , kẻ rét cần được mặc ấm , kẻ làm loạn phải bị trừng trị " Vậy thầy giáo , những nhà mô phạm , các bậc tri thức ... đi cộng tác với bè lũ tội phạm phải bị vạch mẵt , chỉ tên ... và có thể bị trùng trị " .
             Vậy Văn Sĩ  DL/HTN đã hiện thực chính sách nhơn đạo  " Chính trị thượng hiền vi dân " có giá trị nhơn luân của Một Nhà Kiêm Ái .
      2 - Đã là con người  , ai cũng có  " nhơn phẩm và trí năng " nên thế nhơn  ,  thường suy xét hành vi  của con người qua nhiều khía cạnh của một công  việc của một " đời người " .
            Những cá nhơn  , dĩ công vi tư  , mưu cầu lợi ích cá nhơn ... mà " cộng tác "  , làm ăn ,  " hùn hạp " ... làm ăn với bọn côn đồ , bọn Việt cộng bán nước hại dân , bọn Việt gian ... trước sau gì cũng rước họa vào thân " ( Bị cộng sản biếm nhục hay bị sát thân ) và còn bị  thế nhơn chê cười , biếm thị ,  nguyền rũa !
          Vậy  Thánh nhơn có dạy  , hậu thế nên học tập : " Thánh minh chi vương, bất khả vi u giản , quảng trạch , sơn lâm thâm cốc . Thánh minh chi minh tất tri chi " - Lời Thánh Nhơn ( Trích từ Hồn Viêm Tộc Trong Lời Kinh Việt Đạo - Phần Hán văn )

                                                         Trân Trọng
                                                      Vương Thiên Vũ

                                 ( Lão Đưa Đò Trên Giòng song Biến Dịch )





vtt-35-phamtranCHUYỆN VỀ NHỮNG CÁI LỖ


    Cô gái điếm có cái lỗ trôn. Ông thầy đồ có cái lỗ miệng. Cả hai đều dùng cái lỗ của mình để buôn bán nuôi thân, đồng thời làm trách nhiệm công dân đối với đất nước lúc này là chống cộng. Cô gái bán trôn. Bán trôn xong rồi, cô cầm tấm bảng carton có viết chữ đi rao hàng: “bán trôn, không bán nước”. Một mình cô trình diễn ngoài đường phố kẻ đi người lại tấp nập để tranh thương với nghề bán nước (lại cũng bán) của VGCS. Ông thầy bán nước bọt. Ông không làm “tiếp thị” ngoài đường phố như cô gái, mà giao dịch toàn với các đại gia, dân làm ăn lớn tại các hội nghị, hội thảo quốc gia trong các phòng ốc sang trọng. Ông thầu được món hàng “Việt Nam Học” của VGCS, đem vào bán cho học trò trong các đại học Mỹ. Có người bảo ông là cộng sản? Không, ông cũng chống cộng. Ông tuyên bố ông lo lắng cho cộng đồng bị ngôn ngữ và văn hóa cộng sản xâm nhập. Có nghĩa là, ông quốc gia có hạng chẳng thua ai. Ông chứng minh: “Tôi giúp các hội sinh viên Việt Nam hằng năm tổ chức buổi tưởng niệm biến cố đau thương 30 tháng 4, tổ chức “Đêm Văn Hoá”, hát quốc ca VNCH trong lễ ra trường của sinh viên v.v.
     Mấy chuyện này chẳng phải bần bút phịa ra để tán nhảm, mà là thực tại xẩy ra trong xã hội ta ngày nay, đăng trên internet, mọi người đều thấy cả. Cô gái bán trôn, xin lỗi, bần bút không biết tên. Ông thầy bán chữ quí danh là Quyên-Di. Đứng trên lập trường dân tộc, trong lúc đất nước nghiêng ngả như hiện nay, bạn đọc thử suy nghĩ, cân nhắc, đánh giá, và so sánh cách thức chống cộng bằng cái trôn của cô gái điếm với chống cộng bằng cái miệng của GS Quyên Di, xem cái nào chống cộng có chính nghĩa hơn, cái nào đáng coi trọng hơn? Bần bút chỉ nêu hiện tượng. Kết luận xin tùy ở bạn đọc.
Hai mặt của một vấn đề
     Về cô gái bán trôn, cô chẳng ngại giấu diếm mình làm nghề bán trôn, một thân một mình biểu tình bất chấp cường quyền, ra đường công khai lên án bọn VGCS bán nước. Đó là đặc điểm chống cộng của cô gái bán trôn. Ngoài ra chẳng có gì nhiều nữa để nói về cô ngoài cái chuyện chắc chắn là cô vì nghèo đói nên mới phải đem cái ngàn vàng đi rao bán. “Nghề ngỗng ” của cô tuy không được xã hội chấp nhận, nhưng thiết tưởng cô còn hơn hẳn những con đàn bà của những thằng lớn có chức, có quyền, có tiền, có địa vị,  “ăn no ấm cật rậm rật tối ngày” không biết làm gì, chạy đôn chạy đáo tìm đĩ đực tặng free cái trôn lại còn phải bù tiền cho đĩ nữa để thỏa mãn cơn rượng đực. Hơn cả lũ cán bộ ra vào luồn cúi, nịnh bợ để ăn cắp, lừa đảo, giựt dọc. Và chắc chắn hơn hẳn cả lũ Bộ Chính chị chính em đem bán mồ mả ông cha, đất đai của tổ tiên cho Tầu khựa để vinh thân phì gia. Cái đáng nói khác nữa là trong lúc quốc gia hữu sự, có biết bao nhiêu sĩ phu, trí thức, đảng viên lão thành trốn tránh trách nhiệm thì một người làm điếm như cô lại ý thức được trách nhiệm của mình, mà là ý thức rất đúng đắn: chỉ bán tạm cái lỗ cắm dùi trên thân thể của mình chứ không bán nước. Và còn cái đáng - rất đáng nói - sau cùng là, cô rao bán trôn công khai ngoài đường, ngoài chợ, giữa thanh thiên bạch nhật chứ không bán lén bán lút như cung cách bọn chó má Bộ Chính Trị đảng VGCS bán giấu bán đút đất nước cho Tầu khựa. Bọn to đầu khốn kiếp nhìn cô gái bán trôn mà không biết hổ thẹn. Bị bà nhà văn Dương Thu Hương ỉa lên đầu mà cũng phải nín thinh. Hèn ơi là hèn. Đã hèn mà còn vô liêm sỉ nữa. Những người có chút liêm sỉ bị chửi bới như thế hẳn phải tự vận từ khuya rồi.
     Thấy cô gái chống cộng đơn độc như thế, có người thương cảm mà chẳng ai dám đồng tình, ca ngợi sự can đảm và sáng suốt của cô. Lý do chỉ vì cô là một cô gái bán trôn.
     Trong khi cả nước đứng lên chống VGCS bán nước sôi nổi, mà như trình bầy,  cô gái làm nghề bán trôn là một điển hình, thì thầy giáo Quyên Di lại đi theo một đường lối khác mà ông cũng cho là chống cộng. Một bản tin trên internet cho biết
     Nhà văn, nhà giáo Quyên Di đang hợp tác với chế độ cộng sản Việt Nam trong các đề án của Khoa Việt Nam Học & Tiếng Việt của đại học Khoa Học và Nhân Văn thuộc viện đại học Hà Nội. Hà Nội cùng với các phần tử thiên tả tại Hoa Kỳ mở các chương trình dạy "Việt Nam Học và Tiếng Việt" cho các sinh viên Việt Nam tại các trường đại học ở Hoa Kỳ. Một trong những người tiếp tay đắc lực là nhà văn Quyên Di.  

Và sau đây nữa là trích website của trường ĐH Hà Nội (http://vsl.edu.vn/gs-quyen-di-thuyet-trinh-tai-khoa/59:    
     Trong chuyến về Hà Nội dự Hội nghị Quốc tế Việt Nam học lần thứ tư, Giáo sư Quyên Di Chúc Bùi (Đại học California Los Angeles và Đại học California State, Long Beach) đã nhận lời thuyết trình tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt vào sáng 29/11/2012. Chủ đề của buổi thuyết trình là “Định hướng đào tạo Việt Nam học tại Hoa Kì”. Đây là buổi sinh hoạt khoa học lần thứ hai của Khoa trong năm học 2012-2013. Nhiều cán bộ giáo viên của Khoa, cộng tác viên, và một số giáo viên đã nghỉ hưu và sinh viên quốc tế đã tham dự buổi thuyết trình … Các chương trình trao đổi văn hóa tại University of Washington Seatle, San Jose State University, California Los Angeles, UCLA đang mở các chương trình này. Các giáo sư người Việt là những người tiếp tay. Tại Seattle đã có giáo sư đến từ Hà Nội. Chương trình giảng dạy do Hà Nội cung cấp….

      Bị tố cáo hợp tác với chế độ Hànội, nhưng GS Quyên Di phủ nhận. Ông biện lý: Tôi biết: trong công cuộc bảo vệ lý tưởng quốc gia, bảo vệ cộng đồng khỏi sự xâm nhập của ý thức hệ cộng sản; cũng như trong sứ mệnh giữ gìn sự trong sáng, thanh lịch và chính xác của tiếng Việt, sự đóng góp của tôi rất nhỏ nhoi. Tuy nhiên, tôi làm những việc này với tất cả tâm huyết và sự trân trọng.”

      Theo GS Quyên Di, thì vì lo lắng cho cộng đồng bị ngôn ngữ, văn hóa cộng sản xâm nhập, nên ông phải trực diện với CS để có cơ hội và tư thế. Việc này ông biện bạch bằng cách nêu ra các sắc tộc khác cũng đều làm như thế cả. Ông chứng minh rằng năm 2012, đi dự “Hội nghị Quốc tế Việt Nam học” tổ chức ở Hà Nội, ông không đi một mình mà đi cùng với ban giáo sư khoa Ngôn ngữ và Văn Hoá Nam Á của đại học UCLA, trong đó có các giáo sư dạy tiếng Ấn, tiếng Phi, tiếng Indonesia, tiếng Thái. Và ông hãnh diện khoe: “Lần đó, tôi có dịp may trình bày về sự bảo vệ, phát triển ngôn ngữ - văn hoá Việt Nam tại Hoa Kỳ, trong nền giáo dục dòng chính cũng như trong các cộng đồng địa phương. Với những chứng liệu cụ thể, tôi chứng tỏ cho người nghe thấy sức mạnh và quyết tâm của cộng đồng chúng ta trong sứ mệnh này, để họ thấy rằng chuyện họ muốn xâm nhập cộng đồng chúng ta qua con đường ngôn ngữ và văn hoá là bất khả thi.
     Cứ cho là GS Quyên Di không “hợp tác” mà chỉ “tham gia” vào việc soạn thảo môn “VN Học” của VGCS và đem vào dậy trong các đại học Mỹ, nhưng ông cũng đã thừa nhận những việc làm của ông sau đây:
-  Giúp VGCS tuyển giáo sư từ trong nước qua Mỹ giảng dậy, vì theo ông, “Phải nói là cho đến nay, cộng đồng chúng ta không có nhiều nhân sự đủ tiêu chuẩn để tham gia những cuộc đọ sức này”.
-  Soạn thảo chương trình giảng dậy
Về nước thuyết trình để trao đổi kinh nghiệm.
     Mục đích của GS Quyên Di - như ông nói - là để bảo vệ lý tưởng quốc gia, bảo vệ cộng đồng khỏi sự xâm nhập của ý thức hệ CS, giữ gìn sự trong sáng, thanh lịch, và chính xác của tiếng Việt. Không cần phải lý sự dài dòng, cứ tìm vào nội dung của chương trình giảng dậy, và xem kết quả của việc học tập thì thấy được GS Quyên Di nói thiệt hay phóng đại, thành công hay thất bại.
1.  Việc bảo vệ lý tưởng QG và cộng đồng -  Thực tế cho thấy, VGCS càng ló mòi lưu manh, gian ác, càng lòi cái đuôi bán nước ra bao nhiêu thì lý tưởng QG càng sáng tỏ hơn bấy nhiêu. Khỏi cần ai phải bảo vệ hết. Điều này rõ như ban ngày. Còn việc người ta có theo đuổi lý tưởng QG hay không thì lại là chuyện khác. Việc GS Quyên Di nói rằng ông bảo vệ cộng đồng khỏi sự xâm nhập của CS thì chính ông đã tự mâu thuẫn và huênh hoang quá rồi. Ông tham gia vào công tác tuyển chọn và đưa bọn giáo sư trong nước sang dậy cho con em người tỵ nạn tại các đại học Mỹ thì chuyện này nên giải thích ra sao? Đó có phải là đem CS xâm nhập cộng đồng không?
2.  Chương trình giảng dậy -  Nguyên cái tên “Việt Nam Học” thôi đã thấy là dao to búa lớn quá rồi, không khỏi có tính cách lòe bịp. Là VN Hoc thì phải nói đến nghiên cứu đủ hết mọi lãnh vực về dân tộc, đất nước, và con người  VN, gồm văn minh, văn chương, văn học, phong tục tập quán, lịch sử, nguồn gốc dân tộc vân vân. Nhưng theo GS Quyên Di thì, trong môn VN Học, ông thầy dậy ngôn ngữ và tiếng Việt cho sinh viên ngoại quốc là chính. Trong học trình (syllabus), như GS Quyên Di phổ biến, có đề cập đến nhiều lãnh vực học tập, nhưng thực tế, theo chúng tôi nghĩ, chỉ là ông thầy dậy tiếng Việt cho sinh viên bằng cách giới thiệu những khía cạnh của đời sống VN. Một tuần lễ, môn VN Học có hai ngày lên lớp, thứ hai và thứ Tư. Mỗi ngày lên lớp 1 giờ 15’ (3:30 - 4:45 pm). Như vậy một tuần sinh viên chỉ gặp ông thầy 2 lần trong 2giờ 30 phút, mà học trình lại quá ôm đồm. Xin nêu một thí dụ:
Week 2:  (tuần lễ thứ 2 của niên học)    
* Vietnamese Philosophy  (triết lý Việt Nam)
- Agriculture philosophy (Triết Lý Nông Nghiệp)
- Yin and Yang philosophy (Triết Lý Âm Dương)
- Three ranks: Heaven-Earth-Man philosophy (Triết Lý Tam Tài:Thiên-Ðịa- Nhân)
- Five elements (i.e. Metal, Wood, Water, Fire and Earth) philosophy (Triết Lý
  Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ)
- The Vietnamese Bronze Drum Culture (Văn Minh Trống Ðồng)
* The Traditional Vietnamese Belief Systems (truyền thống tín ngưỡng
   của người VN)
*  Perception of Self and Nature (nhận thức về con người và về thiên nhiên)
*  Religions, beliefs, and rituals (tôn giáo, tín ngưỡng, và các lễ nghi)
*  Holidays and celebrations (Các ngày lễ và những lễ hội)
* Traditional Vietnamese Cultural Characteristics  (các đặc tính văn hóa
   truyền thống của người VN)
- the Most High worshiping (đạo thờ Trời)
- heroes and ancestors worshiping (thờ cúng tổ tiên và các anh hùng dân tộc)
- spirit of gratitude (lòng biết ơn)
*  Assigning INDEPENDENT PROJECT (đề án cá nhân của sinh viên)
     Xin hỏi, có 2 giờ 30 phút đồng hồ mà bằng đấy môn học bao la như biển cả, rậm rạp như một khu rừng, ông thầy dậy được cái gì? Và học trò học được cái gì?
3.  Kết quả học tập -  Chúng tôi không đưa ra những bằng chứng khảo sát. Trong sự hiểu biết thô thiển và giới hạn của mình, chúng tôi chỉ nêu ra một vài bằng chứng quan sát để nói lên rằng những nỗ lực của GS Quyên Di - có thể ngay tình nhưng chủ quan và nông cạn - đã và đang gặp thất bại. Nghĩa là, ông đã không giữ được sự trong sáng, thanh lịch, và chính xác của tiếng Việt như ông nói, mà trái lại, còn làm cho ngôn ngữ VN dần dần biến thái một cách lố bịch.
     Đọc trên báo chí và trên internet hiện nay tại hải ngoại, những người yêu mến tiếng Việt không khỏi bàng hoàng khi thấy người tỵ nạn viết cho người tỵ nạn đọc những câu văn ngớ ngẩn, những từ ngữ thô kệch và vô nghĩa. Nói chung văn phong rất Việt cộng, thí dụ như: “các chiến sĩ công an đang tác nghiệp …”, hoặc: “chính quyền Saigon ra lệnh …”. Văn phong miền Nam phải là: “bọn công an đang làm phận sự …”, hay: “Chính Phủ VNCH ra lệnh …”. Khẳng định rằng chỉ có bọn văn nô trong nước mới viết như thế. Người miền Nam và dân tỵ nạn tuyệt đối không. Tình trạng viết lách này tại hải ngoại chắc chắn xuất phát từ bọn cán bộ VGCS đang làm việc tại đây, hoặc con em tỵ nạn xuất thân từ các lớp Việt ngữ do bọn cán bộ văn hóa sang dậy trong các đại học Mỹ. Trách nhiệm này thuộc về ai? GD Quyên Di có nhìn thấy tình trạng này không, và có nên gánh lấy một phần trách nhiệm, vì chính ông đã đem bọn VGCS vào dậy Việt ngữ và văn minh, văn hoá VN … trong đại học Mỹ.
     Một nhà giáo chống cộng trật chìa như thế nhưng lại được dư luận đồng cảm và bênh vực: “Tôi nghĩ là có được một địa vị như ông (GS Quyên Di) thì cần gì phải đính chính với những người chưa có tầm nhìn chiến lược và quy mô…… hơi đâu để tâm mà cố làm được gì có ích và qua lý trí của mình. Quan nhất thời dân vạn đợi chúng ta nên tỉnh thức”.
     Đâu là tầm nhìn chiến lược và quy mô của GS Quyên Di, xin chỉ ra?
Sự thật mất lòng
     Những việc làm của GS Quyên Di về Hànội thuyết trình, tham gia soạn thảo chương trình giảng dậy về môn VN Học với VGCS, đem nó vào đại học Hoa Kỳ, tuyển chọn giáo sư từ trong nước ra giảng dậy về môn này là đã rõ ràng. Ông không phủ nhận, mà chỉ biện bạch và chống chế. So với cô gái bán trôn, ông tỏ ra vừa thiếu can đảm, vừa kém trí tuệ. Ông không nhận thức được VGCS là một lũ bán nước. Là một giáo sư đại học, ông thừa biết rằng bán nước là một trọng tội đối với đất nước, hợp tác với bọn bán nước là tòng phạm với chúng. Ông cũng không dám công khai tố cáo tội ác lại còn cộng tác với lũ tội phạm, cho dù ông cộng tác trong lãnh vực văn hóa. Về lãnh vực này, GS Quyên Di không thế nào không biết cái NQ 36 của VGCS. Chúng chi ra hàng tỉ dollars để thực hiện nghi quyết này. Hai lãnh vực NQ 36 xâm nhập cụ thể và thành công nhất là văn hóa và văn nghệ. Ngày trước ca sĩ hải ngoại không dám về nước để hát xướng. Nay hầu như ca sĩ hải ngoại không đứa nào không về hát hò để kiếm tiền. Ngày trước ca sĩ trong nước ra hải ngoại hát bị biểu tình chống đối. Bây giờ chúng ra hải ngoại hát thoải mái. vấn đề biểu tình hầu như không còn nữa. Đó là sự thành công không thể phủ nhận được của NQ36, mặc dầu nói ra thì đau lòng, nhưng đó là sự thực.
     Về văn hóa cũng thế, lãnh vực xâm nhập này của NQ36 tuy không ồn ào, nhưng không phải là không có kết quả. Nhiều lớp dậy Việt Ngữ cho con em người tỵ nạn đang sử dụng tài liệu giảng dậy của VGCS. Nhiều đại học dậy môn “Việt Nam Học” như GS Quyên Di xác nhận. Chương trình và nội dung của môn học này sản xuất từ trong nước, do giáo sư trong nước ra giảng dậy. Tiếp vào sự xâm nhập văn hóa nàylà chuyện không ít nhà thơ, nhà văn hải ngoại đem sách về in và phổ biến trong nước. Ngược lại, sách của bọn văn nô trong nước được bọn trí thức ngựa hải ngoại in, ca tụng, và quảng cáo không thiếu gì…  Đó cũng phải là một thành công đáng kể của NQ36.
     Cần đặt ra vấn đề như thế này là, nếu GS Quyên Di [và một số khoa bảng khác nữa] không hợp tác với VGCS đem môn VN Học vào các đại học Mỹ để dậy cho con em chúng ta, không hợp tác soạn thảo chương trình giảng dậy, trái lại, còn ngăn cản các đại học Mỹ mướn thầy dậy tiếng Việt từ trong nước, vận động giới đại học chặn đứng sự xâm nhập của cái môn học tào lao này, chận đứng các thứ văn hóa phẩm tuyên truyền của VGCS v.v., thì liệu cái NQ 36 nó có thể thành công được không? Rất tiếc là GS Quyên Di đã hành động ngược lại với đường lối hợp lý mà đáng lẽ ông nên làm để ngăn chận NQ36. Đó là cần phải vận động để ngăn chặn sự xâm nhập của NQ 36, thì trái lại, ông đã cộng tác với VGCS để thi hành cái NQ đó. Rất đáng nghi ngờ về sự khôn ngoan, sáng suốt của nhiều giới trí thức ngày nay. Sáng suốt nhưng lại u mê, thiển cận. Sự khôn ngoan lại chính là tinh thần nô lệ từ ngàn xưa, nó bắt rễ sâu xa trong xã hội, mà người ta gọi là tinh thần “trọng sĩ”. Giới “SĨ” của ta rất tự hào về điều này. Tinh thần yêu nước của cô gái bán trôn không được coi trọng cũng vì cô không mang chữ “Sĩ” hay chữ “Sư” trên mình.  Xã hội VN còn mang nặng thiên kiến rõ rệt: kẻ bị coi là hạ cấp thì dù có làm hay mấy cũng vẫn bị cho là chẳng ra gì. Người có học làm sai cũng vẫn được coi trọng.  
     Chẳng dám “mèo khen mèo dài đuôi” - bởi vì bần bút cũng là người Việt Nam - nhưng nói về đạo đức, lễ giáo thì người Việt Nam mình phải nói là có thừa. Do đó mà có bao giờ người ta thấy người việt mình khen việc làm của giới gái điếm bao giờ đâu, và cũng chẳng bao giờ thấy ai dám chê bai công việc của một nhà mô phạm? Cô Tư Hồng chở gạo đi cứu đói còn bị dè bỉu. Chuyện Kiều tuyệt tác đến thế mà vẫn cứ bị chê là dâm thư không đáng đọc. Chỉ vì cái lý do cô Tư Hồng và nàng Kiều là những người làm nghề bán trôn.
     Còn về học thuật thì như Khổng Phu Tử chẳng hạn, một ông Ba Tầu nhưng được dân ta tôn thờ như thánh. Thờ Khổng đã vậy, lại còn thờ cả Quan Công, Trưong Phi mới là dị hợm! Cái gì “Tử viết” cũng đều là khuôn vàng thước ngọc cả. Chẳng mấy người thấy rằng cái chế độ Tầu cộng đến hồi sắp sụp đổ thì bọn đầu sỏ Trung Nam Hải bèn phải vực Khổng Tử dậy để chống đỡ cho cái chế độ mục rữa của chúng. Xưa kia Tầu cộng vùi dập ông thánh Khổng bao nhiều thì ngày nay chúng lại tôn thờ ổng bấy nhiêu. Để làm gì? Thưa là để muợn cái đạo lý của ông “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” để giữ vững ngai vàng cho chúng. Quân (vua) là đảng. Thần là dân bị trị. Dân phải trung với đảng, bất trung với đảng thì đương nhiên chết là phải. Đó là đạo đức thánh hiền, thứ đạo đức trọng sĩ, kỵ nông, sợ cường quyền.
     Học viện Khổng Tử ở Hànội nghe đâu được xây bề thế lắm. Mà Khổng Phu Tử là ai? Ông ta là một quan lại nước Lỗ. Làm quan chán rồi về dậy học, viết sách. Trong sách Luận Ngừ, Khổng Tử thú nhận, ông chẳng có tư tưởng gì, chỉ là sưu tầm, cóp nhặt, và sao chép lại của thiên hạ. Phải thừa nhận ông có công sưu tầm.  Những cái hay, cái đẹp của dân phương Nam, Khổng Tử lượm về recycle thành kinh, thành sách, dậy lại cho Lạc Việt. Kẻ sĩ Lạc Việt lại cứ tưởng đấy là “thánh kinh” người Tầu đem giáo hóa mình, và cúc cung xưng tụng ngài Khổng là “Vạn thế Sư Biểu”, chỉ vì ngài Ba Tầu này là “SƯ”, một ông thầy đồ tiêu biểu.
     Trên đất nước ta ngày trước, một anh Ba Tầu mua ve chai, đồng nát về bán lại cho nhà máy recycle thành những thứ đồ gia dụng. Những thứ đồ gia dụng này đem bán lại cho người mình xài. Đó mới là chặng một recycle của mấy anh Ba. Chặng thứ hai, chẳng mấy chốc anh Ba ve chai trở nên giầu có, anh mở chành, thu mua lúa thóc của nhà nông, xay thành gạo bán lại cho nông dân. Người dân Việt sống nhờ gạo của Ba Tầu nhưng kỳ thực là gạo của nông dân VN, chứ chẳng phải anh Tầu nào làm ra cả. Khổng Khâu ngày xưa cũng vậy thôi, chỉ có điều cụ Khổng nhà ta, thay vì thu mua ve chai, đồng nát và lúa thóc, ông thu nhặt văn hóa, văn minh của Việt Tộc, tinh chế và san định thành kinh, thành sách dậy lại cho người mình. Hóa ra đạo đức, văn minh, văn hóa là đạo đức, văn minh, và văn hóa Lạc Việt nhưng do Tầu Khổng Khâu recycle. Điều tai hại là nhiều người Việt ngày nay cứ cho người VN mình không có văn minh, văn hóa. Nằng nặc cho rằng văn minh văn hóa VN đều là của Tầu. Từ nô lệ Tầu về văn hóa, ngày nay tiến đến nô lệ về chủ quyền của đất nước chỉ là một bước nhỏ.
Lời kết
     Người bình dân ta có câu tục ngữ ý nghĩa rất hàm xúc: “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông, nhì sĩ”. Đói meo, cái thành kiến “nhất sĩ, nhì nông” bị vỡ mộng. Bấy giờ người ta mới mở mắt ra thừa nhận “nhất nông, nhì sĩ”. Lúc này đây, nước nhà sắp mất hẳn bào tay Tầu khựa rồi, không biết người mình có sẵn sàng xoay hướng tư duy, thay đổi câu tục ngữ thành “nhất sư nhì đĩ, gặp cơn quốc sỉ, nhất đĩ nhì sư” để chống xâm lược và diệt Việt gian không?
San Jose 21-7-2014

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
    

Kỷ Niệm 60 Năm Hiệp Định Genève (1954-2014): Bài học gì cho Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay?

(Sydney, Australia – Tháng 3-2014)

 Pháp và Việt Minh ký Hiệp định Geneva

Bài viết đánh dấu 60 năm Hiệp Định Genève được soạn thảo với một hi vọng nho nhỏ là chúng ta có thể học được kinh nghiệm của quá khứ đau buồn mà đất nước Việt Nam thân yêu đã phải trải qua. Hiệp Định này và hậu quả của nó đã được trình bày từ nhiều quan điểm khác nhau, kể cả tài liệu khá đầy đủ của Bộ Quốc Phòng Mỹ, The Pentagon Papers (1971).
Từ năm 2004, một số tài liệu do Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh phổ biến giúp chúng ta hiểu thêm về quan điểm và mục tiêu chiến lược của hai cường quốc cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt là Trung Quốc, trong vấn đề Việt Nam (Đông Dương) và thân phận của Việt Minh/Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) trong quan hệ với hai đồng minh bảo trợ.

Tài liệu Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh xác nhận điều mà chúng ta đã suy diễn là VNDCCH - cũng như Quốc Gia Việt Nam/Việt Nam Cộng Hòa (QGVN/VNCH) - đã bị chi phối quá nhiều bởi chính trị đại cường và do đó đã không theo đuổi được chính sách độc lập.

Bài viết này phần lớn nhìn vào sách lược của Bắc Kinh tại Hội Nghị Genève trong nỗ lực củng cố và mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc như là một đại cường đang bước chân vào diễn đàn quốc tế. Có thể nói, đây là sách lược mà Bắc Kinh theo đuổi liên tục trong 60 năm qua, kể cả trong vấn đề tranh chấp Biển Đông với Việt Nam hiện nay.
Bối Cảnh
Hiệp Định Genève 1954 giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam thời hậu bán thế kỷ thứ 20 khi mà cuộc chiến tranh lạnh đang ở mức độ cao. Nhưng lý do dẫn đến sự chia cắt đất nước Việt Nam vào ngày 21 tháng 7 năm 1954 bắt nguồn từ những biến cố lịch sử trong và sau Thế Chiến Thứ Hai, đặc biệt là tại Hội Nghị Potsdam.
Sau khi đã đánh bại Đức Quốc Xã và trước khi Nhựt Bản đầu hàng, lãnh đạo đồng minh gồm Hoa Kỳ, Anh Quốc và Liên Xô đã họp Hội Nghị tại Potsdam từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945 để qui định việc phân chia quyền lực và vùng ảnh hưởng trong thời hậu chiến.
Việt Nam không phải là một vấn đề lớn trong chương trình nghị sự. Phe đồng minh quyết định trao quyền giải giới quân đội Nhật Bản từ vĩ tuyến thứ 16 trở ra Bắc cho Trung Hoa Dân Quốc (quân đội Tưởng Giới Thạch) và từ vĩ tuyến thứ 16 (từ phía nam Đà Nẳng) trở vào Nam cho Anh Quốc. Cũng tại Hội Nghị nầy, phe đồng minh đã chấp nhận lời yêu cầu của đại diện nước Pháp vừa được giải phóng, để Pháp có thể tiếp thu trở lại thuộc địa Đông Dương. Đây là một quyết định tai hại cho Việt Nam và đi ngược lại trào lưu dân tộc tự quyết trong vùng Đông Nam Á. Tướng Charles de Gaulle, được coi là anh hùng tranh đấu cho nền tự do của nước Pháp, nhưng trong vấn đề Đông Dương, Tướng de Gaulle là một tên thực dân không hơn không kém.
Mặc dầu một hiệp ước sơ bộ được ký kết ngày 06.03.1946 với chính quyền Hồ Chí Minh, cuộc chiến Việt-Pháp đã không thể tránh được và trở nên khốc liệt hơn kể từ cuối năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông chiếm Bắc Kinh và thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Quốc). Khối cộng sản (Liên Xô và Đông Âu) - và đặc biệt là Trung Quốc đã trở thành hậu phương lớn tiếp viện ồ ạt chiến cụ, và gởi cố vấn tham chiến tại Việt Nam.
Năm 1952, Đại tướng Dwight D. Eisenhower đắc cử tổng thống Mỹ và vào giữa năm 1953, Washington ủng hộ Kế hoạch Navarre của Pháp nhằm thực hiện chiến lược mới và xúc tiến việc thành lập quân đội QGVN. Trong kế hoạch mới nầy, Điện Biên Phủ, một tỉnh lẻ tại vùng biên giới Lào-Việt được chiếm lại và tạo dựng thành một căn cứ quân sự với một lực lượng quân đội Liên Hiệp Pháp khoảng 10 ngàn người.
Cũng vào giữa năm1953, chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) tạm thời được ngưng bắn (armistice) chính thức vào ngày 27 tháng 7. Phương thức ngưng bắn nầy được coi là có thể áp dụng tại Đông Dương.
Có lẽ vì thế mà vào ngày 25.01.1954, tại Berlin, Hội Nghị Ngoại trưởng Tứ Cường (Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô) bày tỏ ý định triệu tập một hội nghị về Triều Tiên và Đông Dương tại Genève vào ngày 26 tháng 4 cùng năm. Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô gởi mật điện yêu cầu Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc thông báo và khuyến khích VNDCCH tham dự [1]. Cũng theo mật điện nầy, Liên Xô tin rằng QGVN, Lào và Cao Miên sẽ đồng ý tham dự. Mật điện nầy không nói lý do tại sao Liên Xô tin như vậy, nhưng một chi tiết ít khi được nhắc đến là Quốc Trưởng Bảo Đại đã cử cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm tham dự Hội Nghị Berlin với tư cách quan sát viên [2].
Theo một chiến lược cố hữu ‘vừa đánh vừa đàm’ mà Chu Ân Lai đề cập trong Bản Nhận Định và Đề Nghị trình Ủy Ban Trung Ương trước khi Hội Nghị Genève bắt đầu, và để tạo thế mạnh chính trị trước hoặc trong khi Hội Nghị Genève được triệu tập, Việt Minh tập trung một lực lượng hùng hậu nhằm bao vây Điện Biên Phủ. Vào tháng 3 năm 1954, tương quan quân số đôi bên là 50 ngàn chống 10 ngàn, tức là Tướng Võ Nguyên Giáp, dưới sự cố vấn của Đại Tướng Trung Cộng Trần Canh [3], có ưu thế gấp 5 lần nhiều hơn.
Ngày 07.05.1954, Điện Biên Phủ thất thủ và tạo một ảnh hưởng chính trị lớn tại Paris vượt xa giá trị quân sự của tỉnh lẻ nầy. Bộ đội Việt Minh thiệt hại khoảng 8 000 nhân mạng so với khoảng 1500 của quân đội Liên Hiệp Pháp. Bảo Đại nói rằng sự thất thủ của Điện Biên Phủ chẳng phải là một tai họa chiến lược gì [4].
Nhưng mục tiêu của Việt Minh không phải, hoặc không chỉ là quân sự – mà là ảnh hưởng chính trị tại các thủ đô phương Tây. Mười bốn năm sau, Hà Nội đã mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 tại VNCH và đã thất bại nặng nề về mặt quân sự, nhưng lại chiến thắng về mặt chính trị tại Washington, dẫn đến Hòa Đàm Paris sau đó.
Một ngày sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, Hội Nghị Genève được khai mạc để thảo luận vấn đề Đông Dương (Hội Nghị đã bắt đầu từ 29 tháng 4, để thảo luận vấn đề Triều Tiên)
Sự Kiện:
Hội Nghị Genève về Đông Dương được triệu tập ngày 08.05.1954 và kết thúc vào quá nửa đêm ngày 20.07.1954 tức là ngày 21.07.1954.
Đồng Chủ tịch Hội Nghị là Anh Quốc và Liên Xô và thành phần tham dự gồm:
Anh Quốc/United Kingdom:
Anthony Eden, Bộ trưởng Ngoại Giao
Hoa Kỳ/United States:
General Walter Bedell Smith, Thứ trưởng Ngoại Giao
U. Alexis Johnson
Trung Quốc/People's Republic of China
Chu Ân Lai/Chou En-lai, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao
Chang Wen-t'ien
Li K'e-nung
Việt Minh
Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Ngoại Giao
Ai Lao/Laos
Phoui Sananikone, Bộ trưởng Ngoại Giao
Liên Xô/USSR
Vyacheslav Molotov, Bô trưởng Ngoại Giao
Pháp/France
Georges Bidault, Bộ trưởng Ngoại Giao (đến ngày 17.06.1954)
Jean Chauvel
Pierre Mendès-France, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao (từ ngày 17.06.1954)
Việt Nam
Giáo sư Nguyễn Quốc Định, Bộ trưởng Ngoại Giao (trong chính phủ Bửu Lộc) Nguyễn Đắc Khê, Bộ trưởng (trong chính phủ Bửu Lộc)
Bác sĩ Trần Văn Đỗ, Bộ trưởng Ngoại Giao (trong chính phủ Ngô Đình Diệm)
Cao Miên/Cambodia
Tep Phan, Bộ trưởng Ngoại Giao
Sam Sary
Trong thành phần này, Việt Nam là nước duy nhất có hai phái đoàn đại diện cho hai chính phủ thù địch là QGVN và VNDCCH. Pathet Lào và cộng sản Khmer, mặc dầu được phe cộng sản (Liên Xô, Trung Quốc và Việt Minh) ủng hộ, nhưng vẫn không được mời tham dự Hội Nghị. Thế nhưng, không phải vì thế mà họ bị bỏ quên, vì Molotov, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng lúc nào cũng nêu vai trò của phe cộng sản tại Ai Lao và Cao Miên với đòi hỏi là Hội Nghị phải giải quyết chung vấn đề cho cả 3 nước Đông Dương. Hai phái đoàn Ai Lao và Cao Miên lập luận rằng vấn đề Ai Lao và Cao Miên khác với vấn đề Việt Nam, nên cần có giải pháp riêng. Tuy lập trường nầy được phe phương Tây ủng hộ, sau cùng quan điểm của phe cộng sản được chấp nhận.
Việt Nam có 3 trưởng phái đoàn liên tiếp, vì các thay đổi chính phủ tại Sài Gòn. Giáo sư Nguyễn Quốc Định là Bộ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Bửu Lộc (11.01 – 16.06.1954) và Ông Nguyễn Đắc Khê cũng là Bộ trưởng (phụ trách vấn đề dân chủ hoá) trong chính phủ Bửu Lộc. Còn Bác sĩ Trần Văn Đỗ là Bộ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Ngô Đình Diệm đầu tiên và thứ nhì (16.06.1954 – 23.10.1955). Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 10 năm 1955, Ông Ngô Đình Diệm trở thành Tổng thống VNCH [5].
Trong thời gian Hội Nghị, Pháp cũng có thay đổi chính phủ: Chính phủ của Thủ tướng Joseph Laniel mà Bộ trưởng Ngoại Giao là Ông Georges Bidault bị phe nhóm trung tả của Ông Pierre Mendès-France đánh bại tại Quốc Hội. Ngày 17.06.1954, Ông Mendès-France trở thành Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao và thay thế Ông Bidault tại Hội Nghị Genève. Đây là biến chuyển chính trị vô cùng tai hại cho QGVN, như chúng ta sẽ phân tích ở phần sau của bài này.
Hội nghị Genève thảo luận hai vấn đề chính là Triều Tiên và Đông Dương, nhưng đã dành phần lớn thì giờ cho Đông Dương hơn, vì Triều Tiên đã được ngưng bắn trong khi chiến cuộc vẫn tiếp diễn tại Việt Nam trong suốt thời gian Hội Nghị. Bài nầy chỉ chú trọng vào vấn đề Việt Nam tại Genève mà thôi. Ngoài diễn đàn chính tại Genève, đại diện quân sự đôi bên còn nhóm họp tại Trung Giã (Tỉnh Phúc Yên), từ ngày 4 đến 27 tháng 7 để bàn thảo về những vấn đề kỹ thuật như việc hạn chế hoạt động quân sự, rút quân, tập kết, trao đổi tù binh vv…

Riêng về Việt Nam, Hội Nghị kết thúc với một Hiệp Định (Accords sur la cessation des hostilités en Indochine, Accords de Genève 1954 (20 juillet 1954) và Một Lời Tuyên Bố Sau Cùng (The Final Declaration of The Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina, July 21, 1954). Hiệp Định gồm 47 điều với hai bản văn chính thức bằng tiếng Pháp và tiếng Việt được ký bởi Thiếu tướng Henri Delteil, đại diện Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương và Ông Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Quốc Phòng của VNDCCH.


Một vấn đề còn tranh cãi


Sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng vấn đề tồn đọng và còn được tranh cãi là hiệu lực và tính cách ràng buộc của Lời Tuyên Bố Sau Cùng. Văn kiện nầy chỉ được vị đồng Chủ tịch Anthony Eden đọc lên trước khi Hội Nghị bế mạc [6] và không ai ký tên vào bản văn cả.


Hoa Kỳ không phải là thành viên kết ước, nhưng tuyên bố tôn trọng Hiệp Định. QGVN từ chối ký tên và Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ phát biểu rõ rệt là Việt Nam chống đối hoàn toàn giải pháp chia cắt đất nước. Vì vậy, mặc dầu Lời Tuyên Bố của Trưởng Phái Đoàn Trần Văn Đỗ không được chính thức ghi vào văn bản, nhưng không ai có thể coi là QGVN/VNCH chấp nhận kết quả của Hội Nghị Genève, kể cả Lời Tuyên Bố Sau Cùng. Tại Thủ đô Sài Gòn, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên tiếng chống đối mạnh mẽ việc đặt nửa phần đất nước dưới chế độ cộng sản và cờ rủ được treo khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam từ phía nam Sông Bến Hải, như là ngày tang cho tổ quốc.


Trong cốt lõi, Lời Tuyên Bố Sau Cùng gồm hai điểm quan trọng. Thứ nhất là vĩ tuyến 17 là ‘ranh giới quân sự tạm thời’ chớ không phải là ‘một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ’(đoạn 6). Và thứ hai là tổng tuyển cử dự trù được tổ chức 2 năm sau, tức là vào tháng 7 năm 1956, để thống nhất Việt Nam (đoạn 7).


Lời Tuyên Bố Sau Cùng là một văn kiện chính trị, bày tỏ ý muốn của phe cộng sản (Liên Xô, Trung Quốc và VNDCCH) và được Anh và Pháp đồng ý, nhưng ước muốn<span lang="DE" style="font-family: 'Times New Roman',serif; font-size: 14pt;"> tự nó không thể có hiệu lực cưỡng hành như một hiệp ước. Phe cộng sản và một số tác giả phương Tây bằng vào các lời cam kết tôn trọng Hiệp Định Genève mà kết luận rằng Lời Tuyên Bố Sau Cùng là một phần của Hiệp Định và có tính cách ràng buộc. VNCH, thể chế chính trị kế thừa QGVN, không đồng ý với quan điểm nầy.


Trên nguyên tắc, Tổng thống Ngô Đình Diệm không chống đối một cuộc tổng tuyển cử tự do và được Liên Hiệp Quốc giám sát. Không ai – kể cả những chính phủ và các tác giả ủng hộ phe cộng sản – có thể lập luận rằng bầu cử tự do có thể được tổ chức tại Bắc Việt trong năm 1956. Đấy là một chế độ độc tài toàn trị, do guồng máy công an kiểm soát chặt chẽ từng nhà bằng phương thức hộ khẩu, mô phỏng theo chế độ Mao Trạch Đông. Trái lại, Nam Việt Nam là một chế độ tự do, tuy chưa hoàn hảo.

Người ta có khuynh hướng so sánh chế độ tự do tại VNCH với chế độ dân chủ Tây Âu và Bắc Mỹ, trong khi vì hoàn cảnh lịch sử, VNCH đáng lẽ phải được so sánh với các nước vừa được độc lập sau Thế Chiến Thứ Hai như Indonesia và Philippines – là những quốc gia non trẻ tập tễnh trên con đường dân chủ đầy chông gai. Điều trớ trêu là ông Hồ Chí Minh không bị chỉ trích vì chế độ độc tài toàn trị ở Miền Bắc, mà Ông Ngô Đình Diệm lại bị đả kích vì chế độ tự do tại Miền Nam ‘thiếu dân chủ’. Điển hình cho khuynh hướng nầy là tác giả Joseph Buttinger, thoạt đầu là một người bạn nhưng sau đó trở thành một người chỉ trích dữ dội ông Ngô Đình Diệm [7].

Người ta cũng thường trích dẫn nhận xét của Tổng thống Dwight D. Eisenhower, theo đó ông Hồ Chí Minh có thể thắng trong một cuộc bầu cử tự do. Ngoài lý do nhận xét nầy thường được trích dẫn bên ngoài văn mạch (out of context) khi Tổng thống Mỹ so sánh ông Hồ Chí Minh với cựu Hoàng Bảo Đại, nhận xét này còn phải được hiểu, trong bối cảnh thực tế của năm 1956 khi Miền Bắc đông dân hơn Miền Nam. Bởi vậy, cho dầu 100% dân chúng Miền Nam ủng hộ ông Ngô Đình Diệm – một scenario không thể xảy ra bắt cứ tại đâu bên ngoài khối cộng sản – ông Hồ Chí Minh vẫn có thể đạt được đa số [8].

Còn việc giám sát của Liên Hiệp Quốc thì sao? Lập trường xuyên suốt của QGVN/VNCH là Liên Hiệp Quốc phải có vai trò chính trong việc giám sát cuộc đình chiến cũng như trong vấn đề tổ chức bầu cử tự do. Tại sao phe cộng sản tại Hội Nghị Genève cũng như sau Hội Nghị luôn luôn từ chối sự giám sát của Liên Hiệp Quốc trong vấn đề chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình tại Viêt Nam?

Trước kia, chúng ta có thể suy đoán, nhưng ngày nay chúng ta có thể tìm được lý do trong số 80 công điện và phúc trình mật và tối mật mà Chu Ân Lai gởi về Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và được Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh phổ biến hạn chế hồi năm 2004. Bằng chứng cũng có thể tìm thấy trong các nhật ký của Molotov trong số 8 văn kiện mật mà Moscow đã phổ biến.

Phe cộng sản – cá biệt là Bắc Kinh – rất e ngại vấn đề Việt Nam được quốc tế hóa mà Bắc Kinh coi là con đường dẫn đến sự tham dự của Hoa Kỳ [9]. Liên Xô còn có thêm một lý do khác để chống đối sự tham dự của Liên Hiệp Quốc. Trong vấn đề Triều Tiên, Moscow đã không sử dụng quyền phủ quyết khi Hội Đồng Bảo An quyết nghị can thiệp, dẫn đến sự tham chiến quốc tế do Mỹ lãnh đạo trong cuộc chiến Triều Tiên (1950 - 1953). Trong vấn đề giám sát của Liên Hiệp Quốc, ông Hồ Chí Minh (mà các văn kiện mật và tối mật của Bắc Kinh và Moscow thường gọi với bí danh là “Comrade Ding/Đồng chí Ding”) tuân theo đường lối của hai đàn anh cộng sản.

Ngày nay, trong bối cảnh khác và tác nhân tranh chấp khác – tức là giữa Trung Quốc và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hoặc với Philippines, Bắc Kinh cũng chống đối việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, dầu là dưới hình thức trước Tòa Án Quốc Tế hay dưới hình thức thương thuyết đa phương, mà mục đích là để ngăn ngừa sự tham dự của Mỹ.

Một lập luận khác cũng thường được nêu lên là vì Pháp chấp nhận thi hành Hiệp Định Genève kể cả Lời Tuyên Bố Sau Cùng, nên QGVN/VNCH cũng bị ràng buộc và phải thi hành. Cơ sở của lập luận nầy là (a) QGVN chưa hoàn toàn độc lập trong Liên Hiệp Pháp, và (b) Pháp hành xử thẩm quyền ngoại giao thay cho QGVN tại Hội Nghị Genève.

Luận điệu nầy không đúng. Việt Nam là một quốc gia độc lập và thống nhất Nam Bắc Trung theo Bản Tuyên Bố Chung Việt-Pháp tại Vịnh Hạ Long ngày 05.06.1948 và được chính thức xác nhận bởi Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ngày 08.06.1949. Trên cơ sở hai văn bản nầy, thì QGVN quả thật chưa hoàn toàn độc lập về phương diện tài chánh và ngoại giao. Thế nhưng, giới hạn cuối cùng nầy đã được tháo gỡ bởi Hiệp Ước Việt-Pháp mà Thủ tướng Bửu Lộc và Thủ tướng Joseph Laniel đã ký ngày 04.06.1954.

Tại Hội Nghị Genève, Việt Nam là một quốc gia hoàn toàn độc lập và được ít nhất là 35 quốc gia khác trên thế giới công nhận từ năm 1949 đến năm 1955 so với 26 quốc gia có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc trong cùng khoảng thời gian ấy [10].

Quan điểm của Sài Gòn là VNCH không bị ràng buộc bởi Lời Tuyên Bố Sau Cùng là có cơ sở.

Phân Tích: chính trị đại cường

‘Chính trị đại cường’ hay chính trị nước lớn là một nhóm chữ đơn giản nhưng không thể hiện được sự phức tạp trong quan hệ Anh-Pháp-Mỹ từ phía ‘đồng minh’ phương Tây. Từ phía cộng sản, quan hệ giữa Bắc Kinh và Moscow chưa có gì gây cấn và được coi là rất đầm ấm, vào thời điểm 1954 vì Trung Quốc, chỉ sau 5 năm thành lập, còn phải học hỏi nhiều từ Liên Xô về mặt ngoại giao trên diễn đàn quốc tế. Nhưng không phải vì sự khác biệt trong nội bộ cường quốc phương Tây và trong nội bộ cường quốc cộng sản mà hai phía đối nghịch Việt Nam không phải đối diện với nhiều khó khăn tại Hội Nghị. Đáng ngạc nhiên là những khó khăn này lại giống nhau, tức là những khó khăn với chính ‘đồng minh’của mình. Dị biệt giữa Washington, London và Paris sâu đậm và phức tạp hơn, nên QGVN đã không thể vượt qua những trở lực tại Hội Nghị và sau cùng đã phải chịu thất bại nặng nề hơn là VNDCCH [11].

Khởi thủy, lập trường của hai phe đối nghịch Việt Nam đều chống đối giải pháp chia cắt đất nước. Thế nhưng trong khi QGVN nhất quán duy trì lập trường bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, thì VNDCCH đã không cưỡng lại được sức ép của Trung Quốc và Liên Xô nên phải chấp nhận giải pháp chia đôi.

Chia đôi Việt Nam là giải pháp mà Moscow và Bắc Kinh chủ trương rất sớm từ đầu tháng 3 năm 1954. Lần đầu tiên bước vào sân khấu chính trị thế giới nên Bắc Kinh đã chuẩn bị rất kỹ. Chính Thủ tướng Chu Ân Lai đã soạn thảo chính sách chỉ đạo mà Ban Bí Thư Ủy Ban Trung Ương đã cứu xét và chấp thuận ngày 02.03.1954 [12].

Theo tài liệu quan trọng nầy, Trung Quốc đánh giá cao thành công của Liên Xô trong việc vận động triệu tập Hội Nghị Genève và coi việc tham dự của Trung Quốc là một bước tiến lớn, mặc dầu các cường quốc ‘phản động’ không tin là Hội Nghị có thể đạt kết quả gì. Bởi vậy, chính sách của Trung Quốc là phải tham dự̣ để cải thiện thể đứng ngoại giao và phá vỡ âm mưu gây chiến của ‘đế quốc Mỹ’. Trung Quốc phải nỗ lực đạt kết quả, dầu là kết quả giới hạn hoặc tạm thời, để mở đường cho việc giải quyết tranh chấp bởi các đại cường. Trung Quốc đã tự coi mình là một đại cường. Đối với Đông Dương, Trung Quốc phải cố gắng để hội nghị không thất bại, và tham dự để, nếu cần, tạo ra tình trạng vừa đánh vừa đàm (“negotiating while fighting”) nhằm gây khó khăn cho Pháp và tạo mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ. Một cách cụ thể, chính sách đã nói rõ là ‘ngưng bắn tại chỗ’ không tốt bằng chia đôi Nam/Bắc có thể là tại vĩ tuyến thứ 16. Chu Ân Lai còn nói thêm là Trung Quốc phải chuẩn bị thảo luận các giải pháp hợp tác kinh tế thương mại để bẻ gẫy phong tỏa của Mỹ - và bên lề hội nghị, cải thiện bang giao song phương với Anh, Pháp và Canada. Trong bản văn này, Chu Ân Lai đã nhận xét chính xác là các cường quốc phương Tây chia rẽ và có nhiều khó khăn chính trị nội bộ.

Sự phối hợp giữa phe cộng sản chặt chẽ hơn là phe phương Tây. Ngày 22.04.1954, tại Moscow, Chu Ân Lai thảo luận với Đệ Nhất Bí Thư Nikita Khrushchev và Thủ tướng George M. Malenkov và Liên Xô đồng ý với chính sách của Chu Ân Lai. Khrushchev nói chính sách nầy phải được bảo mật. Khrushchev cho biết là đã tiếp Đồng chí Ding (bí danh của Hồ Chí Minh) và cho biết yêu cầu của Hồ Chí Minh có thể được thỏa mãn (satisfied), nhưng không nói rõ hoặc mật điện không ghi rõ là yêu cầu gì. Mật điện nói thêm là Hồ Chí Minh ghé lại Bắc Kinh để gặp Mao Trạch Đông trên đường về [13].

Một phiên họp quan trọng khác được tổ chức tại Liễu Châu / Liuzhou, Trung Quốc, ngày 04.07.1954 giữa Chu Ân Lai và các phụ tá với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, nhưng nội dung không được tiết lộ trong mật điện [14].

Bề ngoài, Chu Ân Lai có vẻ quan tâm đến uy tín của VNDCCH. Ngoài các phiên họp đặc biệt với Hồ Chí Minh, Chu Ân Lai không bỏ lỡ cơ hội than phiền với các trưởng phái đoàn phương Tây về việc mà ông gọi là “bất bình đẳng” (inequality) trong việc phương Tây phân biệt đối xử giữa QGVN và VNDCCH.

Trong cuộc thảo luận với Ngoại trưởng Anthony Eden ngày 14.05.1954, Chu Ân Lai than phiền là Pháp đã không thèm trả lời đề nghị chính trị của Phạm Văn Đồng, vì Pháp chỉ coi QGVN là đại diện cho toàn thể Việt Nam. Theo lời Chu Ân Lai, người đòi hỏi quá nhiều không phải là Hồ Chí Minh mà là Bảo Đại, vì Bảo Đại không những coi mình là lãnh tụ duy nhất của Việt Nam mà còn đòi hỏi Liên Hiệp Quốc bảo đảm Bảo Đại là lãnh tụ duy nhất sau cuộc tổng tuyển cử – một đề nghị mà Moscow và Bắc Kinh đều không chấp nhận. Tất nhiên, Chu Ân Lai cũng không quên đòi hỏi cho chính mình là Trung Quốc xứng đáng được có qui chế của một đại cường [15]. Cũng theo Chu Ân Lai, Ngoại trưởng Georges Bidault chẳng những không công nhận Việt Minh mà còn coi họ là một ‘lực lượng phản loạn’ [16].

Thật vậy, nếu chúng ta có thể chia Hội Nghị Genève làm hai giai đoạn trước và sau ngày 17.06.1954, thì vị thế của phái đoàn QGVN trên chân hẳn phái đoàn VNDCCH trong giai đoạn đầu.
Mặc dầu có sự nghi kỵ và khác biệt quan điểm giữa Anh-Pháp-Mỹ, Mỹ và đặc biệt là Pháp ủng hộ QGVN mạnh mẽ. Lập trường sơ khởi của Thủ tướng Joseph Laniel và Ngoại trưởng Georges Bidault không khác gì lập trường của QGVN. Thủ tướng Laniel đã đặt 5 điều kiện ngưng bắn là quân cộng sản phải rút khỏi Miên và Lào, thiết lập một vùng phi quân sự tại Đồng bằng Sông Hồng, di chuyển quân cộng sản tại Việt Nam vào vùng chờ đợi định trước, quân Việt Minh phải rút khỏi Nam Việt và bảo đảm ngăn cấm mọi tăng viện từ bên ngoài [17].
Thế đứng của QGVN sụp đổ cùng với sự sụp đổ của chính phủ Laniel. Ngày 17.06.1954, tân Thủ tướng thiên tả Pierre Mendès-France tuyên bố trước Quốc Hội Pháp rằng điều đình ôn hòa có thể̉ thực hiện được và ngưng bắn có thể đạt được. Tân Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Pháp tự đặt cho mình một thời hạn phải đem lại kết quả là ngày 20.07.1954. Bảo Đại coi đây là lời tuyên bố “lạ lùng” [18], nhưng quan trọng hơn là phái đoàn QGVN tại Genève bị cô lập hoàn toàn kể từ thời điểm nầy.
Vài ngày sau, Chu Ân Lai và Mendès-France gặp nhau lần đầu tiên tại Đại Sứ quán Pháp ở Bern, Thụy Sĩ. Theo phúc trình của Chu Ân Lai ngày 23.06.1954, Mendès- France đã nói rằng nhìn chung, mục tiêu của Trung Quốc và Pháp không có nhiều dị biệt về nguyên tắc. Mendès-France đồng ý với Chu Ân Lai về giải pháp 2 bước: đình chiến về quân sự và tiếp theo sau là giải pháp chính trị. Mendès-France cũng đồng ý với Chu Ân Lai là Pháp sẽ không để Mỹ lập căn cứ quân sự trong vùng [19].
Sự rạn nứt giữa Pháp và Mỹ được xác nhận. Trung Quốc rất lo ngại trước nguồn tin Mỹ thảo luận thành lập tổ chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO mà Chu Ân Lai coi như là một đe dọa cho chính Trung Quốc. Trong cuộc thảo luận nầy, Chu Ân Lai cũng cho biết là Trung Quốc thúc giục VNDCCH tiếp xúc với phái đoàn Pháp và phái đoàn QGVN và yêu cầu Pháp cũng có đề nghị ngược lại với Bảo Đại.
Chu Ân Lai tiếp tục lo ngại về khả năng Mỹ thiết lập căn cứ quân sự tại Đông Nam Á và nêu vấn đề nầy với Anthony Eden và Mendès-France. Eden giải thích rằng SEATO, nếu được thành lập, chỉ là một liên minh phòng thủ (defensive) trong khi đó Mendès-France nhắc lại quan điểm của Pháp là không có kế hoạch thiết lập căn cứ Mỹ trong vùng [20].
Thời hạn 20.07.1954 gần kề nên Mendès-France nỗ lực thu hẹp dị biệt lập trường giữa hai bên. Các đại cường đã đồng ý là thành viên Uỷ Hội Kiểm Soát Đình Chiến bao gồm các nước Ấn Độ, Canada và Ba Lan. Vấn đề còn lại là Việt Nam sẽ bị chia cắt tại đâu và tổng tuyển cử được ấn định lúc nào? Không khác chi các chuyến ‘đi đêm’ giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ trong thời gian Hòa Đàm Paris vào đầu thập niên 1970, Pháp, Anh, Liên Xô và Trung Quốc cùng đi đêm với nhau mà phái đoàn QGVN không biết và có lẽ phái đoàn VNDCCH cũng không biết rõ [21]. Phái đoàn QGVN chỉ nhận được tin tức đã chậm mà còn không đầy đủ, do phái đoàn Mỹ chuyển lại. Tuy vậy, Trưởng phái đoàn Trần Văn Đỗ cũng gặp được Chu Ân Lai, do sự giới thiệu của phái đoàn Pháp. Một ngày trước khi Hội Nghị kết thúc, Bác sĩ Trần Văn Đỗ lên tiếng cực lực bác bỏ phát biểu của Liên Xô và của Pháp khi cả hai cường quốc nầy đề cập đến sự chia đôi lãnh thổ Việt Nam [22].
Trong khi đó, trái với lập trường nguyên thủy, VNDCCH chấp nhận giải pháp chia đôi. Họ đã từng đề nghị một nơi nào đó giữa vĩ tuyến 13 và 14, nhưng trước sức ép của Liên Xô và Trung Quốc, họ hi vọng đó là vĩ tuyến thứ 16, trong khi Pháp hãy còn đòi hỏi vĩ tuyến thứ 18. Mendès-France nói rằng Pháp không thể chấp nhận vĩ tuyến 16 vì Pháp không thể để cố đô Huế lọt vào tay cộng sản. Tài liệu Liên Xô cũng cho thấy Moscow chấp nhận vĩ tuyến16 rất sớm, từ đầu tháng 3 năm 1954. Thế nhưng Molotov vẫn bênh vực đề nghị vĩ tuyến 13/14 của VNDCCH như là một chiến thuật thương thuyết để sau nầy có cơ hội trao đổi “nhượng bộ”. Cũng theo chiến thuật thương thuyết nầy, Moscow đã ủng hộ thời hạn tổ chức tổng tuyển cử mà VNDCCH muốn đạt được là trong vòng 6 tháng sau khi ngưng chiến. Do sức ép của Liên Xô và Trung Quốc – đặc biệt là Trung Quốc vì Bắc Kinh không muốn Hội Nghị thất bại và Bắc Kinh đang lo Mỹ can thiệp - VNDCCH phải từ bỏ vĩ tuyến 13/14 và phải chấp nhận tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956 [23].
Trong phiên họp ngày 20.07.1954 giữa Chu Ân Lai, Mendès-France và Eden, Mendès-France đề nghị giải pháp dung hòa là vĩ tuyến 17. Phạm Văn Đồng không trả lời [24].
Số phận Việt Nam đã an bài.
Tạm Kết
Chúng ta không thể thay đổi lịch sử, nhưng diễn tiến lịch sử tại Hội Nghị Genève 1954 có thể cho ta bài học gi?
Trái với luận điệu tuyên truyền “môi hở răng lạnh” mà cả Bắc Kinh và Hà Nội đều đã sử dụng, Trung Quốc giúp đỡ phe cộng sản tại Việt Nam trước và sau năm 1954 là vì quyền lợi của Trung Quốc. Trung Quốc coi Hội Nghị Genève là bàn đạp để Trung Quốc xác định vai trò đại cường trên diễn đàn quốc tế. Trung Quốc không muốn Hội Nghị thất bại, vì e ngại sự thất bại ấy có thể dẫn đến sự can thiệp quân sự của Mỹ mà Trung Quốc coi là mối đe dọa cho chính Trung Quốc. Đây là một tầm nhìn chiến lược mà Bắc Kinh không thay đổi trong 60 năm qua. Trong chiến lược nầy, quyền lợi của Việt Nam là thứ yếu. Nhân cuộc chiến biên giới Việt-Trung 1979, Hà Nội lần đầu tiên và chỉ một lần thôi, dám lên tiếng cáo buộc Trung Quốc đã phản bội VNDCCH tại Hội Nghị Genève [25].
Trên 60 năm qua, Việt Nam Thống Nhất hoặc Việt Nam chia đôi đều đã là nạn nhân của ván bài chính trị đại cường. Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sẽ tiếp tục vướng mắc trong chính trị nước lớn, nếu Hà Nội tiếp tục gắn bó trong mối quan hệ đặc biệt và bất bình đẳng với Bắc Kinh như được diễn đạt dưới chiêu bài 16 chữ vàng và 4 tốt. Trong thế giới đa cực ngày nay, quyền lợi lâu dài của tổ quốc Việt Nam là bang giao độc lập và bình đẳng với tất cả các cường quốc.

Tác giả :
Ls Lưu Tường Quang
Tài liệu tham khảo:
[1960] Anthony Eden, The Memoirs of the Rt. Hon. Sir Anthony Eden, Cassell, London.
[1968] Dennis J. Duncanson, Government and Revolution in Vietnam, Oxford University Press, London.
[1977] Joseph Buttinger, Vietnam the Unforgettable Tragedy, Andre Deutsch, London.
[1990] Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam – Hồi Ký Chánh Trị 1913-1987, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, Xuân Thu Publishing phát hành, Los Alamitos, CA, USA.
Woodrow Wilson Center, Cold War International History Project No.16, The Geneva Conference of 1954 – New Evidence from the Archives of the Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China [80 documents].
Bằng chứng mới nầy gồm 80 công điện mật hoặc tối mật mà phần lớn do Chu Ân Lai tường trình về Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản. Đây chỉ là một số tài liệu của Bộ Ngoại Giao tại Bắc Kinh và một số còn bị cắt xén. Toàn bộ tài liệu của Bộ Ngoại Giao chưa được công bố. Tài liệu của Bô Chính Trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tức là cơ quan đầu não quyết định chính sách, thì hoàn toàn chưa được công bố.
(Trong phần Ghi Chú sẽ là Tài liệu PRC [Doc no…] ngày…).
Woodrow Wilson Center, Cold War International History Project No.16, The Geneva Conference of 1954 – Russian Documents on the 1954 Geneva Conference [8 documents].
Từ phía Liên Xô, có 8 tài liệu mà phần lớn là Nhật Ký mật (secret Journal) của V. M. Molotov và do các phụ tá của Molotov ghi lại dưới hình thức tóm lược.
(Trong phần Ghi Chú sẽ là Tài liệu USSR [Doc no…] ngày…).
[1971] The Pentagon Papers, Gravel Edition
Volume 1, Chapter 3, "The Geneva Conference, May-July, 1954"
(Boston: Beacon Press, 1971) Section 1, pp 108-146.
[1971] The Pentagon Papers, Gravel Edition
Volume 1, Chapter 3, "The Geneva Conference, May-July, 1954"
(Boston: Beacon Press, 1971) Section 2, pp 146-178.
Ghi Chú:
[1] Tài liệu PRC [Doc 1] - Mật Điện do Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô gởi Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc qua Đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh ngày 26.02.1954. (“Previously we already informed you that “other related countries” in Indochina, according to our understanding, should be the Democratic Republic of Vietnam and the…Chief (Quoc Truong)] Bao Dai’s [State of] Vietnam, Laos and Cambodia. We know that the Vietnamese friends are concerned about the convening of the Geneva Conference, and whether they will attend the conference. We believe that the CCP Central Committee will agree to our opinion.”).
[2] Bảo Đại, trang 499.
[3] Wikipedia Tiếng Việt: Trần Canh (Chen Geng; 1903 -1961), là một Đại tướng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc và là một trong những tướng lãnh được Mao Trạch Đông tin cậy nhất. Ông đã từng giữ chức Thứ trưởng Quốc phòng. Ông là Trưởng Phái bộ Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc của Việt Minh từ ngày 07.07.1950.
[4] Bảo Đại, trang 510.
[5] Bảo Đại, trang 500, 518, 527, 538-539.
[6] Eden, trang 24.
[7] Buttinger, trang 53-69 (trao đổi thư riêng giữa tác giả và Tổng thống Ngô Đình Diệm).
[8] Duncanson, trang 223-224.
[9] Tài liệu PRC:
- [Doc 3] Mật điện của Đại sứ Trung Quốc tại Moscow phúc trình về Bộ Ngoại Giao tại Bắc Kinh, ngày 06.03.1954 (“Molotov emphasized that the United Nations should not be allowed to get involved”).
- [Doc 25] Mật điện Chu Ân Lai gởi Mao Trạch Đông ngày 04.06.1964 (“Bao Dai’s delegate said at yesterday’s eleventh restricted session on the Indochina issue that only the United Nations could take charge of the task of supervising. Bidault spoke to support Bao Dai’s delegate…I made statements not only resolutely opposing the United Nations supervision…”).
– [Doc 46] Biên bản thảo luận giữa Chu Ân Lai và Thủ tướng Pháp P. Mendès-France tại Đại Sứ quán Pháp ở Bern ngày 23.06.1054 (Chu Ân Lai nói với Mendès-France: “The Bao Dai government should approach the Democratic Republic of Vietnam through discussions and negotiations, instead of opposing it. Unfortunately, his [Bao Dai’s] political proposal aims exactly at opposition, hegemony, and at inviting the United Nations to intervene. This is unacceptable…”).
[10] Wikipedia Tiếng Việt: Quốc Gia Việt Nam / État du Vietnam &
Zhang Sulin (Ministry of Foreign Affairs Archives, Beijing) – The Declassification of Chinese Foreign Ministry Archival Documents – A Brief Introduction (page 11)
Tuy nhiên, bài nầy không thảo luận chi tiết về tư cách quốc gia của Bắc Việt và Nam Việt Nam theo Công Pháp Quốc Tế.
[11] Xem The Pentagon Papers có phần tóm lược đầy đủ về lập trường và mục tiêu của các nước tham dự Hội Nghị Genève 1954.
[12] Tài liệu PRC [Doc 2] Trích dẫn nhận định và chính sách do Chu Ân Lai soạn thảo và được Ban Bí Thư Ủy Ban Trung Ương chấp thuận ngày 02.03.1954.
[13] Tài liệu PRC [Doc 6] Mật điện Chu Ân Lai gởi Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Ủy Ban Trung Ương, ngày 23.04.1954.
[14] Tài liệu PRC [Doc 64] - Mật điện Chu Ân Lai gởi Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Uỷ Ban Trung Ương tường trình phiên họp tại Liễu Châu / Liuzhou với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ngày 04.07.1954. Phiên họp nầy quan trọng vì bao gồm chính sách và thủ tục thương thuyết tại hội nghị cũng như chính sách và chiến thuật của Đảng Lao Động Việt Nam (“The question of negotiation—including policies, procedures,
timing and supervision; the policies and tactics of the Vietnamese Workers
Party in the future and the tendencies that are in need of attention). Tuy nhiên, nội dung không được ghi trong mật điện.
Tài liệu USSR [Doc 2] Trong cuộc hội kiến với Xử Lý Thường Vụ Liên Xô tại Bắc Kinh ngày 05.07.1954, Mao Trạch Đông cũng nói về cuộc thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh tại Liễu Châu / Liuzhou nhưng báo cáo của Xử Lý Thường Vụ Liên Xô cũng không ghi nhận nội dung Liễu Châu.
[15] Tài liệu PRC [Doc 13] – Biên bản thảo luận Chu Ân Lai /Anthony Eden, ngày 14.05.1954 - Zhou Enlai:...I meant that France had not answered Mr. Pham Van Dong’s political proposal, while only recognizing Bao Dai as representing all of Vietnam and unifying Vietnam under him. This is a completely unreasonable thought.”Zhou Enlai: “China deserves the status of a great power. This is an existing fact. We are willing to work with others for world peace, particularly for peace in Asia….”Zhou Enlai: “I think that the person who is asking too much is not Ho Chi Minh but Bao Dai. In their proposal, the delegates from the State of Vietnam not only asked that Bao Dai be recognized as the only leader of Vietnam, but also that the United Nations guarantee Bao Dai’s status as Vietnam’s only leader after the elections. Ho Chi Minh has made no such demands.”...
[16] Tài liệu PRC [Doc 9] ngày 09.05.1954.
[17] Tài liệu PRC [Doc 27] 05.06.1954 Biên bản (Tối Mật) thảo luận giữa phái đoàn Trung Quốc và phái đoàn Pháp Wang/Chauvel [Editor’s Note: French Prime Minister Joseph Laniel had demanded five conditions for a ceasefire: withdrawal of all communists from Cambodia and Laos, creation of a demilitarized zone aroundthe Red River Delta, relocation of communists in Vietnam into predetermined standing zones, removal of all Viet Minh troops in south Vietnam, and guarantees against reinforcements from abroad].
[18] Bảo Đại, trang 516.
[19] Tài liệu PRC [Doc46] Thảo luận Chu Ân Lai / Mendès-France tại Đại Sứ quán Pháp, Bern, Thụy Sĩ ngày 23.06.1954 – Mendès-France: “...Generally speaking, [our] goals are not much different in principle….There is one more final point. I am glad the Premier made such a suggestion: it is the best to go through two steps. The first is a cease-fire, and the second is a political settlement…This is a practical solution, it should be reached quickly…There is another important point. The Premier raised a concern about establishing American military bases. I fully agree
on this point. I want to make it clear that we don’t intend to establish any American bases in that region. We don’t have such a plan…”.
Zhou Enlai: “…You had a very good answer to my last point. France has no intention to establish any American bases. This is very good not only for the three countries, but also good for China, France, and Southeast Asia. All of us hope for a peaceful co-existence and for building a common foundation for the future…”.
[20] Tài liệu PRC
- [Doc 68] Thảo luận Chu Ân Lai / Anthony Eden ngày 13.07.1954.
- [Doc 71] Thảo luận Chu Ân Lai / Mendès-France ngày 17.07.1954.
Và Tài liệu USSR [Doc 5] Thảo luận giữa Molotov, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng ngày 16.07.1954 – “Zhou Enlai says that according to information available to him Britain is taking vigorous action to create an alliance of countries in Southeast Asia which would be tied to one another by a system of treaties of the Locarno type. The US is trying to counter the British plan with their own plan. They are relying on the basis of an alliance of the five powers taking part in a meeting in Singapore and creating a military bloc under their aegis including Thailand, Pakistan, Bao Dai’s Vietnam, Laos, and Cambodia, in addition to these five countries. Zhou Enlai said that we ought to oppose the creation of military blocs in Asia, taking advantage the existing differences between the US and Britain in doing this.
Molotov and Pham Van Dong express their agreement with the opinion of Zhou Enlai.”
[21] Tài liệu PRC [Doc 44] ngày 22.06.1954 – Chauval nói với Chu Ân Lai rằng Pháp và Trung Quốc làm viêc chung với nhau và cả hai phái đoàn cần duy trì sự họp tác bí mật nầy (secret co-operation).
[22] Tài liệu PRC [Doc 73] ngày 19.07.1954.
[23] Tài liệu USSR
- [Doc 1] Journal of Molotov (secret) – Thảo luận với Đại Sứ Trung Quốc tại Moscow ngày 06.03.1954.
- [Doc 3] Journal of Molotov (secret) Thảo luận tay đôi với P. Mendès-France.
[24] Tài liệu PRC [Doc 78] Mật điện ngày 20.07.1954 tường trình phiên họp ngày 19.07.1954 giữa Chu Ân Lai, Mendès-France và Anthony Eden.
[25] Socialist Republic of Vietnam, The Truth about Vietnam-China Relations over the last 30 Years, Hanoi, Ministry of Foreign Affairs, 1979.
CHXHCN Việt Nam, Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua, Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà Nội, 1979, trang 17-21: Phần Thứ Hai - Chương III- Hiệp Định Giơnevơ Năm 1954 Về Đông Dương Và Sự Phản Bội Của Những Người Lãnh Đạo Trung Quốc. -/-
http://boxitvn.blogspot.com.au/2014/07/ky-niem-60-nam-hiep-inh-geneve-1954.html

Bài Xem Nhiều