We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 24 July 2014

Đúng Là Ông Tập


Phản gián Đức cảnh báo nguy cơ gián điệp Trung Quốc  - Ảnh 1Tin ngày 21-7-2014, lại thêm một cán bộ gộc CS của Thành phố Thiên Tân nổi danh của TC, là Võ Trường Thuận (Wu Changshun), Giám đốc Công an bị chiến dịch gọi là bài trừ tham nhũng của Chủ Tịch Đảng, kiêm Chủ Tịch Nước, kiêm Chủ Tịch Quân uỷ Trung Cương là Tập cận Bình của Trung Cộng tống vào tù để điều tra về tội tham nhũng. Phong tục người Tàu không gọi tên (danh) mà gọi họ (tánh). Gọi dân chúng là trăm họ, bá tánh. Gọi con người như Ô. Mao trạch Đông là Ô. Mao, Ô. Hồ cẩm Đào là Ô. Hồ và Ô Tập cận Bình là Ô. Tập. Một tình cờ đầy thích thú hiểu theo quan niệm bình dân con người sao họ tên như vậy. Ô. Tập đúng là một người tập quyền triệt để, tóm thâu tất cả quyền lực vào trong tay mình. Là người CS Trung Quốc, Ô. Tập lấy cứu cánh tập trung quyền hành về mình để biện minh cho phương tiện triệt hạ đồng chí đối thủ bằng vũ khí bài trừ tham nhũng, bằng khích động tinh thần thượng tôn dân tộc Trung Hoa để bành trướng thế lực ra ngoại quốc.

Thực sự phương pháp của Ô. Tập không có gì mới, không phải là một sáng kiến, sáng tạo gì cả. Đảng CS từ Nga sang Tàu đến VN bất cứ ở đâu những phe phái chống đối nhau, đấu đá nhau, tranh quyền tranh chức, giải quyết mâu thuẫn theo qui luật địch và ta một mất một còn, “thịt nhau”, chớ CS không có tương nhượng, thoả hiệp. Vì Đảng CS là một tổ chức xã hội bế tắc, chớ không cởi mở như các đảng chánh trị tự do. Đảng CS vì thế thường dùng một lý do nào đó như chủ nghĩa xét lại, hữu khuynh, tả khuynh để thịt nhau trong thời CS còn nặng giáo điều. Qua thời chuyển hệ tư duy sang kinh tế thị trường, vấn đề tiền và quyền trở thành mâu thuẫn phe đảng đấu đá sanh tử với nhau.

Đảng CSVN tuy nhỏ, phe Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng nắm đảng quyền cũng dùng vũ khí bài trừ tham nhũng để chống phe Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng nắm nhà nước nhiều quyền lực và tiền bạc hơn. Trọng đưa Dũng ra đại hội Đảng để mổ xẻ nhưng thất bại. Trọng lại dùng Quốc Hội “đảng cử dân bầu” rút quyền bài trừ tham nhũng ra khỏi tay Nhà Nước, đưa về cho Đảng. Đảng cũng không làm Dũng rụng một sợi lông chân vì hầu hết trung ương uỷ viên của Đảng đều kiêm nhiệm trong guồng máy nhà nước, hưởng nhiều quyền lợi của chánh phủ mà người đứng đầu là TT Dũng nắm tiền và quyền và rộng rãi, dễ dãi chia chát. Nhờ thế nếu xét về tương quan quyền lực, tiền tài, mức được lòng dân thì TT Nguyễn tấn Dũng là người mạnh nhứt, chớ không phải Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng.

Trái lại trong cuộc chiến dùng vũ khí triệt hạ đối thủ, để tập trung và tóm thâu quyền hành vào tay một mình của Chủ Tịch Tập cận Bình dễ hơn nhiều. Ô. Tập là người đương kiêm ba chức: Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Quân Uỷ Trung Ương. Đối thủ của Ông thời Đảng bình chọn ông và đối thủ tiềm ẩn trong tương lai đều là những nhân vật dưới quyền của Ông đang tại chức hay đã hồi hưu.

Nhưng để chắc ăn, Ô. Tập dùng vũ khi bài trừ tham nhũng để triệt hạ đối thủ. Trong chế độ CS, cán bộ, đảng viên ai mà không tham nhũng. Lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ. Không tham nhũng làm sao sống, làm sao “chung chi” để giữ ghế. Nên Ô. Tập chỉ chưa đầy một năm ra tay mà triệt hạ quá nhiều, không chỗ để kể hết. Tiêu biểu là Bí Thư kiêm Chủ Tịch Trùng Khánh, Uỷ viên Bộ Chánh trị Trung ương đảng Bạc Hy Lai. Ông Bạc này cũng là một hoàng tử đỏ như Ô. Bình, người có tham vọng trở thành nhân vật số 1 của Đảng Nhà Nước TC, bị Tập Chủ Tịch diệt tán gia bại sản, bằng tội tham nhũng. Vợ của Ô. Bạc Hy Lai bị án tử hình treo, còn Ô. Bạc tù chung thân, tịch thu tài sản, con trai lang thang ngoại quốc không được về nước.

Người kế tiếp là Chu Vĩnh Khang. Chu Vĩnh Khang, là một trong 9 người của Bộ Chánh Trị, có quyền lực nhứt của Đảng Nhà Nước TC. Ô. Chu là người từng nắm bộ máy an ninh nội chính toàn quốc, chuyên trấn áp ‘lực lượng thù địch’, với một ngân sách lớn hơn ngân sách quốc phòng của TC. Đích thân Tập Chủ Tịch mới đây ra lịnh quản thúc Ô. Chu và bắt hàng trăm tay em vi cánh của Ô. Chu, cũng với tội tham nhũng.

Dân báo ở Trung Quốc và báo Liberation của Pháp cho biết nhiều thông tin, nghị luận loại thâm cung bí sử của Ô. Tập. Rằng Ông Chu là một uỷ viên thế lực ở Bộ Chánh Trị từng ủng hộ Bạc Hy Lai, một hoàng tử đỏ hoài Mao, chống tham nhũng, được lòng dân trong tỉnh của Ông, và là một đối thủ đáng ghờm của Ô Tập trong khi tranh giành chức vụ Chủ Tịch Đảng Nhà Nước TC.

Ngoài ra, Chu Vĩnh Khang là một người nắm ngành an ninh nội chính trong ngoài đảng, trong ngoài nước nên Ô Tập nghi Ô. Chu cho người tiết lộ cho báo chí Mỹ về tài sản kếch sù gởi giấu ở ngoại quốc của của các cựu Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân. Do vậy Chủ Tịch Tập quét láng tay chân bộ hạ của Ô. Chu để bịt miệng và trừ hậu hoạn, sợ có thể khui ra những tham ô nhũng lạm của hai nhân vật từng ủng hộ mình.

Và mới đây một tin chấn động từ thời Mao Chủ Tịch tới giờ chưa thấy. Ngày 6/06/2014 Thượng Tướng Từ Tài Hậu, nguyên phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc bị khai trừ khỏi đảng vì tội tham nhũng, trao cho tòa án quân sự xét xử.. Ô Tập cũng dùng vũ khí bài trừ tham nhũng để một mình nắm quân quyền.Thượng tướng Từ Tài Hậu vốn là nhân vật số 2 trong quân đội và là người thân cận của cựu chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, người đề cử Ông thay thế. Điều đó cho thấy Ô. Tập quyết xóa sạch bóng dáng dĩ vãng để hiện tại cho có một mình Ông trên chính trường.

Ngoài việc bài trừ đối thủ và xoá dĩ vãng cho ông nổi bật bằng vũ khi tham nhũng, Ô Tập còn tập trung quyền bính và các cơ quan yếu lược vào vòng kiểm soát trực tiếp của Ông. Ông xoá bỏ hệ thông tù cải tạo gọi là “lao cải” cho đi tù không cần bản án, nhưng lập nhiều trại tù mới. Ông lập thêm nhiều uỷ ban như ủy ban đặc trách kiểm duyệt internet, ủy ban tài chính, hay ủy ban an ninh quốc gia, do Ông là người chỉ đạo trực tiếp.

Câu hỏi cốt lõi, Ô. Tập tập trung quyền bính vào tay mình, hạ hầu hết đồng chí có thế lực, xoá bỏ bóng dáng những người tiền nhiệm, tại sao? Phải chăng bản tánh của các nhà độc tài là sợ cả cái bóng của mình. Trước tình hình Đảng Nhà Nước ngày càng tệ lậu, quần chúng nhân dân ngày càng bất mãn, và ngoại giao ngày càng cô đơn, càng thêm gây hờn chuốc oán, Ô. Tập nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, sợ kẻ thù ám hại mình, nên tập trung quyền bính vào trong tay mình. Nhưng liệu có kiểm soát được không, là chuyện khác./.


Vi Anh
http://vietbao.com/a224557/dung-la-ong-tap 

VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (1)



Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, có lẽ không có giai đoạn nào chịu nhiều bất hạnh như giai đoạn từ 1954 đến 1975 ở miền Nam. Theo nhà văn Võ Phiến, đó là nền văn học được đánh dấu bằng hai cuộc di cư: một, cuộc di cư của gần một triệu người từ Bắc vào Nam; và hai, cuộc vượt biên ồ ạt của cả triệu người hoặc trên đường bộ, băng qua Campuchia hoặc trên biển cả với cả mấy trăm ngàn người bị chết hoặc do hải tặc hoặc do bị đắm thuyền.
Chưa hết. Giữa hai cuộc di cư khổng lồ ấy là một cuộc chiến tranh kéo dài, hầu như triền miên, giữa hai miền Nam và Bắc. Cũng là chiến tranh, nhưng cuộc chiến tranh chống Pháp trước đó, dù sao, cũng nhiều màu sắc anh hùng ca hơn: Đó là cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Bao nhiêu oán thù đều dồn, chủ yếu, về phía những người ngoại chủng. Còn chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc thì khác. Dân chúng miền Bắc có thể nghĩ đó là cuộc chiến chống ngoại xâm với mục tiêu chính là Mỹ. Nhưng với dân chúng miền Nam thì đó chỉ là một cuộc nội chiến giữa hai anh em một nhà. Tâm trạng của họ, khi tham gia hoặc khi chứng kiến cuộc chiến ấy khác hẳn ở miền Bắc.  Khác ở những thao thức và day dứt trước cảnh huynh đệ tương tàn. Giới cầm bút không thể thoát khỏi tâm trạng ấy.
Vẫn chưa hết. Bi kịch thực sự của văn học miền Nam thời 1954-75 chủ yếu là giai đoạn sau 1975.
Hầu hết các cuốn sử hoặc hồi ký về giai đoạn hậu 1975 ở miền Nam đều tập trung chủ yếu vào chính sách lùa các sĩ quan và công chức thuộc chính quyền cũ vào các trại học tập cải tạo, chính sách đánh tư sản mại bản, chính sách ép dân đi kinh tế mới, chính sách dùng hộ khẩu và sổ lương thực để kiểm soát dân chúng, v.v… Nhiều người quên đi một đối tượng mà chính quyền mới sau năm 1975 rất quan tâm, thậm chí, có thể nói, một trong những điều họ quan tâm nhất: văn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học.
Trước khi ra lệnh đóng cửa các công ty xí nghiệp tư nhân, chính phủ đã ra lệnh đóng cửa toàn bộ các nhà xuất bản và các nhà sách cũng như quốc hữu hoá hầu như ngay tức khắc các nhà in. Trước khi ra lệnh đổi tiền, chính quyền đã ra lệnh tịch thu toàn bộ sách báo cũ. Cùng lúc với việc bắt bớ các sĩ quan và công chức trung và cao cấp của chính quyền cũ, chính quyền mới tìm bắt hầu hết những cây bút ít nhiều dính líu đến chính trị còn lại trong nước. Trong trại cải tạo, chỉ có giới cầm bút là bị giam giữ lâu nhất, ngang ngửa với các sĩ quan cấp tướng: trên dưới 10 năm.
Không những chỉ có tác giả bị bắt, ngay cả các tác phẩm của họ cũng bị “bắt”. Chiếm Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, chỉ hơn 3 tháng sau, Bộ Thông tin Văn hoá đã ra chỉ thị cấm lưu hành các tác phẩm bị xem là phản động hay đồi truỵ. Một số chỉ thị có nội dung tương tự lại được lặp lại với những tên sách cụ thể hơn trong các năm sau đó. Trong số những tác giả bị cấm toàn bộ, có những người ít nhiều viết về chính trị hoặc chiến tranh như Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Chu Tử, Hồ Hữu Tường, Nguyên Sa, Nhã Ca,  Phan Nhật Nam, Thế Uyên, v.v… Đã đành. Ngay cả những người hầu như chỉ viết thơ tình như Đinh Hùng, Hoàng Hương Trang hay truyện tình như Tuý Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, v.v… cũng bị cấm. Cấm, dưới tên tác giả, dường như sợ chưa đủ rõ ràng, người ta còn soạn ra một danh sách dài loằng ngoằng gồm tên tác phẩm của từng người.
Bắt tác giả và cấm tác phẩm. Cũng chưa đủ. Người ta còn tổ chức các cuộc hội nghị để vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ văn học miền Nam. Ngoài ra, người ta còn viết bài đăng trên các tạp chí cũng như xuất bản thành sách để tiếp tục công việc vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ ấy. Nội dung của chiến dịch vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ ấy khá giống nhau; giới cầm bút tại miền Nam nếu không ăn tiền của Mỹ thì cũng tuân theo các chỉ thị của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà dùng ngòi bút của họ như một vũ khí chống cộng. Nếu không chống cộng thì cũng làm sa đoạ con người bằng thứ văn chương đồi truỵ nhầy nhụa mùi xác thịt. Ngay cả với những tác giả hoàn toàn không dính líu gì đến chính trị, không viết về tình dục, chỉ viết về tình yêu một cách đầy thơ mộng của tuổi học trò cũng bị vu cho cái tội tâm lý chiến: ru ngủ tuổi trẻ, để không ai còn quan tâm đến đất nước cả. Như vậy, viết về chính trị: có tội; không viết về chính trị: cũng có tội. Với lối quy chụp như thế, hầu như không có ai trong giới cầm bút miền Nam thời 1954-1975 có thể được xem là có lý lịch sạch cả.
Nếu việc bắt bớ và cầm tù các tác giả miền Nam là một chính sách trả thù đối với những người hoặc chống đối hoặc không theo cộng sản trong thời chiến tranh, việc tịch thu và thiêu huỷ sách báo miền Nam là một nỗ lực ngăn chận ảnh hưởng của chúng để trong đầu óc dân chúng không có gì ngoài thứ văn học họ gọi là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, trong đó, chỉ có hai màu: hồng cho cách mạng và đen cho các lực lượng phản cách mạng. Riêng việc vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ được thể hiện trong các cuộc hội nghị cũng như trên sách báo lại nhắm chủ yếu vào người đọc, nhằm tẩy não người đọc để mọi người xem văn học miền Nam không có gì khác ngoài tính chất đồi truỵ và phản quốc.
Trong ba mục tiêu ấy, có lẽ chỉ có mục tiêu trả thù nhắm vào giới cầm bút miền Nam của chính quyền mới là thành công. Thành công ở số người cầm bút bị chết trong nhà tù hoặc ngay sau khi rời khỏi nhà tù: Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hoạt và Dương Hùng Cường. Thành công ở chỗ giam thật lâu, thật lâu, đến trên 10 năm, một số những người viết văn và làm thơ như Trần Dạ Từ, Tô Thuỳ Yên và Phan Nhật Nam. Còn mục tiêu thứ hai, tiêu huỷ các tác phẩm văn học của miền Nam, có lẽ họ chỉ thành công có mức độ nhờ hai yếu tố: Một là dân chúng, vì yêu mến nền văn học ấy, cố tình cách giấu giếm hoặc mua bán lén lút với nhau; và hai là nhờ cộng đồng người Việt ở hải ngoại tìm cách sưu tập và tái bản khá nhiều, ít nhất là những tác phẩm ăn khách nhất.
Riêng mục tiêu thứ ba, nhằm nhồi sọ dân chúng, tôi ngờ là họ không thành công mấy. Tôi không tin là những người từng sống ở miền Nam có thể tin vào các luận điệu tuyên truyền rẻ tiền của chính phủ. Tôi tin điều ngược lại: chính phủ càng lên án văn học miền Nam một cách ầm ĩ bao nhiêu, càng lôi kéo sự chú ý của dân chúng vào nền văn học ấy bấy nhiêu. Tôi biết có nhiều người, từ miền Bắc vào Nam sau năm 1975, cố tìm kiếm các tác phẩm văn học miền Nam để đọc. Nhà văn Dương Thu Hương có lần kể, sau năm 1975, điều khiến bà ngạc nhiên và, sau đó, làm thay đổi hẳn cách suy nghĩ về chính trị của bà chính là các tác phẩm văn học, cả sáng tác lẫn dịch thuật, mà bà được đọc tại Sài Gòn khi đi thăm gia đình.
Trong các lần về thăm Việt Nam trước đây, tôi gặp nhiều người cầm bút ở miền Bắc. Trong đó có khá nhiều người bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với một số cây bút miền Nam thuở trước, đặc biệt là Thanh Tâm Tuyền và Bùi Giáng, về thơ; Phạm Công Thiện về triết học, Võ Phiến về tuỳ bút, và Dương Nghiễm Mậu về tiểu thuyết. Tuy nhiên, sự ngưỡng mộ của họ hầu như chỉ được bày tỏ trong các cuộc chuyện trò quanh bàn nhậu. Trừ Bùi Giáng, hầu như không có ai được nghiên cứu một cách thấu đáo và công bình trong bất cứ một công trình phê bình nào cả.
Nói một cách tóm tắt, nền văn học miền Nam giai đoạn 1954-75, cho đến nay, ít nhất với độc giả trong nước, vẫn là một nền văn học bất hạnh: sau khi bị tịch thu và bôi nhọ, nó tiếp tục bị chôn vùi vào quên lãng.
Do đó, tôi tin cuộc hội thảo về nền văn học ấy do hai tờ nhật báo Người Việt và Việt Báo cùng với hai tờ báo văn học mạng Tiền Vệ và Da Màu được tổ chức tại California vào tháng 12 năm nay là một điều cần thiết.
Thật ra, nó cũng khá muộn. Nhưng muộn còn hơn không.
***
THÔNG BÁO
HỘI THẢO VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975
Trong hai mươi năm, từ 1954 đến 1975, văn học Miền Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn không những trong lãnh vực sáng tác mà còn trong các lãnh vực dịch thuật, phê bình, lý luận và nghiên cứu. Tiếc, sau khi chiến tranh kết thúc, những người cầm bút nếu không bị bắt bớ thì cũng bị cấm hoạt động, sách báo nếu không bị tiêu hủy thì cũng bị cấm lưu hành, các thành tựu nếu không bị xuyên tạc và bôi nhọ thì cũng bị vùi vào quên lãng. Một số cây bút ở hải ngoại đã tìm cách để phục hồi nền văn học ấy nhưng tất cả đều là những nỗ lực cá nhân. Một cuộc hội thảo về nền văn học ấy, do đó, là một điều vô cùng cần thiết.
Không những cần thiết, nó còn khẩn thiết. Hiện nay, tất cả những cây bút tài hoa và có nhiều đóng góp nhất vào nền văn học Miền Nam trong giai đoạn 1954-75, nếu còn sống, đều đã luống tuổi. Thời điểm này hầu như là cơ hội cuối cùng để nhiều người trong họ có thể lên tiếng về nền văn học do chính họ góp phần xây dựng.
Nhận thức sự cần thiết và khẩn thiết ấy, hai nhật báo Người Việt và Việt Báo cùng với hai tờ báo mạng về văn học Tiền Vệ và Da Màu sẽ cùng nhau tổ chức một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-1975 tại Little Saigon, California, Hoa Kỳ trong hai ngày 6 và 7 tháng 12 năm 2014.
Cuộc hội thảo sẽ nhắm vào các mục tiêu chính:
  1. Cố gắng nhận diện một số đặc điểm nổi bật nhất trong văn học Miền Nam.
  2. Đánh giá lại những thành tựu chính của văn học Miền Nam trong toàn cảnh văn học Việt Nam nói chung.
  3. Tìm hiểu, phân tích và đánh giá các chính sách đối với văn học Miền Nam của chính quyền Việt Nam sau năm 1975.
  4. Tìm hiểu, phân tích và đánh giá các nỗ lực duy trì và phục hồi văn học Miền Nam của các tác giả hải ngoại.
  5. Tưởng niệm một số cây bút tài năng đã qua đời (có người qua đời trong lao tù hoặc ngay sau khi ra khỏi trại tù).
Nhắm đến các mục tiêu trên, đề tài hội thảo sẽ bao gồm một số khía cạnh chính:
  1. Sinh hoạt văn học Miền Nam (điều kiện sáng tác, quan hệ giữa văn học và chính trị, giữa Việt Nam và thế giới, v.v…)
  2. Phân tích một số thành tựu, đặc điểm và hiện tượng nổi bật nhất (kể cả hiện tượng các cây bút nữ hoặc các cây bút miền Nam cũng như các cây bút trong quân đội; các tạp chí văn học & các giải thưởng) của văn học Miền Nam.
  3. Nhìn lại văn học Miền Nam trong toàn cảnh văn học Việt Nam hiện đại
  4. Tìm hiểu các chính sách của nhà cầm quyền Việt Nam sau 1975 đối với văn học Miền Nam (tác giả & tác phẩm)
  5. Tìm hiểu các nỗ lực cứu vãn và phục hồi các tác phẩm văn học Miền Nam ở hải ngoại sau 1975.
Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc: Nguyễn Hưng Quốc tuan.nguyen@vu.edu.au, Đinh Quang Anh Thái dinh.thai@nguoi-viet.com, Hoàng Ngọc-Tuấn hoangngoctuan@optusnet.com.au, và Đặng Thơ Thơ dangthotho@aol.com.

HIỆP ĐỊNH GENÈVE: Đúng 60 năm di cư vào Nam.

Đúng 60 năm 20/7/1954 – 20/7/2014



HIỆP  ĐỊNH  GENÈVE


Chúng ta hãy nhìn lại những gì đã xẩy ra trong thời gian sôi bỏng tháng 7-1954. Hiệp Định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, ấn định 300 ngày để dân hai Miền có thể di chuyển vào Miền mình ưa thích mà sống.

Miền Bắc hầu hết chộn rộn lo di cư vào Nam.

Nhà nhà lo di cư vào Nam nhưng dù không mong, ba ngày Tết vẫn tới. Đó là Tết Ất Mùi (1955). Người Hà Nội đồn ầm lên về hai câu thơ trong Sấm cụ Trạng Trình mà người ta cho rằng nhất định phải xẩy ra y như lời Sấm.

      Mã đề dương cước anh hùng tận

      Thân Dậu niên lai kiến thái bình.

Mã đề, dương cước: móng ngựa, chân dê ý nói cuối hai năm 1954 (Giáp Ngọ) và 1955 (Ất Mùi), kẻ anh hùng tận số. Kẻ anh hùng này là ai đây? Thân Dậu, hai năm 1956 (Bính Thân) và 1957 (Đinh Dậu) nhìn thấy thái bình. Hai năm này, vì mới xong cuộc di cư vĩ đại, vả lại lính Việt Minh đã chết nhiều cần phải bổ xung trước khi xua quân đánh tiếp nên lính Việt Cộng bớt quấy rối miền Nam, lúc đó là đệ nhất Cộng hòa do Tổng Thống Ngô đình Diệm lãnh đạo.

Chiến tranh quá khốc liệt, người chết, của cải bị tàn phá, có ai không mong một cảnh tượng thái bình của giang sơn cho con người bớt khổ?

Sau 9 năm thiệt hại trên nửa triệu quân chính qui và các lực lượng võ trang do tiêu chí đánh biển người của Trung Cộng (tướng Cheng Ghai thực sự chỉ huy trận Điện Biên Phủ chứ không phải Võ nguyên Giáp), lực lượng Việt Minh đã thấm đòn và kiệt quệ thấy rõ, cần mộ thêm quân, rèn cán chỉnh quân cái đã. Các nước quan thầy và đàn anh Cộng sản cũng chậm chậm đưa thêm viện trợ vì Bắc Việt nghèo đói quá, vực lên không nổi, cả miền Bắc không làm được cái đinh, cái kim khâu, kim máy, cái đinh ốc bởi ông Hồ chí Minh chỉ chú tâm vào chiến tranh để chiếm đất giành dân còn đời sống kinh tế lụn bại, dân chúng đói nhao lên cũng mặc kệ.

Phần lớn các gia đình ăn độn ngô, khoai, sắn, mỗi người một năm được mua 4 mét vải để may quần áo, tháng vài lạng thịt, vài lạng đường, năm 1975 khi các tù nhân chính trị từ trong Nam ra Bắc gặp một anh xưng là Thứ trưởng Bộ Nội Vụ ra đón tiếp ở phi trường Nội Bài, Hà Nội, anh Thứ trưởng này đi cái xe đạp cà tàng, vẫn còn mặc quần vá buột chỉ ở mông quần trông thấy da bên trong. Cán bộ cao cấp nghèo thế thì người dân khổ sở đến đâu! (Mà bây giờ!)

Tết năm 1954, để qua năm mới 1955, quả thực là cái Tết không vui gì. Người Hà Nội như gia đình ông bà phán Quế và gia đình tôi chỉ chăm chăm lo đi chót lọt xuống Cảng để vào Nam đâu có thiết tha gì Tết với tư.

Sau ngày 20-7-1954, các miền quê Bắc Việt cũng như thành phố, đi đâu cũng nghe người dân nói về chuyện di cư vào Nam. Đây là một quyết định tối quan trọng cho mỗi gia đình: hoặc ở lại với chế độ Cộng sản kềm kẹp bức hiếp của ông Hồ chí Minh, hoặc xuống tầu di cư vào Nam tránh CS và được hưởng một cuộc đời tự do, dân chủ. Nhiều gia đình đã bỏ hết tất cả để vào Nam với hai bàn tay trắng: họ bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, tài sản, thóc lúa, nông cụ, ngay cả mồ mả tiên nhân, có những người không kịp sắp xếp, đã bỏ cả cha mẹ, ông bà, vợ con là những người thân thiết cật ruột nhất đời để ra đi tay không vì nếu còn thương tiếc, chần chờ thì, họ đã nhìn thấy, chính họ không đi được nữa. Câu thành ngữ:” Chết một đống hơn sống một người” phải đổi lại là: “Sống một người còn hơn chết cả đống với nhau.”

Nhưng không phải hễ muốn đi là đi được, muốn bỏ CS là được, nhất là dân quê. Câu chuyện sau đây sẽ giải thích rõ ràng chuyện đó.  

Nhiều gia đình nông dân ở nhiều nơi, người chết, tài sản bị cướp hết vì Cải Cách Ruộng Đất, vì bom đạn đôi bên, vì con cái ra trận tử thương, không gia đình nào vui hoàn toàn thế thì họ tha thiết gì với cái Tết Ất Mùi 1955. Vả lại của cải không còn một tí gì, bữa ăn hàng ngày không có, sao dám nói đến chuyện Tết tư? Thời gian tháng 2-1955 chính là thời gian nước rút cho những dân quê chưa vào được Hải Phòng phải tìm mọi cách để vào vì hạn chót hết đi đã lù lù trước cửa: 18-5-1955 (tức là 300 ngày tại thành phố Hải Phòng tính từ ngày 20-7-1954).  

Cán binh của ông Hồ đã vào Hà Nội từ tháng 10-1954. Họ là những người vui nhất bởi họ nghĩ rằng họ chiến thắng mà thực sự không phải vậy. Sau này TBT Lê Duẩn tuyên bố, Việt Nam ta đánh Pháp-Mỹ đây là đánh cho Tàu-Nga, thì cái chiến thắng Điện Biên Phủ đó là Tàu-Nga chiến thắng, chứ không phải ta bởi thắng Điện Biên Phủ rồi sau đó mới cưởng chiếm Miền Nam 30-4-1975.

Những bộ quần áo đại cán mầu cỏ úa, những nón cối, nón tai bèo, dép râu được dịp khoe khoang nơi các phố hàng Đào, hàng Ngang, Bờ Hồ, niềm kiêu hãnh bật ra từ những khuôn mặt kẻ cả, những giọng nói trịch thuợng, những câu nói hơi lạ đối vớí người Hà Nội như bức xúc, chất lượng, đề cao cảnh giác, triển khai, tham quan, sự cố, mất lập trường v.v... Nét mặt họ vui tươi hớn hở vì họ cho rằng họ đã chiến thắng, đã đuổi được thực dân Pháp ra khỏi Bắc Việt. Họ không hiểu cái chiến thắng đó đã phải mua bằng một giá quá đắt là hàng triệu đồng bào, anh em ruột thịt của họ đã nằm xuống vĩnh viễn, hàng triệu khác lê lết một cuộc đời tàn phế cụt chân, cụt tay, đui mù và nhiều triệu khác trở nên nghèo đói lầm than cơ cực không bút mực nào tả xiết. Họ cũng không hiểu của cải, tài sản người dân Bắc Việt, tài sản công như dinh thự, trường học, nhà thương đường xá, đường xe lửa v.v..., tài sản của các tôn giáo như nhà thờ, đình chùa, miếu mạo, tài sản của người dân như nhà cửa, thực phẩm, đồ đạc, quần áo, tất tật mọi thứ, vì chiến tranh tiêu thổ đã thành tro, than hết cả. Thật đau xót cho cả dân tộc!

Chiều mồng một Tết, lúc ông bà phán Quế vừa đi mừng tuổi ông bà chú thím họ là cụ Ký Cương về thì có một anh thanh niên khoảng gần 30 tuổi, quần áo tồi tàn, mặt mày thất sắc, đi xộc vào nhà. Anh ta vừa chào:

“Thưa chú thím phán....” thì òa lên khóc.

Ông bà phán Quế và chúng tôi hết sức bỡ ngỡ. Ông phán Quế hỏi:

“Suý ơi! Lâu quá mới gặp lại chú thím. Làm sao mà cháu khóc vậy?”

Anh thanh niên vẫn nức nở, vừa khóc vừa nói trong nước mắt:

“Chú thím ơi, bố mẹ con chết cả rồi!”

Câu nói đó làm ông bà phán, Kim Vân và Ngân Hà đều sửng sốt, trố mắt nhìn người thanh niên.

“Vì sao mà bố mẹ con chết?” ông phán hỏi tiếp, “Ngồi xuống ghế này đã.”

Anh thanh niên ngồi xuống ghế, nói:

“Từ dạo chú thím gặp bố mẹ con, sau đó chú thím rời khỏi làng được mấy tháng thì bọn du kích xã phát động cuộc Cải Cách Ruộng Đất, chúng đưa cả chục người mà chúng ghép là địa chủ ra đấu tố rồi chúng lập tòa án nhân dân kết án tử hình tất cả. Bố mẹ con bị chúng chôn sống chỉ để chìa cái đầu lên khỏi mặt đất. Hai cặp vợ chồng khác cũng bị như vậy. Rồi chúng cho trâu cày, bừa vào những cái đầu ấy, cả giờ sau bố mẹ con mới chết. Đau đớn lắm chú thím ạ. Sau đó chúng cũng không cho lấy xác về nhà chôn mà chỉ cho đổ thêm đất cho lấp hai cái đầu đi mà thôi. Chúng tàn ác quá, chú thím ơi! Chúng bao vây anh em con không cho đi đâu cả, nhân dịp Tết chúng ăn uống vui chơi nên con trốn lên đây báo tin cho chú thím...”

Kim Vân và Ngân Hà ngồi nghe chuyện anh Suý, và cả ông bà phán Quế và tôi, rùng mình kinh hãi cho những hành động tàn bạo của Việt Minh. Anh Suý là con hai bác lý Sủng, đã một thời là lý trưởng mua (chỉ có danh vị) ở làng Vị Xá gần núi Gôi, Ninh Bình. Bác Sủng là người Công giáo, làm ruộng chỉ đủ ăn, tư điền không có lấy một sào nhưng cấy rẽ ba mẫu vì gia đình đông con. Với tài sản như thế làm sao có thể ghép bác Sủng vào thành phần địa chủ nhưng bọn du kích xã vốn ghét bác hay phê bình những điều sai trái của chúng nên tiện dịp chúng bàn với nhau đưa bác ra giết bỏ.

***

Mới hôm qua chú Kế, người cùng làng, vai em họ xa với thầy tôi rất quí trọng thầy tôi, chú đến gặp tôi tại phố Huế Hà Nội, hỏi thăm về mẹ và các anh chị, các cháu tôi đã lên được Hà Nội chưa đồng thời cho tôi biết gia đình chú 4 người gồm chú, hai con trai và thằng con rể đã lần mò lên tới Hà Nội. Còn 11 người gồm thím và con, cháu bị bỏ lại ở dọc đường.

Chú Kế nói không dám đi trên lộ mà toàn dùng đường ruộng, lối tắt để tránh những con mắt cú vọ của du kích xã.

Đi đến ngày thứ năm, khi chỉ còn cách một đồn lính Pháp chừng hơn 1km, mọi người mừng rỡ chắc mẩm sẽ nhờ xe nhà binh Pháp chở vào Hà Nội vì Kiếm, người con trai út của chú Kế biết ít tiếng Pháp có thể giao dịch với người Pháp được.

Dù Pháp đã đánh nhau với Việt Minh 9 năm nhưng theo kinh nghiệm, Pháp không làm hại các người di cư, mỗi khi có người chạy vào đồn Pháp xin giúp đỡ thì Pháp sẵn sàng giúp ngay nếu những người ấy là dân chạy loạn thật. Trái lại với Việt Minh, họ nghi ngờ hết thảy và dễ dàng bỏ mình vào tù hoặc bắn bỏ. Những người dân nào xưa kia từ vùng VM vào thành đều có kinh nghiệm xương máu đó.

Vào được đến Hà Nội là coi như sống, có thể mua vé xe lửa xuống Cảng dễ dàng để vào Nam. Việt Cộng dù sao vẫn còn sợ những nhân viên Uỷ hội quốc tế kiểm soát đình chiến giữ trật tự cho dân chúng di cư từ Bắc vào Nam hoặc từ Nam ra Bắc theo ý nguyện của mỗi người theo đúng những qui định trong Hiệp định chia đôi đất nước Geneva 20-7-1954.

Nhưng khi chỉ còn cách đồn hơn 1km, chú Kế kể tiếp, bỗng nhiên từ trong một đường hẻm xông ra 6,7 thanh niên nam nữ mặc quần áo đen, hai, ba người đeo súng tự xưng là du kích xã sở tại. Họ chận chú Kế là chủ gia đình, người lớn tuổi nhất hỏi rằng ông bà và gia đình đi đâu?

Chú Kế trả lời quanh co chứ không nói sự thực:

“Gia đình tôi ở quê tuốt miền biển Hải Hậu, Nam định mới bị cháy hết nhà cửa không còn gì. Chúng tôi phải lên Hà Nội đi ăn xin để nuôi mấy đứa trẻ qua ngày. Ở đó tôi còn một đứa con gái buôn bán ở chợ Đồng Xuân, tôi dắt gia đình lên nương nhờ nó kiếm sống.”

Một tên trong bọn đeo súng lục, ý chừng là chỉ huy nói:

“Nước nhà ngày nay độc lập rồi, Tây phải cút rồi, toàn dân sẽ có tự do, hạnh phúc. Hai bác và gia đình rồi sẽ được Hồ chủ tịch và chính phủ chu cấp tiền nong dựng lại nhà cửa, lại có mọi thứ như xưa. Hai bác và gia đình không cần chi phải lên Hà Nội. Lên đó biết đâu không tìm ra người con gái mà có khi bị Tây nó bắt theo nó vào Nam, đàn ông làm cu li đồn điền cao su thì lúc đó hối không kịp. Còn đàn bà như mấy chị trẻ trẻ này thì phải làm điếm cho chúng để kiếm miếng ăn. Khổ cực nhục nhã lắm!

Ở trong Nam, từ Tây đến người Việt mình ai cũng có một cái đuôi như đuôi trâu và lông lá mọc ra đầy mình vì đói quá không có gạo ăn phải ăn thịt trẻ con. Hai bác và gia đình hãy đi theo chúng cháu về trụ sở du kích xã, chúng cháu đãi bữa cơm xong sáng mai trở về làng cho sớm. Cháu sẽ kí Lệnh đi đường cho hai bác và gia đình về đến làng an toàn không ai phiền hà gì nữa.”

Chú Kế trả lời:

“Đội trưởng hãy để cho chúng tôi đi gặp con, gặp chị, em chúng tôi cái đã vì đã lên đến đây, bao nhiêu là công lao, đường đất, cha con, mẹ con anh chị em đã mấy năm không gặp. Chúng tôi hứa chỉ ở chơi vài, ba ngày là lại trở về liền.”

Tên chỉ huy nhất định không cho gia đình chú đi, chú Kế kể tiếp. Y quay qua đám du kích hất hàm, nói:

“Nào các đội viên hãy làm nhiệm vụ!”

Tức thì những nữ du kích giật phắt lấy ba đứa nhỏ đang ẵm trên tay chạy biến vào con đường nhỏ. Các thanh niên thì xách lấy mấy cái tay xách đựng quần áo và giấy tờ cùng những đồ cần thiết đi đường của gia đình chú. Một nữ du kích cứ bám cứng lấy thím vì biết giữ được thím thì chú không thể đi được mà chú không đi được thì cả nhà coi như tê liệt.

Con nữ du kích quàng tay thím nói với thím ngọt sớt:

“Mẹ ơi, lước nhà độc nập rồi, mẹ còn đi đâu nàm chi? Con nói sật, không có ông vua nào ngày thưa mà quảng đại, nhân đức, sương rân như Hồ chủ tịch đâu. Mẹ khuyên bảo bố lên trở về nàng nàm ăn, lếu nhà cháy thì chỉ vài sáng sau là chính phủ sẽ cấp phát cho gấp đôi số đó để thây nại nhà. Con không lói náo đâu. Mẹ tin con đi. Ai chứ Hồ chủ tịch tốt nắm và nhân đức nắm mẹ ạ. Hồ chủ tịch chỉ ăn cơm với rau muống nuộc, muối vừng còn gạo sóc, sịt nợn, sịt bò, tiền bạc là rành hết cho rân nghèo. Mẹ không thấy tiệu tiệu người hoan hô Hồ chủ tịch à? Con biết gia đình mẹ đi như sế lày nà nên Hà Lội, rồi xuống Hải Phòng, theo Tây, theo Mỹ vào Lam. Trong Lam đói khổ nắm, toàn ngô khoai bobo không hà! Sao bố mẹ tính quẩn vậy? Người trong Lam lay mai sẽ ri cư ra Bắc cả tiệu cho mẹ coi vì ở tong đó đói quá không chịu lổi, giết trẻ con ăn sịt không hà!”

Gia đình chú thím đã quê mà chúng còn quê hơn. Phải bấm bụng không dám cười!

Chúng ôm những đứa trẻ (mặc cho trẻ la khóc) và mấy cái xách tay đi làm cả gia đình chú cũng phải đi theo. Đi một quãng xa thấy có nhà cửa, chúng đưa gia đình chú vào một cái điếm canh khi xưa, nay chúng gọi là trụ sở du kích xã. Chúng bảo cho ăn cơm mà nào thấy gì. Chúng để lại hai tên canh coi còn đi đâu mất tăm mất dạng. Ba đứa con nít chúng bế vào một nhà nào đó trong xóm, chúng cho phép hai người mẹ là con dâu và con gái chú đi theo để dỗ ba đứa trẻ khỏi khóc.

Khoảng tối mịt chúng đưa ba đứa trẻ và mẹ chúng trở lại điếm canh, một tên đưa đến cho chú và gia đình mỗi người một cái bắp ngô hay một củ khoai. Chúng bảo nằm ở đó ngủ và sáng hôm sau chúng cho trở về làng. Nước uống không có, con trai và con rể với chú phải đi theo một tên du kích ra bờ sông kín nước vào hai cái hũ sành chúng cho mượn về cho mọi người uống.

Nhân lúc tên du kích không có mặt khi chú và hai thằng con lội xuống sông lấy nước, chú hỏi nhỏ hai thằng con, chúng mày định ra sao?

Thằng rể bảo phải tìm cách trốn đi bố ạ. Chú hỏi thế còn mẹ, vợ con mày và những đứa khác? Nó bảo phải đành bỏ lại rồi tính sau chứ không thì chúng bắt trở lại làng, chết cả đống. Về làng không yên với du kích làng đâu.

Chú nghe thằng con rể nói có lí. Còn thằng con trai không nói gì. Chú biết nó rất thích vào Nam nhưng tính hơi nhát không dám liều như thằng anh rể nó. Chú bảo thằng Khả là thằng rể và thằng Kiệm là thằng con trai, hễ đêm khuya chú nháy chúng nó thì liệu dậy mà chuồn. Cấm không cho đàn bà con nít biết gì hết. Đau khổ chưa cháu Vũ?

Sau đó ba cha con trở lại điếm canh, mỗi người uống một bát nước sông cho đỡ khát rồi nằm ngủ.

Bọn này còn giữ nhiều người khác cũng theo kiểu bắt cóc như đã bắt cóc gia đình chú. Chúng thấy gia đình chú không phản đối nhiều, cho rằng đã ưng thuận trở lại làng nên chúng đi làm việc với đám khác, chỉ để một tên lại canh gác.

Khoảng hai giờ sáng, ai nấy đều ngủ say, chỉ riêng chú và thằng con rể lớn là vẫn thức vì nó nằm cạnh chú. Thằng du kích gác gia đình chú ngồi tựa đầu vào gốc cây bàng ngáy khò khò ở cách chỗ ngủ của gia đình chú một khoảng vài chục mét. Nó cũng sợ bố con chú cướp súng giết nó.

Chú thấy đã đến lúc bèn bấm ba thằng con. Thằng Khả và thằng Kiếm nhỏm dậy ngay cùng với chú, thằng rể thứ nhì không chịu trốn vì nó thương vợ con nó quá, nhưng thằng con trai lớn, thằng Kiệm có vẻ do dự. Chắc nó sợ những bất trắc xẩy ra vì trốn không thoát. Chú kéo tay nó, thì thầm vào tai nó mãi rồi nó mới ngồi dậy. Chú bảo chúng:

“Đi theo bố!”

Ngay lúc đó thím nghe được. Bà ấy níu lấy chú:

“Bố con ông đi đâu vậy?”

Chú nói rất ngắn:

“Đi trốn rồi ra Hà Nội. Bà với lũ trẻ đi không thoát đâu. Thôi để bố con tôi đi rồi tính sau.”

Thím chắc là đau khổ lắm nhưng biết chú nói đúng. Thím nắm lấy tay chú trong hai tay bà ấy, hình như thím khóc lặng lẽ:

“Xin Chúa và Đức Mẹ phù hộ bố con ông đi cho thoát. Thoát được thì lo cho mẹ con tôi nhá!”

Chú Kế ngưng lại một lúc vì kể đã mệt. Tôi đưa chén nước trà cho chú:

“Chú uống đi cho bớt mệt. Cháu có thuốc lá, chú hút một điếu.”

Tôi giở bao thuốc Capstan (lúc ấy có nhiều ở Hà Nội) mời chú Kế, xong bật cái Zippo cho chú mồi. Chú hít một hơi rồi thở ra:

“Cháu Vũ, cháu phải nhớ lời chú nói đây. Không một người nào sinh ra ở cái nước Việt Nam trong khoảng những năm gần đây mà không bị liên luỵ, đau khổ không nhiều thì ít vì giặc Hồ. Mấy đứa nhỏ 1, 2, 3, 4 tuổi cháu nội, cháu ngoại của chú đã phải chịu khổ vì Việt Minh rồi. Đời thuở nào mới mấy tuổi đầu đã nếm mùi chiến tranh, bom đạn, bắt cóc, nhìn thấy xử bắn, tra tấn, đánh đập, nạt nộ, cướp nhà, cướp đất dân quê ở nông thôn. Cháu có thấy xứ sở nào khốn khổ như thế không? Ngay mọi Phi châu cũng không khốn nạn như thế. Mà chúng luôn mồm ca tụng cách mạng, giải phóng, nhân dân làm chủ, cán bộ là đầy tớ nhân dân. Đầy tớ nhân dân mà chúng bắt cóc người ngang xương, cấm không cho lên Hà Nội để vào Nam thế sao? Chúng thật là một bọn dã man. Kể từ nay gia đình chú coi như tan nát chia li rồi cháu à. Thôi để chú kể tiếp. ”

Chú Kế rít thêm một hơi thuốc nữa xong nói:

“Bốn bố con chú lẩn lút ra đến đầu làng, vừa đi vừa phải đề phòng. Nhờ vì thằng Khả nhớ đường, nó nói lúc bọn du kích dẫn vào, nó để ý từng mái nhà, từng gốc cây, cố nhớ lấy để lúc ra dễ dàng vì nó đinh ninh sẽ phải trốn ra.

Kia là đường cái quan, như thế này hi vọng có thể thoát được. Tuy nhiên như đã nói có một đồn lính Pháp cách đầu làng khoảng hơn 1km, chú bảo ba thằng con phải cẩn thận. Việt cộng không được phép tấn công đồn binh Pháp sau ngày 20-7-1954 vì đã đình chiến và Pháp, trong thời gian chờ vận chuyển rút lui, cũng không bắn người bị nghi ngờ là Việt cộng. Chú bảo ba thằng con kiếm một cành cây bên đường, lấy cái áo cộc trắng buộc vào đầu làm cờ hàng rồi bốn cha con đi chậm chậm đến lối vào đồn. Nhờ có vài ngọn đèn điện mờ mờ, bốn cha con chú đã đến gặp được người lính Pháp gác đêm. Lúc ấy cũng đã hơi sáng.

Nhờ thằng Kiếm biết chút ít tiếng Pháp, bốn bố con chú được cho tá túc ở đồn. Sáng hôm sau họ phát đồ hộp cho ăn rồi cho quá giang xe lên Hà Nội. Nhờ thế chú mới gặp cháu đây.

Hiện giờ, chú không biết thím và các con các cháu chú ra sao? Chú nghĩ thím và cả nhà mừng vì chú và ba anh con trai đã thoát được nanh vuốt Cộng sản nhưng thương nhớ và đau khổ, mấy mẹ con, bà cháu khóc lóc lắm đây.

Cháu biết đường đi nước bước xuống Cảng, vui lòng hướng dẫn cho chú và các em với. Ra đi thế này là đau khổ lắm vì chẳng biết gia đình còn ở lại có sống được với chúng không nhưng không còn con đường nào khác cháu à!”

Việt cộng đã dùng cách níu kéo này để ngăn cản nhiều triệu người Bắc lũ lượt vào Nam vì họ nhất quyết không ở lại sống với VC. Mẹ, các anh chị và các cháu tôi ở làng quê cũng không trốn thoát được vì sự đe dọa sẽ mất nhà, mất mạng nếu cố tình trốn đi!

       20-7-2014

GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc 

Bài Xem Nhiều