We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 25 July 2014

Làm gì để cứu non sông?

Làm gì để cứu non sông?

vtt-35-phamtranViệt Nam, dẫu có đôi ba phen bị chia cắt. Cũng có lúc có hai, ba cơ chế công quyền khác nhau. Hoặc giả, có đôi lần bị đô hộ bởi ngoại bang, nhưng người Việt Nam xem ra vẫn luôn có được những điều đáng tự hào, đáng hãnh diện, hơn hẳn những sắc dân, hay những quốc gia đồng thời với mình từ khi lập quốc như: Tề, Hàn, Triệu, Sở, Tần, Tấn, Ngụy, Ngô, Việt (của Việt vương Câu Tiễn trong bách Việt) là chúng ta, dẫu là một sắc dân nhỏ sống rải rác ở phía nam sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng. Bị đẩy dần về phương nam, nhưng vẫn còn một quốc thể, một ngôn ngữ, một văn tự, một nòi giống sống chung trên một giải đất hình chữ S mang tên Việt Nam, chạy dài từ ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu. Cộng với một biển đông xuôi theo chiều dài của bờ đất, vươn ra ôm lấy các đảo, và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không rời. Như thế, Ta hãnh diện. Ta còn có một quê hương, một dân tộc đứng riêng ở cõi trời Nam là nhờ vào ý chí của tiền nhân qua nhiều đời luôn trung thành với hai nguyên tắc bất di bất dịch: Hy sinh vì đại nghĩa và tru di kẻ bán nước cầu vinh.

Tiếc rằng, bài sử ký này chỉ được nguời dân Việt Nam ở miền nam trân trọng học tập và thực hiện việc bảo vệ giang sơn của cha ông cho đến ngày 30-4-1975 là… chấm hết. Bởi vì, từ sau ngày quốc nạn 30-4-1975, và trước đó, từ 3-2-1930 đến 20-7-1954, tại miền bắc Việt Nam, dưới chế độ cộng sản, đã chẳng có sách vở nào được ghi chép, đã chẳng có người dân nào được phép nhắc nhở đến bản đồ địa lý mà cha ông ta để lại, cũng như chẳng ai được nhắc đến chuyệt phạt Tống, bình Ngô, triệt Hán, diệt Thanh của cha ông ta nữa. Lý do:

Đảng cộng sản được thành lập từ 3-2-1930 với 7, 8 ủy viên tại Hồng Kông, nhưng đến năm 1941 đã chết sạch, ngoại trừ một mình Hồ tùng Mậu đang thọ án chung thân khổ sai ở cao nguyên, và một Trịnh Đình Cửu … mất tích, không một tin tức, không có một hoạt động nào đáng được ghi lại từ sau ngày thành lập cho đến khi ông ta chết sau này. Bỗng dưng, vào cuối năm 1938, TC cho một nhân vật có tên là Hồ Quang mang quân hàm thiếu tá trong Bát Lộ Quân của Chu Đức đóng ở Quế Lâm, Quảng Tây xuất hiện. Hồ Quang sau này được gọi là Hồ Chí Minh, về VN lãnh đạo đảng và nhà nước VNDCCH từ 1940-1969. Hồ Quang là một cái tên nghe lạ tai, nhưng thật ra đây là một trong số 169 cái tên gọi, bút hiệu, bút danh của HCM được nhà nước Việt cộng chính thức công nhận và công bố. Theo bản công bố này, Hồ Quang có một sơ yếu lý lịch về năm sinh, học vấn, hoàn toàn khác biệt với sơ yếu lý lịch của Nguyễn sinh Cung (Nguyễn ái Quốc). Tài liệu ghi nhận: “Sơ yếu lý lịch của Hồ Quang tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc /thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm 1939. Hồ Quang 38 tuổi- Phụ trách điện đài – Quảng Đông – Thiếu tá – tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam – Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. (ảnh 1, ảnh 2) Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc”. 胡光(即胡志明主席)1939年在湖南省南岳培训班的简历。 胡光—电台员—38岁—-广东—-少校 —-毕业于岭南大学——中学教师。会外语和国语 .

Theo bản lý lịch chính thức này thì Hồ Quang sinh năm 1901. Trong khi đó Nguyễn Sinh Cung sinh năm 1891. Thứ đến, Hồ Quang có sở học và nơi chốn học tập hoàn toàn khác biệt với lý lịch của Nguyễn sinh Cung. Liệu việc giới thiệu Hồ Quang có phần lý lịch riêng trong danh sách 169 bí danh, bút hiệu của Hồ chí Minh do nhà nước VC công bố, có dụng ý gì khác thường chăng? Liệu sự kiện này có phải là một hình thức gián tiếp giới thiệu về lý lịch thật của người mang tên HCM là chủ tịch đảng và nhà nước Việt cộng từ 1940-1969 hay không? Nếu không, thì nó mang một ẩn ý gì?

Trở lại chuyện của Hồ Quang. Từ sau khi xuất hiện, Hồ Quang được TC hỗ trợ và đưa về VN, đến khoảng tháng 8-1942 đổi là Hồ chí Minh, bị bắt ở Túc Vinh vì giấy tờ đã hết hạn? Sau khi ra tù, y trở lại Việt Nam và trở thành lãnh tụ của đảng cộng sản và chủ tịch của nhà nước VNDCCH từ 1945. Nhưng mãi sau này, khoảng 1948-49, sau khi biết chắc không còn một người Việt Nam nào hoạt động cùng thời kỳ trước 1930, hay thân nhân nào biết rõ về tông tích diện mạo của Nguyễn Ái Quốc còn sống, cũng như biết rõ, hồ sơ của y không thể bị tiết lộ từ phía cộng sản Liên Sô và Trung cộng, HCM mới từ từ úp mở cho người ngoài biết y là Nguyễn ái Quốc! Tuy nhiên, tất cả mọi hoạt động của Hồ chí Minh và tập đoàn CS đều cúc cung phụng vụ cho Tàu cộng và ra sức thực hiện chủ nghĩa vô tổ quốc tại nước ta. Với chủ trương này, CS đã tuyên truyền và mở cuộc chiến tranh vào miền nam với chiêu bài giải phóng dân tộc. Nhưng thực tế là thực thi những sách lược do Trung cộng đề ra như lời công bố của Lê Duẩn bí thư đảng cộng lúc bấy giờ là:“cuộc chiến này là đánh cho Trung quốc, đánh cho liên Sô” hay là “công việc của chúng tôi là phụ thuộc vào Mao chủ Tịch” (Lê Duẫn).

Mặt khác, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo cho Phạm Văn Đồng, người đang giữ chức Thủ Tướng của nhà nước VNDCCH ký công hàm công nhận chủ quyền 12 hải lý thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc Trung cộng theo bản công bố chủ quyền trên vùng lãnh hải lãnh thổ do Chu Ân Lai trước đó hai tuần lễ. Việc công nhận này đã gây ra một hậu quả nghiêm trọng cho chủ quyền về biển đảo của Việt Nam hiện trực thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Hoà tại miền nam quản lý theo Hiệp Định 1954. Nó cũng là nguyên cớ làm cho hình dạng bản đồ địa lý của Việt Nam không ngừng thay đổi.

Trước tiên, về việc tranh chấp, định ước quốc tế “Estoppels” quy định rằng “Trong một tranh chấp cụ thể, vào một thời điểm nào đó, nếu một bên có thỏa thuận hay đồng ý ngầm, hoặc công nhận chủ quyền của một bên khác đối với một vùng lãnh thổ đang tranh chấp, thì sự công nhận hoặc đồng thuận đó có hiệu lực pháp lý.” Ai cũng biết, Trung cộng đã từng mưu toan gây tranh chấp về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam sau đệ nhị thế chiến. Tuy nhiên, trong hội nghị San Francisco năm 1951, dù được Nga bảo trợ, Trung cộng đã hoàn toàn thất bại trong việc tranh chấp chủ quyền với 3 phiếu thuận và 47 phiếu chống. Sau cuộc bỏ phiếu này, trưởng phái đoàn và cũng là Thủ Tưóng đương nhiệm chính quyền Việt Nam lúc bấy giờ là Nguyễn Văn Hữu đã tái công bố chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Lời công bố của TT Hữu không có bất cứ một đại biểu nào trong 51 phái đoàn được mời đến để tham dự Hội nghị này, kể cả Liên Sô và ngưòi đại diện của Trung cộng lên tiếng bác bỏ. Theo nguyên tắc, chủ quyền của Việt Nam đối với Hoang Sa, Truờng Sa là không thể có tranh cãi nữa. Tuy nhiên, TC dường như chưa bao giờ từ bỏ cuồng vọng bành trướng, nên không muốn tuân thủ những quy định mang tính quốc tế từ hội nghị này.

Theo đó, việc Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận chủ quyền của Trung cộng theo công bố của Chu Ân Lai (1958) trên những vùng lãnh hải, lãnh thổ này, dù không phải là đơn vị có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền này theo Hiệp Định Geneve 1954, đã đặt Việt Nam vào tình trạng có thể mất Hoàng Sa, Trường Sa vào tay TC. Hoặc ít nhất, là VNDCCH tự cho mình quyền đại diện cho Việt Nam để từ bỏ quyền chủ quyền thuộc vùng lãnh hải và lãnh thổ này cho TC chiếm giữ theo định ước Estoppel. Bởi vì theo định ước này diễn giải, “một khi bên nào đã đồng ý, hoặc đã công nhận chủ quyền đang tranh cãi thuộc về phía bên kia thì sẽ không thể bác bỏ chủ quyền của bên kia đối với vùng lãnh thổ đó sau này. Trái lại phải tôn trọng chủ quyền của bên kia”. Lời giải thích này đã hoàn toàn đẩy VNDCCH và kế thừa của nó là CHXHCNVN ra khỏi cuộc tranh chấp với Trung cộng về Hoàng Sa, Trường Sa. Hơn thế, việc Phạm Văn Đồng còn làm Thủ Tướng của nưóc Việt Nam thống nhất sau khi họ xóa bỏ hiêp định Geneve và Paris để chiếm đóng miền nam bằng bạo lực vào ngày 30-4-1975, và không hề có bất cứ một lời nói, một văn thư nào đá động đến việc tiếp quản chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam theo Hội Nghị quôc tế San Francisco và hiệp định Geneve 1954 làm cho Việt Nam mất dần tiếng nói đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là một sự im lặng tồi tệ, đáng nguyền rủa vì nó đã đồng loã với nội dung bản công hàm mà chính y đã ký trước kia.

Tuy thế, không phải một mình Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẫn, hay Trường Chinh theo đuổi chủ trương bán nước, thờ Tàu. Trái lại, sau những kẻ mở đường này là đến Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Nguyễn Mạnh Cầm, Lê Đức Anh, Phan Văn Khải… qua hai Hiệp Định, Hiệp Thương biên giới vào 1999 và 2000 là 796 km2 đất giáp ranh biên giới với Trung cộng thưộc các vùng Bản Giốc, Nam Quan, Lão Sơn, Tục Lãm và gần 3/4 diện tích vịnh bắc bộ đã bị chúng ký bán cho Trung cộng với gía là 2,5 tỷ đô la như một số tin tức rò rỉ và lan truyền trên báo chí. Từ đó, Việt Nam đã mất hẳn những vùng đất này, và không ai còn được nhắc đến nũa! Nếu mai sau, có một thể chế mới muốn tìm lại cái cọc mốc của biên giới đã được ký kết phân ranh giữa Việt Nam với Mãn Thanh vào năm 1883 thì cũng chẳng còn tìm ra dấu tích nó nằm ở đâu nữa. Tệ hơn, nếu cộng sản còn tồn tại trên phần đất này, không biết sau 5, 10 năm nữa con cháu ta phải học bài sử ký ghi chép ra sao? Bời vì dưới thời của những cái tên Mạnh, Kiệt, Dũng, Trọng ,Sang, Hùng, Lưu, Luận, Hải… thì không còn phần đất nào của Việt Nam thiếu dấu chân đi lại của quan cán Trung cộng, và không biết là có bao nhiêu khu rừng, vùng biển hay những nơi gọi khu đặc cư, những khu làng Tàu, cơ sở thương mai, kinh doanh cho riêng Tàu nhân, mọc lên như nấm ở trên nước Việt. Trong lúc người dân Việt lầm than, lang thang không có vài mét đất làm cái lều để sinh sống!

Có nước mắt nào của ngưòi Việt Nam không rơi xuống trước thảm cảnh này không? Hỏi xem, tại sao cha ông ta trải qua hàng nghìn năm trong những nỗi khó khăn tột cùng vẫn để lại cho con cháu được phần di sản thiêng liêng to lớn như thế, mà nay con cháu sao mà tệ?

Tôi cho rằng, con cháu cũng chẳng tệ gì lắm. Tuy nhiên, sau gần 70 năm bị bào mòn bởi bởi ý thức vô tổ quốc của CS, thế hệ lớn thì vị tư kỷ thành ích kỷ, lớp trẻ thì không được giáo dục về lòng yêu quê hương, yêu đồng bào một cách đứng đắn. Cộng với một cuộc tàn phá tôn giáo và luân thường đạo lý do Việt cộng thực hiện, đã tạo ra một xã hội với những sinh hoạt bát nháo, hỗn mang, đầy tính lọc lừa vô đạo, làm cho lòng người thêm chán nản, mất niềm tin. Họ đành phải sống chụp giựt, buông xuôi, tư kỷ thành ích kỷ. Đã thế, họ không được nhắc nhở, thấm nhuần giáo huấn của tiền nhân ta trong công cuộc giữ nưóc và kiến quốc là nuôi lòng hy sinh vì đại nghĩa và dứt khoát tru di những kẻ mãi quốc cầu vinh, mà nên nỗi!

1. Hy sinh vì đại nghĩa dân tộc

Phải nói ngay rằng, người dân như một thúng bột tinh nguyên. Bột không có nước quyện vào, chỉ cần một cơn gío nhẹ lướt qua, bột sẽ bay đi và vương vãi khắp nơi. Lòng hy sinh vì đại nghĩa của người dân cũng thế. Nếu không được giáo dục về lòng yêu nước thương nòi một cách nhân bản, nhân văn, đứng đắn theo lịch sử để gắn kết lại với nhau, chỉ cần những biến động nhỏ, lòng người đã ly tán. Nhưng nếu lòng dân luôn được nhào nặn và nuôi sống bằng tinh thần nhân bản, bằng ý thức tổ quốc thì nó luôn kết hợp với nhau, dẫu có là giông bão, biến động, bột cũng không lìa khỏi thúng! Theo cách nhìn này, lòng hy sinh vì đại nghĩa dân tộc trong lòng người Việt Nam lúc nào cũng có và có đầy ắp. Đặc biệt, sẽ phát huy thành sức mạnh lớn để bảo vệc sự trường tồn của quê hương. Nhưng xem ra là rất dửng dưng trước những tranh chấp của các phe phái. Đó là điều rất đáng qúy và cha ông ta đã biết cách chỉ tên kẻ thù, biết cách biến lòng hy sinh này thành những ngọn sóng thần, vùi dập tất cả những thế lực binh cường tướng mạnh từ Tống, Minh, Hán, Nguyên, Thanh khi chúng xâm phạm bờ cõi Việt Nam.

Nay, không phải lòng hy sinh vì đại nghĩa của dân ta không còn. Nhưng một phần bị chính những kẻ bán nước cầu vinh triệt hạ. Bị triệt hạ bằng những thủ đoạn đê hèn, hay bằng những ngôn từ lừa dối như tình hữu nghị, láng giềng tốt khi đưa rước giặc vào nhà. Một phần vì người dân dửng dưng, chán ngán với những ngôn từ của các đảng phái, hay của các nhóm đấu tranh, đôi khi lạm dụng cả danh nghĩa của tôn giáo, làm người dân mất hướng, không nhận diện được kẻ thù đích thực của dân tộc. Kết quả, người dân lui dần vào cuộc sống tư kỷ, buộc phải lo cho mình hơn là cho việc bao đồng, bị lợi dụng.

Về chuyện này ta không thể trách ai, nhìn lại cuộc sinh hoạt tại miền nam trước khi mất nước, dẫu là trong lúc chiến tranh, dân số không bao nhiêu mà cũng có tới mấy chục đảng phái và tổ chúc đấu tranh xuất hiện. Có nghười cho rằng, sở dĩ ta có nhiều đảng phái, tổ chức là vì “ta” không quen làm đảng… phó, hay phó thủ lãnh! Kết quả, nguời dân chẳng còn lỗ tai nào để mà phân biệt đúng sai. Trống một nơi, chiêng một nẻo. Sang đến chế độ cộng sản, lại là một nỗi kinh hoàng khác. Trăm lời nói, trăm việc làm không có được lấy một điều thật, điều nhân nghĩa! Tất cả là giả dối, lưu manh phản trắc. Duy chỉ có cái búa cái liềm của chúng là bằng sắt thép thật và cũng là thước đo công lý! Từ đó, một tên tội đồ ác độc hạng nhất trong lịch sử, từng cho người giết vợ, quăng xác ra đường gỉa làm tai nạn lưu thông, cũng có thể được chúng biến thành một “cha già” dân tộc với đàn cao, hương án. Tệ hơn, chúng còn phỉ báng tôn giáo bằng cách ép, đem cái đầu lâu của y vào nhà chùa, vào đền miếu, bày trò cúng bái để kiếm lấy phần sôi, phần bổng lộc! Với một cuộc sinh hoạt bát nháo như thế mà gọi là “chính phủ” thì người dân không muốn lui vào trong tư kỷ cũng không có đưòng chọn lựa khác!

2. Tru di những kẻ bán nước cầu vinh

Hình như cha ông chúng ta giỏi nhận ra chân tướng của những kẻ bán nước cầu vinh và cũng dứt khoát với những thành phần này hơn chúng ta. Điển hình là những trường hợp của Thống soái Ngô vương Quyền trảm Kiều công Tiễn trước khi đóng cọc nhọn xuống Đằng Giang để tiêu diệt quân Hán, hay tể tướng Lữ Gia, tập hợp gia nhân binh lực để khu trù Cù Thị cứu nước. Rồi những Trần ích Tắc, Mạc Đăng Dung. Lê chiêu Thống cũng chịu chung một số phận. Trong khi đó, xem ra trong chúng ta lại không thể phân biệt được gỉa chân. Kẻ tội đồ của dân tộc được phe đảng của chúng đắp tượng đưa vào chùa để kiếm phần sôi, phần bổng lộc đã đành, nhưng phe “ta” lại có những kẻ tự cho mình là trí thức, có những mảnh bằng to hơn bàn tay, hoặc giả, là lãnh tụ đảng phái, đoàn thể hay tôn giáo, lúc trưóc khi chưa mất miền nam thì phá rối, thông đồng với giặc bằng cách này hay cách khác để đấu với tranh, bức tử Đệ Nhất Cộng Hòa, để đưa đến cái chết của Tự Do vào ngày 30-4-1975. Sau đó người thì bị cộng sản rọ miệng, kẻ ra hải ngoại. Khi ra ngoài, tưởng họ làm được những điều hữu ích cho dân, lên tiếng vạch ra những tội ác của chúng để cho người dân nhận diện ra kẻ bán nước cầu vinh, không ngờ, lại vì cái bả hay mộng vinh hoa, hay sợ người đời quên mất tên mình, nên phải làm sớ, làm kiến nghị “dâng kế” cho cộng sản với ngôn ngữ gỉa tạo “dâng kế sách cho CS thực hiện để cho dân mình bớt khổ”. Hỡi ơi cái đầu gối! Nếu CS muốn dùng những lương sách để làm cho dân bớt khổ đau thì chúng đã làm từ lâu rồi, cần gì đến cái bản kiến nghị nhố nhăng ấy!

Khi viết ra những lời này, tôi thực lòng, không chỉ trích, hay bóng gío một ai (nếu ai cảm thấy bị xúc phạm, tôi thành thật xin lỗi trước). Tôi chỉ muốn dẫn chứng một điều, chúng ta vẫn chưa nhìn ra được kẻ thù của dân tộc là ai. Trái lại, chỉ loanh quanh. Nay bảo là gia đình trị họ Ngô. Mai lại bảo, khéo là Ông… Thiệu, hoặc giả, là Hồ chí Minh và tập đoàn CS. Một khi, chúng ta chưa đồng nhất chỉ ra được kẻ thù của dân tộc là ai, ở đâu, người dân Việt Nam cũng chưa thể có đối sách, chưa thể có hướng đi, chưa thể có hành động để thoát ra khỏi con đường vòng quanh, tăm tối ấy. Theo đó, tôi cho rằng, nếu muốn tìm ra con đường, tìm ra phương thức hành động thích ứng cho Việt Nam, tất cả mọi người, không trừ ai, phải nhận diện được kẻ thù của dân tộc là ai, ở đâu. Khi chúng ta đã nhận diện được kẻ thù của dân tộc thì kế sách vẹn toàn của cha ông ta đã có sẵn, cứ thế mà thi hành để cứu quốc và kiến quốc. Chuyện mười năm không thành thì hai, ba mươi năm phải thành.

3. Hồ chí Minh là ai? Y có phải là kẻ tội đồ đã mở đường cho Tàu vào xâm lấn nước ta và gây ra cảnh cùng khốn cho dân ta hôm nay không?

Như ở phần trên tôi đã viết. Hồ Quang là một cái tên khác của Hồ chí Minh với lý lịch như sau: “Sơ yếu lý lịch của Hồ Quang tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc /thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm 1939. Hồ Quang 38 tuổi- Phụ trách điện đài – Quảng Đông – Thiếu tá – tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam – Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. (ảnh 1, ảnh 2) Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc”. 胡光(即胡志明主席)1939年在湖南省南岳培训班的简历。 胡光—电台员—38岁—-广东—-少校 —-毕业于岭南大学——中学教师。会外语和国语 .

Trong khi đó, Nguyễn sinh Cung, cũng gọi là Nguyễn tất Thành, người làng Kim Liên, Nam Đàn, sinh năm 1891. Theo tài liệu của sở mật thám Pháp thì Nguyễn sinh Cung đã chết vào năm 1933 vì bệnh lao phổi. Nay theo ông Phạm quế Dương cho biết, Nguyễn ái Quốc, đã chết vì bệnh lao tại Hồng Kông với những phần ghi chú như sau: “ Tác gỉa Hùynh Tâm cũng là người Trung quốc (trong tập tài liệu dầy 141 trang) xác định Hồ chí Minh là Hồ tập Chương. Tài liệu viết: Theo hồ sơ của nhà tù Hương Cảng, Nguyễn tất Thành đang lâm nguy bởi nhiều bệnh do trác táng, say đắm phong trần làm cơ thể hao mòn, mang bệnh truyền nhiễm cấp độ cao hết thuốc trị liệu… Năm 1832 Nguyễn tất Thành qua đời tại nhà tù Hương Cảng, hưởng dương 40 tuổi (1892-1932). Người thân (tên Hồ Vinh – Nguyễn Vinh) đến nhận xác và tất cả vật dụng cá nhân của tử tù và đem đi hỏa táng. Tro cốt của Nguyễn tất Thành mã số 00567, lưu trữ tại nghĩa trang Kuntsevew Moscow Russian… Tài liệu này được lưu trữ tại nhà tù Hương Cảng”.

Dĩ nhiên là chúng ta không hoàn toàn tin vào tài liệu này. Bởi vì khi “họ” cho ám số về tro cốt, chúng ta yêu cầu xét nghiệm tro cốt này bằng DNA thì có thể vấp ngã lớn vì có thể bị lừa (bởi vì nó sẽ không trùng khớp với Nguyễn sinh Khiêm). Tuy nhiên, Hồ chí Minh cũng không thể có cách chứng minh y là Hồ Quang và cũng là Nguyễn sinh Cung. Bởi lẽ hai người có hai bản sơ yếu lý lịch hoàn toàn khác nhau. Tôi không thể đồng ý với ý kiến lập luận rằng, Hồ Quang chỉ là một tên gọi khác của Hồ chí Minh như hằng trăm tên khác do nhà nước Việt cộng sưu tầm và công bố, có gì là không đúng, có gì cần thắc mắc”. Có, nó có chỗ không đúng và có chỗ đáng thắc mắc. Bởi vì trong tất cả 169 cái tên kia không một cái tên nào có lý lịch riêng. Đó thuần tuý là bút hiệu, bút danh hay tên gọi có thể là của một người (hoặc nhiều người bị tước đoạt và được gán cho Hồ chí Minh). Riêng cái tên Hồ Quang có sự khác biệt. Đó là một nhân sự có sơ yếu lý lịch riêng, có quân hàm có đơn vị, có địa bàn hoạt động trong hàng ngũ bộ đội của Trung cộng. Nó hoàn toàn không phải là một bí danh. Nhưng là một người khác. Trường hợp cho rằng vì phải dấu thân phận trong cuộc vận động chính trị cũng khó chấp nhận. Bởi lẽ, nếu cần dấu thân phận thì chỉ cần một cái tên, cấp bậc là đủ, không cần phải có sơ yếu lý lịch, sở học, nghề nghiệp, nơi sinh hoạt một cách rõ ràng công khai hóa như thế. Nếu cho đó là một cái sơ yếu lý lịch gỉa thì bản thân của Hồ chí Minh cũng là gỉa nốt. Chẳng có gì là sự thật. Và y có thể là người Tàu gỉa làm người Việt Nam?

Ngoài ra, cũng theo tài liệu này do ông Phạm quê Dương ghi lại: “cũng có ghi chú về gia phả và sự nghiệp của Hồ tập Chương trong hồ sơ HTC4567 lưu trữ tại quân ủy trung ương (CPC) và tình báo Hoa Nam Trung quốc như sau: “ Đương sự được đảng cộng sản trung quốc huấn luyện hơn một thập niên tại Học viện Hoàng Phố, Vân Nam. .. Kết quả, Trung quốc dốc hết nhân lực, tài khí tài vật lập ra một thế lực mới tại Vệt Nam và tình báo Hoa Nam thổi lên một Hồ chí Minh làm chủ tịch nước VNDCCH”. Cùng nguyên tắc, chúng ta không hoàn toàn và bám vào những tài liệu này làm chứng cứ. Nhưng chỉ tìn vào một điều chắc chắn là, dù là Hồ Tập Chương hay là Nguyễn ái Quốc, Hồ Quang khi làm lãnh tụ đảng cộng sản và là chủ tịch nước VNDCCH đã là một mối đại họa cho Việt Nam. Đối nội thì y thủ tiêu những nhà ái quốc Việt Nam, và tàn sát dân chúng qua những cuộc đấu tố, mở rộng chiến tranh vào miền nam. Rồi tạo nên một xã hội không còn luân thường đạo lý. Đối ngoại thì liên hệ với kẻ thù của dân tộc, bán đất dâng đảo cho chúng để nắm lấy công quyền. Chỉ bấy nhiêu, cũng đủ để y được liệt kê vào thành phần thủ lãnh của Kiều Công Tiễn, Cù Thị, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Mạc Đăng Dung… Đối với thành phần này, di chiếu của tiền nhân ta còn đây. Muốn cứu quốc và kiến quốc thì phải dứt khoát tru di những kẻ bán nước cầu vinh. Ngoài ra không có một phuơng cách nào khác.

4. Làm gì để cứu non sông đây?

Một điều cần khẳng định là, dù Hồ Quang là người Tàu hay là người Việt thì y vẫn là một thiều tá trong đội quân của CS Trung cộng trước khi xâm nhập vào hệ thống CSVN với chủ đích lũng đoạn và tìm cách đưa Việt Nam vào làm chư hầu cho Trung cộng. Âm mưu này đã đuợc cộng sản Trung cộng che chắn và bảo vệ cẩn thận suốt thời kỳ 1940-1969 và sau đó. Tuy nhiên, bộ mặt thật và những việc y làm lợi cho Trung cộng đã lộ diện. Người Việt Nam không nên nghi ngờ gì về trường hợp của Hồ chí Minh nữa. Trái lại, phải dứt khoá đi thôi!

Trong tay chúng ta không có một tấc sắt thì làm được cái gì?

Hãy làm một công việc bé nhỏ nhất. Mọi người cùng tham gia phát động phong trào nói lên sự thật. Nghĩa là, người người bảo nhau, người biết nói cho người không biết. Người già nói cho trẻ cùng nghe là Hồ chí minh và đảng CS đã dẫn Tàu cộng vào chiếm nước ta. Rồi nhà nhà giáo huấn, trao đổi và bảo nhau về việc Tàu cộng đang xâm chiếm nước ta. Đồng thời nhắc nhở cho nhau về ý chí tru diệt kẻ xâm lăng và những kẻ mãi quốc cầu vinh của cha ông ta. Ý chí này nếu hôm nay chưa thực hiện được thì ngày mai cũng sẽ. Đừng sợ hãi, đừng e dè. Ngày nay không còn là thời con cái trong nhà đi tố cha mẹ anh em mình. Không phải là lúc hàng xóm láng giềng, bạn bè tố cáo chúng ta về những lời nói này với công an, với cán bộ nhà nước để kiếm sống. Dẫu có cũng chẳng hệ gì. CS có thể bắt được trăm ngưòi, thậm chí, vài ngàn người, nhưng không thể bắt hàng triệu triệu người. Như thế, tuyên ngôn sự thật sẽ được truyền đến mọi người, mọi nhà, mọi chân trời góc bể. Kẻ xâm lược nhất định thua, kẻ bán nước nhất định sẽ bị tru diệt.

Hỡi những người đã từng được gọi là anh hùng vượt biển đông, những người đã đạp trên cái chết mà đi sau 30-4-1975, những người đã làm cho cả thế giới xúc động và ngưỡng mộ vì lòng can đảm khi vưọt biển trên chiếc thuyền mong manh. Nay, nếu cần về Việt Nam thì cứ về. Chỉ xin qúy vị về với 1/100 lòng can đảm của lúc ra đi. Hãy về và nói cho thân nhân và người quen biết sự thật là Hồ chí Minh, và cộng sản đã đưa Tàu cộng vào chiếm nước ta. Hãy nói cho bà con của mình nghe về nhân quyền của con ngưòi đích thực là như thế nào. Đừng hèn nhát, đừng cúi đầu như một kẻ tội phạm, đừng dùng năm ba đồng để bán rẻ cái nhân phẩm của mình khi đút lót cho nhân viên trong các trạm kiểm soát từ phi trường. Đừng dùng năm ba đồng, vài chai bia, lon nước cho cán bộ khu vực để được nghênh ngang nơi mình về thăm. Bởi vì, nào có phải là ta “áo gấm về làng” đâu? Ta về đây là về vì tình ruột thịt với thân nhân, với dân làng, với nước non. Là chia sẻ nỗi bất hạnh với đất nước. Như thế, có gì đáng để khoa trương Việt kiều? Mà chúng ta cũng có phải là Việt kiều đâu? Chúng ta là người tỵ nạn chính trị cộng sản đấy. Ta có phải là người của chế độ đưa đi sinh sống tại nước ngoài và chấp nhận quyền lãnh đạo của họ đâu? Trái lại, ta đi vì Tự Do khi quê hương ta gặp đại nạn cộng sản. Nên khi về, xin hãy về bằng khí phách, bằng ý chí mãnh liệt “đem nhân nghĩa thắng hung tàn”, đem sự thật về góp phần vào việc cứu non sông. Có thế sự ra đi của chúng ta mới có ý nghĩa.

Chỉ nói bấy nhiêu thôi ư?

Vâng, chỉ bấy nhiêu thôi, ta chỉ cần làm công việc nhỏ bé thôi. Việc tuy nhỏ, nhưng xem ra lại là con đường duy nhất để chúng ta cứu lấy non sông và dân tộc trong giai đoạn này. Bởi vì, khi có được 70% dân số nước ta biết rõ bộ mặt Tầu của Hồ chí Minh, biết rõ bộ mặt thật của cộng sản là tập đoàn bán nước cầu vinh như Lê chiêu Thống, Cù thị, Kiều công Tiễn… thì cơn hồng thủy tru di kẻ bán nước lập tức nổi lên và người Việt Nam yêu quê hương, trọng nhân bản sẽ đứng cao trên đỉnh chiến thắng vinh quang. Kẻ bán nước sẽ bị triệt tiêu. Đó chính là cái nghĩa của con đường tay không tấc sắt chống bạo tàn. Đường đi có thể dài năm năm, mười năm hay hơn nữa, nhưng chắc chắn sẽ tới, chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng và ý chí của tiền nhân sẽ được thực hiện. Trái lại, sự giữ yên lặng của chúng ta, cuộc đi về bằng sự hèn nhát sẽ là những hành động đồng loã với những kẻ bán nước cầu vinh, và dâng đất nước của tiền nhân vào tay Tàu cộng.

Tháng 7-2014

© Bảo Giang

Kỷ niệm 60 năm: Di Chúc Bắc Kỳ Tự Do

Di Chúc Bắc Kỳ Tự Do



Cho C. và những người bạn đất Bắc của tôi

Câu chuyện kỷ niệm 60 năm về hành trình đến miền Nam của hơn một triệu người trôi qua lặng lẽ. 20 tháng 7, 1954 trở thành lịch sử thế giới, nhưng chưa bao giờ đủ với những câu chuyện kể về số phận và suy nghĩ của riêng người Việt.

 Tôi chờ đọc một áng văn nào đó, nói về suy nghĩ của những người miền Nam khi nhìn thấy dòng người Bắc Kỳ này, khi họ đến đồng bằng, chảy về thành phố, nhưng không thấy. Tràn ngập những bài viết chỉ là nỗi nhớ tha hương, là ký ức và lòng kiêu hãnh của những người tìm tự do từ phía Bắc. Vì vậy, tôi muốn ghi ra chút ít ở đây, về cái nhìn của một người miền Nam, về cha mẹ, ông bà của bạn bè Bắc Kỳ, dù họ còn hay đã mất.

Hai tiếng “Bắc Kỳ” xuất hiện trên miệng trẻ con miền Nam, và cả của tôi, suốt một thời gian dài, chỉ là sự trêu chọc ban bè cùng lứa, vì một kiểu ngữ âm rất khác mình. “Bắc Kỳ” trong ký ức từng là một tâm cảm bị ám thị, thiếu thiện cảm hơn cả khi so sánh với “Ba Tàu”. Chỉ khi tạm đủ chữ trong đầu, biết thêm về đất nước này, hai chữ “Bắc Kỳ” trong tôi mới thật sự thay đổi. Có lẽ cũng giống như tôi, nhiều người miền Nam hời hợt kỳ thị đã tự làm cho mình bớt xấu hổ bằng cách lập ra những hạng mục khác như Bắc kỳ 9 nút (54), Bắc kỳ 2 nút (75)… để bày tỏ rõ hơn trong nhìn nhận.

Nhưng không đủ.

Phải mất đến hơn nửa đời người, tôi mới nhận ra rằng không hề có một giai cấp nào trong đồng bào miền Bắc của đất nước mình, mà chỉ có một cuộc sống không được chọn lựa nào đó đã phủ chụp lên từng miền, từng vùng đã ảnh hưởng cùng cực đến họ, tạo ra những điều khó tả nhưng vậy. Ở mọi miền, Nam hay Trung hay Bắc, người ta cũng đều có thể nhìn thấy kẻ vô lại trong giống nòi, nhưng sự khó khăn nhìn nhận luôn thường dành cho phía Bắc, như một ám chỉ về một vùng đất phải chịu sự khác biệt về chính trị trong nhiều năm, như đã ám toán mọi sinh lực sống bình thường của con người.
Tôi nhận ra điều đó, ở một ngày khi thấy chung quanh mình có rất nhiều bạn, kể cả thầy cô, là những người Bắc mà tôi tin cậy. Họ đại diện cho những người “Bắc kỳ” mạnh mẽ, vượt qua số phận và hoàn cảnh của mình để không bị đè bẹp, không hèn hạ hoặc chết, như F. Nietzsche đã viết “những gì không giết được chúng ta, sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn” (That which does not kill us makes us stronger).

60 năm của những người Bắc di cư vào Nam, cho tôi và thế hệ của mình được nhìn rõ họ hơn, nhắc tôi phải nói về một bản di chúc lớn, một bản di chúc vĩ đại mà hơn một triệu người từ bến tàu Hà Nội, Hải Phòng… mang đến cho cả đất nước. Bản di chúc cũng được lưu giữ trong mắt, trong lời nói của từng người Việt tha hương khắp thế giới: bản di chúc về tự do.

Cả miền Nam sau 1954 cần phải có một lời cám ơn văn chương Bắc Kỳ, âm nhạc Bắc Kỳ, báo chí Bắc Kỳ… đã góp tay dựng lên một nền văn hóa của cả đệ nhất và đệ nhị cộng hòa của miền Nam. Nền văn hóa ngắn ngủi nhưng đủ trường tồn và mạnh mẽ vượt qua một chướng ngại, tồn tại trong lòng người từ sau 1975 đến nay, ở Việt Nam và trên cả thế giới. Cùng với những người anh em từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, những người Bắc đó đã làm tất cả để bù đắp, để dựng xây… cho thỏa sức, việc họ rời bỏ rất xa quê nhà, thậm chí trơ trọi, chỉ để đổi lại hai chữ tự do.

Rất nhiều năm sau đó, con cháu của những người bắc 54 cũng lớn lên ở miền Nam hay vượt đại dương đến nơi nào đó, không ít người trong họ vẫn âm thầm mang theo một bản di chúc có thể sống mãi đến nhiều thế hệ sau về tự do, và chọn lựa vì tự do. Trong một lần ở Mỹ, tôi nghe phát thanh viên của một đài radio người Việt bình luận về một nỗi nhớ quê nhà Hà Nội. Nhớ con đường quanh Hồ Gươm, nhớ con hẻm có bán canh bún nhỏ… Giọng Bắc của anh ta trầm buồn như mới ngày hôm qua còn nhìn thấy những thứ đó, trong khi tôi biết rõ anh chưa về Việt Nam một ngày nào kể từ sau 1975. Sau lần phát thanh đó, gặp anh, tôi trêu là sao anh nói cứ như là cứ vừa ở Việt Nam về. Đột nhiên giọng anh trầm lại “Phải cố gắng nhớ dù chỉ là tưởng tượng lại. Phải nhớ như nhớ lời của ông bà mình xua mình xuống tàu, trối dặn mình phải sống với tự do”. Tim tôi như thoáng ngừng đập trong tíc tắc. Dòng người mờ ảo trong những cuốn phim tài liệu trắng đen về số phận Việt Nam chia cắt ập về. Tôi cũng nhận ra rằng bản di chúc tự do đó, không phải những người Bắc Kỳ chia cho nhau, mà chia lại cho tôi, cho bạn, cho cả dân tộc này. Từng người chúng ta được nhận. Chọn lựa mình hôm nay khốn nạn hay tử tế, là do mình đã không chịu nhìn thấy di sản của cha ông gửi lại qua bản di chúc không thành văn này.

Tôi nhìn thấy người bạn trẻ của tôi, con một người Bắc di cư, nay sống ở Biên Hòa, đưa một tấm ảnh kỷ niệm 60 năm người Bắc xuống tàu vào Nam. Khi bên ngoài người ta nói về những điều lớn lao như hiệp định Genève và các chính quyền, thì cũng có một dòng người không nhỏ đưa lại những hình ảnh thuộc về con người. Có những tấm ảnh khiến mình phải lặng đi khi thấy cụ già bước gấp vào Nam, hành lý trên tay quý nhất chỉ là tấm hình Đức Mẹ. Người bạn trẻ của tôi đưa lên tấm ảnh người ta chen chúc chia tay nhau ở một bến tàu. Khó mà biết được ông bà hay cha mẹ của anh đã có mặt ở đó hay không, trong những chấm li ti như cát bụi. Bản thân người bạn trẻ đó thì giờ cũng là phần li ti trong hàng triệu người Bắc 54 đã lớn lên, đã thành đạt ở miền Nam này hôm nay.

Và tôi nhận ra rằng, bản di chúc tự do đó cũng vẫn đang âm thầm trong anh, như bao phần li ti đang trỗi lên, trên đất nước này.
 
 

Tuấn Khanh

HÁN CỘNG: Thiếu tá Hồ chí Minh. ...?

Thiếu tá Hồ chí Minh. 

Nguồn hình ( thiếu tá Hồ chí Minh trong “ Trung quốc công bố thiếu tá Hồ Quang…”)



Theo ghi chú của tấm hình, tôi đặt tựa cho bài biết này.


Trong mấy chục năm qua, không riêng gì ở Việt Nam, mà còn ở các nước từ Âu sang Á, người ta đã tốn không biết bao nhiêu giấy bút, thời giờ để nói, để viết về Hồ chí Minh mà vẫn chưa tìm ra nguồn gốc đích thực của nhân vật này. Chỉ biết, truớc 1945, HCM là một cái tên qúa xa lạ với cộng đồng Việt Nam, thế giới. Nhưng ngay sau ngày cộng sản cướp chính quyền tại Hà Nội. Rõ hơn là sau ngày chia đôi đất nước 20-7-1954, Cái tên ấy đã nổi lên và trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng với tất cả mọi người. Nó ám ảnh con người khi thức cũng như trong lúc ngủ. Lúc ở ngoài cũng như khi vào tù. Nó như chuyện bị ma ám qủy nhập, chả có lúc nào rời bỏ con người. Dù tệ hại như vậy, câu chuyện về HCM vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại. Bởi vì:

SuThatHCM

Người thì viết ca tụng Y như thần như thánh, như tiên ông. Kẻ lại gọi, đánh bóng ông ta là “chủ tịch vô vàn kính yêu”, “người thầy vĩ đại của đảng” hoặc là “ bác sống mãi trong đáy quần chúng”! Thôi thì đủ kiểu đủ cách để cho họ thổi bóng bóng cho Y. Nghe nói, chỉ tính riêng việc thổi bong bóng này cũng để lại một chuyện cười ra nước mắt. Một hôm, ngay tại thành Hà Nội vào những năm cực thịnh, khi Hồ chí Minh còn sống. Trên đường phố Hà Nội xuất hiện khá nhiều hình ảnh của ông Tiên, ông Sư, ông Cha và bác Hồ ghép chung lại với nhau bằng một tấm giấy quảng cáo khổ lớn. Nhìn tấm hình treo đầu đường, trên phố, cán bộ nhớn nhỏ phấn khởi, chuyền tai bảo nhau: Không ngờ nhân dân ta qúy “ bác “ đến thế! Mãi đến khi anh phu xe đứng nhìn tờ quảng cáo, chẳng biết phe nào sáng tạo, rồi phì cười. Khi ấy các cơ quan từ trung ương đến phường khóm mới vỡ lẽ ra câu chuyện, vội vã cho người đi thu hồi, tháo tấm quảng cáo “ tiên sư cha bác Hô” xuống, lẳng lặng liệng vào cống, làm cho người Hà Nội một phen cười đến đau bụng. 

Cùng với câu chuyện ấy là không biết bao nhiêu triệu triệu người lên án, nguyền rủa Y như một đồ tể của nhân loại. Là kẻ vô đạo, kẻ bán nước hại dân. Xem ra trong cuộc chiến tuyên truyền này, phía nào cũng lo bảo vệ cái lý của mình. Tuy nhiên, có một cái lý lẽ mà không bên nào có thể chối bỏ được là: Hồ chí Minh đứng hàng thứ bảy trong danh sách những kẻ bạo tàn, vô đạo nhất trên thế giới. Y chỉ đứng sau Mao trạch Đông, Lenin, Staline, Hitler. Ponpot! Trong quyển “Death by Government” (Chết do chánh phủ), tác giả Rudolph J. Rummel, giáo sư khoa chính trị học đại học Yale, thì số nạn nhân của những người này được ghi nhận như sau:

(1) Mao’s Regime 76,702,000 ( 1958-1962 là 35,236, 000; PRC từ 1928- 1987 là 76,702,000 người). 

(2) Lenine, Staline (Liên Xô) 61,911.000 người.

(3) The Nazi Genocide State ( Hitler 20, 946, 000 ng ư ơ ời i. 

(4) Quân phiệt Nhật 5,964.000 người.

(5) Khmer đỏ 2,035.000 người. ( ponpot)

(6) Thổ Nhĩ Kỳ 1,883.000 người.

(7) Hồ chí Minh, Cộng sản Việt Nam 1.670.000 người.

(8) Cộng sản Ba Lan 1.585.000 người.

(9) Cộng sản Nam Tư 1.072.000 người.

Sự việc là thế, nhưng vẫn có người ra điên thành dại ca tụng, đánh bóng ông ta như là “ cha già của dân tộc”. thay vì lên án Y là kẻ diệt chủng tộc Việt. Rồi lại có nhiều kẻ u mê, mất trí ra công ra sức đánh bóng sự gian dối vô đạo của Y bằng thứ ngôn ngữ buồn nôn, rồi tuyên truyền đầu độc giới trẻ “ học tập theo gương đạo đức của bác Hồ”, mà không hề biết bản thân Y là một kẻ vô đạo, bất nhân, bất hiếu, bất nghĩa. Đã thế, còn bầy đoàn xây đài, đúc tượng cho y. Tìm đủ mọi phương cách để chèn ép, bức hại các tôn giáo để đưa cái đầu lâu của y vào chủa, vào đền miếu ngang hàng với thần phật, mà không hề biết rằng bản thân y, một đảng viên đảng cộng sản thì cho đến chết vẫn là một kẻ tôn thờ chủ nghĩa tam vô. Vô thần phật, không cúng kiếng! Theo đó, việc đốt nhang đèn cho y, cho một đảng viên cộng sản, tưởng là chyện hay, chuyện tốt, giúp họ thoát chốn đoạ đày, trầm luân và sớm được quay về với thần thánh nơi miền cực lạc, hóa ra lại là một sự kiện ngược chiều vơi tâm tư người CS. Họ có tin vào thần linh đâu, hồn họ đã về với Mác Lê Mao, cần gì nhang khói? Trên phần mộ của họ nên để cái búa và cái liềm thay vì bát nhang!

Cứ thế, câu chuyện bên bênh, bên chống vẫn chưa ngừng lại. Tuy nhiên, tinh thần vô đạo, vô tôn giáo, và lối sống, lối đào tạo phi nhân bản của tập thể này sau hơn 70 hiện diện trên đất nước Việt Nam, đã đẩy xả hội Việt Nam đến bên bờ vực thẳm của sự hủy diệt. Ở đó, nền tảng luân lý đạo đức của xã hội, cũng như nền phong hóa và văn hóa nhân bản của Việt Nam bị CS tàn phá, bị chôn vùi theo đường dao mã tấu của cs, nên con người phải nói dối nhau mà sống. Sống bằng cuộc tranh dành, cướp đoạt, chụp dựt và ích kỷ. Ở đó, xem ra con người không còn đối xử với nhau theo tính nhân văn của con người, Trái lại, chỉ còn lại sự dối trá, dối trá và dối trá..

Người ta tự hỏi, liệu những thành phần lãnh đạo cộng sản hiện nay có biết đến chuyện xã hội nhân bản Việt Nam bị CS làm cho băng hoại như hôm nay không? Tôi cho rằng, họ biết và biết rất rõ, Nhưng bản chất của họ đã được đào tạo trong cuộc sống là gian dối, là cướp đoạt, là tranh dành là ích kỷ. Họ chỉ biết cho cá nhân của họ bằng việc bảo vệ cái đảng mà không bao giờ nghĩ đến tương lai của cả một dân tộc. Đó chính là căn nguyên của mối họa mà CS di họa cho mọi người, không trừ ai. Và nhờ căn nguyên gây họa này mà HCM trở thành một trong số rất ít người có mặt trên thế giới nhận được những lời ca tụng bóng bẩy, hào nhoáng nhất. Nhưng cũng đồng thời là kẻ phải nhận lấy những lời nguyền rủa cay độc, tồi tệ nhất! Một người như thế, chắc là có nhiều điểm đặc biệt, nôi bật? Đúng thế, Y nổi bật ở trong nhiều cách, nhiều kiểu, nhiều vị thế khác nhau. Tuy thế, chưa có mấy người biết đến tên tuổi của thiếu tá Hồ chí Minh trong quân đội giải phóng nhân dân Trung quốc ra sao! 

Thiếu tá Hồ chí Minh tên thật là Huguang ( Hồ Quang) là đảng viên đảng cộng sản Trung cộng, tùng sự tại Bát lộ quân của tướng Chu Đức vào cuối năm 1939. Theo hồ sơ quân bạ được Trung cộng lưu trữ, thiếu tá Hồ chí Minh có phần sơ yếu lý lịch như sau “ Sơ yếu lý lịch của Hồ Quang ( tức Hồ chí Minh) tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc /thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm 1939. Hồ Quang 38 tuổi- Phụ trách điện đài - Quảng Đông - Thiếu tá - tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam – Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. (ảnh 1, ảnh 2) Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc”. 胡光(即胡志明主席)1939年在湖南省南岳培训班的简历。 胡光—电台员---38岁----广东----少校 ----毕业于岭南大学------中学教师。会外语和国语. Với bản lý lịch này, thiếu tá Hồ chí Minh (Huguang) là người mang quốc tịch nào? 

1. Nhìn từ phía ngưòi Trung hoa.

Một bản sơ yếu lý lịch đầy đủ thường ghi rõ ngày tháng năm sinh và sinh quán. Tuy nhiên, bản sơ yếu lý lịch của Thiếu tá Hồ chí Minh không có ngày tháng năm sinh và sinh quán. Nó đơn giản hơn. Việc đơn giản này cũng có thể hiểu vì đây có thể là một lờp huấn luyên chuyên môn, nội bộ, ngắn hạn, do các cơ quan gởi người đến, nên nó không dặt nặng về những hình thức thường thấy. Tuy nhiên, bản lý lịch vẫn có đầy đủ những chứng liệu cần thiết cho biết. Học viên Hồ chí Minh năm 1939, 38 tuổi, tốt nghiệp tại Đại học Lĩnh Nam, và đã từng là giáo viên trung học. Hiện mang quân hàm thiếu tá trong quân đội giải phóng nhân dân Trung quôc. Đọc bản lý lịch này thì triệu người Trung Hoa như một đều quả quyết thiếu tá Huguang, sau đổi là Hồ chí Minh là người bản xứ. Ông ta không có một cơ sờ nào để chứng minh là ngưòi ngoại quốc, làm cố vấn cho quân đội của Trung cộng.!

Về phía nhà nươc Trung cộng. Khi họ công khai hóa hồ sơ lý lích này cũng có ít nhất hai lý do. Thứ nhất, nhác nhở cho Hồ chí Minh biết y là con dân của Trung quốc, được đào tạo và đưa sang Việt Nam để hoạt động, dầu như có là chủ tịch của nước Việt Nam thì Y cũng phải biết nguồn gốc của mình ở đâu để thi hành công tác mở đường cho Trung cộng tràn về phương nam. Thứ hai, có ý ngầm báo cho người Việt Nam biết rằng, Hồ chí Minh là ngưòi Trung quốc, Y được đào tạo chính quy từ đại Học Lình Nam đến các khóa chuyên môn tại Nam Nhạc. Đồng thời cũng được đào tạo từ quân đội nhân dân Trung cộng để lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản ở Đông Dương và Việt Nam theo chỉ thị của Trung cộng. Đây cũng là đòn đe loi sự phản bội của Hồ chí Minh với mẫu quốc? 

2. Từ phía Việt Nam.

Dầu rất muốn, thật cũng khó tìm được đầy đủ những chứng liệu để chứng minh thiếu ta Hồ chí Minh, tên thật là Huguang năm 1939, 38 tuổi, một ngưòi đã tốt nghiệp tại Đại Học Lình Nam, giáo viên một trường Trung Học tại địa phưong, hiện mang quân hàm thiếu tá, phụ trách ngành diện đài trong quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc là người Việt Nam, nói rõ hơn là Nguyễn ái Quốc.. Khó chứng minh là bởi vì:

a. Lý lịch của Nguyễn Sinh Cung

Nguyễn sinh Cung sinh năm 1891, tại Kim Liên Nam Đàn. Khi đang học lớp sáu tại trường quóc học Huế thì bị đuổi ra khỏi trường. Khi đến Pháp, NTT có làm đơn xin vào học trường thuộc địa nhưng bị từ chối. Từ đó cho đến mãi về sau này 1933, không có bất cứ một tài liệu nào cho thấy y trở lại trường học để hoàn tất bậc Trung Học để có thể được ghi tên vào một trường đại học. Hon thế, cho đến năm 1933, ngoài hai năm có địa chỉ chính thức là nhà tù tại Hồng Kông, HCM rày đây mai đó, không có một địa sở nhất định. Cũng chẳng có bất cứ một tài liệu nào cho thấy là Y đã dừng chân và gia nhập học tại Đại Học Lĩnh Nam dù chỉ là một vài ngày. 

Ngoài ra, Nguyễn sinh Cung có những trở ngại không thể chứng minh như sau: Nguyễn ái Quốc bị bắt năm 1931- 1933. Sau khi đưọc trả tự do, theo tin của sở mật thám Pháp, NAQ đã chết vì bệnh Lao trên đường đến Liên Sô. Cái chết này đã được tổ chức truy điệu ở trường Đông Dương tại Liên Sô và có một số học viên Việt Nam đến tham dự. Rồi từ năm 1933- đến 1939 không ai có thể tìm ra được tông tích có thể chứng minh là của Nguyễn ái quốc. Tuy có những tên và người được cho là, hay gán ghép cho là Nguyễn ái Quốc thì đều không khả tín. Thí dụ như người mang tên P.Lin đứng ra tổ chức lễ thành hôn cho Lê thị Minh Khai và Lê Hồng Phong tại Mascơva được cho là Nguyễn ái Quốc thì hoàn toàn là sai. Bởi lẽ, Lê thị Minh Khai và Nguyễn ái Quốc, trước đó vài năm từng chung sống với nhau như vợ chồng ở Hồng Kông. Và ngay trong tờ lý lịch của Nguyễn thị Minh Khai khi đến Liên Sô cũng dã khai là có chồng tên là P.Lin. Theo đó, làm sao Nguyễn ái Quốc lại có thể đứng ra làm chủ hôn cho NTM Khai lấy Lê hồng Phong vào năm 1934 tại Liên sô? !

Đó cũng chính là lý do mà bà Sophie Quinn Judge, một học giả Anh quốc cũng là một chuyên gia nghiên cứu về HCM. Bà được qũy Mike và Viên Nghiên cứu Trung Ương Đại Học London tài trợ để làm việc. Bà Sophie đi khắp các nước Đông Nam Á, Việt Nam, sang Trung quốc và Liên Sô, tìm những chứng cứ để đúc kết thành tác phẩm: Ho chi Minh The Missing Years. Tạm dịch, Những năm tháng mất tung tích của Hồ chí Minh. Ở ngay trong phần giới thiệu nơi trang 6 bà viết:” Hồ chí Minh luôn tìm mọi cách để giấu đi qúa khứ của mình. Nhiều năm qua, những thứ mà ông ta cung cấp toàn là những loại phịa, không khả tin, chúng thường mâu thuẫn với nhau, không mấy liên quan đến đời thực. Đầu tiên là tập tự truyện xuất bản vào năm1949 tại Trung Quốc năm 1950 được xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris rồi mấy năm sau xuất bản tại Việt Nam với nhan đề” những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch”. Nhìn chung chỉ là những chuyện tự vẽ ra mà thôi. Nó không có sự kiện nào đúng với thực tế.

b. Phấn cá nhân, Thiếu tá Hồ chí Minh ( Huguang) tự cho biết ông ta là ai?

Trong bài “Đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi”, tôi đã viết: Vào tháng giêng năm 1949, tạp chí "Sinh hoạt nội bộ" kỳ thứ 13 của Việt Nam có đăng tải một bài viết nhan đề "Đảng ta" do Hồ Chí Minh (Huguang) viết dưới bút danh Trần Thắng Lợi. Nhà xuất bản Chính trị Quôc gia đã đưa "Đảng ta" vào Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 547. Bài viết này cũng được TG Hồ tuấn Hùng ghi lại trong Bình Sinh Khảo, thiên II, nhan đề “ ve sầu thoát xác, thật giả kiếp ngưòi”. Hồ chí Minh viết như sau:

" Năm 1929 (chính xác là ngày 19 tháng giêng năm 1929), trong khi đồng chí Nguyễn ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về….

Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu (chính xác là ngày 20 tháng giêng năm 1930), cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.

Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám. 

Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng. Thế là Đảng ta chân chính thành lập...".( Trần thắng Lợi, tức Hồ chí Minh)) 

Với sự các nhận này, Thiếu tá Hồ chí Minh (Huguang) và Nguyễn ái Quốc không thể là một người, nhưng là hai người hoàn toàn khác nhau. Họ cũng có lý lịch khác nhau. Xin nhớ, đây không phải là một bài báo thường. Trái lại, bài viết mang tính cách lịch sử của đảng cộng sản Việt Nam. Bởi vì, nó được chính một trong bày ủy viên dự hội nghị còn sống, lại đang giữ vai trò lớn nhất trong đảng, viết lại sự việc thành lập đảng của mình. Theo đó, một câu, một chữ trong bài viết ấy là lịch sử đảng. Tưởng cũng cần nhắc lại là truy theo nguồn tài liệu chính thức của nhà nước Viêt cộng còn lưu giữ. Bảy ủy viên đứng ra thành lập dảng cộng sản vào ngày 3-2-1930 tại Hồng Kông là: Hồ tập Chương (đại diện CSQT) Hồ tùng Mậu, Trịnh đình Cửu, Lê tản Anh, Trần văn Cung, Lê Hồng Sơn và Nguyễn ái Quốc*

Đặc biệt, nhân cuộc tổng đình công tại Hà Nội đưa đến việc sụp đổ chính quyền của Việt Nam lúc bấy giờ, Việt Minh đã cướp lấy chính quyền vào ngày 2-9-1945, nhưng người ta không hề bết Hồ chí Minh là ai. Sau đó, có tin đồn lan ra bên ngoài HCM là Nguyễn ái Quốc. Tuy nhiên chính ông ta đã nhiều lần phủ nhận điều này. Theo ông Hoàng Văn Chí ghi trong "Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam", thì ông Hồ nhiều lần đã nói ông không phải là Nguyễn Ái Quốc! Rồi về phía người ngoại quốc cũng thế. “Ngay cả khi tướng Salan, đại diện Pháp dự cuộc đàm phán năm 1946, hỏi thẳng vào mặt ông Hồ, Y vẫn một mực chối cãi. Ông không phải là Nguyễn ái Quốc”.

Lại nữa, theo ông Phạm quế Dương trong bài, “ HCM là thiếu tá Hồ Quang” có đoạn: “Ghi chú gia phả và sự nghiệp của Hồ Tập Chương trong hồ sơ HTC 4567 lưu trữ tại Quân Ủy Trung Ưong ( CPC) và tình báo Hoa Nam như sau: Đương sự được đảng cộng sản Trung cộng huấn luyện hơn một thập niên tại học viện Hoàng Phố, Vân Nam…Kết quả, Trung cộng dốc hết nhân lực, tài khi, tài vật lập ra một thế lực mới tại Việt Nam và tình báo Hoa Nam thổi lên một Hồ chí Minh làm chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng Hoà”. Điều này đúng hay sai thì chưa ai dám quả qiuyết, nhưng nó cho thêm một bằng chứng nữa là Thiếu tá Huguang sau đổi là Hồ chí Minh là một người Trung Hoa. 

c. Sự nghiệp Hán hóa Việt Nam của thiếu tá Hồ chí Minh.

Tóm tắt. Thiếu tá Huguang năm 1939, 38 tuổi, ( sinh năm1901) sau đổi ra là Hồ chí Minh. Theo tài liệu, ông ta ta đến công tác tại văn phòng bát lộ quân ở Quế Lâm sau đó là Qúy Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của cộng sản Trung Quốc và và Hồng vệ binh của Trung quôc. Thiếu tá Huguang bước vào ( trở về) địa giới Việt Nam lần đầu tiên vào ngày 28 tháng 01năm 1941. Đến tháng 8-1942 ông ta trở lại Trung quốc với cái tên mới là Hồ chí Minh và bị bắt vì giấy tờ đã hết hạn. Đến tháng 9-1944 HCM trở lại Việt Nam và cuối năm 1944 trở lại Côn Minh hoạt động cho tới đầu năm 1945( Wikipedia). Nhân cuộc tổng đình công tại Hà Nội đưa đến việc sụp đổ chính quyền của Việt Nam lúc bấy giờ, Việt Minh đã cướp lấy chính quyền vào ngày 2-9-1945. Tuy nhiên, cho đến lúc này, người ta không hề biết tung tích Hồ chí Minh là ai. 

Việc này được kể lại trong” Truyện Hồ chí Minh” của William j. Duiker, trang 449, ( cũng được trích lại trong bình sinh khảo) như sau:”"Vào năm 1946, khi triệu tập Hội nghị Quốc dân đại hội, Bộ trưởng Lao động Nguyễn Văn Thái có đề nghị vinh danh Hồ Chí Minh là "công dân số một" của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bởi lẽ, lúc ấy thân phận Hồ Chí Minh chưa được xác nhận là Nguyễn Ái Quốc( nhiều người cho rằng). Hồ Chí Minh chính là Hoa kiều tại Việt Nam, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, là phái viên "Quốc tế cộng sản" được cử đến Việt Nam với nhiệm vụ thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.". Như thế họ chấp nhận vai trò lịch sử của HCM là người của quốc tế cộng sản hơn là người Việt nam!

Tuy nhiên, đến năm 1949, tin tức Hồ chí Minh là Nguyễn Sinh Cung dần dần xuất hiện mạnh mẽ hơn. Nó mạnh mẽ mang tính chiếm đoạt hơn là vì cuốn “những mẫu chuyện về đời hoạt động của bác” do Trần dân Tiên viết đã được xuất bản bên Trung quốc. Và vì những người thân huyết thống, và liên hệ gần gũi trong sinh hoạt với Nguyễn ái Quốc từ trước 1932 đã không còn:

- Bà Nguyễn thị Thanh, chị ruột, chưa từng gặp lại Hồ chí Minh từ khi Y vào Huế, rồi bị đuổi khỏi trường quốc học. Bà chết năm 1946.

- Ông Nguyễn sinh Khiêm, anh ruột, nghe nói được Hồ chí Minh tiếp riêng khoảng 5 phút trong một căn nhà không đủ ánh sáng ở Hà Nội và chết năm 1951. 

- Cụ Phan chu Trinh, người đỡ đầu cho Nguyễn tất Thành ở Paris qua đời năm 1926.

- Luật sư Phan văn Trường, mất 1933.

- Nguyễn tất Thành, mất 1933?

- Nguyễn an Ninh người anh em kết nghĩa với Nguyễn tất Thành ở Paris, mất 1943.

- Riêng ông Nguyễn thế Truyền, một trong ngũ long tạo ra cái tên chung là Nguyễn ái Quốc để viét báo ở Paris, đã về sống ở Hà nội trước 1945. Ông đã di cư vào miền nam và chưa hề gặp mặt HCM lần nào. đã chết vào 1969.

Đến năm 1951, khi đã vững chân với tên gọi mới, Thiếu tá Hồ chí Minh bắt đầu thực hiện sách lược Hán hóa Việt Nam theo đưòng lôi của Trung quốc. Việc trước tiên là lệnh cho Trường Chinh viết lời kêu gọi “ Việt Minh vận động cho Việt Nam xin làm chư hầu cho Trung quốc”. Đến năm 1958, chỉ đạo cho Phạm văn Đồng viét công hàm công nhận chủ quyền 12 hải lý thuộc Trung cộng trong vùng đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam. Từ đó mở ra cửa ngõ để những kẻ kế tiếp ký hiệp thương và hiệp định biên giới năm 1999 và năm 2000. Kết quả những phần đất của Bản Giốc, Nam Quan, Lão Sơn, bãi biển Tục Lảm và 3/4 vịnh bắc bộ là máu xương của Việt Nam biến thành đất của Trung cộng. Cũng từ đó, nhà nưóc cộng sản tại Việt Nam đã tạo ra cảnh không có biên giới trên biển đông để tàu bè của Trung cộng, cũng như giàn khoan của họ tự do ra vào đánh bắt cá, thăm dò dầu khi trong thềm lục dịa Việt Nam. Trên đất liền cũng có chung một chủ trương. Biên giới mở cửa, quân, cán và dân Trung cộng tha hồ ra vào tự đo. Họ vào định cư và làm việc nhiều đến nỗi chính nhà nước này cũng không còn kiểm soát đươc con số là bao nhiêu.

Trước cảnh bị mất đất, mất biển của cha ông để lại, người dân không được quyền lên tiếng. Nếu có phản đối thì đều bị bắt bớ, bị đánh đập dã man hay bị tù đày. Phần nhà nước, đã có sẵn kế hoạch trước những phản ứng của người dân. Họ liên kết với đối tác Trung cộng, vẽ ra những kế hoạch mới như: Tổ Hợp Khai Thác dầu khí Việt Trung, để cho Trung cộng tự do đưa các dàn khoan ra vào trên biển đông mà người dân không thể thắc mắc thêm. Trên đất liền thì cho Trung cộng thắng đấu thầu xây dựng toàn bộ các cơ sở hạ tầng, đến khu kỹ nghệ, khai thác rừng đầu nguồn, hầm mỏ … tất cả đều hợp lệ. Từ đó, Trung cộng tự do đưa dân quân cán ra vào và từ từ chiếm trọn lấy giang sơn Việt Nam theo kế hoạch Hán hóa dân nam do thiếu tá Hồ chí Minh đã thực hiện từ năm 1939.

Thế là ta mất nước. Người Việt Nam thành dân mất nước ngay trên quê hương minh. Nhìn lại, có lẽ không còn một nỗi đau đớn nào dành cho chúng ta hơn nỗi đau này. Chúng ta đã mất quê hương, đã mất tổ quốc qua từng ngày từ hơn 80 năm qua mà không hay biết. Bởi vì Hồ chí Minh, người được cộng sản ca tụng là lãnh tụ vĩ đại, là người sáng lập đảng CSVN, là chủ tịch đảng, là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thậm chí, còn nghêu ngao là “cha già dân tộc”, thực ra chỉ là một đảng viên đảng cộng sản Trung quốc. Là thiếu tá trong quân đội nhân dân Trung quốc. Y được chọn, được đào tạo để xâm nhập vào hàng ngũ CSVN bằng kế sách “ ve sầu lột xác” sau khi Nguyễn tất Thành cũng gọi là Nguyễn ái Quốc chết vào năm 1933.

Ở đây, có cái rủi của thời khắc lịch sử là khi y được xếp đặt, chính thức chiếm đoạt cái tên Nguyễn ái Quốc thì tất cả những người có liên hệ huyết thống hay có sinh hoạt gần gũi với Nguyễn tất thành trước năm 1932 đều đã không còn ( ngoại trừ Hồ tùng Mậu đang ở trung tù và Trịnh đình Cửu mất tích). Nên chẳng có một ai đủ vị thế để lột mặt xác ve ra trước công luận.

Đã có thời khắc rủi ro như thế, những kẻ theo cộng sản vào đầu thập niên 40 như Phạm văn Đồng, Lê Duẫn, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn duy Trinh, Hoàng văn Hoan… có thể không biết chuyện của xác ve do Trung quốc đạo diễn, chỉ thấy Y được Trung cộng dồn hết tài lực vật lực vào hỗ trợ. Lại thấy những đảng viên tên tuổi khác như Hà huy Tập, Trần Phú, Lê hồng Phong… đã chết, nên đã chấp nhận Hồ chí Minh như là một cúu cánh của thời cuộc. Bởi lẽ từ chốn rừng hoang thâm u, nếu không có cơm gạo, lương thực, súng đạn, tiền bạc, nhân sự của Trung cộng gởi sang chi viện, CS lấy gì mà sống, nói chi đến việc tổ chức chiến đấu với Pháp. Nên những thành phần này chẳng còn một lối đi nào khác ngoài việc phải ủng hộ và chấp nhận sự sai khiến của Hồ chí Minh, mà quên hẳn đi cái họa tàu xâm lược nước ta từ hàng nghìn năm trước. 

Kết quả, cái lầm lẫn không biết từ buổi ban đầu trở thành cái ngoan cố bệnh hoạn về sau. Nghĩa là, lúc về chiều có lẽ thành phần chóp bu này đã biết được toàn bộ sự thật về câu chuyện ve sầu thoát xác. Nhưng không thể, hay không đủ can đảm mở ra. Hoạc gỉa, cái rễ lệ thuộc của họ bám vào Tàu qúa sâu đậm, nên không thể quay lại được nữa. Họ đành nhắm mắt, ngậm miệng cho qua đời mình rồi nghiệp chướng, nếu có, dành đổ lên đầu những người đi sau. Nói cách khác, họ có thể chết, đảng cộng sản có thể bị tiêu diệt, nhưng sự thật về Hồ chí Minh dầu như có đầy đủ bằng chứng “ve lột xác”, tập đoàn CS cũng không bao giờ dám lên tiếng. Chính cái sự ngoan cố đến bệnh hoạn của tập đoàn lãnh đạo CS này đã là nguyên nhân gây ra cái họa trăm năm cho dân tộc và cho đất nước ta. 

Ta phải làm gì đây?

Câu hỏi này buộc vào chúng ta. Theo đó, những người Việt Nam còn có chút lòng với quê hương và với dân tộc Việt Nam, không thể ngồi yên mãi. Trái lại, phải trả lời. Phải cùng nhau đứng dậy. Phải ra khỏi nhà. Phải làm một công việc nhỏ bé nhất, cùng nói với nhau về trường hợp ve sầu thoát xác của Hồ chí Minh. Dĩ nhiên, với sức truyên truyền như thác dội của CS, người dân lúc đầu không để ý, cũng không tin. Nhưng chúng ta vẫn cương quyết làm công việc vạch mặt chỉ tên Hồ chí Minh là đảng viên đảng cộng sản Trung cộng, là thiếu tá trong quân đội nhân dân Trung quốc xâm lược. Y không phải là Nguyễn tất Thành nhưng giả danh nghĩa của Nguyễn Ái Quốc trong mưu đồ Hán hoá Việt Nam. Câu chuyện càng có nhiều ngưòi nói, càng có cơ lan truyền rộng rãi. Khi cả nước đều ồn ào thắc mắc, hoặc giả, khi có 60, 70% dân chúng, cán bộ cùng đặt vấn đề giải mã sự thật về Hồ chí Minh thì đó cũng chính là lúc, ngưòi dân tự đứng lên giải thể chế độ cộng sản. Và Việt Nam sẽ bước vào kỷ nguyên khôi phục lại toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền. Trái lại, nếu chúng ta cứ ngồi yên như thóc ngâm, đảng CSVN không bị giải thể, chuyện con cháu chúng ta phải học tiếng Tàu ngay trên đất mước mình để tìm sống không phải là chuyện xa vời.

Bảo Giang 

60 năm ngày 20-7.

Biểu Tình cho VC: HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

Xứ của những người mù
Thỉnh thoảng, khi ngày ‘30 Tháng tư’ trở về trên Quê Hương, nhà nước và đảng cộng sản lại kêu gọi Hòa hợp Hòa giải. Do sự gian tham từ các đối tác tham gia tiến trình này, đồng bào trong nước ngày thêm khốn khổ, xã hội tăng sự băng hoại và các Giáo Hội càng chia rẽ. Ngày ‘30 Tháng tư 1975’ chỉ là sự tiếp nối Hiệp định Genève 20.07.1954 vì, với Hiệp định này, đảng cộng sản Việt Nam đặt thống trị độc tài trên Miền Bắc và, ngày Quốc Hận, người dân Miền Nam cùng chịu chung số phận. Ngày nay, vì không có sự Đối thoại và Chung sức trong nước, Đất Nước đang mất dần vào tay Tàu cộng và Hoa kỳ được mời để phân xử Nhân Dân và nhà nước. Nên nhớ, nhà nước nhận Quyền từ tay Nhân Dân, qua bầu cử tự do và bình đẳng, để điều hành Quốc Sự mà Quốc Sự bao gồm cả công cuộc Hòa hợp Hòa giải Dân tộc. Ba mươi chín năm đã trôi qua vẫn thất bại. Tại sao ?

I.- NGÀY 30.04.1975 và NHỮNG NGÀY THÁNG KẾ TIẾP.

Lúc 10 giờ 25 ngày 30.04.1975, qua làn sóng đài phát thanh Sài gòn, Tổng thống Dương Văn Minh đọc lệnh buông súng cho toàn quân Việt Nam Cộng hòa. Khoảng 12 giờ 30, các bộ đội vào dinh Độc lập để gặp Tổng thống và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu để chuẩn bị việc từ chức lúc 13 giờ 15 tại đài phát thanh Sài gòn và do Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn 203 Thiết giáp nhận. Hiện diện ngoài đường phố Sài gòn nhiều nguy hiễm lúc đó chỉ còn :

1. Bộ đội Bắc Việt.

- Các sĩ quan, không còn mang quân hàm, còn e ngại sau khi vào Thủ đô quá dễ, sợ bị mắc bẫy ;
- những chiến binh thì ngơ ngác trước vẻ đẹp của Sài gòn, hòn ngọc Viễn Đông, với những nhà phố cao tầng giàu có. Những lính trẻ bị tuyên truyền về sự nghèo đói mà người dân miền Nam phải đến xin ăn ở Tòa Đại sứ Mỹ… Tôi rất vui khi gặp một bộ đội đóng quân ngoại ô Sài gòn dè dặt xin sách Đức Mẹ Hằng Cứu giúp. Tôi tặng cho em sách này kèm theo một cái mùng, nhưng đã bị cấp chỉ huy tịch thu… 

2. Cách mạng 30 hay Sư đoàn 304. 

- Thành phần tạp lục. Đa số là những kẻ được chỉ huy bởi những đặc công nằm vùng để đi ‘hôi của’ các cơ sở Mỹ và nhà người Việt đã bỏ đi và đe dọa, khủng bố hay cướp của đồng bào.

- Thành phần trí thức. Ngoài những dảng viên cộng sản nằm vùng, đa số trong họ hăng hái lập công với các đoàn quân ‘chiến thắng’, các ‘chính ủy’ rất có giá. Tự xưng ‘trí thức cách mạng’, họ gồm những học sinh, sinh viên và những linh mục ‘hổn láo’ nhằm vào hai Đức Cha Henri Lemaître, Khâm sứ Tòa Thánh) và P.X. Nguyễn Văn Thuận, Tổng Giám mục phó. Các ‘cha’ kéo theo một đám con hăng hái hành động chống Bề Trên… Góp phần kéo dài ‘đau khổ’ cho đồng bào cùng thời và con, cháu như hiện nay, các nghị sỉ, dân biểu thân công, những ‘vị’ đứng vào cái gọi là ‘Mặt trận Tổ quốc’ ‘không kể những người bị bắt buộc vì ‘không tự do’ tức có hà tì ưng thuận). Lẽ ra, cái tổ chức này phải góp phần hoàn thành ‘Hòa hợp Hòa giải Dân tộc’, nhưng do nhận lương tháng to tác, cái CÔNG ÍCH này không được thực hiện… Quý vị đều có dịp nghe ông Nguyễn Văn Thiệu nói ‘Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những việc cộng sản làm’. Người ta nói ông Thiệu nói 10 câu chỉ đúng có một. Quý vị nghĩ sao ?

II. CHÍNH SÁCH KHOAN HỒNG CHẾT NGƯỜI.

Số người Việt bỏ nước ra đi trong những ngày kế tiếp biến cố ‘30 Tháng tư’ không đông lắm, nhưng hỗn loạn vì thiếu phương tiện. Tuyệt đại đa số người Miền Nam là những người YÊU NƯỚC muốn sống trên Quê hương và xây dựng Non Sông gấm vóc. Trước khi bị đảo chính, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã tâm sự với một người bạn đem những trái nhản đầu mùa để cùng Người thưởng thức : « Có những người muốn Mỹ đem quân vào Việt Nam để, sau này, khi Mỹ rút, họ đi theo ». Thật vậy, khi bỏ nước đi lưu vong, cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, nhân viên CIA, chủ mưu chính biến 01.11.1963, được Trung ương Tình báo Mỹ đưa thẳng sang Hoa kỳ trong khi cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ đến Đài loan. 

Thời Việt Nam Cộng hòa, khi người Mỹ hay ngoại quốc nào, dân sự hay quân nhân, sống tại Việt Nam làm sai vẫn bị người Việt biểu tình phản đối có cảnh sát bảo đảm trật tự, và bị xét xử bởi pháp luật Việt Nam không như ngày nay : người dân Việt bị công an đánh đập tàn nhẫn khi biểu tình ‘Hoàng sa, Trường sa, Việt Nam’ và phản đối Trung cộng bắn giết ngư dân Việt Nam trong lãnh hải Quê hương và, ngày 18.04.2014, 16 người Trung quốc đã vượt biên trái phép vào tỉnh Quảng Ninh và bị Việt Nam bắt giữ. Vài người trong họ cướp súng lực lượng biên phòng Việt Nam và bắn vào các chiến sĩ này hai người chết và 4 bị thương. Kẻ vượt biên vào lãnh thổ và tàn sát người thi hành công vụ không phải trả lời về hành vi phạm pháp và là quyền và bổn phận của một nhà nước có chủ quyền…

Thể chế Tự do và Dân chủ Việt Nam Cộng hòa hiến tặng đồng bào một đời sống tương đối ấm no, cách biệt giàu nghèo không lớn, giáo dục nhân bản và phi chính trị và đã có những cuộc bầu cử tự do, bình đẳng bất chấp tình trạng chiến tranh và cộng phỉ phá hoại. Nhờ thế, trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 03.09.1967, liên danh Trương Đình Dzu – Trần Văn Chiêu (tư sản cộng) về nhì với 17% số phiếu hợp lệ, được Phật giáo Aán quang ủng hộ, sau liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ với 34,8% số phiếu hợp lệ. Nếu đã là ‘đảng cử, dân bầu’ thì chắc gì ông Hồ Ngọc Nhuận đã là Dân biểu Hạ nghị viện để có những tuyên bố và hành động làm lợi cho cộng sản. Nhờ đó, ông mới được tha học tập cải tạo tập trung và là ủy viên Uũy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc, cơ quan có nhiệm ngăn chận những người yêu nước và có khả năng lập pháp ứng cử đại biểu Quốc hội mà ông phải chê là ‘đảng hội’. 

Chánh phủ tự coi là Cách mạng hứa hẹn một chính sách khoan hồng, nhưng, cuối cùng, chỉ là những sự lường gạt và cướp bóc :

1. Học tập cải tạo. 

Từ tháng 05.1975, các hạ sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa hay nhân viên hành chánh từ chủ sự trở xuống phải trình diện học tập chính trị 3 ngày tại phường. Các cấp thấp hơn như binh sĩ, cán bộ phường khóm được miễn. Các sĩ quan cấp Uùy phải trình diện từ ngày 13 đến 16.06.1975 và dự trù vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong 10 ngày. Các cấp chỉ huy từ giám đốc trở lên, sĩ quan từ cấp tá, các dân biểu nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái mang theo vật dụng cá nhân, đồ ăn hay số tiền 13.000 đồng cho việc ăn uống trong 30 ngày. 

Hàng trăm ngàn người nô nức đi trình diện học tập vì nghĩ rằng việc này cần phải làm cho xong để hy vọng sớm trở về làm ăn, nuôi gia đình. Nhưng thời gian vẫn trôi qua : 10 ngày rồi trọn cả tháng, người thân đi ‘học tập’ vẫn chưa về. Lòng tin nơi ‘kẻ chiến thắng’ cạn dần… người cộng sản Việt hứa… lèo. Sau đó, qua cái pháp lệnh, họ nói cải tạo viên phải học tập 3 năm rồi đổi ra vô hạn định một cách âm thầm.

Theo bản tường tình ‘Aurora Foundation’ năm 1983 do bà Ginetta Sagan và ông Stephen Denney thực hiện thì có hơn một triệu người đã đi cải tạo mà rất ít được về sau thời hạn mười ngày hay một tháng. Trên toàn quốc lúc bấy giờ có trên 150 trại cải tạo. Có khoảng 500 000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200 000 ở trại từ hai đến bốn năm; 240 000 ít nhất năm năm; nhiều chục ngàn người trên mười năm.

2. Tịch thu ‘văn hóa đồi trụy’.

Ngày 27.05.1975, Đài phát thanh thành phố ra lệnh phải thu nộp tất cả các sách vở, báo chí, phim ảnh, tài liệu in ấn trước ngày Quốc hận được xếp vào loại ‘văn hóa đồi trụy’? Lệnh này gieo rắc sự Sợ hãi trong toàn thể đồng bào vì nhà nào lại không có sách vở, mọi gia đình dân Sài gòn đều có người viết lách, trẻ đi học chữ nghĩa. Chế độ tạo cho người dân ‘mặc cảm tội lỗi’, làm gì cũng sợ. Nói điều gì, cũng phải dòm trước, ngó sau, uốn lưỡi bảy lần mới phát biểu. Tâm trạng đó biến nhân cách con người thành thiếu trung thực, nghĩ một đằng làm một nẻo. Sống như thế kể là đáng buồn. Khi xưa, còn trẻ sợ ma, sợ người chết, nay bắt đầu sợ người sống, nhất là sợ chế độ cộng sản. Chế độ quản lý con người bằng cách đẩy người dân đến tâm trạng sợ hãi bằng cảnh cáo, hù dọa, học tập, lý lịch, bản tự kiểm bởi là các côn(g) an khu vực với những hình thức chế tài, kiểm soát, chế độ xin cho.

Tất cả các tác phẩm mọi loại đều phải đem nộp cho phường khóm do các phần tử ‘cách mạng 30’ điều hành. Các sách có giá nhiều người đọc, nhất là tiểu thuyết, các băng và dĩa nhạc vàng được chúng lấy đem về nhà cất và, sau này, bán rất có giá. Phần đông trong dân, sách được xé rời ra và để tại nhiều nơi. Việc đốt sách được thực hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động, đã nêu rõ 2 mục đích: về chính trị, bài trừ các luồng tư tưởng phản động chống đối chế độ và về văn hóa, xóa bỏ hình thức được coi là ‘đồi trụy theo hình thức tư bản’. Chính quyền mới khẩn cấp niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những nhà in, nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài gòn đều bị niêm phong và đóng cửa.
Tại nhiều địa phương, công việc càn quét này giao cho các ‘cháu ngoan bác Hồ’, tuổi chỉ từ 10 đến 15. Đảng lợi dụng tuổi thơ. Tuổi các em là để vui đùa, ca hát, để nhởn nhơ, để chỉ biết thương, chứ không biết ghét hay oán hận. Thế giới các em là thế giới trẻ, không biết việc người lớn lừa dối.
3. Đổi tiền : một hình thức cướp của.

Ngày 06.06.1975, Ngân hàng Quốc gia Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cũ của Việt Nam Cộng hòa này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng Phát triển Á châu ADB, Ngân hàng Thế giới WB. Do đó, tiền Việt Nam Cộng hòa cần được đổi. 

Lúc 10 giờ đêm 21.09.1975, nhà cầm quyền ra lệnh kéo dài lệnh giới nghiêm đến 11 giờ sáng, thay vì 5 giờ như thường lệ, ngày 22.09.1975 và đợi thông báo quan trọng. Đến 4 giờ, đài phát thanh loan tin đổi tiền và những quy định thực thi công tác này :
- Thời gian : từ 11 đến 23 giờ ngày 22.09.1975, tức chỉ 12 tiếng đồng hồ. Thực tế đã kéo đến nhiều ngày. Bộ chính trị đảng ước lượng quá thấp số lượng tiền mặt trong túi người dân Miền Nam. Tại Ngân hàng Thành phố HCM (Trụ sở Việt Nam Thương tín cũ), từng đợt xe cam nhông chở đầy tiền giấy đến khai báo và nạp kho. Do biết số tiền không được đổi hết, nhiều người đã đốt bớt ;
- Hối giá : 500 đồng VNCH = 1 đồng mới CHMNVN. Mỗi gia đình được đổi tối đa 100.000 đồng VNCH ra thành 200 đồng CHMNVN. Tiểu thương có thể đổi thêm 100.000 đồng nữa. Những xưởng lớn thì giới hạn là 500.000 đồng.
Số tiền dư còn lại phải ký thác vào ngân hàng. Trương mục sau đó bị khóa đến đầu năm 1976 mới cho phép rút 30 đồng CHMNVN mỗi tháng. Cuối cùng, đến tháng 12.1976 thì trương mục bị đóng và số tiền không được rút nữa.

4. Lùa dân đi Vùng kinh tế mới.

Ngoài nguyên nhân kinh tế, việc di dân này còn có lý do chính trị là để giảm số người thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa tập trung ở những đô thị, nhất là vùng Sài gòn, hầu dễ kiểm soát phần tử chống đối và để chiếm nhà của họ. Dĩ nhiên, để lường gạt người dân ra đi, nhà cầm quyền hứa hẹn trợ giúp xây nhà cửa, đất đai và hạt giống để trồng trọt… Nhưng khi người dân đến nơi, chờ đợi… không có gì cả. Lý do, chánh quyền đuổi dân hứa, chớ đâu phải chánh quyền nơi họ đến hứa. Người bị gạt trở về thành phố, nhà cửa bị mất đành phải ở hè đường… bệnh tật và chết.
Trong những năm 1975-1980, Thành phố HCM đã đưa đi Vùng kinh tế mới khoảng 832.000 người. Phương pháp cưỡng bức người dân phải đi gồm thu hồi hộ khẩu, rút thẻ mua gạo và các nhu yếu phẩm, và cấm trẻ em nhập trường học. Theo lệnh ngày 19.05.1976 thì chính phủ đề ra năm hạng dân thành thị phải chuyển ra vùng kinh tế mới: 1. Dân thất nghiệp ; 2. Dân cư ngụ bất hợp pháp ; 3. Dân cư ngụ trong những khu vực dành riêng cho công chức và quân nhân ; 4. Tiểu thương gia, tiểu địa chủ, đại thương gia ; 5. Người gốc Hoa, dân theo đạo Công Giáo.

5. Phản kháng vì chán nản và tuyệt vọng. 

Trước ngày 30.04.1975, tại các nơi làm việc văn phòng, những nữ nhân viên đâu có phải khiêng bàn tủ, nhất là tại ngân hàng. Các bà, các cô không bị đi hội họp. Nhưng, sau đó ngày đó, nhân danh ‘nam, nữ bình quyền’, sự miễn trừ không còn nữa. Thêm vào đó, những sự gian dối và cướp của của chế độ, người dân còn phải đi họp tổ. Vì không muốn nghe phát biểu tuyên truyền và để bày tỏ sự chán nản, bất mãn mà không bị làm phiền hà, người dân có lối phản ứng: cán bộ cộng nô chưa nói hết câu thì bà con vỗ tay… cám ơn. Dần dần, người dân đâm chai lì, không sợ nữa, họ phát biểu lung tung nơi công cộng, không còn thể thống gì. Những lời châm chọc, nói bóng gió chê bai cán bộ, chính quyền ngày càng công khai, càng bạo dạn đến không còn kiêng nể gì nửa. Cán bộ, đảng viên có nghe thấy cũng giả đui, điếc lảng đi chỗ khác. Nhiều chị đến họp mang theo con hay em. Khi muốn về, nhéo nhẹ nó một cái cho khóc, rồi đứng dậy, ra đi. 

Ngoài ra, người dân còn diễu cợt chính quyền bằng những câu thơ hay câu chuyện hài hước nhằm nói cho hả dạ… Do đó, nảy sinh một thứ văn chương truyền khẩu mô tả sự thật của một chế độ phi nhân bằng đủ hình thức. Tuy thế, chế độ vẫn tồn tại cho đến hôm nay và sẽ còn phi nhân tiếp trong tương lai. Cộng sản Việt Nam còn vô cảm với người dân vì họ còn được sự tiếp tay hay lờ đi của những trí thức, kể cả cha thầy hay sư sãi, vô cảm với đồng bào và đồng đạo.

II. BA MƯƠI CHÍN NĂM THẤT BẠI HAY THÀNH CÔNG ?.

Ngày 30.04.1975, người cộng sản, tự cho là ‘kẻ chiến thắng’, có công thống nhất Đất Nước, một Quê hương mà chính họ cùng thực dân Pháp phân đôi ngày 20.07.1954 và đến hôm nay, ngày 30.04.2014, đã bị nhượng bộ nhiều phần đất cho Trung cộng. Dân (hay quân ngụy trang) của họ kiểm soát nhiều phần lãnh thổ chúng ta. Phe thắng trận đã xóa bỏ ranh giới lãnh thổ Việt Nam tại cầu Hiền Lương (Hiền hậu và Lương thiện : hai tính tốt của người Việt), nhưng lại gây nên một cuộc chiến khác với cuộc chia đôi Dân Tộc và đã không thể hòa giải được tại Miền Bắc từ 1954, rồi trọn cả nước từ 1975.

1. Thực trạng phân hóa Dân Tộc.

Một sáng Chúa Nhật tháng 05.1975, khi đi ngang Tòa Tổng Giám mục Sài gòn, thấy có đông người trong khuôn viên, tôi vào xem thì được biết họ đang yêu cầu Đức Cha P.X. Nguyễn Văn Thuận rời Sài gòn. Một sinh viên Công Giáo nói sự hiện diện của Đức Cha tại đây làm cản trở ‘Hòa hợp, Hòa giải Dân tộc’ và thực thi Hiệp định Paris. Tôi nói nhỏ rằng việc cử Đức Cha là một quyết định của Giáo Hội vì Việt Nam và Hiệp định Paris còn đâu mà thực thi. Đến Tết 1976, được tin anh ta đã vượt biên vì thân phụ anh đi học tập và gia đình bị mời đi kinh tế mới.

Xin phép được trình bày một nhận định về vấn đề có thể khác hơn những ý kiến đã được đưa ra. Đặt vấn đề ‘Hòa hợp, Hòa giải’ tức chúng ta chấp nhận có một tranh chấp lớn hay nhỏ cần phải tìm sự đồng thuận được xem như một tình trạng Hòa bình. Hoà bình chỉ có thể bền vững khi xây dựng trên bốn nền tảng : Chân lý, Công bình, Bác ái và Tự do. Đó là đề nghị của Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII trong Thông điệp ‘Hòa Bình trên Trái Đất’ (Pacem in Terris) ban hành ngày 01.04.1963.

Sau ngày Quốc hận 1975, chỉ những người Việt làm việc cho chính quyền Việt và Mỹ ra đi, nhưng trước những thất hứa, nhà đất và tài sản bị cướp bởi cộng sản, mọi từng lớp người Việt, lần đầu tiên trong lịch sử, phải bỏ nước ra đi, bất chấp biển cả và rừng sâu. Do đó, ngày nay, Dân Việt đang sinh sống và làm việc tại Quốc nội và Hải ngoại trong những chế độ chính trị khác nhau.

2. Người Việt sống tại Quốc nội. 

Người dân sống tại Quê hương chịu sự cai trị bởi nhà nước do đảng cộng sản chỉ định (Điều 4 Hiến pháp : Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội). Ngày 25.02.2013, nhân cơ hội ‘Góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992’, Đài Truyền hình VTV1 đã phát đi đến toàn dân ‘lệnh truyền’ mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ban tại Tỉnh ủy Vĩnh phúc : « Các đồng chí phải lãnh đạo cái việc góp ý kiến sửa đổi dự thảo Hiến pháp. Cái này quan trọng lắm đấy. Vừa rồi đã có các luồng ý kiến có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa. Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy! Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng nữa. Thì như thế là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức chứ còn gì nữa? Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể... thì nó là cái gì?! Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này ». Do đó :

A. Quyền Lập pháp. Các đại biểu Quốc hội tuy được bầu, nhưng chắc chắn họ sẽ bị thất cử, nếu những ứng cử viên độc lập đừng bị Mặt trận Tổ quốc ngăn cấm. Do đó, trải qua bao nhiêu thế hệ đại biểu, họ không khả năng để viết một đề nghị luật về ‘quyền lập hội của công dân’ được đề cập trong mọi Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Dự luật về hội đã soạn thảo 12 lần, nhưng vẫn chưa tới Quốc hội. Về luật biểu tình, Quốc hội cũng rơi vào tình trạng như thế. Trái lại, họ đã biểu quyết ‘thuận’ các Điều 79, 88 và 258 Bộ Luật hình sự đã bị đa số lớn các quốc gia yêu cầu hủy bỏ hay tu chính vì mơ hồ và bị lạm dụng nhằm hạn chế tự do của người dân tại Phiên Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam ngày 05.02.2014 tại trụ sở Liên hiệp quốc Genève (Thụy sĩ). 

Bài ‘Những vấn đề lớn trong tổ chức Quốc hội’ cung cấp thêm cho chúng ta nhiều chi tiết vể sự thật : 

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/org-nat-ass-big-iss-05012014062153.html

B. Quyền Hành pháp. Trong thông điệp đầu năm 2014 ‘Hoàn thiện thể chế, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2014, tạo nền tảng phát triển nhanh và bền vững’, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viết: « Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi quyết định quản lý của Nhà nước đều phải minh bạch… ». 

a./ Cưởng chế và cướp đất.

- Ngày 05.01.2012, Đoàn cưỡng chế do Ủy ban Nhân dân (UBND) huyện Tiên lãng Hải phòng điều động và Đại tá Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Công an Hải Phòng, chỉ huy đến thu hồi đất đầm nuôi trồng thủy sản tại xã Vinh quang, do ông Đoàn Văn Vươn, thuê. Ôâng Vươn vắng mặt vì bận lên Viện Kiểm sát nhân dân Hải phòng kháng cáo và người nhà chống lại bằng mìn tự chế và súng bắn đạn hoa cải làm bị thương 6 công an và bộ đội. Công an Hải phòng ra quyết định khởi tố vụ án giết người và chống người thi hành công vụ đối với Đoàn Văn Vươn và các đối tượng tham gia liên quan. Chúng còn phá hủy ngôi nhà 2 tầng của ông Vươn dùng làm nơi cố thủ, mà Phó chủ tịch UBND Hải phòng Đỗ Trung Thoại cho là do ‘nhân dân bất bình nên vào phá’. Ngoài ra, chúng còn sử dụng các phương tiện đánh bắt bằng điện để đánh bắt số thủy hải sản mà gia đình các chị đầu tư, nuôi thả trong đầm 40 ha, từ đầu năm 2011, chờ thu hoạch trong dịp Tết sắp tới. Tính tổng trị giá cá nuôi đã lên tới hơn 1,5 tỷ đồng, chưa kể cua, tôm tự nhiên và hàng ngàn buồng chuối. Ngày 10.02.2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu chính quyền địa phương thi hành các thủ tục cho phép gia đình ông Vươn tiếp tục được sử dụng đất đã giao. Chiều ngày 23.02.2012, Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng bị cách chức. Tòa án Hải Phòng, ngày 05.04.2013, tuyên án ‘anh hùng áo vải’ Đoàn Văn Vươn và ông Đoàn Văn Quý: 5 năm tù; ông Đoàn Văn Sịnh: 3,5 năm tù và ông Đoàn Văn Vệ: 2 năm tù về tội ‘Giết người theo quy định’ (Điều 93.1.d Luật Hình sự). Bà Phạm Thị Báu (vợ ông Quý) bị 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng và bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) bị 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 30 tháng về tội ‘Chống người thi hành công vụ’ (Điều 257.2.d Luật Hình sự). Ngày 30.07.2013, tại phiên xử phúc thẩm, chúng tuyên bố y án. Ngày 30.10.2013, Tòa án Tiên lãng bác toàn bộ yêu cầu đòi bồi thường những thiệt hại mà gia đình ông Vươn đã phải chịu. Đỗ Hữu Ca nay được vinh thăng Thiếu tướng.

- Chiều ngày 11.09.2013, ông Đặng Ngọc Viết, 42 tuổi, ở phường Kỳ Bá, Thái Bình xông vào trụ sở Uỷ ban Nhân dân thành phố dùng súng bắn 5 cán bộ Trung tâm phát triển Quỹ đất Thành phố khiến một người chết, ba người bị thương. Sau đó, ông về quê ở huyện Kiến Xương, Thái Bình và tự sát dưới chân tượng Phật. Nguyên nhân bức xúc này, theo các báo, có liên quan đến chuyện thu hồi đất đai và chính sách đền bù của chủ trương xây dựng khu đô thị mới ở phường Kỳ Bá.

b./ Công an đánh và giết đồng bào như chính côn đồ.

- Mời xem ‘CA cướp đất, đánh người kinh hoàng tại Dương nội’ :

http://www.youtube.com/watch?v=LRZWkJ2wL2M

- Người dân tự xử. Ngày 07.06.2010, Công an Vinh phát hiện tại cánh đồng xóm Trung Thuận thi thể anh Nguyễn Đình Phong, 27 tuổi, ngụ tại xã Nghi Phong, cùng một người khác đi câu trộm chó , nên bị dân cả xóm đuổi bắt, bị dân đánh chết rồi kéo ra đồng, lấy xăng trong xe máy ra tưới, đốt cả người và xe. Hỏi tại sao người dân đốt xe và người trộm chó dã man như vậy, họ không ngần ngại nói: « Khi bắt được đối tượng trộm chó, dân trình báo công an nhưng họ chỉ xử phạt hành chính nên nạn trộm chó vẫn xảy ra. Vì thế khi bắt được đối tượng là bà con tự xử để trị kẻ xấu cho hả dạ. Việc người dân đánh què, đánh chết đối tượng là chuyện thường. Còn vụ đốt thi thể đối tượng trộm chó là do người dân không chịu nổi tức tối đã kìm nén lâu nay ».

Tối 29.08.2010, trời mưa to, xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc mất điện. Nghe tiếng xe máy rú ngoài đường, tiếng chó sủa, tiếng chân người chạy rầm rập, dân làng biết người ta đang đuổi bắt trộm câu chó nên ra vây kín các ngả đường. Bị chặn đường, hai kẻ trộm vứt bao tải đựng con chó nặng 11kg và vứt cả xe máy tháo chạy ra đồng. Cánh đồng ngập nước, kẻ trộm không chạy nổi nên bị dân bắt. Chiếc xe máy bị châm lửa đốt, hai kẻ trộm bị đánh dã man, Nguyễn Đình Dũng chết tại chỗ còn Nguyễn Đình Hồng chết trên đường đi cấp cứu. Cả hai đều 22 tuổi, cùng trú tại xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc.

Bài ‘Nữ sinh viên bán thân để tồn tại’, đăng bởi RFA ngày 21.04.2014, cho chúng ta những thông tin vô cùng đau thương của một số nữ sinh viên đại học sư phạm Đà Nẵng đứng trước cổng trường đường Trường Chinh để bắt khách. Lý do hiện tại là để nuôi thân và san sẻ bớt nỗi khó khăn cho cha mẹ và, cho tương lai khi ra trường, phải có tiền cái để bôi trơn chỗ làm, để mua một công việc ở các trường. Vấn đề hiện tại của các chị là vắt óc suy nghĩ làm sao để bán dâm lâu dài mà không bị bắt hầu dành dụm đủ dễ dàng xin vào một trường dạy học, sống cuộc đời của một nhà giáo thanh liêm. Các chị chọn học lịch sử để dạy sau nay chỉ đơn thuần là ghi chép, thảo luận những gì mình ghi chép và học thuộc lòng để dán nó vào não rồi sau này ra dạy lại học sinh, dù nhìn thấy những điểm phi lý của lịch sử nhưng đây không phải là vấn đề quan trọng. Trước đây, nếu họ đã hình dung con đường vào đại học như thế, họ đã ở nhà làm nông, có chồng lại bình yên hơn!. Cũng trong chủ đề về học lịch sử, xin mời chúng ta cùng xem ‘Lịch sử cần nhất là sự khách quan’ tại :

https://www.youtube.com/watch?v=XPngBaWag3s để biết tại sao học sinh ít chọn học môn này. Không biết lịch sử nước mình thì làm sao yêu nước được ?

- Bộ Y tế Việt Nam, ngày 18.04.2014, loan báo nạn dịch sởi từ đầu năm đến hôm đó đã gây tử vong cho ít nhất 112 bệnh nhân, hầu hết là trẻ em dưới 10 tuổi, cùng làm cho hàng ngàn người khác nhiễm bệnh. Số nạn nhân có thể tăng lên do lây nhiễm lẫn nhau, do thời tiết xấu và các bệnh viện nhi tại các thành phố lớn bị quá tải do phụ huynh hoảng sợ đưa con đến nhập viện. Theo thống kê, từ đầu năm đến nay, cả nước có gần 3.500 trường hợp mắc sởi trong số gần 9.500 trường hợp sốt phát ban dạng sởi tại 61/63 tỉnh thành và có 119 trường hợp nặng xin về và tử vong có liên quan đến sởi.

- Xã hội dân sự giúp phát triển kinh tế. Ngày 29.04.2014, tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2014, tổ chức ở Hạ Long (Quảng Ninh), khi bàn thảo về cải cách thể chế, cựu Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển nói : « Tôi nghĩ, đã đến lúc thừa nhận xã hội dân sự. Bản chất của nhà nước mang tính quan liêu, và để khắc phục quan liêu thì cần phát huy vai trò của xã hội dân sự… Đã đến lúc phải thấy xã hội dân sự là sản phẩm của sự phát triển dân chủ, mà sự phát triển dân chủ có tính quy luật ». đã nhận được nhiều tiếng vỗ tay hưởng ứng. Kế đến, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Lê Xuân Bá kiến nghị nhanh chóng ban hành luật về biểu tình và ban hành luật về xã hội dân sự, bởi theo ông, đó là quyền của dân, không có gì phải e ngại ‘xem đoạn II.A trên đây). Ông Tuyển được báo chí trong nước coi như là nhà thương thuyết xuất sắc để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO: World Trade Organization). Cũng như các viên chức nhà nước cộng sản, ông Tuyển đã không làm gì khi tại chức mà phải đợi đến bây giờ khi các nhóm lợi ích lớn làm thiệt hại nặng nề nền kinh tế như Vinashin, Vinalines…). Tại Diễn đàn Kinh tế này, chính phủ thừa nhận bách phân nợ công chỉ là 55% TSLQN, trong khi ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam, và nhiều chuyên gia khác nói đã là 98% rồi, tức làm ra 100 đồng thì phải dành để trả nợ 98 đồng. Rõ ràng, chỉ khi nào cải cách thể chế chính trị thì mới có thể thay đổi điều hành kinh tế thành công.

Thật sự, trong những năm qua, nhiều xã hội dân sự đã được thành lập, nhưng không được công nhận như Cậu lạc bộ bóng đá No-U, ra đời từ ngày 30.10.2011, nhưng tiền thân của nó là những nhóm nhỏ mà, trong đó, có nhóm thành lập ngày 10.08.2011 để biểu tình ‘Hoàng Sa–Trường Sa– Việt Nam’. Do bị bắt nhiều quá, những người còn lại kết hợp nhau để đi tiếp tế. Đến cuối năm 2013, có nhiều nhóm ra đời. Nhóm 258 đã liên lạc với các Tòa Đại sứ để trình bày về những khó khăn, đàn áp đến từ nhà cầm quyền, nhất là công an, côn đồ… Nếu đi xa hơn về quá khứ, chúng ta ghi nhận Bauxite VN hiện diện từ 2009 và Khối 8406 được thành lập ngày 08.04.2006 với 118 thành viên tiên khởi: « Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để :

(a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn; 

(b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình » (Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 21). 

Ngày 15.04.2006, Khối 8406 đã phát hành số Ra Mắt báo ‘Tự do Ngôn luận’, Tiếng nói của Ngừơi Dân Việt Nam đòi Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận, và tiếp tục đem đến cho chúng ta những tin tức chính xác và bình luận hữu ích hai lần mỗi tháng vào ngày 1 và 15. Ngày 01.05.2014, ‘Tự do Ngôn luận’ số 194 đã được ra mắt đồng bào. 

Ngày 04.05.2014, 13 tổ chức xã hội dân sự Việt Nam đã ra Tuyên bố chung yêu cầu chính quyền Việt Nam nghiêm túc tôn trọng quyền tự do lập hội. Trường hợp tiêu biểu được nêu lên là Hội cựu tù nhân lương tâm bị gấy khó dễ và bị ép buộc phải giải tán.

Ngày 02.05.2014, nhà nước Trung cộng ngang nhiên đưa giàn khoan HD-981 và một lượng lớn tàu các loại, kể cả tàu quân sự, vào xâm chiếm và hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Chúng tuyên bố cấm tàu bè xâm nhập vùng biển bán kính 1 hải lý xung quanh giàn khoan HD-981 từ ngày 04.05 đến ngày 15.08.2014. Và trong hai ngày kế tiếp, tàu Trung cộng, có phi cơ yểm trợ, đã tấn công các tàu ngư chính và cảnh sát biển Việt Nam đang làm nhiệm vụ. Do đó, 20 hội và nhóm dân sự độc lập ở Việt Nam cùng đứng tên chung kêu gọi đồng bào tham gia cuộc biểu tình vào ngày Chúa Nhật 11.05.2014 để phản đối và lên án hành vi xâm lược của nhà cầm quyền Trung cộng và yêu cầu nhà nước Việt Nam có những những biện pháp thích hợp, hữu hiệu, cùng với sức mạnh toàn dân để thực sự chấm dứt tình trạng Trung cộng xâm chiếm lãnh hải Việt Nam ngay lập tức, tại :

- Hà nội: Sứ quán Trung cộng, 46 đường Hoàng Diệu,quận Ba Đình, 9 giờ;

- Sài gòn : Nhà Văn Hoá Thanh Niên, 4 Phạm Ngọc Thạch, 9 giờ.

Từ những sự kiện trên, chúng ta có thể tạm kết luận :

1.- Sự ‘Hòa hợp Hòa giải Dân tộc’ chỉ đặt ra cho người Việt trong nước và do nhà nước chủ động. Nếu người cầm quyền cộng sản vẫn tiếp tục như 39 năm qua, người cai trị tiếp tục làm giàu và người dân nghèo sống chết mặc kệ. Những kẻ ‘hồng hơn chuyên’ độc quyền điều hành quốc sự và người có tài đức bị lưu đày nơi ngục tù với những tội gắn ghép mà thế giới đều biết. Nếu nhà nước tiếp tục, người dân bị trị phải kêu cứu quốc tế : ngoại bang can thiệp, nhục quốc thể ;

2.- Nếu đồng bào trong nước được hưỡng những quyền công dân như tại các quốc gia khác, thì cần gì viên chức chánh phủ phải thân hành đi ngoại quốc để gây ra bao nhiêu chia rẽ, tranh luận giữa người Việt với nhau. Người Việt là công dân quốc gia tạm dung được hưởng mọi quyền tự do và không cần các lãnh đạo Việt Nam xài tiền dân đóng thuế để sang cám ơn chính phủ các nước này thay cho họ. Cuối cùng, gọi họ bằng danh từ ‘Việt kiều’ là sai tiếng Việt vì họ mang quốc tịch quốc gia tạm dung hay tỵ nạn chánh trị, quy định bởi Thỏa ước Genève ngày 28.07.1951. 

3. Người Việt sống tại Hải ngoại. 

Ngày 26.03.2004, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 36-NQ/TW ‘Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài’ để tuyên truyền về sự quan tâm của họ dành cho người Việt hải ngoại với mơ ước lường gạt được dư luận quốc tế và chia rẽ người Việt. Để thực hiện nghị quyết này, nhà nước cộng sản phải chi những số tiền lớn từ ngân sách, do đồng bào quốc nội đóng thuế cho các viên chức công tác sống sa hoa nơi quốc ngoại và bố thí cho những người Việt hải ngoại, đa số là khoa bảng, chi tiêu ăn chơi khi về tham quan Việt Nam. 

Chúng ta hãy tìm hiểu qua vài trường hợp :

1. Ngày 29.04.2010, Dân biểu liên bang Hoa kỳ Joseph Cao Quang Ánh đã khước từ đề nghị đối thoại ‘cởi mở và thẳng thắn’ từ Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn và nêu ra một số yêu cầu và bước đi cụ thể để Hà Nội ‘chứng tỏ thiện chí’, trước khi đồng ý tiếp xúc. Ông nhấn mạnh rằng 'tiền đề cho buổi gặp gỡ nhằm giải tỏa những điều được gọi là ‘thiếu thông tin đúng đắn’ là ‘sai lầm’ và ‘không phải là khởi điểm mang tính xây dựng’' và ‘Những người Việt quyết định đánh đổi mạng sống để rời bỏ quê hương không hề hiểu lầm về chính phủ Việt Nam. Họ ra đi vì đã không thể sống dưới một chế độ toàn trị vốn xem thường quyền con người, tự do tôn giáo và trừng phạt những công dân can đảm lên tiếng’. Trả lời dứt khoát như vậy, ông Sơn không có dịp, lợi dụng cuộc gặp để tuyên truyền xuyên tạc.

2. Ngày 03.2014, Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải (Canada) đã tiếp ông Nguyễn Thanh Sơn. Sau đó, đài ‘Phố Bolsa’ cho ông Sơn cơ hội mô tả sai trái về việc tiếp xúc với ông Hải như cho rằng TNS Hải đã ‘hoàn toàn nhất trí’ với ông về việc Việt Nam đã xử sự hợp tình hợp lý với những người bất đồng chính kiến vi phạm pháp luật Việt Nam hay ông Hải đồng ý với Sơn rằng Linh mục Nguyễn văn Lý là ‘người quậy phá’. Những sự không thật đó gây phản ứng bất mãn trong cộng đồng người Việt hải ngoại và nghi ngờ về quan điểm của TNS Ngô Thanh Hải. Do đó, để rộng đường dư luận, Thông tín viên Tường An (RFA) đã trao đổi với TNS Hải, nhưng không phải tất cả những người nghe ông Sơn trên ‘Phố Bolsa’ đều nge TNS Hải trên RFA để biết sự thật do TNS Hải trình bày. Do đó, ông Hải cho rằng lời nói của ông về kêu gọi hòa hợp hòa giải với hải ngoại, tôi thấy rằng câu nói đó không đi đôi với hành động. Cộng sản Việt Nam đưa ra hòa hợp hòa giải mà nội cái chuyện đi về thăm Cha Mẹ hay là chôn cất mà họ còn không làm thì tôi không tin những câu nói của họ hoặc là của ông Sơn về vấn đề hòa hợp hòa giải, đối với tôi không thật lòng hoặc không trung thực lắm.

3. Ông Hoàng Duy Hùng, ứng cử viên Dân biểu tiểu bang Texas, hạt 149, đã nói với nhật báo Người Việt : « Tôi là người Công Giáo, tôi bảo vệ cuộc sống, còn ông Hubert Võ bảo vệ sự lựa chọn của phụ nữ. Đây là vấn đề giữa chống phá thai và phá thai ». Đã từng đi Việt Nam và hội họp với ông Nguyễn Thanh Sơn, ông Hùng có biết Việt Nam là nước có số phá thai nhiều đứng hàng đầu thế giới không? Đến Đà nẵng, ông có biết vụ cướp đất tại Giáo xứ Cồn dầu vì ‘Công Ích’ (?) và ông Tôma Nguyễn Thành Năm bị công an đánh đập đến chết dù vợ, chị Đoàn thị Hồng Anh, chạy theo năn nỉ, lạy lục không ? Để chống lại những hành vi không tốt của ông Hùng, nhiều người Mỹ gốc Việt gởi đi những điện thơ đầy những hình ảnh và lời văn đê tiện.

4. Từ ngày 18.04.2014, nhà nước dùng tiền ngân sách để dẫn đoàn người Việt sống ở Bắc Mỹ và Tây Aâu đến viếng quần đảo Trường Sa. Trả lời phỏng vấn RFI, Tiến sĩ Lê Thanh Hải ở Thụy sĩ nhắc lời ông Nguyễn Thanh Sơn về mục đích là đến đây để dự các lễ cầu siêu, tưởng niệm những thế hệ người Việt đã vị quốc vong thân những người đã tử nạn nơi biển, trên đường tỵ nạn. Oâng khoe quả phụ Trung tá Thà và cô con gái Đại úy Trí cũng có mặt. Do đó, ông tin tưởng sự ‘Hòa hợp, Hòa giải’ sớm thành hình.

Mười ngày sau đó, hôm 28.04.2014, Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Tu viện Dòng tổ chức ngày ‘Tri Ân Quý Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa’ đem lại niềm vui cho khoảng 440 thương phế binh và gia đình. Nhân dịp nầy, cựu Đại úy Nhạc sĩ người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu hát tặng những nhạc phẩm mình viết trong tù và hết lòng ca ngợi những chiến sĩ vì bảo vệ Tự do cho đồng bào và phải hy sinh một phần thân thể nhưng vẫn không ăn bám mà sống nhờ đồng tiền do bán vé số. 

Kết luận, chúng ta không thể tin cuộc ‘Hòa hợp và Hòa giải Dân tộc’ thành công khi những người thực hiện tiến trình này chi xài tiền ngân sách đi chơi, chứ không xây dựng trên Sự thật, Công lý, Tình thương và Tự do. Công tác chỉ có kết quả khi phải khởi sự từ những Chính quyền và Nhân dân ong nước.

Hà Minh Thảo

Hà Minh Thảo

Bài Xem Nhiều