We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 30 July 2014

Du lịch trong xứ của hãi hùng

Viễn tượng : Việt Nam, một Tân Cương mới ?
Du lịch trong xứ của hãi hùng (3)

Tuần qua, thế giới âu châu đầy rẵy những tin tức nóng, cuốc chiến Israël-Palestine, quân đội Tsahal của Israël pháo kích hằng ngày dãi đất Gaza thuộc Palestine để tiêu diệt quân của phái Hamas đồng chủ nhiệm Palestine, gây tang tóc và thương vong lớn cho thường dân. Dỉ nhiên quân Hamas cũng không kém chi hằng ngày phóng từng đợt hỏa tiển vào Israël, mặc dù với một giàn lưới hỏa tiển chống hỏa tiên Israël cũng bị ít nhiều thiệt hại người và vật. Và trong lúc ấy tình hình chiến sự ở Syrie, ở Mali, ở Irak không có kênh truyền hình nào nói đến nữa, nhưng các nơi ấy chắc chắn chiến sự vẫn tiếp diễn, thương vong vẫn còn, và nhơn dân ở các nới vẫn  bị chà đạp. lòng thương người, lòng bác ái bị dẫn dắt theo truyền tin , thông tin, sức mạnh thứ tư dư luận quần chúng cứ thế mà trôi theo luồn thông tin. Ở Pháp, dân chúng động lòng trắc ẩn thương vong Palestine và thường dân Palestine, nên những tổ chức phái tả tổ chức biểu tình chống Israël. Một ngọn gió chống Do thái cũng thoáng thoáng thổi vào các bất mãn xã hội. Và các nhóm phá hoại ăn có phá hoại đập phá. Nước Pháp đang cần một chánh sách cứng rắn để lập lại nội an. Cuộc phá hoại vừa qua thoạt đầu chia rẽ dư luận chánh trị, vì Đảng nào cũng muốn kiếm phiếu tương lai, tìm những khó khăn của chánh phủ để triệt hạ chánh phủ xã hội. Nhưng nay đã bắt đầu vì dư luận quần chúng thật sự sợ sự phá hoại nên đã bắt đầu có một sự ủng hộ đòi hỏi một sự cứng rắn an ninh, cả các nhóm và đảng phái đối lập phái hữu cũng lên tiếng ủng hộ Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ và yêu cầu chánh phủ dùng mọi biện pháp bảo vệ an ninh. Âu đây cũng là một dịp để chánh phủ Pháp lập lại trật tự và dẹp những phần tử phá hoại ! Nhưng tin nóng  đặc biệt là tin chiếc máy bay của Malaysian Airlines số MH 17 bị quân đội ly khai Ukraine bắn hạ. Thế giới xúc động bất mãn bởi trò chơi chánh trị của Tổng thống Poutine nên đang buộc Nga phải đàng hoàng trở lại, phải kiểm soát đám âm binh quân ly khai Ukraine thân Nga, hãy nhìn vào đám « quân dân ly khai » với những bộ mặt sát khí, hoâc bị mặt, mất cảm tình ngay, làm sao ủng hộ được nhóm người nếu mặc giả họ có chánh nghĩa đi nữa ? Đòi hỏi quyền tự quyết, xin « được » mất Độc lập, mặc dù chỉ là một thiểu số, nếu có sự ủng hộ của một cường quốc, với súng đạn có phải là chánh nghĩa không ? Và giả thử  nếu ngày mai, một nhóm thiểu số ở Viêt Nam đòi Việt Nam nhập vào Trung Hoa, hay đước Trung Cộng che chở ? . , .  Đòi Nga đàng hoàng ? khó lắm,  cũng như đòi Tàu đàng hoàng, là cả một vấn đề cho nền chánh trị thế giới…Mỹ qua thời Roosevelt đã bị gạt bởi Hiệp Ước Yalta, Nixon bị gạt đi đêm với Tàu, Việt Nam là nạn nhơn của cuộc đi đêm ấy !. Về mặt địa lý quân sự và chiến lược Nga như Tàu là những địa hình kẹt sâu trong đất liền, không có lối thoát ra Đại dương lớn để tung hoành với bốn bể năm châu. Nga tuy có cửa biển lớn đấy nhưng  ở vùng những biển cực Bắc, nửa năm băng giá : Océan Arctique hay Bắc Thái Bình Dương, những cửa ngõ vế miền Nam ấm áp qua Địa Trung Hải hay Đại tây Dương không có, vì vậy phải tìm lối thoát qua các quốc gia láng giềng : Bélarus, Ukraine qua bán đảo Crimée. Cũng như Tàu phải tim lối thoáy xuống Biển Đông Việt Nam vậy. Nhìn những hành động Nga đối với Ukrine, ta hiểu ngay những hành động Tàu đối với Việt Nam, và lo lắng cho thân phận Việt nam ! 
Tân Cương 2014 :
Ramadan - Thánh lễ đặc sắc của người Hồi giáo
Tháng bảy 2014, thế giới Hồi Giáo đi vào Tháng Chay Ramadan (tháng thứ 9 của lịch Hồi, tháng Ramadan). Tục lệ Hồi giáo không định trước ngày vào Tháng Chay. Lịch Hồi Giáo theo hệ thống Trăng-Âm lịch, chỉ tập trung vào sự có mặt của ánh trăng. Vì vậy tháng trước của tháng Chay Ramadan –tháng Chaabane, vào ngày thứ  29, tất cả các giáo dân Hồi giáo quan sát kỹ bầu trời đi tìm sự có mặt của Trăng lưỡi liềm – hilal . Nếu thấy, Tháng Chay bắt đầu ngày hôm sau, và ngày lễ dứt tháng Ramadan -Aïd al-Fitr bắt đầu ngày 1 tháng sau tháng Chawwal   (l’Aïd al –Fitr ở Pháp  là ngày 29 tháng Bảy năm 2014 hay năm 1425 của lịch Hồi giáo). Vì vậy những ngày đầu và nhưng ngày cuối của tháng chay có thể không cùng một ngày trong thế giới Hồi giáo

Đó là trên Thế giới, nhưng ở Tân Cương, Trung Hoa Cộng sản, nhà cầm quyền Trung Cộng cấm một số các giáo dân người Hoa gốc Hồi giáo ăn chay : công nhơn viên, giáo chức luôn cả khi đã về hưu và  sanh viên. Về mặt tuyên truyền, nhà cầm quyền khuyến khích, những bửa ăn chung công cộng trong ngày, và cho phổ biến những hình ảnh bửa ăn chung của các giáo dân trong ngày (Trong suốt tháng Ramadan, các giáo dân Hồi nhịn ăn uống trong ngày khi có  mặt trời, và chỉ ăn uống vào đêm). Ngoài ra, nhà cầm quyền trung ương cò ra chỉ thị những cầm quyến địa phương dùng bằng mọi phương tiên ngăn chận giáo dân hội họp hay lễ lạc, đi lại các Chùa Hồi-Mosquée.

Đây là những khó khăn của 9 triệu người Hồi giáo gốc Uyghur- một sắc dân hậu duệ của Thành Cát Tư Hản, của Koubilaï Khan, củaTimour Khan…một thời oanh liệt, đã lẩy lừng chinh phục suốt một vùng đất bao la. Phát xuất từ những cánh đồng cỏ Mông cổ, họ đã một thời ngự trị đất Trung Hoa phía Đông và những đất mầu mỡ phía Tây tận Âu châu. Dân Uyghur nói ngôn ngữ Thổ nhỉ Kỳ giống như các quốc gia láng giềng, cựu Liên bang Sô Viết, nằm dọc trên đường tơ lụa : Kazakhstan, Ouzbékistan, Kirghizistan,Tadjikistan, Turkemistan. 

Mỗi ngày của cuộc sống một thường dân Uyghur là cả một sự hãi hùng, đàn áp và bắt bớ vô tôi vạ của Công ban Trung Cộng.

Tân Cương, Xinjiang, hay ĐôngTurlestan là một trong 5 vùng Tự trị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, với một chế độ đặc biệt như Nội Mông, như Tây Tạng với một diện tích rộng 1 triệu 660 ngàn cậy số vuông, chiếm 1/6 đất nước Trung Hoa, thủ phủ là Ürümqi. Theo thống kê dân số năm 2010, Tân Cương có khoảng 20 triệu dân với 45% dân bản xứ Uyghur, 7% dân Kazakhs, 1% người Kirghizes, là những dân bạn đồng tôn giáo Hồi, đồng ngôn ngữ gốc Thổ Nhỉ Kỳ cùng gốc chủng tộc họ hàng, cộng thêm 5% dân Hui, 1% dân Mông cổ…và cuối cùng 41% mới thật sự là người Hán – nhưng số người càng ngày càng đông hơn vì được nhập cảng vào, nhứt là ở các thành phố chánh – Ürümqi, thủ đô Tân Cương có 70% dân số là người Hán -  để chiếm đất, bành trướng dân. 

( Đây là một chánh sách,  Hán hoá ngày nay đang và đã được áp dụng tại Tây Tạng, Nội Mông và các tỉng tự trị và ngày nay … đang ở Việt Nam và … Phi Châu ). 

Và chúng ta hiểu tại sao tại Tân cương, luôn luôn âm ỉ một phong trào chống Hán, và nhiều cuộc nổi loạn, nhưnh chúng ta và dư luận thế giới ít nghe nói đến vì thông tin Tàu đã bưng bít. Tân Cương ngày nay là đất Tàu, Tân Cương bị chiếm đóng một cách quân sự.  
Sau đây người viết xin dịch lại một phóng sự do một người Pháp, du lịch trà trộn vào Tân Cương kể lại và được đăng trên báo Nouvel Observateur số 02228 tuần cuối tháng Ba qua đầu tháng tư 2014 :

 « Đây là  một cuộc động đất một « 11 tháng 9 » tàu : đầu năm 2014,một nhóm uyghurs dùng dao kiếm khủng bố hành khách người Hán tại nhà ga thành phố Kunming : 34 người chết và 130 bị thương. Và tháng mười năm trước, ngay tại quảng trường Tiananmen-Thiên An Môn, ngay tại thủ đô Beijing, một kamikaze uyghur dùng xe xông vào nhóm du lịch ngoại quốc làm thiệt mạng ba người, dưới sự chứng kiến của chân dung khổng lồ của Mao. 

Vì vậy, với dân Hán ngày nay, Uyghur đồng nghĩa với « sát nhơn» và Tân Cương « sào huyệt bọn khủng bố ». 
Nhưng nếu ta muốn biết sự thật, thì hãy cùng phóng viên Ursula Gauthier, đi thăm Xinjiang đê sống cái mọi ngày của dân Uyghur. Cách Beijing, 3500 cây số, vùng Tân Cương khô cằn của Trung Á, nhưng với một diện tích  1triệu 660 ngàn cây số vuông, với lòng đất giàu có, đầy khoáng sản, đầy dầu mỏ, khí đốt nhưng người dân bản xứ đang sống đời sống đầy đọa của những người nô lệ đang sống trong một vùng bị chiếm đóng với một chánh sách công an trị và quân sự hóa. 

Từ những vùng xanh mát-oasis dọc theo dãi đường sa mạc khô cằn của cựu con đường tơ lụa ngàn xưa, cho đến những thành phố mới mọc với các cao ốc nhiều từng, con đường du lịch của khách lữ hành đều bị những chặn quân sự chận kiểm soát, với những xe thiết giáp, với những quân xa đầy lính tráng trang bị súng lớn súng nhỏ, với những hàng kẻm gai ngăn chặn, những giấy tờ phải đưa ra, những hành lý bị rà lục xét… Trong vùng quê, tổ chức Bingtuan, một tổ chức bán quân sự của di dân Hán - hiện nay chủ nhơn khai thác trên 1/3 tài sản đất của Tân Cương - hợp tác cùng quân đội Nhân dân Trung Cộng để kiểm soát và cai trị dân bản xứ và dân không phải gốc hán. Kiểm soát chặt chẻ nhưng cũng kiểm soát lộ liểu rõ ràng một cách tuyên truyền, quảng cáo, đe dọa để dân bị trị thấy rõ và dân bị trị  « phải » sợ cái sức mạnh của Hán trị.  

Ürümqi, thủ đô Tân Cương, với những hàng lang xa lộ cao tốc, nổi tiếng là thành phố của kiểm soát bằng caméra. Hằng ngàn caméras, máy thâu hình, được bọc thép phòng tránh sự phá hoại, được bố trí trên toàn thể thành phố, từ góc đường, đến những quảng trường, chợ,  búa, công sở hay cả nhà hàng tiệm buôn …

Cứ mỗi 20 thước trên con đường, một cổng sắt với khoảng một chục caméras, mỗi xe chạy qua, mỗi xe đạp, mỗi bộ hành đi lại, trên đường, trên lề, hai chiều, mỗi người đều bị chụp hình hai lần : trước mặt  và sau lưng. Ban đêm, tiếng phát động  và ánh chớp của đèn hoạt động liên tục mỗi khi vcó người hay thú vật qua lại. 

Dỉ nhiên, không một tiếng than vãn. Nếu hỏi một người Uyghur thì chúng ta sẽ nghe bài ca con cá của nhà cầm quyền và của Tân Hoa Xã rằng « ...là lỗi của bọn bọn khủng bố ly khai co nước ngoài xíu dục … » - ( bài ca nầy nghe sao quen quen quá vậy ?).
Chúng tôi - lời của cô phóng viên - rất khó khăn mới gặp một người đủ can đảm nói sự thật. 

Tên ông ấy là Sidik – ta cứ gọi ông là Sidik – nói cho biết rằng từ ngày ông ấy về hưu, ông cảm thấy bớt bị dòm ngó. Nhưng ông vẫn, vừa nói chuyện với chúng tôi, vừa đảo cặp mắt ngó láo ngó liên, nhìn trước nhìn sau qua khung cửa sổ của tiệm cà phê. Ông nói rất nhỏ và càng nhỏ hơn, mỗi khi có khách đi gần cửa sổ. « Ở đây, gián điệp đầy rẩy, ai cũng có thể làm gián điệp cả. Cứ 5 người Uyghur, là có ít nhứt 2/3 người – Sidik quả quyết như vậy, Tại sao ? Vi tiền : 1800 nguyên tệ -yuan (210 euros- 180 dollars) là lương tháng, và thêm 300 yuans mỗi chỉ điểm đúng ». Mà biên giới giữa đúng /sai chỉ biết được sau một cuộc điều tra và tra tấn. Vì vậy, những toán  chỉ điểm, rình rập, dòm ngó ở mọi góc mọi khu phố, góc đường của Thủ đô nầy. mỗi nghi ngờ, mỗi « cái gì lạ, người lạ, vật lạ đều phải kiểm soát ».

Ở Tân cương, các cơ quan công an không có luật lệ gì cả. Thích bắt ai thì bắt, thích hỏi giấy ai thì hỏi. Người bị bắt đi mất tích, không có việc phải thông báo cho gia đình. « Gia đình bằng mọi giá phải tìm tung tích người bị mất tích. Và vì gia đình cũng sẳn sàng trả những số tiền rất lớn cho các cơ quan công an để tìm người thân, và trả những giá lớn hơn để người thân được thà. Nên biến thành một business lớn ! Nhiều khi được việc, nhưng nếu chạy trật chổ, hoặc kém tiền, hoặc « bị » gọi là chánh trị, thế là người thân mất tích luôn ! »

Nhưng vừa qua cũng có những hiện tượng mới, một người bị bắt. Gia đình đến sở công an thăm hỏi. Xong xảy ra ấu đả, gia đình dùng dao kiếm xông vào giải cứu, đánh nhau với công an, thoạt đầu chỉ dùng dao, kiếm, rựa, côn,  nhưng nay có cả cocktail Molotov và đã có vài cơ sở công an Hán bi đốt rồi. Và những toán công an xung phong chống « du đảng » được thành lập và đã có những khu người uyghurs bị đàn áp, nhà cửa bị đốt cháy, san bằng, hàng trăm người bị bắt. Và nhà cầm quyền vẫn tiếp tục  tố cáo các “phẩn tử phản động ky khai do nước ngoài xúi dục giựt dây .. ». 

Và Việt Nam :
Bảo tàng viện lịch sử HD-981. Tranh Babui.
Bảo tàng viện lịch sử HD-981. 

Tình hinh Việt Nam có vẽ hoà hoản, mặc dù, Hoàng sa Trường sa ngày nay vẫn không biết thuộc về ai ? Biển Đông bớt động, vì Tàu để yên cho Việt Nam hay vì trong mùa bão ? 

Bài phóng sự trên về Tân Cương báo cho chúng ta biết một ngày mai không lấy gì sáng sủa cho Việt Nam khi đi “chơi với Trunh Cộng”. 
Viễn tượng Hán hoá một ngày một trầm trọng. 

Xin đồng bào thử kiểm kê xem trong nước ngày nay có bao nhiêu phần trăm cơ sở Tàu Cộng. Thử xem mỗi buổi sang ra đường đếm thư gặp bao nhiêu người Tàu, dùng bao nhiêu hàng hóa Tàu, ăn bao nhiêu món tàu… ? 
Bao lâu nay, người viết chúng tôi bạn bè người viết chúng tôi, anh em chúng ta đếu nhìn thấy hiện tượng đất nước chúng ta đang đi trên con đường Hán hóa. Cũng như chúng ta, mọi người dân trong nước, mọi người tỵ nạn hải ngoại, chúng ta đều nhìn thấy hiện tượng mất Độc lập, mất Tự do đối với Trung Cộng. 

Các người phục vụ cho nhà cầm quyền, các đảng viên đảng Cộng sản đương quyền, quý vị cũng thấy quý vị chẳng có thực quyền vì nhứt cử nhứt động đều do Trung Cộng ra lệnh cả, Các quân nhơn Quân đội Nhân dân, các thủy thủ Hải quân Nhân dân,  quý vị có thấy nhục không là quý vị, trong đất liền bị Tàu cướp biên giới, ngoài biển cả thì bị Thuyền lạ Trung Cộng khiêu khích,  chèn ép mà quý vị không được quyền chống trả… 
Tất cả còn chờ gì mà không đuổi những tai to mặt lớn, ăn cơm quốc gia Việt Nam, thờ ma Cộng sản Tàu, ăn trên ngồi tróc xuống, tham nhũng,  nhà cao cửa rộng mà chỉ bán nước bán biển, hà hiếp nhân dân, quý vị có súng trong tay, có quân dưới trướng, quý vì chờ gì nữa mà không lấy lại quyền tự quyết, tự chủ, thật sự cầm quyền trả Độc lập lại, lấy Tự do, Dân chủ lại cho người dân Việt Nam  

Quý vị có muốn thấy một viễn ảnh một Việt Nam bị Hán hóa,  quý vị có muốn nhân dân Việt Nam ta có một cuộc sống trong hãi hùng, lo âu, như dân Tân cương hay như dân Tây Tạng  hiện nay không ?  

Thay lời Kết 

 Người dân Việt Nam đã sống với chế độ Cộng sản quốc tế quá lâu rồi, 70 năm với dân miền Bắc, 40 năm với dân miền Nam, như vậy đủ lắm rồi. Bài học đã quá thấm rồi, đất đã mất biên giới – Tàu Ta đi lại thông thương như trong một nhà - biển đã mất hải đảo, hải phận - biển Ta nay thành biển Tàu - công dân mất quyền con người, nhơn phẩm thì mất đạo mất đức, người nghèo càng đông nạn đói còn đầy, dân chúng đã thấm mệt, lòng người đã chán nãn, và nạn Hán hóa ngay trong nhà! Vậy thì, còn chần chờ gì nữa

Đã đến lúc tất cả đồng bào Việt Nam, quân dân cán chánh phải đứng dậy  đuổi  dẹp bỏ chế độ ấy đi ! 
Hãy trả Việt Nam lại cho người Việt Nam

Phan Văn Song

VIỄN TƯỢNG: VIỆT NAM, MỘT TÂN CƯƠNG MỚI ?

Du lịch trong xứ của hãi hùng (1)

Hình bên: Các nhà hoạt động tại Ðài Bắc ăn mặc như một binh sĩ Trung Quốc và một nhà sư Tây Tạng để diễn lại cảnh cuộc nổi dậy chống Trung Quốc.

Tuần qua, thế giới Âu châu đầy rẫy những tin tức nóng, cuốc chiến Israël-Palestine, quân đội Tsahal của Israël pháo kích hằng ngày dãi đất Gaza thuộc Palestine để tiêu diệt quân của phái Hamas đồng chủ nhiệm Palestine, gây tang tóc và thương vong lớn cho thường dân. Dĩ nhiên quân Hamas cũng không kém chi hằng ngày phóng từng đợt hỏa tiễn vào Israël, mặc dù với một giàn lưới hỏa tiển chống hỏa tiên Israël cũng bị ít nhiều thiệt hại người và vật.

Và trong lúc ấy tình hình chiến sự ở Syrie, ở Mali, ở Irak không có kênh truyền hình nào nói đến nữa, nhưng các nơi ấy chắc chắn chiến sự vẫn tiếp diễn, thương vong vẫn còn, và nhơn dân ở các nới vẫn  bị chà đạp. lòng thương người, lòng bác ái bị dẫn dắt theo truyền tin , thông tin, sức mạnh thứ tư dư luận quần chúng cứ thế mà trôi theo luồn thông tin. Ở Pháp, dân chúng động lòng trắc ẩn thương vong Palestine và thường dân Palestine, nên những tổ chức phái tả tổ chức biểu tình chống Israël. Một ngọn gió chống Do thái cũng thoáng thoáng thổi vào các bất mãn xã hội. Và các nhóm phá hoại ăn có phá hoại đập phá. Nước Pháp đang cần một chánh sách cứng rắn để lập lại nội an.

Cuộc phá hoại vừa qua thoạt đầu chia rẽ dư luận chánh trị, vì Đảng nào cũng muốn kiếm phiếu tương lai, tìm những khó khăn của chánh phủ để triệt hạ chánh phủ xã hội. Nhưng nay đã bắt đầu vì dư luận quần chúng thật sự sợ sự phá hoại nên đã bắt đầu có một sự ủng hộ đòi hỏi một sự cứng rắn an ninh, cả các nhóm và đảng phái đối lập phái hữu cũng lên tiếng ủng hộ Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ và yêu cầu chánh phủ dùng mọi biện pháp bảo vệ an ninh.

Âu đây cũng là một dịp để chánh phủ Pháp lập lại trật tự và dẹp những phần tử phá hoại ! Nhưng tin nóng đặc biệt là tin chiếc máy bay của Malaysian Airlines số MH 17 bị quân đội ly khai Ukraine bắn hạ. Thế giới xúc động bất mãn bởi trò chơi chánh trị của Tổng thống Poutine nên đang buộc Nga phải đàng hoàng trở lại, phải kiểm soát đám âm binh quân ly khai Ukraine thân Nga, hãy nhìn vào đám « quân dân ly khai » với những bộ mặt sát khí, hoâc bị mặt, mất cảm tình ngay, làm sao ủng hộ được nhóm người nếu mặc giả họ có chánh nghĩa đi nữa ?

Đòi hỏi quyền tự quyết, xin « được » mất Độc lập, mặc dù chỉ là một thiểu số, nếu có sự ủng hộ của một cường quốc, với súng đạn có phải là chánh nghĩa không ? Và giả thử  nếu ngày mai, một nhóm thiểu số ở Viêt Nam đòi Việt Nam nhập vào Trung Hoa, hay được Trung Cộng che chở ? . , . 

Đòi Nga đàng hoàng ? khó lắm,  cũng như đòi Tàu đàng hoàng, là cả một vấn đề cho nền chánh trị thế giới…Mỹ qua thời Roosevelt đã bị gạt bởi Hiệp Ước Yalta, Nixon bị gạt đi đêm với Tàu, Việt Nam là nạn nhơn của cuộc đi đêm ấy !.

Về mặt địa lý quân sự và chiến lược Nga như Tàu là những địa hình kẹt sâu trong đất liền, không có lối thoát ra Đại dương lớn để tung hoành với bốn bể năm châu. Nga tuy có cửa biển lớn đấy nhưng  ở vùng những biển cực Bắc, nửa năm băng giá : Océan Arctique hay Bắc Thái Bình Dương, những cửa ngõ vế miền Nam ấm áp qua Địa Trung Hải hay Đại tây Dương không có, vì vậy phải tìm lối thoát qua các quốc gia láng giềng : Bélarus, Ukraine qua bán đảo Crimée. Cũng như Tàu phải tim lối thoát xuống Biển Đông Việt Nam vậy. Nhìn những hành động Nga đối với Ukraine, ta hiểu ngay những hành động Tàu đối với Việt Nam, và lo lắng cho thân phận Việt nam !

Tân Cương 2014 :

Tháng bảy 2014, thế giới Hồi Giáo đi vào Tháng Chay Ramadan (tháng thứ 9 của lịch Hồi, tháng Ramadan). Tục lệ Hồi giáo không định trước ngày vào Tháng Chay. Lịch Hồi Giáo theo hệ thống Trăng-Âm lịch, chỉ tập trung vào sự có mặt của ánh trăng. Vì vậy tháng trước của tháng Chay Ramadan –tháng Chaabane, vào ngày thứ  29, tất cả các giáo dân Hồi giáo quan sát kỹ bầu trời đi tìm sự có mặt của Trăng lưỡi liềm – hilal . Nếu thấy, Tháng Chay bắt đầu ngày hôm sau, và ngày lễ dứt tháng Ramadan -Aïd al-Fitr bắt đầu ngày 1 tháng sau tháng Chawwal   (l’Aïd al –Fitr ở Pháp  là ngày 29 tháng Bảy năm 2014 hay năm 1425 của lịch Hồi giáo). Vì vậy những ngày đầu và nhưng ngày cuối của tháng chay có thể không cùng một ngày trong thế giới Hồi giáo.

Đó là trên Thế giới, nhưng ở Tân Cương, Trung Hoa Cộng sản, nhà cầm quyền Trung Cộng cấm một số các giáo dân người Hoa gốc Hồi giáo ăn chay : công nhơn viên, giáo chức luôn cả khi đã về hưu và sanh viên. Về mặt tuyên truyền, nhà cầm quyền khuyến khích, những bữa ăn chung công cộng trong ngày, và cho phổ biến những hình ảnh bữa ăn chung của các giáo dân trong ngày (Trong suốt tháng Ramadan, các giáo dân Hồi nhịn ăn uống trong ngày khi có  mặt trời, và chỉ ăn uống vào đêm). Ngoài ra, nhà cầm quyền trung ương còn ra chỉ thị những cầm quyến địa phương dùng bằng mọi phương tiên ngăn chận giáo dân hội họp hay lễ lạc, đi lại các Chùa Hồi-Mosquée.

Đây là những khó khăn của 9 triệu người Hồi giáo gốc Uyghur- một sắc dân hậu duệ của Thành Cát Tư Hản, của Koubilaï Khan, củaTimour Khan…một thời oanh liệt, đã lẫy lừng chinh phục suốt một vùng đất bao la. Phát xuất từ những cánh đồng cỏ Mông cổ, họ đã một thời ngự trị đất Trung Hoa phía Đông và những đất mầu mỡ phía Tây tận Âu châu. Dân Uyghur nói ngôn ngữ Thổ nhỉ Kỳ giống như các quốc gia láng giềng, cựu Liên bang Sô Viết, nằm dọc trên đường tơ lụa: Kazakhstan, Ouzbékistan, Kirghizistan, Tadjikistan, Turkemistan.

Mỗi ngày của cuộc sống một thường dân Uyghur là cả một sự hãi hùng, đàn áp và bắt bớ vô tôi vạ của Công ban Trung Cộng.

Tân Cương, Xinjiang, hay Đông Turlestan là một trong 5 vùng Tự trị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, với một chế độ đặc biệt như Nội Mông, như Tây Tạng với một diện tích rộng 1 triệu 660 ngàn cậy số vuông, chiếm 1/6 đất nước Trung Hoa, thủ phủ là Ürümqi. Theo thống kê dân số năm 2010, Tân Cương có khoảng 20 triệu dân với 45% dân bản xứ Uyghur, 7% dân Kazakhs, 1% người Kirghizes, là những dân bạn đồng tôn giáo Hồi, đồng ngôn ngữ gốc Thổ Nhỉ Kỳ cùng gốc chủng tộc họ hàng, cộng thêm 5% dân Hui, 1% dân Mông cổ…và cuối cùng 41% mới thật sự là người Hán – nhưng số người càng ngày càng đông hơn vì được nhập cảng vào, nhứt là ở các thành phố chánh – Ürümqi, thủ đô Tân Cương có 70% dân số là người Hán -  để chiếm đất, bành trướng dân.

( Đây là một chánh sách,  Hán hoá ngày nay đang và đã được áp dụng tại Tây Tạng, Nội Mông và các tỉng tự trị và ngày nay … đang ở Việt Nam và … Phi Châu ).

Và chúng ta hiểu tại sao tại Tân cương, luôn luôn âm ỉ một phong trào chống Hán, và nhiều cuộc nổi loạn, nhưng chúng ta và dư luận thế giới ít nghe nói đến vì thông tin Tàu đã bưng bít. Tân Cương ngày nay là đất Tàu, Tân Cương bị chiếm đóng một cách quân sự.

Sau đây người viết xin dịch lại một phóng sự do một người Pháp, du lịch trà trộn vào Tân Cương kể lại và được đăng trên báo Nouvel Observateur số 02228 tuần cuối tháng Ba qua đầu tháng tư 2014 :

 « Đây là  một cuộc động đất một « 11 tháng 9 » tàu : đầu năm 2014, một nhóm Yyghurs dùng dao kiếm khủng bố hành khách người Hán tại nhà ga thành phố Kunming : 34 người chết và 130 bị thương. Và tháng mười năm trước, ngay tại quảng trường Tiananmen - Thiên An Môn, ngay tại thủ đô Beijing, một kamikaze uyghur dùng xe xông vào nhóm du lịch ngoại quốc làm thiệt mạng ba người, dưới sự chứng kiến của chân dung khổng lồ của Mao.

Vì vậy, với dân Hán ngày nay, Uyghur đồng nghĩa với « sát nhơn» và Tân Cương « sào huyệt bọn khủng bố ».

Nhưng nếu ta muốn biết sự thật, thì hãy cùng phóng viên Ursula Gauthier, đi thăm Xinjiang để sống cái mọi ngày của dân Uyghur. Cách Beijing, 3500 cây số, vùng Tân Cương khô cằn của Trung Á, nhưng với một diện tích  1triệu 660 ngàn cây số vuông, với lòng đất giàu có, đầy khoáng sản, đầy dầu mỏ, khí đốt nhưng người dân bản xứ đang sống đời sống đầy đọa của những người nô lệ đang sống trong một vùng bị chiếm đóng với một chánh sách công an trị và quân sự hóa.

Từ những vùng xanh mát-oasis dọc theo dãi đường sa mạc khô cằn của cựu con đường tơ lụa ngàn xưa, cho đến những thành phố mới mọc với các cao ốc nhiều từng, con đường du lịch của khách lữ hành đều bị những chặn quân sự chận kiểm soát, với những xe thiết giáp, với những quân xa đầy lính tráng trang bị súng lớn súng nhỏ, với những hàng kẻm gai ngăn chặn, những giấy tờ phải đưa ra, những hành lý bị rà lục xét… Trong vùng quê, tổ chức Bingtuan, một tổ chức bán quân sự của di dân Hán - hiện nay chủ nhơn khai thác trên 1/3 tài sản đất của Tân Cương - hợp tác cùng quân đội Nhân dân Trung Cộng để kiểm soát và cai trị dân bản xứ và dân không phải gốc Hán. Kiểm soát chặt chẽ nhưng cũng kiểm soát lộ liễu rõ ràng một cách tuyên truyền, quảng cáo, đe dọa để dân bị trị thấy rõ và dân bị trị  « phải » sợ cái sức mạnh của Hán trị. 

Ürümqi, thủ đô Tân Cương, với những hàng lang xa lộ cao tốc, nổi tiếng là thành phố của kiểm soát bằng caméra. Hằng ngàn caméras, máy thâu hình, được bọc thép phòng tránh sự phá hoại, được bố trí trên toàn thể thành phố, từ góc đường, đến những quảng trường, chợ,  búa, công sở hay cả nhà hàng tiệm buôn …

Cứ mỗi 20 thước trên con đường, một cổng sắt với khoảng một chục caméras, mỗi xe chạy qua, mỗi xe đạp, mỗi bộ hành đi lại, trên đường, trên lề, hai chiều, mỗi người đều bị chụp hình hai lần : trước mặt  và sau lưng. Ban đêm, tiếng phát động  và ánh chớp của đèn hoạt động liên tục mỗi khi vcó người hay thú vật qua lại.

Dĩ nhiên, không một tiếng than vãn. Nếu hỏi một người Uyghur thì chúng ta sẽ nghe bài ca con cá của nhà cầm quyền và của Tân Hoa Xã rằng « ...là lỗi của bọn bọn khủng bố ly khai có nước ngoài xúi dục … » - ( bài ca nầy nghe sao quen quen quá vậy ?).

Chúng tôi - lời của cô phóng viên - rất khó khăn mới gặp một người đủ can đảm nói sự thật.

Tên ông ấy là Sidik – ta cứ gọi ông là Sidik – nói cho biết rằng từ ngày ông ấy về hưu, ông cảm thấy bớt bị dòm ngó. Nhưng ông vẫn, vừa nói chuyện với chúng tôi, vừa đảo cặp mắt ngó láo ngó liên, nhìn trước nhìn sau qua khung cửa sổ của tiệm cà phê. Ông nói rất nhỏ và càng nhỏ hơn, mỗi khi có khách đi gần cửa sổ. « Ở đây, gián điệp đầy rẩy, ai cũng có thể làm gián điệp cả. Cứ 5 người Uyghur, là có ít nhứt 2/3 người – Sidik quả quyết như vậy, Tại sao ? Vi tiền : 1800 nguyên tệ -yuan (210 euros- 180 dollars) là lương tháng, và thêm 300 yuans mỗi chỉ điểm đúng ». Mà biên giới giữa đúng /sai chỉ biết được sau một cuộc điều tra và tra tấn. Vì vậy, những toán  chỉ điểm, rình rập, dòm ngó ở mọi góc mọi khu phố, góc đường của Thủ đô nầy. mỗi nghi ngờ, mỗi « cái gì lạ, người lạ, vật lạ đều phải kiểm soát ».

Ở Tân cương, các cơ quan công an không có luật lệ gì cả. Thích bắt ai thì bắt, thích hỏi giấy ai thì hỏi. Người bị bắt đi mất tích, không có việc phải thông báo cho gia đình. « Gia đình bằng mọi giá phải tìm tung tích người bị mất tích. Và vì gia đình cũng sẳn sàng trả những số tiền rất lớn cho các cơ quan công an để tìm người thân, và trả những giá lớn hơn để người thân được thà. Nên biến thành một business lớn ! Nhiều khi được việc, nhưng nếu chạy trật chỗ, hoặc kém tiền, hoặc « bị » gọi là chánh trị, thế là người thân mất tích luôn ! »

Nhưng vừa qua cũng có những hiện tượng mới, một người bị bắt. Gia đình đến sở công an thăm hỏi. Xong xảy ra ấu đả, gia đình dùng dao kiếm xông vào giải cứu, đánh nhau với công an, thoạt đầu chỉ dùng dao, kiếm, rựa, côn,  nhưng nay có cả cocktail Molotov và đã có vài cơ sở công an Hán bi đốt rồi. Và những toán công an xung phong chống « du đảng » được thành lập và đã có những khu người Uyghurs bị đàn áp, nhà cửa bị đốt cháy, san bằng, hàng trăm người bị bắt. Và nhà cầm quyền vẫn tiếp tục  tố cáo các “phẩn tử phản động ky khai do nước ngoài xúi dục giựt dây .. ».

Và Việt Nam :

Tình hinh Việt Nam có vẽ hoà hoãn, mặc dù, Hoàng sa Trường sa ngày nay vẫn không biết thuộc về ai ? Biển Đông bớt động, vì Tàu để yên cho Việt Nam hay vì trong mùa bão ?

Bài phóng sự trên về Tân Cương báo cho chúng ta biết một ngày mai không lấy gì sáng sủa cho Việt Nam khi đi “chơi với Trunh Cộng”.

Viễn tượng Hán hoá một ngày một trầm trọng.

Xin đồng bào thử kiểm kê xem trong nước ngày nay có bao nhiêu phần trăm cơ sở Tàu Cộng. Thử xem mỗi buổi sang ra đường đếm thư gặp bao nhiêu người Tàu, dùng bao nhiêu hàng hóa Tàu, ăn bao nhiêu món tàu… ?

Bao lâu nay, người viết chúng tôi bạn bè người viết chúng tôi, anh em chúng ta đếu nhìn thấy hiện tượng đất nước chúng ta đang đi trên con đường Hán hóa. Cũng như chúng ta, mọi người dân trong nước, mọi người tỵ nạn hải ngoại, chúng ta đều nhìn thấy hiện tượng mất Độc lập, mất Tự do đối với Trung Cộng.

Các người phục vụ cho nhà cầm quyền, các đảng viên đảng Cộng sản đương quyền, quý vị cũng thấy quý vị chẳng có thực quyền vì nhứt cử nhứt động đều do Trung Cộng ra lệnh cả, Các quân nhơn Quân đội Nhân dân, các thủy thủ Hải quân Nhân dân,  quý vị có thấy nhục không là quý vị, trong đất liền bị Tàu cướp biên giới, ngoài biển cả thì bị Thuyền lạ Trung Cộng khiêu khích,  chèn ép mà quý vị không được quyền chống trả…

Tất cả còn chờ gì mà không đuổi những tai to mặt lớn, ăn cơm quốc gia Việt Nam, thờ ma Cộng sản Tàu, ăn trên ngồi tróc xuống, tham nhũng,  nhà cao cửa rộng mà chỉ bán nước bán biển, hà hiếp nhân dân, quý vị có súng trong tay, có quân dưới trướng, quý vì chờ gì nữa mà không lấy lại quyền tự quyết, tự chủ, thật sự cầm quyền trả Độc lập lại, lấy Tự do, Dân chủ lại cho người dân Việt Nam 

Quý vị có muốn thấy một viễn ảnh một Việt Nam bị Hán hóa,  quý vị có muốn nhân dân Việt Nam ta có một cuộc sống trong hãi hùng, lo âu, như dân Tân cương hay như dân Tây Tạng  hiện nay không ?

Thay lời Kết

Người dân Việt Nam đã sống với chế độ Cộng sản quốc tế quá lâu rồi, 70 năm với dân miền Bắc, 40 năm với dân miền Nam, như vậy đủ lắm rồi. Bài học đã quá thấm rồi, đất đã mất biên giới – Tàu Ta đi lại thông thương như trong một nhà - biển đã mất hải đảo, hải phận - biển Ta nay thành biển Tàu - công dân mất quyền con người, nhơn phẩm thì mất đạo mất đức, người nghèo càng đông nạn đói còn đầy, dân chúng đã thấm mệt, lòng người đã chán nãn, và nạn Hán hóa ngay trong nhà! Vậy thì, còn chần chờ gì nữa

Đã đến lúc tất cả đồng bào Việt Nam, quân dân cán chánh phải đứng dậy  đuổi  dẹp bỏ chế độ ấy đi !

Hãy trả Việt Nam lại cho người Việt Nam !

Phan Văn Song



Đọc tiếp:
  http://vietlyhuong.net/2014/07/du-lich-trong-xu-cua-hai-hung.html

TỪ NGỮ VC : Nhờ Bài Nói Này Mà Chúng Ta Tự Sướng

Tự sướng vì mình có khả năng biết ai là VK tỵ nạn , ai là VC hay thân CS vì đã không bảo quản được tiếng việt mến yêu trước 75, mà đã tiếp thu các từ mới của VC

Có một điều làm tôi không hiểu tại sao những người sống ở hải ngoại lại hay thường dùng những từ ngữ của Việt Cộng? Người Miền Nam trong nước lâu ngày bị Miền Bắc đồng hóa thành thói quen nên họ nói như vậy, thì cũng dể hiểu, có thể chấp nhận được. Nhưng những người sống ở hải ngoại mà viết nói như người Việt Cộng thì phải nên đặt dấu hỏi tại sao? Họ là những người thường xuyên về thăm quê nhà nên bị nhiễm? Họ là những người du học sinh? Họ là những người CS xin tỵ nạn.? Họ là những người được bác và đảng đưa ra nước ngoài để hoại động? Hay chính họ là Việt Cộng sống ở nước ngoài ?

Ngày xưa tôi làm việc ở Phòng 7 BTTM có nghiên cứu về CSVN. Được biết Người Cộng Sản cố tình sửa chữa và thay đổi lại những từ ngữ tiếng Việt để người dân Miền Bắc học tập sử dụng là để tránh những người tình báo gián điệp VNCH xâm nhập vào.

Thì chính bây giờ họ đi tới đâu, ai cũng biết họ là ai rồi, không thể dấu được. Gậy ông đập lưng ông.

Họ dùng Động từ tự sướng. Miền Nam nói là vui mừng.

Khi nghe câu tự sướng tôi cứ nghĩ đến là một người tự thủ dâm để sướng.

Mượn câu của Hải Triều và Lê Khắc Hai dưới đây.

Nếu Dân Tộc Việt Nam không chấm dứt chế độ cộng sản

Thì chế độ cộng sản sẽ chấm dứt Dân Tộc Việt Nam

Nguyễn Sơn.

Xin Lưu ý! Hãy cho Phổ Biến Khắp Nơi Rộng Rãi.

- Bảng đối chiếu từ ngữ của Việt Cộng và Việt Nam

Lời người giới thiệu:

-Có những từ ngữ của miền Nam và miền Bắc trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 viết và cách dùng giống nhau; nhưng đồng thời cũng có rất nhiều chữ viết giống y như nhau nhưng ý nghĩa (hoàn toàn khác biệt) dễ dàng gây “hoang mang” (confused) nếu người đọc (hoặc người nghe) không biết trước.

-Ở Việt Nam sau 1975, vì nhiều lý do, một số từ ngữ của miền Nam (VNCH) đã bị thay thế hẳn. Tuy nhiên văn hóa và truyền thông của cộng đồng người Việt tị nạn CS ở hải ngoại vẫn tiếp tục duy trì các từ ngữ VNCH.

-Đã có một số tác gia hiện đang sống ở hải ngọai viết về vấn đề gọi là “cái chết của ngôn ngữ Sài gòn cũ.” Cá nhân tôi không đồng ý với quan điểm là tiếng Sài Gòn cũ (VNCH) đã hoặc sẽ chết. Thực tế cho thấy dân số tị nạn CS tại hải ngọai gần 3 triệu người hàng ngày vẫn dùng và bảo tồn chữ Sài gòn cũ trong gia đình, trong các buổi thánh lễ ở nhà thờ, trong kinh sách vào những buổi lễ thuyết pháp Phật giáo, trong các sinh họat thiếu nhi thánh thể cũng như gia đình phật tử… Hiển nhiên chữ Sài Gòn cũ luôn luôn có sẵn và không hề thiếu thì hà cớ gì chúng ta phải dùng đến chữ của Vi=Ci (VC) (riêng sự việc người dân Việt đang sống trong trong nước phải dùng từ ngữ CS trong mọi liên lạc, văn hóa là chuyện cũng dể hiểu thôi...)

-Người Do thái sau khi tan hàng ở Palestine vì có thể bị diệt chủng (bởi áp lực của Hồi giáo và dân Ả rập) cả chục thế kỷ rồi. Họ cũng sống lưu vong khắp nơi trên thế giới giống như dân Việt tị nạn CS; Vậy mà khi vừa mới tái lập quốc gia Do thái ở khoảng năm 1950 là họ đã khai sinh ngay trở lại một tử ngữ (dead language) của họ, tiếng Hebrew, thành một sinh ngữ (living language). Với cái đà xuống dốc tệ hại của chủ nghĩa CS hiện nay ở Việt Nam thì cơ hội phục hưng của người quốc gia và sự trở lại tiếng Sài Gòn cũ không phải chỉ có trong ước mơ. Bây giờ chúng ta cứ vô tình dùng chữ ngây ngô của VC thi chẳng khác gì như vô hình chung chúng ta chấp nhận CS (tương tự như trang điện báo của đảng CSVN hoan hỉ phổ biến sự thao dượt hải quân của Trung cộng trên quần đảo trường sa và Hoàng sa của Việt Nam).

-Tôi cố gắng thu góp lại, từ nhiều bài viết của nhiều tác gỉa và từ kinh nghiệm cá nhân, một số từ ngữ (của VC và VNCH) thuộc lọai “dễ dàng gây hoang mang” này và tạm xếp vào một bảng đối chiếu dưới đây để quí vị rộng đường tham khảo; tùy ý sử dụng; và để may ra giúp quí vị tránh các trường hợp đáng tiếc (bị đồng bào chung quanh hiểu lầm “địa chỉ” của mình).

T.V.G.

o=0=o

Sau đây là Bản Đối Chiếu

TỪ NGỮ VC   &   TỪ NGỮ VNCH

Ấn tượng = Đáng ghi nhớ, đáng nhớ

Bác sỹ / Ca sỹ = Bác sĩ / Ca sĩ

Bang = Tiểu bang (State) (Vịt + nói chuyên trơ trẽn)

Bắc bộ / Trung bộ / Nam bộ = Bắc phần / Trung phần / Nam phần

Báo cáo = Thưa trình, nói, kể

Bảo quản = Che chở, giữ gìn, bảo vệ

Bài nói = Diễn văn

Bảo hiểm (mũ) = An toàn (mũ)

Bèo = Rẻ (tiền)

Bị (đẹp) = Không dùng động từ “bị;” chỉ dùng tĩnh từ (đẹp)

Bồi dưỡng (hối lộ?) = Nghỉ ngơi, tẩm bổ, săn sóc, chăm nom, ăn uống đầy đủ

Bóng đá = Đá Banh, Túc cầu

Bức xúc = Dồn nén, bực tức

Bất ngờ = Ngạc nhiên (surprised)

Bổ sung = Thêm, bổ túc

Cách ly = Cô lập

Cảnh báo = Báo động, phải chú ý

Cái A=lô = Cái điện thọai (telephone receiver)

Cái đài = Radio, máy phát thanh

Căn hộ = Căn nhà

Căng (lắm) = Căng thẳng (intense)

Cầu lông = Vũ cầu

Chảnh = Kiêu ngạo, làm tàng

Chất lượng = Phẩm chất tốt (chỉ đề cập phẩm “quality,” không đề cập lượng “quantity”)

Chất xám = Trí tuệ, sự thông minh

Chế độ = Quy chế

Chỉ đạo = Chỉ thị, ra lệnh

Chỉ tiêu = Định suất

Chủ nhiệm – Trưởng ban, Khoa trưởng

Chủ trì = Chủ tọa

Chữa cháy = Cứu hỏa

Chiêu đãi = Thết đãi

Chui = Lén lút

Chuyên chở = Nói lên, nêu ra

Chuyển ngữ = Dịch

Chứng minh nhân dân = Thẻ Căn cuớc

Chủ đạo = Chính

Co cụm = Thu hẹp

Công đoàn = Nghiệp đoàn

Công nghiệp = Kỹ nghệ

Công trình = Công tác

Cơ bản = Căn bản

Cơ khí (tĩnh từ!) = Cầu kỳ, phức tạp

Cơ sở = Căn bản, nguồn gốc

Cửa khẩu = Phi cảng, Hải cảng

Cụm từ = Nhóm chữ

Cứu hộ = Cứu cấp

Diện = Thành phần

Dự kiến = Phỏng định

Đại học mở = ???

Đào tị = Tị nạn

Đầu ra / Đầu vào = Xuất lượng / Nhập lượng

Đại táo / Tiểu táo = Nấu ăn chung, ăn tập thể / Nấu ăn riêng, ăn gia đình

Đại trà = Quy mô, cỡ lớn

Đảm bảo = Bảo đảm

Đăng ký = Ghi danh, ghi tên

Đáp án = Kết quả, trả lời

Đề xuất = Đề nghị

Đội ngũ = Hàng ngũ

Động não = Vận dụng trí óc, suy luận, suy nghĩ

Đồng bào dân tộc = Đồng bào sắc tộc

Động thái = Động lực

Động viên = Khuyến khích

Đột xuất= Bất ngờ

Đường băng = Phi đạo

Đường cao tốc = Xa lộ

Gia công = Làm ăn công

Giải phóng = Lấy lại, đem đi… (riêng chữ này bị VC lạm dụng rất nhiều)

Giải phóng mặt bằng = Ủi cho đất bằng

Giản đơn = Đơn giản

Giao lưu = Giao thiệp, trao đổi

Hạch toán = Kế toán

Hải quan = Quan Thuế

Hàng không dân dụng = Hàng không dân sự

Hát đôi = Song ca

Hát tốp = Hợp ca

Hạt nhân (vũ khí) = Nguyên tử

Hậu cần = Tiếp liệu

Học vị = Bằng cấp

Hệ quả = Hậu quả

Hiện đại = Tối tân

Hộ Nhà = Gia đình

Hộ chiếu = Sổ Thông hành

Hồ hởi = Phấn khởi

Hộ khẩu = Tờ khai gia đình

Hội chữ thập đỏ = Hội Hồng Thập Tự

Hoành tráng = Nguy nga, tráng lệ, đồ sộ

Hưng phấn = Kích động, vui sướng

Hữu hảo = Tốt đẹp

Hữu nghị = Thân hữu

Huyện = Quận

Kênh = Băng tần (Channel)

Khả năng (có) = Có thể xẩy ra (possible)

Khẩn trương = Nhanh lên

Khâu = Bộ phận, nhóm, ngành, ban, khoa

Kiều hối = Ngoại tệ

Kiệt suất = Giỏi, xuất sắc

Kinh qua = Trải qua

Làm gái = Làm điếm

Làm việc = Thẩm vấn, điều tra

Lầu năm góc / Nhà trắng = Ngũ Giác Đài / Tòa Bạch Ốc

Liên hoan = Đại hội, ăn mừng

Liên hệ = Liên lạc (contact)

Linh tinh = Vớ vẩn

Lính gái = Nữ quân nhân

Lính thủy đánh bộ = Thủy quân lục chiến

Lợi nhuận = Lợi tức

Lược tóm = Tóm lược

Lý giải = Giải thích (explain)

Máy bay lên thẳng = Trực thăng

Múa đôi = Khiêu vũ

Mĩ – Mỹ= (Hoa kỳ =USA)

Nắm bắt = Nắm vững

Nâng cấp = Nâng, hoặc đưa giá trị lên

Năng nổ = Siêng năng, tháo vát

Nghệ nhân = Thợ, nghệ sĩ

Nghệ danh = Tên (nghệ sĩ = stage name) dùng ngoài tên thật

Nghĩa vụ quân sự = Đi quân dịch

Nghiêm túc = Nghiêm chỉnh

Nghiệp dư = Đi làm thêm (2nd job / nghề phụ, nghề tay trái)

Nhà khách = Khách sạn

Nhất trí = Đồng lòng, đồng ý

Nhất quán = Luôn luôn, trước sau như một

Người nước ngoài = Ngoại kiều

Nỗi niềm (tĩnh từ!) = Vẻ suy tư

Phần cứng = Cương liệu

Phần mềm = Nhu liệu

Phản ánh = Phản ảnh

Phản hồi = Trả lời, hồi âm

Phát sóng = Phát thanh

Phó Tiến Sĩ = Cao Học

Phi khẩu = Phi trường, phi cảng

Phi vụ = Một vụ trao đổi thương mại (a business deal = thương vụ)

Phục hồi nhân phẩm = Hoàn lương

Phương án = Kế hoạch

Quá tải = Quá sức, quá mức

Quán triệt = Hiểu rõ

Quản lý = Quản trị

Quảng trường = Công trường

Quân hàm = Cấp bực

Quy hoạch = Kế hoạch

Quy trình = Tiến trình

Sốc (“shocked)” = Kinh hoàng, kinh ngạc, ngạc nhiên

Sơ tán = Tản cư

Sư = Sư đoàn

Sức khỏe công dân = Y tế công cộng

Sự cố = Trở ngại

Tập đòan / Doanh nghiệp = Công ty

Tên lửa = Hỏa tiễn

Tham gia lưu thông (xe cộ) = Lưu hành

Tham quan = Thăm viếng

Thanh lý = Thanh toán, chứng minh

Thân thương = Thân mến

Thi công = Làm

Thị phần = Thị trường

Thu nhập = Lợi tức

Thư giãn = Tỉnh táo, giải trí

Thuyết phục (tính) = Có lý (makes sense), hợp lý, tin được

Tiên tiến = Xuất sắc

Tiến công = Tấn công

Tiếp thu = Tiếp nhận, thâu nhận, lãnh hội

Tiêu dùng = Tiêu thụ

Tổ lái = Phi hành đòan

Tờ rơi = Truyền đơn

Tranh thủ = Cố gắng

Trí tuệ = Kiến thức

Triển khai = Khai triển

Tư duy = Suy nghĩ

Tư liệu = Tài liệu

Từ = Tiếng, chữ

Ùn tắc = Tắt nghẽn

Vấn nạn = Vấn đề

Vận động viên = Lực sĩ

Viện Ung Bướu = Viện Ung Thư

Vô tư = Tự nhiên

Xác tín = Chính xác

Xe con = Xe du lịch

Xe khách = Xe đò

Xử lý = Giải quyết, thi hành

(… còn tiếp)

* Quý vị nào thấy có thêm những chữ loại này ở đâu đó (?) hoặc thấy sự đối chiếu chưa đúng (!) thì xin vui lòng mách dùm để nhà cháu bổ túc (không phải bồ sung) và sửa đổi cho đúng (không phải là hoàn chỉnh) mà sửa chữa (chứ không phải sửa đổi), và cũng để mọi người cùng phấn khởi (không phải là hồ hởi) mà tham khảo. Xin Đa tạ…

Trần Văn Giang [ghi chép lại]

TCB tôi sưu tầm.

Trần Văn Giang

Không chửi không chịu được: 39 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ THẾ NÀO ?

Nhận định:
39 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ THẾ NÀO, HIỆU QUẢ RA SAO?


       
Xứ của những người mù      Bài viết này được gửi đến độc giả trong và ngòai Việt Nam, nhân đọc Thư ngỏ của 61 đảng viên cộng sản từng giữ các chức vị cao cấp trong bộ máy Đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt Nam, tiêu biểu là những đảng viên kỳ cựu và nổi tiếng như tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, giáo sư Hoàng Tụy, giáo sư Tương Lai, Nguyễn Trung, Huỳnh Kim Báu, Nguyên Ngọc, Hạ Đình Nguyên, Kha Lương Ngãi, Tô Nhuận Vỹ, Lữ Phương, Nguyễn Thị Kim Chi, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Đăng Doanh, Chu Hảo, Phạm Chi Lan...
     Đây có thể coi như một sự phản tỉnh tập thể muộn màng, song  vẫn chỉ là sự “Phản tỉnh nửa với” vì mới chỉ phản tỉnh về mặt nhận thức (thấy được những cái sai mà ai cũng đã biết của đảng CSVN trong quá khứ về đối nội cũng như đối ngoại dẫn đến hậu quả nghiêm trọng toàn diện, di hại lâu dài cho Đất nước và dân tộc. Điều mà mọi người Việt Nam trông chờ không chỉ là những lời kêu gọi “đảng CSVN tự nguyện, tự giác thay đổi” (điều mà nhiều cá nhân cũng như tập thể các đảng viên CS đã làm từ lâu song vẫn vô hiệu) mà là hành động tiếp theo cụ thể, quyết liệt và dứt khoát có tác dụng làm chuyển biến tình hính đất nước theo chiếu hướng có lợi cho công cuộc dân chủ hóa Việt Nam. Tỷ như khởi sự bằng sự từ bỏ tập thể của 61 đảng viên cộng sản ký tên trong Thư Ngỏ, sau đó lôi kéo toàn thể đảng viên cộng sản phản tỉnh hiện còn dấu mặt công khai từ bỏ đảng CSVN để tạo áp lực thừa đủ buộc nhóm lãnh đạo chóp bu của đảng dù ngoan cố đến đâu cũng phải chuyển đổi hay là chết.
vtt-35-phamtran


     Khoảng một năm sau ngày xâm chiếm được Miền Nam, một cuộc mít-tinh ăn mừng chiến thắng vào dịp Lễ Lao Động Quốc Tế 1-5-1976 (nếu chúng tôi nhớ không lầm).Một lễ đài lộ thiên được dựng lên trước cổng Dinh Độc Lập Sài Gòn(sau 30-4-1975 đổi là Dinh Thống Nhất ), với đầy đủ các lãnh tụ hàng đầu của Cộng Đảng và nhà nước Việt cộng (Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng…) và của cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) với Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) vốn là công cụ quân sự và chính trị của Cộng đảng Việt Nam (Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Huỳnh Tấn Phát…). Trong bài phát biểu tại cuộc mít-tinh này, Tổng Bí Thư Cộng Đảng Việt Nam lúc đó là Lê Duẩn đã mạnh miệng nói đại ý rằng: “đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhất định sẽ xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam sau 15 đến 20 năm nữa”.
      Thế nhưng bây giờ đã hơn 39 năm qua kể từ ngày cưỡng chiếm được Miền Nam thống nhất đất nước, Lê Duẩn và hầu hết các lãnh tụ hàng đầu Cộng Đảng Việt Nam đã đi vào lòng đất, còn Việt cộng đã “xây dựng xã hội chủ nghĩa” như thế nào, hiệu quả ra sao?

1.- Từ lý luận Marxism về xã hội xã hội chủ nghĩa (socialism society).
            Karl Marx và F. Angel những triết gia người Đức đã hình thành nền triết học duy vật, trên đó Marx đã xây dựng chủ nghĩa cộng sản, nên còn gọi là chủ nghĩa Mác-xít (Marxism).
         Theo lý luận Marxism (duy vật lịch sử): Từ khi con người xuất hiện trên hành tinh này đã trải qua 4 hình thái xã hội có tính tổ chức từ thấp đến cao: Xã hội cộng sản nguyên thủy (Primitive communism society: không giai cấp, chưa có tư hữu, chưa có nhà nước), xã hội chiếm hữu nô lệ (The slave-owning Society) bắt đầu có giai cấp, có tư hữu,hình thành giai cấp thống trị), xã hội phong kiến (Feudalism Society)xã hội tư bản (Capitalism Society:có nhà nước tư sản ngày một hoàn chỉnh).
        Tính giai cấp, tính tư hữu và tính nhà nước đã phát triển ngày một cao độ trong hai hình thái xã hội sau cùng này, tạo ra mâu thuẫn đối kháng đã là tiền đề cho một cuộc cách mạng vô sản, thông qua đấu tranh giai cấp để tiêu diệt giai cấp, để  hình thành hình thái xã hội sau cùng của loài người không còn giai cấp: “xã hội cộng sản hiện đại hay tiên tiến”(Modern or advanced communism Society), phát triển qua hai giai đoạn: “Xã hội xã hội chủ nghĩa”(Socialism Society:còn giai cấp, còn nhà nước, nhưng được cải tạo từng bước, dưới sự lãnh đạo duy nhất của một Cộng đảng, mệnh danh là đội tiên phong của giai cấp cống nhân hay vô sản, thông qua một nhà nước “chuyên chính vô sản”, quyền tư hữu hạn chế và tiêu vong dần, mọi người lao động theo năng lực, hưởng theo sức lao động bỏ ra…) tiến tới “Xã hội cộng sản chủ nghĩa”(Communism Society) viên mãn là “Thiên đường Cộng sản” trong một thế giới đại đồng(không còn biên giới quốc gia,không còn giai cấp, không còn bộ máy nhà nước, mọi quan hệ xã hội vận hành tự động, mọi người lao động tự giác, làm theo hết năng lực và được thỏa mãn mọi nhu cầu. Vì lúc đó tài hóa xã hội dư thừa có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của mọi người, của toàn xã hội, mọi người đều sống ấm no, hạnh phúc trong tình hữu ái như thiên đường nơi trần thế: Thiên đường cộng sản!?!)
      Thế nhưng thực tế ra sao, đến nay thì mọi người đã biết: Liên Xô, nước đầu tiên, sau hơn 70 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ (1917-1991), kéo theo sự sụp đổ toàn hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu để cùng chuyển thể qua xây dựng “xã hội tư bản chủ nghĩa”.(Capitalism society). Việt Nam là một trong bốn nước gọi là xã hội chủ nghĩa còn sót lại thì thực tế ra sao? Họ đã đang xây dựng “xã hội xã hội chủ nghĩa” như thế nào, hiệu quả ra sao?

2.- Đến thực tế Việt cộng xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam 39 năm qua như thế nào?
        Như mọi người đã biết, chỉ một năm sau ngày chiếm đoạt được Miền Nam (30-4-1975) bằng vũ lực, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam, Việt cộng đã giải tán các công cụ quân sự và chính trị một thời là MTDTGPMN và CPCMLTCHMNVN, thống nhất đất nước và đưa cả nước “Đi lên xã hội xã hội chủ nghĩa”. (The socialism society)
         Trên thực tế, theo nhận định của chúng tôi, Việt cộng đã tiến hành công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa theo một tiến trình với các bước thưc hiện giống y như Liên Xô đã làm, kể từ sau khi Cộng đảng Liên Xô lật đổ được chế đô Nga Hoàng quân chủ chuyên chế, giành được chính quyền vào năm 1917.
         Theo đó, một cách tổng quát, Cộng đảng Việt Nam đã họp Đại Hội IV (1976) cũng đưa ra một “Thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa” với chủ trương “ Đi lên xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, thực hiện  bằng chính sách “Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của xã hội chủ nghĩa”. Chính sách này thực hiện qua hai kế hoạch ngũ niên (1975-1985) bị thất bại, Cộng Đảng Việt Nam đã họp Đại Hội VI (1986) đưa ra chủ trương “Đổi Mới” tương tự như Liên Xô đưa ra chủ trương và thực hiện “chính sách Kinh tế mới” sau khi kế hoạch ngũ niên lần thứ nhất bị thất bại(1918-1922). Qua hai kế hoạch ngũ niên (1985-1995) thực hiện chủ trương “đổi mới” bằng chính sách sửa đổi vá víu không hiệu quả, Cộng đảng Việt Nam đã họp Đại Hội VIII (1996) đưa ra chủ trương “đi lên xã hội chủ nghĩa thông qua kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, thực hiện bằng chính sách “Mở cửa” với bên ngoài.Chủ trương chính sách này được thực hiện qua ba kế hoạch ngũ niên (1996-2010) và sau Đại Hội XI (2011) Cộng đảng Việt Nam vẫn đưa ra nghị quyết tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách này.
         Sau đây chúng tôi sẽ trình bầy chi tiết về nhận định tổng quát trên đây qua tiến trình và cách thức  Việt cộng thực hiện những chủ trương, chính sách trong “thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa”.

Thời kỳ quá độ “ Đi lên xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (1975-1995)
       
         Liên Xô sau khi đảng Cộng sản Bolsevick Nga, dưới sự lãnh đạo của Vladimir Lenine làm Cách Mạng Tháng 10 năm 1917 thành công, lật đổ được chế độ Nga Hoàng,  đã thiết lập “Nền chuyên chính vô sản” cưỡng ép những tiểu quốc lân bang trong vùng thành Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô viết, gọi tắt là Liên Xô. Ngay sau đó, Lenine và Cộng đảng Bolsevick Nga đã dùng “Chuyên chính vô sản” quyết tâm đưa Liên Xô “Đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
 (Đây là chủ trương của V. Lenine và Cộng đảng Liên Xô, khác với lý luận kinh điển của chủ nghĩa Marxism:rằng vào thời điểm chủ nghĩa tư bản phát triển đến tột cùng trên phạm vi toàn cầu, mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản (tức công nhân) không còn điều hòa được nữa, trở thành “mâu thuẫn đối kháng” (một mất một còn) với mọi giai cấp, với toàn xã hội. Đây là “Tình thế cách mạng chín mùi”, cách mạng vô sản nổ ra nhất định thành công (vì giai cấp tư bản độc quyền thống trị Nhà nước bị cô lập hoàn toàn), để sau đó “Đội tiên phong của giai cấp vô sản” tức các đảng Cộng sản ở mỗi nước sẽ lãnh đạo toàn dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng thành công “Xã hội xã hội chủ nghĩa”, tiến tới “Xã hội cộng sảntrên phạm vi toàn thế giới. Nghĩa là tiền đề cho sự xây dựng thành công “xã hội xã hội chủ nghĩa” phải thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa theo K. Mar, khác với luận điểm sau này của Lenine nên  mới có thuật ngữ chính trị Chủ nghĩa Marx-Lenine với ý nghĩa như là sự kết hợp luận lý về phương cách đi lên chủ nghĩa cộng sản tuy có khác, nhưng vẫn thống nhất về mục tiêu hiện thực lý  tưởng cộng sản chủ nghĩa).
         Sau khi cưỡng chiếm được Miền Nam, triệt tiêu chế độ Việt Nam Cộng Hòa (30-4-1975), Cộng đảng Việt Nam đã cho bầu quốc hội chung cho cả nước (25-4-1976), đổi danh xưng chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” thành “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
        Đại Hội IV Cộng đảng Việt Nam (Tháng 12-1976) cho đổi tên “Đảng Lao Động Việt Nam” thành “Đảng Cộng sản Việt Nam” và ra nghị quyết đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc “Đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, bắt chước giống như Liên Xô.( Dù tiền đề hai nước có khác: Liên Xô chủ nghĩa tư bản bước đầu phát triển đã hình thành được đội ngũ giai cấp công nhân – Việt Nam chủ nghĩa tư bản mới manh nha ở Miền Nam, cả nước công nghiệp còn ở thời kỳ lạc hậu,giai cấp công nhân chưa hình thành được đội ngũ và năng lực để đóng vai trò “Giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng”, nên cái gọi là “Đội tiên phong của giai cấp vô sản Việt Nam” Cộng đảng Việt Nam mới bao gồm phần đông nòng cốt là những trí thức tiểu tư sản như Trường Chinh Đặng Xuân Khu(gốc con địa chủ), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…Và cơ quan lý luận của Đảng mới đẻ ra luận điểm về “Liên minh công nông”, là giai cấp công nhân (chủ lực) liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo là nòng cốt của cách mạng Việt Nam…)
   Vậy trên thực tế Việt cộng đã thực hiện thế nào?
   
* Thực hiện chính sách “Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật  ban đầu của chủ nghĩa xã hội ” (1975-1985)
         Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenine, để tiến hành công cuộc  “Đi lên chủ nghĩa xã hội ” tại Việt Nam, nghị quyết Đại Hội IV của Cộng đảng Việt Nam đã đưa “Đường lối chung của Cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước”(1) như một định thức chỉ đạo: “Nắm vững chuyên chính vô sản,phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tương và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật  là then chốt…”(2).
    Việt cộng đã thực hiện định thức này ra sao? hiệu quả thế sao?
              
* Thực hiện “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”.
    -Lý luận.
      *Theo gương Liên Xô, Việt cộng lý luận rằng, muốn xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, điều tiên quyết là phải “nắm vững chuyên chính vô sản”(hay độc tài vô sản), để củng cố vai trò thống trị độc tôn, độc quyền của đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua một chính quyền mệnh danh “Chính quyền chuyên chính hay độc tài vô sản”(Proletarian dictatorship). Nghĩa là một “Chính quyền độc tài của giai cấp vô sản hay giai cấp công nhân”(the dictatorship goverment of the proletariat) mà theo lý luận của chủ nghĩa Marx-Lênin là giai cấp nòng cốt thực hiện cuộc “Cách mạng xã hội chủ nghĩa” để xây dựng “Xã hội xã hội chủ nghĩa”, vì lợi ích của giai cấp công nhân (vô sản), dưới sự lãnh đạo của “đảng Cộng sản”, được coi là “Đội tiên phong của giai cấp công nhân”, qui tụ một thành phần ưu tú của giai cấp công nhân (vô sản) có đạo đức xã hội chủ nghĩa (?),tính hy sinh và lòng vị tha, phục vụ nhân dân và xã hội quên mình, có năng lực lãnh đạo, ý thức giác ngộ giai cấp cao và tinh thần đấu tranh cách mạng vô sản triệt để…..(thực tế phần đông là ngụy giai cấp vô sản, hầu hết lãnh tụ hàng đầu Cộng đảng không xuất thân từ giai cấp công nhân, nhưng đã ngụy biện là đã “giác ngộ tính vô sản và đã đầu hàng về mặt giai cấp”để có tư cách lãnh đạo đảng của giai cấp công nhân, tức Cộng đảng!!!).
         Nhân danh và vì quyền lợi giai cấp vô sản,Việt cộng xử dụng “Chính quyền chuyên chính vô sảnlàm công cụ trấn áp mọi sức phản kháng, chống đối của mọi tầng lợp nhân dân, bảo vệ vị thế độc tôn, độc quyền, đặc lợi của một tập đoàn thống trị là các cán bộ, đảng viên Cộng đảng Việt Nam.Ngụy biện rằng, trong “Thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa” chỉ dân chủ với nhân dân (giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo), cần “chuyên chính” với mọi kẻ thù của giai cấp vô sản (tư sản, trí, phú, địa, hào…và những người dân nào không tuân phục,chống lại đảng và nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa). Vì vậy, trong định thức mới ghi sau “Nắm vững chuyên chính vô sản” là phải “Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. (Lưu ý về ý nghĩa từ ngữ: “Quyền làm chủ tập thể”của Việt cộng khác với “quyền sở hữu cá nhân” cũng như “dân chủ tập trung” của Việt cộng khác với “dân chủ tự do”của Việt quốc)
      Do đó, Cộng đảng Việt Nam cần Nắm vững chuyên chính vô sản như thế mới trấn áp được mọi phản kháng từ phía nhân dân. Đồng thời “Đảng và nhà nước ta” mới lãnh đạo, thúc ép, khuyến dụ, tuyên truyền,lừa mị được nhân dân thực hiện cùng lúc ba cuộc cách mạng để hoàn thành công cuộc xây dựng “xã hội xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam.

- Tiến hành ra sao?
          Đ  “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”, sau khi chiếm được Miền Nam, thống nhất đất nước, Việt cộng đã thực hiện chính sách hai mặt: củng cố và phát triển bộ máy Đảng và bộ máy nhà nước ngày một vững mạnh,song song với tiến hành truy quét,trấn áp, tiêu diệt mọi sức đề kháng chống “Đảng và nhà nước” của mọi tầng lớp nhân dân.(Việt cộng gọi là truy quét phản động)
         Để củng cố và phát triển bộ máy đảng và nhà nước, như những công cụ và phương tiện thống trị, kềm kẹp, đàn áp nhân dân,Việt cộng đã học tập kinh nghiệm thống trị bằng bạo lực kềm kẹp, trấn áp nhân dân của Tầu cộng, lấy mô hình tổ chức đảng, chính quyền và kinh nghiệm cai trị 21 năm ở Miền Bắc (1954-1975) vận dụng vào Miền Nam mới “Giải phóng”(!) . Bộ máy đảng luôn tồn tại song hành với bộ máy chính quyền (đã là gánh nặng ngân sách quốc gia) từ trung ương đến địa phương, trong mọi cơ quan, ban ngành, đoàn thể; thực hiện triệt để định thức cai trị kềm kẹp “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
         Để truy quét, trấn áp, tiêu diệt mọi sức đề kháng chống “Đảng và nhà nước”, Việt cộng đã dùng nhà tù, súng đạn, hệ thống tòa án công lý một chiều, pháp trường, khủng bố , kết hợp với các thủ đoạn tuyên truyền lừa mị đối với mọi tầng lớp nhân dân, thực hiện khẩu hiệu “nghe thì sống, chống thì chết”.
         Thực tế là sau ngày 30-4-1975 :
-        Việt cộng đã bắt giữ tù đầy trong các trại tù khổ sai trá hình gọi là “Trại cải tạo”, hầu hết các sĩ quan quân lực và các viên chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các ngành chính quyền, hành chánh Việt Nam Cộng Hòa  và các chính đảng quốc gia. Việt cộng làm việc này để cô lập, tiêu diệt một thành phần đông đảo những người ưu tú của Việt quốc mà họ cho là mầm mống có khả năng gây nguy hiểm cho chế độ.
-        Việt cộng đã  dùng hệ thống nhà tù được thiết lập thêm rất nhiều trên khắp nước để giam giữ những người đã có thái độ, lời nói hay hành động chống chế độ tự phát cá nhân hay tham gia những tổ chức chống cộng thật cũng như giả do công an Việt cộng dựng lên để gài bẫy. Và cả những tù nhân bị Việt cộng ghép vào “diện cải tạo công, thương nghiệp tư bản tư doanh” hay thuộc diện “Cải tạo nông nghiệp” phải vào tù chỉ vì có của cải giầu có (Tư sản mại bản, tư sản dân tộc, địa chủ, phú nông…..). Một số chức sắc hàng giáo phẩm thuộc các giáo hội  do hoạt động tôn giáo hay do vị thế cai quản các cơ sở tài sản lớn của giáo hội cũng đã phải vào tù, vì ý đồ Việt cộng muốn chiếm dụng, đã gài thế, gán ghép “tội phản động” để tịch thu như những tang vật.
-        Nhiều người chống chế độ bị coi là mất tích, không ai biết vì sao, kể cả thân nhân(tương tự như chế độ mật chỉ thời tiền cách mạng nhân quyền 1789 ở Pháp)  vì đã bị Việt cộng âm thầm bắt, giam giữ, rồi thủ tiêu bằng mọi cách không cần xét xử. Nhiều người khác bị xử bắn công khai nơi pháp trường, trong những vụ án “phản động” mà Việt cộng  muốn răn đe, khủng bố, nên đưa ra trước “Tòa án nhân dân” vốn là công cụ pháp lý trấn áp nhân dân, để có một bản án nặng nề điển hình làm gương.
-        Để đề phòng bạo loạn từ phía quần chúng nhân dân, Việt cộng đã triệt để thực hiện chế độ hộ khẩu và công an trị để nắm từng người dân, dập tắt nội loạn từ trong trứng nước. Với chế độ hộ khẩu, Việt cộng kiểm soát được nơi ăn chốn ở, với thủ tục “Đăng ký tạm trú, tạm vắng” Việt cộng kiểm soát được mọi sự di chuyển, đi lại và hoạt động của người dân. Với hệ thống “Công an khu vực”, Việt cộng giữ vững được an ninh chính trị đến từng người dân ở từng địa phương, khu vực.
    - Hiệu quả thế nào?
          Nhìn chung, với việc thực hiện triệt để chính sách hai mặt trên, Việt cộng đã “Nắm vững chuyên chính vô sản” theo nghĩa là đã dùng bạo  lực qua các công cụ của nền chuyên chính vô sản là công an, quân đội và các lực lượng vũ trang đã trấn áp (chứ không tiêu diệt) được sức phản kháng của mọi tầng lớp nhân dân khá thành công.
        Thật vậy, trong 5 năm đầu sau khi chiếm được Miền Nam (1975-1980), Việt cộng đã thực hiện triệt để những chủ trương, chính sách và các biện pháp căn bản trên đây và đã có hiệu quả là ổn định được tình hình an ninh chính trị.Sau 5 năm kế tiếp (1980-1985), đã củng cố và phát triển bộ máy đảng và bộ máy nhà nước ngày một vững mạnh. Vì thực tế các hoạt động chống cộng của các cá nhân hay tổ chức ngày một lắng xuống .
       Trong thời khoảng này, các tổ chức và cá nhân chống cộng trong nước, nếu tồn tại được đều rút vào bí mật, không còn có những hoạt động chống cộng ồn ào, đầy khí thế như thời khoảng 5 năm đầu. Ngay cả những chính đảng quốc gia có truyền thống cách mạng đấu tranh chống ngoại xâm và chống cộng quyết liệt như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Nhân Xã Đảng… cũng phải thúc thủ, mai phục chờ thời cơ.
            Tựu chung  trong khoảng 20 năm của thời kỳ quá độ “ Đi lên xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (1975-1995):  Việt cộng đã thành công trong việc “truy quét phản động”, ổn định và giữ vững được tình hình an ninh chính trị, từng bước củng cố cơ cấu đảng và chính quyền các cấp, các ngành, làm công cụ tiến hành mạnh bạo các chủ trương, chính sách và biện pháp “Đi lên Xã hội xã hội chủ nghĩa” trên cả nước, dưới bảng hiệu chế độ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam”.

*Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng như thế nào, hiệu quả ra sao?
    - Một là cách mạng quan hệ sản xuất.
    - Mục tiêu phải thành đạt là gì?
      Là thực hiện các chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm phá nát, tiêu diệt triệt để quan hệ sản xuất cũ mang tính áp bức, bóc lột (quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính tư hữu), để thiết lập từng bước, tiến tới thay thế hoàn toàn bằng quan hệ sản xuất mới không mang tính áp bức bóc lột (quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mang tính công hữu).
   - Tiến hành thế nào?
         Để phá đổ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cả nước, Việt cộng đã thực hiện chủ trương, chính sách cải tạo tài chánh tiền tệ, công thương nghiệp, lưu thông phân phối và dịch vụ tư bản tư doanh nơi các thành thị và cải tạo nông nghiệp ở nông thôn với hai kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1976-1980 (là tiếp mối kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở Miền Bắc  XHCH trước 30-4-1975) và lần thứ ba 1981-1985.
         Thực vậy, sau khi chiếm được Miền Nam, Việt cộng đã nghĩ ngay đến việc làm sao cào bằng  cho hai miền Bắc-Nam mau chóng  đồng nhất trong quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và mức sống, lối sống nhân dân hai miền lệ thuộc nhà nước và khó khăn,nghèo đói như nhau. Điều đó có nghĩa là đẩy nhanh “Công cuộc cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật  ban đầu của xã hội chủ nghĩa” ở Miền Nam, xóa sạch các thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư doanh để hình thành hệ thống kinh tế quốc doanh xã hội chủ nghĩa giống như Miền Bắc. Vì theo Việt cộng lý giải lúc đó thì Miền Bắc XHCN đã hoàn tất “Giai đoạn cải tạo”, tiếp tục tiến hành công cuộc “xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của xã hội chủ nghĩa” (XHCN),với chủ trương đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN về công, thương nghiệp cũng như nông nghiệp.
- Trước hết là “Cải tạo tài chánh, tiền tệ”.
    - Tiến hành thế nào?
         Để thực hiện cuộc “Cách mạng quan hệ sản xuất”, điều trước tiên là chế độ phải làm sao “Nắm được hầu bao” của tất cả nhân dân Miền Nam và “Cào bằng” về mức sống quá chênh lệch giữa nhân dân Miền Bắc XHCH nghèo nàn lạc hậu so với nhân dân Miền Nam tư bản chủ nghĩa (TBCN) sung túc tân tiến dù mới manh nha. Có như thế Việt cộng mới dễ dàng thúc ép “dân ngụy” thực hiện các chủ trương, chính sách “Đi lên xã hội chủ nghĩa” của Đảng và nhà nước.
         Để thành đạt những mục tiêu trên Việt cộng đã thực hiệc chính sách “Cải tạo tài chánh, tiền tệ”  qua ba đợt “Đổi tiền”:
   -Đợt I (khoảng cuối 1975 đầu 1976) đổi tiền Ngân Hàng Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa lấy tiền của chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam(CHMNVN), công cụ chính trị của Cộng sản Bắc việt, theo tỷ giá 500 đồng VNCH lấy 1 đồng CHMNVN, với định mức bình quân mỗi gia đình chỉ đổi được 200 đồng tiền mới. Số tiền còn lại ký gởi cho “Ngân hàng Nhà Nước” để trên nguyên tắc nói là sẽ được cứu xét từng trường hợp cụ thể, giải quyết cho đổi thêm sau này, mà thực tế không ai biết rõ nguyên tắc này  đã được thực hiện ra sao.
   - Qua Đợt II(Đầu tháng 5-1978) đổi tiền CHMNVN ra tiền “Ngân Hàng Nhà Nước CHXHCNVN” để thống nhất đơn vị tiền tệ trên cả nước (không nhớ tỷ giá và định mức).
   - Đợt III (Từ 14-9-1985 kéo dài từ 3 đến 5 ngày) phát hành tiền “Ngân hàng Nhà nước” mới, nói là đồng tiền mất giá, để chống lạm phát, đổi theo tỷ giá một đồng tiền ngân hàng mới bằng 10 đồng tiền ngân hàng cũ và dường như không có định mức. Tuy không còn định mức, nhưng phần đông người dân Miền Nam, sau hai đợt đổi tiền trước theo kiểu “cướp ngày” của Việt cộng, hầu hết  đã không có nhiều tiền mà đổi vì giầu nghèo đã bị gần như trắng tay.
   - Hiệu quả ra sao?
         Việt cộng đã đạt được hiệu quả theo đúng ý đồ. Vì sau hai đợt đổi tiền những người dân  Miền Nam nhìn chung gần như trắng tay, trên nguyên tắc giầu nghèo gần như nhau về mặt tài chánh. Thực tế phần đông dân Miền Nam sau đổi tiền, đời sống đi xuống gần giống như nhân dân Miền Bắc về lối sống, tuy mức sống vẫn còn khá hơn nhờ tích lũy được đôi chút tài sản đem bán dần để sống qua ngày. Người ta gọi đùa là những nhà “Tư sản mại sản”.
         Một số những người giầu có nhiều tiền mặt, nếu có đường giây “Móc ngoặc” đổi được nhiều tiền trên định mức trong đợt I và II hay còn vàng bạc, quý kim, của chìm bán dần để duy trì cuộc sống, thì cuộc sống tương đối cũng còn sung túc, ít nữa là cho đến trước ngày “Đánh tư sản” (nếu thuộc diện “Cải tạo”).Người ta gọi đùa là những “Tư bản mại sản”.Sau hai đợt đánh tư sản hầu hết các nhà tư bản dân Miền Nam đều trở thành những nhà “Tư bản bại sản” hay “Tư bản phá sản” và trở thành tội nhân nếu thuộc “diện cải tạo” bị  kết án tù tội.
         Mặt khác, sau “Đổi tiền” một số khá đông những người thuộc “giai cấp mới” (Giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản) và những kẻ ăn theo nhờ làm trung gian “móc ngoặc” trong các “Phi vụ Đổi tiền” gian dối, vượt định mức để ăn chia, thì phất lên trông thấy. Dân chúng gọi họ là những “tư sản đỏ”, “Tư sản xám” hay “tư sản đen” (của cải có được bằng con đường làm ăn bất chính, mờ ám, đen tối)
        - Thứ đến là “Cải tạo công, thương nghiệp tư bản tư doanh” ở Miền Nam.
        - Tiến hành thế nào?
          Trong thời gian đầu, khi chế độ mới chưa đụng chạm gì đến thành phần kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh, thì các nhà tư bản, tư sản Miền Nam đã phải sống trong tâm trạng phập phồng lo sợ không biết số phậm mình sẽ được nhà cầm quyền Việt cộng định đoạt ra sao.
         Người ta có nghe kể về công cuộc cải tạo công, thương, nông nghiệp tư bản tư doanh ở Miền Bắc sau Hiệp Định Genève năm 1954 chia đôi đất nước, dưới chế độ Việt cộng.Thế nhưng không ai có thể hình dung được mức độ tàn hại của chính sách cải tạo đối với mỗi con người, từng gia đình và toàn xã hội ở Miền Nam như thế nào.
         Vào giữa năm 1976, một loạt chủ trương, chính sách nhằm xóa bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế tư bản tư doanh và cá thể đã được chế độ Việt cộng ban hành và đi vào thực hiện có tính thăm dò thử nghiệm.Mặc dầu chỉ thực hiện trên qui mô nhỏ, song cũng đã gây chấn động lớn về kinh tế, xã hội và là nỗi kinh hoàng cho các đối tượng bị kiểm kê tài sản, nhất là những gia đình bị qui kết thành phần tư sản mại bản (vì trong quá khứ có liên hệ làm ăn với tư bản nước ngoài) hay tư sản dân tộc. Họ không những bị kiểm kê tịch thu hết tài sản, có khi còn bị tù đầy hay cưỡng bức rời thành phố đi lập nghiệp vùng kinh tế mới.Người ta gọi đây là thời kỳ đánh tư sản Đợi I.
       Phải đợi cho đến sau Đại Hội IV (1976) của Cộng Đảng Việt Nam, chủ trương “Cải tạo” trên mới được chế độ thực hiện triệt để trên quy mô rộng lớn với cường độ mạnh mẽ thể hiện quyết tâm thực hiện khẩu hiệu tuyên truyền “đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa”. Người ta gọi đây là thời kỳ đánh tư sản Đợi II. Lúc này, đích thân Đỗ Mười, lúc đó là Phó Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã lãnh đạo “đánh tư sản” ở Miền Nam trong chức vụ “Trưởng Ban Cải Tạo Trung Ương”.
      Nhiều người dân Miền Nam hẳn còn nhớ cái đêm kinh hoàng vào đầu tháng 5-1978, một cuộc tấn công rộng lớn, bất ngờ vào các gia đình bị liệt vào thành phần tư sản mại bản và tư sản thương nghiệp ở các thành thị Miền Nam, nhất là Sài gòn. Cuộc tấn công này đã được bí mật triển khai rất nhanh, sau một thời gian “chuẩn bị khẩn trương” của các cấp chính quyền và một lực lượng đánh tư sản hùng hậu đã được huấn luyện cấp tốc ngắn ngày. Cũng trong thời gian này, các thành phần công, thương nghiệp không bị qui kết vào thành phần, tiểu thủ công nghiệp đều được cải tạo đưa vào con đường làm ăn tập thể.Các tiểu thương, tiểu chủ cũng được chế độ “chiếu cố” cho chuyển sang các ngành hoạt động sản xuất…
       Chung quy, đánh tư sản hay cải tạo tư sản là chế độ Việt cộng muốn nắm độc quyền kinh tế (khống chế lực lượng lao động,định đoạt phương thức sản xuất và chiếm dụng độc quyền nguyên vật liệu phương tiện sản xuất). Nghĩa là một kiểu nhà nước tư bản độc quyền,biến lực lượng sản xuất (mọi tầng lớp nhân dân) thành công cụ lạo động thực hiện các hoạt động kinh tế (sản xuất công,nông, thương nghiệp, kinh doanh, phân phối, tiêu thụ, dịch vụ…) dưới sự chỉ huy của chính quyền theo chính sách kinh tế hoạch định cứng rắn của nhà nước.
   - Hiệu quả ra sao?
         Thế nhưng công cuộc cải tạo này đã thất bại hoàn toàn vì nó đã đụng chạm vào một trong những yếu tình thuộc về bản chất và cũng là quyền cơ bản của con người: Quyền tư hữu. Vì nó đã tước đoạt trắng trợn  thành quả lao động , công lao mồ hôi nước mắt của cả một đời người hay bao đời truyền lại. Những nạn nhân đã uất ức vì bị cưỡng đoạt trắng tay, mất hết tài sản, gia đình ly tán, lại phải vào tù. Nhiều người quá uất ức đã nhẩy lầu tự vẫn, dùng độc dược quyên sinh hay tìm cái chết oan nghiệt qua sợi giây thong lọng tự treo cổ mình.
         Tựu chung, sau khi thực hiên các biện pháp “Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”, Việt cộng đã không gặt hái được hiệu quả mà chỉ tạo ra một hậu quả tai hại về mặt kinh tế vĩ mô cũng như vi mô.Bởi vì nó đã phá nát quan hệ sản xuất cũ là cùng lúc tiêu hủy các nhà sản xuất  kinh doanh có tài và kinh nghiệm (vốn quý mà mãi sau này Việt cộng mới nhận ra muộn màng trong thời kỳ đổi mới, mở cửa…),là phá nát các cơ cấu, cơ sở sản xuất kinh doanh vốn có hiệu quả kinh tế.
         Hậu quả thực tế  là, các hoạt động sản xuất kinh doanh đình trệ, xáo trộn, ách tắc, năng xuất thấp, phẩm chất xấu, sản lượng giảm, hạch toán lỗ lã triền miên, cung cầu mất cân đối, dẫn đến khó khăn trong lưu thông phân phối hàng hóa, rối loạn thị trường.Từ đó, sự độc quyền nhà nước sản xuất, kinh doanh, phân phối tiêu thụ dẫn đến tệ nạn chợ đen, móc ngoặc, tham ô làm giầu bất chính cho một thiểu số những kẻ có chức, có quyền trong guồng máy kinh tế độc quyền (cán bộ đảng viên cộng sản và những kẻ ăn theo), trong khi đa số nhân dân (lực lượng sản xuất chủ yếu) thì đời sống ngày một khó khăn thiếu thôn, đã nghèo ngày càng nghèo thêm, dù đã lao động cật lực vẫn không đủ sống, vì đồng lương chết đói, không tương xứng với sức lao động bỏ ra.
         Trong khi chế độ nỗ lực “cải tạo tư sản mại bản, tư sản dân tộc và các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa khác” để biến tất cả thành “vô sản”, thì thực tế đã tạo tiền đề đẻ ra các nhà tư sản mới (tư bản đỏ vỏ xanh lòng) ngày một đông đảo, sau mỗi đợt cải tạo và trong khi thực hiện chủ trương chính sách xây dựng quan hệ sản xuất mới Xã Hội Chủ Nghĩa (công, thương nghiệp nhà nước, tổ hợp quốc doanh…). Người dân gọi những nhà tư sản mới phát lên này (thường là cán bộ đảng viên có chức có quyền…) nhờ công cuộc xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, là các nhà “Tư sản hay tư bản Đỏ” hay “Vô sản mại bản”! (Còn hầu hết nhân dân được gọi mỉa mai là “Tư sản mại sản” vì phải bán dần của cải, đồ đạc trong nhà để duy trì sự sống …)
      - Thực hiện chủ trương chính sách cải tạo nông nghiệp.
       * Tiến hành thế nào?
         Cải tạo nông nghiệp là phá đổ quan hệ sản xuất cũ (tư hữu đất đai, phương thức canh tác và tư liệu sản xuất), thiết lập quan hệ sản xuất mới

 Thiện Ý

Bài Xem Nhiều