We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 11 August 2014

Trung Cộng Muốn Gì : Ngộ muốn nhiều hải đăng trên đảo của nị !!!!

TRUNG QUỐC MUỐN GÌ?

  H1
Cách đây chỉ hơn hai mươi năm, thế giới nói đến Trung Quốc như một cường quốc đang lên - a rising Power. Và lo ngại đặt câu hỏi: ông lên như thế thì ông sẽ lên đến đâu, và lên đến đó thì ông sẽ làm gì? Hai mươi năm sau, Trung Quốc đã lên vượt bực, lên cực nhanh, làm cả thế giới chóng mặt, và câu hỏi đâm ra lo ngại một cách chính xác hơn: ông lên như thế thì liệu chiến tranh có xảy ra không?
 Mươi năm trước đây, dưới khẩu hiệu của Đặng Tiểu Bình, "thao quang dưỡng hối" giấu sức mạnh chờ thời gian, Trung Quốc đã làm thế giới tưởng rằng ông trỗi dậy một cách hòa bình, rằng "Trung Quốc mạnh lên thì cả thế giới đều được phúc lợi chung". Sau đó không lâu, thế giới bừng tỉnh giấc nam kha hòa bình khi giọng ông thay đổi, tác phong thay đổi, từ mềm thành cứng, từ thủ thành công, từ lịch sự đến đe dọa, gây hấn, trịch thượng. Ông bốp chát với Mỹ, căng thẳng với Nhật, trấn áp lân bang, lè lưỡi bò liếm hết Biển Đông, liếm tất, không chừng liếm qua đến cả Ấn Độ Dương. Vậy thì chiến tranh là hậu quả phải tiên liệu cùng với cái đà trỗi dậy của ông? Ông muốn gì? Đó là câu hỏi đặt ra trong sách báo ngày nay.
Không ai trả lời được câu hỏi vì một lẽ giản dị: không ai đoán trước được tương lai, huống hồ là tương lai của Trung Quốc mà ai cũng biết là phức tạp và khó lường. Bề mặt của chiếc mề đay Trung Quốc là một sức mạnh ghê gớm, về quân sự, về kinh tế. Nghe nói Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ trong vài chục năm tới, đã thất kinh. Quỹ Tiền tệ quốc tế còn tính toán khiếp đảm hơn nữa: kinh tế Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ từ đây đến năm 2016. Nhưng cái mề đay lại có mặt trái mà ai cũng biết: nhũng lạm, bất bình đẳng xã hội, bất ổn định, nghi ngờ về chính đường lối phát triển... Có chắc cái đà phát triển này sẽ tiếp tục như thế hay không? Không biết chắc Trung Quốc sẽ như thế nào mà trả lời câu hỏi "Trung Quốc muốn gì" trong tương lai thì có khác nào chưa ăn mà đã hỏi có ngon không. Cho nên, đối với anh nhà giáo chỉ biết lý thuyết, có trả lời thì cũng chỉ mượn lý thuyết mà trả lời, mong lấy lýthuyết mà soi đường cho thực tế.
Vậy thì, từ trước đến gần đây, mọi lý thuyết về tương lai của Trung Quốc đều căn cứ trên cái nhìn từ bên ngoài, nghĩa là trên những tiêu chuẩn khách quan về sức mạnh, cho rằng như thế mới "khoa học", bởi vì đó là những tiêu chuẩn có thể đánh giá được, đo lường được. Quân sự, kinh tế, dân số, kỹ thuật, tài nguyên, địa chính trị... là những tiêu chuẩn như vậy. Nhưng khi đặt câu hỏi "Trung Quốc muốn gì?" thì những tiêu chuẩn khách quan ấy không đáp ứng đủ thỏa mãn vì người hỏi cần biết thâm ý của Trung Quốc ở trong thâm sâu ý định. Cái gì ở trong đầu một cá nhân, ta đã khó biết, làm sao biết được cái gì ở trong đầu một tập thể? Tuy vậy, đây mới chính là điều quan trọng, có lẽ là quan trọng hơn cả, để hiểu ông khổng lồ láng giềng của ta. Vậy thì bằng cách nào dò biết thâm ý? Câu hỏi đặt ra sự cần thiết phải có một cái nhìn nữa từ bên trong của sức mạnh để bổ túc cho cái nhìn từ bên ngoài. Cái nhìn từ bên trong ấy cũng phải căn cứ trên một tiêu chuẩn khách quan. Tiêu chuẩn gì? Trả lời: phương pháp duy nhất để biết "Trung Quốc muốn gì?" là đặt câu hỏi "Trung Quốc là gì?". Chính xác hơn: "Trung Quốc tự định nghĩa mình là gì?" Chỉ mới gần đây, lý thuyết về quan hệ quốc tế mới đặt nặng tiêu chuẩn văn hóa như thế. Và đúng vậy, trong thời sự quốc tế, càng ngày văn hóa càng là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định hòa bình, căng thẳng, hay chiến tranh giữa các quốc gia hay các tập thể dân tộc.
Bài viết này, như vậy, thuật lại hai lối nhìn lý thuyết, từ bên ngoài và từ bên trong. Từ bên ngoài, nhìn khả năng của sức mạnh. Từ bên trong, nhìn cách một dân tộc tự định nghĩa về mình. Lối nhìn thứ nhất chủ trương: ý định biểu lộ qua khả năng. Anh mạnh lên thì anh sẽ có ý định của kẻ mạnh. Lối nhìn thứ hai chủ trương: anh tự định nghĩa về anh như thế nào thì anh phát triển sức mạnh của anh lên thế ấy. Vậy,hãy bắt đầu với lối nhìn thứ nhất.
I. Nhìn từ bên ngoài: khả năng
Hiểu theo nghĩa rộng, "khả năng" bao trùm cả lĩnh vực kinh tế. Hiểu theo nghĩa hẹp, "khả năng" chủ yếu đặt trên lĩnh vực quân sự. Nhìn vấn đề dưới khía cạnh kinh tế, các chủ thuyết tự do (liberalism) cho rằng vì trật tự thế giới hiện nay buộc phải mở rộng giao thương, Trung Quốc muốn mạnh lên bắt buộc phải nương theo trật tự ấy, không làm khác được, phá vỡ nó là đi ngược lại với chính lợi ích của Trung Quốc. Chúng tôi dang tay ra đón anh vào chơi trong trật tự này để chúng ta cùng trù phú lên với nhau: đó là lập luận của Mỹ và Âu châu từ đầu cho đến bây giờ. Trong trật tự này, mọi nền kinh tế đều liên đới với nhau, một kẻ đau là tất cả đều bị nhiễm, không ai có lợi gì để muốn một Trung Quốc yếu. Hơn nữa, bây giờ anh đã mạnh rồi, anh hãy củng cố thêm trật tự ấy, hãy cùng chúng tôi trừng phạt kẻ nào phá rối trật tự: Bắc Hàn, Iran, Syria, nội chiến ở Sudan, cướp biển ở Somali, phát tán nguyên tử, khủng hoảng kinh tế, thời tiết hâm nóng... bao nhiêu ách tắc trên thế giới đang cần đến anh để dẹp bỏ, anh hãy chứng tỏ anh là một cường quốc có trách nhiệm. Một trật tự thế giới ổn định là điều kiện tất yếu để phát triển kinh tế, thị trường phải thay thế cho chiến tranh, cạnh tranh thay thế vũ khí. Make money, not war! Lạc quan, tín đồ của chủ thuyết này giữ vững lập trường dù Trung Quốc đã trở nên hung hãn, và dù cạnh tranh của Trung Quốc sát phạt không thua gì dao kiếm, sức mạnh mềm xâm nhập cả những lĩnh vực chiến lược ở cả châu Âu. Mà không phải chỉ giới đại học: các nhà nghiên cứu chính sách ở Mỹ cũng không ngớt khuyên răn: với Trung Quốc, hãy thuyết phục, đừng bao vây. Persuasion, not containment.2
Thuyết tự do còn lạc quan trên địa hạt xã hội. Trung Quốc càng trù phú, giới trung lưu càng phát triển. Giới trung lưu càng phát triển, nền tảng xã hội của dân chủ càng mở rộng. Dân chủ càng mở rộng, chế độ càng khó làm chiến tranh. Nghe rất hợp lý. Nhưng thế nào là "trung lưu"? Mấy ai đồng ý với ai về định nghĩa, về tiêu chuẩn. Và mấy ai đồng ý với ai về mối liên hệ cơ hữu giữa giới trung lưu và chiều hướng dân chủ ở Trung Quốc? Tuy vậy, mỗi khi bàn về chiến tranh hay hòa bình, thế nào cũng có người đặt tin tưởng trên giới trung lưu: họ đang giàu lên, họ đang hưởng lợi, dại gì họ lao đầu vào chiến tranh để mất phú quý? Huống hồ Trung Quốc còn cần phát triển thêm kinh tế nữa để mạnh hơn, để vượt qua Mỹ như người ta nói. Bởi vậy, dù căng thẳng chăng nữa, họ dại gì cắt đứt liên đới hỗ tương giữa kinh tế của hai nước để đi vào tình trạng điên rồ mà giới chuyên gia quân sự ngày trước, trong thời chiến tranh lạnh với Liên Xô, gọi là "tình trạng tiêu diệt hỗ tương" nếu một bên bấm nút nguyên tử?.3 Nếu tôi, người viết bài này, là chuyên gia Mỹ, chắc tôi cũng có thể chủ trương như vậy, bởi vì tin tưởng lạc quan ấy có thể thích hợp với hoàn cảnh và lợi ích của nước Mỹ. Nhưng tôi lại là người Việt Nam, sống sát nách Trung Quốc, quá biết kinh tế có thể giết trọn một nước, không cần súng đạn, cho nên quá lạc quan vào chủ thuyết liên đới kinh tế không phải là thái độ của tôi. Và thú thật, tôi có thiện cảm hơn với những chuyên gia Mỹ chống lại thuyết ấy, cho rằng dù có căng thẳng, dù chủ trương bao vây, vẫn có thể đồng thời giao thương kinh tế, không việc gì phải cong lung nhân nhượng, nhất là khi cán cân thương mại giữa hai nước có lợi cho Trung Quốc. Vả chăng, chắc gì liên đới kinh tế hỗ tương là giá trị cao nhất trong tính toán của Trung Quốc? Ví thử Đài Loan tuyên bố độc lập, Bắc Kinh sẽ chọn thái độ gì, chiến tranh hay lợi ích kinh tế hỗ tương? Lại ví thử Trung Quốc nghĩ rằng một chiến tranh chớp nhoáng ở Biển Đông với một mình chiếc đũa Việt Nam, đặt Mỹ và cả vùng trước sự đã rồi, không mang lại những hậu quả kinh tế tai hại như một chiến tranh dài hạn, liệu Trung Quốc không biết ra tay như đã từng ra tay ở Hoàng Sa, Gạc Ma?.4 Chiến tranh thế giới thứ nhất có thể còn mách nước cho Trung Quốc: Anh, Pháp, Nga vẫn giao thương mạnh mẽ với Đức trong hai thập kỷ trước chiến tranh, mặc dù Tam Cường ấy đã liên minh với nhau để bao vây Đức. Chiến tranh, như có tác giả đã viết, không ngăn cấm hai bên địch thủ tiếp tục giao thương với nhau nếu thấy điều đó có lợi cho cả hai.5
Vì những lẽ trên, tôi thấy chủ thuyết tả thực (realism) hợp với Việt Nam hơn và thấy gần gũi hơn với tác giả đại diện sáng chói của thuyết ấy, Mearsheimer. Tôi tóm tắt dưới đây luận thuyết của ông.6
Trước hết là nhận định của phái tả thực nói chung về hệ thống quốc tế: đây là một hệ thống vô chính phủ, trong đó mỗi quốc gia đều nhắm đến mục đích tối thượng là bảo vệ sự sống còn bằng cách duy trì và tăng cường sức mạnh. Quan tâm về sức mạnh đưa đến cạnh tranh để mạnh hơn vì ai cũng sợ ai. Bởi vậy, các nước lớn phát triển sức mạnh đến tối đa để cạnh tranh thắng lợi với các nước mạnh khác, để chiếm ưu thế trên cán cân lực lượng, và tiến tới thống trị thế giới.
Có một lúc, dưới thời tổng thống Bush, người ta tưởng nước Mỹ đã đạt đến mức chúa tể như vậy. Bây giờ thì ai cũng thấy: dù mạnh đến đâu, nước Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương cũng không thể một mình làm chủ trên phần đất bên này Thái Bình Dương. Điều mà nước Mỹ có thể làm, giống như các đại cường đã làm trong lịch sử, là đô hộ trên vùng địa lý của mình và ngăn cản không cho một ông đại cường nào khác đô hộ trên vùng địa lý ấy. Đã là bá chủ vùng thì không ông nào muốn thấy một ông đại cường khác mon men đến vùng mình để cạnh tranh. Nước Mỹ đủ mạnh để không ai dám đến cạnh tranh ở châu Mỹ, nhưng đó là cố gắng mà nước Mỹ đã làm với xương máu chiến tranh trong suốt cả thế kỷ từ khi lập quốc. Điều mà nước Mỹ đã làm, điều mà các cường quốc khác đã làm trong lịch sử, tại sao bây giờ Trung Quốc không làm? Bộ Trung Quốc là ông thầy tu? Là ông thánh? Là con gà trống thiến? Trung Quốc cũng sẽ ngăn cản không cho nước Mỹ can thiệp vào vùng của ông. Ngược lại, nước Mỹ cũng sẽ không để cho ông tự do hoành cứ trong vùng ấy. Và, cũng theo đúng luận lý của sức mạnh và thực tế của lịch sử, Trung Quốc sẽ mon men thọc gậy bánh xe vào vùng lãnh địa của nước Mỹ ở châu Mỹ như đã bắt đầu và đang tiếp tục hành động như vậy hiện nay.
Cho đến bây giờ, nước Mỹ tung hoành trên thế giới được là vì nước Mỹ yên tâm về an ninh trong vùng ảnh hưởng của mình, chẳng ai dám phá rối trừ anh Cuba xấc xược. Trong vòng vài chục năm nữa, nếu Trung Quốc vượt được Mỹ như có nhiều người nói thế, tại sao Trung Quốc lại không tung hoành dọc ngang trên thế giới như Mỹ hiện nay? Và khi đó, cũng để yên tâm về an ninh trong vùng mình, tại sao Trung Quốc không làm như Mỹ, nghĩa là, trước hết, dẹp tan mọi tranh chấp chủ quyền, áp đặt chặt chẽ thống trị trong vùng, không ai được nói khác, làm khác, cựa quậy khác, mơ mộng khác, đảo nào cũng là đảo của ta, biển nào cũng là hồ tắm của con cháu Mao chủ tịch? Những gì thế giới đã chứng kiến trong hơn chục năm qua cho thấy rõ đường đi nước bước ấy: tăng cường hạm đội, lè lưỡi bò, liếm hết đảo kể cả với Nhật, phản đối việc Mỹ tập trận với Hàn Quốc ở Hoàng Hải năm 2010, bàn luận thiết lập "chuỗi dây chuyền hải đảo thứ nhất", rồi "dây chuyền hải đảo thứ hai"... Nếu thực hiện được, Nhật và Phi hết đường đồng minh với Mỹ. Chưa kể việc bàn tính thành lập một "hạm đội nước xanh" để làm chủ đại dương, làm chủ an ninh hải lộ, chẳng lo ai bịt ống dầu dẫn từ Trung Đông. Và cũng chưa kể, Việt Nam ơi, hành động đặt giàn khoan trong vùng kế cận Hoàng Sa, ngang nhiên như đào giếng trong vườn nhà.
Bước đi vững chắc như cọp săn mồi, ý đồ lồ lộ, ngôn từ trịch thượng anh cả, ngày nay ai mà chẳng thấy an ninh của mình bị đe dọa nghiêm trọng trước thực tế một sức mạnh khổng lồ càng ngày càng được tăng cường? Hậu quả tất nhiên là "hiện tượng leo thang an ninh" phải xảy ra. Nước này rồi nước nọ leo thang tăng cường quân sự, leo một hồi sẽ leo đến chiến tranh. Ngày nay, dù miệng có ngọt ngào lien đới hợp tác kinh tế đến đâu, trong bụng anh láng giềng nào của Bắc Kinh cũng đều ớn sự trổi dậy của ông ấy, đều nghĩ cách rào cản ông lại. Thương hay ghét, muốn hay không, tin hay nghi, anh nào cũng bắt buộc phải nghĩ đến kinh nghiệm rào cản của Mỹ trong chiến tranh lạnh. Và Mỹ cũng sẽ không có chiến lược nào hữu hiệu hơn đối với Trung Quốc bằng chính sách rào cản. Nghĩa là liên minh với các nước láng giềng cảm thấy bị Trung Quốc đe dọa: Ấn Độ, Nhật Bản, Phi, và, why not, Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra là: các nước why not có dám chọn liên minh với Mỹ chăng? Có dám cùng với Mỹ lập lại cân bằng lực lượng hay ngã hẳn về Trung Quốc? Hay chơi trò đu dây? Khó mà tưởng tượng rằng khi tranh chấp Mỹ-Trung xảy ra đến độ quyết liệt, hai ông siêu cường không làm áp lực mạnh để chẳng ai chơi được trò đu dây. Vậy thì ngã vào ai là tùy ở tính toán của mỗi nước về ai đe dọa hơn ai đến sự sống còn, ai ở xa ai ở sát nách, ai nuốt mình dễ, ai cần mình hơn. Nước Mỹ có quân đội trấn đóng trên đất Nhật, trên đất Hàn, nhưng hễ phong phanh nghe Mỹ muốn rút quân đi là cả Hàn lẫn Nhật đều xin ở lại. Nước Tàu không có quân đội trấn đóng, chỉ có hàng vạn phu phen và làng xã mọc lên như nấm thôi, nhưng chủ nhà mất đất không bao giờ hay. Cho nên các nước nhỏ không thể không lo nghĩ đến chuyện rào cản. Các nước lớn cũng vậy. Ấn Độ và Nhật Bản ký "Tuyên bố về hợp tác an ninh" năm 2008 khi thấy Trung Quốc tăng cường vũ lực. Ấn Độ và Mỹ sát lại gần nhau tuy Mỹ rất cần Hồi Quốc để chống khủng bố Al Qaida. Nhân quyền là giá trị đầu môi của Mỹ nhưng khi cần thì Mỹ cũng lơ đi để quan hệ chặt hơn với Indonesia. Singapore miệng nói thân Tàu nhưng cung cấp cảng Changi cho hạm đội Mỹ. Và Nhật, dù dân có biểu tình phản đối, Okinawa vẫn trải thảm mời thủy quân lục chiến Mỹ đóng đô. Trung Quốc càng đe dọa, khuynh hướng ngã vào Mỹ ở đâu cũng tăng lên. Á châu hoan hô Obama dời trọng tâm chiến lược từ Âu sang Á. Rồi Á châu lo ngại khi thấy Mỹ yếu tay ở Syria, ở Ukraina.
Tóm lại: Trung Quốc càng mạnh lên càng làm trầm trọng thêm cạnh tranh an ninh với Mỹ và với láng giềng, càng muốn tống nước Mỹ ra khỏi vùng ảnh hưởng, càng thúc đẩy khuynh hướng liên minh với Mỹ để cân bằng lực lượng. Có khả năng nhiều căng thẳng sẽ xảy ra. Khả năng gần đây nhất là sự kiện giàn khoan HD 981.Vấn đề là: những căng thẳng đó có đưa đến chiến tranh không? Trả lời câu hỏi này buộc phải đặt câu hỏi đặt ra trước: Cả Trung Quốc cũng có vũ khí nguyên tử, liệu vũ khí nguyên tử có ngăn cản chiến tranh xảy ra ở Á châu như đã ngăn cản ở Âu châu trước đây chăng?
Mearsheimer không nghĩ rằng hai hoàn cảnh có thể so sánh với nhau. Trước hết là vì lý do địa lý. Trọng tâm của chiến tranh lạnh tụ trên một điểm duy nhất: Bá Linh, nằm giữa lục địa châu Âu. Ván bài quá lớn, nếu có chiến tranh xảy ra, khó lòng không đưa đến chiến tranh nguyên tử, nghĩa là tiêu diệt cả châu Âu, không chừng thảm họa lan ra đến cả lãnh thổ hai địch thủ. Không ai dám nghĩ đến cái viễn tượng đó. Mục đích của vũ khí nguyên tử ở đây là tạo ra để mà không dùng, tạo ra để mà ngăn cản bên kia không dùng đến. Tất cả tinh túy của chiến lược nguyên tử nằm ở chỗ bảo tồn lực lượng nếu địch nả cú đầu để đánh trả cú thứ hai. Chính vì sợ cú thứ hai ấy mà không phe nào dám nổ cú đầu, và chiến tranh đã không xảy ra. Địa lý ở Á châu khác hẳn. Không có một tụ điểm như Bá Linh, tranh chấp phân tán trên nhiều nơi khác nhau mà không nơi nào có tầm quan trọng như Bá Linh, nếu chiến tranh có xảy ra cũng không đưa đến những hậu quả khốc liệt như thế. Vì vậy chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc dễ có khả năng xảy ra hơn.
Chẳng hạn căng thẳng ở Bắc Triều Tiên. Giả sử chiến tranh xảy ra giữa Nam và Bắc Hàn và ví dụ 19,000 quân đội Mỹ trấn đóng ở đấy phải lao vào chiến tranh với Trung Quốc, chiến tranh vẫn nhỏ so với trận chiến nếu xảy ra ở Bá Linh. Đài Loan, Biển Đông, Senkaku cũng vậy, khó bề so sánh. Huống hồ chiến trận ở các nơi ấy diễn ra trên biển, giả thuyết leo thang nguyên tử ít có khả năng xảy ra, cho nên đụng độ cổ điển (nghĩa là không nguyên tử) giữa Mỹ và Trung Quốc dễ tưởng tượng hơn là giữa Mỹ và Liên Xô trên lục địa Âu châu ngày trước.
Đó là lý do thứ nhất: lý do địa lý. Lý do thứ hai liên quan đến cấu trúc của hệ thống quốc tế: ngày trước, cấu trúc ấy là hai cực, cực Mỹ và cực Liên Xô; bây giờ, ở Á châu cấu trúc ấy là đa cực. Ngay Nhật, và ngay cả Ấn Độ, cũng là những nước lớn, Ấn Độ còn có vũ khí nguyên tử, kém gì ai? Dù rằng hai nước ấy không mạnh bằng Trung Quốc, và dù rằng cái thế đa cực ở đây không cân bằng nhau, nhưng Trung Quốc vẫn chưa phải là một cực như Liên Xô ngày trước. Ở cái thế đa cực ấy, chiến tranh dễ xảy ra hơn ở thế lưỡng cực vì nhiều lẽ. Một, là các nước lớn dễ đánh nhau hơn, hoặc với nhau hoặc với các nước nhỏ. Hai, là ông anh cả dễ bắt nạt em ba, em tư, em út, dễ đánh tỉa từng em. Ba, là ông lớn nhất, đang vươn lên thành bá chủ vùng kia, làm ai cũng sợ, mà sợ thì hoặc là giơ tay đầu hàng trước, hoặc là chịu nhục hết nổi thì uýnh một trận, chết cũng cam.
Sự kiện giàn khoan HD 981 của Trung Quốc ở Biển Đông và hành động trấn áp của Nga ở Ukraina mới đây đã khiến các giới quan sát quốc tế chú ý hơn đến lý luận đa cực này. Không thiếu gì con mắt nhà nghề thấy rằng chưa chắc đã có dầu khí ở vùng biển Hoàng Sa. Rất có thể Bắc Kinh "lớn tiếng cao giọng tuyên bố bá quyền". Giống như Nga, Trung Quốc muốn chứng tỏ Ta đây là sếp trong sân sau của Ta. "Na ná như phiên bản của Nga và Trung về cái được gọi là chủ thuyết Monroe", nghĩa là không ai được xớ rớ vào vùng cấm địa của Ta. Tờ báo danh tiếng Le Monde của Pháp, phân tích hai sự kiện nổi bật nói trên trong tháng 5 vừa qua, kết luận sau khi nhắc lại chủ thuyết Monroe: "Xét những gì đã xảy ra trong mấy tuần qua, thế giới đa cực tự báo trước về mình một cách không có gì đáng ngạc nhiên: đây là thế giới của những tên thô bạo".7
Câu kết luận của tờ báo tóm tắt những gì đã nói ở trên về bức tranh mà Mearsheimer đã vẽ ra. Dù không muốn bi quan, tôi cũng khó mà lạc quan. Không có cách gì chấp nhận luận điệu của họ. Họ nói: Một, tuy cấu trúc quốc tế đúng như phái tả thực mô tả, Mỹ và Trung Quốc vẫn có thể khôn khéo lèo lái để tránh đụng độ nhau đến mức căng thẳng. Hai, tuy liên minh với Nhật và với Hàn có thể gây vấn đề - luôn luôn là vấn đề - tế nhị giữa Mỹ và Trung Quốc, chiến tranh không phải là tất yếu. Ba, muốn thế Mỹ phải tránh, đừng thổi phồng hiểm nguy của một Trung Quốc lớn mạnh. Và bốn, phải biết nhân nhượng về những tranh chấp nào mà quyền lợi của Mỹ không phải là sống chết, Đài Loan chẳng hạn. Thế thì Biển Đông của chúng tôi, ai cùng bảo vệ với tôi? Huống hồ các người lập luận như vậy cũng không dám cả quyết lạc quan. Họ nói, khá ba phải: "Sự trỗi dậy của Trung Quốc là hòa bình, nhưng kết luận ấy cũng không có gì bảo đảm".8
Đúng là không có gì bảo đảm, nhất là trong thời gian gần đây, với hăm dọa của Trung Quốc trên đảo mà Nhật gọi là Senkaku, và nhất là với ngang ngược của Bắc Kinh khi cắm giàn khoan trên thềm lục địa của Việt Nam. Chiến tranh với Mỹ càng ngày càng không phải chỉ là giả tưởng: lo ngại phản ánh ngay cả trên tờ Foreign Affairs khi có tác giả khuyến cáo hai bên phải "rõ ràng về những đường ranh đỏ thực sự và giá phải trả để bảo vệ những đường ranh ấy".9 Nhưng đâu là đường ranh, khi danh sách những quyền lợi "cốt lõi" mà Trung Quốc giương ra trước mắt nước Mỹ trong thời gian gần đây càng ngày càng dài khiến những tranh chấp phụ cũng trở thành quyết tử? Đâu là đường ranh, khi cả thế giới đang chứng kiến một hiện tượng mới hừng hực bốc lên từ chục năm nay tưởng chừng như hỏa diệm sơn sẵn sàng phun lửa? Hiện tượng đó, không nguy hiểm nào khó lường hơn: đó là dân tộc chủ nghĩa. Đọc sách báo ở Mỹ, rất dễ để ý. Trước đây, các giới phân tích chỉ chú tâm vào yếu tố kình tế, quân sự, địa chính trị. Gần đây, ai cũng chỉa ống dòm vào nguy cơ của dân tộc chủ nghĩa, kể cả trường phái tả thực mà lập trường cố hữu là chỉ xét những yếu tố ở bên ngoài, những gì có thể đo lường, đánh giá cụ thể. Trong phân tích về quan hệ quốc tế, yếu tố văn hóa bây giờ được đưa vào với tất cả trân trọng, không thua gì những yếu tố khác, nhất là đối với Trung Quốc. Như một chuyên gia về Trung Quốc đã viết, "câu hỏi phải chăng Trung Quốc là mối đe dọa đối với các nước khác không thể chỉ trả lời bằng cách phóng tầm nhìn vào sức lực của Trung Quốc trong tương lai - chỉ số kinh tế, tiến bộ kỹ thuật, ngân sách quốc phòng - như nhiều nhà tiên đoán đã làm. Sức mạnh chỉ là một phần của giải đáp. Ý định – Trung Quốc lựa chọn sử dụng sức mạnh của mình như thế nào - mới chính là đầu mối để biết hòa bình hay chiến tranh".10 Cái nhìn từ bên ngoài không đủ, phải bổ túc bằng cái nhìn từ bên trong, cái nhìn vào tận xương tủy của văn hóa ông khổng lồ để xem ông tự định nghĩa mình như thế nào.
II. Nhìn từ bên trong: Trung Quốc tự định nghĩa
2008. Năm Thế Vận Hội. Ngọn đưốc Thế Vận chuyền tay từ Hy Lạp qua Bắc Kinh, trên một lộ trình dài 85,000 dặm, dừng chân trên 135 thành phố. Khoảng thời gian ấy, Trung Quốc bị thế giới lên án gay gắt, nhất là về nhân quyền và đàn áp ở Tây Tạng. Luân Đôn, Paris, San Francisco, Canberra... khắp nơi, các hội đoàn nhân quyền tổ chức phản đối khi đuốc Thế Vận rước qua. Thế nhưng, khắp nơi, Hoa kiều bừng bừng lửa hận đáp trả, khí thế ngùn ngụt không thua gì ở chính quốc, nhất là trong giới thanh niên, sinh viên ở các trường đại học tiến bộ, Duke, Berkeley, Chicago... khắp nơi! Siêu thị Carrefour của Pháp, đang ăn khách thế, phát đạt mở nhánh trên 20 thành phố ở Trung Quốc, bị dân chúng ồ ạt tấn công. Khẩu hiệu, la hét:
Nói không với Carrefour!!! Nói không với bọn đế quốc Pháp!!!
Cực lực phản đối cuộc xâm lăng Anh-Pháp năm 1860!
Toàn dân Trung Quốc đứng lên!!!
Ô hay, Thế Vận Hội thì có ăn nhậu gì với liên quân Anh Pháp hồi xửa hồi xưa, hồi cố nội cố ngoại các vị ấy chưa đẻ? Ấy thế mà lịch sử bốc máu chảy rần rần trong gân cốt. Ai cả gan động đến cái lông chân Trung Quốc ngày nay, mà lại xấu số trót sinh vào đất Nhật hay đất Tây phương, hãy coi chừng: "Đừng quên quốc sỉ!" Wuwang guochi! Bốn chữ ấy ngự trị trên bàn thờ, tín đồ của cái đạo dân tộc chủ nghĩa ấy đạp nát như voi đạp bả mía bất cứ ai dám cả gan thách thức. Các nhà nghiên cứu đánh cuộc cho hòa bình cũng hãy coi chừng! Cái thứ lửa tân chủ nghĩa ấy đốt râu quý vị bao giờ không hay.
Quá dễ dàng để minh chứng điều ấy qua vài biến cố lớn đã xảy ra: vụ Mỹ ném bom nhầm trên tòa đại sứ Bắc Kinh ở Belgrade năm 1999 hay vụ đụng độ giữa máy bay Mỹ EP-3 và máy bay Trung Quốc F8 kế cận hải phận Hải Nam năm 2001. Lạ thật, tưởng giới trẻ dị ứng với chế độ, ai ngờ sinh viên rần rộ phô trương khí thế trước Sứ quán Mỹ, bao vây, ném đá, đốt xe, đốt cà nhà của tổng lãnh sự Mỹ ở Thành Đô. Lửa ấy, sách báo thế giới đã nói nhiều. Nhưng, để hiểu gan ruột anh Tàu, không phải cứ tìm đến những chuyện lớn mà hiểu; chính trong những chuyện tầm phào nhất, người Việt chúng tôi hiểu anh Ba rành rọt hơn Tây. Chẳng hạn chuyện này: cái mề đay vàng của Thế Vận Hội.
Bất cứ ở nước nào, thể thao cũng là đầu tư cho chính trị quốc tế. Cả chính trị quốc nội nữa, vì chính quyền cũng được thơm lây nhờ thắng lợi của các lực sĩ. Ở Tàu cũng vậy thôi... nhưng mà khác. Phải là huy chương vàng kia! Đừng nói: thì ở đâu chẳng vậy! Không phải! Khác hẳn, chẳng giống ai. Ở đâu khác, được bạc hay đồng cũng vui rồi. Ở Tàu, phải là vàng! Bạc và đồng là sọt rác! Phải là vàng mới thiêng liêng. Và thiêng liêng như Thượng Đế. Nói theo giọng Mao, mề đay vàng là "khí giới nguyên tử tâm linh". Tại sao? Thì tại vì lịch sử! Tại vì "đừng quên quốc sỉ!" Trước đây, bọn Nhật Bản và bọn đế quốc Tây phương đã dám nói: Trung Quốc là "kẻ phàm phu bệnh hoạn ở Đông Á". Dongya bingfu! Thật ra, nguyên thủy, câu ấy ám chỉ sự suy nhược của nhà Thanh, giống như đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành "Đông Á bệnh phu" của châu Âu. Thế nhưng tín đồ của chủ nghĩa dân tộc cải biên ngày nay nghĩ khác: bọn đế quốc ấy dám chê hình hài thể xác của chúng ta! Đã thế thì phải cho chúng nó biết hình hài này đè bẹp thể xác chúng nó như thế nào. Thế là bắt đầu nhồi nhét lịch sử Thế Vận Hội vào đầu giới trẻ năm 2004:
"Trước 1949, lực sĩ Trung Quốc đã tham dự 3 Thế Vận, nhưng lần nào cũng trở về với thất bại, không đạt được huy chương nào. Một tờ báo ngoại quốc đăng một tranh hý họa: dưới lá cờ năm vòng tròn của Thế Vận, một toán Trung Hoa ốm yếu, da bọc xương, bận lễ phục quan gia và Âu phục, khiêng một quả trứng vịt khổng lồ - một con số không. Bức tranh hý họa đó nhan đề: " Đông Á bệnh phu". Đó là một chế diễu và nhục mạ".11
Thật ra, bức tranh châm biếm đó không phải đăng trên một tờ báo phương Tây mà trên một tờ báo Hoa ngữ ở Singapore. Nhưng hề chi sự thật, đây đâu phải là thể thao, đây là quốc nhục phải rửa.
Bởi vậy mà cái huy chương vàng của Liu Xiang ở Thế Vận Athens 2004 là thiêng liêng! Nó thiêng liêng vì nó là huy chương về môn chạy đua 110 mét có rào cản. Thế giới chứng kiến tận mắt: thân thể của anh phàm phu ngày xưa đè bẹp thân thể của bọn Tây phương ngày nay. Liu tuyên bố một câu danh ngôn tại Athens: "Chiến thắng của tôi chứng minh rằng lực sĩ da vàng có thể chạy nhanh như lực sĩ da đen hoặc da trắng". Ai nói đó là thành tích thể thao, người đó chẳng hiểu gì anh Ba. Đó là cả dân tộc Trung Hoa đứng lên xóa sạch tủi nhục của thế kỷ.
Bởi vậy mà phải là huy chương vàng! Bạc hay đồng thì hóa ra thân thể anh Tàu vẫn cứ bingfu, vẫn cứ thua thân thể anh Tây! Huy chương vàng vừa rửa hận vừa mang tính chính đáng đến cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Một tỷ trái tim cùng tung hô cặp giò của lực sĩ Liu nghĩa là một tỷ trái tim cùng tung hô Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ai đem lại tự hào này nếu không phải là Đảng! Ai đưa Trung Quốc từ địa vị cái trứng vịt lộn năm 1932 lên địa vị thượng đẳng 100 huy chương và 51 vàng năm 2008? Có lĩnh vực nào mang lại đồng thuận, đồng tình, đồng hỷ, đồng lạc, đồng bốp bốp vỗ tay như lĩnh vực thể thao? Đảng Cộng sản vạn vạn tuế!
Cái rủi của Trung Quốc hồi thê kỷ 19 biến thành cái may cho chế độ hiện hành. Khi hệ ý thức Mao không còn linh hiển nữa để giúp Ngu Công dời núi thì hệ ý thức dân tộc chủ nghĩa vù đến, đúng lúc, đúng thời, thay cái cũ bằng một cái mới đáp ứng đôm đốp tâm lý cộng đồng, đánh thức cả gia tài văn hóa ngàn đời nằm ngủ trong tận thâm sâu của tiềm thức dân tộc. Bởi vậy, câu hỏi mà nhiều giới quan sát ở Mỹ đã đặt ra nghe nó ngây ngô làm sao: dân tộc chủ nghĩa ấy là từ trên ban xuống hay từ dưới trồi lên? Hỏi vớ vẩn! Tất nhiên là cả hai! Cái dễ sợ, cái khiếp đảm của vũ bão triều cường đang cuồn cuộn phăng phăng trào lên ở phương Bắc là do ở chỗ gặp gỡ của hai hưng phấn, từ trên xuống và từ dưới lên, đưa đến một run rẩy hoan lạc song phương, từ đó thai nghén một đứa con bất trị có tên là chiến tranh.
Từ trên xuống: "Vật vong quốc sỉ" là khẩu hiệu dẫn đầu cả một quốc sách dạy con trẻ bằng sách giáo khoa, viện bảo tàng, nói chuyện tập thể, tiểu thuyết, văn thơ, nhạc, phim ảnh, nghỉ lễ, bản đồ, tham quan di tích lịch sử... dạy trẻ không được quên. Không được quên "thế kỷ tủi nhục" từ chiến tranh nha phiến 1840. Không được quên cái gì và phải nhớ cái gì: đó là nhét vào đầu con trẻ định nghĩa về Trung Quốc, về bản chất của dân tộc, về bản chất của chính người dân Trung Quốc, chính mỗi cá nhân. Đừng quên: tủi nhục ấy là trước Tây phương và trước Nhật Bản.
Và phải nhớ: "Trung Quốc" là nước ở trung tâm. Trung tâm ở đây không phải là khái niệm địa lý, cũng phải chỉ là khái niệm văn hóa: nó bao hàm cả ý nghĩa chính trị. Ai kiểm soát được trung tâm, kẻ ấy là nhà cầm quyền chính đáng để cai trị thiên hạ. Tác giả câu ấy là Tưởng Giới Thạch. Trung Quốc còn có tên nữa là Trung Hoa. Tôi được nghe một học giả cắt nghĩa nguyên thủy của từ này: "Hoa" là đẹp đẽ, áo quần đẹp, trang sức đẹp. Trung Quốc tự cho mình là "hoa", chung quanh tất cả đều là "di". Với văn hóa đẹp đẽ, Trung Quốc tự cho mình nhiệm vụ đồng hóa man di, "dụng Hạ biến di" ("yong xia bian yi") như lời của Mạnh Tử. Man di mà được biến đổi văn hóa thì "di" cũng thành "hoa", thành dân nước Hạ. Sĩ phu ta ngày xưa chắc đã mắc lỡm cái sách lược này: suốt đời dài lưng tốn vải cặm cụi sách đèn cố làm sao cho "giống", chứ không phải cho "khác" như anh hảo hán samourai Nhật kia. Cứ đọc sử thần Ngô Sĩ Liên thì rõ. Tôi lại được cắt nghĩa thêm: Trung Quốc lại còn có tên là Shenzhou, xuất hiện từ thời Chiến Quốc, đất thiêng, đất thánh. lại còn được gọi là Thiên Triều, danh hiệu mà nghe nói giới trẻ ngày nay rất ưa dùng trên internet để gọi nước của họ.
Lại phải nhớ: trong tư tưởng cổ truyền của Trung Quốc, không có khái niệm "quốc gia", chỉ có khái niệm "thiên hạ" mà Trung Quốc chiếm vị trí trung tâm. "Thiên hạ" bao hàm nhiều nghĩa. Một, đó là cộng đồng văn hóa, khác với ý nghĩa chủng tộc, chính trị hoặc pháp lý trong khái niệm "quốc gia" của phương Tây. Văn minh là căn bản của khái niệm "thiên hạ". Với Khổng giáo, Trung Quốc tự cho mình là trung tâm của văn minh, nghĩa là văn minh cao hơn, đạo đức cao hơn. Hai, "thiên hạ" không có biên giới như biên giới của quốc gia ngày nay. Ai đồng chí với văn minh Hán thì là Hán: Mãn châu chẳng hạn. Ba, ta đã ở trung tâm, ta là cao nhất, vậy thì làm sao quan niệm được thế giới bao gồm (trên lý thuyết) các quốc gia bình đẳng? Trung Quốc là thế giới, đâu phải là một nước trong thế giới? Hồi bắt đầu chiến tranh nha phiến, Charles Elliot gửi một văn thư cho Lin Zexu, chức sắc của nhà Thanh phụ trách giao thương nha phiến, trong đó viên chức của nước Anh dại mồm gọi Anh và Trung Quốc là "hai nước". Liu nổi cơn thịnh nộ trả lại thư không thèm đáp, tên kia hỗn láo quá, "dưới vòm trời này không nơi nào có thể được xem như ngang hàng với thiên triều". Bốn, "thiên hạ" đặt trọng tâm trên sức mạnh mềm, như văn hóa, đạo đức, lễ nghĩa hơn là trên sức mạnh cứng - quân sự, kinh tế - để duy trì trật tự thế giới như ngày nay. Thần phục văn minh của thiên triều, tuân thủ lệ cống, lễ nghĩa trên dưới phân minh, ấy là trật tự của hệ thống "thiên hạ". Ai dám bảo điều này không cắt nghĩa thói hống hách, trịch thượng của thiên triều ngày nay?
Đừng quên và phải nhớ. Đừng quên nhục nhã. Phải nhớ vinh quang. Định nghĩa về Trung Quốc ngày nay dựa trên hai chân đứng đó. Và vinh quang ngày xưa được phục hồi như ngày nay là nhờ Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đảng ấy không còn định nghĩa mình là "người tiên phong của giai cấp vô sản" nữa, mà là người yêu nước "vững chắc nhất, hết lòng nhất". Nhiệm vụ của Đảng Cộng sản không còn là "thực hiện một xã hội cộng sản" nữa, mà là "đại phục hưng dân tộc Trung Quốc". Quốc sách "đừng quên, phải nhớ" là từ trên dội xuống bằng cả một hệ thống giáo dục, tuyên truyền mà sự thành công là nhờ ở đáp ứng hồ hởi của dân chúng từ dưới lên trên. Nước Mỹ bỏ tiền ra chiêu đãi sinh viên Trung Quốc, tưởng rằng giới trẻ này sẽ hấp thụ văn hóa phương Tây. Ô hô, măng này hùng hục dân tộc chủ nghĩa không thua gì tre già tre lão.
Thật ra, đây là làn sóng dân tộc chủ nghĩa thứ hai. Làn sóng thứ nhất, hồi thế kỷ 19, hãy còn yếu ớt lắm, và không hẳn từ trên xuống hay từ dưới lên. Trên thì nhà Thanh đã suy. Dưới thì dân ngu khu đen, chỉ khoái làm "cách mạng" kiểu A.Q của Lỗ Tấn. Dân tộc chủ nghĩa hồi đó phát khởi từ ở giữa, giữa trên và dưới, từ tầng lớp trí thức mà tiêu biểu là phong trào Ngũ Tứ 1919. Làn sóng thứ nhất là dân tộc chủ nghĩa tự vệ: nó chính đáng và không nguy hiểm cho ai. Làn sóng thứ hai là dân tộc chủ nghĩa tấn công: nó nguy hiểm vì đến từ một nước bá quyền. Nó càng nguy hiểm hơn khi cả một dân tộc sôi sục tấn công, hung hăng đến nỗi cấp trên phải hãm bớt phanh, sợ chính mình cũng bị đốt cháy, sợ không điều khiển nổi cơn lũ. Từ một ý thức hệ do Nhà nước đẻ ra để chính đáng hóa lãnh đạo của mình, thứ "dân tộc chủ nghĩa Nhà nước" ("state nationalism") ấy đã trở thành "dân tộc chủ nghĩa xã hội" (social nationalism) khi nó động viên được cả xã hội. Mearsheimer gọi thứ dân tộc chủ nghĩa "bình dân" ấy của Trung Quốc ngày nay (popular nationalism) là "siêu dân tộc chủ nghĩa" (hypernationalism) có thể đưa đến những hiểm nguy khó lường. Nói như nhà văn danh tiếng Hồ Bình (Hu Ping): "Đối với dân Trung Quốc, lịch sử là tôn giáo của chúng tôi... Chúng tôi không có một chuẩn mực siêu nhiên về phải trái, tốt xấu, cho nên chúng tôi xem Lịch Sử như là Quan Tòa tối cao... Mỗi người dân Trung Quốc khi sinh ra đã là tín đồ của dân tộc chủ nghĩa".

III. Lời kết
Lịch sử của nước nào cũng có lúc huy hoàng có lúc bi thảm. Lịch sử của nước nào mà chẳng có vết thương? Cái quái đản của Trung Quốc là bắt thế giới phải đau cái vết thương của chính họ và phải chấp nhận quyền của cái vết thương đó cứ mãi mãi là vết thương không lành, sẵn sàng chảy máu. Dân tộc chủ nghĩa, nước nào cũng có, không nhiều thì ít. Cái quái đản của Trung Quốc là bắt cả thế giới phải xem trường hợp của mình như là duy nhất, riêng biệt, thiêng liêng, ai cũng phải cúi đầu. Muốn chơi với Trung Quốc, ai cũng phải cúi đầu ký một câu mà trên thế giới không đâu thấy một tập tục ngoại giao tương tự: "Đài Loan là một phần của Trung Quốc..." Dân tộc chủ nghĩa ấy là mầm mống của chiến tranh.
Từ những trình bày trên đây, xin rút ra bốn kết luận:
1. Chỉ cần để ý một chút là thấy cái thâm ý gắn liền mưu đồ bá quyền với chính sách "quốc sỉ". Ta phải rửa nhục bằng cách lấy lại cái gì đã mất. Trong những cái đã mất ấy, có cái bản đồ. Về điểm này, Tàu Tưởng và Tàu Mao không khác nhau. Ngày 27-3-1934, Tưởng Giới Thạch ghi trong Nhật Ký quyết định soạn một sách giáo khoa dạy về bổn phận và trách nhiệm đối với nước. Mục 3: "Chiếm lại Đài Loan và Triều Tiên. Chiếm lại lãnh thổ nguyên thủy vốn là thành phần của triều Hán và triều Đường..; như vậy chúng ta, con cháu của Hoàng Đế, sẽ không còn hổ thẹn". Sáu mươi năm sau, sách giáo khoa của Bắc Kinh mở đầu chiến dịch giáo dục lịch sử ghi triều đại Goguryeo (37 trước TL - 668 sau TL) của Triều Tiên là thành phần của lịch sử Trung Quốc.12 Triều Tiên thôi sao? Nghe thêm than thở của các nhà ngoại giao Trung Quốc đầu thế kỷ 20: chúng ta đã mất "Hồng Kông của chúng ta", "Miến Điện của chúng ta", "Xiêm La của chúng ta", "A Nam của chúng ta". Bọn đế quốc đã "ct giang sơn của chúng ta như cắt trái dưa hấu". Tiếp nối truyền thống, Tàu Mao ghi thêm quần đảo Trường Sa như là "đương nhiên của Trung Quốc" trong một bản đồ in năm 1999. Đó là những lãnh thổ mà chúng ta đã mất trong "thế kỷ tủi nhục", đương nhiên châu phải về hợp phố. Một sách giáo khoa khác viết rõ mồn một: "Lịch sử thế kỷ quốc nhục của chủng tộc Trung Quốc luôn luôn nhắc nhở chúng ta rằng các giống dân ngoại quốc xâm chiếm chúng ta bằng đường biển. Kinh nghiệm không ngừng buộc chúng ta phải nhớ: chiến hạm xuất hiện từ Thái Bình Dương: tổ quốc chúng ta chưa thống nhất toàn vẹn; cuộc tranh đấu về chủ quyền trên Trường Sa, Diao Yutai và biên giới Ấn-Trung vẫn còn tiếp diễn... ta phải xây dựng một hải quân hùng hậu để thu hồi toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ những quyền và đặc quyền về lãnh hải của ta".13 Hay thật! Trung Quốc rửa nhục bằng cách xây dựng lại đế quốc của nhà Thanh! Bằng cách đòi hỏi "địa vị xứng đáng trên sân khấu quốc tế"! Ngôn từ "quốc sỉ" phà hơi vào than hồng chiến tranh, hiểm nguy hiện ra rõ hơn bao giờ hết.
2. Bởi vậy, thế giới phải nói thẳng với Trung Quốc: ông hãy chấm dứt cái trò quốc sỉ ấy đi. Quốc sỉ! Nhục của nước! Nhục nào? Cái nhục ấy đã có hơn trăm tuổi thọ rồi. Có người hỏi ông: bao giờ thì nó chấm dứt? Ông không chịu trả lời,14 bởi vì đó là con ngoáo ộp để ông dọa thiên hạ. Nước nào? Trung Quốc ngày nay đâu còn là Trung Quốc hút thuốc phiện! "Đã đến lúc Trung Quốc chấm dứt nói mình là nạn nhân và hãy sống như một quốc gia bình thường", một tác giả Mỹ đã viết như thế.15 Hay nói như một nhà văn Trung Quốc, Vương Sóc (Wuang Shuo), trong tiểu thuyết "Please don't call me Human": "Cứu quốc! Quốc nào? Cứu ra khỏi cái gì? Cám ơn bạn, nước chúng ta làm ăn tốt, và càng ngày càng tốt".16
Làm ăn tốt: ai cũng mong muốn một Trung Quốc như thế, nhất là Mỹ. Không ai ngăn cản nổi một Trung Quốc trỗi dậy, một Trung Quốc cường thịnh. Nhưng một Trung Quốc cường thịnh phải là một Trung Quốc có trách nhiệm trên thế giới và cư xử một cách có trách nhiệm: lý thuyết của Mỹ là như thế ngay từ đầu. Nhưng Trung Quốc lại làm như thể mọi người phải gánh trách nhiệm về tủi nhục của ông, trước là Mỹ, bây giờ cả Mỹ lẫn Nhật. Có tác giả đã nhận định: "Chính quyền Trung Quốc tuyệt đối không muốn giải quyết vấn đề các đảo Senkaku. Nếu ngày mai Nhật trao Senkaku vào tay Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ lập tức bắt đầu nói đến Okinawa. Lập tức. Họ sẽ nói: "Chúng tôi không muốn Senkaku nữa. Chúng tôi muốn Ryukyus". Nói như vậy có thể là hơi quá. Nhưng câu tiếp theo thì không sai: "Hệ thống chính trị của họ cần phải có đối nghịch với Nhật. Đó là ô-xy của hệ thống. Họ không thể sống mà không có lập trường nghịch với Nhật. Các bạn không thể làm giảm căng thẳng, bởi vì phía Trung Quốc tuyệt đối cần phải có căng thẳng".17 Đúng hay sai không phải là vấn đề ở đây. Vấn đề ở đây là: Trung Quốc không thể chiếm độc quyền về dân tộc chủ nghĩa. Dù Nhật có sai trái bao nhiêu đi nữa trong thế chiến thứ hai, ông khiêu khích tự hào dân tộc nơi họ, dồn họ đến chân tường, thì họ phản ứng thôi.

 Cao Huy Thuần

Nhân Mùa Vu Lan: Từ Tình Mẹ Đến Trách Nhiệm Của Phụ Nữ

Từ Tình Mẹ Đến Trách Nhiệm Của Phụ Nữ


Vào năm 2006 tại St. Omer, Pháp quốc, một thành phố nhỏ hiền hòa với chừng 15 000 dân, Marion H. bà mẹ trẻ 26 tuổi đã dùng tay không bóp cổ giết chết con chó Berger mang bệnh dại khi nó đang hung dữ cắn giết hai đứa con nhỏ hai tuổi và bốn tuổi của bà.
David Gianelli, một nhân viên cứu hỏa kinh nghiệm tại thành phố New York rung động thốt lên „Tim tôi thiếu điều ngừng đập“ khi kể lại cùng báo chí câu chuyện bà mẹ Scarlet bất kể khói lửa, bất kể vết thương đang cháy bỏng trên thân thể chạy vào chạy ra năm lần liên tiếp trong căn nhà ngập tràn khói lửa để cứu năm đứa con 2 tuần tuổi của bà.
Những mẫu chuyện can đảm, tình yêu tuyệt đối của các bà mẹ dành cho con cái như trên đã xảy ra vượt qua mọi khái niệm về không gian lẫn thời gian. Với tình yêu này các bà mẹ có thể vượt qua mọi trở ngại để làm được những chuyện mà không một người bình thường nào có thể làm được. Tình yêu này còn được gọi là „Tình Mẹ“, cái Tình đã tạo nên muôn ngàn cảm hứng cho những áng văn thơ tuyệt tác trên thế giới từ xưa đến nay.
Không có „Tình Mẹ“ thì không thể nào có được một Betty Mahmoody, một phụ nữ người Mỹ quyết tâm vượt qua mọi trở ngại, bất kể nguy hiểm đến tính mạng để cứu đứa con gái ra khỏi Iran sau khi bé bị chính cha ruột bắt cóc từ Mỹ đem về. Cuốn hồi ký được chuyển thành phim „Không có tất cả nếu không có con gái của tôi“ của Betty Mahmoody đã trở nên một trong những cuốn sách được bán chạy hàng đầu trên thế giới. Động lực nào để kéo người mẹ mỗi đêm ba lần ra khỏi giường để thay tả cho em bé, ngồi suốt đêm bên cạnh khi bé bị bệnh trong khi người cha vẫn ngũ vùi nếu không phải đó là „Tình mẹ“? Đây chính là cái quý giá nhất trong cuộc đời mà chúng ta có được như Peter Rosegger, nhà văn người Áo vào thế kỷ 18 đã từng nói: „Mẹ tôi không có gì khác hơn ngoài Tình yêu, cái tốt nhất tôi có trong người, tôi có được từ Mẹ.“
Vậy thì cái gì đã tạo nên „Tình mẹ“, cái tình mà hầu hết mọi người đều công nhận là loại Tình không điều kiện, không tính toán, không đòi hỏi bù trả ơn nghĩa? Nhưng một khi „Tình mẹ“ cao cả thiêng liêng như vậy thì tại sao vẫn có những bà mẹ bỏ rơi, xua đuổi, đày ải và ngay cả giết chết con cái của họ?
Shari Thurer, nữ tâm lý gia người Mỹ đã từng tuyên bố: “Trong thế giới lạnh lẽo và khắc nghiệt này mối liên hệ giữa Mẹ và Con có lẽ là tình yêu chân thật nhất, tự nhiên nhất, tự phát và cũng quý giá nhất…“. Các nhà nghiên cứu về thần kinh học, tâm lý học, xã hội học trên thế giới đã bỏ không biết bao nhiêu thời gian để tìm hiểu về mối liên hệ Mẫu Tử này, một mối liên hệ xem chừng rất đơn giản nhưng cũng cực kỳ khó hiểu đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới chuyên môn. Ít nhất cho đến nay các nhà nghiên cứu sinh thần kinh và hành vi học đã có thể cùng thống nhất đưa ra kết luận, Hormon Oxytocin và Vasopressin là hai trong những chất hiệu quả nhất lèo lái sự Chăm sóc, Lo lắng của các bà mẹ. Cũng nhờ chúng mới có mối liên hệ mẹ con khắng khít. Hormon Hypo-thalamus trên trung tâm điều khiển não bộ sản xuất ra „chất tình mẹ“ rồi đưa vào máu qua các tuyến não khi cần thiết và cũng là động cơ chính giúp cho tử cung trở nên trơn láng, giảm bớt đau đớn khi sinh nở và cũng tạo ra dòng sữa khi bà mẹ cho con bú. Đây cũng là lý do để giải thích sự khác biệt giữa tình cha và tình mẹ. Dù người cha có tốt thế nào đi chăng nữa cũng không thể có được một tình mẹ vì não bộ của họ không biết đến những dấu ấn thần kinh nội tiết qua sinh nở và khi cho con bú. Nếu thiếu Hormon Oxytocin, các phụ nữ sẽ không có tình mẹ, họ sẽ dễ dàng bỏ rơi, đánh đập, hành hạ con cái.
Lập luận này càng có cơ sở khi thông qua kết quả một cuộc thăm dò ý kiến trên diện rộng. Khi được hỏi „người nào bạn cảm thấy có mối liên hệ mạnh và gần gũi nhất?“ 41% các bà mẹ trả lời: Con của tôi. Trong khi chỉ có 13% các ông cha cho rằng con cái là mối liên hệ thân thiết nhất.
gorillas-mutterliebe
Có nhiều dấu hiệu cho thấy tình yêu giữa mẹ và con hiện hữu trước tình yêu đôi lứa. Trong động vật cũng không khác hơn, những hành động dịu dàng giữa những con vật và con cái chỉ xảy ra ở những loài thú mà cha mẹ biết chăm sóc con cái.
Người mẹ là người ban sự sống, mang lại cảm giác hiệp nhất, đó là một kinh nghiệm vô cùng quan trọng đối với trẻ em. Đây là hang động an toàn, ấm cúng khi trẻ gặp điều sợ hãi hay buồn bã. Mối liên hệ mẹ con là những gì không thể thay thế được ngay cả những người dù có thiện chí thế nào đi chăng nữa. Một số bằng chứng cho thấy những đứa bé mất mẹ sớm về sau khi trưởng thành thường gặp trục trặc trong đời sống lứa đôi. Trong một quãng thời gian dài thiếu mẹ, họ không học được việc tỏ bày tình yêu, không quen cũng như không biết đến sự dịu dàng nâng niu của người khác dành cho mình.
Không một ai còn nghi ngờ gì nữa về tầm quan trọng của người mẹ một biểu trưng cho phụ nữ trong gia đình và xã hội nhưng về mặt khoa học và nhất là trong tôn giáo, giá trị của phụ nữ lại gặp nhiều chướng ngại hơn. Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử người ta dễ nhận ra phụ nữ gặp rất nhiều khó khăn khi muốn thực hiện trách nhiệm trong các lĩnh vực chuyên biệt của họ. Tuy nhiên cách đây hơn 2000 ngàn năm Đức Phật đã nhìn ra vai trò của phụ nữ. Đức Phật bác bỏ hệ thống đẳng cấp và sự áp bức của phụ nữ, không những không thù địch hoặc hạ thấp phẩm giá phụ nữ, Ngài còn làm một cuộc „cách mạng“ chấp nhận bình đẳng với nữ giới. Ngài thâu nhận 23 phụ nữ cùng với 54 đàn ông vào hàng đệ tử thân tín hàng đầu và cũng là những vị về sau được chứng Niết Bàn. Đây là một tư tưởng và hành động quan trọng „vượt thời gian“, „vượt mọi thời đại“ vì mãi cho đến ngày nay dù trong hàng chính phủ hoặc hàng ngũ lãnh đạo các tập đoàn đa quốc gia vẫn không có một „tỷ lệ phụ nữ“ cao như vậy. Đáng tiếc, về sau khi đạo Phật du nhập vào những nước khác do ý thức văn hóa tập quán „trọng nam khinh nữ“ tại các nước Á châu, hàng Ni Phật vẫn bị phân biệt như ngoài thế gian. Tuy nhiên ngày nay tại các nước Tây phương, những nơi phụ nữ được đề cao thì việc phân biệt Ni Sư, thí dụ như chỉ xem trọng Tăng, đã thực sự biến mất hẵn. Dù có sự phân biệt Ni Sư trong hàng giáo phẩm nhưng nói chung Phật giáo luôn luôn tôn quý phụ nữ. Phật giáo Đại Thừa nhận ra tất cả chúng sinh là Mẹ của mình, xem người Mẹ là tiêu biểu cho sự phát triển của tình yêu và lòng từ bi, là một hình thức đặc biệt mãnh liệt của tình cảm. Ngài Bồ Tát Quán Thế Âm trong đạo Phật là một thí dụ khác. Không ai khẳng định Ngài là nam hay nữ nhưng tượng tạc Ngài vẫn là Nữ vì chúng sanh xem Ngài là một bà Mẹ, bà Mẹ của chúng sanh. Bồ-tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi. Hạnh đại từ bi của Ngài là an ủi, nhắc nhở, khuyên lơn, đem lại an vui, cứu vớt cho tất cả chúng sanh. Mà Hạnh từ bi thì có khác gì với tình thương của người mẹ, nên người ta tạc tượng Ngài là nữ để biểu trưng cho Mẹ, biểu trưng cho hạnh từ bi.
Phật giáo ngày nay vẫn đề cao giá trị của phụ nữ, chứng thực qua phát biểu của Đức Đạt Lai Lạt Ma khi nói về vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội và trong đời sống gia đình nhân buổi lễ khai mạc “Hội nghị quốc tế đầu tiên của Ni Phật” vào năm 1987 tại Bodhgaya thuộc Ấn Độ: „Sự phát triển về thể xác và trí năng của một đứa trẻ lệ thuộc vào tình yêu và sự chú ý săn sóc của người mẹ. Nếu người mẹ có một nền giáo dục tốt và qua đó họ chú ý săn sóc trẻ nhiều hơn, họ sẽ tạo ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ và cho toàn xã hội. Vì trách nhiệm này của phụ nữ cho xã hội và cho nền hòa bình thế giới nói chung thì thật là đúng khi họ đứng lên đòi hỏi quyền lợi cho mình. Nhưng quý vị không nên thực hiện điều này với niềm tự hào hay ganh tị, nhưng với động lực muốn tự nhận trách nhiệm để đóng góp vào việc phát triển xã hội. Điều này có giá trị cho toàn thể phụ nữ, có hay không có niềm tin tôn giáo.“
Ngày 13.07.2013 vừa qua, một năm sau từ ngày cô bé Malala Yousafzai 16 tuổi người Pakistan bị quân khủng bố Taliban bắn trọng thương vì lên tiếng đòi hỏi quyền được đi học cho nữ sinh, đã đứng trước hội đồng Liên Hiệp Quốc đòi hỏi quyền cho người phụ nữ được sống trong hòa bình, quyền được đối xử một cách tôn trọng, quyền được hưởng những cơ hội bình đẳng và đặc biệt là quyền cho trẻ em, cho phụ nữ được đi học. Cô bé nhấn mạnh về tầm quan trọng của sách vở và bút viết khi trước họng súng “Ngòi viết mạnh hơn lưỡi gươm”. Cô tự đặt câu hỏi là những kẻ cực đoan sợ gì khi họ bắn giết các nữ giáo viên? Câu trả lời là chẳng qua họ sợ sách và bút. Sức mạnh của giáo dục làm cho họ sợ. Họ sợ hãi phụ nữ. Sức mạnh trong tiếng nói của phụ nữ làm cho họ sợ. Và cuối cùng Malala Yousafzai khẳng định cùng thế giới, sẽ tập trung tranh đấu cho quyền phụ nữ và quyền được đi học của các em bé gái vì họ là những người phải chịu khổ nhiều nhất, sẽ tập trung kêu gọi phụ nữ hãy đứng độc lập và tự đấu tranh cho chính mình. Malala Yousafzai kêu gọi những nhà lãnh đạo thế giới rằng tất cả những thỏa hiệp phải bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em. Thỏa hiệp nào đi ngược lại quyền lợi của phụ nữ là không thể chấp nhận được.
Sự mất cân bằng đáng kể của lực lượng nam và nữ là một đặc trưng của thế giới ngày nay. Sự mất cân bằng, sự thiếu hụt lực lượng nữ chịu trách nhiệm cho một chuỗi dài các lạm dụng và tàn bạo. Dưới áp lực của sự bất công, ngày càng nhiều phụ nữ trên thế giới đứng lên bày tỏ khả năng của họ và vận động đòi hỏi nữ quyền. Họ đứng lên cho các giá trị con người trong một thế giới của con người. Có người đặt vấn đề, liệu phụ nữ có thể mang lại lợi ích gì cho thế giới này? Có chăng thì đại đa số phụ nữ cũng chỉ thành công trên diện quốc gia hay diện nhỏ khu vực sống mà thôi. Thực sự phụ nữ trên thế giới đạt thành công hơn nhiều so với những vấn đề được đặt ra. Phụ nữ, các bà mẹ có ảnh hưởng trực tiếp thế hệ tiếp theo, ở nhà, ở trường mẫu giáo ở trường học và ngay cả trường đời. Thực tế là bao quanh trẻ em từ bé đến tuổi dậy thì gần như là độc quyền của phụ nữ và đây cũng chính là giai đoạn quan trọng nhất để kết tụ nhân cách con người về sau này. Thành công hay thất bại, là một phần thưởng hay lại là một gánh nặng cho xã hội chính là do trong giai đoạn phát triển này. Đây chính là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng đối với xã hội của các bà mẹ mà ít người nhận ra. Một nền hòa bình thế giới thực sự đến từ đâu? Phải chăng đến từ tình yêu, nhân cách của những con người mà những con người đó lại được các bà mẹ ôm ấp giáo huấn từ bé? Thật đúng như Eibl-Eibesfeldt nhà nghiên cứu xã hội học tại Đức đã từng cho rằng: “Tình yêu của Mẹ là mối liên hệ xã hội khắng khít nhất. Với tình mẹ mới nảy sinh ra tình yêu trên thế giới.“ Vậy thì không phải là lộng ngôn khi ta kết luận rằng, nền chính trị thế giới nằm trong vòng tay các bà mẹ.
Xã hội ngày nay chỉ nhìn thấy những thành quả trước mắt mà không chịu tìm hiểu đâu là Nhân để sinh ra những Quả ngọt (hay đắng) như vậy. Đóng vai trò tối quan trọng trong gia đình, giữ một nhiệm vụ thầm kín cho xã hội, người phụ nữ, điển hình là các bà mẹ đã hoàn thành vai trò tối ưu của mình. Nhiệm vụ còn lại là của xã hội và cộng đồng, phải nhìn thấy để trân trọng những đóng góp và nhất là phải trả lại công bằng, bảo vệ và hỗ trợ nhiều hơn nữa cho người phụ nữ.

Phương Tôn

--------

Việt Minh : Tôn thờ kẻ mang giặc "Pháp" về lần thứ ba

Hồ Chí Minh mang giặc Pháp về lần thứ ba

 
H9 Hiện tại Việt Nam không ít người đang đề cập tới hai chữ “bán nước” liên quan tới vấn đề Đảng Cộng Sản Việt Nam dâng lãnh thổ, biển đảo cho Trung Cộng từ nhiều năm qua. Nay hiện tượng tàu HD 981 đang đóng tại vùng biển thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam bảo là khoan dầu với lý do hợp tác kinh tế, hay cũng là dấu hiệu chính trị báo cho dân biết Việt Nam đã và đang lệ thuộc đàn anh tới giai đoạn gần hoàn toàn mất nước. Hai chữ “bán nước” cho ngoại bang đã xuất hiện từ 3/1946 khi Hồ Chí Minh(HCM) mang Pháp cộng về Hà Nội để hợp tác mà người ta gọi đó là Pháp trở về Việt Nam lần hai . Khoảng 8 năm sau, tức sau ngày chia đôi đất nước, HCM trân trọng nài nỉ Pháp trở về Hà Nội lần nữa. Đây là lần thứ ba. Pháp này là ai, cũng như tại sao Hồ lại cần họ đến quá mức như vậy?
 
Tại Pháp khi sắp sửa trở về Việt Nam sau hội nghị Fontainebleau, HCM nhận những lời tuyên chiến. Dù là Pháp trở về tái chiếm để dẹp làn sóng đỏ, nhưng nguyên nhân của cuộc chiến vẫn là HCM. Có chiến tranh hay không là do quyết định của Hồ.  Giáo sư Robert Templer, trong một lần về Việt Nam đến viếng lăng Hồ, sau vụ Trần Trường, đã có một bài viết về HCM và cho rằng chính Hồ đã phóng ra cuộc chiến làm chết hơn 3 triệu người.
 
Sainteny là người thiên tả, người ký với HCM Hiệp Ước Sơ Bộ và cùng nhau nâng ly chúc mừng, nhưng ít nhất đã trình bày một số sự thật về người quốc tế cộng sản này, sau nhiều năm hai bên qua lại.

(Ho Chi Minh and his Vietnam, Sainteny, page 66) -Từ một mệnh lệnh trụ cột bí mật, Hồ Chí Minh phóng ra cuộc chiến đầy thống khổ. Bên cạnh Hồ là hình ảnh của Nikolai Lenin và Josef Stalin, những ông thầy của Hồ.
 
Trở lại lúc HCM ở Pháp vào giai đoạn trung tuần tháng 9/1946.
 
The night before Ho was to return to Vietnam, Salan said to him – and Ho must have known it was true- “We are going to fight each other, and it will be very difficult.” Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, “If we have to fight, we will fight…You will kill ten of us and we kill one of you, but you will be the ones who grow tired.” (Ho Chi Minh, A Biography, Pierre Brocheux, 2007, page 120)
 
 Đêm trước khi Hồ trở về Việt Nam, ông Salan nói với Hồ, và Hồ đã phải biết đó là sự thật- “Chúng ta sắp đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn.” Thật vậy, Hồ nói với Sainteny và Marius Moutet, “Nếu chúng ta phải đánh nhau, chúng ta sẽ đánh…Các ông giết mười người của chúng tôi và chúng tôi giết một người của các ông, nhưng phe các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi.”
 
 
(Ho Chi Minh and his Vietnam, Jean Sainteny, 1972, page 66) -Ho Chi Minh và Jean Sainteny sau buổi họp với Georges Bidault vào tháng 7/1946
 
Sự xung đột xảy ra bắt nguồn từ sự vận động ráo riết của thống đốc Đông Dương, Thierry d’Argenlieu, và phe cánh cộng hòa để lấy lại quốc hội từ tay phe thiên tả (Đảng Xã Hội và Cộng Sản Pháp) sau cuộc bầu cử ngày 2/6/1946.
Trước đó, ngay trên đường bay tới Pháp, ngày 31/5/1946, và ghé dừng chân tại Ấn Độ, tướng Salan cũng đã báo cho Hồ biết rằng Đảng Cộng Sản Pháp đang trên đà thất thế và khuyên HCM nên “đầu hàng.” Tại Pháp, tinh thần và “tư tưởng cắc kè” của ông Hồ thể hiện rất rõ sau khi biết Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 bị vô hiệu hóa, nghĩa là mộng nhuộm đỏ ba miền Bắc Trung Nam tan theo mây khói . Cắc kè nghĩa là HCM chạy theo bất cứ thế lực nào đang nắm quyền, không cần biết lập trường của thế lực đó ra sao để chỉ đạt mục đích sau cùng.
Một lần họp mặt với “kiều bào” tại Pháp trong một hội trường khá đông người, HCM ngồi cùng Phạm Văn Đồng trên “panel” đã tuyên bố những lời rất tốt đẹp về chính phủ vừa đắc cử (thủ tướng Georges Bidault) rằng “nước Pháp bây giờ là một nước Pháp mới” không còn thực dân nữa nên hai bên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp phải nên hợp tác nhau. Trong tinh thần rất là “hòa hoãn” của HCM, nhưng cuối cùng thì lập trường không bắt tay với cộng sản của phe Bidault đã thể hiện rõ rệt qua lời tuyên bố của tướng Salan trước mặt HCM.
Ý định tái chiếm Đông Dương của Pháp đã xảy ra từ tháng 4, 1945, khi có đại hội tại San Francisco từ 25/4/1945 – 26/6/1945, gồm 50 quốc gia bàn về nhiều vấn đề sau thế chiến thứ hai chấm dứt. Qua việc quân đội Anh lãnh đạo bởi Tướng Douglas Gracey về Saigon chiếu theo hội nghị Potsdam, một số quân sĩ Pháp được người Anh thả ra từ những trại giam (Nhật bắt giam), và hiện tượng cuộc xung đột giữa quân Pháp và Việt Minh tại Saigon ngày 23/9/1945, cho thấy Anh cho phép Pháp dẹp làn sóng cộng sản đang bành trướng… Nhưng sau hội nghị Fontainebleau xảy ra từ 7-9, 1946, Pháp mới chính thức khai chiến với HCM và tái chiếm Đông Dương.
 
Pháp có Hoa Kỳ hỗ trợ. Nhưng sau cuộc họp tại Berlin vào 2/1954 giữa các nước đồng minh, Pháp có ý định “ngưng chiến để bàn về hòa bình” với Hà Nội, và HCM đã bằng lòng trên nguyên tắc. Tuy nhiên, Pháp và Mỹ đã bị lừa, thay vì vào bàn hội nghị vào ngày 8/5/1954 thì Việt cộng lại tấn công biển người trận Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954. Cuộc chiến ý thức hệ từ 12/1946 tới 5/1954 kết thúc tại trận Điện Biên Phủ đa phần cũng nhờ sự cố vấn và viện trợ của Trung Cộng.
 
Sau “chiến thắng” tình trạng điều hành những dịch vụ, cơ sở, hãng xưởng ở miền Bắc ra sao? HCM và các đồng chí của ông ta có thái độ gì? Xin trích một số dẫn chứng trong “Ho Chi Minh and his Vietnam, translation, 1972, Jean Sainteny.”
 
Ho Chi Minh entered personally into the important debate and made every effort to retain the French. (page 137) – Cá nhân HCM tiến hành phiên họp quan trọng và ông ta làm mọi cách để giữ những người Pháp ở lại.
Yet, Ho Chi Minh, like Pham Van Dong, continued to press for the French to return and take charge of their establishments (page 139) – Còn nữa, HCM, cũng giống như Phạm Văn Đồng, tiếp tục thúc đẩy việc người Pháp trở lại và lãnh trách nhiệm những cơ sở thiết lập của họ.
 
Những tòa nhà, những nơi phục vụ công chúng vẫn do người Pháp điều hành, người Việt không đủ khả năng lãnh đạo như đường xe lửa, điện nước, bưu điện, điện thoại, dịch vụ hải cảng, hàng không, trường học, trường y khoa, bệnh viện, v.v.. Trong khi chờ đợi những “bạn bè” từ trời Âu như Czechoslovakia, Poland, Hungary, East Germany đến để giúp thì Hồ bắt buộc phải xử dụng bản chất “cắc kè” để cứu nguy tình trạng kinh tế, xã hội, học đường mà nền móng do Pháp thiết lập.
 
Placed before the perspective of pursuing activities of capitalistic origin in a country of the most orthodox communism, most French enterprises abandoned the attempt. Ho’s effort in this direction had little effect ( page 136) – đặt tình trạng trước một phối cảnh nhằm hoạt động để phục vụ nền kinh tế tư bản một cách chánh hiệu mà lại ở trong một nước cộng sản chính thống, nên hầu hết những hãng xưởng kinh doanh bác bỏ đề nghị. Cố gắng đòi hỏi của ông Hồ trong việc muốn Pháp ở lại chỉ có một kết quả nhỏ thôi.
 
Sainteny đến Hà Nội vào 8/1954 và đã nói chuyện với Phạm Văn Đồng liên quan tới việc cộng sản miền Bắc muốn duy trì người Pháp, mặc dù là trong 8 năm lúc nào cũng hô hào tuyên truyền phải chống Pháp “thực dân”, phải có độc lập…
 
Sau đó vài tuần, HCM muốn gặp Sainteny để mong thuyết phục nữa.
…I expressed my frustration. “Well, now”, I said, “you wanted me to come here; you wanted France to return. Here I am. What do you expect of me?”
“We have much to do,” he replied, “and cannot do everything at once. What we want is for you to take charge of the economic activity of this country. We need your enterprises, and we want them to remain.” ( page 137)
 
Tôi biểu lộ sự khó chịu. Tôi nói “ Được rồi, bây giờ ông muốn tôi tới đây; ông muốn nước Pháp trở lại. Bây giờ tôi đây. Ông mong muốn tôi làm gì?
Ông ta (HCM) trả lời “Chúng ta có nhiều chuyện làm, và không thể làm tất cả trong một lần. Những gì chúng tôi muốn ông làm là lãnh trách nhiệm về những vấn đề kinh tế của quốc gia này. Chúng tôi cần những tổ chức kinh doanh của các ông, và chúng tôi muốn các thứ đó còn tồn tại.
 
Như vậy thì hằng trăm ngàn thanh niên miền Bắc bị nướng trong 8 năm đánh Pháp đó để được kết quả là HCM năn nỉ Pháp ở lại miền Bắc duy trì cung cách làm kinh tế tư bản, thứ mà chủ nghĩa cộng sản của HCM chủ trương tiêu diệt đến tận gốc rễ!
 
Kế hoạch của phe cộng sản thì khó lường. Kể cả đại sứ Liên Sô Lavritchev cũng đã gặp Sainteny để thúc đẩy việc duy trì nền móng kinh tế của Pháp tại miền Bắc. Sainteny bén nhạy khi nhận xét về Trung Cộng rằng họ có mặt khắp nơi ở miền Bắc, nhưng đặc biệt là về vấn đề liên lạc, hướng dẫn (especially in the vast area of “communication”).
 
Con cắc kè HCM còn nhiều chiêu hiểm độc trong giai đoạn này. Một số ít người Pháp “thông cảm” với Hồ nên cũng ở nán lại, nhưng không lâu họ cũng bị theo dõi, nghi ngờ, kết tội, làm phiền…
 
All or most of their staffs who tried to carry on in North Vietnam were subjected to so much persecution and shabby treatment that they were obliged to pack their bags and leave (page 140) – Tất cả hay hầu hết những nhân viên, họ cố gắng ở lại miền Bắc để duy trì công việc cũng bị ngược đãi nặng nề và bị đối xử tồi tệ nên họ cũng bắt buộc phải cuốn gói ra đi.
 
Cơ xưởng làm về quặng mỏ ở Hongay ký kết với cộng sản ngày 8/4/1955 tiếp tục ở lại hành nghề, nhưng không lâu cũng bỏ cuộc. Những điều ghi trong thỏa thuận – tự do tư tưởng, tự do thể hiện quan điểm chính trị, tự do tôn giáo, tự do mua thực phẩm, tự do mua nhà đất, tự do đi lại- tất cả đã không được thực hiện. Thậm chí các linh mục và nhân viên còn bị cộng sản điều tra lý lịch gia đình, dòng họ. Sainteny kể một trong hằng trăm vụ xảy ra là một bà vợ của một kỹ sư hầm mỏ người Pháp bị đau răng mà phải chờ giấy phép mất 15 ngày mới được đi Hà Nội gặp nha sĩ chữa trị. Père Lena was not authorized to go to Hongay before the transfer (page 143) – Cha Lena không được phép tới Hongay trước ngày chuyển giao.
 
Cộng sản nghi ngờ rằng các ông Cha làm công tác tình báo cho Hoa Kỳ nên đã ra một văn thư trả lời cho những người Pháp (đòi hỏi linh mục phục vụ cho họ về mặt tinh thần tại Hongay): French or Vietnamese dignitaries or priests have been persuaded to act, under cover of their priesthood, as reactionary agents of American imperialism. This was signed, Le Viet Huong (page 144).
 
Cuối cùng thì các Cha bị trù dập nặng nề mà Sainteny phải tìm cách mang họ ra khỏi miền Bắc. Tác giả còn ghi là rất tiếc không giúp được gì cho các linh mục Việt Nam vì họ cũng bị ngược đãi. Trước Sainteny cứ tin là HCM không đến quá tồi tệ, nhưng sau vụ này thấy ra thêm bản chất con người quốc tế cộng sản này: I cannot believe that Ho Chi Minh approved of this policy of sabotage (page 148) -Tôi không thể tưởng là HCM chấp thuận một chủ trương tiêu diệt thế này.
 
Các trung tâm có tầm vóc như Saint-Paul Clinic, Franco-Vietnamese hospital, Hanoi Medical School, Franco-Vietnamese Cancer Institute (điều hành bởi giáo sư bác sĩ và chuyên khoa người Pháp), L’ecole francaise d’Extrême-Orient, Lycée Albert Sarraut,v.v.. Đến 28/4/1965 thì trường Lycée Albert Sarraut là cơ sở sau cùng chấm dứt phận sự tại miền Bắc.
 
Cộng sản có chủ trương rằng “giết lầm còn hơn tha lầm.” Như dẫn chứng trên dù ra công nài nỉ người Pháp ở lại miền Bắc sau ngày chia đôi đất nước, HCM vẫn nơm nớp lo sợ rồi cuối cùng vẫn dùng bạo lực và khủng bố để đối xử.
 
Có thể tin được không khi ngày nay những chóp bu cộng sản thay phiên nhau qua Hoa Kỳ  để cầu cạnh, không những về kinh tế mà còn cho người ta thấy như Hà Nội cũng muốn Mỹ giúp chống lại kẻ thù phương bắc. Bản chất lừa gạt vẫn còn đó. Như Sainteny đã nhận ra là khi yêu cầu Pháp ở lại miền Bắc để điều hành kinh tế thì đại sứ Liên Sô hối thúc Pháp chấp nhận, còn Trung Cộng thì lo vấn đề cố vấn cho HCM mà tác giả dùng chữ “communication” trong ngoặc kép.
 
Chống Pháp rồi yêu cầu Pháp ở lại tiếp tục duy trì kinh tế tư bản, không những một lần mà nhiều lần nài nỉ như tác giả Sainteny đã ghi. Chống Mỹ với chiêu bài “Mỹ xâm lăng” khi Mỹ ở miền Nam làm đồng minh đẩy lùi làn sóng đỏ ra Bắc, rồi khi cưỡng chiếm xong miền Nam lại cứ tiếp tục xin Mỹ viện trợ từ kinh tế, y tế, nhân đạo…
 
Kết quả của cuộc chiến từ 1946 đến 1975 là một xã hội đi xuống từ mọi mặt, một tầng lớp giàu sang trên xương máu của đồng bào. Nếu Pháp và Mỹ không giúp thì thiệt thòi nhiều nhất vẫn là đại đa số người dân, còn cộng sản đương quyền thì vẫn ngang nhiên làm “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, tự do cướp nhà đất, ăn hối lộ.
 
Lãnh đạo đảng cộng sản dẫn đầu là HCM đã bán nước cho Pháp (Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946) rồi cho Trung Cộng sau vụ Điện Biên Phủ, và đàn em làm nhiệm vụ sau cùng là dâng trọn từ hồn tới vật thể cho đàn anh, sẵn sàng dâng hiến giang sơn của tổ tiên cho ngoại bang phương bắc, chỉ mong duy trì chế độ độc tài toàn trị gồm các thành phần lãnh đạo và ban bộ ăn theo…
 
Phong trào “Không Bán Nước” đang được nở rộ ở Việt Nam, nhất là sau vụ tàu HD 981 của Trung Cộng đóng giàn khoan tại khu biển thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam. Không bán nước là ý niệm phải có của toàn dân, ngoại trừ cộng sản. Ngày nay đó không phải là ý niệm mà thực tế là Việt Cộng đã và đang bán nước. Vậy muốn còn nước Việt Nam để người dân sống trên mảnh đất không bị chi phối bởi ngoại bang, bởi tập đoàn tay sai ở Hà Nội, chỉ còn cách là giải thể chế độ độc tài bán nước hại dân.
 
Những ngày tháng đó HCM mong muốn Pháp duy trì tại miền Bắc với mục đích kinh tế là chánh, mặc dù nó vô chính nghĩa khi từng hô hào rằng phải tiêu diệt tầng lớp trí thức, phải thiêu đốt chế độ tư bản. Cho là Hồ lợi dụng ngắn hạn, nhưng trên thực tế thì rất lâu dài, bởi trong chế độ cộng sản với chủ trương ngu dân, kìm kẹp, tướt đoạt quyền báo chí, ngôn luận, phát triển tự nhiên thì làm sao xã hội tiến bộ được. Thế nên các lãnh đạo cộng sản cứ phải đi chầu chực các quốc gia tự do dân chủ dài dài, lại còn gửi con cháu du học ở Hoa Kỳ thay vì Nga Sô và Trung Cộng. Ngày xưa thì đu giây giữa Nga và Tàu, ngày nay thì dựa hẳn vào Tàu nhưng úp úp mở mở. Gần năm ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam có lúc nào đen tối như giai đoạn gần 40 năm qua!
 
Bút Sử
11/8/2014
 
Sources: Ho Chi Minh and his Vietnam, Jean Sainteny, 1972; Ho Chi Minh A Biography, Pierre Brocheux, 2007.

Bài Xem Nhiều