We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 27 August 2014

Một ngày ở viện dưỡng lão

Đọc xong rồi quên nghe quý Cụ...
 -----------------
 Một ngày ở Nursing


image
Thương những bà mẹ ở nursing home

"Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể
Con nuôi cha mẹ kể tháng kể ngày..."
Thích Tâm Không

Sau ba tháng du lịch ở Mỹ về, những người quen hỏi tôi điều gì làm tôi tâm đắc nhất. Không chút do dự hay suy nghĩ, tôi trả lời: đó là cái Nursing Home.

Họ ngạc nhiên khi thấy tôi không đề cập đến những địa danh nổi tiếng: như Las vegas, Hollywood, Disney-land, những tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới hoặc những cái Mall rộng lớn đi cả ngày chưa hết, những viện bảo tàng, những đại lộ thênh thang, chồng chéo lên nhau như những sợi mì....

Tôi đã hưởng một chuỗi ngày dài thật tuyệt vời,với biết bao điều mới lạ, hiện đại, tối tân mà từ trước đến giờ tôi chưa hình dung hay tưởng tượng ra nổi.

Thế mà khi trở về Việt Nam, tâm trí tôi chỉ còn lắng đọng một điều làm tôi ưu tu, trăn trở, ray rức: cái Nursing Home mà mẹ chồng tôi đang sống.

Chặng cuối cùng của chuyến du lịch, chúng tôi đã ở Los Angeles mười lăm ngày để thăm viếng mẹ chồng. Hằng ngày, chúng tôi phải chuyển hai chuyến xe bus, Garden Grove, Westminster, Bolsa và bao nhiêu đại lộ nữa mà tôi không nhớ hết tên, đưa chúng tôi gần trạm cuối cùng của lộ trình.

Chúng tôi phải đi bộ khoảng năm trăm mét để đến khu dưỡng lão của một tổ chức tư nhân. Đó là một khoảng đất rộng, nằm khuất sau đại lộ Hungtington hai con đường, cách bờ biển Hungtington chưa tới hai cây số. Một nơi yên tĩnh, vắng vẻ, với hai hàng cây sồi đưa vào cái ngõ cụt.

image
Hình minh họa

Gồm ba dẫy nhà trệt, ghép thành hình chữ U, nó êm dịu với những cánh cửa sơn màu xanh da trời, nổi bật màu sơn trắng của những bức tường, với những khung kính to trong suốt, lịch sự và trang nhã, bằng những tấm màn voan trắng che rủ. Những khóm hoa hồng, cẩm tú cầu được trồng một cách mỹ thuật trước hàng hiên, dưới cửa sổ, tạo cảm giác vui tươi, hưng phấn khi ngồi trên bộ bàn ghế để phơi nắng hoặc hóng mát dưới tàng cây.

Khi vợ chồng tôi đến nơi, kim đồng hồ của phòng trực chỉ 8 giờ 30 phút, bác sĩ và y tá đang đi từng phòng kiểm tra sức khỏe cho các cụ già. Mẹ chồng tôi tươm tất, sạch sẽ trong bộ quần áo mới thay, nét mặt tươi tỉnh. Họ đã làm vệ sinh cá nhân cho bà từ sáng sớm, trước khi dùng điểm tâm. Mâm thức ăn sáng chưa dọn, còn để trên bàn. Cô y tá người Việt vào kiểm tra huyết áp, đo lượng đường trong máu, rồi rót nước, bỏ thuốc vào miệng bà, ân cần thăm hỏi.

Mẹ chồng tôi không còn nhiều trí nhớ để trò chuyện. Bà hờ hững trả lời những câu hỏi không chính xác, mạch lạc. Những ngày đằng đẳng ở đây đã làm bà trở nên câm lặng. Trái ngược với thuở sinh thời, bà nổi tiếng là người nói nhiều. Ánh mắt vô hồn, lúc nào cũng nhìn lên trần nhà và tách biệt với cảnh vật chung quanh.

Thời gian đầu cách đây mười bảy năm, cô em chồng đã bảo lãnh bà sang Mỹ. Bà đã sống một mình trong một căn phòng mà chính phủ ưu tiên cho người già thuê. Ban ngày bà ở đó, chiều đến con cháu thay phiên đón về nhà ăn, ngủ, tắm rửa. Sáng hôm sau lại tiếp tục, như một em bé đi nhà trẻ, đều đặn từ tháng nọ sang năm kia.

Gần đây, do tuổi tác quá cao (93 tuổi), bà bị té gãy xương đùi, không thể đi lại được,và không thể tự lo vệ sinh cá nhân, nên cô em chồng sau khi bàn tính với các anh chị đã quyết định đưa bà vào đây. Anh em chúng tôi như bị dồn vào ngõ cụt, tiến thoái đều lưỡng nan. Khó tìm một giải pháp vẹn toàn, con đường nào cũng trắc trở, chông gai. Phải chăng là do số phận, do định mệnh hay do nghiệp lực? Cuối cùng phải tự an ủi và chấp nhận, đó là quy luật đời thường mà xã hội đặt ra để giải quyết.

image
Hình minh họa

Lúc chưa sang Mỹ, tôi rất có thành kiến không mấy tốt đẹp và phản đối việc đem gửi cha mẹ vào viện dưỡng lão. Giờ đây tôi mới biết rằng tôi hiểu chưa thấu. Luật pháp ở đây không cho người già yếu và trẻ con ở nhà một mình. Thuê người giúp việc thì không có, hoặc rất là đắc đỏ. Con người ở đây chịu rất nhiều áp lực về công việc làm ăn, tiền bạc.

Để đáp ứng nhu cầu vật chất gọi là thiên đường của sự hưởng thụ, người ta phải đánh đổi bằng những món nợ khổng lồ, mà người ta truyền miệng nhau: "không mắc nợ không phải là người Mỹ", đánh đổi sự mất mát tình cảm, đổ vỡ hạnh phúc gia đinh, có khi luôn cả sinh mạng.

Những tấm gương hiếu thảo của thầy Mẫn Tử Khiên trong Nhị Thập Tứ Hiếu: "thờ cha sớm viếng khuya hầu" sẽ không có chỗ đứng trong thời khóa biểu của các người con ở thời hiện đại này. Chỉ có những viện dưỡng lão mới đáp ứng những lỗ hổng mà người con không thể lấp đầy được.

image
Hình minh họa

Ở đây, chỉ cần một cái nhấn chuông là có bác sĩ, y tá, điều dưỡng, sẵn sàng đáp ứng, giải quyết điều mình yêu cầu. Mẹ chồng tôi kêu đau bụng, là có ngay hai cô điều dưỡng người Mễ cao to, khỏe mạnh bồng bà đặt lên cái ghế dành cho người khuyết tật, đẩy vào nhà vệ sinh. Tiểu tiện thì tự do thải vào tả lót, đến giờ họ đi thay.

10 giờ sáng và 3giờ 30 phút chiều, các cụ được tập trung ở phòng giải trí. Những chiếc xe lăn được đẩy tới, xếp thứ tự quanh chiếc bàn dài. Họ tham gia những trò chơi đố chữ, chuyền banh, những trò chơi vận động tay chân, nghe nhạc, xem tivi, và kết thúc bằng bánh ngọt hay trái cây với nước giải khát.

image
Hình minh họa

11 giờ 30 và 5 giờ chiều các cụ tập trung ở phòng ăn. Những mâm thức ăn dư thừa năng lượng. Ai không thích ngồi tại đây, thì yêu cầu mang vào phòng. Những chiếc xe lăn được đẩy tới, xếp quanh cái bàn tròn. Bàn này có tám người, ba người đàn ông và năm người đàn bà.

Chỉ có mẹ chồng tôi là người Việt. Ông Mỹ đen trên bốn mươi tuổi, bị tai biến mạch máu não, tay không cử động được, nên người điều dưỡng phải đút cho ông và hai bà kế bên. Tôi đặc biệt chú ý đến một bà Mỹ trắng, tuổi trên độ "thất thập cổ lai hi", nét mặt thanh tú, dáng người thon nhỏ, mảnh mai. Thời con gái chắc bà được xếp vào hàng mỹ nhân. Đôi mắt to và buồn. . . . đôi mắt như biết nói, khi đối diện với một người nào.

Ngày đầu tiên, bà nhìn tôi cười và chỉ mẹ chồng tôi hỏi "tôi là gì". Tôi trả lời là “con dâu”. Câu chuyện giữa tôi và bà chỉ dừng lại ở những câu xã giao thông thường. Vốn liếng Anh ngữ nghèo nàn của tôi, không cho phép tôi tìm hiểu sâu hơn nữa. Hoặc nếu bà có tâm sự, tôi cũng không thể hiểu hết được.

Một bữa, tôi thấy bà không chịu ăn, bà ngồi trầm ngâm, rồi những giọt nước mắt liên tục tuôn trào trên gò má xanh xao. . .Bà khóc nức nở. Những người bạn cùng bàn an ủi, làm bà càng khóc to hơn. Tôi nắm tay bà, lau nước mắt và đút cho bà ăn. Bà vẫn khóc như một đứa trẻ. Liên tiếp ba ngày như vậy.

image
Hình minh họa

Tôi được biết qua cô y tá người Việt, là lâu rồi con bà không đến thăm. Hình ảnh tôi đút cơm cho mẹ chồng, làm bà nhớ con và chạnh lòng buồn tủi. Những ngày sau cùng, tôi không dám đưa mẹ chồng ra phòng ăn. Tôi không dám nhìn bà khóc thêm nữa. Lòng tôi cũng xao động, nước mắt tôi cũng chảy dài. Bởi tôi là người rất nhạy cảm và dễ xúc động.

Tôi rón rén ra nhìn. Bà ngồi đó, đôi mắt xa xăm, tư lự. Chắc chắn bà đang nghĩ về con bà. Biết bao câu hỏi, đang quay cuồng trong tâm trí: sao lâu rồi con không đến, bận rộn hay có sự bất trắc gì đã xảy ra? Bà vừa lo, vừa buồn, rồi giận, rồi thương, nhớ, làm bà không tự chủ, đè nén những cảm xúc của mình.

image
Hình minh họa

Chắc chắn, không biết bao nhiêu lần, cuốn phim dĩ vãng của một thời vàng son đã lần lượt, thường xuyên quay lại trong ký ức của bà. Bà nhớ đến người chồng quá cố, nhớ những đứa con bà hết lòng thương yêu, nhớ những ngày đầm ấm hạnh phúc, nhớ những lo toan, thăng trầm trong cuộc sống. Giờ này con bà có biết bà đang mỏi mòn trông đợi hay không?

Ở đây, cái viện dưỡng lão này chỉ giúp người già cải thiện, bù đắp những thiếu sót về vật chất, mà con cái không thể hoàn thiện được. Bác sĩ, y tá, thức ăn, thuốc men, máy móc, chỉ giúp họ hết đau đớn về thể xác. Cái tensionmètre chỉ đo được chỉ số huyết áp giao động trong ngày, các máy móc kỹ thuật cao phát hiện những tổn thương sâu trong cơ thể.

image
Hình minh họa

Tất cả những thứ đó không giải quyết, chữa trị được những đau đớn tinh thần, những giao động tâm lý, những khắc khoải triền miên của lòng khát khao yêu thương. Đó là căn bệnh trầm kha mà không máy móc, bác sĩ, y tá nào chữa trị được. Đó là thứ thức ăn linh nghiệm và hiệu quả mà con người đã mỏi mòn tìm kiếm và chưa bao giờ thấy no đủ.

Mẹ chồng tôi có sáu người con: bốn trai hai gái. Một mình bà nuôi nấng sáu người con khôn lớn trưởng thành. Giờ đây khi tuổi tác chồng chất, sáu người con không chăm sóc được một mẹ già. Dù rất thương mẹ, dù biết công đức sinh thành dưỡng dục, sâu rộng như trời biển; nhưng không thể nào làm tròn bổn phận, bởi những tất bật, căng thẳng và đa đoan của cuộc sống.

Bên Mỹ có ngày Mother's day và Father's day. Việt Nam có ngày Vu Lan-Bông hồng cài áo. Ai còn cha mẹ thì cài một đóa hoa cẩm chướng đỏ hay hoa hồng đỏ. Ai mất mẹ thì cái một bông cẩm chướng trắng hay hoa hồng trắng. Một hình ảnh biểu trưng, chọn một ngày để nhắc nhở những ai diễm phúc còn có mẹ, để mà yêu thương và trân quý. Với tôi một ngày trong một năm như thế là quá ít ỏi. Chẳng khác nào hạt muối trong đại dương.

image
Hình minh họa

Mỗi ngày, ít lắm mỗi tuần, tệ lắm mỗi tháng, ta phải tự cài lên áo một hoa hồng đỏ, qua một món quà mà mẹ yêu thích: cái bánh, củ khoai, trái chuối, ly sữa. . . . một lời thăm hỏi ân cần, một câu nói ngọt ngào, một ánh mắt ấm áp chan chứa yêu thương, một cử chỉ âu yếm, quan tâm, lo lắng. Đó là đóa hoa hồng đỏ, đã tự nở trên áo của ta, không đợi đến ngày Vu Lan được mọi người nhắc nhở.

Em chồng tôi, đều đặn mỗi ngày ghé thăm mẹ, với những món quà mà bà mẹ Việt Nam yêu thích. Mỗi tuần cô cài đủ bảy hoa hồng đỏ thắm. Bảy ngày hạnh phúc và luôn thầm cảm ơn cái đặc ân còn có mẹ để mà tự nguyện và hiến dâng. Thế mà mẹ chồng tôi vẫn không chịu đựng được sự trống vắng, cô đơn khi không có sự đồng cảm giữa những người xa lạ và ngôn ngữ bất đồng. Lúc nào bà cũng muốn về nhà, khẩn khoản muốn về nhà.

Cùng phòng với mẹ chồng tôi là một bà cụ người Bắc năm 54, mới đưa vào ba hôm. Người con gái lấy chồng lính Mỹ, đã bảo lãnh bà sang đây mười mấy năm về trước. Bà chỉ còn da bọc xương, lưng còng gần 90 độ. Bà nằm co quắp như con tôm luộc chín. Bà không còn đủ sức để ngồi lâu.

Bà chỉ ăn cháo và uống sữa. Buổi trưa, người con gái đem cháo đến đút cho bà, phát hiện đầu bà không ngẩng lên được. Cô ta hốt hoảng la toáng lên: "tại sao bà không ngẩng đầu lên được, tụi nó đã làm gì bà ?  Có phải tụi nó giật đầu, giật tóc bà không ? Để tôi đi hỏi cho ra lẽ?". Bà không còn hơi sức mà trả lời.

Từ khi bà đến nằm trên cái giường này, tôi chưa nghe bà nói gì ngoài tiếng thều thào yếu ớt: "cho con về nhà, con muốn về nhà". Bà nhìn tôi cầu cứu, tôi nắm bàn tay khô đét, lạnh ngắt và hỏi bà cần gì. Bà chỉ nói một câu đó, lập đi, lập lại không biết bao nhiêu lần.

image
Hình minh họa

Bà tới đây từ một cái viện dưỡng lão khác, mà cô con gái chê là tệ quá. Cô ta sốt ruột vì thấy mẹ mình suy sụp nhanh chóng. Cô phản ứng lồng lộn. Lòng thương mẹ mù quáng làm cô thốt ra những câu nói không tế nhị. Bác sĩ và xe cấp cứu đến, người ta đưa bà vào bệnh viện lớn để rà soát lại cơ thể. Căn phòng chỉ còn lại một mình mẹ chồng tôi.
Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mình
Sáng khuya trưa tối, nhìn quanh một mình
Đời mong manh quá, kể chi chuyện mình

Đó là những câu hát não nùng, thật chua chát và đắng cay mà nhạc sĩ Lam Phương đã viết cho số phận của mình vào cuối đời, với những dư chứng của bệnh tai biến mạch máu não.

Chúng tôi về lại Việt Nam, với linh tính biết đây là lần cuối cùng chúng tôi còn thấy mẹ. Buổi chia tay đẫm nước mắt và đau buồn trĩu nặng tâm tư. Mười ngày sau, vào một đêm cuối mùa hạ 2006, mẹ chồng tôi đã vĩnh viễn không mở mắt nhìn cái trần nhà, mà mấy tháng ròng rã bà ít khi rời nó. Bà ra đi trong sự an giấc của mọi người, âm thầm lặng lẽ không một ai hay biết. Còn biết bao bà mẹ khác cũng đã và sẽ ra đi trong cô đơn tẻ lạnh như thế này.

Tất cả con cháu ở rải rác ở nhiều tiểu bang đau đớn khi nhận được tin khủng khiếp này. Cô em chồng tức tưởi vì bà không đợi cô. Chỉ vài tháng nữa cô sẽ nghĩ hưu non, sẽ đem mẹ về nhà phụng dưỡng. Cô đã không điều đình được với Thần Chết. Mọi người câm lặng chịu đựng.

Trong thâm tâm ai cũng trăn trở, ray rứt, xót xa vì biết bao điều chưa thực hiện: "địa ngục chứa đầy những dự định tốt đẹp".
Làm sao cân bằng lại tâm lý, tìm lại an bình, một khi lòng cứ khắc khoải bởi những dằn vặt, ăn năn.

Thời gian trôi theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Người ta đã chế tạo ra nhiều thứ.. kể cả người máy, nhưng có một thứ họ không chế tạo được là trái tim người mẹ. Con người vẫn ăn ngủ, làm việc, theo cái đà tiến hóa. Không biết đủ, không vừa lòng, họ có thể bị con lốc cuốn trôi theo cái thảm họa đua đòi vật chất.

image

Nếu không cảnh giác không dừng lại đúng lúc, họ sẽ là một thứ nô lệ mà suốt cuộc đời họ không hề biết hạnh phúc đích thực là gì. Quên bản thân, quên quyến thuộc, quên luôn cả tử thần đang rình rập, chờ đợi, bất cứ lúc nào cũng có thể cướp đi sinh mạng vốn đã mong manh trong từng hơi thở.

Tại ai ? Tại con người ? Tại xã hội hay tại ta sinh lầm thế kỹ ?


Nguyên Thúy

 http://bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=2746:-nursing-home&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53

Những món nợ máu

HC Minh đóng kịch, giả vờ khóc - những giọt "nước mắt cá Sấu" không thể che lấp cái dã tâm độc ác bên trong một con người Cộng sản!!! Trước hết, chúng tôi xin nói rõ, những tài liệu chúng tôi công bố trong bài “Cuộc đời sóng gió” nói về con đường chính trị của Hoà Thượng Huyền Quang mới chỉ là những điểm chính. Vì toàn bộ tài liệu quá dài, chúng tôi không thể công bố tất cả trong một bài được. Có người đã hỏi: “Làm thế nào ông lại có được “Bản tự khai” (Bản khẩu cung) do “chấp pháp” lập trong khám. Như vậy ông tự tố cáo ông là ai rồi!”
 
Chúng tôi hiểu đây là một trong những cố gắng ngụy biện và chụp mũ theo thói thường của các thành phần cực đoan nhưng thiếu kiến thức để biện minh cho những gì không thể biện minh được. Trong bài nói trên, chúng tôi đã nói rõ trong phiên xử ngày 8.12.1978. Viện Kiểm Sát có đọc “lời tự thú của Hoà Thượng khi bị giam ở công an”. Lời tự thú này đã được ông Võ Văn Ái cho đăng lại trên Tạp Chí Quê Mẹ số 125 và 126 tháng 10 và 11 năm 1993, trang 70. Như vậy Võ Văn Ái cũng đã “tự tố cáo mình là ai rồi”?
 
Hôm nay chúng tôi xin tiếp chuyện với đảng Việt Tân, vì trong những ngày vừa qua, đảng Việt Tân bắt đầu quậy lại. Trước đây, nhóm “Việt Tân cha” đứng ra quậy và đã bị đồng bào nhận diện hết rồi, nên nay đảng Việt Tân lại cho đám “Việt Tân con” nhảy ra quậy dưới nhiều tên khác nhau. Hình như đảng Việt Tân không thể từ bỏ được cái tập quán xấu đã đưa đảng Việt Tân ngày càng rời xa khỏi quần chúng và các tập thể khác.
 
Chuyện đảng Việt Tân quá nhiều, hôm nay chúng tôi sẽ đưa ra ánh sáng một số chuyện mà chúng tôi thấy rằng đảng Việt Tân cần trả lời cho đồng bào biết trước khi nói đến các chuyện khác.
 
 
THẮC MẮC THƯỜNG NGHE
 
Rất nhiều người hỏi chúng tôi: “Việt Tân” là tổ chức nào? Chúng tôi chỉ trả lời vắn tắt: Đó là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Lại thắc mắc thêm: “Tại sao không gọi là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh mà gọi là Việt Tân?”
 
Trong cộng đồng người Việt hải ngoại, gần như ai cũng biết Mặt Trận Hoàng Cơ Minh nhưng ít người biết Việt Tân, vì thế chúng tôi phải cố gắng giải thích cho họ.
 
Chúng tôi nhắc lại, ngày xưa khi muốn xâm chiếm miền Nam, đảng CSVN đã cho hình thành một tổ chức lấy tên là “Mặt Trận Quốc Gia Giải Phong Miền Nam để làm chiêu bài.
 
Nhóm Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh nghĩ rằng muốn thắng Cộng Sản phải lập một đảng và một mặt trận gióng như Đảng CSVN đã làm và phải độc tài hơn Cộng Sản mới có thể thắng họ được. Do đó, nghe nói một “Đại Hội Dựng Đảng” đã được tổ chức vào ngày 10.9.1982 tại một “khu chiến trong vùng rừng núi Đông Dương” để thành lập một đảng gióng như đảng CSVN và gọi tên là đảng VIỆT TÂN và Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh được suy cử là Chủ Tịch Đảng. Điều lệ của đảng Việt Tân rập khuôn gần gióng điều lệ của đảng CSVN. Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh cũng mặc áo bà ba quàng khăn rằn gióng hệt Hồ Chí Minh.
 
Để “giải phóng Việt Nam”, ba tổ chức là Mặt Trận Người Việt Tự Do, Tổ Chức Phục Hưng và Lực Lượng Dân Quân Việt Nam đã họp lại và thành lập một mặt trận có cái tên gióng hệt “Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam” của đảng CSVN đó là  “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam”. Vì mặt trận do Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh làm Chủ Tịch nên thường được gọi là “Mặt Trận Hoàng Cơ Minh”. Về sau, nhóm Hoàng Cơ Minh độc chiếm tổ chức này.
 
Giải thích như vậy chắc bà con cũng có thể nắm được những nét chính rồi.
 
 
KHÔNG NGÔN CHÁNH DANH THUẬN
 
Sự thành lập và hoạt động của đảng Việt Tân đã xẩy ra một vài chuyện lạ khiến đồng bào thắc mắc.
 
Chuyện lạ thứ nhất: Tên đảng Việt Tân là tên viết tắt của tên “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng”.
CANH TÂN (renovation) có nghĩa là cải tiến, sửa đổi lại, làm cho tốt hơn. Còn CÁCH MẠNG (revolution) là phá vỡ trật tự cũ và thiềt lập một trật tự mới hoàn toàn khác hẵn với trật tự trước đó (establishment of a new order radically different from the preceding one).
Như vậy canh tân và cách mạng không thể đi đôi với nhau. Trong một cuộc phỏng vấn, Bác Sĩ Nguyễn Trọng Việt, một ủy viên trung ương của đảng Việt Tân, cho rằng chủ trương của đảng Việt Tân là thay đổi “để làm cho công việc đó tốt hơn”. Như vậy đảng này chỉ là một đảng canh tân chứ không phải một đảng cách mạng như đảng CSVN.
 
Chỉ đọc cái tên Việt Tân thôi chúng ta cũng có thể biết những người lập đảng này chưa biết họ phải làm gì. Hành động mà không xác định được mục tiêu thì chỉ là xuẩn động.
 
Chuyện lạ thứ hai: Theo điều 44 của Bộ Dân Luật VNCH, phải khai sinh với hộ lại trong hạn 8 ngày tròn sau khi sinh.
Đảng Việt Tân được nói là đã được đẻ vào ngày 10.9.1982 tại một “khu chiến trong vùng rừng núi Đông Dương” thế mà đến ngày 19.9.2004 mới làm lễ ra mắt tại Bá Linh. Như vậy đảng Việt Tân đã để 22 năm sau mới khai sinh!
 
Chuyện lạ thứ ba: Theo điều 51 của Bộ Dân Luật VNCH, khi một người qua đời, phải làm giấy khai tử trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đã tự trận tại chiến trường Lào ngày 28.8.1987, thế mà dến ngày 20.7.2001 Mặt Trận Hoàng Cơ Minh mới chính thức ra thông báo các chiến hữu Hoàng Cơ Minh, Lê Hồng, Trần Thiện Khải và Võ Hoàng đã “anh dũng hy sinh trên bước đường tranh đấu giải phóng Tổ Quốc”. Như vậy Tướng Hoàng Cơ Minh qua đời 14 năm sau mới được khai tử!
 
Chỉ đọc một vài chuyện lạ đó, đọc giả cũng có thể thấy được đảng Việt Tân hành động không ngôn chánh danh thuận.
 
 
BẮT CHƯỚC KHÔNG GIÓNG
 
Nhiều lần chúng tôi đã đề cập đến Mặt Trận Hoàng Cơ Minh hay đảng Việt Tân với hy vọng tổ chức này sẽ đi vào chính đạo và thực hiện những công tác hữu ích cho đất nước. Nhưng hình như đảng Việt Tân cho rằng phải mưu mô đàng điếm như đảng CSVN mới đoạt được chính quyền nên chẳng những không cải tiến mà còn đưa đám “Việt Tân con” ra phản pháo hay tiếp tục quậy phá. Vì thế, chúng tôi buộc lòng phải tiếp tục lên tiếng.
 
Tuy là phỏng theo đảng CSVN và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng đảng Việt Tân và Mặt Trận Hoàng Cơ Minh đã không nắm vững kỷ thuật tổ chức và hành động như đảng CSVN nên đã đi từ thất bại này tới thất bại khác.
 
Trước năm 1941, đảng CSVN cũng “biểu dương khí thế” lung tung như đảng Việt Tân hiện nay, nên bị Tây bắt quá nhiều. Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế phải ra lệnh cho nhóm CSVN không được để lộ tung tích, ai để lộ sẽ bị tội phản đảng (tử hình). Vì thế, đảng CSVN phải thành lập Mặt Trận Việt Minh và nấp dưới danh nghĩa đó để hành động.
 
Đảng CSVN cho lập các hạ tầng cơ sở trong nước trước, thường là các “tổ tam tam”, sau đó mới đưa các toán từ hải ngoại về. Khi các toán ở hải ngoại về, họ thường đi từng người hay nhiều nhất là từng ba người. Toán trở về đông nhất là toán của Hồ Chí Minh vào năm 1944, đem theo cũng chỉ 20 cán bộ, vì có sự yểm trợ của Tàu, Pháp và Mỹ. Họ trở về để được Mỹ huấn luyện chống Nhật!
 
Mặt Trận Hoàng Cơ Minh đã làm ngược lại hoàn toàn. Trong khi chưa bí mật tổ chức được các cơ sở hạ tầng ở trong nước, Mặt Trận đã tổ chức lễ ra quân rầm rộ ở Washington, sau đó qua Thái Lan lập “Khu Chiến” và cho người đi các trại tỵ nạn tuyển quân và đưa về huấn luyện. Đây là cách “thưa ông tôi ở bụi này” nên mọi đường đi nước bước của Mặt Trận đều bị địch theo dõi và nắm vững. Ba cuộc Đông Tiến được phát động từ 1985 đến 1990 đều sa vào ổ phục kích của định, vì quân số, ngày xuất quân, lộ trình hành quân và hướng dẫn viên người Lào... đều năm trong tay địch. Kết quả: Kháng chiến tan rã.
 
 
ĐƯỜNG LỐI SAI LẦM
 
Từ bỏ kháng chiến, Mặt Trận củng cố lại tổ chức và tăng cường các cơ sở kinh tài để “đấu tranh chính trị”. Nhiều người hy vọng Mặt Trận sẽ xây dựng được các cơ sở dân sự ở trong nước để những cơ sở này tự đứng lên đòi hỏi chính quyền phải thay đổi và thực thi dân chủ. Mặt Trận chỉ đứng đàng sau yểm trợ.
 
Để thực hiện công tác này, Việt Tân phải bám chặt các thành phần ly khai, các đảng viên đang bất mãn, các thành phần trí thức không chấp nhận chế độ, những thành phần trẻ muốn xây dựng một xã hội mới... để đặt nền móng cho các cơ sở hoạt động. Trái lại, Việt Tân lại chủ trương đặt cơ sở trong các khu Công Giáo di cư quanh Sài Gòn, Xóm Mới, Hố Nai, Gia Kiệm..., nhưng Việt Tân đã thất bại vì những lý do chính sau đây:
(1) Thành tích của Việt Tân không đáng tin cậy.
(2) Cán bộ Việt Tân đi móc nối rất vụng về.
(3) Nhiều người nghi ngờ Việt Tân là tổ chức chống cộng cò mồi của Công An được đưa đến để gài bẩy. Có linh mục đã nhắn ra hỏi chúng tôi: Việt Tân là tổ chức nào? Có phải là tổ chức chống cộng cò mồi của Công An không? Trong hai năm 1975 và 1976, Mai Chí Thọ đã cho thành lập Mặt Trận Phục Quốc giả để gài bắt những thành phần có tinh thần chống cộng, nên ai cũng phải cảnh giác.
 
Vã lại, dù có lập được một số cơ sở trong giới Công Giáo di cư đi nữa, Việt Tân không thể xử dụng các cơ sở này để đấu tranh chính trị, vì những nơi đó không phải là môi trường để phát động đấu tranh chính trị.
 
Mặt Trận là tổ chức đầu tiên đã đầu tư vào Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nhưng sau đó bị hai bà tranh nhau cướp mối của Mặt Trận để kiếm ăn, Mặt Trận bị loại ra. Mặt Trận cũng có đầu tư vào một số tổ chức đối kháng nhưng không thành công. Các nhà ly khai tránh né Mặt Trận vì sợ Công An theo dõi. Nhìn chung, không tổ chức đối kháng nào dám liên kết với Việt Tân vì sợ bị kết án là cấu kết với tổ chức nước ngoài. Báo Công An Nhân số ra ngày 29.3.2007 cho biết Bộ An Ninh đã liệt đảng Việt Tân vào tổ chức phản động.
 
Ông Lý Thái Hùng, Tổng Bí Thư đảng Việt Tân, có cho đài BBC biết Việt Tân đang có những hạ tầng cơ sở ở Việt Nam được xây dựng dưới thời của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh trước đây. Nếu những cơ sở đó nếu quả thật có thì đó là những cơ sở kháng chiến, không phải là cơ sở đấu tranh chính trị.
 
Ở hải ngoại, Việt Tân cũng than phiền rất khó mời được một linh mục công giáo tham gia các hoạt động “biểu dương khí thế” của họ, vì các linh mục Việt Nam không muốn dây dưa đến những chuyện tranh chấp trong cộng đồng. Trước những thất bại này, Việt Tân quay lại chống Công Giáo.
 
Thời Bác Sĩ Võ Tư Nhượng còn sống, gần nhưng trong bất cứ phiên họp nào của Mặt Trận ở Orange County, ông cũng đều đem Công Giáo ra phỉ báng. Các cán bộ khác ngồi nghe với thái độ biểu đồng tình. Bác Sĩ Võ Tư Nhượng vốn là một đảng viên đảng Cần Lao ở Bình Định trở cờ. Trong “ba năm xáo trộm” (1964 - 1966) ông lãnh đạo Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc Bình Định đi lùng bắt Cần Lao! Ông Lê Văn Diện là một trong những nạn nhân. Một cán bộ Việt Tân cho chúng tôi biết vì nghe Bác Sĩ Võ Tư Nhượng cứ lặp đi lặp lại điệp khúc chống Cộng Giáo, cán bộ này phải từ bỏ đảng Việt Tân!
 
Trong một văn thư được đưa lên các diễn đàn Internet ngày 2.7.2008, ông Nguyễn Ước ở Toronto, Canada, có kể lại chuyện nhóm Mặt Trận chiếm lễ đài trong Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Canada. Chúng tôi xin tóm lược như sau:
Trong Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới được tổ chức tại Canada năm 2002, Giáo Dân Việt Nam ở Toronto có lập một “Làng Công Giáo Việt Nam”. Một nhóm liền đến treo cờ vàng ba sọc đỏ quanh lễ đài và buộc các Giám Mục và Linh mục phải chào cờ mới được làm lễ. Hôm đó, chính bản thân ông trực tiếp đề nghị mấy “tổ chức chính trị”, trong đó có Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, nên gom cờ vàng ba sọc đỏ vào một khu. Họ đã không chịu nghe mà còn hăm dọa hành hung ông!
Nếu chỉ đem cờ vàng ba sọc vào đại hội thì chẳng có gì đáng nói. Việc một nhóm đã chiếm lễ đài và treo cờ rồi buộc các Giám Mục và Linh mục VN phải chào cờ rồi mới được dâng thánh lễ là vi phạm tội trespass, tức tội xâm nhập.
Vì lo ngại nhóm cán bộ Việt Tân sẽ đến quấy phá như ở Canada năm 2002, Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Sydney phải tìm cách đề phòng.
 
 
MUỐN “XÀI BẠC GIẢ”
 
Thất bại trong việc thành lập các cơ sở dân sự đối kháng ở trong nước, các nhà lãnh đạo Việt Tân quyết định “xài bạc giả”. Một mặt Việt Tân tìm cách đánh chiếm các tổ chức trong cộng đồng người Việt ở Mỹ để nói với Anh Hai rằng Việt Tân là tổ chức đấu tranh lớn nhất ở hải ngoại. Nếu Việt Cộng có dành cho Việt kiều những ghế đại biểu trong quốc hội thì xin nhớ đến “em”. Mặt khác, Việt Tân cho một số cán bộ cao cấp từ hải ngoại về trong nước giả ngồi xếp truyền đơn vào phong bì có logo Việt Tân để cho Công An bắt và nói với đồng bào hải ngoại và dư luận quốc tế: “Chúng tôi có cơ sở đang hoạt động ở trong nước đấy”!
 
Chuyện đại biểu Mặt Trận có thể về làm “đại biểu quốc hội” ở trong nước là chuyện khó xẩy ra. Lý do thứ nhất là Anh Hai chủ trương không xài các phần tử của VNCH hay của các tổ chức do các nhóm VNCH lưu vong thành lập để tránh những vướng mắc quá khứ. Anh Hai chỉ xử dụng các thành phần mới do họ đào tạo sau này mà thôi. Do đó, Việt Tân chỉ được Anh Hai xử dụng như một đoàn thể áp lực như các tổ chức đấu tranh khác ở hải ngoại. Lý do thứ hai là Việt Tân đã bị Bộ An Ninh của CSVN xếp vào loại tổ chức phản động, nên không bao giờ chấp nhận cho đại diện của Việt Tân về làm đại biểu Việt kiều hay đại biểu của các đoàn thể đối lập. Do đó, mơ mộng của Việt Tân chỉ là mơ mộng hảo huyền.
 
Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy đa số người Việt hải ngoại thường ghép thêm chữ “Mafia” trước chữ Việt Tân và gọi là “Đám Mafia Việt Tân”!
 
Nếu Việt Tân không thay đổi đường lối, rồi cũng sẽ đi vào ngỏ cụt như nhiều tổ chức đấu tranh khác ở hải ngoại.
 
 
NHỮNG MÓN NỢ MÁU
 
Điểm đặc biệt mà chúng tôi muốn nói với đảng Việt Tân là những món nợ máu mà họ đã gây ra với các chiến hữu, với thân nhân của các nạn nhân và với đồng bào.
 
Vì rập khuôn theo tổ chức và chủ trương của đảng CSVN, trong “Khu Chiến” Mặt Trận đã cho áp dụng những biện pháp sắt máu đối với các chiến hữu đã dấn thân phục vụ đất nước, khi có một vài bất đồng chánh kiến.
 
Trong cuốn hồi ký về “Bí Mật Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh”, anh Phạm Hoàng Tùng, một kháng chiến quân trong Mặt Trận Hoàng Cơ Minh có kể lại ba cái chết thê thảm do thanh toán trong nội bộ tại Khu Chiến của Mặt Trận, đó là cái chết của Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, Nguyễn Văn Huy và Lê Tuấn Hùng. Trong bài này, chúng tôi sẽ nói đến cái chết đau thương của Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều.
 
Phạm Hoàng Tùng cho biết trong khóa học Quân Chính II, có một sự kiện mà đến giờ anh vẫn còn nhớ, đó là câu hỏi của chiến hữu Nguyễn Hữu Nhiều dành cho chiến hữu Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh. Hôm đó trong lúc thảo luận về công tác lãnh đạo của Mặt Trận, anh Nhiều bỗng giơ tay xin hỏi chiến hữu Chủ Tịch: Mặt Trận có bao giờ chuẩn bị nhân vật nào thừa kế cho Chủ Tịch Mặt Trận trong trường hợp vị lãnh đạo tổ chức quá vãng hay không? Vì ngồi ở đầu bàn, tôi thấy chiến hữu Chủ Tịch mặt hơi biến sắc, tuy nhiên sau đó ông lại ôn tồn trả lời cho cả lớp, mặc dù không đi ngay vào câu hỏi của chiến hữu Nhiều.
 
Anh Phạm Hoàng Tùng kể lại câu chuyện thảm sát Bác Sĩ Nhiều đã xẩy ra sau đó như sau:
Anh biết chiến hữu Nhiều qua khóa học Quân Chính, đây cũng là lần đầu và lần cuối anh gặp Bác Sĩ Nhiều tại Khu Chiến. Sau khi thụ huấn xong khóa Quân Chính II, anh trở về căn cứ 27 tiếp tục công tác tại đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến một thời gian. Còn chiến hữu Nhiều trở về công tác tại trạm xá ở căn cứ 81 như trước đây. Bẵng đi một thời gian, chừng vài tháng sau, có tin anh Nhiều đã bị Mặt Trận tuyên án tử hình tại căn cứ 81. Theo tin đồn trong các anh em kháng chiến quân trong Khu Chiến, có lẽ anh Nhiều bị tử hình vì “chống đối và định bỏ trốn”. Những tin này xuất phát từ căn cứ 81, nơi chiến hữu Nhiều công tác, đặc biệt là những tin do các anh em trong toán thi hành kỷ luật tiết lộ ra.
 
Cái chết của anh Nhiều sau này cũng được báo chí cộng sản khai thác như một bằng chứng về chính sách “khắc nghiệt và tàn ác” của Mặt Trận. Họ đã căn cứ vào bản án tìm thấy trong túi xách của Trần Thiện Khải để rêu rao chuyện này. Bản án ghi rõ Bác Sĩ Nguyễn Nhiều bị tử hình vì “bất tuân thượng lệnh”.
 
Theo những thông tin trong khu chiến, Bác Sĩ Nhiều tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa tại Sài Gòn năm 1974 và làm việc tại Bệnh Viện Nguyễn Văn Học ở Gia Định. Khoảng cuối năm 1984 đầu năm 1985, Bác Sĩ Nhiều cùng gia đình vượt biên đến trại tị nạn đường bộ ở sát biên giới Thái - Cambodia. Mặt Trận đã đến tiếp xúc và thuyết phục anh tham gia Mặt Trận. Bác Sĩ Nhiều có đặt vấn đề với Mặt Trận: Nếu Mặt Trận giúp cho vợ con anh đi định cư tại hải ngoại, anh sẽ lên đường vào Khu Chiến. Mặt Trận đồng ý.
 
Sau khi dự khóa học về kháng chiến quân, Bác Sĩ Nhiều được điều động vào làm việc tại trạm xá của căn cứ 81. Trong thời gian ở đây, anh Nhiều có huấn luyện về chuyên môn cho các anh em kháng chiến quân đang phụ trách về công tác quân y. Anh rất được cấp trên trọng dụng.
 
Tại trạm xá căn cứ 81, có những kháng chiến quân đang điều trị bịnh sốt rét, nên khẩu phần dinh dưỡng cho trạm xá tương đối đặc biệt, so với các đơn vị khác hay các tiền đồn. Trạm xá được tiếp tế rau cải tươi đều đặn, có phần thịt tươi hàng ngày hoặc hàng tuần, thêm ít bánh trái, đường cát trắng, sữa hộp và quà cáp. Riêng chiến hữu Nhiều được cung cấp cả thuốc thơm Samit, một loại thuốc lá nổi tiếng và đắt tiền ở đất Thái vào thời đó.
 
Theo tin đồn ở căn cứ 81, anh Nhiều có vẻ bất mãn khi không được Mặt Trận giao cho nhiệm vụ tương đương với chức vụ Ngoại Trưởng. Nhưng đây có thể là tin đồn do Mặt Trận đưa ra để bêu xấu anh. Bác Sĩ Nhiều không bao giờ có tâm tình như vậy. Tuy nhiên, sau một thời gian được trọng đãi, bỗng nhiên chiến hữu Nhiều bị thất sủng!
 
Chưa ai rõ chuyện gì đã xẩy ra giữa anh Nhiều và bộ chỉ huy của Mặt Trận, nhưng thành thật mà nói anh Nhiều đôi khi cũng có thái độ tự cao tự đại. Ít lâu sau, anh Nhiều bị hạ tầng công tác. Anh không còn được làm việc tại trạm xá căn cứ 81 như một Bác Sĩ chuyên nghiệp, anh bị điều đi làm công tác gác cửa hàng ngày ở vòng rào của căn cứ 81!
 
Từ khi bị hạ tầng công tác, anh Nhiều ngày càng sa sút tinh thần, sắc diện đổi hẵn. Anh thường nói những điều bất mãn về Mặt Trận.
 
Để nắm vững tình hình của anh Nhiều, Mặt Trận đã cho một thanh niên trẻ khoảng 17 đến làm việc chung với anh Nhiều và lấy tin tức. Anh Nhiều thường tâm sự với cậu này. Theo cậu ta kể lại, anh Nhiều đã có lần tỏ ý muốn trốn khỏi Khu Chiến và rũ anh đi theo để tìm cuộc sống khác. Nhận được những tin tức này, bộ chỉ huy của Mặt Trận đã quyết định áp dụng các biện pháp kỷ luật đối với anh Nhiều.
 
Một số anh em kháng chiến quân tại căn cứ 81 cho biết, một hôm khi đang ngồi gác cổng như thường lệ, chiến hữu Nhiều được một toán công tác đến báo tin cho biết có lịnh bảo anh phải đi công tác xa với toán này. Một người trong toán công tác thi hành kỷ luật này có thể là Trần Văn Quốc. Anh là người tỉnh Sông Bé, thuở nhỏ từng làm giao liên cho Việt Cộng. Bỗng nhiên anh bỏ đảng và vượt biên qua Thái, rồi sau đó tham gia Mặt Trận. Anh Quốc rất gan dạ, khỏe mạnh, chấp hành kỷ luật tốt, giỏi nghề đi rừng và bẫy thú rừng.
 
Theo một số kháng chiến quân kể lại, toán hành quyết đã dẫn anh Nhiều tiến vào rừng sâu, đến một nơi có đào sẵn một cái hố. Tới đây, các chiến hữu thi hành kỷ luật mới báo cho anh Nhiều biết Mặt Trận đã quyết định xử tử anh. Trước khi hành quyết anh, họ đã mời anh hút một điếu thuốc.
 
Khi biết tin như vậy, anh Nhiều đã quì xuống khóc than, van xin các kháng chiến quân đừng bắn anh. Nhưng ba kháng chiến quân có nhiệm vụ thi hành kỷ luật cương quyết thi hành lệnh. Sau khi bắn, họ đã chôn anh vào cái hố đã đào sẵn. Lúc đó Bác Sĩ Nhiều chỉ mới 40 tuổi.
 
Trong những bài tới chúng tôi sẽ tường thuật những trường hợp khác.
 
 
TÌM CÁCH CHỐI QUANH
 
Khi những sự kiện như đã nói trên được các kháng chiến quân của Mặt Trận tường thuật lại, Mặt Trận và Việt Tân thường tìm cách chối quanh.
 
Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC do Nguyễn Hùng thực hiện, ông Lý Thái Hùng đã bác bỏ toàn bộ cuốn hồi ký “Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh” của kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng.
 
Khi phóng viên của đài BBC hỏi về những cáo buộc của kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng về việc Mặt Trận đã giết hại những người đổi ý định không chịu đi theo Mặt Trận. Ông Lý Thái Hùng nói rằng hồi ký đó đã đưa ra nhiều cáo buộc về những hành động vốn gây cho ông bất bình. Tuy nhiên, ông đã bác bỏ những cáo buộc này. Ông nói:
 ''Những chuyện mà anh Phạm Hoàng Tùng kể là anh nghe lại chứ đối với Việt Tân những chuyện đó không hề xảy ra.
"Trong toàn bộ cuốn sách mà anh viết và tôi có đọc thì sự hư cấu và suy diễn nhiều hơn. Và nhiều khi sự hư cấu và suy diễn đã làm mất đi tính trung thực của cuốn sách.”
 
Trước cơ quan pháp lý và trước công luận mà phủ nhận một cách khơi khơi như vậy chẳng ai chấp nhận. Muốn phản chứng phải đưa ra các bằng chứng cụ thể để chống lại. Thí dụ trong vụ Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều bị tuyên án tử hình và bị hành quyết, Việt Tân phải đưa ra các nhân chứng để chứng minh lời tường thuật của Phạm Hoàng Tùng là sai và chứng minh Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều hiện nay ở đâu, và nếu đã chết thì chết như thế nào và xác đang chôn ở đâu. Việt Tân phải cho gia đình nạn nhân biết nơi chôn cất để gia đình có thể đến hốt cốt. Một cuộc giảo nghiệm tử thi và chung quanh nơi chôn cất sẽ đưa ra ánh sáng những sự thật. Mặt Trận không thể chối quanh theo kiểu ông Lý Thái Hùng được.
 
Lữ Giang

Bài Xem Nhiều