We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 5 September 2014

Dáng kiều thơm



Ðọc nhiều lần bài Tây Tiến của Quang Dũng rất nhiều lần mà rốt cuộc tôi chỉ nhớ được câu “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.” Nhưng thực ra, hình ảnh những người đẹp Hà Nội của ông không bao giờ xa hẳn ông, xa hẳn những câu thơ của ông. Lúc nào cũng thấy họ thấp thoáng. Lúc “trong đáy cốc, nói cười như chuyện một đêm mơ,” lúc “áo mỏng buông hờn tủi,” lúc “dạt dào” những “dòng lệ thơ ngây”...

Tôi ở Hà Nội trong những năm còn rất bé. Ký ức về thành phố này không có được bao nhiêu. Hồi ấy tôi còn quá nhỏ. Nhớ được mấy con đường gần nhà đã là nhiều lắm. Thỉnh thoảng theo người lớn đến vài ba nơi mà tôi cũng chỉ nhớ được một hai cái tên đường. Chưa có được cả một mối tình. Nhưng tôi vẫn còn nhớ được vài ba khuôn mặt mà nếu có liều lĩnh gọi đó là những dáng kiều thơm thì cũng có thể tạm coi là được.

Cạnh nhà tôi là gia đình một ông giáo. Ông có một cô con gái mà tôi nghĩ là đẹp lắm. Cô tên là Th. Chắc cô phải hơn tôi sáu tuổi là ít. Gia đình ông sống kín đáo, không bao giờ nghe thấy bất cứ một thứ tiếng động hay tiếng người nào từ nhà ông bay vọng ra. Ngay cả mấy ông chú của tôi cũng không biết được bao nhiêu về cô.

Có thể tôi lại còn biết cô hơn cả mấy ông chú rất tinh nghịch của tôi là đằng khác. Trong lớp nhạc ở phố Cửa Nam, một hôm tôi thấy cô đến để nhờ ông nhạc sĩ dạy đàn cho tôi tập cho cô hát bài Tình Thắm của Vũ Nhân. Mấy câu đầu của bài hát ở lại với tôi từ đó.

“Tôi nhớ một chiều xa xôi chớm Thu. Em đến thăm tôi một chiều khi nắng vàng. Cỏ cây dường như khoe sắc thắm, nghiêng nghiêng đón gót người đi yêu đương dâng sóng tình mến...”

Mấy tháng sau, gia đình tôi di cư vào Nam, nhưng bài hát ấy thì vẫn còn trong ký ức của tôi, và cô vẫn đến “thăm” tôi những chiều khi nắng vàng, có hoa cỏ dâng sóng tình mến.

Tôi tiếc không có thêm được mười tuổi để chuyến đến thăm như trong ca khúc của Vũ Nhân có thể diễn ra trong những tháng ngày ở Hà Nội.

Gia đình cô có đi Nam không thì tôi không cách nào biết được. Cuộc sống đưa đẩy, tôi quên hẳn cô Th. Cô có vào Sài Gòn, có sống ngay cùng ở cái thành phố ây có khi tôi cũng không biết. Tới tuổi biết đi tìm cô (nếu gia đình cô ở Sài Gòn) thì tôi lại không ở thành phố đó mấy năm. Rồi những quen biết mới, những nơi sống mới lại càng đưa tôi đi xa thêm nữa.

Th. không còn ở trong đầu óc của tôi nữa. Chỉ thỉnh thoảng lắm, khi nhớ lại vài ba câu trong bài hát cũ, Th. mới xuất hiện. Th. của tuổi 16 hay 17, chiếc áo dài trắng, đôi guốc cô để dưới chân cầu thang khi leo lên căn gác có lớp dạy nhạc ở phố Cửa Nam, mùi mái tóc bay nhẹ khi cô cúi xuống tìm bản nhạc trên cái pupitre của tôi.
Chắc dáng kiều thơm thì phải như thế.

Bây giờ, chắc cô đã phải 75 hay 76 tuổi. Cô chắc phải làm bà nội, bà ngoại vài ba lần. Cô ở đâu sau những dâu biển tang thương của đất nước? Cô ở lại Hà Nội hay cô cùng gia đình đi Nam, vào Sài Gòn, Ðà Lạt hay Huế? Hay cô cũng di tản ra nước ngoài?

Nếu ở lại Hà Nội, cô có còn ở lại khu nhà cũ ở gần Văn Miếu không? Cô có trở thành cán bộ, lấy một anh chồng răng đen mã tấu nhà quê nhà mùa không? Cô có dọn về một căn “hộ” trong một khu tập thể nào không, ngày ngày lo cho anh răng đen mã tấu để cho chàng chiều chiều co cẳng hút thuốc lào vặt nói phét ông ổng khắp khu nhà không?

Và lũ con, cháu nội ngoại của cô có đứa nào chửi thề luôn miệng, động một chút là lôi nhau ra đường đánh nhau xong còn xé quần áo của nhau ra cho lũ bạn mất dạy thu video clip tung lên mạng mà báo chí đã thuật lại hàng trăm vụ hay không?

Tôi chưa về Việt Nam bao giờ, mà có về thì cũng chẳng dám lần về khu nhà cũ để hỏi thăm kiếm cô đâu.

Vô phúc gặp ngay một con mụ cán bộ mặt mũi đanh ác chửi cho một trận, lại hắt cho một chậu nước bẩn vào mặt kèm theo một cái bĩu môi trông như ông Phạm Văn Ðồng lúc xấu trai nhất thì đau đớn cho đời khỉ già lưu vong biết là bao.

Không dám đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm nữa đâu. Bố bảo cũng chịu thua.

Người Việt tử tế
Trong những năm gần đây, có lúc tôi đã đi tới một sự suy nghĩ rằng ở Việt Nam không còn có được bất cứ một cái gì tử tế, tốt đẹp sót lại trong cái đất nước này nữa.

Bản tính, đạo đức, lối sống, con người, tình cảm, luân lý... tất cả đều đã phá sản hoàn toàn từ sau năm 1954 ở miền Bắc và sau năm 1975 ở khắp cả hai miền Bắc và miền Nam. Người cộng sản, như Vaclav Havel, tổng thống đầu tiên của Tiệp Khắc không cộng sản đã nói, có một cái tài đặc biệt là có thể làm xấu đi tất cả những gì tốt đẹp của con người. Ông đã nói như thế khi dẫn một người bạn đi thăm một vài nơi ở thủ đô Praha. Những cái xấu xa đó không phải chỉ ở mặt ngoài của đất nước, mà còn luôn cả những cái ở bên trong con người Tiệp Khắc. Ông Havel cho là phải mất rất nhiều năm mới gột bỏ được những cái xấu xa đó mà cộng sản tạo ra cho đất nước của ông. Tôi thấy ông nói rất đúng khi nhìn về đất nước của mình.

Nhưng có thể tôi đã lầm. Vẫn còn một Việt Nam rất đẹp, rất tử tế, rất nhiều tình của người đối với người. Những thứ mà ngay cả ở nước Mỹ, ở một vài nước tôi đã có dịp đi học, đi làm, sinh sống, và luôn cả ở miền Nam thời trước năm 1975 cũng không được tốt đẹp như Việt Nam bây giờ.

Người Việt, tôi thấy, chưa bao giờ đối xử với nhau được như cách người ta đối xử với nhau như ở Việt Nam ngày nay.

Trước năm 1975, anh em ruột thịt trong nhà, bạn bè thân cũng như sơ, họ hàng thân thuộc gần xa chưa bao giờ tôi thấy ai đối xử với nhau đẹp như một vài trường hợp như ở Việt Nam ngày nay.

Báo chí trong nước mới đây có viết mấy bài về một người đàn ông ở Bến Tre, ông Trần Văn Truyền, nguyên ủy viên trung ương đảng, nguyên thanh tra chính phủ nay đã về hưu. Ông lui về nghỉ tại một căn biệt thự xây trên một khu đất rộng trên một ngàn mét vuông làm toàn bằng vật liệu như gỗ quí, đồ đạc trong nhà toàn những thứ đắt tiền trong một kiến trúc rất đẹp chung quanh có tường cao, trang trí bằng những mặt trống đồng lịch sử và cổ điển.

Ngoài ra, ông Truyền và gia đình cũng còn làm chủ một số bất động sản, biệt thự rất lớn và đắt tiền ở Sài Gòn, khu đô thị Phú Mỹ Hưng và phường Thảo Ðiền thuộc quận 2.

Khi thấy một giới chức chính phủ về hưu mà nhà cửa kinh khủng như vậy thì nhiều người cũng đâm ra thắc mắc. Làm sao lương lậu chính phủ phát mà có được nhiều tiền để (nhiều) nhà cao cửa rộng như thế thì ông Truyền cho biết đất đai là ông thừa hưởng của mẹ để lại, con trai mua thêm khu đất hoang nằm sát cạnh biếu ông để ông làm nhà. Ðó là một chuyện tốt đẹp thứ nhất. Gia tài mẹ để lại thì anh em cho ông hết, không thèm tranh chấp đánh nhau vỡ đầu, kiện lên kiện xuống. Con trai chí hiếu thì mua miếng đất bên cạnh biếu bố cho bố xây nhà, không hề có chuyện cướp đất hương hỏa của bố, đuổi hai con khỉ già ra chợ Bến Tre bán vé số độ nhật.

Có đất rồi nhưng làm thế nào có nhà ở cho bỏ những ngày cơ cực? Dễ thôi. Ông có một cô em gái nuôi thấy vậy bèn tặng ông một số tiền để xây lên mấy tầng, có mái vòm, ao cá, vườn cây, lối xe ra vào thoải mái không phải tránh nhau, gắn camera khắp nơi cho an toàn.

Ðó là chuyện tốt đẹp và tử tế thứ hai. Em gái nuôi ở cái lỗ nào chui ra mà sao tốt như thế? Ông chỉ cho tôi chỗ để kiếm một hai đứa đem về cung phụng vài năm coi chúng nó có tặng cái nhà nào không , hay giúp xây cho cái hộ (?) nào chăng.

Tuần qua, báo trong nước đăng tin giám đốc sở tài nguyên Ðào Anh Kiệt khai với công an là bị mất trộm ngay tại sở làm (ở Sài Gòn) một món tiền lên tới 1 tỉ đồng và 30 ngàn đô la Mỹ. Ông cho biết định mang số tiền đó đi mua nhà cho con trai. Ôi đúng là một người cha tử tế. Ông khai với cảnh sát và cũng nói với báo chí rằng số tiền đó là tiền mồ hôi nước mắt ông dành dụm từ nhiều năm nay mới có được chứ không hề là tiền tham nhũng mà có.

Ðất nước chúng ta vậy ra càng ngày càng khá ra. Mồ hôi và nước mắt bây giờ rất có giá là như thế. Cứ đem hai thứ ấy ra đổi là khối tiền, mà tiền tỉ chứ bộ cứt sao!

Tội nghiệp Robin Williams sao ra đi sớm vậy? Chứ nếu ở tới hôm nay, nghe hai chuyện này cũng được một trận cười thỏa thích, cam đoan hết trầm cảm ngay, khỏi phải đi tìm cái chết quá sớm như thế. Hay cũng có khi nghe xong, cười quá cũng lại chết thì sao!

Rõ khổ.

 Bùi Bảo Trúc

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG TÔI CŨNG MỘT THỜI CHIẾN TRANH ĐỔ NÁT




        Lời Phi Lộ: Trong hơn 1 tháng nay kênh truyền thông CNN hằng ngày làm sống lại nước Mỹ trong “Những Năm Sáu Mươi”của thế kỷ trước qua cuốn phim "The Sixties”. Những biến động của xã hội Mỹ vào thời khoản này đều được lồng trong khung cảnh của “Chiến Tranh Việt Nam” - VietNam War. Việt Nam quê hương tôi, vào Những Năm Sáu Mươi, một đồng minh của Mỹ ở tận phía Tây bờ biển Thái Bình Dương, cũng có một thời chiến tranh đổ nát. “Chiến Tranh Việt Nam” ‘càn quét quê hương tôi với những sự cố dữ dội - Những mồ chôn tập thể ở Huế trong biến cố Mậu Thân -Mùa giáng sinh 72 được thắp sáng lên bởi những trận trải bom của pháo đài bay B52 cày nát Hà Nội, trong suốt 13 ngày và đêm. “Chiến Tranh Việt Nam” đã cướp đi 3 triệu sanh linh Việt Nam, đã để lại 4 triệu thương tật cả chục triệu cô nhi quả phụ... "Chiến Tranh Việt Nam” không chỉ là niềm đau riêng của hai dân tộc Việt, Mỹ, nó còn là bài học chung cho cả nhân loại. Trong chiến tranh không có kẻ thắng người bại, tất cả đều là nạn nhân của chiến tranh. Chiến tranh chỉ gây ra đổ nát, nghèo đói, lạc hậu, hận thù phi lý… Bài bút ký sau đây là chứng tích của đời tôi, một bác sĩ phẫu thuật, đã nhiều lần đối diện cũng như nhân chứng cho thân phận con người trong chiến tranh.

    Nhìn sông Hậu, con sông lớn nhất của tổ quốc, mênh mông miệt mài trôi, cuồn cuộn phù sa và ánh sáng, không một ai có thể nghĩ rằng vùng đất quê hương kỳ diệu này cũng là vùng đất chiến tranh trong gần 30 năm qua. Thị trấn Cần Thơ, nằm trên hữu ngạn sông Hậu vẫn sinh hoạt bình thường. Bây giờ là tháng hai, năm 1972. Dân chúng trong thị trấn Miền Tây này đâu có ngờ chỉ trong một vài tháng nữa là cả nước đi vào Mùa Hè Đỏ Lửa với những trận đánh ở ngọn đồi Tân Cảnh, Căn Cứ Lữ Đòan 2-Dù. Sau đó là trận đánh An Lộc, Trị Thiên, Đại Lộ Tử Thần, những trận địa chiến hai bên bờ sông Thạch Hãn.v.v... Những trận đánh lớn cứ theo chân nhau, vượt Trường sơn, từ ngoài Trung vào Nam, từ Cao nguyên đổ xuống đồng bằng duyên hải như thác ngàn. Hai phe, bốn bên dốc toàn lực đổ quân vào những trận đánh điên cuồng, đẫm máu làm áp lực hòa đàm Paris ở giai đoạn chót.  Những trận đánh tận tình hủy diệt nhau làm rực lửa những trang báo cùng khắp thế giới, thắp sáng lương tri nhân loại. Hầu hết các gia đình người Mỹ, mỗi chiều tối đều ngóng nhìn lên màng ảnh truyền hình, theo dõi chương trình CBS Evening News Reports tại New York, hớp từng lời tường thuật về Chiến tranh Việt Nam của Walter Cronkite. Những trận đánh đẫm máu xé nát trái tim những bà mẹ nước Mỹ. Phong trào phản chiến trên tòan khắp thế giới lên đến cực điểm. Các sinh viên trong các trường đại học nhất là tại Mỹ, tại Anh và các quốc gia Bắc Âu và Tây Âu, bãi khóa, tổ chức“ truồng chạy” phản đối chiến tranh diệt chủng tại Việt Nam.  Trong khi đó tại Sàigòn, giọng hát Thái Thanh thảm thiết trong bài “Kỷ Vật Cho Em”, một kiệt tác phản chiến thời danh của Phạm Duy, viết sau cuộc ‘Hành Quân Lam Sơn 719’:
    “Anh trở về trong chiếc poncho…
    Anh trở về trên đôi nạn gỗ…
    Anh trở về tật nguyền chai đá…
    Anh trở về dang dở đời em…”!


    Vào thượng tuần tháng 3/1972, toàn thể dân chúng thị trấn Cần Thơ, giật mình thức giấc vào lúc 4 giờ sáng vì ba trái hỏa tiễn 122 ly vừa bắn vào thị xã Cần Thơ gây thương vong một số đồng bào. Đó là tình trạng mà Đội Phẫu Thuật và Toán Cấp Cứu Ngoại khoa của chúng tôi tại bịnh viện dân y Thủ Khoa Nghĩa, phỏng đoán cũng như chờ đợi bấy lâu nay. Đội ngũ Ngoại khoa của bịnh viện dân y Thủ Khoa Nghĩa lúc bấy giờ có thể nói là có tổ chức và chỉnh đốn, phối hợp tốt cũng như can thiệp cấp cứu hữu hiệu. Chỉ 25 phút sau, Đội Cấp Cứu của bịnh viện phối hợp với các toán Nhân Dân Tự Vệ di chuyển vào bịnh viện 8 người bị thương nặng; và 10 phút sau đó đội thứ hai mang về 4 người. Hôm ấy, tôi trực khoa ngoại. Nhưng đây là một trường hợp đặc biệt: nạn nhân là người sống cùng trong một thị xã với chúng tôi. Có người là thân nhân của nhân viên bịnh viện. Việc xử trí, vì thế hơi chật vật lúc ban đầu.  

    Bây giờ là 5:00 giờ sáng, tất cả các bác sĩ phẫu thuật đều có mặt tại phòng Cấp Cứu Ngoại, CCN, và tiếp tay với tôi. Tất cả mọi người đều nhiệt tình hăng say tự nhận lấy bịnh nhân, và tiến hành phẫu thuật cấp cứu với tinh thần trách nhiệm của mình. Cảm động vô cùng là các anh chị y tá, cán sự và gây mê hồi sức, của 4 kíp phẫu thuật cấp cứu đều có mặt, 4 phòng phẫu thuật hoạt động. Tôi tiếp cứu một phụ nữ có thai độ chín tháng, bị thương ở ngực và ở bụng. Bà vừa khó thở bà vừa đau bụng. Bà quằn quại khủng khiếp. Tôi nhìn lên film phổi và bụng của nạn nhân, có một mảnh kim loại mà tôi nghi là của hỏa tiển nằm trong phổi trái của bà khá sâu, một mãnh thứ hai, xuyên qua thành bụng và nó có vẻ nằm trong bào thai. Khi nghe tim thai, tôi thấy tim thai đâp nhanh. Thế là cả mẹ lẫn con đều bị thương. Tôi xúc động, tôi nói lớn “Thai nhi cũng bị thương! Khốn nạn! Chiến tranh!”. Tôi nghe giọng nói của 1 đồng nghiệp, bác sĩ Ngọc, ngay sau ót tôi: “Đó là chiến tranh và bạo động!”. Anh vừa nói vừa xoa nhẹ lưng tôi.

    Chúng tôi và kíp cấp cứu đưa nạn nhân lên phòng mổ. Theo ý nguyện của bà mẹ, chúng tôi phải lo cứu bào thai trước nhất. Bà nói với tôi, trong giọng nói thều thào đau đớn:

    - Xin bác sĩ lo cứu cháu trước, vì cháu là đứa con duy nhất sau khi vợ chồng tôi ăn ở với nhau gần 3 năm. Cháu là niềm hy vọng duy nhất của chồng tôi. Hôm nay cháu đúng chín tháng bào thai.

    Tôi biết chị là cựu sinh viên Viện Đại Học Cần thơ và chồng chị là sĩ quan Cảnh sát Dã chiến, hiện anh đang  đồn trú tại vùng ‘xôi đậu’ Thuận Trung, Cờ Đỏ. Tôi bảo chị cứ an tâm, bào thai vẫn còn tốt, cả mẹ lẫn con không ai có gì là nguy kịch cả…

    Bịnh nhân vừa bắt đầu mê là tôi mở ổ bụng, đi vào tử cung bắt con liền. Sợ nhất là cháu ngạt thở. Rất may, mới có chín tháng bào thai mà cháu đã xoay đầu xuống. Mảnh của rocket xuyên qua thành bụng người mẹ, đi vào khoảng 1/3 trên của tử cung. Mảnh rocket ghim vào mông trái của cháu, không có dấu hiệu thương tổn đến xương hay thần kinh.Vừa bắt cháu ra cháu có vẻ tái tím ai cũng sợ. Các cô diều dưỡng người thì lo hút đờm nhớt cho cháu, người lo đánh nhẹ vào mông cháu cho cháu khóc kích thích cho cháu thở.

    Các cô la lớn:
    - Khóc lên đi! Khóc lên đi!

    Cháu bật khóc. Lúc đầu còn yếu, sau 5 giây cháu khóc khỏe hơn. Cả phòng mổ cười vui nhộn lên, ai cũng vui sướng khi thấy cháu đỏ và hồng hào.

    Tôi phối kiểm ổ bụng người mẹ, rất may mảnh rocket xuyên qua thành bụng chỉ gây thương tổn tử cung và bào thai. Ruột và các tạng trong ổ bụng của bà tốt.

    Vừa hoàn tất tường trình phẫu thuật, tôi nhìn sang ba phòng phẫu thuật các bác sĩ đang tiếp tục cas thứ hai của họ. Bây giờ là gần 6:30 sáng, tôi đến từng phòng mổ cám ơn các đồng nghiệp và nhất là các chị điều dưỡng, các toán cấp cứu. Và cho họ hay, sau cas phẫu thuật này xin các anh chị về nghỉ, phần còn lại là của tôi.  Tôi sẽ tự giải quyết…

    Bây giờ là tháng Tư / 72 Mùa Hè Đỏ Lửa thật sự bùng nổ. Cả nước, cả thế giới sống trong căng thẳng của chiến tranh Việt Nam. Tình trạng này càng căng thẳng hơn vì những đợt trải thảm bom của pháo đài bay chiến lược B52 ở rừng núi Trường sơn, đường mòn Hồ Chí Minh. Có khi B52 đánh bom địa đạo Củ Chi, hay ven đô. Các phóng viên thời sự quốc tế ở các hotels: Caravelle, Ritz, hay Ambassy…tại trung tâm Saigòn hằng đêm thức giấc nghe bom rung từng lớp cửa kính. Chính phủ Trung ương Saigon lúc này cũng bắt đầu tranh thủ nhân tâm. Bộ Y Tế phát động phong trào “Y Tế Về Làng”. Như vậy có nghĩa là hàng tuần các bác sĩ phải hướng dẫn một đoàn y tế và thuốc men đi về các thôn xã, ngay cả trong những làng ở tận các vùng sâu để khám bịnh cho thuốc những đồng bào quê, nghèo khó không đủ phương tiện ra các bịnh viện ở tỉnh thành điều trị. Các bác sĩ ai cũng chấp nhận thi hành nghị định của Bộ mặc dầu nghị định này có nhiều thiếu sót như là không có gì bảo đảm an ninh cho đòan y tế, nhất là cho các bác sĩ, phần nhiều các anh từ quân đội biệt phái, nghĩa là họ vẫn còn trong quân ngũ. Hơn nữa khi đi chúng ta có mang theo một ít thưốc men, rủi găp “Họ”, “Họ” xin thì sao? Đó là những điều mà Bác sĩ Phan Ngọc thường hay lo nghĩ cho phong trào Y Tế Về Làng. Nhưng ngày mai thứ bảy, cuối tháng Tư 72, đến phiên anh và tôi, anh cũng phải đi. Nhưng tôi rất quan ngại, chuyến này chúng tôi đi vào tận vùng sâu, Thuận Trung - Cờ Đỏ.

    Có lẽ ở xã chính quyền đã thông báo cho đồng bào hay, cho nên chúng tôi căng lều dựng trại vừa xong là đồng bào đã đổ xô lại vô cùng đông đảo. Chúng tôi khám bịnh say sưa, cấp thuốc men cho họ. Thỉnh thoảng có những phụ nữ dìu những ông già quấn khăn rằn mà họ bảo là cha họ hay ông nội ông ngoại của họ. Phần nhiều những người này bị suy kiệt và nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhất là kiết lỵ và viêm gan, có người bị sốt rét rừng, họ được khiêng đến chúng tôi trong lúc cơn bịnh hoành hành. Theo bảo hộ các ông già là một số phụ nữ, họ cười đùa và nói chuyện với các cô nữ y tá của chúng tôi một cách thoải mái. Bác sĩ Phan Ngọc bảo nhỏ vào tai tôi: “Tôi nghi các cô phụ nữ này quá! Trong một vài phút nữa các cô dám mời mình nhảy ‘sol-lá-mì’ lắm”! Lúc đó cách chúng tôi vào khỏang 2-3 cây số, máy bay săn giặc nhào lên bổ xuống bắn phá dữ dội, chúng tôi nghe cả tiếng súng lớn và tiếng bom nổ. Lúc đó ông Xã Trưởng cũng vừa xuất hiên, ông chào bác sĩ Ngọc, và ông cũng nói với chúng tôi: “đó là vùng oanh kích tự do, họ đang đánh nhau”. Bà cụ, tôi đang khám bịnh, cũng cho tôi hay “họ đánh nhau hà rầm, chuyện đó xảy ra như cơm bữa, bác sĩ đừng có lo”. Lúc này thì Bác sĩ Ngọc thật sự sợ. Anh lo lắng. Anh quên hẳn chuyện có thể các phụ nữ mời anh nhảy ‘sol-lá-mì’. Anh hối anh em khám bịnh cho thuốc cho nhanh về sớm. Thật sự tôi còn sợ hơn cả anh ấy nữa. Tôi cố giữ vẻ mặt bình tĩnh. Nhưng số bịnh nhân càng trưa càng đông.

    Một người đàn ông đi chống trên một nạn, cụt mất một chân, tay phải xách một con gà, đang tươi cười tiến tới tôi, anh đang đứng trước tôi. Môi anh run:
    - Thưa bác sĩ! Chắc bác sĩ quên con…em... rồi?

    Thật sự lúc ấy tôi hòan toàn quên anh ấy. Tôi cố nhớ là ai, tôi gặp anh hồi nào? Thật sự nhớ lại một người bịnh nhân của mình, nơi đây, trong hòan cảnh hôm nay là một sự cần thiết và may mắn cho tôi và cho cả đội Y tế nữa. Có quen biết hay có ai là bịnh nhân của mình ở đây, điều đó làm chúng tôi vững lòng. Nhưng tôi đành chịu, không thể nào nhớ nổi.

    Anh ấy nói tiếp:

    - Em là Nguyễn văn Chín, gần ba năm về trước bác sĩ cứu em, em bị thương do một cốt mìn từ máy bay rải xuống chưa kịp nổ. Bác sĩ cưa chân em và cắt một phần... anh vừa nói anh vừa chỉ vào háng anh.
         Nghe tới đó, tôi vụt đứng dậy:

    - Chín! Tôi nhớ ra anh rồi. Trong gần ba năm tôi mong gặp lại anh, để tiếp tục sửa chữa điều trị cho anh, nhưng sao anh không tái khám?

    Vâng, thật sự tôi nhớ cách đấy gần 3 năm, tôi trực, vào khoảng 1:00 sáng tôi nhận một cas gửi từ quận Thới Long nghĩa là cũng từ làng này. Nạn nhân là một nông dân, đi cày thuê, đạp phải mìn, 1/3 dưới cẳng chân trái bị biến mất, lòi trơ xương chầy, và hầu như toàn bộ phận sinh dục của anh, và mặt trong của háng cả hai bên bị những mảnh mìn hủy hoại. Anh được chuyển về tôi quá trễ sau khi bị thương. Anh đang bị chóang nặng. Anh bị mất máu nhiều quá và nhiễm trùng. Mảnh mìn đã hủy hoại hết một dịch hoàn bên trái của anh. Dịch hoàn trái bay mất, không tìm thấy, chỉ còn lại cuốn của dịch hòan. Dịch hoàn bên phải cũng bị hai mảnh nhỏ của mìn gâm sâu vào, nhưng còn cứu vãn được. Nhưng dương vật của anh bị đứt mất phần ngọn chỉ còn trơ 1/3 dương vật còn lại. Tôi cố bảo trọng dịch hòan còn lại, và cố tái tạo phần còn lại của dương vật, để sau này anh có thể tiểu tiện dễ dàng. Tôi cũng có ý định sau này sẽ gửi anh ấy về khu tiết niệu thuộc trường Y Saigòn để tái tạo lại dương vật của anh. Sau khi xuất viện không thấy anh tái khám như giấy hẹn. Lâu quá và tôi cũng quên hẳn anh ấy đi. Tôi hỏi người bịnh nhân:
    - Sao? Sau khi xuất viện, chúng tôi cho anh tái khám, mà không thấy anh trở lại?

    - Thưa bác sĩ, vợ em nói thôi, ‘nó’ như vậy cũng được rồi. Em vẫn chống nạn cày thuê được mà khỏi sợ phải đi lính đi tráng gì hết. Anh vừa nói vừa nhìn chị vợ đang đứng ngòai xa.

    Người bịnh nhân liền quay lại tôi, anh ấy nói:
    - Từ hôm qua, hai vợ chồng em biết bác sĩ hôm nay đến đây khám bịnh cho đồng bào, nên em xin đem đến biếu bác sĩ con gà mái ‘ấp’ để bác sĩ đem về Cần Thơ nấu cháo ăn.

    Tôi quyết liệt từ chối. Có nhiều lý do lắm, nhưng tôi chỉ nêu một lý do là tôi không thể mang con gà từ Thuận Trung về Cần Thơ được.

    Tội nghiệp chị vợ thật thà, chị chạy lại gần tôi, chị nói:
    - Bác sĩ nhận đi bác sĩ. Đó là con gà mái ấp, xương mềm, nấu cháu ăn bổ và ngon lắm bác sĩ.

    Thật sự nghe tới đây, chẳng những tôi mà ngay các cô điều dưỡng cũng muốn khóc. Tội nghiệp họ nghèo quá, không còn gì để tỏ lòng nhớ ơn tôi, chỉ còn có một con gà mái đang ấp một ổ trứng, họ bắt nó đem cho tôi. Nghĩ tới cái ổ trứng không còn gà mẹ, lạnh tanh vào giờ này, ai cũng ray rứt. Cuối cùng không phải một mình tôi mà cả đội y tế, nhất là các cô y tá nhất quyết yêu cầu vợ chồng anh ta đem con gà về và trả lại nó cho ổ trứng. Dĩ nhiên hai vợ chồng người bịnh nhân cũng phải tuân theo.

    Chúng tôi sửa soạn ăn trưa, thì thấy một nhóm thanh niên nam nữ và hai ông cụ bà cụ khiêng một bịnh nhân tay ôm bụng xem chừng bịnh nặng lắm và lâu ngày. Bịnh nhân được đặt trên một tấm phản. Anh nằm ngửa phủ trên thân người một cái mền màu xám, loại mền quân-tiếp-vụ của quân đội Việt nam Cộng hòa. Mắt anh nhắm nghiền lại. Tôi nghe bà mẹ bịnh nhân nói :

    - Không sao đâu con. Các bác sĩ và các cô sẽ cứu con. Và bà khóc…

    Lúc bây giờ tôi thấy bác sĩ Ngọc nở nụ cười, có lẽ anh thấy yên tâm là vì chúng tôi được sự tin yêu của quần chúng địa phương này. Bác sĩ Ngọc đến hỏi thăm bịnh nhân. Người bịnh nói lí nhí không ra lời. Người cha của bịnh nhân đứng bên cạnh lặng thinh, còn bà mẹ chỉ biết khóc và than vãn chiến tranh phiền nhiễu đời bà. Bà đã mất nhiều đứa con trai vì chiến tranh, “nay chỉ còn.thằng này là thằng út duy nhất còn lại mà bây giờ nó cũng…”! Bác sĩ Ngọc đến dỡ mền, mắt anh gắng chặt vào ổ bụng bệnh nhân, miệng anh há hốc. Tôi chỉ nghe anh kêu lên một tiếng “Trời”! Anh chụp mền lại. Anh không đủ can đảm nhìn thêm nữa. Cả toán y tế chạy lại, anh xua họ đi xa. Anh gọi tôi lại. Anh vén cái mền tay anh nắn ổ bụng bệnh nhân. Tôi nghe anh hỏi người bịnh :

    - Đau không em?

    Tôi thấy người bịnh nhăn mặt…

    Tôi đến kéo mền xuống thắp, tôi bảo bịnh nhân co chân lại và khép hai đầu gối lại. Há miệng thở, thở nhẹ tự nhiên. Tôi sờ các nép lạt vót nhọn may thành bụng của bịnh nhân, khô, cứng, và vết thương thành bụng nhiễm trùng, có chỗ viêm thành mủ, bốc mùi. Tôi hỏi bịnh nhân bị thương hồi nào và mổ bao lâu rồi? Và bây giờ bụng anh ấy có đau không?

    Không chờ người bịnh nhân trả lời, bác sĩ Ngọc nói ngay:

    - Còn hỏi gì nữa? Bị viêm phúc mạc rõ ràng quá. Người bịnh nhân bị nhiễm trùng huyết đang bị sốt cao. Rồi bác sĩ Ngọc than vãn:

    - May thành bụng bằng lạc vót nhọn! Đau khổ thật!

    Nhưng sau đó anh lấy lại bình tĩnh ngay, anh hỏi tôi:

    - Bây giờ làm sao?

    Tôi chưa kịp trả lời và cũng thấy bác sĩ Ngọc bình tĩnh trở lại, cho nên toàn toán y tế đổ nhào đến nhìn bụng bệnh nhân. Không ai nói được nên lời. Chỉ có cô điều dưỡng Hy, chuyên viên gây mê hồi sức la lớn:

    - Trời hỡi! May thành bụng bằng tre vót nhọn! Tội quá đi! Và cô đưa hai tay lên ôm đầu.
    Bác sĩ Ngọc nhìn tôi và lập lại câu hỏi:

    - Giờ tính làm sao?

    Không cần chờ tôi trả lời, toàn toán y tế đều muốn đem nạn nhân về bịnh viện Cần Thơ điều trị ngay. Tôi cũng phải hiểu ngay rằng đó cũng là điều bác sĩ Ngọc mong muốn, mặc dù anh không dám nói thẳng ra. Ngay sau đó anh ra y lệnh cho dịch chuyền cho bịnh nhân để tái tạo lại các các chất điện giải và nước.

    Bây giờ là 2 giờ trưa, một số nhân viên y tế thực hiện y lệnh của bác sĩ Ngọc, một số còn lại thì quay trở lại sửa soạn buổi ăn trưa. Chợt các cô điều dưỡng nhìn tôi và nói:
    -  Vợ chồng ông Chín bà Chín, bệnh nhân của bác sĩ, họ cùng gia đình trở lại kìa.

    Nhìn lại tôi thấy hai vợ chồng anh Chín cùng với hai đứa con của anh chị, đang khệ nệ bưng mấy rỗ cơm phủ lá chuối xanh, và 2 nồi canh chua đang bốc hơi nghi ngút. Cứ tưởng họ làm thịt con gà mái ấp, tôi phàn nàn:

    -  Tội quá đi anh. Anh làm thịt con gà mái ấp thật sao?

    Chị Chín nhanh nhẹn trả lời

    -  Không đâu bác sĩ. Không phải thịt gà đâu. Đó là canh chua nấu với cá lóc. Xin bác sĩ và các cô thực lòng dùng.

    Bác sĩ Phan Ngọc nhìn vào nồi canh chua, anh hỏi

    -  Cá lóc ở đâu mà sẵn vậy?

    Chị Chín nói:

    - Anh Chín vừa trả lại con gà mái ấp vào trong ổ trứng của nó, anh chạy xuống con lạch trước nhà, anh lặn lật cái chum bể mà bỏ nó ở đó cách đây 6 tháng, anh hy vọng có con cá lóc chiếc sẽ chun vào đó ở. Hên quá bác sĩ, đúng vậy, anh bắt được con cá lóc bông gần 2 ký. Vợ chồng tôi mới nấu nồi chua để mời bác sĩ và các anh chị.

    Nghe xong, bác sĩ Ngọc cám ơn vợ chồng và gia đình của người bệnh nhân. Anh quay lại nói cùng với anh chị em trong toán y-tế:

    -  Làng này tương đối giàu có. Đời sống ở đây sung túc và dễ dãi, nên mặc dầu có những khó khăn vì chiến tranh, người dân họ vẫn bám ruộng bám vườn ở lại đây mà sống.

    Toán Y Tế Về Làng của chúng tôi trở về bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa tại Cần Thơ, đúng 5 giờ chiều. Chiếc xe ambulance chở người bịnh nhân và cha mẹ bệnh nhân đến thẳng Phòng Cấp Cứu Ngoại, CCN, theo đúng lệnh của bác sĩ Ngọc. Giấy tờ nhập viện của bịnh nhân, anh đã kỹ lưỡng làm trước, ngay tại lều Y tế tại Thuận Trung. Bác sĩ Ngọc yêu cầu tôi luôn luôn túc trực bên cạnh bịnh nhân, còn phần anh thì anh phải làm việc thận trọng với bác sĩ Giám Đốc bịnh viện và nếu cần anh phải làm việc với Công an, Cảnh sát và An ninh quân đội vì anh vẫn còn tại ngũ. Anh bảo với tôi: “phải thận trọng, đừng để ‘anh em’ hiểu lầm mình”.

    Tôi di chuyển bịnh nhân vào phòng CCN, anh Diệp Phùng, người Y tá trưởng phòng CCN trực hôm ấy, liền đến phụ tôi, đưa người bệnh nhân từ brandcard sang giường cấp cứu. Anh tiếp ứng tôi rất chu đáo. Anh thăm hỏi bịnh nhân, anh nhìn vào giấy tờ nhập viện của bịnh nhân mà bác sĩ Ngọc đã làm sẵn. Anh nói với tôi:

    - Thưa bác sĩ, “tụi Việt Cộng” vừa giựt mìn sập cầu Cái Tắc, một chiếc xe đò bị lật, một người chết, tài xế bị thương nặng cùng với năm người khác. Hôm nay thứ Bảy mà xui thật. Bác sĩ Vĩnh và Bác sĩ Quốc đang mổ cấp cứu.

    Nói xong anh đến xem lại người bịnh nhân. Anh đọc hồ sơ. Anh vén drap lên. Anh nhìn thành bụng bệnh nhân. Tôi thấy anh thất sắc. Anh chạy đến tôi, anh quát lớn.

    - Bác sĩ và bác sĩ Phan Ngọc, tiếp thu thằng chiến binh Việt Cọng này ở đâu vậy? Tôi biết lắm mà! Thuận trung, Cờ đỏ là ‘chiến khu’ của tụi nó…

    Tôi chưa kịp phản ứng, anh tiếp tục hét lớn, anh chửi thề:

    - Đ.m…Chỉ có tụi bác sĩ Việt cộng mới may thành bụng bằng lạt, bằng tre vót nhọn. Lạt mềm buộc chặt…  Nó là thằng Việt cộng. Bác sĩ rước Việt cộng vào nhà, vào nhà thương. Anh liền chạy đến giật chai dịch chuyền đang vô cho bịnh nhân. Các cô y tá và toàn thể toán Y Tế Về Làng liền nhảy đến ôm anh Phùng lại. Cô Hy, chuyên viên hồi sức gây mê nói:

    - Người ta là bịnh nhân bị thương mà anh Phùng!
     Diệp Phùng vẫn không nghe, anh tiếp tục la hét, và nguyền rủa người bịnh.  Anh nhảy bổ vào, định đánh người  bịnh. Anh chỉ mặt người bịnh nhân anh hét lớn:

    - Vì mày! Vì bọn Việt cộng tụi mày mà thằng con tao chết! Và Anh nhào đến đánh bịnh nhân.
    Tôi đang trì kéo với anh Diệp Phùng, tôi nhất định bảo vệ người bịnh của tôi. Chợt một cánh tay choàng qua vai tôi từ phía sau, nắm cổ áo anh Diệp Phùng ghì lại, và giọng nói của bác sĩ Vĩnh vang lên sau lưng tôi:

    - Nó bị thương nặng! Không được hành hung bịnh nhân! Anh Phùng!

       Anh Diệp Phùng khựng lại.  Bác sĩ Vĩnh, kéo anh dang xa người bịnh. Bác sĩ Vĩnh nhìn sâu vào mắt anh

    Diệp Phùng và nói:
     - Anh Diệp Phùng. Nó bị thương.

    Tôi quay lại, cám ơn Bác sĩ Vĩnh. Bác sĩ Vĩnh, cao lớn người, tốt nghiệp Y khoa tại Montpellier, Pháp. Anh chuyên về giải phẫu lồng ngực.  Bác sĩ Vĩnh cho tôi hay anh vừa mổ cấp cứu xong. Anh hỏi tôi:

    - Anh có cần tôi phụ anh mổ cas nầy không?

    - Cám ơn anh, có lẽ là không, vì anh Ngọc có kế hoạch là mổ cas này với tôi ngay chiều tối hôm nay.
    Sau đó Bác sĩ Vĩnh chào tôi, ra về.

    Tôi biết anh Diệp Phùng gần ba năm về trước, khi tôi đến làm việc tại bịnh viện này. Anh đậu ưu hạng khóa “Infirmier d’État” tại Chợ Rẫy, Sàigòn năm 1953. Những năm về trước anh là người Y tá, có văn bằng cao nhất,“Y tá Quốc gia” trong bịnh viện. Anh là người Y tá năng động, yêu nghề, biết thương yêu kính trọng bịnh nhân. Anh được nhiều bằng khen thưởng.  Anh được cất nhắc lên làm Trưởng Phòng Cấp Cứu Khoa Ngoại, một chức năng cao nhất (plafond) của người Y tá. Anh có gia đình, vợ và 4 con: 2 trai, 2 gái. Anh có một đời sống gia đình mẫu mực. Người con trai lớn của anh, vừa đậu xong Tú tài, bị động viên đi lính, thụ huấn quận sự tại Trường Sĩ Quan Bộ binh Thủ Đức. Bất hạnh cho anh. Người con trai của anh là một trong những sinh viên sĩ quan bị chết vì dịch Viêm màng não do trùng Méningocoques bộc phát bất ngờ trong quân trường Thủ Đức năm 1969. Cái chết của người con trai của anh là một tai biến khủng khiếp cho gia đình anh, là một thảm họa cho riêng anh. Anh trở nên phẫn uất, phản kháng với tất cả mọi người, Anh trở nên nghiện rượu. Trong cơn say, anh nguyền rủa Chính quyền VNCH, anh chửi Mỹ, anh lên án Việt cộng. Anh trở thành người chống cộng hung bạo. Anh thường bảo là tại Việt cộng mà con anh chết. Ngày đầu tiên tôi gặp anh, anh nói chuyện với tôi trong hơi men của rượu.

    Tôi vào phòng phẫu thuật chậm. Tôi chưa kịp xin lỗi, bác sĩ Ngọc nhìn tôi với nụ cười rạn rỡ:
    - Nào, chúng ta phải kiên trì làm việc với cas này! Khó đó anh! 

    Tôi thấy anh đã chuẩn bị bịnh nhân rất kỹ. Anh phủ những nép lạt khô bằng bằng gạt ướt, sau khi rữa thành bụng bằng thuốc khử trùng. Anh giải thích:

    - Phải làm cho lạt mềm, nó trở thành dẽo, khỏi bị gẫy. Tôi có kinh nghiệm về ‘vụ’ này, hồi sau Mậu Thân  tôi can thiệp “mổ lại” hai cas như thế này.  Tất cả đều xuất viện an toàn.

    Đựơc sửa soạn kỹ lưỡng trước cho nên khi cắt tháo mấy nép lạc may thành bụng không mấy khó khăn. Vừa nói chuyện với các cô chúng tôi vừa thao tác kỹ thuật phẫu thuật, luôn tay tháo gỡ các mô sợi. Sau gần hai giờ làm việc kiên trì, cuối cùng chúng tôi giải phóng toàn thể ruột của bịnh nhân ra khỏi mô sợi, không còn đoạn nào bị tắt nghẽn, hoặc tái tím. Chúng tôi cắt bỏ toàn bộ các mô sợi tìm thấy trong ổ bụng. Chúng tôi rửa ổ bụng chậm sạch máu. Ruột trở nên hồng hào. Chúng tôi đóng thành bụng sau khi dẫn lưu hai hố chậu.

    Trong phòng dành riêng cho bác sĩ viết tường trình phẫu thuật, bác sĩ Phan Ngọc nói với tôi:

    - May ổ bụng bằng lạt vót nhọn! Đau khổ thật! Đau khổ cho cả bịnh nhân lẫn bác sĩ! Chiến tranh! Khốn nạn! Chiến tranh thật khốn nạn!.


    Chúng tôi ra khỏi phòng phẫu thuật lúc 11:00 giờ đêm. Cuối tháng tư bầu trời đầy sao đẹp lạ thường. Tôi thư thả tản bộ trong sân bịnh viện, muốn tận hưởng những giây phút thỏai mái sau một ngày lao động vất vả. Chợt nghe tiếng anh Diệp Phùng chào tôi:

    - Thưa Bác sĩ, Bác sĩ chưa về nghỉ sao?

    Tôi chưa kịp trả lời, anh ấy chỉ tay về cuối chân trời xa:
    - Bác sĩ có thấy hỏa châu, trái sáng đầy trời đấy không?  Họ lại đánh đấm nhau. Dân chúng lại bị thương chết chóc. Bác sĩ về nghỉ đi, không khéo khuya nay lại phải vào mổ cấp cứu nữa. 

    Tôi đến bắt tay anh ra về. Diệp Phùng nắm chặt tay tôi trong lòng hai bàn tay của anh, anh trịnh trọng hỏi:
    -  Thằng nhỏ chiến binh Việt cộng Bác sĩ và bác sĩ Phan Ngọc mổ liệu có còn hy vọng gì không?

    -  Tôi nghĩ là hy vọng, và rất tốt…

    -  Ùm!. Được vậy, tôi cũng mừng cho nó.../.

    Viết xong tại bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa Cần Thơ -Việt Nam
    Mùa hè -1972
    Hoàn chỉnh lại lần thứ ba tại Oak Park, Illinois. USA
    Aug/2014
    Đào Như

Chuyện Kể : Ông Hai Lúa đi Mỹ





Ông Hai Lúa đi Mỹ

the-united-states-of-america-map
Ông Hai Lúa ngoe ngoảy đi vào phòng đợi của sân bay Tân Sơn Nhất. Thấy mình chẳng bằng ai: áo thun rẻ tiền, ba lô con cóc, xăng đan hở hang. Kệ. Ông tự nhủ rằng: mặc áo vét thì sang, nhưng khổ thấy mồ, mặc áo thun thì hèn, nhưng sướng quá chừng. Ông lại tự nhủ thêm rằng: già rồi mà còn làm đẹp thì thế gian nghi ngờ là già dịch. Vậy thì dại gì mà se sua. Ông bèn ngồi vắt chân chữ ngũ, tự tin, nhìn trước ngó sau, để xem nhân tình thế thái…

Bỗng từ trên loa phóng thanh, nhân viên phi trường nhắc nhở hành khách của hãng hàng không American Airlines chuẩn bị lên tàu. Ông Hai Lúa đứng bật dậy, dõng dạc đến nối đuôi với hành khách bình dân. Đuôi dài thoòng, song song với một cái đuôi ngắn tũn. Cái đuôi ngắn tũn ấy được thành hình bởi những ông VIP mặc áo vét, thắt cà vạt và những doanh nhân xách vali có nẹp inóc. Thì ra ở đâu cũng có người giàu và người nghèo. Giữa người giàu và người nghèo vẫn có một khoảng cách nào đó mà người nghèo hay người kém giàu bao giờ cũng chiếm ba phần tư dân số thế giới. Buồn ghê!


Chiếc máy bay khổng lồ Boeing 777 bắt đầu khởi động. Cô tiếp viên hàng không nhắc nhỡ lấy lệ, hướng dẫn vài động tác thao diễn, nếu máy bay gặp sự cố bất trắc. Cô tiếp viên đẹp đẽ nhưng không xinh xắn, gắn trên ve áo một logo bằng đồng của hảng hàng không AA. Hai chữ A ốm và cao đứng bên nhau tạo thành hai mỏm núi đá hùng vĩ. Giữa hai ngọn núi nhọn hoắt ấy có một con chim đại bàng hai cánh thẳng tắp, kẹp sát vào nhau, cặp mắt hau háu. Y như có một con mồi đang ngơ ngác đứng ở dưới vực thẳm. Ông Hai Lúa nhắc thầm trong họng: “Coi chừng nghe mày!” Chẳng biết ông muốn nói với con mồi hay là ông muốn dằn mặt con đại bàng. Đố ai biết được…


Ông Hai Lúa vội cài khóa an toàn khi thấy máy bay chuyển động trên sân băng. Bỗng… hẵng một cái. Thế là ông đã giã từ cánh đồng quê mà ông thuộc lòng từ bờ bọng cho đến đìa hào. Ông hiểu tánh ý của từng loài cá. Ông rành đường đi nước bước của từ con rùa cho tới con chuột… Bây giờ thì ông đang lơ lững trên không. Ngó xuống, ông chẳng thấy màu xanh bát ngát của đồng ruộng, mà chỉ thấy mây trắng, ngồn ngộn, bồng bềnh. Hết thân thương. Chỉ thấy xa lạ. Dường như ông mất hết cảm giác. Rất vô tâm. Rất vô tình…


Ông sực nhớ cách nay chừng ba thánh , ông quyết tâm đi Mỹ chuyến này để “nghe-ngó-nghĩ”. Nghe thật nhiều, thấy thật nhiều, để nghĩ cũng thật nhiều. Nghĩ nhiều về người đời và đời người. Nghĩ về một dòng lịch sử đang chảy cuồn cuộn như thác lũ. Những gì sẽ bị dòng nước cuốn đi? Những gì sẽ chìm xuống mất dạng. Bây giờ thì dường như ông hơi thất vọng. Bây giờ chỉ thấy mây và mây. Mà mây thì mãi mãi là bồng bềnh. Nổi cũng bồng bềnh. Trôi cũng bồng bềnh. Hết biết…

Ngày 15 tháng 8 máy bay cất cánh từ Sài Gòn. Ngày máy bay hạ cánh xuống San Jose thì lịch tường vẫn ghi là 15 tháng 8. Buồn cười nhỉ?

Trên cuốn nhật ký của mình, ông Hai Lúa ghi:


. Sài Gòn ngày 15 tháng 8 năm 2006. Mình rời Việt Nam đi Mỹ. Đường đi chỉ dài bằng một nửa trái đất, nhưng thời gian thì gần bằng 24 giờ. Như vậy thì mình sẽ tới nước Mỹ vào ngày 16 tháng 8 năm 2006.


. San Jose ngày 15 tháng 8 năm 2006. Ủa! Tại sao kỳ vậy?

Ông Hai ngẩn tò te. Ông không thể ngờ được rằng khi không gian chuyển động thì thời gian có thể bị ngưng đọng. Chính quy luật của không gian và thời gian đã tạo nên lịch sử. Mọi văn minh của loài người có thể đi lên và lên mãi. Nhưng cũng có thể những nền văn mình ấy theo nhau sụp đổ và sụp đổ y hệt nhau.


Rời khỏi phòng đợi của phi trường San Jose, ông Hai Lúa nhìn lên bầu trời. Vẫn chỉ thấy mây bay. Không thèm nhìn lên nữa. Ông nhìn xuống đất. Đất của nước Mỹ: rộng hơn 9 triệu cây số vuông. Đất của người Mỹ ở đúng 300 triệu người. Suốt ba tháng trời, ông Hai banh mắt ra để nhìn. Nhìn không hết, ông vễnh tai lên để nghe, nghe chẳng được bao nhiêu. Nhưng về tới nhà ông hí hững kể cho bà con đồng cảnh nghe. Chuyện kể lỏn nhỏn như cứt dê.


1. Ông đi tìm người Mỹ nhưng chẳng thấy người Mỹ đâu. Cửa nhà nào cũng đóng im ỉm. Rình mãi mới thấy một ông Mỹ hé cửa bước ra. Cửa nhà sập lại. Cửa xe mở ra. Cửa xe đóng lại. Ông Mỹ ở trong ấy. Xe lăn bánh, nhập vào dòng xe. Xe chạy như dòng nước. Người ta bảo có 300 triệu người Mỹ thì có 300 triệu chiếc xe. Nhưng chỉ thấy xe mà không thấy người. Vì không thấy người nên chẳng thấy tình người.


. Có một ông hàng xóm. Tên là gì thì chẳng ai biết. Chỉ thấy ông một ngày hai lần: một lần đi ra và một lần đi vô. Rồi bẵng đi mấy ngày chẳng thấy ông đâu. Tưởng là ông đi vắng. Ai ngờ, ông đã chết. Mấy ngày sau cảnh sát mới phát giác… Ôi! Tình xóm giềng!


. Có một ông Việt kiều nuôi một con nhồng. Con nhồng hay nói. Nói mà không hiểu. Sáng nào cũng chào “Good morning”. Ông láng giềng khen “hay”, nhưng trưa chiều cũng chào “Good morning”. Nghe mãi thấy nhàm vì điếc lỗ tai, ông láng giềng gọi cảnh sát. Cảnh sát đến ra lệnh cho ông Việt kiều giết con nhồng vì nó xúc phạm đến quyền tự do của ông láng giềng. Còn nhồng chết. Ông Việt kiều tiếc hùi hụi. Tiếc con nhồng. Tiếc luôn cả cái quyền tự do nuôi nhồng.


. Con chó đực của ông Ted chui hàng rào xanh qua chơi với con chó cái của ông Tom. Chúng nó không biết tiết dục cũng không biết ngừa thai. Thế là ông Ted bị thưa ra tòa vì hai tội. Tội một, nuôi chó mà không quản lý tốt để nó đi rong, làm mất an ninh của xóm giềng. Tội hai, con chó cái của ông Tom bị mang bầu ngoài ý muốn của chủ. Chủ của nó muốn lấy giống có danh bạ rõ ràng chứ không thể tạp nham như vậy. Ông Ted thua kiện và phải bồi thường. Láng giềng không thể nói chuyện với nhau. Chỉ có “pháp” mà không có “tình”.


2. Người ta khoe với ông Hai Lúa rằng đất nước Mỹ rất chu đáo, khiến con người sống rất an tâm. Người Mỹ cũng giữ luật rất nghiêm. Khi gặp bảng stop thì dù đường vắng hoe cũng vẫn phải thắng đứng lại vài giây rồi mới rồ ga đi tiếp. Uống bia mà lái xe thì cảnh sát phạt chết bỏ. Nếu đi đâu mà muốn nhậu chết bỏ thì phải dẫn bà xả đi theo để khi về thì trao vôlăng cho bà. Nhưng luật vẫn có kẻ hở để người ta lợi dụng luật để kiếm tiền.


. Cảnh sát rượt tên cướp. Tên cướp quýnh quáng lạc tay lái. Xe nhảy lên lề, tông vào một người khách hàng đang bơm xăng. Người khách ấy bị gãy chân. Ai cũng nghĩ rằng người gây tội là tên cướp, tên cướp phải bồi thường. Vậy mà không phải vậy, người phải bồi thường là ông chủ cây xăng. Hỏi tại sao thì cái lưỡi không xương của ông luật sư bên nạn nhân trả lời rằng:


+ Đúng rồi. Người phải bồi thường là thằng ăn cướp. Nhưng thằng ăn cướp không thể bồi thường được. Nó không có tiền gởi trong ngân hàng. Nó không có bất động sản. Nó chỉ có cái xe nghĩa địa mà thôi. Thế là sù.

+ Cảnh sát là một nguyên nhân khiến tên cướp gây ra tai nạn. Nhưng bắt tội cảnh sát không được. Cảnh sát không chịu bồi thường, vì họ thi hành nhiệm vụ mà.

+ Chỉ còn một người có tiền, đó là ông chủ cây xăng. Nhưng làm thế nào để bắt tội ông? Chỉ còn một cách kết tội ông. Ấy là ông bán xăng mà không tạo điều kiện bảo đảm an toàn cho khách hàng.


Ôi cái lưỡi không xương! Ôi đồng tiền!


. Ông Hai đến thăm một nhà thờ cổ. Cha xứ làm guide. Từ phòng thánh đi ra có 5 bậc cấp. Cha xứ vội nâng tay ông Hai dặn dò kỹ lưỡng: “Cha cẩn thận nha. Chính tại chỗ này, một bà đầm té trật gân. Bà kiện Hội đồng Giáo xứ. Hội đồng Giáo xứ phải bồi thường mất hai ngàn đô đấy”. Hỏi tại sao, thì luật sư bảo rằng: “Xây bậc cấp mà không làm tay vịn, nên mới gây tai nạn”. Lại cái lưỡi không xương của luật sư. Chỉ có thánh An Phong mới hiểu được điều này.


3. Ông Hai đến thăm một người quen. Bà chủ nhà gọi điện thoại cho bạn.

- Alô. Mày hả!

- Ôkê. Tại sao tao mời, mà mày không tới?

- Tính đi. Nhưng sao thấy chóng mặt quá à…

Vừa cúp điện thoại cái cốp, thì thằng cu tí nhỏng mõ phản đối:

- Tại sao mẹ nói dối? Mẹ có đau hồi nào đâu? Thằng cu tí giận dỗi. Bà mẹ cúi đầu xấu hổ.

Chỗ nào người ta cũng kể rằng: trẻ em được học đường giáo dục rất tốt. Các em không biết nói dối. Ôi nước Mỹ. Đây là điểm son của ngươi đấy. Tuyệt vời đấy!


4. Có một cặp vợ chồng già. Ông chồng là kỹ sư về hưu. Bà vợ là giáo sư về hưu. Hai ông bà sở hữu một tòa nhà trị giá một triệu đô. Bỗng họ bán đi, mua một căn nhà nhỏ trị giá một trăm ngàn đô thôi. Hỏi tại sao thì họ trả lời: “Để giúp người nghèo”.


Người Mỹ ơi! Nhà văn V. Gheorghiu gọi người là robot (con người bị cơ giới hóa). Nhưng ông Hai Lúa lại thấy trong người máy ấy có một quả tim bằng thịt. Quả tim phập phồng. Quả tim đập rộn ràng. Quả tim ấy cũng là điểm son của ngươi. Nó sẽ cứu ngươi. Và may ra nó sẽ cứu nền văn minh của ngươi khỏi sụp đổ.


5. Ông Hai Lúa rất cảm động khi thấy trên tờ đô la buộc bất cứ mệnh giá nào cũng đều có in một hàng chữ trang trọng “In God we trust!”. Cha ông người Mỹ lưu truyền cho hậu thế lòng tin tưởng của họ vào Thiên Chúa. Người Mỹ ơi! Lại một điểm son nữa dành cho ngươi! Nhưng ông Hai Lúa cảm thấy buồn buồn vì nghe tin đồn rằng có những ai đó đang vận động để Quốc hội duyệt bỏ dòng chữ quý giá ấy.


Ông Hai Lúa giã từ nước Mỹ ngày 13 tháng 11 năm 2006. Con tằm đã ăn dâu. Ăn ít quá nên chả thấy tằm nhả tơ. Đành chờ hay đành chịu. Ai mà biết được.












LM. Piô Ngô Phúc Hậu
http://www.tinvuiviet.net/modules.php?name=News&file=article&sid=316

Bài Xem Nhiều