We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 29 September 2014

Bức tranh thờ


Vũ Thư Hiên – Bức tranh thờ


1Vậy mà không một ai biết trước cuộc chuyển trại ấy. Mọi sự đều diễn ra bình thường trong những ngày trước đó. Đùng một cái, tai hoạ ập đến. Mọi người tá hoả tam tinh, nhớn nhác, mặt xám ngoét, nhưng đến lúc ấy thì không còn gì để làm nữa rồi, không kịp nữa rồi.
Đối với người tù, chuyển trại là một tai hoạ, ôi thôi, to lớn vô cùng. Cuộc sống thường nhật, dù rằng trong trại tù, lâu ngày đã ổn định, đã thành nếp, cho dù tồi tệ đến mấy cũng vẫn cứ là đâu vào đó, đùng một cái bị lộn tùng phèo. Mất mát đủ thứ. Tan đàn xẻ nghé. Trước mặt là một sự tù mù trên hết mọi sự tù mù, tốt xấu không thể biết.
Trong khắp các nhà giam, được bố trí thành hàng lối đều đặn trong vòng vây hàng rào trại như những cục gạch xám nếu nhìn từ trên cao, tù nhân xôn xao. Đã tới giờ mở cửa cho tù ra làm vệ sinh cá nhân, ăn sáng, rồi đi lao động, mà cửa các nhà giam vẫn im ỉm.
Mãi hơn một giờ sau, mới thấy từ cổng tò vò trại một toán đông quan quân túa ra, bộ điệu hùng hổ, súng cầm ngang.
- “Loại”? – một người trong rất nhiều người chen chúc nhau bám vào song sắt cửa sổ để nhìn ra, quay đầu lại – Hầy, dám lắm.
Qua cổng trại, toán công an tản thành nhóm nhỏ đi về phía các phòng.
– Dễ không phải. – người khác, cũng trong những người xúm xít sau cửa, yếu ớt phản bác – Chắc chuyện gì khác. Để xem.
– Thôi chết tôi rồi, – người thứ ba giật thót – điệu này chuyển trại đây, trông kìa…
– Hừm, chưa chi đã rối tinh rối mù lên. – giọng thứ tư bình luận – Chuyển trại ắt cánh tự giác phải biết, có lần nào tự giác không biết?. Chuyển trại thì họ đã bị sai dọn tủ giả, khuân hồ sơ từ mấy hôm rồi. Các ông cán bộ chiều thân mình lắm, không đời nào chịu khuân lấy đâu…
– Hay là thanh tra? – ai đó xướng lên một câu hỏi bâng quơ, không chờ câu trả lời – Bộ về?
Gì thì gì, cái sự bất thường này chắc chắn là nguy hiểm, lành ít dữ nhiều. Mấy anh tự giác thuộc toán lâm sản hối hả chạy đi thủ tiêu những đồ vi phạm nội quy. Cẩn tắc vô áy náy. Chỗ thủ tiêu tốt nhất, ai cũng biết, là hố xí cuối phòng. Chỉ có chỗ ấy là chưa bao giờ bị lục đến. Những viên cai tù trẻ buồn đời vì cuộc sống rừng núi rất mẫn cán, rất hung hăng trong sự mò mẫm các xó xỉnh để tìm cớ trừng phạt lũ tù nhân khốn khổ cũng chừa chỗ ấy ra.
Đồ bị cấm thì nhiều lắm, kể không xiết. Nó có thể là những ống bương đựng dầu diesel ăn cắp ở tổ máy cày mang về dùng cho việc “sột sệt”, những bọc trà “tự biên tự diễn” to tú hụ do hái trộm mà có, là quần áo dân sự mới để cung cấp cho tù được tha, là bật lửa tàu bò, đá lửa Liên Xô, lưỡi dao cạo râu Tiệp Khắc, tất cả những thứ vật dụng đời thường nhờ mua bán đổi chác với dân quanh trại mà có. Có thể kể thêm những dụng cụ để chế tạo vật dụng hàng ngày như nõ điếu, thìa, hộp đựng thuốc lào bằng nhôm, do những tay tổ của nghề chạm trổ làm ra, đẹp không kém hàng thủ công mỹ nghệ. Những thứ này đến cán bộ cũng mê. Họ thường đặt tù làm với giá rẻ mạt, hoặc đổi thuốc lào, để mang về xuôi làm quà, hoặc bán lại. Cho nên được dịp để tịch thu vô tội vạ thì ai bỏ qua cho được. Người ta thu tất tật mọi vật nhọn hoặc sắc bằng kim khí, là thứ có thể suy diễn thành dụng cụ cưa cắt chấn song cho một cuộc trốn trại, hoặc hung khí cho một cuộc thanh toán lẫn nhau…
Trong căn phòng tối, mờ mịt khói thuốc lào, mấy cái bóng xám vọt vào vọt ra nơi cửa chuồng xí trong khi ở bên ngoài đã vang lên tiếng khoá mở lạch xạch, tiếng then rít ken két trong hõng.
- Ê, ra sân tập họp! Nhanh lên!
– Mang theo đồ đoàn. Mang tuốt.
Tiếng mấy “ông cán bộ” vang lên nơi cánh cửa vừa được mở rộng. Không khí trong lành của ban mai ùa vào.
Một tiếng ồ ngạc nhiên khe khẽ lan nhanh trong đám tù nhốn nháo. Người ta quýnh quáng:
- “Loại”[1] rồi!
– Chuyển trại đấy.
– Thường, đến trại mới người ta mới “loại” mình cơ mà.
– Chết cha, con dao mày để đâu?
– Nhét ở cái hốc mọi khi.
– Tao cầm bằng mất toi cái tàu bò[2].
– Suỵt! Giấu không kịp đâu. Vứt.
– Tao nhét bao “ken tẩy”[3] ở đây đấy nhá. Tao hô rồi đấy. Thằng nào “bẩm” tao xin tí tiết. Trong cái nhà này tao biết tỏng thằng nào là Gia Ve.
Nhưng cả tự giác, tù thường, lẫn Gia Ve, đều chưng hửng khi ở sân trại họ được lệnh rỡ hết đồ đoàn để ra trước mặt. Giờ thì tất cả đều như nhau trong cuộc tổng lục soát.
Hầu như người tù nào cũng có một cái gì đó vi phạm nội quy trại, hoặc nhẹ nhất thì cũng bị coi là trái với nó, nếu trong nội quy chưa ghi đủ. Một cái áo rách xé ra bện thành bùi nhùi giữ lửa có thể bị tình nghi là thừng dùng để vượt tường rào. Một tờ giấy viết dở cũng bị nghi là sự thông tin với bên ngoài chưa kịp chuyển đi.
Già Lương, ông hàng xóm của tôi, ngồi xếp bằng tròn trên giường, mặt lạnh tanh, bình chân như vại. Trong lúc thiên hạ bấn loạn, chỉ có mình già là tỉnh khô, nhìn đời bằng con mắt bàng quan. Thật vậy, già thì có quái gì mà phải lo. Người ta sợ mất thứ này thứ khác, cuống cuồng giấu giấu giếm giếm. Chứ già chỉ có một cái tay nải. Tôi biết tỏng trong đó có gì: một bộ quần áo tù còn lành không mấy khi mặc đến, một cái áo trấn thủ còn khá tươm để dành cho những ngày đại hàn, một sợi chỉ dài quấn quanh một cọng tre với một cái kim. Không kể mẩu khăn mặt rách, to hơn bàn tay, đã thâm xỉn vì mồ hôi nhiều năm. Cái đồ vật đáng giá hơn cả thì già đã khoác trên người, đông cũng như hè. Đó là cái áo bông vải kaki xanh Sĩ Lâm, loại bán cho cán bộ chứ không bán cho dân, nhưng cũng đã rách, với những mụn vá sặc sỡ,
Già Lương là tù “số lẻ”, tức tù chính trị. Tôi nằm cạnh ông hơn một năm trời nhưng tịnh không biết ông phạm vào tội gì trong cái sự chính trị rất chi là tù mù ở nước ta. Đáp lại câu hỏi của tôi: ông có phải Ku Dét[4] không? Ông lắc. Có phải ông là Đờ Vờ[5] không? Ông lắc. Hay ông bị quy địa chủ cường hào gian ác, có nợ máu với nhân dân? Ông cũng lắc. Lại hỏi: có phải ông lỡ lời nói xấu chế độ, hoặc lỡ tay chống người nhà nước để phạm tội chống chính quyền địa phương không? Ông cũng lắc nốt. Tóm lại, tại sao già Lương là tù “số lẻ” là câu hỏi không có lời giải đáp. Chỉ biết ông tội danh của ông là “phản động, chống chế độ”, tức là i xì cái tội danh rất chung chung của hơn hai trăm tù “số lẻ” trong trại. Ấy là thân rồi tôi mới dám hỏi già. Chứ trong tù mà hỏi tội danh của nhau là điều tối kỵ. Người ta chỉ tình cờ biết người nào tội gì vào dịp tổng điểm danh, mỗi năm một lần. Chỉ vào dịp ấy cán bộ trại mới gọi tên từng người, mới công khai xướng lên giữa bàn dân thiên hạ rằng ai phạm tội gì, án phạt bao nhiêu năm.
Cuộc lục soát bắt đầu.
Tù ngồi thành từng toán trên sân điểm danh. Mỗi quản giáo trông hai tự giác lục bới đồ đoàn của từng người. Giờ thì không ai dám thì thào với ai nữa. Sân trại im phăng phắc. Những người tù, mặt chảy dài, theo dõi đôi tay thoăn thoắt lục bới của kẻ khám đồ. Chẳng còn cách nào giấu kịp những thứ cầm bằng bị thu. Ở trong tù cái gì cũng là của quý cả. Từ mảnh ni-lông gói đồ. Từ mẩu đai thùng được mài sắc làm dao chẻ tăm, cắt móng chân móng tay.
Thường, trong cuộc tổng “loại” như thế này, cán bộ chỉ thu đồ vi phạm nội quy chứ không phạt kẻ sở hữu. Phạt không xuể. Số người vi phạm nội quy thường quá đông, mà trại chỉ có một khu kỷ luật với một tá xà lim. Trừ phi phát hiện ra vũ khí, hoặc có thể dùng làm vũ khí, đại loại như dao găm hoặc dùi, búa, cưa sắt, tức là tội nặng, nặng nhất tính từ trên xuống dưới, người ta mới tống kẻ vi phạm vào u tì quốc, cùm chặt.
Của thu được dần dần được chất thành đống.
Người trông cuộc tổng “loại” là trung uý Tằng, biệt hiệu “Tằng ác ôn”, phó giám thị. Lùn một mẩu, cằm bạnh, môi thâm, mắt trắng dã, Tằng có tính đặc biệt là rất thích ra oai với tù. Biết thế nên khi đứng trước mặt y, anh tù nào vô phúc có chiều cao nhỉnh hơn y một tí là phải lập tức khuỵu hai đầu gối xuống, cổ rụt lại, hai tay bỏ thõng tối đa. Thấp đi được chừng nào hay chừng ấy. Bản năng sinh tồn mách bảo họ làm thế.
Già Lương thản nhiên nhìn trời. Mọi sự diễn ra chung quanh chẳng làm già động tâm. Cái lối nhìn trời như thế đã nhiều lần bị các quản giáo bắt tội: này, cái anh già vênh vênh cái mặt kia, anh thách thức ai đấy? Anh láo hả? Cụp cái mặt xuống!
Khốn nạn thân già Lương. Nào già có định thách thức ai đâu, có định thách thức cái gì đâu. Tôi biết cái tật ấy của già lắm. Già mải suy cái nghĩ của già, vậy thôi. Có lần mải suy nghĩ và nhìn trời, già đã ăn mấy báng súng vì tội không thèm trả lời cán bộ. Rồi chứng nào tật nấy, già vẫn cứ thế, cứ vênh vênh, không chừa.
- Tránh voi chẳng xấu mặt nào, bác ơi! – trong những trường hợp như thế chính tôi cũng phải khuyên già – Mình là thằng tù. Một thằng oắt con đáng tuổi cháu gọi bằng ông cũng có quyền cầm roi vụt mình, bác chớ có dại…
– Khốn tính tôi cả nghĩ, ông ạ – già chép miệng – Mà đã nghĩ là cứ lan man, dứt không ra. Thí dụ tôi nghĩ tới các cụ tôi ngày xưa dạy tôi thế nào, các cụ dữ lắm, đòn luôn luôn, có lần tôi mải nhìn trời nhìn đất gặp cụ mõ không chào, thế là bị một trận vì tội khinh người… Ông biết đấy, mõ là thứ cùng đinh trong thiên hạ, bị thiên hạ coi rẻ, nhưng tôi oan, tôi nhãng đi không nhìn thấy cụ ấy, chứ không phải tôi dám khinh. Chao ôi là dữ, cái trận ấy…
Già bắt đầu kể, rồi chìm nghỉm trong những hồi tưởng, im bặt.
Lần này cũng vậy. Trung uý Tằng đến trước mặt già mà già vẫn không hay. Mà già cao hơn Tằng hẳn một cái đầu. Phải ngước lên mới nhìn được vào mắt già, Tằng đã khó chịu lắm.
- Anh kia, nhìn nhìn cái gì?
Tôi đứng bên già Lương. Tôi huých già một cái mạnh. Già choàng tỉnh. Cúi xuống nhìn Tằng, già chậm rãi hỏi ông cán bộ đáng tuổi con út của mình:
- Cán bộ hỏi nhà cháu ạ?
– Còn hỏi thằng chó nào nữa? Anh nhìn nhìn cái gì?
Cặp mắt kéo màng của già mở to hơn một chút, đôi lông mày rậm với những sợi lông dài bạc trắng của già hơi nhướng lên một chút.
- Dạ?
Tằng nạt nộ:
- Dạ cái con khỉ. Tôi hỏi anh phải đứng nghiêm trả lời: anh nhìn cái gì?
Già Lương đến lúc ấy mới vỡ câu hỏi. Theo thói quen, già vuốt râu một cái, rồi thủng thẳng đáp:
– À, thưa cán bộ, nhà cháu nhìn đám mây ạ.
– Đám mây thì có gì mà nhìn? Anh dở người hử?
– Dạ, không, nhà cháu tỉnh trí ạ…
– Thế sao nhìn mây?
– Dạ, nó giống cái kiệu bát cống ạ.
Tằng gườm gườm nhìn già Lương. Rồi hất hàm gọi tay trật tự trại và tay nhà bếp vừa khám xong một người tù ở gần đấy:
– Lại đây. “Loại” thằng này! Tao bảo đảm: nó có vấn đề.
Già Lương lúc ấy mới thật tỉnh hẳn khỏi những suy nghĩ. Già tự động ngồi xuống, chậm chạp mở nút buộc tay nải. Những ngón tay khô xác run run. Cái đó lại càng gây ra nghi ngờ. Không có gì vi phạm thì sao lại run? Có tật giật mình. Nhưng cả tay trật tự lẫn tay nhà bếp đều biết tỏng ông già là người thế nào. Như bất cứ ai trong trại. Ông già hiền lành chẳng có gì để vi phạm nội quy, có “loại” mấy cũng chẳng ra. Biết thế, cho nên họ chỉ thò tay vào bọc khua khoắng lấy lệ. Khi lôi từ trong tay nải ra bộ quần áo tù, cái áo trấn thủ, mẩu khăn mặt hôi rình và rất nhiều mụn vải, mũi họ chun lại.
- Báo cáo ông, không có gì ạ. – anh trật tự đứng lên, lễ phép bẩm.
– Chắc không? – Tằng trề môi – Còn cái áo bông kia?
Y hất hàm ra lệnh cho già Lương cởi áo bông ra.
Đúng vào lúc ấy già Lương phạm một sai lầm không tha thứ được – thay vì lễ phép đưa áo cho anh trật tự thì già lại quăng nó xuống đất. Thái độ ấy của già làm cho tay trật tự cáu. Y chẳng nói chẳng rằng, mặt hằm hằm nắn bóp cái áo bông. Rồi bỗng mắt y sáng lên. Y giật mạnh tay xé rách lớp mền cái roạt, rồi lôi từ trong đó ra một khúc nứa tép.
- Cái gì thế này? – bằng giọng trịch thượng y hỏi già.
– Thì anh cứ xem đi. – thay vì ăn nói lễ phép với y, ít nhất thì y cũng là bậc chức sắc trong xã hội tù, già lại khinh khỉnh đáp.
Tằng nheo mắt nhìn ống nứa tép. “Không biết thằng già giấu cái gì trong đó?” – cái nhìn của y nói.
Mở cái ống không được, nắp của nó gắn liền với thân bằng một thứ nhựa quỷ quái gì không biết, rất chặt, tay trật tự bèn đặt nó lên đầu gối, bẻ gãy đôi. Tiếng nứa vỡ kêu đánh toác. Bên trong là một tờ giấy cuộn tròn.
- Hừm, – Tằng nói – anh già này gớm nhỉ? “Yểm” cái gì đấy?
Sống với tù lâu, Tằng thuộc mọi tiếng lóng của lưu manh.
Già Lương biến sắc.
Tay trật tự mở tờ giấy, giơ ra trước mặt. Đó là một bức tranh vẽ bằng bút chì. Tranh chân dung. Trong tranh là hình một ông già quắc thước, chòm râu thưa phơ phất.
- Cái gì đây, hở? – Tằng hỏi già, giọng nghiêm khắc.
Già Lương lúng túng. Già lí nhí:
- Báo cáo cán bộ: cái này là…
– Cái gì?
– Dạ, báo cáo cán bộ, nó là cái tranh thờ của nhà cháu ạ….
Tằng ra lệnh:
- Đưa tôi!
Tay trật tự cung kính đưa bức tranh cho phó giám thị bằng hai tay.
- Hừm! – Tằng nghiêng ngó ngắm bức tranh, rồi sẵng giọng – Anh này láo. Láo quá!
Anh có biết anh phạm tội gì không?
Già Lương còn lúng túng hơn nữa.
- Dạ, nhà cháu không biết…
– Lại còn vờ vĩnh! – Tằng gắt – Không biết? Hay cố tình?
Đến lúc ấy thì già Lương hoàn toàn luống cuống:
- Dạ, thưa cán bộ, nhà cháu…
– Nói đi, cái gì?
– Nhà cháu…, thưa cán bộ, không có ý giấu giếm gì đâu ạ. Nhà cháu sợ cái tranh bị ướt, nhà cháu mới cất cẩn thận…
– Nhưng anh phải thấy rằng anh có tội.
– Dạ, xin ông cán bộ chỉ bảo…
Tằng cất giọng nghiêm nghị:
Bức ảnh thờ. Nguồn: OntheNet
Bức ảnh thờ. Nguồn: OntheNet
- Anh còn chưa biết tội anh đâu. Nghe cái giọng anh tôi biết. Để tôi giảng cho anh nghe. Tội của anh là thế này: nhân dân ta ai cũng có lòng thành kính đối với lãnh tụ. Thờ Bác không có tội. Nhưng chỗ thờ phụng Bác phải là nơi tôn nghiêm, tinh khiết, vậy mà anh dám cả gan để Bác ở trong tù! Lại còn bảo không biết! Anh phải nhớ anh là cái thằng nào chứ! Anh là thằng tù, hiểu chưa? Thằng tù không có phép được thờ Bác, nhất là lại thờ trong cái chốn nhơ nhuốc này, hiểu chửa?
Già Lương lắp bắp:
- Dạ, nhà cháu hiểu… Nhưng, thưa ông xét cho…
Tằng dằn từng tiếng:
- Tôi bảo anh: im ngay cái mồm. Xét xét cái gì? Đừng có mà nguỵ biện. Không có nhưng nhiếc gì hết. Tôi lại không đi guốc vào bụng các anh ấy à. Mười anh bị bắt vào đây, chín anh rưỡi kêu oan. Có mà oan Thị Mầu! Tội lỗi đầy mình còn ngoạc mồm ra kêu Đảng kêu Bác đèn trời soi xét…
Mặt già Lương thượt ra:
- Dạ, quả thật nhà cháu không dám thế, báo cáo ông …
Tằng quát:
- Có im không thì bảo? Anh hay đứa nào ở đây dám vẽ ảnh Bác?
Già Lương quýnh lên:
- Dạ, thưa ông… Đây không phải là ảnh Cụ Hồ đâu ạ…
Tằng còn quát to hơn nữa:
- Tôi đang hỏi anh: thằng nào vẽ? Khai ra.
Mấy cán bộ trông nom việc khám xét chạy lại.
Đôi mắt Tằng quắc lên. Tình hình coi mòi nghiêm trọng. Không phải chuyện chơi. Mặt già Lương rịn mồ hôi.
Anh trật tự nói khẽ với già, giọng thương hại:
- Khốn nạn, bố ngu như bò í. Có gì cứ khai thật, ông cán bộ thương, ông tha cho.
– Nhưng…
– Còn nhưng nhưng cái gì? – anh ta nhăn mặt – Ngu thế. Cứ thưa thật với ông cán bộ đi. Muốn chết hử?
Già Lương cuống lên:
- Thì tôi khai thực mà. Anh đừng lên mặt với tôi. Anh cũng là thằng tù như tôi thôi. Báo cáo ông cán bộ, nhà cháu xin khai thật với ông… Cái này không phải ảnh Cụ Hồ đâu ạ… Nó là… là bức tranh thờ của nhà cháu…
Tằng cắt ngang:
- Của anh thì rõ rồi, không phải của anh thì anh “yểm” kỹ thế làm gì. Bây giờ tôi hỏi anh: thằng nào báng bổ, dám vẽ Bác để cho anh thờ Bác trong tù? Anh thì không phải rồi, anh thì vẽ vời cái đếch gì. Sao? Anh không muốn nói hử? Còn định che giấu cho nó hử?
Già Lương cúi gằm mặt.
- Thằng nào? Nói mau!
Những người tù đứng gần quên cả mối lo lục soát, nhìn vào mặt già.
- Thưa ông, thật đấy ạ, không phải ảnh Cụ đâu ạ…
– Lại còn chối nữa?
– Thật ạ. – già Lương nói như khóc – Nói có trời đất, nhà cháu không dám dối ông.
Chả là nhà cháu năm nay gần tám mươi rồi. Cũng chẳng còn mấy nả nữa…
Già Lương cuối cùng đã lấy lại được giọng nói bình thường, già đằng hắng một cái, rồi tiếp tục phân trần:
- Tức là, thưa ông cán bộ, nhà cháu sắp xuống lỗ rồi, ở tuổi nhà cháu thì còn dối trá làm gì, ông xét cho…Lúc nhà cháu đi trại, mười lăm năm rồi chứ không phải ít, chỉ mỗn bộ quần áo trên người, không một hình tích để lại, con cái cháu chắt nhớ được cái tên chứ không biết mặt… Vậy nên nhà cháu mới cậy người ta hoạ cho một bức…
Tằng chưng hửng.
- Hừm.
– … để khi nào người nhà được phép lên thăm thì nhà cháu đưa chúng nó mang về…
– Hừm. – Tằng nheo mắt, chăm chú nhìn lại bức hình – Tức là, anh nói hình này là hình anh?
– … Dạ, đúng vậy. Nhà cháu nghĩ: nay mai nhà cháu có chết đi, thưa ông, thì cũng còn tấm hình để lại, cho con cháu nó nhớ mỗi khi giỗ tết…
Tôi ở với già Lương cả năm mà không biết già có bức hình ấy. Liếc mắt nhìn tờ giấy trong tay Tằng, tôi thấy Tằng không phải không có lý – người trong bức hình quả có giống lãnh tụ tối cao, cha già dân tộc. Cũng cặp mắt sâu, đôi lưỡng quyền cao, cũng chòm râu thưa “tu bất phủ hầu”, được thiên hạ coi là quý tướng. Không biết già có bức hình từ khi nào, mà sao già giữ kín thế?
Tằng gật gù:
- Khó tin. Chắc là hình anh không?
– Dạ, thưa ông cán bộ, có trời đất chứng giám…
– Không cần anh thề. Anh thề tôi cũng không tin. Bây giờ anh trả lời tôi: đứa nào vẽ?
– Thưa ông, anh Ca ạ. Anh ấy được tha năm ngoái. Không biết ông còn nhớ anh Ca không ạ? Cái anh xương xương người, Ban[6] vẫn thường gọi lên kẻ bảng với làm vườn hoa ấy ạ – như chết đuối vớ phải cọc, già Lương nói một thôi một hồi – Thưa ông, anh ấy có hoa tay lắm, nét vẽ rất có tinh thần…
– Chuyện này rồi phải cho điều tra đến nơi đến chốn. Cái thằng Ca xem chừng có vấn đề. Vẽ anh mà lại hao hao giống Bác. Có âm mưu gì đây? Các anh đừng có tưởng bở: khỏi vòng cong đuôi, cầm được tờ lệnh tha là xong mọi chuyện. Đừng hòng nhé! Ở đâu cũng là đất đai của Đảng, của Bác. Lưới Đảng lồng lộng, con ruồi chui không lọt.
Già Lương thấy phải bảo vệ tác giả bức hình:
- Thưa ông, anh Ca bị tội ăn cướp, có án đàng hoàng, không tập trung cải tạo như nhà cháu đâu ạ. Anh ấy không phải là phản động, kẻ thù của nhân dân ạ. Lại còn thuộc diện cải tạo tốt đấy ạ. Nhà cháu thấy anh ấy hoạ được, mới nhờ anh ấy hoạ cho một bức… Thưa ông, xin ông xét cho, kẻo tội anh ấy, người hiền lành tử tế. Anh ấy vẽ tinh thần lắm, giống nhà cháu lắm đấy ạ. Anh ấy không dám báng bổ Cụ Hồ đâu ạ…
– Hừm, anh dám bảo thằng Ca là hiền lành tử tế hử? Người hiền lành tử tế không ai ở đây. Lại còn bảo bức vẽ của nó giống nhà anh, là có tinh thần. – Tằng vẫn giữ giọng nghiêm khắc, nhưng không còn gay gắt – Vẽ anh mà lại hoá ra giống Bác, bậy. Phải có ẩn ý gì nó mới vẽ thế chứ?
– Thưa, ông xét cho, – già Lương nói – người già mà lại gày thời thường hao hao giống nhau. Ông chớ nghi anh Ca phải tội…
– Nghi đứa nào, nghi cái gì, là quyền của chúng tôi. Ngay cái chuyện nó vẽ hình cho anh để thờ cũng đáng phải trừng phạt rồi. Anh là thằng nào? Hử? Anh là thằng phản động. Có phải thằng phản động không?
– Dạ, báo cáo cán bộ, phải.
– Không ai thờ thằng phản động hết. Con cháu cũng vậy, không có con cháu nào muốn thờ ông cha phản động, anh rõ chưa? Đừng tưởng bở. Đứa nào thờ phản động thì đứa ấy cũng phản động. Anh muốn cả nhà anh kéo nhau vào đây hay sao?
– Dạ.
Giọng Tằng “ác ôn” bỗng dịu hẳn:
- Thôi được, nói thế thôi, chứ tôi tha cho anh lần này. Là tôi thương cái tuổi già của anh…
– Dạ, đội ơn ông cán bộ…
– Nhưng cái hình này thì tôi thu.
Già Lương nín lặng một giây. Rồi ngập ngừng:
- Thưa ông …
– Còn thưa bẩm cái gì nữa?
– Xin ông cho lại nhà cháu cái hình. – già Lương đánh bạo nói – Không phải dễ gì nhà cháu được gặp người như anh Ca. Thật tình trong cả gia tộc không còn cái hình nào của nhà cháu cả… Trâu chết để da, người chết cũng phải để lại cái hình cái bóng…
– Im ngay! Không lằng nhằng!
Tằng quát. Tôi dùng cùi chỏ thúc vào mạng sườn ông bạn già. Tôi thúc quá mạnh, làm ông nhăn mặt. Tằng nhìn tôi, lừ mắt.
- Dạ. – giọng già Lương run run – Xin ông…
Bỗng Tằng đăm đăm nhìn vào mặt già Lương. Tôi chăm chú theo dõi cái nhìn của y. Thằng khốn nạn, y còn định làm gì ông già khốn khổ nữa đây? Mọi người ở quanh chúng tôi cũng chú mục nhìn y.
- Hừm. – Tằng có vẻ suy nghĩ – Hừm.
Già Lương cúi mặt, lấm lét nhìn y. Già vẫn còn phấp phỏng chờ đợi, già vẫn còn hi vọng, có vẻ thế. Biết đâu đấy, dù sao Tằng cũng là người, y ác đấy, nhưng cũng phải có lúc y hiền chứ, y sẽ nghĩ lại cho già cũng nên. Ngay giờ đây rất có thể y sẽ trao lại cho già chân dung để thờ kia, với một câu quát lấy lệ, không quát không được, nhưng y sẽ trả lại nó cho già. Tôi đoán già Lương nghĩ thế. Trong phút đó tôi hình dung ra bức hình của già được đặt trang trọng trên ban thờ, trong khói hương lởn vởn.
Nhìn vào mặt già Lương, Tằng nói, giọng thương hại:
- Anh chậm trí khôn lắm. Là loại ngu lâu, khó đào tạo. Loại như anh biết bao giờ mới được đánh giá là cải tạo tốt để được hưởng lượng khoan hồng của Đảng…
– Dạ, thưa ông, nhà cháu biết thế ạ, nhà cháu không dám nghĩ tới ngày về đâu ạ… Vì thế nhà cháu mới muốn có bức hình, để đến nỗi vi phạm nội quy trại…
– Nghĩ thế cũng không đúng. Đã vào đây rồi, an tâm cải tạo là tốt, nhưng phải nghĩ tới ngày được Đảng thương đến, Đảng cho về với vợ con chứ…
– Dạ. Cảm ơn ông chỉ bảo.
– Hừm.
Đúng là Tằng suy nghĩ. Với loại người như Tằng, những phút suy nghĩ rất hiếm hoi.
Tôi cho rằng cơn nóng đã dịu, y sẽ cho ông già được phép giữ bức hình. Tại sao y không thể làm người, dù chỉ trong một phút?
Tôi đoán sai. Vẫn bằng giọng ôn tồn, y nói với già Lương:
- Nói cho anh biết: anh là thằng tù. Đừng lúc nào quên điều đó. Được tha rồi cũng chớ quên. Hồ sơ anh còn đấy, nó theo anh mãi mãi. Suốt đời. Phàm là thằng tù thì không được hỗn. Không được phép giống Bác. Hỗn đấy. Tù nào cũng thế, tuốt mo, tù hiếp dâm, tù ăn cướp, tù phản động chống chế độ. Không được là không được. Hiểu chửa?
Già Lương nuốt nước bọt đánh ực.
Tằng gập bức hình làm tư, đút vào túi quần.
Đoạn, y vẫy tay gọi anh văn hoá trại đang lui cui khám đồ của một người tù ở gần đấy:
- Ê, văn hoá!
– Dạ, thưa ông gọi!
– Phải. Bỏ đó đã. Mang tông đơ lại đây!
Thoắt cái, anh ta chạy lên phòng văn hoá, cách đấy khá xa, thoắt cái đã đứng nghiêm trước mặt Tằng “ác ôn”, tay phải lăm lăm cái tông đơ.
- Húi trụi cả râu lẫn ria anh này cho tôi!
Nhìn vào mặt già Lương, Tằng xin xít nói qua hai hàm răng nghiến:
- Vào đây rồi mà còn để râu. Lại còn dám nói: hao hao giống Bác. Láo! Láo đến thế là cùng! Húi!
Anh văn hoá trại kiêm phó cạo vội vã đưa tông đơ lên.
Tôi nhìn xuống. Tôi không muốn chứng kiến cảnh tượng ấy. Trong tầm mắt của tôi, tôi nhìn thấy những sợi râu bạc trắng rơi xuống. Tôi nhìn thấy đôi chân gày của già Lương kiễng lên, kiễng lên mãi. Ấy là khi cái tông đơ rúc lên hai lỗ mũi già.
Tằng “ác ôn” lững thững rời khỏi chỗ già Lương đứng, tiếp tục chỉ huy cuộc lục soát.
Trong cuộc chuyển trại diễn ra sau đó, khi cuộc tổng “loại” kết thúc, mọi người trên xe chở tù đều im lặng, lắc lư, không ai nói với ai một câu.
Tôi không nghe già Lương ngồi bên tôi than thở. Ngay cả một tiếng thở dài cũng không.
 

[1] Tiếng lóng: khám xét, kiểm tra đồ tuỳ thân của tù.
[2] Bật lửa có khắc hình xe tăng.
[3] Thuốc lá.
[4] Tức QZ, gọi tắt Quốc Dân Đảng.
[5] Đờ Vờ, gọi tắt Đại Việt.
[6] Ban Giám thị.
Nguồn:http://themmotniemvui.blogspot.ca/2014/09/buc-tranh-tho.html

Cuộc Đời Người CS Tên Hoang Dâm Vô Độ : Lê Duẩn "CÁCH MẠNG TRẮNG"


Cuộc Đời Tên Hoang Dâm Vô Độ: Lê Duẩn "CÁCH MẠNG TRẮNG"

Lê Duẩn và người vợ miền Nam

Người CS nào cũng có cuộc đời ly kỳ, do họ cố tình che dấu, ngụy trang để hoạt động. Lê Duẩn (1907-1986) từng là Bí thư của đảng CSVN, nhưng là 1 trong những nhân vật lãnh đạo có trình độ học thức kém nhất, chỉ ở bậc Tiểu học. Do đó, ông ta tàn ác đối với đồng bào còn hơn kẻ thù ngoại nhân. Ông là người có tính tình cục mịch như nông dân, tính cọc cằn.

Sau năm 1975, 1 cán bộ cao cấp hỏi ông về chính sách đối đãi với những sĩ quan miền Nam thì Duẩn trả lời bằng cách ra dấu lấy tay quẹt ngang cổ (có nghĩa là giết). Chủ trương tàn bạo, có tính thiếu nhân tính của người lãnh đạo CS, làm cho hàng trăm ngàn sĩ quan cao cấp của QLVNCH phải chết trong các trại cải tạo, phơi thây trong rừng thiêng nước độc, gieo tang tóc đau thương cho gia đình họ. Cuộc đời của Lê Duẩn có nhiều bí ẩn ít ai biết rõ. Tài liệu này được viết dựa. theo những lời kể của người trong cuộc cũng như dựa theo 1 vài tài liệu khác, nhất là do sự giúp đỡ của Xuân Vũ và Dương Đình Lôi, họ đã cho biết những chi tiết sống thực mà chính họ đã chứng kiến.

Lê Duẩn, còn được biết là Lê Văn Duẩn, Lê Văn Nhuận hay anh Ba, người thôn Bích La, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, sinh ngày 7/4/1907 trong 1 gia đình sống bằng nghề đóng quan tài. Chỉ được theo học hết cấp Tiểu học ở Triệu Phong. Năm 18 tuổi, Lê Duẩn xin vào làm cho Sở Hỏa xa Quảng Trị. Theo nhiều người biết thì ban đầu Duẩn làm người "bẻ ghi", cầm cờ hiệu cho xe lửa mỗi khi vào sân ga. Năm 21 tuổi, Duẩn tham gia hoạt động chính trị bí mật chống Pháp, gia nhập "Việt Nam Thanh Niên Đồng Chí Hội", là tiền thân của đảng CSVN.

Một năm sau, khi đảng CSVN được thành lập ở Hong Kong, 3/2/1930, Duẩn được cử làm Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau cuộc khởi nghĩa thất bại "Sô Viết Nghệ Tỉnh", Duẩn bị Pháp bắt giam ở Hỏa Lò rồi đày lên nhà tù Sơn La (1931-1936).




Năm 1936, Mặt Trận Bình Dân lên cầm quyền ở Pháp, nới lỏng chế dộ cai trị thuộc địa. Tại Đông Dương, Pháp phóng thích 1 số chính trị phạm. Lê Duẩn được tha trong dịp này. Về Trung Kỳ, Duẩn lại tiếp tục hoạt động. 1 năm sau, Duẩn được cử làm Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ (1937-1939). Sở dĩ Duẩn được tiếp tục tiến cử vào chức vụ cao hơn là nhờ xuất thân từ giai cấp nghèo khổ, ít học, trung kiên. Năm 1939, Duẩn được vào Ban chấp hành Trung ương đảng (Ủy Viên Thường Vụ Lâm Thời Trung ương đảng, 1939-1940), và được phái vào Saigon hoạt động. Bấy giờ đảng viên CS ở miền Nam chỉ có 1 nhúm người. Lúc đó ở Nam Kỳ có Nguyễn Văn Cừ là Tổng bí thư, và Duẩn dưới quyền của Cừ.

Tháng 8/1939, Đảng CS Liên xô ký hiệp ước thân thiện với kẻ thù Đức Quốc Xã, và coi Pháp không còn là đồng minh nữa. Phản ứng lại, ở Đông Dương, Toàn quyền George de Catroux ra lịnh thanh trừng tất cả đảng viên CS.


Ngày 17/1/1940, mật thám bắt được tại trận Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư đảng đương thời), Võ Đình Hiệu, Vũ Thiên Tân và Duẩn đang hội họp tại con hẻm số 19 đường Nguyễn Tấn Nghiệm, nay là Trần Đình Xu. 2 hôm sau, Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập (Uy viên Trung ương đảng) cũng bị tóm ở Phan Thiết. Tuy nhiên, trong dịp này, số người hoạt động chính trị bị bắt, không chỉ CS mà thôi mà còn gồm đủ mọi thành phần, đủ khuynh hướng chính trị và số lượng bị bắt ngày càng đông. Thống đốc Nam Kỳ Veber có lập trại giam mới ở Tà Lài, nằm sâu trong rừng gần Định Quán, khoảng cây số 123 để chứa thêm, sau khi các nhà tù khác đã "quá tải". Đây là chiến dịch "tổng ruồng, vét sạch" của thực dân, đề phòng cuộc khởi nghĩa của người dân bản xứ.

Lúc ấy, Nguyễn Thị Minh Khai (tức Nguyễn Thị Vịnh) cũng bị sa lưới mật thám Pháp (30/7/1940) tại Hóc Môn. Lúc này, Thường vụ Trung ương đảng đang đóng ở miền Nam với Phan Đăng Lưu, Tạ Uyên,...chưa bị bắt.


30/9/1940, họ đồng thanh quyết nghị khởi nghĩa chứ không chịu ngồi yên chờ chết. Kế hoạch nổi dậy nhiều tỉnh cùng 1 lúc gọi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa vào cuối năm 1940 (22/11/1940) . Phan Đăng Lưu được cử ra Bắc xin chỉ thị, tuy nhiên cuộc họp lần thứ 7 của Trung ương đảng ở Bắc Ninh (có Hoàng văn Thụ, Trần Đăng Ninh, Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt...) đã không tán thành.

Theo lịch sử công khai của Đảng thì như thế. Tuy nhiên, có người trong cuộc, biết cái bí ẩn của Nam Kỳ Khởi Nghĩa (22/11/1940) . Không phải bỗng nhiên nhóm Thường vụ Trung ương đảng lẫn trốn ở Hóc Môn, Bà Điểm mà Pháp biết được và bắt trọn ổ. Đó chính là miền Bắc "chỉ điểm cho Pháp", vì muốn "đảo chính" Trung ương đảng miền Nam để đem Trung ương đảng ra Bắc Kỳ cho người Bắc lãnh đạo. Họ mượn tay người Pháp để diệt nguội Nam Kỳ. Chính vì lẽ đó, Phan Đăng Lưu bị bắt. Lần lượt, các nhân vật lãnh đạo ở Nam Kỳ bị đưa ra tòa kêu án tử hình. Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt trước, cũng bị hành quyết chung (28/8/1941) với Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư năm 1938), Võ Văn Tần (người Đức Hòa, Tân An, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ), Hà Huy Tập (Ủy viên Trung ương đảng).

Từ đó, ở Bắc, vào đầu tháng 11/1940, tại Hội nghị thứ 7 Ban chấp hành Trung ương đảng CS Đông Dương, Trường Chinh lên làm "Tổng Bí thư Lâm Thời" (thay cho Nguyễn Văn Cừ đã bị bắt cùng Lê Duẩn, Võ Đình Hiệu và Vũ Thiên Tân ngày 17/1/1940 tại Saigon), và đầu não CS dĩ nhiên nằm tại Bắc Kỳ. Các đảng viên Bắc và Trung Kỳ chia nhau nắm giữ các chức vụ then chốt trong kháng chiến cũng như sau khi hòa bình. Đó là chủ trương thầm kín của Hồ Chí Minh. Sau khi Nhật đầu hàng, ở Nam Kỳ, các phần tử trí thức Nam Bộ như Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Văn Tiểng, Ngô Tấn Nhơn, Phạm Ngọc Thạch,...mặc tình thao túng. Họ lập ra Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, có đầu óc địa phương, manh nha muốn tách ra khỏi sự khống chế của nhóm đảng viên Trung và Bắc Kỳ để thành lập 1 quốc gia CS Nam Kỳ. Không ngờ HCM biết thâm ý này nên sai Cao Hồng Lĩnh (tham gia Cách Mạng Thanh Niên Hội từ năm 1926), Hoàng Quốc Việt vào Nam bắt cóc Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai đem về giam lỏng ở Hà Nội.

Trong khi đó, vào tháng 9/1945, sau khi Nhật đầu hàng, thì Duẩn rời khỏi Côn Đảo (bị giam từ 1940-1945). Kế đó ít tháng, Duẩn được HCM gọi ra Hà Nội nhận chỉ thị. Khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp lan rộng ở Nam Kỳ, Hồ cử Lê Duẩn với chức vụ Bí Thư Xứ Bộ Nam Kỳ (1946) đi vào Nam. Đi theo Duẩn có Lê Đức Thọ. Hồ muốn Duẩn vào Nam để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Những người Trung và Bắc từ trước đến nay sống ở miền Nam như Trần Văn Trà, Võ Quang Anh, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Kim Cương...được Hồ cất nhắc lên cấp chỉ huy. 5 năm sau, 1951, khi Trung Ương Cục Miền Nam (bao gồm Nam Bộ và Cao Miên) được thành lập, Duẩn được cân nhắc lên làm Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam. Từ đó, Duẩn vào Nam ra Bắc như con thoi : nào là "rèn quân, chỉnh cán", nào kiểm thảo,...

Năm 1954, sau khi Hà Nội và Pháp ký Hiệp định Geneva, thì Duẩn được cài ở lại miền Nam, nằm vùng tại 1 căn nhà đường Phan Đình Phùng thuộc khu Bàn Cờ. Duẩn có cấp tốc ra Bắc để nhận chỉ thị lo việc tập kết, ém người và cán bộ ở lại miền Nam, để phát động cuộc chiến tranh mới. Duẩn sử dụng thông hành của 1 thương gia Tàu, do người vợ tên là LKD giới thiệu. Bà này là vợ hờ, theo kiểu già nhân ngải non vợ chồng. Duẩn lợi dụng bà này vì bà là vợ 1 thương gia giàu có, vừa làm cán bộ kinh tài cho CS, mà lại được cảnh "cơm no bò cỡi". Với thông hành hợp pháp, Duẩn đi đường bộ qua Phnom Penh, rồi đáp máy bay của Hàng không Pháp đi Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Tới đây, Duẩn đổi máy bay về Hà Nộị Lãnh chỉ thị xong, Duẩn lại đội lốt 1 sĩ quan liên lạc của Bắc Việt, tháp tùng máy bay của Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến, trở về Saigon. Sau đó, Duẩn lén về Phụng Hiệp, rồi bí mật trốn ra mật khu ở Cà Mau. Tại nhà thờ Huyện Sử, Duẩn chủ trì 1 phiên họp cán bộ cao cấp của Trung Ương Cục Miền Nam và ra lịnh : - Phân tán, chôn vũ khí, máy móc.

- Moi móc những súng đạn phế thải của các công binh xưởng phát ra cho các cán binh CS tập kết cầm theo "làm cảnh", để chứng tỏ cho mọi người và Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến rằng họ nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Geneva.

Chuyến tàu cuối cùng chậm chạp rời cửa sông Ông Đốc. 2 bên bờ, dân chúng tụ tập để tiễn chân thân nhân tập kết. Mọi người nhìn thấy rõ ràng Bí Thư Lê Duẩn đứng trên bong tàu Bilixki, đưa tay vẫy đồng bào... Khuya hôm đó, khi tàu Bilixki vừa ra khơi, Lê Duẩn xuống 1 chiếc ca nô trở lại bờ. Người tổ chức bí mật việc này là Võ Văn Kiệt, lúc đó làm Bí Thư Tỉnh Ủy Bạc Liêu. Duẩn được cài vào 1 gia đình ở Cà Mau để chờ đợi. Mấy tháng sau, Duẩn lại lén lút về Saigon ăn ở với người vợ hờ vừa kể trên. Đây là 1 người đàn bà lẳng lơ, vóc cao lớn, thân hình hấp dẫn, là đàn em của Mã Thị Chu (dược sĩ, có nhà thuốc Tây ở Cần Thơ), là 1 đại gian thương Chợ Lớn. Bà này có với Lê Duẩn 1 đứa con. Khi Lê Duẩn có lịnh ra Bắc (đầu năm 1957, sau khi Trường Chinh bị thất sủng, và chính phủ VNCH từ chối tổng tuyển cử), chính bà này lái xe đưa Duẩn qua Phnom Penh, để đáp phi cơ ra Hà Nội. Nhưng thực ra, từ đây Duẩn đi thẳng qua Hong Kong, Quảng Châu, rồi đổi máy bay khác về Hà Nội.

Nói thêm về tuyến đường này. Kể từ năm 1960, cán bộ cao cấp CS từ Nam VN muốn ra Bắc, họ sử dụng đường bay Phnom Penh - Quảng Châu do hãng Hàng không Air Azur của Pháp khai thác. Trước khi ra mắt Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời ở miền Nam, đại diện CS là Trần Bửu Kiếm cũng qua Phnom Penh rồi đáp máy bay đi Algeria, Cuba, báo tin trước. Khi VC vừa công bố làm lễ ra mắt Chính Phủ trên thì trên đài phát thanh của Algeria, Cuba, người ta nghe tiếng 2 chính phủ này "nhìn nhận" tân chính phủ ấy tức thì. Chuyến về, Trần Bửu Kiếm về thẳng Quảng Châu, qua Hà Nội để đánh lạc hướng tình báo Mỹ. Lần đó, Kiếm về Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) báo cáo diễn tiến Hoà đàm Paris. Khi cuộc chiến miền Nam trở nên ác liệt, Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết (Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình) từ Cục R được đưa ra Bắc lánh nạn, cũng sử dụng đường bay nói trên. Sau đó họ được đưa về Đồ Sơn "nghỉ dưỡng".

Trở lại năm 1948. Duẩn và Thọ tới chủ trì 1 phiên họp của đại biểu Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ, họp tại mật khu ở Cà Mau. Duẩn gặp 1 cô gái xinh đẹp, có học thức, đang giữ chức Chủ tịch Ban chấp hành Phụ nữ tỉnh Cần Thơ, thì Duẩn mê ngay. Cần nhắc lại, lúc đó Duẩn đã 42 tuổi và có mấy đời vợ ở ngoài Bắc. Người vợ thứ nhứt được Duẩn cưới hồi 20 tuổi, ở quê nhà Quảng Trị, tên Cao Thị Khê. Vì bà vợ này mà Duẩn cất nhắc em ruột bà ta là Cao Xuân Diệm (bí danh Dương Thông), làm Cục trưởng Cục An ninh Nội chính, lúc đó mới cấp Đại tá, sau này lên Trung tướng. 1 người vợ khác của Lê Duẩn là Võ Thị Sảnh, con ông Võ Văn Kính, người Quảng Nam. Ông Kính là công nhân hỏa xa, đồng nghiệp với Duẩn ở Quang Trị. Bà Sảnh gia nhập đảng CS năm 1948, xâm nhập vào hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng để báo cáo cho Trần Văn Trà, lúc đó làm Tư lịnh Quân khu 4.

Khi vào Nam, Duẩn tuyên bố là minh chưa vợ vì còn "mãi lo làm cách mạng". Thương hại đồng chí Duẩn, tới tuổi này (42) mà chưa vợ, nhiều cán bộ muốn kiếm vợ cho Lê Duẩn để ông ta an tâm lo việc nước. Cô Đỗ Thị Thúy Nga là con 1 đại điền chủ quê ở Thác Lác, cháu gọi Đỗ Hữu Vị bằng chú ruột, và gọi Đỗ Hữu Phương, người giàu nhất Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20, bằng ông nội. Số là năm 1900, Toàn quyền Doumer có dịp vào Saigon, không biết Phương nịnh hót thế nào mà Doumer đã cấp cho Phương cả ngàn mẫu ruộng ở Thác Lác.

Đến năm 1945, số đất ấy chỉ còn vài trăm mẫu, do 1 người con của Phương quản lý. Như vậy cô Nga xuất thân từ giai cấp địa chủ, kẻ thù không đội trời chung với CS.

Nhắc lại, lúc đó Nguyễn Văn Trấn (tác giả "Viết cho Mẹ và Quốc hội") vừa đổi xuống miền Tây, mới hơn 30 tuổi. Trấn sanh vào ngày 21/3/1914 tại Chợ Đệm (làng Tân Kiên), huyện Bình Chánh, tỉnh Long An, đang giữ 2 chức vụ quan trọng : Bí Thư Khu Ủy, Chính Ủy Kiêm Tư Lịnh Khu 9, uy quyền tột bực. Trấn lại có học (Trường Tiểu học Phú Lâm, Trung học Petrus Ký, tốt nghiệp Trung học, làm báo), khá điển trai, là đối tượng của các cô gái đẹp ở Saigon mới vô khu kháng chiến. Trấn bắt tình với cô Đỗ Thị Thúy Nga, 1 mối tình qua đường vì Trấn đã có vợ con hẳn hoi. Mối tình vụng trộm này không kéo dài được vì bà vợ của Trấn ghen.

Để cứu vãn danh dự và để lấy lòng anh Ba Duẩn, Trấn liền giới thiệu cô Nga cho Duẩn. Thấy Nga, Duẩn rất thích. Nhưng, Duẩn vóc dáng cục mịch, ăn nói cộc lốc như "dùi đục chấm mắm nêm", lại già hơn, gấp đôi tuổi cô Nga, nên Nga từ chối thẳng thừng. Duẩn kêu vài cán bộ thân tín giữ những chức vụ quan trọng tới họp mật. Bà Lê Đoàn, Chủ tịch Ban chấp hành Hội Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ, được lịnh anh Ba tới "động viên" cô Nga ưng anh Ba. Anh Ba tuy lớn tuổi nhưng chưa vợ con vì mãi lo việc cách mạng. Rồi Hà Huy Tập (Ủy viên Trung ương đảng), cũng được Duẩn giao nhiệm vụ vận động Thúy Nga. Chưa hết, giáo sư Đặng Minh Trứ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Cần Thơ, nhận lịnh Duẩn đến thẳng tư gia của cô Nga để "vận động" song thân của cô. Tất cả đều là công dã tràng, vì cô Nga từng là nữ sinh tường đầm, nói tiếng Pháp như gió, không chịu làm vợ 1 anh nhà quê thất học. 1 người từng ở trong hàng ngũ kháng chiến kể lại rằng, khi mọi cuộc "vận động" bế tắc, Duẩn liền dùng bạo lực. Duẩn cho lịnh mời cô Nga với tư cách đại biểu Cứu Quốc Cần Thơ, đến họp tại 1 ngôi nhà giữa rừng, bên bờ sông Trẹm, chỗ giáp ranh U Minh Thượng và U Minh Hạ. Đêm ấy trời mưa, chuyện gì xảy ra không rõ, sáng chỉ thấy cô Nga mặt mày sưng húp vì khóc suốt đêm qua. Ván đã đóng thuyền, cô Nga miễn cưỡng làm vợ bé của Lê Duẩn.

Từ đó, đảng ra lịnh cấm bất cứ ai bàn tán về việc "đồng chí Ba Duẩn cưới vợ". Năm 1955, cô Nga theo đoàn quân tập kết ra Bắc. Duẩn cho dấu cô Nga với 2 con trong 1 biệt thự trên đường Hùng Vương. Không hiểu do ai báo cáo, bà vợ cả Đỗ Thị Khê tìm tới đánh ghen. Cô Nga chỉ biết ôm mặt khóc. Duẩn dàn xếp dấu Nga ở Hải Phòng, cũng bị vợ lớn tìm tới chửi bới, khiến Nga đòi tự tử. Duẩn báo cáo việc lem nhem với Hồ. Hồ gợi ý đưa Nga qua Trung Quốc tỵ nạn vợ lớn, với danh nghĩa theo học chính trị tại Thiên Tân. Mỗi năm, Hồ cho Duẩn mượn chiếc máy bay riêng, ẩn số BH 195 (có nghĩa là Bác Hồ 19/5) qua Thiên Tân thăm vợ. Mỗi lần đi, Duẩn có đem theo đứa con gái lớn con bà vợ cả là Lê Thị Hồng, để cô này thăm tình nhân là 1 Thiếu úy đẹp trai, quê ở Cái Tàu, Bạc Liêu. Viên Thiếu úy này đang học trường quân sự Cáp Nhĩ Tân. Về sau, nghe đâu cô này học bên Liên Xô và lấy chồng người Liên Xô.

Xưa nay, lấy vợ lấy chồng là chuyện bình thường, nhưng có vợ rồi mà còn muốn có vợ bé...lại còn làm việc bất chính để chiếm đoạt. Hồ Chí Minh luôn luôn răn đe đảng viên phải có "đạo đức cách mạng, đời công, đời tư phải trong sáng..." Thật ra, lời giáo dục ấy chỉ là tuyên truyền, áp dụng cho đảng viên cắc ké. Các Ủy viên Trung ương đảng, Bộ chính trị, ai cũng lấy vợ hai, vợ ba, dựa vào quyền lực để ép duyên, hoặc dùng thủ đoạn để lấy gái tơ cỡ tuổi con mình, như Lê Đức Thọ, Võ Quang Anh (Tham mưu trưởng Khu 9), Trần Văn Trà, Hà Huy Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Hoan,..
Hứa Hoành

Đền Đức Mẹ HCG Sài Gòn: Audio bài giảng thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình cuối tháng


_DSC0061VRNs (29.9.2014) – Sài Gòn – Thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình cuối tháng 9 tại Đền Đức Mẹ HCG Sài Gòn diễn ra lúc 20 giờ hôm qua 28.9 do cha Giuse Trương Hoàng Vũ chủ tế và cha Antôn Lê Ngọc Thanh chia sẻ Lời Chúa.
Ngoài một số ý cầu nguyện cho các tù nhân lương tâm, những người đang bị giam giữ cách bất công trong nhà tù cộng sản, thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình cuối tháng Chín tập trung vào Văn thư của Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình trược thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Văn thư này được Ủy Ban CLHB viết nhân ngày kỷ niệm sứ điệp Đức Mẹ hiện ra tại Fatima (13.9.1917- 13.9.2014).
Mời quý vị lắng nghe bài giảng của cha Antôn Lê Ngọc Thanh trong thánh lễ này:
 https://www.chuacuuthe.com/images2013/bai-giang-le-cong-ly-hoa-binh-28.09.2014.mp3

http://www.chuacuuthe.com/2014/09/den-duc-me-hcg-sai-gon-audio-bai-giang-thanh-le-cau-nguyen-cho-cong-ly-va-hoa-binh-cuoi-thang-chin/

Bài Xem Nhiều