We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 7 October 2014

Tâm sự của một người Việt Nam đang sống đời lưu vong !

Cây có cội, nước có nguồn. Người quên đi gốc gác là kẻ chẳng đáng sống trong nhân quần xã hội.
 
Tôi là một người, nên theo lẽ tự nhiên, tôi cũng có Tổ Quốc, cũng có Tổ Tiên Ông Bà, dù bây giờ đang  sống ở một địa phương cách xa nơi chôn nhau cắt rún, nơi đặt mồ mả của Tổ tiên dòng họ, hàng 20 ngàn cây số (nửa vòng trái đất). Tôi cũng có một Tổ Quốc  để nhớ nhung, nhưng không thể về thăm lại, vì xã hội nơi đó có một bầy quỷ dữ đang thi thố thói hung tàn, chực chờ tiêu diệt những người như tôi, những người không chấp nhận cái xã hội tàn bạo hơn cả thời Tần Thỉ Hoàng, đang ngự trị quê hương Việt Nam mến yêu. Cái xã hội đó là “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
 
Những người như tôi, đã không thể chấp nhận sống dưới chế độ tàn bạo cộng sản, nhưng không có một cơ hôi, một phương tiện, một lực hỗ trợ để chống lại bọn việt cộng, nên đành phải bỏ nước ra đi tìm đất sống, tiềm tàng một niềm tin rằng, rồi sẽ có một ngày trở về khi quê hương đã quang phục.
 
Niềm tin đó khởi nguồn từ ngày bước chân lên thuyền vượt trùng dương để tìm đến đất địa tự do. Niềm tin đó vẫn còn mãnh liệt trong suốt thời gian từ 30 tháng 4 năm 1975 cho đế tận ngày Quốc Hận 2010, và dường như, phải đau lòng mà nói,niền tin đómỗi ngày mỗi giảm bớt.
 
Cái hy vọng hồi hương để nhìn lại những hồi ức tươi đẹp của thời trai trẻ, nhìn lại những nơi mà mình đã đi qua, đã từng sống … coi bộ còn rất xa vời.
 
Thế nhưng việc đời thay đổi bất ngờ,  cái gì sẽ đến tất phải đến, đôi khi nó đến trong lúc đang tuyệt vọng trông chờ.
 
Trong nỗi niềm tuyệt vọng vì chắc không thể nhìn lại quê Cha đất Tổ trước khi nhắm mắt lìa đời, thì bỗng nhiên, niềm hy vọng đó bật sáng, khi tại quốc nội, có rất nhiều người, đa số thuộc thành phần trẻ, đã hiên ngang đứng lên đòi hỏi Tự Do và Nhân Quyền, đòi hỏi phải thay đổi chế độ kèm kẹp cộng sản vì nó đã là nguồn gốc xã hội bại hoại, luân thường đạo lý  mai một, dân tình nghèo khổ, bị cả thế giới văn minh ném vào thùng rác.
 
Có những cuộc biểu tình quy tụ hàng ngàn người gồm đủ cả trẻ già, trai gái, hiên ngang xuống đường đòi hỏi công lý, đòi hỏi quyền con người, quyền tư hữu về đất đai…
 
Rồi những cuộc biểu tình chống bọn tàu cộng đang xâm lăng biển đảo, lảnh thổ, yêu cầu bọn nhà nước việt cộng phải tỏ rõ thái độ không chấp nhận hành động xâm lăng của tàu cộng.
 
Tất cả cuộc biểu tình đó đều bị bọn ngưu đầu mã diện, nha trảo của “Ba Đình Phủ” đàn áp không nương tay. Những người thanh niên phụ nữ trẻ có tầm vóc, có thể khởi xướng cuộc cách mạng để diệt chế độ việt cộng, bị bọn công an và tòa án rừng rú dã man, viện dẫn vào những lý do vu vơ, không chính đáng để bắt họ, đánh đập, giam cầm tù đày bằng những cái gọi là “luật pháp rừng rú” của cộng sản.
 
Niềm hy vọng đang trở về, trong sựchờ đợi một biến cố quan trọng, tạo nên cuộc đổi đời cho dân tộc Việt Nam. Nhưng sau lần biểu tình của cả chục ngàn người từ Bác chí Nam chống bọn xâm lược hán cẩu, đả đảo bọn bán nước cầu vinh, bị bọn cầm quyền việt cộng đàn áp dã man, phong trào biểu tình đã hoàn toàn xì hơi, chẳng thấy có tổ chức nào khác, ngoại trừ những cuộc biểu tình lẻ tẻ của Dân Oan đòi đất, đòi nhàđã bị bọn cường quyền cấu kết với những tên tư bản đỏ cướp đoạt.
 
Sau một thời gian vừa đủ dài, chẳng thấy một sinh hoạt nào của người dân tại quốc nội khả dĩ đánh đổ được chế độ tàn ác. Có chăng là những tập hợp dân sự không cộng sản (?) kêu gào Tự Do Nhân Quyền, tố cáo tội ác của bọn cướp việt cộng qua các trang mạng internet gọi là lề trái mà thôi. Theo ý tôi, có lẽ họ muốn tranh đấu trong tư thế “từ từ”, “ôn hòa bất bạo động”, chờ đợi bọn đàng cầm quyền thay đổi, nới lỏng  chế độ kềm kẹp chút nào chăng ?
 
Cộng sản mà không độc tài độc đảng, ngoan cố lại chịu thay đổi hay sao?
 
Nhìn thấy cuộc cách mạng cho Nhân Quyền và Tự Do tại Việt Nam, theo tình trạng đó, tôi cảm thấy niềm hy vọng của mình dường như chỉ là chiếc bóng mờ của những đám mây, đã bị những cơn gió trong không gian làm cho biến mất hết lần nầy đến lần khác.
 
Bỗng nhiên, trên thế giới xảy ra nhiều biến động ở Ukraine, Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, ở chính trường tranh chấp Biển Đông tại Liên Hiệp Quốc giữa các nước đang bị Tàu cộng xâm lăng…, có thể ảnh hưởng đến tình thế của Việt Nam, có thể đánh động được lương tâm của người Việt, khơi dậy lòng tự trọng và anh hùng của dân tộc hậu duệ của Quốc Tổ Hùng Vương.
 
Cái động lực có thể làm cho người dân Việt phấn chấn nhất, từ tháng 9 năm 2014 là cuộc nổi dậy của người Hồng Kông gồm tất cả thành phần, giai cấp trong Xã hội, đã hiên ngang tập hợp hàng trăm ngàn người, cùng xuống đường phản đối chánh quyền trung ương của tàu cộng, không chấp nhận lối giáo dục phải yêu tổ quốc cộng sản Trung Hoa, đòi quyền tự do ứng cử và bầu cử cho lãnh địa Hồng Kông. Một lãnh địa nhỏ với dân cư trên dưới 7 triệu người, đã bất chấp hiểm nguy và sự tàn bạo của khối đảng viên cộng sản vài trăm triệu người trên lục địa, họ đã cương quyết đòi cho được niềm ước mơ Tự Do của họ.
 
Với gương của người Hồng Kông, chắc rằng sẽ là niềm khích lệ cho toàn dân Việt Nam gần 90 triệu người kể cả quốc nội lẫn hải ngoại, chẳng lẻ lại sợ vài triệu đảng viên việt cộng ?
 
Với ý nghĩ đó , niềm hy vọng đã mất mát trong tôi lại được tăng thêm vài bậc.
 
Tôi rất tâm đắc câu nói của một lảnh tụ sinh viên Hồng Kông 17 tuổi, anh Joshua Wong:
 
Nếu bạn đã suy nghĩ rằng đấu tranh cho Dân chủ là một cuộc chiến kéo dài và bạn tiến hành từ từ, thì bạn sẽ không bao giờ chiến thắng. Bạn phải xem mọi cuộc chiến như trận chiến cuối cùng, chỉ có vậy thì bạn mới có quyết tâm để chiến đấu. Tôi không muốn cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Hồng Kông phải để lại cho thế hệ kế tiếp. Đây là trách nhiệm của chúng ta hôm nay”.
 
Tôi mong rằng giới trẻ và toàn thể đồng bào Việt Nam hảy suy gẫm lời nói trên của một người trẻ tuổi Hồng Kông, đã nói lên một sự thật, một ý tưởng khẳng khái của bậc anh hùng khi muốn làm cách mạng, tiêu diệt chế độ tàn ác để dựng lại một thể chế văn minh, tự do, công bằng và bác ái.
 
 
Lời kết:
 
Tôi viết những lời tâm sự nầy, không phải là mình muốn ngồi không, ỷ lại vào người khác làm thay để mình được hưởng. Những lời tâm sự nầy, tôi tin rằng, có rất nhiều người cũng đồng một suy nghĩ như tôi:
 
Muốn quê hương mình sớm được quang phục, thoát khỏi cảnh Tổ Quốc Việt Nam bị diệt vong bởi bọn người của đảng việt cộng mãi quốc cầu vinh.
 
Tôi là một trong số những người đang sống lưu vong tại hải ngoại, không thể trực tiếp chiến đấu chống lại ác quyền việt cộng, chỉ có thể dùng hết khả năng của mình trên các mặt trận ngoại vận và tâm lý chiến, để hỗ trợ phần nào với những người trực diện chiến đấu, đó là đồng bào quốc nội, trong cuộc cách mạng toàn dân, xóa tan tai ách do bọn việt cộng mang đến, xây dựng lại Tổ Quốc Việt Nam trên mọi mặt, để con cháu đời sau khỏi phải bị cảnh khốn cùng của chúng ta hôm nay. Mong rằng niềm hy vọng của những người đang sống lưu vong tại hải ngoại sẽ sớm được thành tựu.
 
Lão Ngoan Đồng
Đầu tháng 10, năm 2014

Không hiểu nổi: chết ở Mỹ, chôn ở VN !!!

Chết ở Mỹ, chôn ở VN

Tuy nhiên, là thủ phủ của người Việt tị nạn với dân số đông nhất nước Mỹ, mang thi hài về quê hương không phải là lựa chọn duy nhất của hầu hết người Việt ở Little Saigon.

image
Sinh tử là quy luật hiển nhiên của tạo hóa. Cái chết là điểm dừng chân cuối cùng không ai tránh được. Đối với nhiều người Việt tha hương, chết không chỉ là hết, mà còn là sự chuẩn bị cho một ngày "trở về" - “quy cố hương.”


image
Nhà quàn Thiên Môn chuẩn bị đưa thi hài của người đã mất ra phi trường gửi về Việt Nam.


Về bằng cách nào?
Tuấn Nguyễn, người thành lập nhà quàn Thiên Môn, là người đến Mỹ từ lúc còn rất nhỏ tuổi, cho biết: "30% những gia đình đến nhờ nhà quàn Thiên Môn mang thi hài người thân về Việt Nam đều là người miền Nam. Và đặc biệt, tất cả họ là những người đã đặt chân đến xứ sở này bằng con đường vượt biển.”

Anh Minh, cư dân của thành phố Santa Ana, người vừa thực hiện xong ước nguyện cuối đời của mẹ mình là di quan thi hài về Việt Nam, cho biết: “Gia đình tôi, bên này lẫn bên Việt Nam, không phải lo gì cả ngoài tờ giấy chứng nhận của bác sĩ. Sau đó thì nhà quàn Thiên Môn lo hết tất cả những gì còn lại, cả giấy tờ cần thiết bên Việt Nam. Gần đến ngày thi hài mẹ tôi được đưa về đến Qui Nhơn, nhân viên của họ gọi điện thoại cho chúng tôi biết để người nhà bên Việt Nam chuẩn bị. Sau đó, họ mang thi hài mẹ tôi đến tận nhà."

image
Là một người lớn lên ở Mỹ, nhưng vì tính chất công việc, anh Tuấn tìm hiểu rất nhiều về phong tục tập quán của người Việt. Chính vì vậy, "chúng tôi cung cấp một dịch vụ chu toàn từ phong tục truyền thống như ma chay, tụng liệm, cho đến đáp ứng thời gian nhập quan theo ý của gia đình. Chúng tôi làm với một mức giá phù hợp với người Việt.”
Nói thêm về công việc của mình, Tuấn cho biết: “Tất cả những gì anh mong muốn là giúp cho người Việt mình phương cách thỏa đáng nhất để cho dù có nằm lại đây thì sẽ là một lễ tang đúng theo truyền thống, hay muốn đưa thi hài quay về cố hương thì cũng bằng dịch vụ tốt nhất và khả thi nhất.”
“Trong dịch vụ này, giai đoạn đầu tiên là lâu nhất. Đó là lúc chờ nhận tờ giấy 'chứng tử' từ bác sĩ có thẩm quyền,” Tuấn nói về điều đầu tiên cần phải cho việc mang thi hài ra khỏi nước Mỹ.

image
Điều này được ông Khang Lê, chủ nhà quàn An Lạc cũng đồng ý: “Phần quan trọng nhất là giấy xác nhận với chữ ký của bác sĩ thì việc di quan về Việt Nam mới thực hiện được. Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng mau chóng. Vì có khi người bác sĩ đó bận đi công tác hoặc vì một công việc gì đó thì thời gian sẽ bị lâu hơn.”

“Chúng tôi kết hợp với một nhà quàn đối tác ở Việt Nam để thực hiện giai đoạn nhận thi hài ở phi trường và mang đến tận nhà cho gia đình. Thời gian từ năm đến bảy ngày hoặc có thể lâu hơn một chút,” ông Khang nói.

image
Cô Lynda Trần, quản lý của nhà quàn Peek Funeral Home tọa lạc trên đường Bolsa có cách giải thích rõ ràng hơn về những thủ tục pháp lý: “Chúng ta đang sống ở Mỹ, một đất nước mà mạng sống của con người rất được trân quí. Xã hội này lo cho chúng ta từ sống cho đến khi mất đi. Nói cách khác là cái chết của mỗi con người cũng phải được chứng nhận rõ ràng. Nó liên quan đến luật pháp, đến y tế. Đó là lý do mà gia đình phải có được tờ giấy chứng nhận người thân mình đã chết với chữ ký của bác sĩ thì lúc đó những chuyện tiếp theo mới được tiến hành.”

Để chứng minh cho điều mình nói, cô Lynda kể một trường hợp của một gia đình có người thân vừa mất: “Đó là một người không có tiền sử bệnh nan y. Thế nhưng, trong một lần uống thuốc, vì lý do gì đó mà viên thuốc khi vào trong đường thở, làm chặn lại đường hô hấp. Trường hợp này phải đợi đến bác sĩ giảo khiệm, tìm ra nguyên do, sau đó gia đình mới có được giấy phép để hỏa táng.”

Điều này cũng cùng nhận định với anh Tuấn Nguyễn và ông Khang Lê về thủ tục pháp lý cần phải có đầu tiên cho dịch vụ hậu sự, dù là hỏa táng ở Mỹ, chôn cất ở Mỹ hoặc đưa thi hài về Việt Nam.

Một chia sẻ rất chân thành của cô Lynda, đó là: “Với tôi, đây là một thủ tục rất tình người. Đó là cái tình cho người ở lại. Người ở lại sẽ không bị liên lụy đến cái chết không rõ nguyên nhân của người đã mất.”

Cô Lynda cho biết có hai lựa chọn trong dịch vụ di quàn thi hài về Việt Nam. Lựa chọn thứ nhất là Peek Funeral Home sẽ lo tất cả giấy tờ hậu sự cần thiết ở Mỹ và Việt Nam. Sau đó, thi hài được đưa về đến tận gia đình.
Lựa chọn thứ hai là gia đình ở Việt Nam tự đến phi trường để nhận thi hài người thân. Với lựa chọn này, gia đình người mất phải cung cấp cho nhà quàn “Đơn xin nhận thi hài” (xin bên phía Việt Nam). Sau khi có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, Peek Funeral Home sẽ lo phần “visa cho người chết” (theo cách nói của cô Lynda).

Bao nhiêu cho một lần trở về?

image
Nói về chi phí, Tuấn Nguyễn cho biết: “Có hai trường hợp. Nếu gia đình cần chúng tôi lo hết mọi thứ, từ giấy tờ ở đây và ở Việt Nam, cho đến di quàn về đến tận nhà, thời gian mất một tuần. Gia đình không phải lo gì cả. Giá là $11,500. Còn nếu gia đình lo giấy tờ ở Việt Nam, chúng tôi chỉ chịu trách nhiệm giấy tờ ở Mỹ và mang thi hài về đến phi trường thì thời gian là hai tuần. $9,500 là chi phí tổng cộng khách hàng trả cho trường hợp này.”

“Đặc biệt, Thiên Môn có một quy tắc, đó là khi mọi chuyện xong xuôi, chúng tôi mới lấy chi phí,” Tuấn nói thêm.

"Những gia đình nào muốn làm tang lễ cho bạn bè, thân hữu thăm viếng, chúng tôi sẽ giúp tổ chức phần đó. Sau khi xong, chúng tôi đưa quan tài về Việt Nam. Thường thì công ty của tôi gửi qua Thai Airway, một loại máy bay cargo, không dùng để chở hành khách."

image
Nhà quàn Thiên Môn dùng giấy màu đỏ làm dấu hiệu để khi nhận thi hài biết đâu là vị trí của chân.
Anh Minh, người vừa đưa thi hài mẹ của mình về Quy Nhơn cũng bày tỏ sự hài lòng và cả biết ơn với dịch vụ của Thiên Môn, “xong xuôi hết chúng tôi mới phải trả tiền.”
Ông Khang Lê, nhà quàn An Lạc, cho biết tổng chi phí một dịch vụ hậu sự mà An Lạc nhận sẽ bao gồm từ việc lo tang lễ bên này, tùy theo tôn giáo từng gia đình, cho đến di quàn thi hài người mất về đến Việt Nam là trên dưới $15 ngàn.
Tuy nhiên, ông Khang Lê cho biết mức giá có thể cao hơn tùy theo loại quan tài mà gia đình sử dụng.
"Hình thức và cả chất lượng,” ông nói.

Không chỉ áp dụng một mức giá mà ông gọi là “dành cho người Việt,” ông Khang, một trong hai người Việt ở Little Saigon được tiểu bang California cấp chứng nhận Funeral Director, cho biết: “Đã sống đến tuổi này, tôi hiểu và chứng nghiệm rất rõ câu 'có nhân thì có quả.' Công việc của chúng tôi thực sự gọi là giúp cho người đã chết. Và tôi sẽ luôn luôn đặt chữ đạo đức lên hàng đầu.”

“Dù là Phật giáo hay Công giáo, bất cứ lúc nào, dù là nửa đêm, tôi cũng có thể gọi giúp ngay một nhà sư hay một cha xứ đến để đọc kinh cầu nguyện cho gia đình có hậu sự.”
Tuấn Nguyễn thì cho biết thêm về những gì nhà quàn Thiên Môn có thể đáp ứng cho khách. "Người Việt mình có một phong tục là coi ngày giờ tốt cho lễ nhập quan. Cho dù thời gian đó là vào lúc nửa đêm, tôi vẫn thực hiện được.”

image
Ông Khang chia sẻ thêm rằng ông đến với công việc này cũng vì “một phần là cái nghề, một phần là không muốn người Việt mình ở đây bị các công ty nhà quàn của Mỹ 'bắt chẹt.'”
Ông kể ra một câu chuyện vui mà ông cho là “không biết nên cười hay nên khóc.” Một người bạn nói với ông “sau khi xem chi phí của dịch vụ mai táng của một số nơi, tôi tự nói với mình là thôi mình khoan chết. Vì chết tốn tiền quá.”

Ông Khang chia sẻ: “Những công ty nhà quàn của Mỹ nắm được tâm lý 'chịu chi' của người Việt Nam. Chính vì vậy, họ thuê nhân viên là người Việt làm 'salesman' và cho người đó tùy ý đưa ra giá cả. Những 'salesman' đó được tiền 'hoa hồng' trên giá mà họ 'bán' được cho khách hàng.”

“Đây gọi là kinh doanh trên thân xác người chết,” ông nói.

Cô Lynda Trần cho biết tổng chi phí của Peek Funeral Home cho dịch vụ di quàn thi hài vào khoảng $7,000 - $15,000, tùy lựa chọn của gia đình. Chi phí khoảng $15,000 là cho những gia đình muốn tổ chức tang lễ thăm viếng ở đây trước khi di quàn thi hài về Việt Nam.
Tuấn Nguyễn cũng thế: “Giá cả dịch vụ của tôi thấp hơn những công ty Mỹ hơn một nửa. Đơn giản vì công ty Mỹ nắm được điểm mấu chốt của người Việt mình là rất trọng nghi thức như chôn ở đâu, tang lễ thế nào. Tôi là người Việt nên tôi hiểu và tôi không để cho người Việt của mình thiệt thòi.”

image
“Dù là công việc gì, cũng phải cần đạo đức,” anh nhấn mạnh.

Nhà quàn An Lạc cũng cho biết, so với di quàn thi hài, dịch vụ đưa tro cốt về Việt Nam không những dễ mà chi phí còn thấp hơn rất nhiều.
Nhưng theo ông Khang thì “không có nhiều người Việt hải ngoại chọn cách này. Thật sự cá nhân tôi không rõ vì sao. Tôi chỉ đoán có thể là do phong tục tập quán của người Việt mình là muốn con cháu nhìn mặt lần cuối.”

Riêng cô Lynda Trần thì cho biết: “Khách hàng gần đây nhất của tôi là bác Trợ, ở ngay Santa Ana. Chính tôi đã tư vấn cho bác ấy cách gửi tro cốt về Việt Nam bằng đường bưu điện, với giá $100. Và bác cho tôi biết gia đình bên Việt Nam đã nhận được. Đó là một trong những cách mà tôi nghĩ tôi có thể giúp cho cộng đồng của mình.”

"Công việc tôi đang làm trước nhất là giúp cho những người đã chết, và sau đó là người thân của họ," cô nói thêm.

Vì sao họ quay về?

Anh Tuấn Nguyễn cho rằng sở dĩ người Việt mình thích “quay trở về nằm ở quê hương” vì đó là tâm lý người Á Đông, nhất là người Việt Nam, khi mất đi rồi thì ai cũng muốn được nằm kề cận bà con dòng họ, vì “người Việt mình ... thích vui lắm!”

Ông Khang cũng nói rằng đa số những người Việt đã mất ở xứ Mỹ và di quàn về Việt Nam là người miền Nam. Theo suy nghĩ của riêng ông, đó là “do tâm lý thôi. Người miền Bắc có cuộc sống chắt chiu hơn. Đối với họ 'chết đâu cũng là chết'.”

Chia sẻ từ cô Lynda Trần thì: “Hầu như nhu cầu di quàn thi hài về Việt Nam thuộc về những người lớn tuổi. Họ có bà con thân nhân ở Việt Nam nhiều hơn ở bên này. Cho nên khi mất rồi, họ muốn quay trở về cố hương. Lá rụng về cội. Đó là ước nguyện của họ”

Đúng vậy. Đó cũng chính là nỗi niềm của bác Xuân, một người cao niên sống ở Santa Ana, đặt chân đến Hoa Kỳ từ những năm 80, tâm sự rằng “Tôi hay nói với tụi nhỏ ở nhà tôi là ông bà mình xưa nay có câu 'sống gởi, thác về' ý để nói vợ chồng tôi vẫn muốn quay về 'kề cận' bên ông bà khi đến 'ngày trăm tuổi.'”

image
Đó là lý do vì sao mà người mẹ quá cố của Minh nhắn gửi trước khi mất rằng bà không muốn thiêu hay chôn ở đây, mà bà “muốn được trở về nằm cạnh phần mộ của họ hàng.”
Không phải chỉ riêng những người lớn tuổi vừa mới đến Mỹ đoàn tụ gia đình, con cháu mới có mong muốn ấy. Mà họ còn là những người tìm đường thoát đến xứ tự do khi tuổi đời còn rất trẻ và đã sống ở Mỹ hơn nửa đời người. Con cháu của họ giờ đây là thế hệ thứ hai, thứ ba của nước Mỹ.
Và đó còn là những người chưa từng một lần quay trở lại quê hương trong mấy mươi năm họ xa xứ.
Đó là trường hợp của bác Bình Nguyễn, một người Việt tị nạn ở Mỹ gần 40 năm: “Gia đình tôi làm nghề đánh cá. Tôi cùng với anh em trong nhà là dân đi biển. Năm đó tôi cùng với hai người anh đánh tàu tìm đường thoát đi. Chúng tôi may mắn vượt biển thành công và định cư ở Mỹ từ năm 1975 đến nay. Anh em chúng tôi mỗi người sống một tiểu bang khác nhau. Tôi ở Philadelphia, còn hai người anh thì ở Houston. Bao nhiêu năm nay tôi chưa một lần về thăm quê nhà. Nhưng tôi vẫn nói với con của mình là sau khi tôi mất, hãy mang tôi về chôn cất bên cạnh ông bà tổ tiên.”
“Lá rụng về cội mà,” bác Bình nói, mắt nheo nheo để lộ những vết tích thời gian trên gương mặt.

Nỗi niềm của người nằm lại

Tuy nhiên, là thủ phủ của người Việt tị nạn với dân số đông nhất nước Mỹ, mang thi hài về quê hương không phải là lựa chọn duy nhất của hầu hết người Việt ở Little Saigon.

image

Nơi yên nghỉ cho những người ở lại ở Memoral Park
“Nói riêng cộng đồng chúng ta ở Little Saigon này thì số người nằm lại cũng tương đương với số người chúng tôi di quàn về Việt Nam. Có thể nói là 50-50. Không phải gia đình nào cũng có chung một cách giải quyết cho việc hậu sự của người thân của mình. Vì còn tùy hoàn cảnh từng gia đình. ” Tuấn Nguyễn nói về những trường hợp khác mà anh từng gặp.
Hoàn cảnh mà Tuấn nói đến là những gia đình không còn ai ở lại Việt Nam.
Bác Hồng ở Hội Người Già Westminster cho biết mình vừa đến Mỹ đoàn tụ con cháu chỉ vỏn vẹn gần ba năm. Cho nên “nhớ Việt Nam lắm. Nhớ bà con láng giềng hủ hỉ sớm tối,” bác tâm sự.

Nhưng nói đến “ngày trăm tuổi” của mình, bác Hồng không nghĩ rằng mình sẽ lựa chọn quay về quê hương. Vì “tôi là người cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Con cháu của tôi đều ở đây hết. Công việc làm tụi nó sẽ không cho phép tụi nó đi về thường xuyên để lo mồ mả,” bác nói.
Bác Hồng là một trong những người biết rằng ngày mình nằm xuống, nơi này sẽ là nơi mình gửi thân. Và bác chấp nhận điều ấy, vì con cháu của mình.
image
“Có những người tìm đến đây và hỏi ý kiến của tôi về việc khuyên bố, mẹ của họ như thế nào khi mà các ông, bà cụ cứ muốn được chôn cất ở nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng con cái của họ thì lại muốn ông bà cụ chôn cất bên này để thuận tiện cho những ngày giỗ kỵ,” anh Tuấn kể về những trường hợp mà anh gặp.
Thế nhưng, “cá nhân tôi vẫn nghĩ rằng tôi sẽ làm theo mong muốn cuối cùng của ba mẹ tôi. Vì đơn giản, tôi nghĩ đó là bổn phận một người con.”

“Con người có t có tông.
Nh
ư cây có ci như sông có ngun.”

Với một số người Việt hải ngoại, cái tổ cái tông đó là ước mơ cuối cùng của họ. Và có những người như Tuấn Nguyễn của Thiên Môn, như ông Khang Lê của An Lạc, như cô Lynda Trần của nhà quàn Peek Funeral Home sẽ giúp họ đạt được tâm niệm đó.

Kalynh Ngô
http://baomai.blogspot.com/2014/09/chet-o-my-chon-o-vn.html

Bắt Trẻ Đồng Xanh

Bắt Trẻ Đồng Xanh
Võ Phiến



(10-1968)

Trong những ngày gần đây ai nấy chỉ những xôn xao về chuyện ngưng chiến: Bao lâu nữa nhỉ? Làm gì bây giờ?

Trong bao nhiêu năm trời, chúng ta đã quen với nếp sống chiến tranh đến nỗi hòa bình làm chúng ta bối rối. Nhưng thiết tưởng ngưng chiến không đáng làm chúng ta bận tâm đến thế. Chiến tranh này sắp kết thúc, bằng cách này hay cách khác, hoặc sớm hơn một ít hoặc chậm hơn một ít. Chuyện phải đến rồi sẽ đến, nó xảy đến ra sao dường như cũng đã được trù liệu.

Cái đáng bận tâm là những điều tiếp theo cuộc ngưng chiến ấy.

- Thì các vị lãnh đạo của chúng ta đã tiên liệu rồi: đấu tranh chính trị chứ gì? kinh tế hậu chiến chứ gì?

Đấu tranh chính trị, nó hiển nhiên quá, nó sờ sờ ra đấy, tưởng như rờ mó được. Nói rằng trong giai đoạn tới ta với cộng sản phải đấu tranh chính trị với nhau, nói thế gần như không phải là tiên liệu gì ráo. Đó là đối phó. Chuyện ấy đến ngay trước mắt rồi, ta buộc lòng phải đối phó tức khắc, thế thôi.

Nhưng nói thế còn là khá. Hầu hết mọi người chỉ chăm vào những cái gần hơn nữa: hàng mấy trăm ký giả mỗi tuần bu đến phòng họp báo của các phái đoàn Hoa Kỳ và Bắc Việt để ghi lấy dăm ba câu tuyên bố loanh quanh, các bình luận gia khét tiếng của báo này báo kia, đài này đài nọ bóp trán suy đoán xem lúc nào thì ngưng oanh tạc dưới vĩ tuyến 19 v.v... Thiên hạ theo dõi ý kiến của họ.

Trong lúc ấy nhóm lãnh đạo ở Hà Nội lặng lẽ lo liệu công việc mai sau: tức một cuộc chiến tranh khác. Một cuộc chiến tranh quân sự hẳn hòi. Và họ tiến hành thực hiện chuẩn bị, ngoài sự chú ý của dư luận: các bình luận gia có tiếng, khét hay không khét, gần như không mảy may quan tâm đến chuyện ấy.

Thế mà đó mới là chuyện đáng quan tâm. Thiết tưởng là chuyện đáng quan tâm hơn cả vào lúc này. Bởi vì nếu ta mù tịt về ý định của đối phương trong tương lai thì trong cuộc đối thoại thương thuyết với họ hiện thời ta làm sao biết đặt ra những điều kiện cần thiết?

Cuộc bắn giết sắp tới giữa Miền Nam và Miền Bắc đã được cộng sản xếp đặt từ lúc này, cũng như cuộc bắn giết thê thảm mười năm qua được họ xếp đặt từ trước tháng 7-1954, trước ngày đình chiến theo hiệp định Genève.

Thượng tuần tháng 7-68 một nhóm luật gia họp ở Grenoble buộc Hoa Kỳ vào tội gây chiến tại Việt Nam. Sau đó, nhóm luật gia tranh đấu chính trị Việt Nam họp tại Sài Gòn cãi lại: Mặt trận Giải phóng Miền Nam đã thành lập từ năm 1958 và ra mắt ngày 20-12-1960, còn người lính Mỹ đầu tiên chỉ mới tử trận trên lãnh thổ Miền Nam ngày 22-12-61.

Người của pháp luật, họ cãi lý với nhau, họ bắt bẻ nhau như thế. Không hiểu sao họ chỉ nói tới Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Trước họ, nhiều người đã đi ngược lên tới Mặt trận Tổ quốc, và xa hơn Mặt trận Tổ quốc: tới cái nghị quyết của đảng Lao động đã đẻ ra Mặt trận này.

Mặt trận này, mặt trận nọ..., đó là những bằng chứng đã có tên gọi. Chờ cho cộng sản đặt tên rõ ràng các hoạt động của họ mới chịu cho rằng họ hoạt động tức là nghĩ tệ về họ nhiều quá. Họ đâu có chậm chạp như vậy? Trước những hoạt động có tên gọi đã từng xảy ra nhiều hoạt động không tên gọi, và trước cả các hoạt động không tên là những toan tính xếp đặt kỹ càng.

Khi họ nhận thấy không thể thanh toán cả nước Việt Nam một lần, mà phải chấp nhận điều đình với Pháp để giữ lấy nửa nước, thì họ đã đặt ngay vấn đề: còn lại nửa nước kia, phải giải quyết ra sao? Và họ đặt kế hoạch "giải quyết", cùng lúc với kế hoạch điều đình. Nghĩa là vào năm 1954, chứ không phải năm 1958.
Thật vậy, hiệp định đình chiến vừa ký kết, thì những điều khoản ngưng cuộc chiến tranh bấy giờ được họ thi hành đồng thời với những điều chuẩn bị cuộc chiến tranh sau. Đồng thời, không muộn hơn một ngày nào.
Lúc ấy chính quyền quốc gia lo đùm túm kéo nhau vào Nam, và tổ chức cuộc di cư cho đồng bào Miền Bắc. Di cư là đi cả nam lẫn nữ, cả già lẫn trẻ: công chức già thì vào theo nhà nước để lãnh hương hưu, các cụ cố thì theo con cháu vào để được nuôi nấng và chết giữa đám con cháu v.v...

Cũng lúc ấy, cộng sản lo liệu công việc của họ có lớp lang:
- Vũ khí, họ chôn giấu lại một số ở Miền Nam;

- Cán bộ và binh sĩ, họ chọn lựa một số cho ở lại: có hạng được bố trí để len lỏi vào các cơ quan quốc gia, có hạng trở về cuộc sống thường dân chờ thời cơ, có hạng đổi vùng để hoạt động, có hạng vừa lẩn trốn vừa bám lấy địa phương để hoạt động v.v...

- Địa chủ, phú nông, trót bị ngược đãi tù tội, đều được tha thứ, giải thích, dỗ dành để xóa bỏ hận thù. Những thành phần không dỗ dành được thì họ thủ tiêu, vì xét nguy hiểm đối với tính mạng những cán bộ nằm vùng của họ;

- Tập kết theo nguyên tắc: Đưa ra Bắc hạng trai trẻ có thể làm việc đắc lực và sản xuất giỏi cùng hạng có uy tín có khả năng; bỏ lại trong Nam hạng lão nhược có thể làm một gánh nặng cho quốc gia. Cố ý gây phân ly chia cách, làm thế nào để mỗi gia đình đều có kẻ đi người ở;

- Gấp rút tạo thêm nhiều liên hệ giữa thành phần tập kết ra Bắc và dân chúng Miền Nam: đặc biệt là tổ chức những đám cưới cấp tốc khiến cho hàng chục vạn binh sĩ và cán bộ Việt cộng ra đi bỏ lại trong Nam bấy nhiêu cô vợ trẻ, có những cô chỉ ăn ở với chồng được đôi ba hôm.

Bấy nhiêu cô vợ trẻ và gấp đôi gấp ba chừng ấy cha mẹ già cùng cô cậu chú bác v.v... là một lực lượng đáng kể. Bằng chính sách tập kết và gây liên hệ này, cộng sản cưỡng bức một số người về sau phải làm nội tuyến cho chúng.

Ngay từ đầu, tình cảm của những người này đã hướng về Bắc, theo bóng kẻ thân yêu. Thái độ và hoàn cảnh éo le của họ khiến nhà chức trách địa phương lo ngại, đề phòng. Do đó, họ thành một khối người dần dần sống cách biệt, nếu không là đối lập với chính quyền miền Nam. Một vài trường hợp đối xử vụng về bị khai thác, một vài sự hiểu lầm bị xuyên tạc: thế là mâu thuẫn giữa hai bên trở thành trầm trọng. Rồi một ngày kia, chuyện được tính trước sẽ xảy ra. Xin thử tưởng tượng: gia đình có đứa con hay người chồng ra Bắc năm 1954, hai năm sau, một đêm nào đó, có kẻ lạ mặt lẻn vào nhà, lén lút trao cho xem một lá thư và một tấm hình mới nhất của con hay của chồng từ Bắc mang vào, gia đình nọ làm sao nỡ tố giác kẻ lạ mặt, dù biết họ đang gây loạn. Đã không tố giác được, tất phải che giấu, nuôi dưỡng mối liên lạc. Từ việc này đến việc khác, gia đình nọ dần dần đi sâu vào sự cộng tác với tổ chức bí mật của đối phương, chịu mệnh lệnh của họ, rốt cuộc gia nhập hẳn vào hàng ngũ của họ.

Chính vì như thế mà thư từ hình bóng của cán binh tập kết có giá trị đặc biệt quan trọng: những năm 1956, 57, 58, cán bộ từ ngoài Bắc xâm nhập vào hoạt động, trong người họ bao giờ cũng mang theo một số thư từ, hình bóng của cán binh tập kết. Đó là lợi khí hết sức đắc dụng giúp họ đặt các cơ sở quần chúng đầu tiên.
Gây được cơ sở quần chúng, vận động được sự đóng góp số lương thực tiền bạc cần thiết để nuôi quân rồi, bấy giờ các lực lượng vũ trang tại chỗ bắt đầu được thành lập, các lực lượng vũ trang ngoài Bắc kéo vào. Sau đó mới có cái Mặt trận Giải phóng ra đời.

Như vậy, cuộc chiến hiện nay không hề khởi đầu từ những bất mãn chống một chế độ độc tài gia đình trị, không hề khởi đầu từ sau việc chính quyền Sài Gòn từ chối cuộc tổng tuyển cử 1956, không hề khởi đầu từ ngày khai sanh mặt trận nọ mặt trận kia.

Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng... Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ tọa. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa từ 1954.

Dân chúng Miền Nam ai nấy đều biết những bận rộn tới tấp, những công việc bề bộn ngổn ngang mà nhà cầm quyền cộng sản hồi ấy phải làm cho kịp trước khi rút ra Bắc. Trong hoàn cảnh rộn ràng bấy giờ, nếu không vì lý do quan trọng, chắc chắc đảng và nhà nước cộng sản hồi ấy không đến nỗi quá sốt sắng lo cưới vợ cho cán binh như thế. Chắc chắn. Dù tìm trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào của bất cứ dân tộc nào, cũng hiếm thấy một trường hợp chính phủ lo vợ cho quan binh túi bụi đến chừng ấy.

Cũng như hiện nay, trong giai đoạn ác liệt sau cùng của chiến cuộc tại miền Nam này, nếu không vì lý do quan trọng, đảng và nhà nước cộng sản nhất định không bao giờ khổ công gom góp thiếu nhi ở đây đưa ra Bắc, trải qua bao nhiêu gian nan khó nhọc, trong những điều kiện di chuyển nguy hiểm đến nỗi cả các binh sĩ khỏe mạnh của họ cũng phải hao mòn suy kiệt dọc đường.

Đưa thiếu nhi Miền Nam ra Bắc, không phải cộng sản họ nhằm làm nhẹ một gánh nặng nuôi dưỡng, giúp các ông tổng trưởng Kinh tế hoặc Xã hội của chúng ta. Mọi người đều rõ, tại Bắc Việt và Trung Cộng, người ta tiết giảm sinh sản rất gắt gao: họ hạn chế hôn nhân, hạn chế luyến ái.

Đưa thiếu nhi Miền Nam ra Bắc, cũng không phải cộng sản họ nhằm giúp ông tổng trưởng Giáo dục của chúng ta một tay để giải quyết nạn thiếu trường ở trong này.

Trong giới quan sát nhiều kẻ bảo rằng Bắc Việt kiệt quệ rồi, không đủ sức kéo dài chiến tranh nữa, họ bối rối lắm, luống cuống lắm. Dù không tin vào nhận định ấy, ít ra cũng phải chịu rằng lúc này họ bận trăm công nghìn việc, nếu chuyện bắt trẻ Miền Nam không có một tầm quan trọng đặc biệt thì họ không hơi đâu nghĩ đến. Đàng này họ đang ra sức thực hiện một kế hoạch bắt trẻ qui mô trên một phạm vi hết sức rộng lớn: đồng loạt, người ta phát giác ra trẻ em bị bắt ở khắp nơi trên toàn quốc Việt Nam cộng hòa, từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Pleiku, Kontum, đến Mỹ Tho, Cà Mau, người ta gặp những toán trẻ em chuyển ra Bắc Việt bằng phi cơ từ Cam-bốt, hoặc bị dẫn đi lũ lượt trên đường mòn Hồ Chí Minh, nghĩa là bằng mọi phương tiện, một cách gấp gáp.

Họ bổ sung quân số đó chăng? - Không đâu. Trẻ bị bắt có hạng mới tám chín tuổi. Trong những trường hợp khẩn cấp, họ có thể tạm sử dụng một số trẻ con bắt được ngay tại địa phương; chứ thành lập những đơn vị con nít như thế để dùng ngay vào chiến cuộc này là chuyện điên rồ. Không phải bổ sung quân số đưa vào chiến cuộc đang kết thúc đâu, mà là họ đang tổ chức chiến cuộc mai sau đấy.

Đem chút ít kinh nghiệm về lần trước để suy nghiệm về lần này, chúng ta thấy trước dăm ba điều họ sẽ làm sau khi thỏa ước ngưng chiến được ký kết:
- Họ sẽ bỏ lại Miền Nam tất cả những thương phế binh, những cán bộ lâm nạn, tàn tật v.v... Mang mỗi phần tử vô dụng như thế về Bắc chỉ gây thêm xúc động tâm lý trong quần chúng ngoài ấy; để hạng ấy ở lại, họ tạo thêm gánh nặng cho kinh tế Miền Nam;

- Lúc cuộc "chiến tranh chính trị" mà các nhà lãnh đạo Miền Nam vẫn nói được bắt đầu, thì bao nhiêu ức vạn gia đình có con cháu ra Bắc (và những cô gái có chồng lính cưới vội cưới vàng trước khi về Bắc nữa) hóa ra những thành phần mà chánh quyền ta không sao lôi kéo tranh thủ nổi. Lòng họ hướng về những con tin ở ngoài Bắc, phân nửa sinh mạng họ do nhà đương cuộc Miền Bắc định đoạt. Thái độ của họ khiến nhà chức trách địa phương có thể phạm vào vài biện pháp kỳ thị vụng về: thế là phát sinh mâu thuẫn, bất mãn, chống đối v.v...

- Một ngày nào đó, những cán bộ từ Bắc lại lén lút xâm nhập , mang theo thư từ của con, của chồng họ: họ mừng như mở cờ trong bụng. Họ bắt tay cộng tác với những cán bộ nọ, cùng nhau hoạt động để tạo điều kiện cho chồng con họ sớm trở về ồ ạt theo những đơn vị Nam xâm v.v...

Cán binh gốc người Miền Nam đưa ra Bắc, rồi lại phái trở vào có nhiều cái lợi: khi được lệnh vào Nam hoạt động, họ mừng rỡ vì có cơ hội về quê; họ ra đi lặng lẽ, không có bà con thân thuộc ở Bắc nên không gây xao xuyến gì trong dân chúng, vừa giữ được yếu tố bí mật vừa tránh được tác động tâm lý bất lợi; họ lại được mong chờ đón đợi ở Miền Nam; và họ thông thạo am hiểu về dân tình cùng địa thế Miền Nam.

Như thế, chủ trương bắt đám trẻ em ở miền đồng bằng Nam Việt bát ngát, phì nhiêu đem ra xứ Bắc đông người đất hẹp, nhà cầm quyền Hà Nội chính đang bắt đầu chiến cuộc mai sau ngay từ lúc này, lúc mà chúng ta còn đang xôn xao mong ước ngưng chỉ chiến cuộc hiện tại. Nói họ bắt đầu lúc này cũng chưa đúng: thực ra các tài liệu về "Vấn đề gửi các cháu ra Miền Bắc" đã được phổ biến trong hàng ngũ cộng sản từ tháng 4-68, và thúc giục thực hiện trước mùa mưa năm nay. Tháng 4-68, tức là liền ngay sau khi tổng thống Mỹ mở miệng thốt ra vài dấu hiệu tỏ ý xuống thang chiến tranh để đi tới điều đình.

Điều đình để nghỉ ngơi, đối với Mỹ và chúng ta là thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Điều đình đối với cộng sản là bỏ cuộc nửa chừng, là đành không ăn được keo này. Thua keo này họ bày liền keo khác ngay, vì ngưng chiến thế nầy, theo họ, là một sự dở dang, là chưa hoàn tất công việc. "Thế này rồi thôi luôn hả? Nói thế mà nghe được! Sao có thể quan niệm một cách giải quyết giản đơn, vô duyên đến thế?"

Ý tưởng về ngưng chiến của chúng ta dính liền với một mơ ước xây dựng: bao nhiêu tỷ bạc cho Miền Nam, bao nhiêu tỷ bạc cho Miền Bắc, trao đổi kinh tế ra sao, trao đổi văn hóa thế nào v.v... Ý tưởng về ngưng chiến của cộng sản dính liền với một kế hoạch tấn công quân sự. Và những nạn nhân đầu tiên của trận chiến tương lai là những đứa bé con và bố mẹ chúng đã chịu đau thương từ sáu tháng qua rồi. Trận chiến tranh tương lai đã chọn nạn nhân của nó trong đám trẻ thơ, đàn bà Miền Nam, để biến họ thành con côi vợ góa. Xong rồi. Việc đã bắt đầu từ nửa năm nay rồi.
 
Trước một đối thủ như thế, thái độ của những chính khách Việt Mỹ hằng ngày đấm ngực đồm độp, băn khoăn, tự trách mình cái lỗi không kết thúc được chiến cuộc, thái độ ấy ngây ngô đã đành. Thái độ của những người hớn hở với một kế hoạch kinh tế hậu chiến nào đó, nghĩ cho cùng cũng mỉa mai tội nghiệp: liệu rồi hưởng được mấy năm hòa bình trước mắt mà hí hửng tính chuyện xây dựng, mà mơ cảnh thịnh vượng? Rồi đến thái độ của những kẻ nhìn xa để báo động về một cuộc chiến tranh chính trị: bảo rằng đối phương rồi đây chỉ có hoạt động chính trị, như vậy không khác gì chỉ vào con cọp mà gọi là con chó. Gần như tự lừa mình, như giúp địch ngụy trang.
Dù cho chỉ có chiến tranh chính trị với nhau, đố ai, đố đảng phái nào, liên minh nào, phong trào nào của chúng ta mà thuyết phục được mấy vạn ông bà cha mẹ có con cháu ở Bắc, mấy vạn góa phụ có chồng ở Bắc, thuyết phục được họ thành thực theo ta? Chỉ nắm lấy chừng ấy vạn người, cộng sản Bắc Việt đã có trong tay một lực lượng to lớn hơn mọi đoàn thể chính trị của chúng ta, lực lượng nằm ngay trong lòng quần chúng ta, hàng ngũ ta, mà hoạt động. Ấy là chỉ so sánh về lượng. Mặt khác, trong số các đoàn viên phong trào quốc gia, đảng viên quốc gia v.v... hạng thực sự nhiệt thành vì lý tưởng được bao nhiêu? Và riêng trong hạng nhiệt thành có được bao nhiêu kẻ mà lòng thiết tha đối với lý tưởng có thể mạnh hơn lòng thiết tha với chồng con của những phần tử bị cộng sản lợi dụng kia?

Dù cho chỉ có đấu tranh chính trị với nhau thôi, chúng ta đã bất lợi như thế. Huống chi đó chỉ là hành vi tốt lành lương thiện mà ta gán cho đối phương. Còn họ..., nếu vạn nhất trong thời gian năm bảy năm sắp tới mà đất nước này thoát khỏi một trận chiến tranh nữa, thì đó là ý trời, không phải là ý của họ đâu.

Ý của họ, nó tàn nhẫn đến nỗi chúng ta không dự liệu tới, không tưởng tượng được. Đó là chỗ nhược của ta.
Năm 1954, sau chín năm ê chề mòn mỏi vì chiến tranh, thấy hòa bình ai nấy nhẹ nhõm; nếu có kẻ nào lúc đó mà xếp đặt một cuộc tàn sát nữa, kẻ ấy tất gan đồng dạ sắt. - Thì Hồ Chí Minh đã xếp đặt cuộc tàn sát ngay vào thời kỳ ấy.

Năm 1968, sau hăm ba năm chiến tranh thảm khốc, nghe nói hòa bình mọi người mừng rơn. Nghĩ tới hàng triệu người đã bỏ thây trong thời gian qua, ai cũng tưởng làm người Việt Nam mà có kẻ dám để ý nghĩ mon men đến chiến tranh nữa, kẻ ấy thật mặt dày mày dạn, tán tận lương tâm. - Thì Hồ Chí Minh chính đang xếp đặt thêm một cuộc chiến tranh.

Vậy mà ông ta vẫn an nhiên hưởng sự trọng vọng của bao nhiêu người, kể cả người Việt Nam! Cho hay cái sản phẩm quái dị của thế kỷ văn minh này là tuyên truyền chính trị, nó có một ma lực mê hoặc phi thường. Không phải thứ tuyên truyền yếu ớt vận dụng một cách khó khăn trong khung cảnh các nước tự do, mà là thứ tuyên truyền một chiều, qui mô, toàn diện, có thể sử dụng các quyền lợi kinh tế hỗ trợ cho nó như ở tại các quốc gia độc tài: Nga xô, Trung cộng, Bắc Việt, Đức quốc xã v.v...

Và Hồ Chí Minh không phải chỉ được thứ tuyên truyền ấy xóa cho mình cái chân tướng hiếu sát phi nhân. Ông ta còn hóa thành thiên tài lỗi lạc dưới mắt nhiều người vì đã tổ chức giặc giã trong một phần tư thế kỷ để giành nửa nước, trong khi tại khắp các nước Á Phi, những lãnh tụ bất tài nhất cũng dần dần thu hồi được độc lập toàn vẹn cho quốc gia họ với những tổn thất nhẹ hơn nhiều. Ông ta còn hóa thành chính trị gia khôn ngoan, thành "cha già dân tộc" dưới mắt nhiều người, trong khi ở các xứ khác cùng lâm vào tình trạng lưỡng phân không có chính quyền nào nỡ giải quyết tình trạng một cách vô hiệu mà bất nhân đến thế, trải bao nhiêu năm cứ nhất mực khăng khăng chủ trương hết cuộc tàn sát này đến cuộc tàn sát nọ, không một mảy may sờn lòng xúc cảm trước cảnh chết chóc thê thảm làm cho cả nhân loại đều ái ngại.

Người như thế, không biết lòng dạ ra sao, tim óc ra sao. Bảo rằng cùng trong một người, vừa chứa đầy những kế hoạch xua ngay đồng bào mình vào chiến tranh liên tiếp vừa có chỗ cho tình yêu thương đồng bào, thật không thể hiểu thấu.

Những lời trên đây không được nhã nhặn. Quả thật không nhã nhặn. Và kẻ viết ra phải lấy làm ngượng về lời lẽ mình. Nhưng khi mình là dân một nước đã trải qua bao nhiêu năm khói lửa, rồi lại trông thấy trước mặt một viễn tượng đầy máu me, khi ấy nói về kẻ gây thảm họa thật khó giữ lòng bình thản để nói lời tao nhã.

Có thể nào không giận? Ông ta bảo phải đeo đuổi cuộc tàn sát nọ là vì nguyện vọng dân tộc? - Trời, dân tộc này ai cũng xưng biết rõ vanh vách nguyện vọng, ai cũng đòi hành động nhân danh nguyện vọng dân; có điều mỗi người nêu lên một nguyện vọng khác nhau, hoàn toàn khác nhau, lắm khi mâu thuẫn nhau. Đâu là nguyện vọng đích thực, để hồi sau phân giải. Cái chắc chắn là dân tộc này không hề nằng nặc thiết tha với cộng sản đến nỗi chịu chết năm ba thế hệ liên tiếp để rước kỳ được chế độ ấy về. Vả ông ta chừng ấy tuổi tác rồi, tai nghe mắt thấy đã nhiều, từng trải việc đời đã nhiều, ông ta đâu còn ngây thơ mà quáng mắt vì những danh từ khoác lác, những hứa hẹn hão huyền xa xôi của một chủ thuyết. Ông ta hẳn thừa rõ những gì đê tiện xấu xa xảy ra phía sau các khẩu hiệu tuyên truyền, thừa rõ sống ở Đông Đức đâu bằng ở Thụy-điển, Hòa-lan, thừa rõ con đường từ Hung-gia-lợi, Lỗ-ma-ni tiến đến dân chủ và hạnh phúc, phải xa hơn con đường từ Thụy-sĩ, Phần-lan.

Mà dù ông ta có không nghĩ như thế, có cho rằng Tiệp-khắc sung sướng và tự do hơn Thụy-điển đi chăng nữa, thì sự hơn thua chút ít cũng không đến nỗi bắt phải đổi lấy bằng ba bốn cuộc chiến tranh trong đôi ba mươi năm liền. Đáng lẽ ông ta để cho dân tộc nhỏ bé đã chịu quá nhiều đọa đày vì ngoại thuộc này được yên thân để làm ăn, để sống cho ra sống trong ít lâu.

Đã không vì nguyện vọng, quyền lợi dân tộc, ông ta hành động vì lẽ đảng ông ta nhất định phải thắng các đảng khác, vì lẽ người như ông ta không chịu thất bại nửa đường? - Chừng ấy tuổi tác rồi, lẽ nào vì tranh hơn tranh thua, mà ông mạnh tay sát hại đồng bào không xót thương đến thế? Người ta có thể vì tức khí, nóng giận mà tàn nhẫn, vung tay quá đà. Đó là chuyện nhất thời. Còn ông, ông dai dẳng quá.

Vì cuồng tín chăng? Vì tự ái chăng? Vì cái gì ông ta cũng đáng trách đáng giận quá.

Nhưng trong vấn đề này, trách móc với giận hờn đâu có ăn thua gì. Một biểu thị tình cảm: thật vu vơ, vô hiệu. Ăn thua chỉ có chiến lược thâm hiểm, hành động thích hợp. Lời nói - dù nhã hay bất nhã - rồi sẽ bay đi theo mây gió. Chỉ có hành động mới sửa đổi được tình thế. Mà hành động thì...

Thì rồi chắc chắn ở phía bên này thoạt tiên ai nấy sẽ nhảy lên mừng hòa bình, rồi tiếp sau đó sẽ bất đồng cãi cọ nhau ỏm tỏi về chuyện xây dựng, sẽ tranh nhau làm ăn tới tấp. Cùng lắm, lâu lâu sẽ có người sáng suốt nhắc khẽ đến chiến tranh chính trị. Thế thôi.

Trong lúc ấy Bắc Việt lặng lẽ điều khiển cán bộ của họ ở trong nầy âm thầm nhen nhóm cơ sở. Rồi đôi ba năm sau, một ngày nào đó xét thấy thuận tiện, họ cho lệnh bùng nổ. Thế là chiến tranh tái diễn.

Chiến tranh tái diễn: mọi người trên thế giới đang sống an lành bỗng bị quấy rầy, bị ảnh hưởng, có một số bị lôi cuốn vào chiến cuộc, lấy làm lo ngại, bực mình, quay đầu về cái xứ lắm chuyện này nhìn bằng cái nhìn xoi mói, nghiêm khắc, trách vấn: "Rầy rà thật! Ra cái xứ ấy tệ thật, tự xử không nên thân. Loạn lạc này đích thị do độc tài, tham nhũng, bất công, kỳ thị tôn giáo v.v... khiến dân chúng bất mãn nổi lên chống chế độ. Dung dưỡng những chính quyền, những chế độ như thế chỉ tổ tai hại v.v..."

Chiến tranh ác liệt thêm: lương tâm nhân loại bị xúc phạm, các nhà triết học gọi nhau họp ở Thụy-điển, các luật gia rủ nhau họp ở Grenoble v.v... trịnh trọng suy tư, trịnh trọng bàn cãi, rồi lên án, kết tội v.v... Trong khi ấy các lãnh tụ Hà Nội họ chỉ cần khéo che miệng nín cười. Đó là điều quan trọng: họ không được phép cười. Họ không được phép chế giễu lương tâm và trí thông minh của loài người. Họ không được vô lễ; họ chỉ được tiếp tục đánh thật mạnh.

Cứ thế cho đến khi hoặc chúng ta chịu không nổi những đòn đánh từ bên ngoài và những dằn xóc từ bên trong, chúng ta bỏ cuộc và cộng sản tiến đến Cà Mau; hoặc bên phía chúng ta cùng đồng minh có những kẻ thật chì, cộng sản liệu ăn không nổi, thế là lại điều đình và lại xếp đặt một kế hoạch khác... Như vậy không biết đến bao giờ.

Còn ba mươi hai năm nữa, chúng ta bước sang thế kỷ XXI. Nhiều người xem như bước sang một kỷ nguyên mới, một nền văn minh mới: con người sẽ không chỉ biết có quả đất, nhiều quốc gia sẽ tiến đến nền kinh tế kỹ nghệ hậu. Đó chưa hẳn là cực lạc, nhưng cũng là cái gì vượt xa tình trạng hiện tại. Thiên hạ nô nức đua nhau tiến đến mặt trăng, đến kinh tế kỹ nghệ hậu. Như thể cá vượt Vũ Môn.

Riêng dân tộc chúng ta, ba mươi hai năm nữa e vẫn còn đánh nhau, nửa nước túm lấy nửa nước dìm nhau trong bể máu. Các dân tộc, bất cứ da đen hay da đỏ, đều có thể nô nức, hy vọng ở thế kỷ XXI. Riêng chúng ta, chúng ta chỉ còn có mỗi một điều để đón đợi: là hết chiến cuộc này đến chiến cuộc khác, nếu Hà Nội không từ bỏ quyết tâm của họ. Và cho đến bây giờ, họ chưa có dấu hiệu từ bỏ.

Hỡi các em bé của đồng bằng Nam Việt xanh ngát bị bắt đưa đi, từng hàng từng lớp nối nhau dìu nhau ra núi rừng Việt Bắc! Riêng về phần mình, các em đã chịu côi cút ngay từ lúc này; còn đất nước thì sẽ vì những chuyến ra đi của các em mà lâm vào cảnh đau thương bất tận. Tai họa hiện xảy đến cho các em cũng là tai họa về sau cho xứ sở. Đã sáu tháng qua rồi. Dù người ta có thôi dài cổ ngóng về Ba-lê, để nghĩ cách cứu các em, thì cũng đã muộn.

Nhưng đâu có ai chịu thôi ngóng chờ? Và trong không khí thấp thỏm chờ đợi hòa bình, ngày ngày báo chí chỉ những rập rình từng thoáng tin ngưng oanh tạc, tôi hướng về các em những ý nghĩ vô cùng buồn thảm, đen tối.

10 - 1968

1 Nhan đề bài này mượn từ một cuốn sách của Phùng Khánh, dịch truyện The Catcher in the Rye của J.D. Salinger. Sách Phùng Khánh do Thanh Hiên xuất bản năm 1967 tại Sài Gòn.

Truyện Sưu Tầm: Cay đắng

ĐóngTruyện ngắn: Cay đắng
 
Nàng mở tivi xem tiên đoán thời tiết. Cuối tháng Mười, ban ngày cao nhất 21 độ C; ban đêm trời lạnh xuống 10 độ C. Nàng gọi thằng con phụ bê chậu ớt hiểm vô nhà, không quên đứng lại ngó giàn khổ qua có chỉ độ năm, sáu trái lớn sắp sửa hái ăn được. Năm nay, cũng như nền kinh tế suy thoái, ông trời tiết kiệm năng lượng, giảm bớt những ngày hè nắng nóng. Thời tiết cũng bày trò thắt lưng buộc bụng, tiết kiệm chi tiêu, cho nên mùa hè đến muộn và ra đi hơi sớm. Ðể cho nàng phải mất công dời chậu ớt vào nhà mỗi đêm. Nàng thương nó lắm, sợ nó chết lạnh.

Chậu ớt thật sai trái, có hàng trăm quả vừa chín vừa hườm cộng với vô số quả non và hoa còn búp. Những đóa hoa trắng muốt năm cánh nhỏ xíu thấy dễ thương làm sao; chúng trông giống như hoa đeo tai của mẹ nàng để lại cho nàng. Đôi hoa tai chỉ còn là vật kỷ niệm được cất kỹ trong tủ suốt cả năm, nàng hiếm có dịp đem ra để đeo. Những trái ớt trông cũng xinh, không tròn không dài mà cũng không cong, cứ thon thon bóng chắc. Trông thôi đã đẹp, chành môi và hé răng cắn nó một một phát nghe giòn cay trong miệng, nước bọt tươm ra cho vị cay hòa quyện nhai chung với thức ăn rồi nuốt một cái tọt xuống cổ họng trong khi mùi thơm nồng xông lên hốc mũi kích thích tuyến nước mắt tiết ra cho mắt long lanh; bữa cơm với món ăn đơn giản nào chăng nữa cũng trở thành ngon miệng.
Ai nói ăn ớt làm tăng thân nhiệt hại gan hại da thì không biết chứ riêng trường hợp nàng ăn ớt hàng ngày mà da mặt nàng vẫn căng tươi mịn màng, không cần phải dùng đến sữa ong chúa. Cha nàng thì nói không có ớt thà nhịn ăn cơm. Con trai nàng 21 tuổi vẫn không có mụn trên mặt. Riêng chồng nàng… chỉ cữ ăn ớt từ khi lâm bệnh. Sẵn tính đa cảm và yêu chồng, nàng tư lự nghĩ vu vơ, ớt chín làm chi trong khi chồng nàng không còn hái ăn mỗi ngày nữa. Anh bị ung thư đại tràng và đang được trị liệu; chuyện ăn uống kiêng cữ nghiêm nhặt, không còn hứng thú ngon miệng như xưa. Hôm trước mưa giông bất chợt, nàng không có ở nhà, chậu ớt bị ngã đổ, đất rơi rớt ra khỏi chậu, mấy cành bị gẫy, nàng xuýt xoa thương xót. Dường như nàng thương xót tất cả mọi vật với muôn loài. Người hoạn nạn, người nghèo khó, chim non gặp nạn trong mưa bão từ trên cây trước nhà rơi xuống, cả con ruồi con muỗi bay vô nhà nàng cũng cố công tìm mọi cách xua nó ra chứ không đập chết.

Gia đình nàng dọn đến xóm này đã được hai năm. Căn nhà chủ trước đề bảng bán chỉ trong vòng hai tuần lễ là đã có người mua. Lại thêm một gia đình người Việt, xóm này mừng có thêm đồng hương. Thế mà chỉ mới đây thôi, người ta mới biết một ít gốc gác về gia đình nàng gồm bốn người: cha nàng, vợ chồng nàng và con trai nàng. Ðáng làm cho hàng xóm chú ý là chậu ớt sai trái xanh đỏ với giàn khổ qua đèo leo phủ ban công. Ðáng chú ý hơn nữa là nhân vật nữ chủ của vườn treo đó.

Gương mặt của nàng luôn đượm một nét buồn tiềm ẩn diệu vợi. Ðôi mắt của nàng long lanh rười rượi như mặt hồ mông mênh huyền thoại phản chiếu bầu trời trong xanh đầy mây trắng. Ai nhìn thấy nàng không khỏi có ý nghĩ là nàng vừa khóc xong hay sắp khóc. Nước mắt như đã dâng đến bờ mi rồi, chực chờ, sóng sánh chỉ một chút giao động tình cảm là trào ra. Nỗi buồn ấy chất chứa từ tiền kiếp người phương Nam trên dòng sông chín con rồng uốn khúc cuốn đất phù sa trôi ra biển cả, đượm hơi hướm và chất liệu của những bài ca như vọng cổ hoài lang, xàng xê, nam ai, giang nam, kim tiền bản, nam xuân, sâm thương não sầu ai oán.

Mẹ nàng chuyển bụng trong một đêm Mậu Thân giới nghiêm có tiếng đạn hỏa tiễn 122 ly véo vút trên bầu trời từ hướng Tân Qui Ðông. Ðạn bắn vào thủ đô để gây kinh hoàng chứ không nhất thiết nhắm nhằm mục tiêu quân sự hay công thự nào. Yêu cầu đồng bào hãy ở yên trong nhà, đừng ra ngoài đường để tránh mọi rủi ro. Thông cáo trên đài phát thanh ra rả. Nhà nhà lo mua gạo, mắm muối cá khô. Cha nàng đi trấn thủ miền xa tận Lộc Ninh đất đỏ bụi mù. Tất cả các đơn vị ứng chiến một trăm phần trăm. Bảy mươi hai tỉnh thành trên toàn quốc bị giặc tấn công.

Cảnh nhà đơn chiếc. Bà ngoại nàng quýnh quáng lo sợ “Rán nín tới sáng được hôn con?” “Không được má ơi…Phải đi ngay bây giờ…Ở nhà lỡ có bề gì…” Ngoại run vì sợ, cầm giơ cao cây đèn dầu dìu mẹ nàng đang ôm bụng cắn răng dằn cơn đau lội bộ đi đến nhà bảo sanh. “Ai đó? Ðứng lại!” Toán thanh niên Nhân Dân Tự Vệ gác trong xóm đề cao cảnh giác. Ngoại càng run. “Dạ… tui đưa con tôi… đi đẻ.” Cuộn giây thép gai giăng ngang đường lộ được mở ra một khoảng trống vừa đủ cho hai người đàn bà run sợ đi qua. Lên dốc Cầu Chông Quận Tư mẹ nàng quị xuống. Bà ngoại nàng hốt hoảng gọi “Con ơi! Ráng đi chút nữa đi con! Gần tới rồi.” Mẹ nàng gượng dậy lê lết. Một tiếng nổ kinh hồn. Ngoại ngoái nhìn xóm Cư Xá. Lửa khói bùng lên. Bà thảng thốt kêu, “Chết rồi! Xóm nhà mình con ơi!”

Rồi nàng cũng lọt lòng mẹ chào cuộc đời gian nan, và được đời chào lại bằng tiếng súng đủ loại, bằng hỏa châu, và bằng khói lửa chiến tranh. Bà đỡ buột miệng khen, “Tuổi con khỉ, mặt đẹp quá!” Mẹ gượng cười nhọc mệt. Ngoại mừng vui quên cả mệt nhưng vẫn còn run. Tiếng khóc oa oa của trẻ thơ chen lẫn với tiếng động cơ trực thăng võ trang bay, tiếng gầm rú của hỏa tiễn bắn vào các vị trí đặt súng của địch quân. Ở đây một đứa trẻ vào đời; đàng kia có người bị chiến tranh cướp đi mạng sống.

Ba hôm sau mẹ bồng đứa con sơ sinh trở về, cũng may căn nhà khiêm nhường chỉ bị tróc mất vài miếng ngói. Chờ đến khi cứng cáp, mẹ nàng bất chấp lời ngoại khuyên, bồng con đi Lộc Ninh để cùng chồng đồng lao cộng khổ. Nàng trải qua những năm đầu đời trong vòng rào kẽm gai, nhà lợp mái tôn và hầm bằng bao cát. Lớp học mẫu giáo nằm ngay trong trại gia binh, giữa những tiếng ê a i tờ và các bài hùng ca của lính là tiếng súng ầm ì với đèn trời hỏa châu thắp sáng nhiều đêm. Tháng Tư Bảy Lăm oan nghiệt, con bé có khuôn mặt bầu bĩnh và đôi mắt to đen hớt hãi nắm tay mẹ chạy theo đoàn người di tản. Lần này mẹ khuỵ xuống ra đi vĩnh viễn bởi đạn thù. Mẹ xuôi tay. Người quen lôi nàng chạy đi. Từ đó nỗi buồn.

Khuôn mặt nàng khá tròn đầy. Sự tròn đầy còn được thể hiện nơi cả mí mắt, má, môi và cằm. Nàng không có vẻ gì yếu đuối về thể chất cả. Trái lại, gương mặt đó có nét uy nghiêm với một ít nét quí phái giống bức tranh tuyệt tác Mona Lisa của nhà danh họa Leonard Da Vinci. Ồ, nhưng mà không, nàng không phải là một Lisa Gherardini, vợ của nhà buôn vải Francesco del Giocondo ở Florentine (nên người Ý mới gọi là La Gioconda hay La Joconde bởi người Pháp) giàu có thừa tiền của mướn họa sĩ vẽ tranh. Nàng chỉ là một người Việt di dân tầm thường đi làm tư chức hãng xưởng nuôi gia đình trong thành phố này.

Mỗi lần rời khỏi nhà đi ra ngoài, nàng ăn mặc y phục kín đáo một màu sẫm buồn. Làn da trắng hồng tươi mát có được chắc là nhờ dược chất chống độc tố trong ớt mang lại. Nhưng chính chiếc khăn choàng trên mái tóc đen tuyền mới làm cho nét buồn sâu lắng của nàng tăng lên và nổi bật. Sao nàng không cười để gợi liên tưởng đến hình ảnh Jackie Kennedy ngồi trên chiếc xe limousine mui trần bên cạnh ông chồng tổng thống ngay giây phút trước khi ông bị ám sát buổi trưa một ngày tháng Mười Một năm 1963 nơi thành phố Dallas. Nàng chưa thành quả phụ. Nhưng điều đó nào có khác gì vì lẽ chồng nàng đang khắc khoải sống trong bệnh tật và hiếm thấy đi ra khỏi nhà. Từng gánh nặng nầy đến gánh nặng khác tạo ra những giọt lệ âm thầm đè nén để khỏi kèm theo tiếng khóc.

Hãy nghĩ đến một so sánh khác gần gũi hơn và xác thực hơn; nàng giống hoàng hậu Soraya của Ba Tư. Nàng Mona Lisa là một nhân vật trong tranh xa xưa từ thế kỷ thứ 16; Soraya là một nhân vật thật ngoài đời thời cận đại ngay trong kỷ niệm thiếu thời của cha mẹ nàng. Mona Lisa hơi mỉm cười, biểu lộ một sự thỏa mãn hạnh phúc ngấm ngầm. Có nhà khảo cứu tranh vẽ còn đi xa hơn, cho rằng đó là nụ cười của một phụ nữ vui sướng vì sắp được làm mẹ sau khi đứa con gái đầu lòng qua đời. Người ta khẳng định Mona Lisa có bầu. Soraya thì khác. Với nét đẹp u buồn của bà, báo chí Saigon trong cuối thập niên 60 đặt cho bà một biệt danh là Hoàng Hậu Sầu Muộn; sầu muộn vì do bệnh vô sinh của bà, luật pháp khắt khe của Ba Tư ép buộc nhà vua ly dị bà và lấy vợ khác. Vừa không thể sinh con để làm mẹ vừa mất ngôi vị hoàng hậu khi mới 25 tuổi, Soraya buồn bã u sầu đến chết. Danh hiệu hoàng hậu sầu muộn còn đó để trao lại cho nàng.
soraya
hoàng hậu Soraya
Nàng cũng mất đi khả năng sinh đẻ sau một lần mang thai đứa con thứ nhì. Nỗi buồn chồng chất thêm lên, hay là nỗi hối tiếc không thể ban tặng một món quà tình yêu cho người chồng sau; người đã đem lại tình yêu đích thực cho nàng. Tên của nàng là Tuyền, là dòng suối, ở trường hợp nàng là một dòng suối nước mắt. Sự sầu muộn của nàng chất chồng theo những chuỗi ngày gian truân vất vả trong chiến tranh ly loạn, nối tiếp trong xã hội cộng sản khắc nghiệt. Số phận buồn thảm của một đứa bé bảy tuổi có mẹ gục chết trên đường chạy loạn và có cha là quân nhân bị bắt đi tù. Những năm tháng được bà ngoại cưu mang cho đi học, cột khăn quàng đỏ vào lớp và hát những bài ca lạ lẫm không làm cho cô bé vui hơn tí nào. Bác Hồ cùng chúng cháu hành quân, sao lúc cháu thi đua kế hoạch nhỏ đi nhặt bao ny lông không có bác. Trường Sơn Ðông Trường Sơn Tây, sao cháu chỉ biết có sườn bên trái sườn bên phải nhô ra vì cái bụng lép kẹp. Tiếng chày trên sóc Bom Bo, sao cháu chỉ nghe tiếng giầy công an nửa đêm xét nhà bố ráp. Cuộc sống sao quá cơ cực. Ðói, đau yếu triền miên. Những năm tháng tủi cực đầu đời ươn hạt buồn vào người phụ nữ đáng thương ấy. Gương mặt buồn của nàng có sức thu hút làm cho người nhìn buồn theo.

Mười chín tuổi, nàng phải ngã vào vòng tay một gã công an khu vực để có phương tiện nuôi cha trong tù và trả ơn cho ngoại. Tuổi hắn gấp đôi tuổi nàng. Hắn ve vãn lúc ban đầu, sau đó hù dọa ép buộc. Với quyền lực nằm cả trong tay của hắn, nếu từ khước và chống trả thì nàng chỉ mang họa vào thân, thôi đành nhắm mắt xuôi tay trôi theo dòng đời mặc cho số phận. Cả quê hương này đều bị đàn áp cưỡng bức chứ không chỉ riêng nàng.

Tuyền đi thăm nuôi cha trong trại tù mà người cộng sản gọi là cải tạo, cha hỏi, “Tiền ở đâu con có mà đi thăm Ba?” Tuyền buồn lắm, cúi đầu giấu hai dòng nước mắt. Cha nàng không nỡ làm khổ con hơn nên chỉ nói, “Con làm gì miễn là đừng để cho vong linh của mẹ con phải tủi hổ và Ba khỏi bị sỉ nhục.” Nàng cũng giống như hầu hết những người đàn bà Việt Nam, tâm từ bi hỉ xả, thương tất cả muôn loài, cam chịu số phận chứ ít khi mang lòng oán hận. Lời cha nói chỉ làm cho tâm can nàng sầu khổ, thương lo cho cha còn hơn chính bản thân.

Khi cha nàng ra tù, mối liên hệ của nàng với gã công an cũng chấm dứt, để lại cho nàng một đứa con trai và một cú bị xẩy thai tưởng chết. Hắn thuyên chuyển đi nơi khác, theo đuổi con mồi khác. Nàng dửng dưng, chẳng oán trách hắn, vẫn hết lòng yêu thương đứa con tuy không phải do tình yêu chân thật ban cho nàng. Sự cắt đứt tình cảm này có làm cho vong linh mẹ đỡ tủi hổ hơn không, cha nàng có đỡ cảm thấy bị sỉ nhục hơn không, nàng không rõ lắm. Nàng còn phải bận bịu với sự bươn trải kiếm sống. Nàng tạo được một quày hàng ngoài chợ buôn bán tạp hàng tế nhuyễn. Sá gì chuyện dãi nắng nằm sương, gương mặt u buồn ấy vẫn toát lên nét đẹp quyến rũ những tâm hồn đa cảm.
Ðể rồi một ngày định mệnh, người thanh niên đó dừng chân trước quầy hàng của nàng để mua một ít kim chỉ. Hai đôi mắt buồn diệu vợi nhìn nhau như thấu hết tâm can của nhau, như truyền cho nhau tất cả bao nỗi bi lụy nhọc nhằn. Nàng muốn an phận ở vậy nuôi con nhưng trái tim yêu đã rung động trước người thanh niên gầy ốm ấy.
“Trời xui khiến em gặp anh làm gì?”, trong một lần hẹn hò nàng hỏi.
“Em nói vậy là em cũng yêu anh?”, chàng hỏi. Nàng gật đầu.

Rồi nàng kể hết chuyện đời nàng, kể cả chuyện nàng không thể sinh con được nữa, xong nàng khuyên chàng nên xa lánh nàng đi là hơn. Chàng nhất quyết đòi cưới nàng, muốn sống trọn đời bên nàng, “Ðể chia sớt nỗi khổ cho em… hay là mang lại thêm nỗi sầu cho em cũng không biết chừng.”, chàng vuốt tóc nàng và đáp, vuốt tóc để nhìn rõ từng nét của khuôn mặt u buồn ấy. Người em sầu mộng. Tại sao nét đẹp buồn lại quyến rũ lòng người, hay đó là khiếu thẩm mỹ của những tâm hồn nghệ sĩ sống bằng trái tim hơn là bằng đầu óc thực tế.

Và bây giờ…
Chàng đi bác sĩ khám bệnh mới hay mình bị ung thư ruột già phải cắt, đang được trị liệu tại nhà và nhà thương. “Anh đã mang lại toàn cay đắng cho em”, chàng buồn rầu than; nàng chợt nghĩ hay là tại cây ớt của nàng trồng tốt quá luôn sum suê trái chín khiến cho chàng ăn nhiều mà mang bệnh? Một lần theo chồng đi khám bệnh, nàng hỏi bác sĩ có phải vì ăn nhiều ớt mà bị ung thư ruột già không; bác sĩ bảo không phải. Nàng đỡ phải ân hận. Cha và chồng nàng thì bảo ăn gỏi khổ qua và nhiều ớt cho quên đắng cay của cuộc đời. Trong mỗi bữa cơm chiều, cha vợ và thằng rể tâm đầu ý hợp nhâm nhi lon bia cho nó tiêu cơm. Trong nhà chỉ có mỗi một mình nàng là phái nữ; chuyện cơm nước một mình nàng lo. Ðàn ông Việt Nam ăn uống tưởng là đơn giản nhưng xem ra lại rất kén chọn. Cha nàng, chồng nàng, và ngay cả thằng con trai nàng đang còn đi học cũng chỉ thích ăn và ăn ngon những món do chính tay nàng nấu. Và cả ba người đều thích ăn ớt với khổ qua. Khổ qua hầm dồn thịt, khổ qua xào trứng, xào thịt bò, gỏi khổ qua.

Thức ăn lắm món, con người lắm họ. Gia đình nàng bốn người mà có ba họ khác nhau. Cha con nàng họ Nguyễn, đứa con riêng họ Trần, và người chồng hiện giờ họ Huỳnh. Khá rắc rối phải giải thích vòng vo khi làm giấy tờ. Nàng chỉ mong đừng ai hỏi đến, đừng ai khơi lại một vết thương lòng. “Ðắng cay cay đắng đã nhiều/ Ớt cay mướp đắng bao nhiêu cũng thừa.” Oái oăm thay cho cuộc đời nàng. Bốn người sống chung một nhà, im lặng, hòa thuận, nhưng sao vắng nghe thấy tiếng cười. Họ sống âm thầm quá, như muốn khép kín cô lập với thế giới chung quanh. Ớt cay và khổ qua biến người ta trở thành như thế chăng?

Nhớ lại đầu mùa Xuân năm ấy, Tuyền lấy làm lạ khi cha nàng đi xuống phố Tàu mua về một chậu ớt mới chớm nở vài cái bông trắng muốt xinh xinh, và một chậu cây khổ qua còn nhỏ. Ông mua vì ngẫu hứng qua cầu. Từ lâu ông chẳng thiết tha trồng một thứ gì nữa, không phải vì ông sống trong một ngôi nhà townhouse không vườn đất mà chỉ vì thấy rau cải hàng ngày ông đã ớn. Ông làm nghề hái lựa rau quả trong nông trại, sáng xe van tới rước, tối thả ông về, rau cải lựa dư ra mang về mỗi ngày ăn không hết. Lúc ra khỏi nhà lội bộ qua mấy khu phố, ông chưa hề có ý định mua nó và trước đó cũng không. Ông chỉ muốn xuống đây ăn một tô mì hoành thánh xá xíu rồi đi rảo chơi một lúc. Thế nhưng khi bà bán hàng bên lề đường chật hẹp chìa chậu ớt đến trước mặt ông mời mọc, ông thích nó ngay. Ông hỏi, “Cay hôn?” “Cay chớ! Ớt hiểm mang giống từ Việt Nam qua mà!” “Bao nhiêu?”, ông hỏi. “Năm đồng”, bà bán hàng đáp. “Khổ qua nầy đắng hôn?” “Ðắng chớ! Giống từ Việt Nam mang qua mà!” “Bao nhiêu?” “Năm đồng. Hai thứ mười đồng.” Ông móc túi trả tiền không thắc mắc. Chậu ớt gọn xinh thiệt, và cây khổ qua coi bộ cũng xởn xơ mơn mởn. Ông hài lòng. Thây kệ, làm quà cho con gái trồng chơi có trái thì ăn, không thì thôi coi như trồng làm kiểng.

Hai lần dọn nhà, gia đình nàng đi đâu chậu ớt đi theo đó. Khổ qua thì mỗi mùa nàng chọn một trái tốt nhứt để chín già trên cây rồi hái lấy hột để dành cho năm tới đem ra ươm. Không ngờ chậu ớt cứ lớn dần, sống năm này qua năm nọ, sinh con đẻ cái. Chồng nàng sang nó từ chậu nhỏ qua chậu lớn hơn theo đà phát triển của nó, từ một chậu chiết cây con ra thành nhiều chậu đem cho người quen, nhưng chỉ qua được một mùa, các cây ớt cho người quen đều tàn rụi, trong khi cây ớt của nàng vẫn ra sai trái, cứ như là một đền bù cho sự vô sinh của nàng. Khổ qua cũng vậy, giây bò dài phủ khắp lan can, trái lòng thòng ngộ nghĩnh.

Kể cũng lạ, hai món nàng trồng đều khỏe mạnh mau ra hoa kết trái, trong khi căn kế vách trồng hoa thường bị sâu bọ đục khoét. Theo lời cha dặn, mỗi khi lột vỏ tôm nấu canh bầu, nàng chịu khó vùi từng vỏ tôm xuống đất trong chậu. Cha nàng thì thích ngồi nơi bàn ăn trong nhà bếp ngó ra cửa kính ngắm nghía săm soi và siêng năng dời nó theo hướng nắng chiếu qua cửa sổ. Những lúc ấy đôi mắt ông nhiu nhíu lại làm những luống cày của thời gian trên trán ông hằn rõ hơn. Chắc là ông sống lại với kỷ niệm, nhất là những năm tháng tù đày ăn đói triền miên, ngay cả một quả ớt đưa cay cũng không có.

Ớt hiểm, khổ qua gì cũng mang giống từ Việt Nam qua mà, ông nhớ lời bà bán hàng quảng cáo, chẳng biết thật vậy hay không. Quê nhà, quê nhà… ông bắt nghĩ tới người vợ đã qua đời. Giá mà vợ ông còn sống thì năm nay cũng đã được hưởng tiền già. Thấm thoát mà ông đến ở xứ lạnh này cũng đã được mười bảy năm và ăn chắc cũng đã hơn mười ngàn quả ớt, càng ăn càng thấy ít cay đi, khổ qua mua ở đây cũng không đắng bằng khổ qua ngày xưa ở quê nhà. Ông đem điều nhận xét nầy ra nói với con gái ông. Nàng buồn rầu nghĩ, còn khổ qua và ớt nào đủ đắng cay khi đời người đã chất chứa quá nhiều cay đắng.

Nàng nhớ mang máng từ thuở nhỏ từng nghe mẹ kể rằng cha mẹ nàng gặp nhau và quen nhau khi họ cùng đi chung một chuyến đò từ bến Trưng Trắc tỉnh lỵ Mỹ Tho qua Cồn Phụng viếng thăm giang sơn Ông Ðạo Dừa. Trong một lúc hiếm hoi, nàng hỏi cha, “Con nghe má nói hồi đó ba má gặp nhau ở Mỹ Tho có phải không ba?” “Phải”, ông đáp, “Sao bỗng dưng con hỏi?” “Má nói ba má đi chung ghe qua Cồn Phụng.” “Ừ.” “Rồi sao hả ba?” “Ghe bị sóng gió lớn muốn lật chớ sao. Má con bị nước tạt ướt áo dài và sợ xanh mặt. Ba nói: Cô đừng sợ. Ghe có chìm thì cô cứ nắm chặt lưng quần tôi; tôi sẽ lội vô bờ.” May quá ghe không chìm, chớ lúc đó ba chỉ hứa đại vậy thôi vì ba chưa hề cứu ai khỏi chết chìm thì làm sao ba biết sẽ cứu nổi má con. Quen nhau từ chỗ đó rồi cưới nhau. Vậy mà tới bảy lăm cứu không được.”

Ông nuốt nước bọt. Yết hầu ông chạy lên chạy xuống. Nàng biết ông xúc động. Nàng thở dài. Ông lảng qua chuyện khác:
“Nhiều khi nghĩ tới mộ phần của má con nằm trong vườn quê ngoại lẻ loi, ba cũng phân vân không biết ba có nên về bển chờ chết để được chôn cất bên cạnh má con hay không.”
Nàng vội lên tiếng:
“Ba ơi, Ba hãy ở đây có con có cháu đùm bọc lẫn nhau. Người già bịnh tật ở đây được chăm sóc chu đáo. Ba về bển không có ai lo cho Ba. Một mai Ba có mất thì con sẽ mang tro cốt Ba về chôn bên cạnh mộ Má. Ba đừng lo chuyện đó.”

Dường như ông không chú ý lắng nghe những lời con gái ông nói. Hồn đang trôi ở đâu đâu, ở những trận đánh cận kề với cái chết, những lúc ngồi dưới hố cá nhân chong mắt đợi thù xung phong sau đợt pháo kích, ở ngày tang thương rời bỏ đơn vị theo lệnh đầu hàng, ở những buổi ngồi co ro trong trại tù hát lại cho nhau nghe những bài ca lính cũ. “Làm một bài đi! Bản ruột Dấu Ðạn Thù Trên Tường Vôi Trắng đó!”, bạn tù xúi. Ông cất tiếng:
“Có một lần lòng nghe như khát khao nhiều
Lúc hai đứa mới nghe mình yêu
Lối về nhà em nghiêng dốc nắng hoang liêu
Thấy bâng khuâng thấy như còn thiếu…”

Ðịnh mệnh chăng? Tại sao ông yêu thích và hay hát bản nhạc đó của Trần Thiện Thanh? Bản nhạc ra đời ngay sau Tết Mậu Thân tang thương khói lửa. Hay cũng chỉ vì ông thu hút bởi tranh minh họa của bìa bản nhạc? Một thiếu phụ nằm nghiêng dưới một gốc cây già trụi lá bên đống gạch vụn đổ nát từ bức tường vôi trắng đầy vết đạn làm nền với những mái ngói tan hoang. Quì bên cạnh xác thiếu phụ xõa tóc rối trong tư thế như nằm ngủ đó là người lính Biệt Ðộng đội nón sắt chống báng súng R-15 xuống đất nhìn vào xa xăm.

Tranh bìa minh họa đó phóng tác theo một bức ảnh đăng trên tạp chí LIFE do người phóng viên chiến trường chụp khi theo chân một đơn vị Biệt Ðộng Quân phản công quét sạch Việt Cộng ra khỏi ven đô Quận Tám và khu vực Cầu Chữ Y. Bức tranh như muốn diễn đạt ý của hai câu “Nhưng không chết người trai khói lửa/Mà chết người gái nhỏ hậu phương” trong bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan. Ý tưởng đó thích hợp hơn với cảnh loạn ly ngay trong phố phường Chợ Lớn, Huế, Mỹ Tho, Trúc Giang hay những đô thị khác của miền Nam. Tiếng hát Nhật Trường cất lên truyền đạt câu chuyện thương cảm qua làn sóng điện chương trình phát thanh Tiếng Hát Ðôi Mươi mỗi tuần vào tối Thứ Hai trên Ðài Tiếng Nói Quân Ðội khiến hàng ngàn thính giả ngậm ngùi nghe mềm lòng.

Bây giờ giọng của cha nàng đã khàn đục, và từ lâu ông không còn hát hò gì nữa. Nhưng lời của bài hát đó ông vẫn chưa quên:
“Nhưng đâu có ngờ rằng trời xanh kín mây dại,
Lần yêu cuối trong đời là lần yêu trong lửa khói.
Cuộc tình mong manh chưa đẹp sắc thắm hoa hồng,
Mà đạn thù in sâu cho tường trắng bỗng hoen mầu.
Người theo gót đơn vị từng ngày thương mấy cho vừa,
Được tin bên chiến hào rằng người yêu không còn nữa
Trở về nơi xưa,
Trời còn giăng mưa cho nghe nặng yêu mến xưa…”

Chỉ hát trong trí thôi cũng đủ làm cho ông cảm thấy cõi lòng rưng rưng. Không hiểu sao, ông cứ nghĩ khi vợ ông ngã gục xuống bởi đạn thù tháng Tư năm ấy, nàng cũng nằm trong tư thế đó theo như lời đứa con gái bảy tuổi của ông kể lại. Lạ một điều, Tuyền, con gái ông cũng ưa thích hát những bản nhạc buồn và thỉnh thoảng nàng vẫn hay vừa làm việc vừa ngâm nga. Làm bếp, ủi quần áo mặc đi làm, nàng hát nho nhỏ, món giải trí trong sáng trong thế giới riêng của nàng. Tuy đã bước qua ngưỡng cửa tuổi bốn mươi, nàng vẫn còn trẻ đẹp. Nét sầu muộn trên gương mặt không đủ sức làm cho nàng già đi trước tuổi. Nét sầu muộn ấy có khi trái lại còn làm cho nàng nổi bật lên giữa đám đông.
Thu đang đến, Ðông sẽ qua rồi mùa Xuân năm tới sẽ về. Khi nhiều nhà trong xóm này bắt đầu trang hoàng làm đẹp bằng những lẵng hoa, trên ban công căn nhà của người đàn bà tên Tuyền sầu muộn ấy sẽ lại xuất hiện một chậu ớt và một giàn khổ qua như để nhắc nhở rằng nơi đây đang âm thầm sống một người đã quen rồi những nỗi đắng cay.

Phan Hạnh

Bài Xem Nhiều