We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 26 October 2014

Giáo xứ Thái Hà: “Một tấc đất là một giọt máu của tổ tiên để lại”

VRNs (26.10.2014) – Hà Nội –  Sau thánh lễ và cuộc rước kiệu kết thúc tháng Mân Côi lúc 21 giờ, hôm qua 25.10, cha Giuse Nguyễn Văn Phượng, chánh xứ Giáo xứ Thái Hà và cha Gioan Lưu Ngọc Quỳnh, quản lý Tu viện DCCT Hà Nội đã ngỏ lời với cộng đoàn liên quan đến khu đất Hồ Ba Giang. Các ngài khẳng định quyền sở hữu của Giáo xứ và Nhà Dòng đối với khu đất Hồ Ba Giang mà chính quyền đang cho người thi công trái phép và nói với cộng đoàn: “Chúng ta không nhân nhượng! Chúng ta không thể để cướp trắng như vậy. Một tấc đất là một giọt máu của tổ tiên để lại.”
Ngỏ lời với Cộng đoàn trong ngôi nhà thờ Giáo xứ, cha Giuse Nguyễn Văn Phượng nói rằng: “Liên quan đến khu vực đất Hồ Ba Giang, DCCT khắp nơi trên đất nước Việt Nam đã và đang cầu nguyện. Đối với Giáo xứ và Tu viện tại đây, chúng tôi đã làm đơn khiếu nại khẩn cấp lên ông Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBND Tp. Hà Nội và các ban ngành vào ngày 16.10 vừa qua, nhưng chúng tôi chỉ nhận được câu trả lời cách chiếu lệ. Vào ngày 22.10 vừa qua, chúng tôi gửi một đơn thư khẩn cấp lần thứ hai, yêu cầu nhà cầm quyền ngưng thi công khu đất Hồ Ba Giang. Nhưng anh chị em biết, họ vẫn đang thi công. Anh chị em cũng biết thêm rằng, họ thi công cách lén lút, dùng công an, vũ lực ngăn cản mọi người tới khu vực mảnh đất này. Họ thi công vào cả ban đêm, nên càng cho thấy sự nghi ngờ ở đây. Điều này làm cho chúng tôi và bà con giáo dân cảm thấy bức xúc. Do đó, chúng tôi muốn ngỏ lời và kêu gọi anh chị em để hiệp lòng hiệp ý cầu nguyện, xin Chúa soi lòng mở trí để họ tôn trọng đất tôn giáo, những nơi thờ tự như mảnh đất của chúng ta.”
Cha Giuse Phượng nói tiếp: “Trong quá khứ cũng như hiện tại, chúng tôi vui mừng được cùng đồng hành với anh chị em. Chúng tôi vừa mừng kỷ niệm 50 năm thành lập Tỉnh DCCT Việt Nam và chúng tôi đã nhấn mạnh và nhắc đến công lao của anh chị em: Anh chị em đã cùng đồng hành, cùng cộng tác và cùng đồng phận với các tu sĩ DCCT trên mọi nẻo đường, nhất là trong việc làm chứng cho chân lý và sự thật ”
Khi ngỏ lời với cộng đoàn, cha Gioan Lưu Ngọc Quỳnh, Quản lý Tu viện nhấn mạnh đến ba điều:
“Nhà cầm quyền đã có dã tâm ăn cướp nên họ lờ đi tất cả những quyền căn bản của chúng ta. Cho nên chúng ta đừng ngộ nhận, đừng lầm tưởng. Đừng nghĩ rằng lấy cái mác là làm công viên hay làm hồ sinh thái. Trước tất cả những điều lừa lọc của nhà cầm quyền này, tôi xin quý ông bà và anh chị em cẩn thận. Chúng ta không nên để mắc lừa họ…Đừng có đưa chiêu bài làm công viên ra để mà mị dân. Nên xin ông bà và anh chị em cẩn thận đối với thói mị dân của nhà cầm quyền Hà Nội.”
“Những ngày sắp tới là những ngày khó khăn. Chúng tôi sẽ quyết sống chết đến cùng. Xin quý ông bà và anh chị em khi nghe tiếng chuông và khi nghe thấy thông tin, xin quý ông bà và anh chị em đến đây với chúng tôi. Chúng ta không nhân nhượng! Chúng ta không thể để cướp trắng như vậy. Một tấc đất là một giọt máu của tổ tiên để lại.”
“Chúng ta đã tới chính quyền để yêu cầu họ dừng lại nhưng họ đã phớt lờ và họ đã nói thẳng ra là đã được đồng ý (Chính quyền cho rằng khi còn sống, cha Giuse Vũ Ngọc Bích đã ký giấy nhượng quyền sử dụng đất cho họ). Không ai đồng ý cả! Do đó, trong những ngày tới, chúng ta phải chiến đấu: quay trở lại như năm 2008. Chúng ta thắp lên ngọn lửa của Thái Hà. Chúng ta quyết tâm không để cho nhà cầm quyền Hà Nội muốn làm gì thì làm. Chúng ta có hàng ngàn người, chúng ta có đức tin. Chúng ta có ơn Chúa và sự bảo trợ của Mẹ Hằng Cứu Giúp”
Cha Giuse Nguyễn Văn Phượng, chánh xứ Gx. Thái Hà ngỏ lời với mọi người về khu đất Hồ Ba Giang
Cha Giuse Nguyễn Văn Phượng, chánh xứ Gx. Thái Hà ngỏ lời với mọi người về khu đất Hồ Ba Giang
, cộng đoàn cùng với đoàn đồng tế trong thánh lễ rước kiệu Đức Mẹ nhân kết thúc tháng Mân Côi
Trước đó, ngay sau thánh lễ lúc 20 giờ, cộng đoàn cùng với đoàn đồng tế trong thánh lễ rước kiệu Đức Mẹ nhân kết thúc tháng Mân Côi
Cuộc rước đi xung quanh Tu viện cũ nay là bệnh viện Đống Đa và khu vực nhà đất của Tu viện nay được biến thành công viên
Cuộc rước đi xung quanh Tu viện cũ nay là bệnh viện Đống Đa và khu vực nhà đất của Tu viện nay được biến thành công viên
Cả gần ngàn người tham gia cuộc rước
Cả gần ngàn người tham gia cuộc rước
Tay cầm nến sáng và những lời kinh Kính Mừng, những bài hát về Mẹ được cất lên suốt cuộc kiệu
Tay cầm nến sáng và những lời kinh Kính Mừng, những bài hát về Mẹ được cất lên suốt cuộc kiệu
Sau lời ngỏ của cha Gioan Lưu Ngọc Quỳnh, cha Giuse Phượng khẳng định với mọi người rằng, chưa bao giờ DCCT trao quyền sử dụng đất cho nhà cầm quyền. Ngay cả cha cố Giuse Vũ Ngọc Bích, trước khi mất, ngài đã nói và được ghi lại: ngài không trao, hiến, tặng bất cứ một tấc đất, một cơ sở nào cho chính quyền hay cho tổ chức cá nhân nào. Do đó, khu đất Hồ Ba Giang luôn luôn có chủ sở hữu hợp pháp, không hề vắng chủ từ năm 1928 cho đến bây giờ.
Cha Giuse Phượng mời gọi mọi người hiệp nhất, gắn bó với nhau để nói lên sự thật giữa một xã hội đầy gian dối. Sau đó mọi người ra khu vực sân cạnh nhà thờ nghe cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong nói về khu đất Hồ Ba Giang trong chương trình Café Tối của Truyền Thông Chúa Cứu Thế.
Trước đó, sau thánh lễ, các hội đoàn trong Giáo xứ với cả ngàn giáo dân cùng với quý cha trong Tu viện đã làm cuộc rước kiệu Đức Mẹ xung quanh khu vực công viên và bệnh viện là mảnh đất và Tu viện trước đây của Nhà Dòng đang bị chính quyền tiếm quyền sử dụng. Đoàn rước cầm nến sang trên tay dâng lên Mẹ Maria những lời kinh Mân Côi, những lời ca tiếng hát và cả lời kinh Hòa Bình cầu nguyện cho tình cảnh hiện tại của Giáo xứ và Tu viện.
IMG_8844
IMG_8857
Các hội đoàn trong Giáo xứ tham gia đoàn rước
Quý cha ban phép lành cho cộng đoàn sau cuộc rước
Quý cha ban phép lành cho cộng đoàn sau cuộc rước
Bà con giáo dân theo dõi thông tin về khu đất Hồ Ba Giang qua màn hình tại sân nhà thờ
Bà con giáo dân theo dõi thông tin về khu đất Hồ Ba Giang qua màn hình tại sân nhà thờ
VRNs tại Hà Nội

Từ “vết thương rỉ máu”: Khi bài hát trở về

Khi bài hát trở về
Giới thiệu: Trong thời gian qua, nhiều hình ảnh của anh Điếu Cày có kèm theo hàng chữ “Khi bài hát trở về”. Nhiều bạn, và có lẽ cả anh Điếu Cày, không biết rõ nguồn gốc từ đâu. Đó là bìa tác phẩm Khi Bài Hát Trở Về của Trần Trung Đạo do các em thanh niên, sinh viên in trong nước in 5 năm trước. Dĩ nhiên in không kiểm duyệt, chuyền tay nhau đọc và phát hành trong vòng kín đáo.  Các em chọn bài Khi Bài Hát Trở Về, một trong những tiểu luận có trong tác phẩm để làm tựa cho cuốn sách và đặt tên cho nhà xuất bản là Điếu Cày. Bài viết khởi nguồn từ cảm xúc lần đầu nghe nhạc phẩm Việt Nam quê hương ngạo nghễ của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang được tuổi trẻ Việt Nam trong nước hát lên trong ngày biểu tình chống chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng năm 2008. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã đọc bài viết và nhạc sĩ Việt Dzũng cũng đã đọc một phần của bài viết để giới thiệu nhạc phẩmViệt Nam quê hương ngạo nghễ tưởng nhớ nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang. Cả hai anh đều đã qua đời. Những người yêu nước, có kẻ vừa đến và người đã ra đi nhưng bài hát đầy ngạo nghễ của một dân tộc đã vươn lên từ bao nhiêu khốn khó sẽ còn được hát.  Xin chia sẻ bài viết Khi Bài Hát Trở Về:

Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.
Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ quốc ơi ta đã nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người.
Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
 Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.
Lời nhạc của Việt Nam quê hương ngạo nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loang xoang”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi” đã làm cho Việt Nam quê hương ngạo nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau.
Việt Nam quê hương ngạo nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào. Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng đạo, Du ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ.
Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.
Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam quê hương ngạo nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tỵ nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam quê hương ngạo nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “…Thế bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh. Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.
Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông Bộ trưởng Bộ Chiêu hồi nào đặt hàng hay một ông Tổng ủy trưởng Dân vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam quê hương ngạo nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước. Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngả, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngả của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.
Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam quê hương ngạo nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Cộng bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.
Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
 Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.
Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc.
Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam quê hương ngạo nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt. Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về.
Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam quê hương ngạo nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau.
Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình.
Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo dục và Thanh niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại.
Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm. Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của “mùa hè đỏ lửa” chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam quê hương ngạo nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:
Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
 Từng ngày qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.
Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác? Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Cộng. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.
Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạcViệt Nam quê hương ngạo nghễ  như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Cộng xâm lăng.
Việt Nam, sau hơn ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Cộngtrên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Cộng chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.
Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện.
Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Cộng diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo Xung Đột Trường Sa: Ai có mặt trước? (The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.
Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.
Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa?
Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắngDậy mà điNối vòng tay lớncủa những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam quê hương ngạo nghễ.
Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.
Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những “bất hạnh”, “nỗi đau”, “tính tự ti mặc cảm”, vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.
Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngoi dậy hùng cường đi lên.
Việt Nam quê hương ngạo nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng.
Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.
Trần Trung Đạo
 © 2008 talawas, 2014 facebook
 https://www.facebook.com/notes/873290309361623/
----

Chuyện tù : Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại

Chuyện tù


Tự do và nhân quyền cho Điếu cày . Tranh Babui.“Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại,” một câu nói rất bình thường nhưng chỉ có những người đã từng ở tù thì mới thật hiểu ý nghĩa cay đắng của nó.
Sau năm 1975, “nhờ ơn” Đảng Cộng Sản Việt Nam, rất nhiều người Việt sống ở miền Nam “được đi tù.” Đại đa số những người bị vào tù trong giai đoạn đó chẳng có lý do gì chính đáng. Tôi còn nhớ trong khu nữ của Khám Chí Hòa vào năm 1975 có khoảng vài chục phụ nữ, vài người còn có con nhỏ. Trong số họ có hai chị em một cô bị bắt vào tù vì lý do “thuê nhà cách mạng.” Số là hai cô thuê một căn nhà ở cứ tưởng chủ nhân căn nhà là chủ nhân căn nhà. Không dè sau năm 1975, một hôm một ông mang theo mấy anh công ăn khu vực đến nói nhà này là nhà của ông ta và hai cô đã thuê lậu. Thế là họ bị tống giam.

Trong những năm tháng ở tù đó, một hôm một bà vốn đã là “cán bộ” Việt Cộng nhưng về đầu chánh nên sau năm 1975 bị bắt vô tù, tuyên bố với các bạn trong phòng giam: “Các chị có biết là luật nước ta có điều khoản về tội phản quốc, trục xuất ra nước ngoài tước bỏ quyền công dân hay không?” Lập tức mọi người ồ lên: “Thế hả?” Một cô trẻ tuổi, trong số sinh viên bị bắt trên đường tìm ra biển kiếm tàu chạy trốn chế độ mà chính quyền gọi là “tội vượt biên,” mỉm cười bảo, “Em chỉ ước gì nhà nước cho em tội phản quốc.”
Mà quả thật, cô em nhỏ đó đã nói lên tâm sự của tất cả chúng tôi trong phòng tù hôm đó.

Thú thật là sau khi ra khỏi nhà tù, rồi đi ra sống ở ngoại quốc, tôi cũng chưa từng tìm hiểu xem điều bà “cán bộ” đó nói có đúng không.
Sở dĩ tôi lan man nói chuyện ở tù chỉ vì chuyện ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải có vẻ như mới được nhà nước “ban cho cái tội phản quốc đó và trục xuất ra khỏi nước.”

Đã nhiều người viết về việc ông Hải được hay bị nhà nước Hà Nội trục xuất sang Hoa Kỳ. Chỉ nội trên Dân Làm Báo đã có nhiều bài.
Có những bài như bài chào đón “Ánh Sáng Điếu Cày” của Blogger Trần Trung Đạo thì cho là Đảng Cộng Sản Việt Nam nghĩ là mình khôn ngoan khi trục xuất ông Điếu Cày ra khỏi Việt Nam, bởi “theo họ, tên anh gắn liền với các phong trào chống chủ nghĩa Đại Hán Bá Quyền Trung Cộng; phong trào do anh lãnh đạo chẳng những không bị dập tắt dần theo năm tháng tù đày của riêng anh nhưng đã mỗi ngày một phát triển rộng; để anh ở lại là một mối lo canh cánh bên lòng.”

Nhưng blogger khẳng định là nhà nước Hà Nội như vậy là sai lầm lớn, bởi “Không giống như 70 ngàn người Nga lưu vong ở Paris sau cách mạng Cộng Sản năm 1917 hay hàng trăm ngàn người Việt lưu vong ngay sau Cộng Sản chiếm Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, người Việt Nam tự do hôm nay không còn mang tâm trạng lưu vong nữa. Thời đại hôm nay là thời đại của những người chết đang bắt đầu sống lại và người đi đang lần lượt quay về. Anh Điếu Cày cũng vậy, trong lòng anh không có khái niệm lưu vong, anh ra đi là để quay về. Và chúng ta sẽ về.”

Trong khi đó, một blogger khác cũng trên Dân Làm Báo thì chỉ trích “Điếu Cày bị ép rời Việt Nam - Nước cờ sai của Hoa Kỳ.”

Trong bài báo đó, Blogger Nguyễn Ngọc Già đã mang Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị cùng với hiến pháp của Hà Nội ra để khẳng định là việc cưỡng bách ông Hải ra sống ở nước ngoài là phi pháp và việc chính phủ Hoa Kỳ nhận đón ông Hải là “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tiếp tay với Cộng Sản Việt Nam làm điều phi pháp và phi đạo lý đối với dân tộc Việt Nam.”

Thú thật tôi chỉ là một nhà báo quèn, tuy cũng có đọc qua Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị cũng như bản Hiến Pháp của chính quyền hiện nay ở Hà Nội, nhưng không hiểu là liệu nhà nước có quyền hay không có quyền trục xuất dân mình và Hoa Kỳ có chính đáng hay không trong việc tiếp nhận những người bị trục xuất. Nhưng tôi vẫn còn nhớ Liên Xô đã bắt và trục xuất Aleksandr Solzhenitsyn đi Đức sau khi tước đoạt quyền công dân của nhà văn. Và sau cùng, Viện đại học Stanford đã mời ông sang sống ở Hoa Kỳ trước khi ông về sinh sống ở Vermont. Dĩ nhiên trường hợp của ông đã kết thúc tốt đẹp vì Liên Xô thay đổi và ông đã trở về sống lại ở quê hương mà ông không bao giờ quên.

Vả lại, công tâm mà nói, một quốc gia dân chủ như Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức, hay Anh Quốc thường nghĩ là thà để cho một con người được tự do dầu là phải biệt xứ còn hơn là tiếp tục để họ bị lưu đầy khi lựa chọn chỉ thu vào còn có như vậy thôi.

Hơn thế, là một trong những công dân miền Nam đã ngồi tù của chế độ Hà Nội, tôi quả thật vui mừng khi thấy ông Điếu Cầy được tự do. Bởi không có gì kinh khủng cho tinh thần con người bằng những ngày tù không biết bao giờ kết thúc. Bởi ở tù trong chế độ Cộng Sản Việt Nam ngày nay có nghĩa là vậy. Vì chính quyền sợ ông Hải, họ sẽ tìm cách này hay cách khác để tiếp tục giam giữ ông.

Tôi cũng vô cùng kính nể ông khi ông từ chối không chịu đầu hàng chế độ, ký giấy nhận tội, mặc dù nếu nhận tội thì có lẽ ông đã được trả tự do và có lẽ đã không phải đi lưu vong. Đó là một sự can đảm và kiên cường mà ít người có thể đạt được. Bản thân tôi, nhiều khi tự nghĩ nếu mình ở trong vị thế đó thì liệu có đủ kiên cường để làm vậy hay không?

Dĩ nhiên cuộc sống tha phương sẽ rất nhiều khó khăn. Solzhenitsyn chẳng hạn đã “bỏ trốn” về Vermont vì không chịu nổi sự xoi bói và chú ý của báo chí Tây phương cũng như của thế giới bên ngoài.

Có người sẽ đặt câu hỏi như họ đã đặt câu hỏi là tại sao những người như Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt hay Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ có làm được gì đâu? Thú thật mỗi khi nghe câu hỏi đó, tôi muốn hỏi lại, “Thế quý vị muốn họ làm gì?”

Đúng là trong cái thời buổi của Internet ngày nay thì ngồi ở đâu cũng có thể blogg, có thể viết. Nhưng những bài blog, những bài nói chuyện, nhưng cuộc đối thoại ở hải ngoại có ảnh hưởng gì đến những gì trong nước không lại là chuyện khác. Tiếng nói của Điếu Cày ở hải ngoại sẽ không còn là tiếng nói của Điếu Cày ở trong nước nữa. Và hơn thế, ông sẽ không còn có thể ra đứng trước nơi mà nay chính quyền gọi là Nhà Hát Thành Phố, nhưng tôi vẫn còn đinh ninh đó là Tòa Nhà Quốc Hội, để trương bảng chống Trung Quốc nữa.

Nhưng có thể tôi lầm. Tiếng nói của Điếu Cày ở hải ngoại sẽ còn hùng hồn hơn trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bênh vực những người vẫn còn bị tù, và tất cả nhân dân Việt Nam vẫn còn phải chịu đựng một chế độ tham quyền cố vị.

Điều quan trọng hơn hết theo tôi là hai chữ “tự do.”
Một ông tù đã kể cho tôi nghe là hồi bị giam ở ngoài Bắc có một người bạn tù đã công phu làm một cái chuồng chim, bắt một con chim bỏ vào đó và khắc một tấm bảng thật đẹp: “Không có gì quý hơn độc lập tự do.” Ông bạn tôi kết luận: “Bọn Cộng Sản cái gì cũng sai chỉ có mỗi một câu đó là đúng.”
 Lê Phan

Hãy viết thật rõ: Ông Điếu Cày có...'con tự do'

 
Hãy viết thật rõ:  “Độc lập, con c.., hạnh phúc”  ở ngay dưới hàng chữ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho danh chính ngôn thuận.


Ông Điếu Cày có...'con tự do'
Sở thú Ba Đình. Tranh Babui. Ngày 24 tháng 9 năm 2012, ông Nguyễn Văn Hải và hai nhà tranh đấu cho tự do và dân chủ cho Việt Nam là bà Tạ Phong Tần và ông Phan Thanh Hải đã bị đưa ra tòa về tội “bóp méo sự thật về đảng và nhà nước, tạo bất an trong quần chúng và tiến hành các âm mưu lật đổ chính phủ.” Ông Nguyễn Văn Hải tức Blogger Điếu Cày bị án nặng nhất, 12 năm tù; bà Tạ Phong Tần bị 10 năm và ông Phan Thanh Hải 4 năm.
Phái viên của tờ The Economist của Anh có mặt đã mô tả vụ xử như một phiên tòa thời Stalin. Các bị can kháng án và tòa giữ nguyên phán quyết ngày 28 tháng 12 năm 2012.

Tại phiên tòa hôm 24 tháng 9, bà Dương Thị Tân, vợ cũ của ông Hải và con trai của ông đã bị chặn ở ngoài tòa không cho vào xem tòa xử. Hai người mặc áo có in hàng chữ “Tự do cho những người yêu nước.” Ông Vũ Văn Hiển, đeo lon trung tá, phó công an phường 6 quận 3 đòi lột áo của bà Tân và cậu con trai Nguyễn Trí Dũng. Ông Hiển còn văng tục, chửi thề rất vô giáo dục trước mặt hai người và cả đám đông vây quanh. Bản tin của đài BBC tường thuật rất kỹ cảnh diễn ra trước tòa án. Ông Vũ Văn Hiển đòi “bẻ cổ “ bà Dương Thị Tân, lột áo của anh Nguyễn Trí Dũng và chỉ vào hàng chữ trên ngực áo, nói lớn, “Tự do cái con c...”

Ông Hiển đã nói nguyên văn như thế, không viết tắt. Vả lại, khi nói, lại đang lúc giận dữ thì hình như (?) không người Việt Nam nào lại văng “con ... viết tắt” ra cả. Phải nói nguyên con ra.

Bà Dương Thị Tân cũng nhắc lại nguyên văn lời của ông trung tá Vũ Văn Hiển sau khi có nhẹ nhàng xin lỗi thính giả theo dõi cuộc phỏng vấn tại chỗ. Bản tin của đài BBC cũng nhắc lại nguyên văn câu nói của ông Hiển.

Với ông trung tá này, tự do là như thế đấy. Là cái “con viết tắt” ấy. Nguyên nó là cái con ấy, chỉ được nói khác đi thành hai chữ “tự do” mà thôi. Nhân vụ tòa lôi ba nhà tranh đấu ra xử, trung tá công an Vũ Văn Hiển mới nói lại cho đúng, không viết tắt, không vòng vo gì hết. Phải chính danh. Khổng Tử nói rõ rằng cách gọi tên đồ vật cũng phải chính danh. Cái bình rượu ngày nay kiểu cọ đã khác, không thể gọi nó bằng cái tên cũ là cái “cô” được nữa.

Tự do mà bác Hồ nói là không gì quí bằng thì nay sao lại gọi nó là tự do? Ngày nay nó là cái con viết tắt (?) mà ông Vũ Văn Hiển đã nói lớn trước lối vào tòa án mà đài BBC cũng có ghi lại rất rõ ràng, nguyên văn.
Đổi chác - ngón nghề của Vẹm

Đổi chác – ngón nghề của Vẹm


Từ sau chuyện xảy ra, cứ mỗi lần đọc những thứ thư từ, giấy má ở trong nước, kể cả những thứ đơn thưa kiện, khiếu nại nhăng nhít, tôi thấy rất khó chịu khi người viết chúng đều phải ghi đủ ở ngay dưới cái tên nước hàng chữ gồm đủ ba món: Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc trong khi cả nước đều đã biết từ lâu rằng cái quốc gia khốn khổ của chúng ta dưới cái chế độ chó má ấy chẳng bao giờ có độc lập, tự do và hạnh phúc cả. Độc lập ở đâu khi có đứa nói một câu nham nhở rằng miền Bắc đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc, rồi chính câu nói ô nhục đó còn được khắc ghi ngoài cổng của cái đền thờ của nó? Tự do ở đâu khi trong nhà tù là nơi nhốt những người như Nguyễn Phương Uyên, Huỳnh Thục Vy, Tạ Phong Tần, Bùi Minh Hằng, Việt Khang, Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Lê Thị Phương Anh, Hồ Thị Bích Khương, Mai Thị Dung, Trần Vũ Anh Bình, Tuấn Khanh, Phạm Thành, Nguyễn Xuân Nghĩa ...? Và hạnh phúc ở những chỗ nào, ở nơi phụ nữ bị bán đi làm gái mại dâm, đàn ông bị đẩy đi làm nô lệ trên khắp thế giới, trẻ em nheo nhóc, thất học, con chị cõng con em lần hồi kiếm sống ngoài đường?

Đã đến lúc “call a spade a spade” như một câu tục ngữ của người Anh. Hãy gọi cái xẻng là cái xẻng. Hãy chính danh như ông Vũ Văn Hiển. Đừng gọi tự do là tự do nữa.

Hãy viết thật rõ: “Độc lập, con c.., hạnh phúc” ở ngay dưới hàng chữ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho danh chính ngôn thuận.
Vậy thì lại phải cám ơn ông công an Vũ Văn Hiển về câu phát biểu của ông ở trước tòa án Sài Gòn hôm 24 tháng 9 năm 2012.
Xin mừng ông Nguyễn Văn Hải. Từ nay, sang tới nước Mỹ này, ông có tự do đích thực, không phải là cái thứ như ông trung tá Vũ Văn Hiển nói trước tòa nữa. Cái ấy để cho họ đem về mà nấu nướng, ăn uống với nhau.

Tiếc ông trước khi rời Việt Nam không đủ thì giờ để chào lá cờ máu và hô to câu rất nổi tiếng của Phan Văn Khải: “Đù má... chào cờ...chào!” cho đủ thủ tục và lễ nghi cần thiết.
 Bùi Bảo Trúc

Bài Xem Nhiều