We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 1 November 2014

Người về từ Địa Ngục Đỏ



Ra trường, cuối tháng 10/1968 (Khóa 2/68 SQTB). Đơn vị đầu tiên và cũng là đơn vị cuối cùng trong đời quân ngũ của tôi là các Tiểu đoàn: 4, 3, và 1/40/22BB. Ngày 10/11/68. tôi đến trình diện Trung Đoàn 40 (sau 10 ngày nghỉ phép), bản doanh tại căn cứ Đệ Đức (cách thị trấn Bồng Sơn 3 km).

Cùng trình diện với tôi là hai chuẩn úy cùng khóa, nhưng không có ai là dân xứ “ nẫu “ Riêng tôi được phân về Tiểu đoàn 4/ 40. Sau đó tôi được Tiểu đoàn cho về Đại đội 3/ 4 do Trung úy Nguyễn Văn An (Khóa 21/ ĐàLat) làm Đại Đội Trưởng và Thiếu Úy Trần Quang Anh (K. 22 A) làm Đại Đội phó. (Trung Úy An hiện ở Dallas, TX và Th/úy Anh hiện ở Santa Ana California)

Sau 3 ngày ở BCH/ĐĐ, tôi được phân phối về làm Trung đội trưởng trung đội 3/3/4/40 BB. Nơi đây, tôi gặp Chuẩn úy Lê đức Trạch (Khóa 1/68) làm Trung đội trưởng Trung đội 1. Một tháng sau có thêm Chuẩn úy Huỳnh công Ánh(Khóa 3/68) làm Trung đội trường Trung đội 2. Như vậy, ĐĐ3 đầy đủ 5 Sĩ quan. Trạch và Ánh dân Phù Cát (Bình Định). Trước khi nhập ngũ tôi là giáo chức, Trạch và Ánh làm sở Mỹ. Trong 3 đứa Huỳnh công Ánh nổi bậc về lãnh vực văn nghệ, lanh lẹ và chịu chơi hơn tôi và Trạch. Đến cuối năm 73, Ánh là ĐĐ trưởng Trinh Sát (Thay Đ/U Tráng chuyển qua Không quân). Sau 75, Ánh đi tù ở trại 3 ngoài Bắc. Trốn trại qua sự giúp đỡ của một Nữ Quản Giáo (thích và yêu Ánh qua tài ca hát). Ánh về Phù Cát, đưa vợ con vượt biên và thành công. Đến Mỹ năm 1981, Huỳnh công Ánh làm ăn phát tài, mở nhà hàng Phú Kim lớn nhất ở Houston, Texas và làm Chủ Tịch Tổng Hội Cựu TNCT Hoa Kỳ từ năm 1988- 1998 .

Trở lại ngày làm Trung đội trưởng ở ĐĐ 3/4/40BB. Sau hơn một năm, cả 3 đứa chúng tôi (Thức, Trạch, Ánh) đều là Đại Đội Trưởng qua các Tiểu đoàn 1, 3 và 4/40/ BB. Từ tháng 10/68 đến tháng 3/72, tuy có nhiều trận đụng độ với các đơn vị chủ lực của Cộng quân ở Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Bình Khê và ở Cao Nguyên Dakto, tháng 3 và tháng 4/ 1972 tại Bồng Sơn, Tam Quan. Cũng trong lần nầy tôi trở thành tù binh của Cộng sản cùng với một số Sĩ Quan cấp tá, cấp úy trong cuộc di tản chiến thuât ngày 19/4/1972 tại Bồng Sơn.

Kể từ 19/4/1972, đời tôi nếu không là tăm tối thì đời cũng vứt đi.

Tôi còn nhớ rõ chi tiết về cuộc di tản của trung đoàn 40 và các đơn vị thuộc phân khu Bắc Bình Định. Sau khi 3 quận Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tam Quan thất thủ, tất cả dồn về đồn trú tại BCH/ Trung Đoàn 40. Sư Đoàn 3 Sao Vàng Việt Cộng bôn tập vây hãm Trung Đoàn, đơn vị duy nhất còn lại ở Bắc Bình Định. Địch pháo kích ngày đêm vào Trung Đoàn, nhưng các đợt xung phong đều bị quân đồn trú đẩy lui, mãi đến xế trưa ngày 19/4/72 được lệnh di tản từ Quân Khu 2 ra biển Đông sẽ có tàu Hải Quân đón. Cuộc di tản chia làm 2 cánh. Một cánh đi hướng Bắc núi Kho (Đông Bắc Trung Đoàn). Một cánh đi hướng Nam núi Kho. Tôi đi cánh hướng Nam và đã bị chận lại bỡi quân chủ lực của Việt Cộng. Một cuộc ác chiến xảy ra giữa ta và địch. Kết quả các đơn vị VNCH đã vượt qua nơi bị phục kích nhưng một số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đã hy sinh và phải bỏ lại tại chỗ, trong đó có Trung Tá Cần, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ221 Pháo Binh và Thiếu Tá Nho Tiểu Đoàn Phó 221 PB. Lần phục kích thứ hai vào lúc 7 giờ tối ngày 19/4/72, gần bờ sông Lại Giang và lần nầy một số lớn thương vong và bị bắt, trong số đó có tôi.

Sáu giờ sáng hôm sau (20/4/72), tất cả chúng tôi bị đưa về tập trung tại ấp An Tây (gần Thiết Đính). Nơi đây tôi đã gặp một số Sĩ quan Trung Đoàn 40 và các Sĩ quan thuộc Tiểu Khu Bình Định. Về Tru/ Đoàn 40 có Đ/U Nguyễn Hộ, Th/Úy Nguyễn Chính Thắng TS40 , Th/Úy Nho, Ch/Úy Đền, Tr/Úy Đặng Ghi, Ch/Úy Huỳnh văn Thắng…Về Pháo Binh 221 có Th/Úy Phạm văn Thức, Th/Úy Bích, Ch/Úy Trinh, Ch/Úy Thành và nhiều sĩ quan khác mà tôi không nhớ tên. Cũng tại nơi đây, sáng ngày hôm sau, tôi gặp cô Lãm, nhà ở Chương Hòa (An Hựu), cô ta nhận ra tôi, lúc tôi là ĐĐội Phó đóng ở đồi 10, mỗi ngày thường gặp cô ta. Hiện tại cô Lãm làm Trưởng Ban Binh Vận Huyện Hoài Nhơn. Gặp tôi cô giả vờ không quen biết, nhưng trước khi bị giải lên Sông “ Côn “, cô trao cho tôi một gói cơm cháy và một gói muối to bằng nắm tay và chúc sức khỏe. Ngày hôm sau, tên chỉ huy Việt Cộng, tập họp anh em, hắn nói” Các anh là người có ăn học nên Cách Mạng chuyển các anh lên cấp cao hơn, có thư viện, sách vở để các anh đọc nghiên cứu”. Sáng 23/4/72, bọn chúng di chuyển chúng tôi lên An Lão(Sông Côn) rồi đi Ba Tơ (Quảng Ngãi) bằng đường bộ. Tất cả đều trói dính liền với nhau. Sau 2 ngày 2 đêm, chúng tôi tới địa điểm “ Thư Viện “ mà viên Thủ trưởng đã nói. Đó là một khu rừng rậm, nằm bên Sông Côn, cách K.18 chừng 3, 4 km. Một vài nhà tranh cũ kỹ mục nát cho cán bộ Cách mạng ở, vài ba luống mì, lang mà bọn họ canh tác để cải thiện. Chúng thanh lọc sĩ quan cấp tá tiếp tục đi Ba Tơ. Sĩ quan cấp úy ở lại lập thành một khối và chia làm nhiều đội. Hạ Sĩ quan và Binh sĩ một khối.

Những ngày kế tiếp là lên rẫy chặt cây, cấp tranh làm nhà tự nhốt mình. Khi trại giam vừa xong, anh em bắt đầu “ lao động là vinh quang” Hơn 100 Sĩ quan cấp úy QLVNCH chia thành nhiều toán phá rừng làm rẫy. Mì và lang là hai loại thực phẩm chính. Những tháng đầu chưa thu hoạch được, chúng tôi phải ra tận Ba Tơ cõng mì mang về trại để ăn. Mỗi ngày lên núi đốt rễ tranh để ăn thay muối. Trong lúc đi cõng mì, có một vài anh em trốn thoát được như Thiếu Úy Hồ Văn Thưởng (ở Cali), một số bị bắn chết trên đường vượt thoát như Đại Úy Quang (Tk Binh Định), Thiếu úy Nguyễn Chính Thắng Đại đội 40 Trinh Sát.v. v.. Duy có một trường họp là Trung Úy Đặng Ghi (K.25 Thủ Đức), nguyên Đại Đội trưởng ĐĐ3/3/40BB cùng đơn vị với tôi cũng trốn trại bị bắt lại sau mấy ngày đêm vượt thoát đã bị chúng đem về trói ngay gốc cây cổ thụ, chờ ngày xử bắn. May thay cho bạn Ghi, vài ngày sau được tin Hiệp Định Paris 1973 đã được hai bên ký kết. Anh Ghi được miễn tội tử hình nhưng vẫn bị trói gô ngoài gốc cây cho đến gần ngày trao trả (Anh Ghi hiện đang định cư tại Washington State). Riêng Đại Úy Hộ từ (Tiểu Đoàn 2/40BB) từ chối không gặp 2 người anh ruột hồi kết đến thăm mà anh Hộ còn nặng lời với 2 người anh Cộng sản. Sau đó, bọn chúng đào một hố tròn đường kính 5 tấc, bắt anh Hộ nằm sấp xuống miệng hố. Bọn chúng thay phiên đứng trên lưng anh Nguyễn Hộ cho đến khi anh ngất xỉu. Sau ngày An Dưỡng (3 tháng), anh Hộ chuyển về Trung Đoàn 42 ở Dakto Tân Cảnh và đã chết trên đường di tản tháng 3/1975. Trong trại, lúc bấy giờ còn có Trung úy Nguyễn văn Sáng, Pilot L19 bị bắn rớt ở An Lão tháng 10/1971, bị cùm triền miên nên hai cổ chân bị teo lại cũng được trao trả cùng ngày với anh em chúng tôi (11/ 3/ 1973). Anh Sáng hiện ở Nam Cali. Hiện tại chúng tôi đã tìm gặp 5 bạn tù 1972 là: Tôi, Ghi, Sáng, Thắng và Phạm Thức. Chúng tôi hẹn sẽ gặp nhau một ngày không xa ở Nam California để ôn lại chuyện tù năm xưa.

Sau một năm tù, số còn lại được trao trả là 46/106. 11 giờ trưa ngày 11/ 3/ 1973, chúng tôi được trao trả tại phía Đông cầu Bến Nguồn, cách Bồng Sơn khoảng 5km. Nơi trao trả có một nhà tranh, bề ngang 4m, bề dài 8m không có vách. Từ đầu cầu (hướng Đông) đến căn nhà trao trả có ngăn một sợi dây thừng ở giữa. Một bên (hướng Tây là Việt Cộng). Hướng Đông cây cầu là VNCH. Tất cả anh em tù binh được tập họp bên trong căn nhà tranh, chờ phái đoàn VNCH gọi tên, cấp bậc, đơn vị, xong bước ra ngoài sắp hàng một. Ngoài hai phái đoàn VNCH và Việt Cọng, còn có đại diện của Canada, Hungary, Indonesia, và Ba Lan. Khi được gọi tên, tôi ra sắp hàng bên ngoài thì gặp Trung úy Nguyễn hữu Anh, Đại Đội Trưởng ĐĐ22/ Quân Cảnh Điều TraTư Pháp (doanh trại bên hông trường trung học Cường Đễ) đến đón, bồng tôi lên rộn rã vui mừng. Vì lúc ấy tôi ốm chỉ còn 38 kg. Sau khi kiểm soát đầy đủ, Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp mời tất cả anh em chuẩn bị lên xe GMC.

Trước khi lên xe, các anh em đã được các nữ quân nhân, mặc áo quần màu xanh da trời chào tay và mời lên xe. Trên xe, một nữ quân nhân trao cho mỗi người một bộ quần áo treillis, giày saut và mũ lưỡi trai thay cho bộ đồ xám tù binh. Cứ 20 người một xe. Đoàn bắt đầu chuyển bánh từ lúc 5 giờ chiều ngày 11/3/1973. Đến Bồng Sơn, trời nhá nhem tối, dọc hai bên đường Quốc lộ từ Bồng Sơn đến Qui Nhơn, dân chúng thắp đèn đứng hai bên đường vỗ tay chào mừng khi đoàn xe đi qua. Niềm vui gặp lại thân nhân lẫn niềm vui được đồng bào hân hoan chào đón, một số anh em đã cảm động rơi nước mắt. Đoàn xe đến Qui Nhơn lúc 9 giờ tối. Một dấu ấn trong đời không bao giờ tôi quên là được gặp lại cha mẹ, vợ con, anh em và họ hàng nội ngoại. Đón chúng tôi tại trại An Dưỡng gồm có Trưởng Trại Trung Tá Điều (Trưởng Ty An Ninh Quân Đội Tỉnh Bình Định), một số sĩ quan Cục an ninh Quân Đội từ Sài Gòn ra phụ giúp. Sau khi xuống xe, anh em sắp thành hàng dọc để nghe Trung Tá Điều căn dặn những điều cần thiết trước khi vào hội trường dùng bữa cơm tối (mỗi người một khay lớn trong đó có: Cơm, Thịt bò bít tết, chuối và bánh ngọt). Ăn uống xong, anh em ra sân sắp hàng chờ nghe đọc tên mình, cứ 20 người một nhà ngủ đầy đủ tiện nghi (giường, niệm, tủ quần áo, mùng mến). Mỗi giường có bảng tên từng người, trên cửa vào có một loa phóng thanh để Ban Chỉ Huy trại thông báo những điều cần thiết. Chừng 10 phút sau, từ Ban Chỉ Huy thông báo: anh em có mặt tại giường để Ban Tài Chánh đến phát lương mỗi người 5000đ VN, tạm chi dùng và sẽ truy lãnh vào tháng sau. Loa phóng thanh vừa dứt, tôi đã thấy viên Sĩ Quan tài chánh, Thủ quỹ đến phát lương mỗi người 5000đ và hẹn ngày 20/3/73 sẽ truy lãnh lương 12 tháng mất tích. Lãnh lương xong, một số anh em quây quần đánh bài, một số đi Câu Lạc Bộ cho đến sáng hôm sau (một đêm không ngủ).

Mỗi sáng, lúc 7 giờ, anh em được mời xuống nhà ăn để uống café và ăn sáng, gồm một ổ bánh mì thịt và một ly café đá hay đen tùy ý.

Những ngày kế tiếp, trại An Dưỡng mời từng người một lên phòng Điều Nghiên (Cục An Ninh Quân Đội) để khai lý lịch. Nơi đây, tôi gặp Đại Úy Nguyễn Định Bang , anh em cô cậu ruột với vợ tôi, từ Cục An Ninh Quân Đội ra làm Trưởng Phòng Điều Nghiên của Trại. Bố anh Bang làm Trưởng Ty Bưu Điện ở Tam Quan và là anh ruột của Nguyễn thị Như Ý. Xong phần sưu tra lý lịch, đến phần khám sức khỏe tổng quát. Công việc này do Quân Y Hoa Kỳ và Quân Y Việt Nam phụ trách. Mỗi trại viên được khám và cho uống và chích thuốc bổ, chuyền hai chai protein màu vàng cho hai tuần lễ.

Sau ba tháng an dưỡng, người nào cũng lên ít nhất là 15 pounds. Đầu tháng 7/ 1973, mỗi trại viên không phân biệt cấp bậc được cho đi phép 1 tháng (30 ngày) trước khi về đơn vị cũ hoặc thuyên chuyển đi đơn vị mới (tùy theo Phòng Điều Nghiên của Trại yêu cầu). Tôi được SVL của Bộ TTM trở về đơn vị cũ, Trung Đoàn 40/ 22BB. Một tuần sau, BCH Trung Đoàn bổ nhiệm tôi làm Đại Đội Trưởng Đại Đội 3/3/40/22BB. Thay thế Đại úy Lê Phước Quận về làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3/ 40/ 22BB.

Từ đó tôi cùng các chiến hữu trong đơn vị đã tham dự các cuộc hành quân từ Duyên hải đến Cao Nguyên cho đến ngày 30/4 Đen.

Rời bục giảng, Ba đi làm lính trận
Lội suối băng rừng tiến chiếm mục tiêu,
Từ Duyên hải đến vùng Cao Nguyên trấn,
Máu và xương đồng đội đã rơi nhiều…
(Lời nầy cho con)
 
Từng đêm, ngồi viết những giòng hồi ký nầy, tôi đã hình dung những chiến hữu một thời cùng tôi chiến đấu. Có người đã bỏ xác nơi rừng núi cao nguyên đất đỏ mưa mùa, có người may mắn được thân nhân chôn cất đường hoàng, có người đã hiến dâng một phần thân thể trong cuộc chiến và có người đã nằm xuống trong các “trại cải tạo” sau 1975. Xin nghiêng mình tri ân và ngưỡng mộ những Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hữu danh hoặc vô danh đã hy sinh và dâng hiến một phần thân thể của mình cho Quê Hương Việt Nam.
 
Trần Thức

Giấc Mơ Ảo Tưởng : Hòa giải hòa hợp với csVN ?

Giấc mơ? – Hòa giải hòa hợp dân tộc?                 

thuyennhan1096eCó nhiều người, cả những nhà văn, có nhận xét rằng ở trong nước đã thay đổi rất nhiều và đó là một chủ trương của những người cầm quyền muốn thoát ra khỏi những trì trệ cho đất nước. Ngay cả trong văn nghệ học thuật cũng có chủ trương như vậy. Và họ dẫn chứng là có những hội nghị Lý Luận Phê Bình văn học đã công nhận một thực tế của văn học Việt Nam và thúc đẩy sự thay đổi: “một số quan niệm cũ không còn phù hợp”, “những gì đã cũ và lỗi thời phải cương quyết vượt qua”, “một số nhà phê bình chỉ quen với những môtíp, mô hình cũ và dị ứng với những biểu hiện mới và lạ. Độ bao quát quá hẹp, nhiều ẩn số văn nghệ đứng ngoài tầm với của giới phê bình”. Và với nghị quyết “người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” cũng như việc “đối với nhà văn Việt Nam, trước hết và quan trọng nhất trong việc mở rộng quan hệ quốc tế là giao lưu với các nhà văn, các nhà văn hóa, các nghệ sĩ người Việt đang sinh sống và hành nghề ở các nước trên thế giới”. Muốn như vậy, phải rời bỏ cái suy nghĩ tư duy địch bạn của thời còn chiến tranh…

Thế mà từ tháng tư năm 1975, một thời điểm gắng quên mà vẫn mãi nhớ đến bây giờ chừng như vẫn chưa đổi. Đã mấy chục năm trôi qua cuộc chiến vẫn còn những dư âm đau xót. Bao nhiêu là hồi ức, bao nhiêu là những vết thương đau. Không phải với riêng cá nhân một người, mà còn với nhiều người và nói rộng ra, cả dân tộc nữa. Những vết chém của hận thù tới bây giờ vẫn chưa lành miệng. Những đau xót đến ngày nay vẫn còn tồn tại trong tâm. Nhiều người kêu gọi xóa bỏ chiến tuyến gạt bỏ hận thù. Nói thì dễ, nhưng hiện trạng bây giờ, vẫn còn rất nhiều điều để thấy rằng cái hố sâu ngăn cách dân tộc của thời nội chiến không dễ gì lấp đầy. Nhất là đối với những người Cộng sản mà câu nói của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày nào vẫn còn chính xác, “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”.

Tôi nhớ có lần đã phỏng vấn nhà văn Doãn Quốc Sỹ với câu hỏi: “Trong văn chương anh nghĩ có biên giới giữa người cầm bút Việt Nam ở trong nước và hải ngoại? Hoặc giữa người miền Nam và người miền Bắc?”. Và nhà văn nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam, người đã bị cầm tù và biệt giam nhiều năm vì can tội làm “nhà văn” đã trả lời “Văn chương Việt Nam là văn chương Việt Nam. Đơn thuần chỉ có vậy! Những người Việt miền Bắc, người Việt miền Nam, người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại phản ánh những gì xẩy ra qua lăng kính cá tính văn chương từng người. Cả nền văn chương Việt Nam nói chung do đó mà có được sắc thái lung limh phong phú. Tôi hiểu biên giới trong câu trên là như vậy…” Với những người mà đảng Cộng sản đã muốn tiêu diệt mà nói như vậy thì không thể kết luận đó là một biểu hiện của hận thù…

Ở trong nước thì Võ Văn Kiệt, một lãnh tụ Cộng sản đã chết, cũng phát biểu, “Ba mươi năm qua, có những bà mẹ ngày thắp hương cho những người con của mình, người là chiến sĩ giải phóng đã hy sinh, người là lính của chế độ Sài Gòn đã tử trận. Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần thấu hiểu tâm tình của người mẹ Việt Nam, cùng thắp nén nhang cầu cho linh hồn của những người con của mẹ được siêu thoát…”

Tưởng như thế, nhưng khi đọc trong những tác phẩm mới xuất bản gần đây ở trong nước tôi mới thấy rằng ngay cả những người cầm bút cũng vẫn còn ảnh hưởng cái tư tưởng “địch – ta” khá nặng nề và cái hội chứng thời chiến tranh vẫn còn tồn tại. Mà tư tưởng ấy lại là sản phẩm còn sót lại của một nền văn học cổ võ hận thù tán dương chém giết, sản phẩm của tuyên truyền. Dù có đổi mới tư duy, có nhìn ngắm lại, nhưng ảnh hưởng vẫn còn trong văn chương.

 Với những người Cộng sản Việt Nam, tuyên truyền ở một vị trí xung yếu. Tất cả, trên mọi phương diện đều phục vụ cho một mục tiêu: tạo một bánh vẽ tốt đẹp để cưỡng bách bắt mọi người phục vụ theo đường hướng định sẵn. Nhà văn Alekxandr Solzhenitsyn trong diễn văn đọc khi nhận giải Nobel về văn chương đã viết về tính chất của các chế độ độc tài toàn trị như sau:

“… Ai là người sẽ đặt câu hỏi với chúng ta: văn học sẽ làm được gì để chống trả lại sự công hãm khốc liệt của cường quyền công khai? Là: chúng ta phải nhớ mãi rằng bạo lực không thể đơn độc một mình và cũng không có khả năng tồn tại duy nhất, nó bắt buộc phải bắt tay với sự dối trá. Giữa bạo lực và dối trá có mối quan hệ sâu sắc ruột thịt tự nhiên: bạo lực được che đậy kín đáo bằng dối trá và dối trá cũng nhờ vào bạo lực để tồn tại. Nếu có một kẻ nào tự nhận bạo lực là phương pháp áp dụng của mình thì bắt buộc phải chọn dối trá làm chỉ nam hướng dẫn. Khi khởi đầu quyền thế, bạo lực nghiễm nghiên công khai và rất là kiêu hãnh. Nhưng khi đã bành trướng, đủ sức mạnh áp chế với vị trí độc tôn của mình, nó lại cảm thấy bất an với giông bão chung quanh và chỉ thấy sẽ tồn tại được nếu cứ tiếp tục dối trá. Và dối trá đã sẵn được ngụy trang bằng những ngôn từ ngọt ngào hoa mỹ. Bạo lực không nhất thiết luôn luôn bóp cổ bẻ họng trực tiếp dân chúng mà phần đông chỉ đòi hỏi từ nhân dân của chúng một lời thề từ dối trá, để có mặt trong vai trò ấy một cách tự nguyện.

 Bước giản dị của một người dũng cảm để chống lại là không tham dự vào trò dối trá và không đi theo những việc làm dối trá. Nếu bắt buộc cứ để nó ngự trị và nếu thống trị cả toàn cầu cũng chẳng sao, ta không đứng về phía nó! nhà văn và nghệ sĩ còn có thể tích cực hơn nữa: chiến thắng sự dối trá. Trong cuộc chiến sinh tử này, nghệ thuật bao giờ cũng đã và đang chiến thắng. Sự ấy hiển nhiên, không một ai có thể chối cãi. Dối trá có thể lừa được rất nhiều thứ trên thế gian này nhưng chỉ bị một khắc tinh: nghệ thuật…”

Trở lại với hiện tình Việt Nam tình trạng tụt hậu hiển nhiên rõ ràng. Từ mọi mặt, là sự sa sút tràn đầy. Xã hội tha hóa, giáo dục xuống cấp, con người chạy theo tiền bạc, luật pháp bất công, kinh tế trì trệ, thì đôi khi những nhà văn đã nhìn lại quá khứ chiến tranh và để tự hào vì những kinh nghiệm sống đã có.

 Viết về chiến tranh của một thời đã qua đi, những nhà văn trong nước vẫn không qua được cái tâm lý hận thù của một hệ thống tuyên truyền sắt máu đã có sẵn từ một thời gian dài. Những điều được tuyên truyền như ngụy ăn gan uống máu như những loài thú mất nhân tính tới giờ vẫn còn được viết với tâm tư của thời chiến tranh. Nếu đã đọc những tác phẩm đại loại như của Tạ Duy Anh hoặc Hồ Anh Thái và quả tình người đọc đã cảm thấy thật xấu hổ khi có những nhà văn được tạm gọi là tiêu biểu cho văn học trong nước mà lại có giọng văn như thế. Như đoạn trích dẫn từ truyện dài: “Đi Tìm Nhân Vật” của Tạ Duy Anh:

“…quân ta ào lên, bắt giết, đâm, dẫm đạp. Một mụ ngụy cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa hết hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng ngụy bị mình xọc lê vào bụng, nghe “thụt” một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giẫy chết như con tôm sống bị ném vào chảo mỡ…”
và một đoạn khác cũng… kinh dị không kém:

“Hai ngày sau bọn địch phản công. Cả trung đội mình bị băm nát. Thằng Thiết bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào vừa bóp cò. Bọn ngụy ào lên như lũ quỷ, quyết bắt sống thằng Thiết. Như sau này anh em trinh sát kể lại, chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội. Nó đã hy sinh như một người anh hùng trên chiến trận…”

Thế mà sách của Tạ Duy Anh đã được in ở hải ngoại và có nhiều người cho rằng ông là người có tâm tư “thông thoáng” nhất và tác phẩm được coi là có “vấn đề” ở trong nước???
Và trong “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái (hình như là chủ tịch hội nhà văn Hà Nội) cũng ghê gớm tàn bạo không kém:

“Hùng lao người bơi xuôi theo dòng suối tương đối cạn, xa hẳn chỗ Hoa đang nấp. Lũ thám báo văng tục chạy men bờ đuổi theo. Có những chỗ suối cạn không bơi được Hùng phải chạy. Bốn tên thám báo nhảy chồm chồm trên những tảng đá giữa lòng suối rồi quây được Hùng vào giữa. Anh quật ngã một thằng. Nó cắm đầu xuống nước không thấy động đậy gì. Nhưng những thằng kia đã xúm lại. Chỉ một lát sau, chúng đã lôi xềnh xệch Hùng lên bờ. Thân thể anh bầm dập đẫm máu. Chúng đấm đá anh túi bụi để lấy cung cho tới khi anh ngất đi. Anh tỉnh lại chúng đánh tiếp. Hoa hiểu vì sao chúng không dùng đến súng. Chúng cũng không muốn gây ra tiếng nổ ở vùng rừng này.
Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn…”

Tôi tưởng những danh từ như “mụ ngụy cái”, “lũ thám báo”,.. hoặc những chuyện moi tim gan người để ăn nhậu, có lẽ đã mất biệt rồi chứ? Cái văn chương sặc mùi căm thù ấy vẫn còn tồn tại sao? Mà cả với những người cầm bút luôn luôn kêu gọi hòa giải!!!

 Nhà văn Dương Thu Hương trong “Tiểu Thuyết Vô Đề” củng biểu lộ sự căm thù đúng y như những nhà văn Cộng sản trung kiên khác. Kể lại những cái chết của những bộ đội nữ bị lính thám báo hãm hiếp hay thái độ hèn nhát của những người lính VNCH khi bị bắt, giọng văn ấy không thể là của một người đã thấy cái phi lý của chiến tranh và cái huyền thoại “chống Mỹ cứu nước” vẫn còn vương vấn. Dù rằng bà cũng hiểu một điều là miền Bắc đã gây ra chiến tranh theo lệnh của Cộng sản quốc tế.

“Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực Cô Hồn gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.

 Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những cô chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đây là những người con gái miền bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết. Những cái xác bầm dập méo mó. Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phong lở hay một con cóc chết. Đám dòi lúc nhúc trong các vết thương, trong các hốc mắt, hốc miệng. Những von dòi trắng nhờ béo tròn. Chúng trị trên các tử thi ngoi lội, trồi lên trụt xuống, vẻ viên mãn của loài dòi bọ.”

Đọc những đoạn trên, đâu có ai tránh khỏi cảm giác lợm giọng. Và, tác giả Tiểu Thuyết Vô Đề có quá tay để tạo thành những hận thù khi nói về những người thua trận. Như vậy, có thể nói chuyện bình thường hòa giải với nhau không? Thời chiến tranh đã qua, những người ở phe chiến thắng có còn bị khích động của cả một chính sách gây căm hờn để dồn toàn lực vào công cuộc chém giết thúc đẩy chiến tranh…

Nhà văn mà còn viết với giọng như thế thì những từ ngữ như “hòa giải, hòa hợp”, hay “hợp lưu, giao lưu” liệu còn ý nghĩa không? Tôi đọc những hàng chữ ấy và thấy hệ thống tuyên truyền quả đã có tác dụng, không phải với giới bình dân mà cả trong văn chương.

 Trong Nỗi Buồn Chiến Tranh, Bảo Ninh cũng mô tả một cảnh tượng ghê rợn không kém:
“Kiên hờ hững ngó ra sau. A. Một cái xác. Một cái xác đàn bà trắng hếu, ngực ưỡn dựng lên, chân dang ra như hai lưỡi léo, mái tóc đổ xõa che lấp nửa mặt, nằm gần như chắn ngang trước cửa phòng hải quan. Còn trẻ, mắt nhắm hờ. Dưới lưng không thấy vũng máu…

Chợt có tiếng xe đỗ, tiếng kéo lê rồi tiếng chân huỳnh huỵch. Một gã hộ pháp. Đội mũ sắt, có lẽ là lính cao xạ từ trong phòng hải quan đi ra khệ nệ khuân trên tay hai két bia 33. Bước qua ngưỡng cửa mắt nghếch lên, gã vấp phải cái xác bị xô chúi tới, ngã sấp. Cả đống bia giáng xuống loảng choảng chai vỡ tan, bia óng vàng tuôn lênh láng. Đám lính tăng cười ro. Kiên nhếch mép.

 Sượng sùng gã sục “đồ cổ” nhỏm dậy tức tối vò hai nắm đấm gườm gườm nhìn những kẻ đang cười nhạo mình. Rồi nhổ toẹt, hầm hầm cái mặt, hắn sấn lại đá tới tấp vào cái vật vừa ngáng chân hắn. Vừa đá vừa rống lên:
“Đ mẹ mầy, con đĩ! Mày ưỡn của nợ ra đây cho chúng nó ngắm à! Mày gài mìn bố mày! Tổ sư mày, cười cái cắc củ! Đứa nào thích ngắm nghía mày thì kệ bố mày! Bố mày cứ dọn phắt mày đi!”
Chửi đoạn, thằng cha “Chí Phèo” túm lấy một chân người chết sền sệt kéo lết đi.
Thằng chó má dã man léo sền sệt cái xác khốn khổ qua mặt sân bê tông loáng sáng nước mưa và nắng chói, rồi hự, hắn choãi chân vặn lưng lấy đà quăng mạnh, liệng bổng người ta lên.

 Xoay lộn mấy vòng, cái xác trắng rợn bay chênh chếch rồi thịch xuống cạnh mấy cái thây lính dù chưa ai dọn. Lưng vừa chạm đất, người đàn bà chết ngồi bật dậy, hai tay đưa vung lên, cái miệng tuồng như há ra chực kêu rồi ngã vật nghiêng, đập đầu xuống. Tên súc sinh khệnh khạng bỏ đi tay khuỳnh khuỳnh ra dáng người hùng…”

Đi xa hơn nữa, Bảo Ninh, người viết truyện ngắn “305” in trong tập “Lan man khi kẹt xe” đã đổ tội cho cả toàn dân miền Nam cái tội vong bản chạy theo đế quốc mà bỏ lại người thân một cách lãnh đạm vô nhân. Truyện ngắn này kể lại chuyện những người lính lái xe tăng mang số 305 trên đường hành quân đã ghé vào một thị trấn nhỏ vào tháng tư năm 1975. Và nhờ cung cách hiền hòa họ đã làm cho người thiếu phụ ở đó cảm mến. Sau đó cả xa đoàn chết hết chỉ còn sót lại một người trở về thị trấn xưa ghé thăm người thiếu phụ ấy. Giây phút gặp lại anh ta mới biết cả gia đình đã bỏ rơi chị để di tản ra nước ngoài. So sánh gia đình chị và anh bộ đội kia, chị thấy cảm mến anh bộ đội ấy hơn…
Ở thời điểm bây giờ mà còn viết với luận điệu như thế, nào ta anh hùng, địch dã man, ăn tim gan người sống. Cái nếp nghĩ, nếp viết ấy đã ăn sâu vào tâm thức người viết và bao nhiêu năm sau chiến tranh mà vẫn chưa hề thay đổi. Nhà văn Phùng Nguyễn nhận xét khá xác đáng:

“… Có quá nhiều điều luôn rắp tâm kéo nhà văn xuống thấp có khi thấp hơn cả mức độ cho phép. Đó là khi họ, vì một hay nhiều lý do, phải nín thở qua sông, phải viết điều không muốn viết, phải ca tụng những điều không xứng đáng, phải báng bổ điều họ thực sự quý trọng. Họ buộc phải đứng về phía của kẻ mạnh. Nhưng cũng có khi, không phải là luôn luôn vô tình, họ chọn đứng cùng phía với những thế lực đen tối một cách tự nguyện, gieo rắc mầm độc hại xuyên qua việc xiển dương điều trá ngụy. Chính là ở đây, nhà văn trở thành không chỉ là kẻ đồng lõa”.
Câu hỏi là bây giờ, các người cầm bút sẽ phải làm gì để hố ngăn cách nhau được lấp dần đi? cả người cầm bút ở trong nước và hải ngoại? Nhưng xem ra câu hỏi chỉ để mà hỏi. Khi văn học ở trong nước còn là một công cụ để phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền của chế độ hiện hữu thì còn rất lâu sự phân hóa tạo thành chiến tuyến của thời chiến tranh.
Nguyễn Mạnh Trinh

Người Việt toàn thế giới: Viêm Gan và Ung Thư Gan

 Một trong những bệnh ung thư làm tôi quan tâm nhất là bệnh ung thư gan. Đây là bệnh gây ra cái chết vì ung thư đứng hàng thứ hai cho nam giới người Việt nói riêng và người Đông Nam Á nói chung, chỉ sau ung thư phổi.
Là một bác sĩ chuyên về ung thư, tôi phải đối diện và chiến đấu với sự chết hằng ngày. Có nhiều khi thắng trận, nhưng phải thành thật mà nói là rất nhiều khi thua. Có những trường hợp thua mà tôi không buồn gì lắm vì tuy cuối cùng thua trận nhưng mình đã kéo dài thêm sự sống cho bệnh nhân một cách có ý nghĩa. Chuyện làm tôi buồn khổ nhất là mình đành bó tay vì khi bệnh nhân đến gặp, bệnh đã đến thời kỳ “hết thuốc chữa”. Lại càng đau đớn hơn khi bệnh nhân là một em bé, một thanh niên hay thiếu nữ, hay một ngưòi trung niên còn đang tràn trề nhựa sống. Vì tôi biết rằng những bệnh có thể ngừa được, hay ít ra có thể truy tầm ra sớm và chữa lành được. Thế mà…
Một trong những bệnh ung thư làm tôi quan tâm nhất là bệnh ung thư gan. Đây là bệnh gây ra cái chết vì ung thư đứng hàng thứ hai cho nam giới người Việt nói riêng và người Đông Nam Á nói chung, chỉ sau ung thư phổi. Hơn nữa, người bệnh thường là những thanh niên hay trung niên đang ở vào giai đoạn sung mãn và thường đang, hay sẽ là rường cột cuả gia đình, xã hội và đất nước. Năm ngoái, một thanh niên người Việt vào bệnh viện vì tự nhiên bị đau bụng bất thình lình. Các bác sĩ khám phá ra là gan cuả anh đã bị nhiễm siêu vi viêm gan B và anh đã bị ung thư gan ở thời kỳ cuối cùng. Anh đã không hề biết là anh đã bị siêu vi viêm gan B. Thanh niên này mới có 27 tuổi, vừa học xong đại học và đang nghĩ đến chuyện kết hôn. Anh đã chết không đầy ba tháng sau khi tìm ra bệnh. Đây không phải là một chuyện hiếm hoi, mà là điều rất thường thấy ở cộng đồng Á Châu. Bệnh thường được phát hiện một cách bất thình lình, không có dấu hiệu gì báo trước. Và khi tìm ra thì đã quá trễ.
Một bác sĩ người gốc Trung Hoa tên Mark Lim ở San Francisco mới 30 tuổi, vừa ra trường, chưa kịp nghĩ đến gia đình vợ con, bị đau bụng dữ dội, tưởng là mình bị loét bao tử vì làm việc quá độ. Nhưng không, anh đã bị ung thư gan khắp cả hai bên lá gan và anh đã mất không lâu sau đó. Bốn năm trước, anh đã được cho biết là anh bị viêm gan B, nhưng các bác sĩ điều trị nơi anh đang học y khoa bảo anh đừng lo vì viêm gan còn ở trạng thái “carrier” (nôm na là “ngủ”), và anh không cần phải truy tầm ung thư gan cho đến khi anh ở tuổi 50 hay 60. Những lời khuyên này có thể đúng cho người da trắng bị bệnh gan vì uống rượu hay mới bị viêm gan C, nhưng không đúng cho người Á Châu. Các bác sĩ cuả bác sĩ Mark Lim, và ngay Mark, chính mình là một bác sĩ, đã không biết là đang có một trận dịch ung thư gan gây ra bởi siêu vi B trong những thanh niên gốc Á. Và họ cũng không biết là người gốc Á có cơ hội bị chết vì ung thư gan cao hơn người da trắng gấp 10 lần.
Treating lung and liver cancers
Taị sao như vậy? Tại sao bác sĩ Mark Lim, người đã học ra bác sĩ từ một trường đại học y khoa nổi tiếng, và các ông thầy của anh, đã không biết gì về những dữ kiện này? Bác sĩ Samuel So, giám đốc Trung Tâm Bệnh Gan Á Châu taị đại học Stanford, giải thích như sau: “Chỉ trong một thế giới y khoa hoàn toàn lệ thuộc vào khuôn thuớc cuả người da trắng trong việc chẩn bệnh và chữa bệnh, mới có thể có sự sai biệt về sức khoẻ nhiều như vậy”. Nói một cách rõ ràng hơn, những nghiên cứu và quan tâm về các vấn đề y tế cuả người Á Châu có rất ít. Các cơ quan chính quyền cũng như dư luận toàn quốc không quan tâm đến, vì những cuộc nghiên cứu y khoa tại Mỹ hay Âu Châu thường chỉ có sự tham dự của người da trắng. Vì người da trắng ít bị viêm gan và ung thư gan, đây không phải là quan tâm hàng đầu của họ. Người Á Châu thì hoặc không biết hay không quan tâm đến và thờ ơ không muốn biết, nếu chính họ chưa bị mắc phải. Người Á Châu còn có khuynh hướng sợ sệt hay bảo thủ, không muốn tham gia vào các cuộc nghiên cứu để tìm thêm về bệnh, hay các phương pháp chẩn bệnh, trị liệu mới. Do đó, nếu người da trắng không tìm hiểu hay nghiên cứu thì chúng ta cũng đành thúc thủ vậy. Những cách suy nghĩ và thái độ tiêu cực này cần được thay đổi, càng sớm càng tốt.
Ta có thể làm được gì?
Những điều cần biết về bệnh viêm gan B và ung thư gan:
1. Tỉ lệ bị viêm gan B và C ở người Việt và Á châu rất cao. Tỉ lệ cuả B là 16% và cuả C là 10%. Có thể cao hơn vì nhiều người không thử.
2. Đàn ông Việt Nam có tỉ lệ bị ung thư gan cao nhất ở Hoa Kỳ, gấp 13 lần người Mỹ trắng. (Người gốc Đại Hàn gấp 8 lần và người gốc Hoa gấp 6 lần)
3. Nguyên nhân chính gây ra ung thư gan ở người Á Châu là viêm gan B. Với viêm gan B, người bệnh có thể bị ung thư gan khi gan chưa bị chai, và ngay cả khi thử máu không thấy có dấu hiệu siêu vi B đang hoạt động
.
4. Viêm gan B cũng gây ra cái chết vì chai gan hay viêm gan cấp tính.
5. Những người bị nhiễm viêm gan B khi còn thơ ấu hay lúc lọt lòng mẹ, có tỷ lệ bị ung thư gan rất cao, đến 40% và có thể ở tuổi rất trẻ như hai trường hợp kể trên.
6. Hiện thời có thuốc để chữa viêm gan B. Tuy nhiên hiệu quả chữa lành cuả các thuốc này còn thấp, chỉ dưới 20%. Do đó, nhiều thuốc mới đang được thí nghiệm.
7. Chích ngừa viêm gan B nếu chưa bị mắc bệnh là cách tốt nhất để ngừa chứng hư gan vì siêu vi B và ung thư gan.
8. Các trẻ em sinh ở Mỹ trong vòng 20 năm qua đều đã được chích ngừa viêm gan B. Ngoài ra trẻ em vào lớp Bảy cũng phải được chích ngừa cho siêu vi B. Tuy nhiên, còn rất nhiều trẻ em chưa được chích ngừa.
9. Viêm gan C thường có tính cách mãn tính và thường 20 đến 30 năm sau mới gây ra bệnh nặng như chai gan, ung thư hay hư gan.
10. Ngưòi bị viêm gan C cũng dễ bị ung thư gan, nhưng thường thì phải bị chai gan trước khi trở thành ung thư gan.
11. Cũng có thuốc chữa bệnh viêm gan C, phải dùng cả thuốc uống và thuốc chích và cơ hội chữa bệnh khoảng 50%.
12. Chưa có thuốc chích ngưà cho viêm gan C
13. Cả viêm gan B và C đều truyền đi qua sự đụng chạm về máu như truyền máu, sử dụng kim chích, dùng dao cạo râu, bàn chải đánh răng, v.v cuả ngưòi bệnh. Sự giao hợp cũng có thể làm lây bệnh viêm gan B và C từ người này qua người khác. Truyền máu ở nước Mỹ rất an toàn trong vấn đề này vì tất cả máu đều đã được thử siêu vi viêm gan B, C và HIV
14. Ăn cùng mâm cùng dĩa không bị lây viêm gan B hay C, nhưng có thể làm lây viêm gan A là một loại viêm gan thường nhẹ và thường không gây những hậu quả tai hại về sau. Tuy nhiên, nếu bị lây bệnh này sau khi đã bị viêm gan B hay C thì gan có thể sẽ bị yếu đi nhiều và gây thêm thương tích cho gan.
15. Uống rượu khi đã bị viêm gan B hay C có thể làm gan yếu hơn, gia tăng cơ hội bị chai gan hơn, và gia tăng cơ hội bị ung thư gan hơn. Vì vậy, nếu muốn uống rượu, xin chỉ uống vừa phải nếu gan cuả quý vị tốt và không bị nhiễm siêu vi B hoặc C hay một bệnh gan nào khác. Nếu bị bệnh gan, nhất là nếu bị siêu vi B hay C, xin tuyệt đối đừng uống rượu. Quý vị nên biết là nguyên nhân gây chai gan và ung thư gan nhiều nhất cho những người không bị siêu vi gan B hay C là rượu.
Những điều nên làm:
16. Tất cả mọi người Á châu nên được thử máu để xem có bị viêm gan B hay C không. Ngoài ra cũng nên thử xem đã được miễn nhiễm viêm gan A và B hay chưa. Xin hỏi bác sĩ cuả quý vị để thử ngay nếu chưa thử bao giờ.
17. Nếu kết quả thử máu có Hepatitis B surface antigen HBsAg (dương tính) (positive), quý vị cần thử lại sáu tháng sau. Nếu vẫn dương tính, quý vị đã bị viêm gan B.
18. Trong trường hợp này, quý vị cần được theo dõi chức năng gan, lượng AFP (alpha-fetoprotein) trong máu mỗi sáu tháng, và siêu âm gan mỗi một năm để truy tầm ung thư gan. Quý vị cũng nên gặp bác sĩ chuyên môn về gan để xem có cần chữa bệnh viêm gan B hay chưa.
19. Nếu không có HBsAg (âm tính), tức là chưa mắc bệnh, thì phải xem Hepatitis B antibody tức HbsAb xem có đủ cao hay không. Nếu trên 10, có nghiã là bạn đã được miễn nhiễm. Nếu âm tính hay thấp hơn 10, bạn cần được chích ngừa viêm gan B.
20. Với viêm gan C, nếu có Hepatitis C antibody tức HCV Ab dương tính, quý vị có lẽ đã bị viêm gan C, chứ không có nghiã là quý vị đã được miễn nhiễm đâu. Nên đi gặp bác sĩ chuyên khoa gan ngay để thử nghiệm xem lượng vi khuẩn có cao không, chức năng gan còn tốt không và quý vị có phải chữa trị hay không vào lúc này.
21. Nếu đã bị chai gan vì bất cứ lý do nào, qúy vị cần được theo dõi kỹ và được truy tầm ung thư gan với lượng AFP (alpha-fetoprotein) trong máu mỗi sáu tháng, và siêu âm gan mỗi năm một lần dù cho quý vị không có triệu chứng gì cả.
22. Nếu máu không có lượng kháng thể IGG hay Total Antibody cuả viêm gan A, thì quý vị chưa được miễn nhiễm viêm gan A và nên nghĩ đến chuyện chích ngưà, nhất là nếu quý vị đã bị viêm gan B hay C, để bảo vệ gan không bị hư haị thêm trong trường hợp nhiễm thêm viêm gan A. Cũng nên chích ngừa nếu qúy vị đi đến vùng có dịch như Việt Nam hay Mexico chẳng hạn.
23. Nên nhớ: chưa có thuốc chích ngưà viêm gan C. Do đó, nếu quý vị đã miễn nhiễm siêu vi A va B, quý vị vẫn có thể bị nhiễm siêu vi C. Xin tránh những hành động có thể gây ra sự truyền nhiễm qua đường máu từ người này qua người khác như dùng kim chích, bàn chải đánh răng, dao cạo chung. Hãy dùng kim mới khi đi xâm mình, châm cứu, hay lễ giác, và dùng đồng xu mới và riêng cho từng người để cạo gió.
24. Hãy xử dụng bao cao su khi giao hợp hay các biện pháp an toàn khác như tránh quan hệ tình dục với nhiều người.
25. Tránh uống rượu. Nếu đã bị viêm gan B hay C rồi thì tuyệt đối không uống rượu.
26. Hãy nhắc nhở con em về những điều trên và loan truyền những tin tức này cho những người khác.
27. Hãy hăng hái tham gia vào những công trình nghiên cứu y khoa nếu hội đủ điều kiện.
Mọi chi tiết về các hoạt động của Hội Ung Thư Việt Mỹ xin liên lạc tại số (714) 751-5805) hoặc trang web http://www.ungthu.org/

Con dấu Bụi Trúc của Tổng Thống Ngô Đình Diệm


       

Bây giờ nếu có trở về Saigon, đi thăm Dinh Độc Lập, khi đi qua một phòng triển lãm những di vật thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa đang được trưng bày ở phía sau tầng trệt trong Dinh, người ta thấy thiếu con dấu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mà chúng ta cũng thường gọi là “Con Dấu Bụi Trúc” với lý do mà theo người viết bài được biết,  hiện nay con dấu này đang lưu lạc ở nước ngoài.
 
 

Hình chụp con dấu và hình con dấu đóng trên giấy

 
Lý do: Những năm 1978 – 1979 dưới sự lãnh đạo đại tài của “Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người”, dưới chánh sách cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản thêm đợt thứ nhì, rồi đổi tiền lần thứ nhì. Nhất là với chủ trương hợp tác xã nông nghiệp, vân vân… nền kinh tế cả nước bị tê liệt, nhà máy, cơ xưởng sản xuất bị đóng cửa hay chỉ hoạt động cầm chừng. Ruộng đồng thì bị bỏ hoang, cả nước Việt Nam bị đói khủng khiếp. Để cứu nguy cho tình trạng này, Cộng Sản Hà Nội phải ban hành nhiều biện pháp trong đó có biện pháp gọi là “Ba Lợi Ích”. Theo đó những cơ quan nhà nước có thể làm kinh doanh  ….. bằng mọi cách!  Và tiền lời kiếm được sẽ chia làm ba phần, để cùng nhau hưởng lợi = Nhà nước + Xí nghiệp + Công nhân viên.
 
Những cơ quan có đất đai, cơ sở vật chất nhiều như quân đội, hay cơ quan hoạt động về kinh tế thì nhân cơ hội này, có thể kiếm ra tiền dễ dàng, thí dụ như:   Các trại lính, ngang nhiên cho tư nhân thuê một phần diện tích hay một phần trang trại quân đội để tư nhân làm nhà hàng, khách sạn…

·        Công ty điện lực thì “vô tư” lấy điện có sẵn, nay ra lệnh cho công nhân làm thêm nước đá lạnh, cà rem cây …. để bán cho dân chúng; Đây là những mặt hàng sau tháng 4,75 rất khan hiếm, vì lúc đó điện không có để thắp đèn, lấy đâu mà làm nước đá!
 
·        Bệnh viện thì cho phép “Khám Ngoài Giờ”, hay bán cả thuốc tây giá …. kinh doanh, tức là tương đương với giá chợ đen cao ngất ngường ngoài thị trường:
·        Công Ty Xây Dựng thì cũng “vô tư như người Hà Nội” lấy xi măng, sắt, cát ….  đem bán ra ngoài thị trường đương nhiên với giá chợ đen cao có khi cao gấp chục lần. Sau khi bù lại giá chính thức vô sổ sách kế toán, tiền chênh lệch được chia ra cho “ba lợi ích”.
 
Nhưng có nhiều cơ quan không có sản phẩm hay dịch vụ gì để bán như Thư Viện Quốc Gia, Viện Bảo Tàng, Bộ Tư Pháp … thì hơi kẹt!
 
Bộ đội của Bác thì luôn luôân thực hiện “nghiêm chỉnh” lời của “Bác và Đảng”: “Khó khăn nào cũng vượt qua. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Kẻ thù nào cũng chiến thắng”.
 
Túng thì phải tính! Túng ăn vụng ….. Đói làm liều! Hơn nữa: Của công là của chùa! Hơi đâu mà lo!
 
Thế là những cơ quan này có “nhiều thông minh” có nhiều sáng kiến, nhiều phát minh “đột xuất” nên biến hóa những chiêu thật đẹp: như cho thuê một phần đất đai, địa điểm của cơ quan để làm quán cà phê nhạc sống, nhà hàng cưới …

Nhưng “Nhà Bảo Tàng Lịch Sử Thành Phố HCM”, nằm ở Dinh Gia Long cũ, nơi có những trưng bày những con dấu, con triện, của Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Bộ Trưởng, Những huân chương Tư lệnh Vùng, Quân khu, Tham Mưu Trưởng của Miền Nam Việt Nam ….  thì không còn diện tích dư để cho tư nhân thuê mở quán cà phê.
 
Không sao! “Đảng vĩ đại” đã dạy: “Với ý chí cương quyết, với đôi tay, sức người cũng biến sỏi đá thành cơm”. Thế là cơ quan bèn đem bán quách tất cả những con dấu, những huy chương có trong Nhà Bảo Tàng cho nhà máy sản xuất dây điện ở Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa để …. nấu làm dây điện! “Tàn dư Mỹ Ngụy” dẹp quách đi cho khỏi chướng mắt!
 
Có vài nhân viên của chế độ cũ đang làm việc tại đấy với tên gọi là nhân viên “Lưu Dung” (tạm thời lưu lại để làm việc, hay tạm thời dung tha!) thấy hành động vô văn hóa như vậy bèn lén lút, lượm cất đi những con dấu quan trọng mà trong số đó có con dấu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà nay chúng ta còn thấy được. Và hiện nay con dấu này đang ở ngoại quốc.
 
 
Dzung Bui

Halloween : Đêm cô hồn- NHÀ CÓ MA



Ngôi nhà trên đường CMT8 từ lâu được đồn thổi là nơi cư trú của các oan hồn

Ngôi nhà trên đường CMT8 từ lâu được đồn thổi là nơi cư trú của các oan hồnDọn đến nhà này cả tuần hắn mới bắt đầu nghe như có người đi lại trong nhà. Hắn nghĩ tới lời báo trước khi mua căn nhà trong chúng cư này. Nhà để bảng bán đã lâu mà không ai chịu mua. Giá nhà mỗi ngày một sụt xuống một cách thảm hại, không bằng nửa giá những căn chung quanh. Chủ nhà chỉ muốn bán tống bán tháo cho rảnh nợ. Đã thay tới ba người giới thiệu nhà đất mà nhà vẫn trơ trơ ra đó. Khi bà giới thiệu nhà đất đưa hắn đến coi nhà, hắn ưng ý liền. Cái gì cũng còn tốt nguyên, có thứ còn mới toanh như cái tủ lạnh và cái máy rửa chén. Hắn ngạc nhiên hỏi bà "nhà đất" :

"Nhà ngon lành như thế này, lại ở khu thuận tiện đủ mọi bề, giá rẻ không bằng nửa các nhà khác, sao không ai chịu mua ? Có khuyết điểm gì ? Xin bà nói thiệt để tôi còn tính."

Bà "nhà đất" ngập ngừng khá lâu, rồi đáp :

"Theo luật, tôi không được nói dối khách hàng, vì sau đó, khi khám phá ra cái không ổn bên trong, quý vị có thể trả lại nhà mà chúng tôi phải chịu hết mọi phí tổn... Người ta nói...nhà này có ma...nên ai cũng sợ, nhất là những gia đình có con nít."

"À, ra thế !" Hắn gật gù. "Vậy, tôi không có vợ, không có cả con nít, trơ trọi có một thân một mình thì không sợ ?"

Bà "nhà đất" rụt rè :

"Tôi không dám có ý kiến gì hết. Mua hay không là tùy ông. Nhưng khi tôi đã nói thật hết mà ông vẫn cứ mua thì sau này ông không có quyền khiếu nại, thưa kiện gì hết."

Hắn cười :

"Tôi sẽ trả lời bà trong vòng một tuần. Để tôi nghĩ xem tôi có thể sống chung với ma không ? Tôi cũng thuộc loại...ma mãnh lắm, có khi ma lại bỏ đi mất tiêu đấy."

Nghe hắn nói thế, bà "nhà đất" nghĩ rằng hắn sẽ không mua căn nhà này. Ai mà ở chung với ma với quỷ được. Nhưng chỉ mới có hai hôm, hắn đã gọi bà để yêu cầu bà xúc tiến các thủ tục mua nhà. Không những thế, vì giá nhà quá rẻ, hắn không cần vay tiền ngân hàng, trả hết một lúc. Việc mua bán thật nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng của bà "nhà đất" và chủ nhà.

Hôm ăn mừng nhà mới, hắn nói với bạn bè :

"Ai sợ ma, chứ tớ thì không. Đến cộng sản là quỷ khát máu mà tớ còn coi như pha nữa là. Quỷ còn dữ và lưu manh hơn ma. Chúng nó đánh lừa mình vào trại tù khổ sai bằng cách nói láo rằng đi học tập cải tạo trong vòng một tháng. Khi biết là bị lừa, tớ tìm cách vượt ngục ngay. Cả cái tập đoàn quản giáo ngu hơn heo của chùng bị tớ lừa hết. Trốn thoát rồi, tớ đâu có dại mà về Saigon, tớ ra bờ biển ngay rồi tìm đường vượt biên. Bọn quỷ đỏ mà lúc nào mồm miệng cũng đầy máu me của người dân lành tớ còn không sợ, bây giờ chả lẽ lại sợ mấy em ma oắt con này ? Rồi các cậu coi, ma sẽ phải cuốn gói mà đi để tớ sống phây phây."

Một người tò mò hỏi :

"Thế từ hôm dọn tới đây, cậu đã thấy gì chưa ? Có em ma oắt con nào quấy phá chưa ? "

Hắn cười hì hì :

"Vì dọn nhà mệt quá, rồi vẫn phải đi làm, tớ cứ ngả lưng xuống là ngáo một mạch đến sáng. Chưa thấy em ma nào tới hỏi thăm. Mà cũng chưa thấy động tĩnh gì."

Nhưng sau một tuần được ngủ bù, hết mệt, hắn bắt đầu thấy có "động tĩnh". Đang ngủ, chợt thức giấc, hắn cảm thấy như có người đứng cạnh giường. Hắn mở mắt thì không thấy gì, ngoài một vài vệt sáng trên trần nhà từ ngọn đèn dưới đường hắt lên. Tuy vẫn nói mạnh rằng không sợ, hắn cũng thấy rờn rợn, hơi gai gai ở sống lưng. Dù cộng sản có là quỷ, chúng vẫn là những vật cụ thể, vẫn dễ đối phó hơn. Ma vô hình, chỉ cảm thấy mà không sờ mó, đụng chạm được. Hắn nằm im lặng, mở to mắt, đầu óc suy nghĩ thật nhanh xem nên đối phó cách nào. Đánh lộn với nó ? Có biết nó ở đâu mà đánh ! Hắn nghĩ tới roi dâu mà người ta vẫn đồn rằng trị ma rất hiệu nghiệm. Ở xứ Mỹ này, kiếm đâu ra cây dâu ? Nước tiểu, đồ dơ ? Càng không được, chỉ tổ làm nhà cửa hôi hám, dơ bẩn. Mà hắn cũng không tin ở điều bậy bạ đó. Hay là nhờ thầy pháp cúng kiếng đuổi tà, đuổi ma ? Ôi, chuyện mê tín dị đoan ! Làm như vậy chỉ chứng tỏ cho mọi người biết mình bất lực trước "con ma oắt con" mà hắn trót huênh hoang coi thường. Nghĩ ngợi một lúc, hắn ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Hôm sau, khi hắn thức giấc thì trời đã sáng rõ. Nhớ ngay đến chuyện ma đêm qua, hắn vội vàng đi quanh nhà để xem có gì thay đổi khác lạ không ? Tất cả đều bình thường. Trong khi ngồi ăn điểm tâm, hắn chợt nhận ra rằng nếu quả thật đêm qua hắn đã gặp ma thì con ma này thuộc loại hiền lành, không quấy phá gì. Nó chỉ muốn báo cho hắn biết là có sự hiện diện của nó trong căn nhà này. Như vậy, nó là loại ma có thể nói chuyện được. Bỗng hai tiếng "nói chuyện" làm hắn chú ý. Ừ nhỉ, hắn thầm nhủ, sao mình không thử nói chuyện với ma ? Mà "nói" bằng cách nào đây ? Tiếng Việt hay tiếng Anh ? Ma Việt hay ma Mỹ ? Mà cũng có thể là ma xứ khác vì ở cái nước có nhiều chủng tộc này làm sao mà biết chắc được.

Trong lúc lái xe đến sở, hắn bỗng nghĩ tới cầu cơ. Hắn đã nhiều lần, khi còn ở trong nước, thấy người ta "nói chuyện" với linh hồn người đã khuất bằng cách đó. Nhưng hắn chả bao giờ tin cái chuyện mà hắn cho là bịa đặt nhằm mục đích giải trí. Thật ra, cũng có đôi lần hắn nửa tin nửa ngờ vì người "ngồi đồng" không hề biết làm thơ lại có thể viết ra nhiều câu thơ tuy chẳng hay ho gì cũng vẫn có vần có điệu đàng hoàng. Nếu bảo rằng người đó đã làm thơ thì thật đáng ngờ. Chỉ có một điều hắn tin chắc là có linh hồn. Bây giờ, sau một đêm "tiếp xúc" với một bóng ma vô hình thì niềm tin đó càng mạnh hơn.

Câu chuyện ma tạm thời bị hắn quên đi trong những giờ bận rộn của sở. Đến khi ra xe về nhà vào buổi chiều hắn mới chợt nhớ lại. Việc đầu tiên trước khi ăn cơm, hắn tìm một miếng bìa cứng lớn, nắn nót viết hai mươi lăm chữ cái, từ A đến Z. Theo hắn biết, miếng gỗ dùng để di chuyển trên những hàng chữ là một miếng gỗ lấy từ mảnh ván thiên của một quan tài mới được bốc mộ. "Như vậy mới linh !:" Có người bảo hắn thế. Bây giờ đào đâu ra miếng gỗ đặc biệt đó, hắn thầm nghĩ. Nhìn quanh nhìn quẩn, cuối cùng hắn đành chọn cái thước gỗ mà từ lâu vẫn bị bỏ quên trong ngăn kéo bàn làm việc. Nhưng cái thước dù chỉ có hai mươi phân tây cũng quá dài để làm miếng gỗ cầu cơ. Thế là hắn phải tìm cách cưa ngắn, chỉ lấy một mẩu khoảng ba phân vuông. Sơ sơ thế mà cũng mất ngót một tiếng đồng hồ. Hắn dẹp hết đồ trên mặt bàn cà phê trong phòng khách, bầy bàn cầu cơ lên đó, sẵn sàng tiếp chuyện với ma. Hắn nhìn "tác phẩm" của mình với một vẻ đắc ý.

Sau khi tắm rửa và ăn tối, hắn ngồi cạnh bàn cầu cơ, chờ đợi. Nhưng hắn chờ mãi, chả thấy ma đâu. Đến gần mười giờ thì hắn bắt đầu buồn ngủ. Hắn chợt nhớ rằng theo những người có kinh nghiệm về thế giới vô hình, ma chỉ hiện ra từ nửa đêm trở đi, nghĩa là sau giờ Tý. À, nếu thế, hắn tự nhủ, tối nay mình ngủ trên cái sô pha này, có triệu chứng gì là có thể đối thoại ngay được. Hắn vào phòng ngủ lấy gối chăn ra phòng khách. Hắn tắt hết đèn trong nhà, trừ một ngọn nhỏ ở lối cửa ra vào . Vừa ngả lưng xuống, hắn ngủ thiếp đi ngay.

Không biết vào mấy giờ giữa đêm, hắn chợt thức giấc và liền cảm thấy có người đứng cạnh. Tinh thần đã được sửa soạn trước, hắn bèn ngồi dậy, nói thầm trong óc : "OK ! Nào mình nói chuyện.." Rồi hắn đặt tay lên miếng gỗ trên bàn cầu cơ. Nhưng hắn chưa kịp đặt câu hỏi, miếng gỗ đã tự động di chuyển :"OK ! Mình nói chuyện." Hắn giật mình, lặng người đi mấy giây. Như vậy, ma đọc được ý nghĩ của hắn. Chưa định thần được, hắn đã thấy tay hắn đẩy miếng gỗ lướt trên các hàng chữ :

"Đừng có sợ. Tôi không phải là ma."

Bây giờ, hắn đã lấy lại bình tĩnh, hỏi thầm trong óc :

"Vậy hồn là người Việt Nam ?"

"Không, khi đã ra khỏi cuộc sống, không còn lệ thuộc vào chủng tộc nữa."

"À, ra thế ! Xin cho biết tên lúc còn sống ?"

"Không nhớ tên vì tên tuổi chỉ là cái phụ thuộc bên ngoài, không nhất định, không chắc chắn. Bằng cớ là một người có thể có nhiều tên. Khi ra khỏi cuộc đời, chỉ còn lại linh hồn, cái tinh túy của cuộc sống, những phần phụ thuộc đều tự nó biến đi. "

"Vậy hồn ở nhà này lâu chưa ?"

"Không có gì gọi là lâu với chóng. Thời gian chỉ được kể tới khi còn sống ở cõi đời vì đó là sự xếp đặt của con người. Khi đã ra khỏi cuộc sống, hồn không còn lệ thuộc vào những sự xếp đặt đó nữa."

Hắn có vẻ không đồng ý, liền hỏi :

"Nếu không có thời gian, không có giờ giấc, tại sao hồn chỉ xuất hiện sau nửa đêm ? Tức là hồn cũng biết lúc nào sáng, lúc nào đêm."

"Nói vậy là sai. Trong thế giới vô hình này, làm gì có đêm và ngày. Lúc nào cũng như lúc nào."

"Vậy sao hồn không...dám xuất đầu lộ diện giữa ban ngày ban mặt ? Cứ phải chờ đến nửa đêm mới quấy phá người sống ?"

"Thật ra, hồn lúc nào cũng quanh quẩn ở đây, nhưng người sống không thể nhận biết là vì muốn tiếp xúc với thế giới vô hình đầu óc người sống phải trong sáng, không bị vẩn đục vì những tạp niệm, những lo lắng, những băn khoăn hàng ngày."

Hắn vẫn nghi ngờ :

"Vậy sao có những người không cần nghỉ ngơi để lòng được thanh tịnh vẫn có thể gặp...ma ? Cũng có người gặp ma ngay khi vừa chập tối. Hồn giải thích làm sao những chuyện đó."

Hắn nghe như hồn ma cười :

"Như vậy chính người đã tự mâu thuẫn. Lúc thì nói nửa đêm lúc thì nói chập tối. Riêng điều đó đã chứng tỏ hồn lúc nào cũng lẩn quất đâu đây, chỉ người không nhận biết thôi. Còn những người không cần nghỉ ngơi để lòng thanh tịnh vì lòng họ đã trong sáng sẵn. Những người càng ít học càng ít suy nghĩ càng dễ cảm thông với vạn vật. Học hành, suy nghĩ làm đầu óc con người phức tạp, rối ren, nên xa rời cái gốc của mình, tức là thiên nhiên, vạn vật."

Hắn thấy lời giải thích vẫn chưa ổn, nhưng không biết cãi làm sao nên đành giữ im lặng một cách ấm ức. Rồi hắn chợt hỏi :

"Hồn là đàn ông hay đàn bà ?"

"Sau khi ra khỏi cõi đời, không còn là đàn bà hay đàn ông nữa. Chỉ phân biệt nam hay nữ khi còn ở trần thế. Bây giờ hồn thuộc loại vô tính, không là giống cái cũng không giống đực."

"Lại đực hay lại cái ?" Hắn lại cảm thấy như có tiếng cười. Cuộc nói chuyện mỗi lúc một trôi chẩy hơn. Rồi đến cái độ hắn không cần xử dụng bàn cầu cơ nữa. Mỗi lần hắn có một ý nghĩ thì liền ngay trong óc hắn có câu trả lời.

"Không lại đực mà cũng không lại cái."

"Thế là cái giống gì ?"

"Xin giải thích cho rõ hơn."

"OK ! Xin nghe."

"Hơi dài dòng, lôi thôi. Hãy kiên nhẫn."

Hắn không nghĩ gì nữa, chờ đợi.

"Con người khi sinh ra đều bị ảnh hưởng của vũ trụ tuyến hay cũng có thể coi là những dòng điện đan kết chằng chịt trong vũ trụ. Những dòng điện đó có âm và dương. Người nam thì nhiều dương hơn âm và ngược lại. Có người cho rằng những luồng điện đó là những dây duyên hay dây nợ buộc lấy con người. Muốn thoát ra khỏi các cuộc sống nối tiếp nhau để sang cõi khác, con người làm sao cởi bỏ hết được những sợi dây trói buộc mình, trở thành không âm không dương như hồn bây giờ."

Hắn chợt ngắt :

"Nếu tôi không lầm, mỗi cuộc sống mà hồn nói tới chính là một kiếp. Có phải vậy không ?"

"Gọi là kiếp hay một lần sống cũng chỉ một cách nói."

"Vậy, xin gọi là kiếp cho dễ hiểu vì tiếng đó đã quen với mọi người."

"Cũng được. Một kiếp người !"

"Muốn cởi bỏ hết các sợi dây điện trói buộc mình, tức là không bị ảnh hưởng của vũ trụ tuyến nữa, phải làm cách nào ?"

Hồn ma không trả lời ngay. Dường như có cái gì khó khăn làm nó phải tính toán, suy nghĩ. Chờ lâu, hắn sốt ruột hỏi thêm :

"Hồn còn ở đó hay đã biến đi đâu mất tiêu rồi ?"

"Vẫn ở bên cạnh người đó."

"Vậy sao không chịu nói gì nữa ?"

Hồn ma ngập ngừng :

"Vì...vì khó nói để người hiểu...Muốn thoát khỏi sự ràng buộc của các sợi dây trong vũ trụ, ta phải...ta phải...làm sao đừng vướng mắc..."

Hắn sốt ruột :

"Vướng mắc cái gì ?"

Hồn ma trả lời một cách khó khăn :

"Vướng mắc những chuyện, những người chung quanh mình để nó biến thành những trói buộc, làm mình không thoát đi được."

Hắn suy nghĩ một lát, rồi hỏi :

"Có phải hồn muốn nói đến những duyên, những nợ trói buộc con người ta không ?"

Hồn ma có giọng vui mừng :

"Đúng là như vậy."

Hắn cũng thấy vui, nên nói tiếp ngay :

"Thế tức là phải tu đó ! Tu, theo đạo Phật, là chỉ làm những điều tốt, không làm ác để có thể gây nên nghiệp, tức là món nợ phải trả ở kiếp sau."

Hồn ma nói ngay :

"Làm tốt cũng không được vì sẽ tạo nên...cái mà người gọi là duyên. Kiếp sau vẫn phải trả cái duyên đó. Duyên hay nợ đều là những ràng buộc để con người cứ luẩn quẩn mãi với cõi sống."

Hắn thốt kêu thành tiếng :

"Khó quá ! Khó hơn là tu !"

"Tu theo nghĩa mà con người hiểu chỉ là bước đầu tiên cởi bỏ những ràng buộc."

Hắn thở dài :

"Nếu vậy thì cả trăm kiếp mới cởi bỏ xong. Thôi thì cứ sống bình thường là tốt nhất, miễn không hại ai, không gây thù chuốc oán với ai...Được như vậy cũng khó quá rồi..."

Hồn ma giảng giải thêm :

"Khi mình còn bị trói buộc, điện trong người mình còn mạnh, tự nó hút các dòng điện trong vũ trụ. Vì thế, cứ phải sống hết kiếp này đến kiếp khác."

Hắn chợt nghĩ :

"Đó là luân hồi."

Thấy hồn ma không nói gì nữa,hắn lại hỏi :

"Cuộc sống chỉ có ở trái đất này hay còn ở nhiều hành tinh khác nữa? Hình như Đức Phật có nói tới ba ngàn thế giới."

"Điều đó khó mà biết được, vì khi ra khỏi cuộc sống là quên hết. Sau đó, nếu còn duyên nợ, tức là còn nhiều sợi dây điện trói buộc mình, lại phải đi vào kiếp khác ngay. Cứ liên tục mãi, không thể dứt ra được."

Hắn hỏi :

"Vậy sao bây giờ hồn không đầu thai kiếp khác và còn nhớ được kiếp vừa qua?"

Hắn phải chờ khá lâu mới thấy ma trả lời :

"Con người chỉ biết rằng có duyên và nợ ràng buộc lấy mình, nhưng không biết rõ duyên ra sao và nợ thế nào. Ngay cả khi đã trả nợ hay đáp lại cái duyên con người cũng không biết hết hay còn."

"Hồn ở đây lâu chưa ? Mấy chục năm hay mấy trăm năm ?"

"Trong cõi này không có thời gian nên không tính năm, tháng."

"Vậy tính bằng gì ?"

"Không tính gì hết vì không lâu mà cũng không chóng."

Đến đây hắn bỗng thấy buồn ngủ, bèn ngáp một cái dài rồi nhìn lên đồng hồ treo tường. Hắn giật mình thấy đã gần ba giờ sáng. Như hiểu ý hắn, hồn ma nói :

"Chúng ta sẽ gặp lại vào lúc khác."

Hắn bèn ngả lưng xuống ghế dài và ngủ thiếp đi ngay.

Sáng hôm sau, hắn dậy hơi trễ và phải uống mấy ly cà phê thật đậm mới đủ tỉnh táo để làm việc cho sở. Buổi tối, vừa ăn cơm xong, hắn đi ngủ ngay vì sợ nửa đêm phải thức giấc nói chuyện với ma. Nhưng đêm đó và nhiều đêm sau, ma không đánh thức hắn. Mãi đến nửa tháng sau, khi hắn đã thấy tỉnh táo, khỏe khoắn, ma mới trở lại. Hắn hiểu rằng ma muốn để hắn nghỉ ngơi. Thế là hắn có cảm tình với ma. Khi biết ma đã ở cạnh, hắn liền bắt đầu :

"Cảm ơn hồn đã cho tôi được nghỉ ngơi một thời gian. Thế mà từ xưa đến nay, ai cũng nói là ma quỷ thích quấy phá người."

Hồn ma cười :

"Thật ra, hồn không quấy phá mà cũng không có đủ khả năng làm hại người. Chính người cứ tưởng như vậy nên mình lại làm mình sợ."

"Có phải hồn muốn nói 'thần hồn nát thần tính' không ?"

"Hồn chỉ biết nói một cách dễ hiểu chứ không biết dùng những chữ khó khăn, cao siêu."

Hắn ngập ngừng một chút rồi hỏi :

"Hồn định ở đây lâu hay chóng ? Bao giờ thì hồn bỏ đi nơi khác ?"

"Như hồn đã một lần nói, lâu hay chóng hồn không tự quyết định được, tất cả đều phụ thuộc vào duyên và nợ. Hết duyên, hết nợ thì tự nhiên đi nơi khác."

Hắn nửa đùa nửa thật :

"Tôi với hồn có duyên hay có nợ ? Nếu nợ thì ai nợ ai ?...Tôi muốn hồn cứ ở đây mãi với tôi."

"Hồn cũng không biết là có duyên hay nợ với người, nhưng hồn không tin sẽ ở mãi đây với người được...Mà người không sợ ma hay sao lại thích ở chung với ma ?"

"Trước kia thì cũng hơi sợ thiệt, bây giờ thấy ma lành quá nên có cảm tình."

Hồn ma cười :

"Lần đầu tiên có người nói là có cảm tình với ma."

"Đây cũng là lần đầu tiên tôi gặp ma hiền lành..."

"Nghĩa là người đã gặp ma nhiều lần mà toàn là ma dữ ?"

Hắn suy nghĩ một lát rồi đáp :

"Nói thiệt là chưa bao giờ gặp ma. Còn ma dữ là nghe nói lại thôi, chứ chưa bao giờ bị ma quấy phá. Còn lần này thì tôi thực sự có cảm tình với hồn...Từ lâu tôi sống rất cô đơn, không vợ không con, bạn bè chỉ giao thiệp một cách hời hợt, chứ không thân. Nay có hồn, mỗi lần về nhà thấy ấm cúng vì có người để chuyện trò."

Hắn không khỏi ngạc nhiên thấy mình đã bày tỏ tâm sự với ma. Nhưng quả thật, cuộc sống của hắn rất cô đơn kể từ ngày hắn trốn khỏi trại tù cải tạo. Sau khi vượt ngục, hắn không dám ghé về nhà thăm cô vợ trẻ mới cưới được ít lâu, trước ngày miền Nam xụp đổ. Hắn tìm đường vượt biên ngay. Gần hai năm sau hắn mới liên lạc được với vợ thì nàng đã lấy chồng khác. Trong khi hắn mất tích, bọn cộng sản báo cho vợ hắn biết là hắn đã chết. Tin vợ lấy chồng khác làm hắn buồn rất lâu, cả mấy năm trời mới nguôi ngoai. Hắn không trách vợ nhưng cũng ngạc nhiên về sự thay đổi nhanh chóng của nàng. Trước ngày cưới, hai người đã yêu nhau tha thiết, tưởng không bao giờ có thể quên nhau được dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Từ đó, hắn không còn tin nổi ai nữa. Trong sự liên lạc hàng ngày, hắn gặp nhiều người đàn bà, kể cả những người chưa hề có chồng, nhưng hắn không dám đi quá sâu trong liên hệ tình cảm. Hắn chỉ vui chơi với họ một thời gian rồi mỗi người đi một đường. Thế mà khỏe ! Không ràng buộc, không trách nhiệm. Chính vì thế, đôi khi hắn cảm thấy rất cô đơn. Nhà hắn lúc nào cũng vắng lạnh. Nhiều hôm, hắn không dám về nhà vì cái lạnh lẽo đó. Hắn thèm một hơi ấm cho căn nhà hay chính cho tâm hồn quạnh hiu của hắn. Có lần hắn nghĩ tới chuyện lấy vợ. Nhưng rồi hắn phải dẹp bỏ ý nghĩ đó đi. Tuổi hắn nay đã ngót năm mươi, sống một mình hơn hai chục năm, mọi thói quen đã thành nếp trong hắn, không thể bỏ được nữa. Bây giờ, nếu lấy vợ, hắn sẽ phải thích ứng với cuộc sống mới cho phù hợp với hoàn cảnh của một cặp vợ chồng. Hắn sẽ phải bỏ bớt một số thói quen và tập cho quen những cái mới. Sự bỏ bớt và tập thêm ấy sẽ làm hắn khổ sở ở cái tuổi trung niên này. Rồi hắn sẽ bực bội, khó chịu, cuộc sống hôn nhân sẽ gặp sóng gió. Thà cứ chịu cô đơn lại không chuốc phiền lụy vào mình. Hắn đành kéo dài cuộc sống độc thân.

Nay bỗng thấy mình hợp với hồn ma của căn nhà mới mua thì hắn vừa thích thú vừa ngạc nhiên. Không ngạc nhiên sao được khi con người có thể sống chung một cách vui vẻ, hòa thuận với một hồn ma. Hắn nghĩ tới cái duyên của nhà Phật. Biết đâu hắn và ma chả có duyên với nhau, nhưng không được gặp nhau lúc ma còn sống làm người ở cõi thế. Đến bây giờ mới được gặp thì mỗi người ở một thế giới khác. Có thể đây là cái duyên cuối cùng mà hồn ma còn vướng mắc trước khi được siêu thoát để lên một cõi cao hơn, không còn bị lôi cuốn vào vòng luân hồi nữa. Hắn chợt buồn khi nghĩ tới ngày hồn ma bỏ hắn để siêu thoát. Rồi hắn sẽ lại trở về với cô đơn như trước kia. Căn nhà của hắn sẽ lại vắng lạnh, rồi hắn sẽ lại thui thủi một mình, ra vào buồn tênh.

Đang suy nghĩ vẩn vơ, hắn bỗng thấy hồn ma an ủi :

"Có hợp thì có tan, được lúc nào hay lúc đó, buồn mà làm chi."

 TẠ QUANG KHÔI
 Truyện vui 

Bài Xem Nhiều