We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 2 November 2014

Dinh Độc Lập: Biến Cố Lịch Sử của Việt Nam Cộng Hoà Sụp Đổ

Khi nói về Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm,Thi Sĩ Bạch Vân Hà trong bài Họa viết:
 
 
Suốt đời tận tụy với Non Sông!
Rũ áo từ quan danh lợi không.
Khí phách lưu truyền giòng dõi Việt,
Can trường tiếp nối giống nòi Hồng.
Lưu cư hải ngoại, phương trời Bắc,
Tái ngộ quê nhà, chốn biển Đông.
Chống Cộng, bài phòng, xây Độc Lập!
Cộng-Hoà Nam Việt rạng ngời trong.

 ********
Một ánh sao băng, tắt giữa trời
Giang sơn từ đấy tối thêm thôi!
Thương người nghĩa khí tàn cơn mộng
Tiếc bậc tài hoa úa mảnh đời!
Khinh bọn túi cơm, loài rắn rết
Giận phường giá áo, lũ đười ươi
Nếu không phản phúc, không tham vọng
Đất nước giờ đây hẳn kịp người!
--------

Dinh Độc Lập 
1* Tổng quát
 

Dinh Độc Lập là “chứng nhân” đã chứng kiến những biến cố lịch sử của Việt Nam Cộng Hoà, từ những cuộc đảo chánh, cách mạng của chính trị miền Nam. Còn gọi là Dinh Tổng Thống hay Phủ Đầu Rồng.

Dinh Độc Lập (DĐL) là nơi cư ngụ và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. DĐL có hai kiến trúc, kiến trúc cũ được xây dựng ngày 23-2-1868, có tên là Dinh Norodom, sau đổi thành Dinh Độc Lập.

Kiến trúc mới do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế và thực hiện xây dựng dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Cánh cửa của DĐL bị xe tăng của Cộng Sản Bắc Việt húc sập vào buổi sáng ngày 30-4-1975 đánh dấu ngày nước Việt Nam Cộng Hoà lọt vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Từ đó, DĐL được đổi tên thành Dinh Thống Nhất.

2* Vài nét lịch sử của Dinh Độc Lập

2.1. Thời Pháp thuộc
Mặt tiền Dinh Norodom năm 1873
Mặt tiền Dinh Norodom năm 1873 
Ngày 23-2-1868, Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière làm lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Viên đá lịch sử lấy từ núi Châu Thới Biên Hòa, hình vuông, mỗi gốc rộng 50cm, có lổ, bên trong chứa những đồng tiền bằng vàng, bạc, đồng có in hình Napoléon Đệ Tam.
Diện tích công trình rộng 12 mẫu tây. Mặt tiền rộng 80m. Bên trong có phòng khách chứa đến 800 người. Do nước Pháp có chiến tranh, công trình kéo dài đến năm 1863 mới xong. (1868-1863=5 năm)

Dinh được đặt tên là Dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng mang tên Norodom, là tên của dòng họ cai trị vương quốc Campuchia. Dinh Norodom là nơi ở và làm việc của Thống đốc Nam Kỳ, người Pháp.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp, dinh Norodom là nơi làm việc của chính quyền Nhật Bản ở VN.

2.2. Thời Việt Nam Cộng Hoà
Ngày 7-9-1954, Dinh Norodom được Đại tướng Paul Ely bàn giao lại cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Năm 1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm đổi tên thành Dinh Độc Lập. Từ đó, DĐL là nơi ở và làm việc của Tổng thống Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà.

Phủ Đầu Rồng

Báo chí gọi DĐL là Phủ Đầu Rồng, vì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lấy quốc huy là hai con rồng trong bức hình lưỡng long tranh châu. Các nhà tướng số, phong thủy lại tán ra rằng, DĐL là cái đầu của con rồng, mà cái đuôi của nó dài ra tới Công trường Chiến sĩ ở ngã tư Duy Tân – Trần Quý Cáp. Họ cho rằng, muốn được yên vị ở cái đầu con rồng là DĐL, thì phải trấn ếm cái đuôi của nó, để cho nó không còn khả năng vùng vẫy quậy phá gây bất ổn.

Sau đó, tượng đài chiến sĩ vô danh của Pháp để lại bị đập phá và xây lại một cái tháp cao, đặt giữa cái hồ nước tròn, có một con rùa bằng đồng nằm dưới chân tháp, cho nên gọi là Hồ con rùa.
Ngày 27-2-1962, hai phi công VNCH là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái hai chiếc phi cơ A-1 Skyraider ném bom làm sập bộ phận chính bên trái của dinh. Do không có thể hồi phục lại được, nên Tổng Thống Diệm cho đập phá toàn bộ để xây lại dinh thự mới trên nền đất cũ, theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

2.3. Dinh Độc Lập mới
1
Ngày 1-7-1962, Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng. Thời gian nầy, Tổng thống Ngô Đình Diệm chuyển sang cư ngụ và làm việc ở Dinh Gia Long.

Công trình xây dựng đang tiến hành thì Tổng thống Diệm bị đảo chánh và bị giết vào ngày

2-11-1963. Như vậy, Tổng thống Diệm chưa được vào ở và làm việc ở DĐL do ông cho xây cất.

Ngày 31-10-1966, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, chủ tọa lễ khánh thành DĐL. Tổng thống Thiệu ở và làm việc tại đó từ tháng 10 năm 1967 cho đến ngày 21-4-1975.

Ngày 8-4-1975, Trung úy phi công Nguyễn Thành Trung lái phi cơ F-5E ném bom DĐL, thiệt hại không đáng kể.

Tổng thống Trần Văn Hương cũng vào làm việc tại văn phòng Tổng thống trong dinh, trước khi trao quyền lại cho Tổng thống Dương Văn Minh.

2.4. Dinh Độc Lập lọt vào tay Cộng Sản Bắc Việt

Ngày 30-4-1975, xe tăng CSBV húc sập cánh cửa DĐL đánh dấu sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Công Hoà.

3* Kiến trúc của Dinh Độc Lập

Dinh Độc Lập là một công trình kiến trúc độc đáo của kiến trúc sư (KTS) Ngô Viết Thụ. Được khởi công ngày 1-7-1962 và khánh thành ngày 31-10-1966. KTS Ngô Viết Thụ muốn cho công trình của mình mang một ý nghĩa văn hoá. Từ nội thất cho đến mặt tiền đều tượng trưng cho một triết lý cổ truyền, nghi lễ Đông phương và cá tính dân tộc.

Công trình thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật hiện đại với kiến trúc Đông phương. Toàn thể mặt tiền của dinh mang hình chữ “Cát” trong chữ Hán, có nghĩa là tốt lành, may mắn. Ngoài ra, từng phần của dinh có mang những chữ: Khẩu, Trung, Tâm và Hưng. Những đốt của cây trúc bằng gạch đá, tạo thành một bức rèm thanh tao bao quanh lầu hai.

Bên trong, những đường nét kiến trúc đều dùng những đường ngay, kéo thẳng, mang ý nghĩa ngay thẳng, quang minh chính đại.Trước sân dinh, thảm cỏ hình bầu dục, đường kính dài 102m. Màu xanh rì của thảm cỏ tạo cảm giác êm dịu, sảng khoái. Báo chí thời đó cho biết, cỏ phải mua từ Nhật mang về.

Một hồ nước hình bán nguyệt, có thả hoa sen, hoa súng gợi lên hình ảnh những hồ nước yên ả ở các ngôi đình, chùa cổ kính Việt Nam ngày xưa.

Dinh có diện tích 120,000 mét vuông, có 4 khu nhà.

Khu nhà chính hình chữ “T”, diện tích mặt bằng 4,500 mét vuông, cao 26m. Đây là nơi ở và làm việc của tổng thống. Khu nầy có 3 tầng, tầng hầm, tầng nền và lầu hai. Có 2 gác lửng và một sân thượng làm bãi trực thăng.

Khu nhà chính có 95 phòng, mỗi phòng có công dụng riêng. Kiến trúc và trang trí mỗi phòng phù hợp với mục đích xử dụng.

                             Phòng trình quốc thư                    
Phòng họp nội các, phòng đại yến, phòng khách nước ngoài, phòng tiếp khách trong nước, phòng trình quốc thư, phòng làm việc của tổng thống, phòng tiếp khách của phó tổng thống. Một khu quân sự gồm có đài phát thanh, phòng trực chiến của tổng thống, phòng bản đồ…phòng giải trí. Có một hầm ngầm để điều khiển hành quân.

Kinh phí xây dựng khá tốn kém, tương đương 15,000 cây vàng.

Trang thiết bị trong dinh hiện đại nhất thời đó. Lễ lạc quy tụ cả ngàn người. Hệ thống điều hòa không khí, thang máy, thông tin liên lạc nội bộ, nhà bếp, kho bãi như một khách sạn 5 sao thứ lớn.

Đặc biệt, một tổng hành dinh ngầm dưới mặt đất là một khối hầm bằng bê tông dầy bọc thép, chịu đựng được bom thứ lớn và pháo kích, đáp ứng phòng thủ tối tân nhất.

Có 4,000 ngọn đèn các loại, hàng chục tác phẩm nghệ thuật quý giá. Thảm, rèm, bàn ghế, vật dụng đều hạng nhất.

Dinh Độc Lập là một vật chứng tiêu biểu, gắn liền với vận mệnh dân tộc, đồng thời cũng là một kiệt tác nghệ thuật kiến trúc kết hợp hài hòa văn hoá Đông Tây.

3.1. Vài nét về kiến trúc sư Ngô Viết Thụ
                      1

Ngô Viết Thụ sinh ngày 17-9-1926 tại Thừa Thiên-Huế. Thời gian 1950-1955, là sinh viên ngành kiến trúc tại trường Mỹ Thuật Quốc Gia Paris.(Pháp)

Năm 1955, ông nhận giải nhất , Giải Thưởng Lớn Roma, thường được gọi là Khôi Nguyên La Mã.

Giải La Mã (Prix de Roma) là giải học bổng cho những sinh viên ngành nghệ thuật. Giải nầy được thành lập thời vua Louis XIV. Đây là giải hàng năm cho nghệ sĩ (gồm hội họa, điêu khắc và kiến trúc) tài năng, thông qua một cuộc thi sát hạch. Người trúng giải được vào ở Cung điện Nancini do chi phí của nhà vua Pháp tài trợ. Người đoạt giải sẽ được gởi đến Viện Hàn Lâm Pháp ở Roma (Académie de France à Rome)

Năm 1960, KTS Ngô Viết Thụ về VN làm việc theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Năm 1962, ông là người Á châu đầu tiên trở thành Viện Sĩ Danh Dự của Viện Kiến Trúc Hoa Kỳ.

Ông đã thiết kế nhiều công trình xây dựng mang sắc thái đặc biệt về kỹ thuật và mỹ thuật. Dinh Độc Lập, Viện Đại học Huế, Làng Đại học Thủ Đức, Viện Nguyên Tử Đà Lạt, Thương xá Tam Đa, tòa đại sứ VNCH ở Anh…Rất tiếc, một số công trình quan trọng bị thay đổi thiết kế vì lý do kinh phí và nhiều lý do khác, đã làm cho phong cách thiết của ông bị mất đi nhiều phần
Ông qua đời ngày 9-3-2000 tại Sài Gòn. Một trong 8 người con của ông là Tiến sĩ Ngô Viết Nam Sơn cũng là KTS và Đô thị gia, tốt nghiệp ở Hoa Kỳ, làm tư vấn thiết kế và giảng dạy tại Bắc Mỹ.
4* Cuộc tấn công Dinh Độc Lập năm 1960

Dinh Độc Lập là nơi xảy ra những cuộc binh biến, đảo chánh, cách mạng, cho nên đã từng bị ném bom, bắn phá.

Cuộc đảo chánh năm 1960 là cuộc đảo chánh đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Hoà, xảy ra tại Dinh Độc Lập cũ, có tên là Dinh Norodom thời Pháp thuộc.

Lúc 5 giờ sáng ngày 11-11-1960, lực lượng đảo chánh gồm có các đơn vị Nhảy Dù bao vây Dinh Độc Lập, sau khi khống chế và uy hiếp các cơ quan quân sự trọng yếu như căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, đài phát thanh Sài Gòn, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, doanh trại của Đội Phòng Vệ phủ Tổng Thống. Đồng thời họ đặt hầu hết những tướng lãnh trong tình trạng quản thúc tại gia.

Nhiều loạt súng máy bắn vào dinh làm bể cửa kiếng. Tổng thống Diệm suýt chết vì loạt súng máy bắn qua cửa sổ, vào phòng ngủ, đạn ghim vào giường, nhưng thật may mắn, ông đã rời giường ngủ vài phút trước đó.

Đội Phòng Vệ Phủ Tổng thống có từ 30 đến 60 người, kháng cự mãnh liệt, đã bắn hạ 7 người vượt rào băng qua sân cỏ. Quân đảo chánh ngừng bắn và siết chặt vòng vây.

Lúc 7 giờ 30 sáng, quân tăng cường đã tới, lực lượng đảo chánh mở cuộc tấn công nữa, nhưng đội Phòng Vệ bắn trả quyết liệt.

Lúc 8 giờ, 5 chiếc thiết giáp đi vòng ra phía sau dinh, bắn vào những trạm gác và pháo kích vào sân dinh.

Đến 10 giờ 30 thì tiếng súng ngừng hẳn. Tổng thống Diệm và ông bà Nhu đã xuống hầm.

Thiếu tướng Nguyễn Khánh, Tham Mưu Trưởng, nghe tiếng súng nổ, ông tìm cách ra khỏi nhà, đến DĐL bằng xe hơi dân sự, vượt qua rào ở ngỏ sau, vào gặp Tổng thống Diệm. Quân đảo chánh canh gác trước nhà, không biết ông đã bí mật ra đi.

Ở dưới hầm, Tướng Khánh điều động quân đội về giải vây DĐL.

Đến trưa, nhiều nhóm dân chúng tụ tập bên ngoài DĐL, reo hò cổ võ quân đảo chánh và vẩy những biểu ngữ yêu cầu thay đổi chế độ.

Đài phát thanh Sài Gòn công bố là Hội Đồng Cách Mạng đã đảm trách vai trò chính phủ của miền Nam.

Quân đảo chánh do dự về bước kế tiếp, vì có sự tranh luận bất đồng ý kiến về vai trò tương lai của Tổng thống Diệm.

Vương Văn Đông chủ trương thừa thắng xông lên tiến vào bắt sống Ngô Đình Diệm. Nguyễn Chánh Thi thì trái lại, ông sợ Tổng thống Diệm có thể bị thiệt mạng trong cuộc tấn công. Mặc dù ông Diệm có khuyết điểm, nhưng miền Nam không có lãnh tụ nào vượt trội hơn ông cả.

Quân đảo chánh chỉ muốn ông bà Nhu phải rời khỏi chính quyền, nhưng lại không đồng ý với nhau là nên giết họ hay trục xuất ra nước ngoài.

Để đối phó, ông Diệm dùng kế hoãn binh, câu giờ bằng cách đề nghị phe đảo chánh đàm phán để thành lập chánh phủ mới.

Quân đảo chánh muốn cử Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, chỉ huy trưởng trường Võ Bị làm thủ tướng, vì tướng Nghiêm không phải là người của đảng Cần Lao.

Đài phát thanh Sài Gòn cho phát đi lời tuyên bố của Đại tá Nguyễn Chánh Thi, cho rằng Ông Diệm đã bị truất phế vì độc tài.

Tổng thống Diệm lo ngại toàn dân sẽ nổi dậy, bèn cử bí thư là ông Võ Văn Hải sang thương thuyết với quân đảo chánh.

Đến xế chiều ngày 11-11-1960, Tướng Nguyễn Khánh rời DĐL đến gặp cấp chỉ huy đảo chánh để bàn về những yêu sách của họ.

Trung tá Vương Văn Đông, Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi muốn rằng, những sĩ quan và những chính khách đối lập phải được bổ nhiệm vào nội các chính phủ. Đồng thời, yêu cầu Đại tướng Lê Văn Tỵ phải được bổ nhiệm vào chức Bộ trưởng Quốc phòng.

Tổng thống Diệm điện hỏi Tướng Tỵ, đang bị quản thúc tại gia, ông Tỵ không chấp nhận chức Bộ trưởng QP.

Bác sĩ Phan Quang Đán, phát ngôn nhân của đảo chánh, người chống ông Diệm quyết liệt, vì ông Diệm đã xoá tên ông ra khỏi danh sách đắc cử dân biểu QH và chận đường, không cho ông đến nhậm chức trong ngày lễ khai mạc. Bác sĩ Đán lên tiếng trên đài phát thanh và tổ chức họp báo, trong khi quân đảo chánh hạ những tấm hình của TT Diệm treo trên tường xuống và giẫm chân, chà đạp lên nó.

Tướng Khánh trở lại DĐL, tường trình những yêu cầu của quân đảo chánh và đề nghị TT Diệm nên chia xẻ quyền hành. Bà Ngô Đình Nhu lớn tiếng phản đối việc đó, khiến cho Tướng Khánh  đe dọa rút lui, và ông Diệm buộc bà Nhu phải im tiếng.

Trong khi hai bên ngưng chiến để thương lượng thì các đơn vị trung thành với Tổng thống Diệm có đủ thì giờ điều động quân về tiếp cứu.

Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lịnh SĐ 5 BB, mang pháo binh từ Biên Hoà về Sài Gòn.

Ngày 12-11-1960

Đại tá Huỳnh Văn Cao, TL/SĐ 7 BB ở Mỹ Tho, Đại tá Trần Thiện Khiêm, TL/SĐ 21 mang 7 tiểu đoàn BB cùng với pháo binh của Trung tá Bùi Dzinh vể giải vây DĐL.

Tướng Khánh cũng thuyết phục tướng Lê Nguyên Khang, TL/TQLC gởi tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 TQLC. Biệt Động Quân ở Tây Ninh cũng về chống đảo chánh.

Tổng thống Diệm yêu cầu Tướng Khành tiếp tục thương lượng và tiếp tục ngưng bắn.

Sáng ngày 12-11-1960, đài phát thanh Sài Gòn phát đi bản tuyên bố của TT Diệm, hứa hẹn sẽ có bầu cử tự do, công bằng và các biện pháp tự do khác, như chấm dứt kiểm soát báo chí…sẽ hợp tác với Hội Đồng Cách Mạng để thành lập chánh phủ liên hiệp.

Cuộc tấn công trì hoãn 36 tiếng đồng hồ.

Tại Phú Lâm ngày 12-11-1960

Phú Lâm là cửa ngỏ vào thủ đô từ miền Tây, cuộc giao tranh chớp nhoáng xảy ra nhưng rất khốc liệt với khoản 400 người chết, phần đông là dân chúng tò mò ra đường xem đánh nhau. Quân đảo chánh bị đánh tan ở Phú Lâm và lực lượng cứu viện tiến về DĐL.

Một số đơn vị đã vượt qua khỏi vòng vây của quân đảo chánh, bằng cách nói dối rằng họ là quân chống TT Diệm. Các đơn vị đó bố trí chung quanh dinh xong, thì quay súng lại tấn công bất ngờ quân đảo chánh. Hai bên “trao đổi hoả lực” cho nhau khoảng vài tiếng đồng hồ, quân đảo chánh yếu thế, rút lui. Cuộc đảo chánh bị dẹp tan.

Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Tr/t Vương Văn Đông, Phạm Văn Liễu cùng một số sĩ quan chạy vào phi trường Tân Sơn Nhất nhờ Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ giúp đở.

Ông Thi nói “Kỳ, chúng tôi đã thất bại, chúng tôi muốn thoát khỏi nơi nầy, bằng không, sẽ bị xử tử.”

Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ cho một chiếc C-47, thế là 15 người lên phi cơ do phi công Phan Phụng Tiên lái. Phe đảo chánh bắt Tư Lịnh Biệt Khu Thủ Đô là Trung tướng Thái Quang Hoàng đi theo làm con tin.

DĐL cử 2 chiếc khu trục cơ đuổi theo chiếc C-47. Đến gần biên giới Campuchia thì bắt kịp. Hai phi công gọi về xin chỉ thị. Lúc đó Tướng Khánh nghe bà Nhu đứng bên cạnh lớn tiếng “Bắn rơi nó đi! Giết hết lũ Nhảy dù phản nghịch”. Nguyễn Khánh không đồng ý với bà Nhu, ra lịnh cho 2 khu trục cơ trở về.

Đại úy Phan Lạc Tuyên cũng chạy đến Campuchia bằng đường bộ.

Thái tử Norodom Sihanouk mừng rỡ đón chào tất cả, bởi vì Campuchia và VNCH thù nghịch nhau. Vì Sihanouk làm ngơ để cho CSBV xử dụng lãnh thổ tấn công VNCH. Hơn nữa, VNCH đã có kế hoạch lật đổ Sihanouk nhưng bất thành. Lần sau dùng bom ám sát cũng không đạt được mục đích.

4.1. Tổ chức việc đảo chánh năm 1960

Kế hoạch do Trung tá Vương Văn Đông chủ trương và tổ chức, với sự tham gia của Trung tá Nguyễn Triệu Hồng (Anh vợ của Tr/t Đông), Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi, Th/t Phạm Văn Liễu, Th/t Nguyễn Kiến Hùng, Đại úy Phan Lạc Tuyên, Đ/u Nguyễn Tiến Lộc, Đ/u Nguyễn Thành Chuẩn và những sĩ quan chỉ huy các đơn vị tham gia đảo chánh. Đại tá Nguyễn Chánh Thi được mởi tham gia sau cùng.

Kế hoạch chuẩn bị một năm. Tr/t Đông đã móc nối được một trung đoàn Thiết giáp, một đơn vị Hải quân, 3 tiểu đoàn Dù, một số đơn vị TQLC và Pháo binh.

Phía chính trị gồm có: Bác sĩ Phan Quang Đán, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Trương Bảo Sơn, Phan Bá Cầm (Nhân sĩ Hoà Hảo), Phan Đình Nghị và Nguyễn Đình Lý…

4.2. Lý do thất bại

Theo lời tường thuật của nhà báo Stanley Karnow, người được giải Pulitzer Prize, tác giả cuốn “Vietnam: A History”, thì nguyên nhân thất bại là không cắt được đường dây liên lạc từ DĐL đến các bộ chỉ huy quân sự trong nước, cho nên Tổng thống Diệm đã gọi các đơn vị về giải cứu. Vì thế, không giữ được đài phát thanh và không giữ được các nút chận vào Sài Gòn.

Qua thất bại, chúng ta thấy quân đảo chánh mắc kế hoãn binh của TT Diệm. Trình độ chính trị kém là vội đàm phán trên mặt trận mà việc thắng bại chưa ngã ngũ, thương lượng ở thế yếu, khi trong tay không có gì, tức là ở thế hạ phong. Không có mục đích chủ yếu của cuộc đảo chánh cho nên có bất đồng ý kiến, gây tranh cãi tại  mặt trận đang sôi động quyết định sống chết. Không có thống nhất chỉ huy, có lẻ vì lý do bảo mật.

4.3. Toà án xét xử

Mãi đến 2 năm sau, ngày 8-7-1963, Toà án Quân sự Đặc Biệt xét xử những người dính líu đến cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 giữa lúc có vụ khủng hoảng Phật Giáo. Có lẻ TT Diệm muốn cảnh cáo dằn mặt những người có ý định đảo chánh.

19 sĩ quan và 34 thường dân bị kết án.

7 sĩ quan và 2 dân sự đào thoát sang Campuchia bị kết án tử hình khiếm diện.

5 sĩ quan được tha bổng.

Những người còn lại bị kết án từ 5 năm đến 10 năm tù, đày đi Côn Đảo.

Cách đó không lâu, sau cuộc Cách Mạng ngày 1-11-1963, Đệ Nhất Cộng Hoà bị sụp đổ, những người bị tù được thả ra, và những người ở Campuchia trở về nước phục vụ lại trong quân đội VNCH.

Lần đầu tiên, DĐL “chứng kiến” cuộc binh biến, đánh dấu sự xáo trộn, mở màng cho những cuộc đảo chánh làm suy yếu VNCH trên mặt trận chống Cộng sau nầy.

5* Vụ ném bom Dinh Độc Lập năm 1962

Lúc 7 giờ sáng ngày 27-2-1962, bầu trời Sài Gòn bị khuấy động bởi tiếng bom và tiếng súng máy. Dinh Độc Lập chìm trong biển khói của cuộc tấn công từ hai chiếc phi cơ ném bom A-1 Skyraider. Bom nổ, bom xăng đặc (Napalm), rocket và đại liên trút vào dinh tổng thống. (dinh cũ)

 

                      Nguyễn Văn Cử và phi cơ A-1 Skyraider

 
Trong 30 phút, 4 trái bom, 8 rocket và đạn đại liên đánh vào mục tiêu, phá sập bên cánh trái của DĐL. Hai phi công là Thiếu úy Nguyễn Văn Cử và Trung úy Phạm Phú Quốc, thuộc Phi đoàn 514  thuộc căn cứ Không Quân Biên Hoà.

Phi cơ của Phạm Phú Quốc bị trúng 72 viên đạn 12 ly 7, trong đó, một viên trúng bình xăng nên phi cơ phát cháy và rơi xuống sông Sài Gòn. Phạm Phú Quốc bị toán Người Nhái Hải quân đến bắt. Nguyễn Văn Cử bay sang Campuchia.

Nguyễn Văn Cử là người chủ mưu vì cha của Cử là ông Nguyễn Văn Lực, một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị bắt giam vì hành động chống chính quyền của TT Diệm. Phạm Phú Quốc, người Điện Bàn, Quảng Nam, là người bị Cử lôi cuốn.

Sau khi Đệ Nhất Cộng Hoà sụp đổ, Cử về nước, tiếp tục phục vụ trong Không quân.

Năm 1965, Trung tá Phạm Phú Quốc bị tử trận khi bay từ Đà Nẳng, vượt vĩ tuyến 17 ra đánh phá đường giao thông Hà Tĩnh.

Năm 1977, hài cốt của ông được người chị là Phạm Thị Xuân Cơ cải táng ở chùa Phước Lâm, Hội An, Quảng Nam.

Dinh Độc Lập bị đánh phá lần thứ hai, thiệt hại nặng, nên phải đập phá và xây lại dinh mới theo đồ án thiết kế của KTS Ngô Viết Thụ.

6* Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập

6.1. Ném bom

 

                                                     Nguyễn Thành Trung trong đám nón cối

Lúc 8 giờ 30 sáng ngày 8-4-1975, Trung úy phi công Nguyễn Thành Trung, từ Không đoàn 540 ở Biên Hoà, bay về Sài Gòn ném bom Dinh Độc Lập. Phi cơ F-5E mang 4 trái bom 500 cân Anh và trang bị đại liên 20 ly. Lần đầu ném 2 quả nhưng không trúng đích, quay lại, ném lần thứ hai, 2 quả trúng đích nhưng chỉ có một quả nổ. Thiệt hại không đáng kể.

Nguyễn Thành Trung là Việt Cộng nằm vùng, sau khi ném bom, bay ra đáp xuống phi trường Phước Long do CSBV chiếm giữ.

6.2. Không được tin dùng

Sau năm 1975, Nguyễn Thành Trung không được CS tin dùng, phải “ngồi chơi xơi nước” cho mãi tới năm 1980 mới được giao nhiêm vụ, kiểm tra, đắp vá và sửa chữa những chiếc phi cơ của VNCH bỏ lại. Đó là những phi cơ bị “thương tích” đủ loại, nội thương, ngoại thương, trầy vi tróc vảy, bị văng miểng do pháo kích, bị trúng đạn phòng không VC trên các mặt trận, nói chung là loại “thương phế binh” bất khiển dụng.

Ở các công ty sản xuất phi cơ Hoa Kỳ, người ta kiểm tra máy móc bằng các dụng cụ điện tử, nhưng ở Hà Nội lúc đó, kiểm tra bằng mắt thường và sửa chữa bằng tay. Chỉ một vết thủng nhỏ cũng đủ làm rớt máy bay, vì tốc độ phản lực tạo ra sự ma xát cao độ bởi không khí, cho nên, vết thương lở loét tầy quầy ra đưa đến cháy nổ.

Sửa chữa xong thì phải bay thử. Mỗi lần bay như thế người lái xem như đem tánh mạng của mình ra cá độ với may rủi, đùa giởn với tử thần, giống như chỉ mành treo chuông vậy. Ngoài cái nguy hiểm đe dọa, tinh thần và danh dự bị tổn thương, vì Nguyễn Thành Trung đã từng vẫy vùng lướt gió, làm chủ bầu trời, nhưng bấy giờ chỉ được phép bay chung quanh phi trường trong 4 vòng rồi phải xuống đất ngay. Khổ tâm là ở chỗ đảng không còn tin dùng người chiến sĩ cách mạng nằm vùng nầy.

Một lần phản bội, biết đâu?…

7* Cửa Dinh Độc Lập bị húc sập

7.1. Xe tăng nào vào Dinh Độc Lập trước nhất?

 

Lúc 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, xe tăng CSBV đã húc sập cánh cửa của dinh, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà.

Vì sự tranh giành công trận, cho nên có nhiều tranh cãi xảy ra không dứt sau đó.

Chiếc xe tăng nào vào Dinh Độc Lập trước nhất?

Ai là người treo cờ của Mặt Trận Giải phóng ở DĐL?

Ai tiếp nhận sự đầu hàng của TT Dương Văn Minh?

Báo chí trong nước ghi nhận chiếc xe tăng số 843 với thủ trưởng Bùi Quang Thận vào sân dinh đầu tiên.

Theo David Butler, tác giả cuốn The Fall of Saigon viết năm 1984, ghi lại lời tường thuật của Neil Davis, một người Úc biết tiếng Việt, làm việc cho đài truyền hình NBC, đã có mặt tại

DĐL trong lúc đó, thì chiếc xe tăng vào DĐL đầu tiên mang số 844.

Còn Oliver Todd thì ghi là chiếc xe tăng số 879 do Bùi Đức Mai lái đã ủi sập cánh cửa và vào trong sân trước nhất.

7.2. Ai nói?

Bùi Văn Tùng nói với Ông Dương Văn Minh “Các ông không còn gì để bàn giao. Ông chỉ có thể đầu hàng vô điều kiện…”

Trong cuốn Tears Before the Rain, xuất bản năm 1990, tác giả Larry Engelman đã phỏng vấn Đại tá Bùi Tín, ông Tín nói ông là người gặp TT Dương Văn Minh và nói “Không có vấn đề bàn giao quyền hành. Quyền hành của ông đã sụp đổ. Ông không còn gì trong tay để bàn giao. Ông không thể chuyển giao cái mà ông không có” (Larry Engelman)

8* Kết

Ngày 30-4-1975, Dinh Độc Lập mất. Nước Việt Nam Cộng Hoà mất, và người dân miền Nam mất tất cả. Đổi tiền, Kinh tế mới, Trại tù cải tạo, đã làm mất hết tiền bạc, nhà cửa và mất tự do. Một cuộc đổi đời thực sự bắt đầu. Trước hết là Tư bản “mại sản”, nghĩa là đem bán hết những gì có thể bán được, chỉ để lấy miếng ăn. Bán hết, thì xếp hàng mua gạo và ăn bo bo dài dài.

Tháng tư năm 1975 là ngày tháng không bao giờ quên được, đối với những người còn trí nhớ.

Trúc Giang

VẤN ĐỀ LÀ CẦN CÓ LÃNH ĐẠO và PHẢI LÀ LÃNH ĐẠO TỐT


 
     Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại. Ông chết đi để lại một khoảng trống lãnh đạo, tức là đất nưóc không có lãnh đạo. Nói rõ hơn, quyền lãnh đạo quốc gia đã bị ngoại bang chiếm đoạt. Đây không phải là nhận định của người viết, mà là một thực tai lịch sử, trải nghiệm từ trong nước ra đến hải ngoại với các cộng đồng của người VN tỵ nạn cộng sản.
 
     Nhân tưởng niệm lần thứ 51 ngày TT Ngô đình Diệm bị sát hại 2-11-2014, chúng tôi muốn nói đến thực tại lịch sử này.
 
     Tưởng niệm cố TT Ngô Đình Diệm thì tất nhiên là nên nói đến thân thế, sự nghiệp, công ơn của ông đối với đất nước. Cũng nên đặt ra vấn đề tại sao ông bị thảm sát, ai đã có cái dã tâm sát hạt một người yêu nước như ông, và người ta sát hại ông vì lý do gì. "Ông Ngô đình Diệm là một người yêu nước, nhưng theo cách của ông ta". Hồ Chí Minh, đối thủ của ông Diệm đã thốt ra câu nói đó sau khi nghe tin ông Diệm bị bọn tướng tá đưọc Mỹ thê mướn hạ sát. TT Diệm bị giết vì ông quyết tâm bảo vệ chủ quyền Quốc Gia như chúng tôi đã chứng minh qua bài viết "Nguyên Nhân cái chết của TT Ngô Đình Diệm". Thông qua công cụ là lũ tướng tá bất nhân và phản bội, chính quyền Mỹ Kennedy quyết tâm giết chết Tổng Thống VNCH để đoạt quyềnh lãnh đạo cuộc chiến đấu cống cộng của nhân dân VN. Về phần Hồ Chí Minh, mặc dù Hồ luôn có dã tâm đánh chiếm miền Nam, điêu đó không ai có thể phủ nhận, nhưng nếu giả sử quân đội miền Bắc thắng miền Nam, bắt được TT Diệm trong khi ông còn sống, thì theo thiển kiến của chúng tôi, Hồ Chí Minh sẽ không giết TT Diệm. Vì giết một đối thủ được thế giới kính nể đã bị ngã ngựa là một hành vi hèn, bỉ ổi, một quyết định chính trị thất sách và vô cùng tai hại. Khôn ngoan và thủ đoạn như Hồ chẳng bao giờ tên cái già này làm như thế. Nhưng Mỹ thì trái lại, vì tính chất duy lợi của chủ nghĩa tư bản, cái gì Mỹ cũng có thể làm được và dám làm. Xin được mở một cái dấu ngoặc. Đây chỉ là sự suy đoán về một sự kiện không xẩy ra, dựa trên tính toán lợi hại có tính cá nhân của những người làm chính trị, chứ không phải chúng tôi có ý ca tụng Hồ Chí Minh.
 
    Chuyện về TT Diêm thì tràng giang đại hải. Hàng núi bài vở, hàng kho sách báo bằng đủ mọi thứ tiếng đã viết về ông. Quí độc giả hẳn đã nhiều lần đọc qua và nghe qua. Trong một bài viết ngắn ngủi, thật sự chúng tôi không thể nào trình bầy hết được. Chúng tôi không phải là người làm biên khảo, nên xin được hạn chế nêu ta những con số cụ thể làm bằng chứng. Ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập đến một cách khái quát, cái khía cạnh mà hầu như không được mấy người chú ý tới, hoặc chú ý mà không đúng mức. Nhưng theo chúng tôi nghĩ, đó là một khía cạnh cực kỳ quan trọng trong vấn đề TT Ngô Đình Diệm bị sát hại.
 
     Trước hết, chúng ta cùng đi tìm sư thỏa thuận về một khái niệm chung cho 2 chữ lãnh đạo và người lãnh đạo cái đã. Lãnh đạo là gì? Tìm trong các từ điển, chữ lãnh đạo, định nghĩa rất đơn giản của nó là người đi trước để dẫn đường. Như vậy thì chẳng hạn một tên giao liên của VC có phải là lãnh đạo không? Khi một đơn vị VC xâm nhập vào một khu vực lạ, chúng phải có giao liên hướng dẫn. Tên giao liên đi trước dẫn đường, nhưng không thể nói được y là người lãnh đạo đoàn quân. Như vậy, lãnh đạo còn phải là một cái gì quan trọng hơn là dẫn đường. Lãnh đạo nôm na là dẫn đường, nhưng dẫn đường cũng có ba bẩy loại dẫn đường. Người lãnh đạo theo thiển ý, đòi hỏi phải có những điều kiện tối thiểu là: TƯ CÁCH, ĐẠO ĐỨC, và VẠCH RA ĐƯỜNG LỐI để dẫn người theo mình để đi cho đến nơi đến chốn. TƯ CÁCH, theo quan niệm VN là ăn ở sao cho vừa lòng mọi người, được mọi người kính trọng và quí mến. Triết lý hơn một chút, con người có tư cách là con ngưòi biết giữ các đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín với người khác. Còn ĐẠO ĐỨC, nói một cách đơn giản là có lòng nhân hậu đối với nhân quần xã hội, không làm những gì trái với luân thường đạo lý. Về ĐƯỜNG LỐI, Người lãnh đạo cần phải biết đề ra đường lối thích hợp và khả thi để hướng dẫn người khác đi theo mình tới đích. Đây là yếu tố rất quan trọng trong vấn đề lãnh đạo.
 
     Đồng thuận với nhau những khái niệm cơ bản trên, bây giờ chúng ta thử áp dụng và tìm hiểu xem đất nước của chúng ta, trong thời gian qua có được lãnh đạo không và được lãnh đạo như thế nào.
 
     Nội dung bài viết của chúng tôi xin được giới hạn về một khoảng thời gian và không gian nhất định. Chúng tôi muốn đề cập đến việc lãnh đạo đất nước VN chúng ta dưới các chế độ CS và VNCH. Và thêm vào đó, chúng tôi sẽ đề cập đến cộng đồng người Việt tỵ nạn hiện nay và chuyện lãnh đạo cộng đồng tại hải ngoại.
 
I.  Sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh tại miền Bắc từ năm 1954 và hiện nay.
 
     Nói vềvấn đề lãnh đạo của TT Ngô Đình Diệm mà không đề cập đến việc lãnh đạo miền Bắc của Hồ Chí Minh để đối chiếu và so sánh thì là một thiếu sót lớn. Sau khi miền Nam rơi vào tay quân xâm lược miền Bắc thì người miền Nam được nghe nhiều câu chuyện cười ra nước mắt. Chẳng hạn như có người miền Bắc nghe người dân trong miền Nam bị chế độ Mỹ Diệm bóc lột thậm tệ. Vừa nghe tin miền Nam được "giải phóng", ông Bắc Kỳ liền tất bật mò vô Nam thăm thân nhân di cư trong đó năm 1954. Ông mang theo vài ba ký gạo, mấy cái chén bát ăn cơm, nắm muối mè, đem vô để giúp người bà con khổ sở vì bị bóc lột. Vô đến nơi đứng trước địa chỉ muốm tìm mà e ngại không dám gõ cửa, vì ngôi nhà quá khang trang và lịch sự. Bước vô trong nhà rồi, ông không dám mở gói quà biếu vì cảm thấy mắc cỡ vô cùng. Lúc đó ông mới nhận ra rằng, lâu nay mình bị tuyên truyền lừa gạt một cách phũ phàng mà không hay. Ông cảm thấy quá ê chề và chua xót…. Rất nhiều câu chuyện truyền tụng như thế. Và câu chuyện điển hình nhất được nhà văn nữ Dương Thu Hương viết lại là chính bà khi vào đến Saigon, bà đã phải ngồi thụp xuống lề đường mà khóc vì cái trò giải phóng thô bạo, bỉ ổi của chính mình và của cái chế độ của mình do Hồ Chí Minh lãnh đạo.
 
     Những câu chuyện cười ra nước mắt như trên nói lên cái bản chất bịp bợm của chế độ mà người lãnh đạo là Hồ Chí Minh. Chúng ta có thế đặt ra câu hỏi, là như thế thì ở miền Bắc có lãnh đạo không? Xin thưa có, nhưng sự lãnh đạo của Hồ nó đã thiếu tất cả ba yếu tố mà chúng tôi nêu ở trên. Thứ nhất, Hồ chí Minh không có tư cách của một con người, hay gọi là nhân cách. Chúng ta hãy đọc một đoạn Hồ Chí Minh khen Hồ Chí Minh dưới cái tên Trần Dân Tiên sau đây: "Nhân dân mong đợi cụ Hồ Chí Minh. Mặc dù đang ốm, cụ Hồ quyết định về với nhân dân thủ đô …. cảm động hơn cả là khi nhân dân thấy chủ tịch HCM đến, người mà nhân dân hằng yêu mến, khâm phục, và kính trọng … nhân dân thấy chủ tịch giản dị, thân mật như một người cha hiền về với đám con… Không có gì so sánh được với lòng dân VN kính mến, tin tưởng lãnh tụ HCM. Nhiều nhà báo và người ngoại quốc rất ngạc nhiên trước lòng kính yêu của nhân dân VN đối với vị cha già HCM …" Quí bạn đọc xưa nay chắc chưa thấy có ai tự khen mình một cách trơ trẽn và lố bịch như thế bao giờ? Được người khác khen một cách quá đáng, người có tư cách cũng còn thấy đỏ mặt? Nhưng Hồ Chí Minh làm được. Đấy là tư cách của con người của Hồ Chí Minh.
 
    Về đạo đức của HCM, chúng tôi cũng xin khỏi phải nói dài dòng. Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc giữa thập niên 1950 đã nói lên đầy đủ bản chất dã thú, ác độc của Hồ và đồng bọn. Bà Cát Hanh Long, một người có công với bè lũ Hồ Chí Minh như thế mà Hồ cũng vẫn đem bắn bỏ. Qua 5 đợt đấu tố trong cải Cách ruộng đất, có khoảng 15.000 người bị giết chết theo con số ước tính của tuần báo Time ngày 1-7-1957. Ước tính trong đó có đến 74% là bị qui oan. Những người bị giết oan thường không phải bằng một phát súng, hay một nhát chém, mà bằng cách chôn sống để ló cái đầu trên mặt đất, rồi cho trâu kéo để cái lưỡi cầy xớt đứt cổ nạn nhân. Thật là rùng rợn. Có người bị treo lộn ngược đầu chân rồi đem phơi ngoài nắng cho đến chết. Có người bị tùng xẻo, nghĩa là lạng từng miếng thịt cho đến khi chỉ còn lại bộ xương. Còn rất nhiều cách giết địa chủ tàn ác khác nữa.
 
     Mặt khác nữa về đạo đức của Hồ, chúng ta không thể không kể đến cuộc đời tình ái của hắn. Ít nữa theo sử sách còn để lại thì Hồ đã có đến 5 người vợ. Người vợ bất hạnh nhất của Hồ là nàng Nông Thị Xuân. Người con gái dân tộc này bị hắn chơi đã rồi chuyền tay cho tên Bộ Trưởng công an là Trần Quốc Hoàn. Hoàn chơi đã rồi thủ tiêu cô Xuân bằng một tai nạn xe hơi. Đạo đức của một con người như thế mà tên đặc công đỏ Bùi Tín vẫn còn ca tụng được. Bùi Tín viết: "Cá nhân tôi kính trọng ông Hồ Chí Minh.Đây chính là con người thẳng thắn, lương thiện, sống rất giản dị, yêu thích trẻ con, và dễ gần gũi với những người hèn mọn nhất. Tôi cực lực bác bỏ giả thuyết cho rằng đó chỉ là cái tài đóng kịch của ông".
 
     Nhìn vào tất cả các mặt trong đời sống của người dân VN hiện nay, người ta mới thấy được sự sai lầm tai hại về đường lối lãnh đạo đất nước của Hồ Chí Minh. Nếu không nêu ra những kết quả sai lầm của đường lối, chúng ta không thể kết luận được. Chúng tôi xin nêu ra một vài khía cạnh đáng quan tâm hơn cả.
 
-  Thứ nhất, về kinh tế, xã hội -  Qua các đợt cải cách ruộng đất, đổi tiền, đánh tư sản, thành lập hợp tác xã, người dân VN càng ngày càng nghèo đi. Nhưng có một hiện tượng trái ngược là các đảng viên và bọn ăn theo càng ngày càng giầu có. VC triệt hạ giai cấp tư sản để đảng biến thành giai cấp tư bản ăn trên ngồi trốc, bóc lột nhân dân. Đừng tưởng VN ngày nay có nhiều khách sạn sang trọng, building nhiều tầng, đường xá rộng rãi thênh thang mà vội mừng. Dân ai dư tiền đi ngủ khách sạn, ai có tiền mua nhà sang để ở, ai có khả năng sắm xe hơi để chạy. Tất cả là của các công ty phần lớn là Ba Tầu, và các ông chủ đảng viên. 95% dân số VN hiện nay vẫn ngày ngày đối mặt với ruộng đồng, hoặc quần quật trong nhà máy từ 12 tới 17 tiếng mà vẫn không đủ ăn.
 
-  Thứ hai, về văn hóa và giáo dục học đường -  Con nít VN ngày nay, 5, 6 tuổi đã ngồi vắt vẻo điếu thuốc gắn trên môi, 14, 15 tuổi đã có kinh nghiệm về sex. Các nhà tư bản Mỹ làm giầu là nhờ sáng kiến và biết nắm cơ hội. Trong khi bọn tư bản mới nổi tại VN làm giầu dựa vào mánh mung và lừa đảo. Con người sống với nhau bằng dối trá và  lừa đảo. Đạo đức suy đồi cùng cực. Tất cả là để có tiền và vì đồng tiền. Có tiền rồi người ta khoe của, mua bằng cấp để vênh vang tiến sĩ này, thạc sĩ nọ, xây dinh thự cho thật đẹp, thật khang trang mỹ lệ, có ngôi biệt thư dát vàng, sắm xe thật sang, đeo vàng đầy người. Không biết bọn này chúng nghĩ sao khi nhìn thấy những em bé rách rưới nhặt từng hạt cơn rơi trên đường.
 
     Sự việc một con người vô tư cách, thiếu đạo đức, và nhất là thi hành một đường lối lãnh đạo phi dân tộc như Hồ Chí Minh, thì cái đại họa mất nước xẩy đến là đương nhiên. Ngày nay, con đường lãnh đạo phi dân tộc của Hồ đã bị phơi bầy ra rõ ràng không thể chối cãi. Hồ viết trên tờ Người Cùng Khổ khẳng định rằng các dân tộc Đông Dương không có tổ quốc. Hắn trở thành một cán bộ của Đệ Tam Quốc Tế CS, ăn lương của Liên Sô làm công tác Bolshevik hóa Đông Dương. Nhiều người lầm cho rằng Hồ Chí Minh là cán bộ của Liên Sô, không phải chỉ có thế, hắn còn tự nhận mình là một anh ba Tầu 100%. Trong bản báo cáo đầu tiên của Hồ ghi ngày 18-12-1924, sau một tháng có mặt tại Quảng Châu, cuối bản báo cáo Hồ xác nhận: "Trong lúc này, , tôi là một người Trung Quốc, chứ không phải là một người VN, và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc". Từ đó cho chúng ta thấy, Hồ Chí Minh manh tâm bán nước cho Tầu từ lâu rồi chứ không phải bây giờ đám đàn em của hắn mới bán nước.
 
     Dưới sự cai trị của Hồ, VN có lãnh đạo, nhưng là một sự lãnh đạo tiêu cực. Theo toán học, nó mang dấu âm (-), tức ngược chiều với đi lên, hay gọi là thoái hóa. Hồ chí Minh là một con người vô tư cách và vô đạo đức,  hắn lãnh đạo đất nước dựa trên một lý thuyết sai lầm là lý thuyết Marxit, dùng đấu tranh giai cấp làm phương pháp để thực hiện lý thuyết này, nên đất nước mới bị tan hoang vô phương cứu chữa như hiện nay. VN mất nước rơi vào vòng nô lệ ngoại bang là chuyện đương nhiên.
 
II.  Việc lãnh đạo đất nước thời VNCH
 
     Sau khi TT Diệm bị hạ sát, TT Tưởng Giới Thạch chua chát tiếc cho số phận VN, ông nói: Một trăm năm sau, VN chưa có được Ngô Đình Diệm thứ hai. Còn Võ Nguyên Giáp thì vui mừng hí hửng: Không ngờ mà thằng Mỹ ngu đến thế, chúng lại thay ngựa giữa đường.
 
     Luận về tài năng của một người mà không trình bầy những thành công và thất bại của người đó ra mà cân nhắc thì thật là một điều thiếu sót. Về khả năng lãnh đạo của TT Ngô đình Diệm, thật sự cho đến bây giờ, người ta khen ông nhiều hơn là chê ông. Ông là một con người đáng lẽ nên là một nhà tu hành, nhưng lại sa chân vào lãnh vực chính trị. Điều này có nghĩa là tư cách và đạo đức của TT Diệm khó có ai chê được. Cả những kẻ ghét ông nhất cũng không moi được cái gì xấu xa quá đáng về tư cách và đạo đức của ông để phản bác hoặc chê trách ông. TT Diệm là một con người khiêm tốn, sống khổ hạnh như một nhà tu hành, không vợ con. Thời gian bôn ba, ông ở trong tu viện nhiều hơn là ở nhà. Cuộc sống rất thanh bạch và giản dị, bữa ăn không quá ba món mà toàn những thức ăn quê mùa, ngủ trên một tấm sập gỗ trải chiếu, không có nệm. Ngay thời gian làm TT, quần áo cũng không quá 4 bộ. Ông tự giặt giũ lấy những đồ lót của mình. Về lòng nhân của TT Diệm, người ta không thể nào không kể đến sự kiện hai người muốn giết ông đều được ông tha mạng và được đối xử rất tử tế. Đó là trường hợp tên VC Hà Minh Trí ám sát ông trong dịp ông đi kinh lý Ban Mê Thuột năm 1956, và người nữa là trung tá không quân Nguyễn Văn Cử, kẻ đã thả bom dinh Độc Lập năm 1972. Có một số cáo buộc TT Diệm thủ tiêu người này người nọ, hay động trời hơn nữa, TT Diệm giao mật lệnh cho ông đại úy không quân Nguyễn Như Đường nào đó, đêm 5-10-1963 lái máy bay ra biển để thả bom đánh chìm tầu hải quân HQ 401 chở tù ra Côn Đảo để giết tất cả đám tù này. Tất cả những lời cáo buộc này đều không trưng được bằng cớ xác thực và đủ thuyết phục. Trái lại còn mang đầy dẫy những dấu ấn ngụy tạo để đổ tội cho TT Diệm. Một con người có lòng nhân đạo không giết hoặc hành hạ những kẻ mưu toan giết mình, lại đi giết lén người khác thì liệu có tin được không?
 
     Vê đường lối trị quốc, tài kinh bang tế thế của TT Ngô Đình Diệm được thể hiện ở rất nhiều lãnh vực. Trước hết phải nói là một thành công vượt bực, việc ông định cư được hơn một triệu người di cư từ Bắc vô Nam lánh nạn CS năm 1954. Ông dẹp yên được các giáo phái sứ quân tại miền Nam và thống nhất được Quân Đội Quốc Gia. Ông thiết lập bang giao với hơn một trăm quốc gia trên thế giới. Ông xây dựng một nền hành chánh quốc gia có qui củ. Ông đặt nền móng cho một nền giáo dục khai phóng và nhân bản để đào tạo nhân tài cho đất nước. Ông thiết lập các khu dinh điền và khu trù mật làm phồn thịnh khu vực nông thôn miền Nam. Ông cấm Ba Tầu làm 11 nghề để tránh mấy anh Ba thao túng và làm lũng đoạn nền kinh tế quốc gia. Quốc sách Ấp Chiến Lược của ông đem lại an ninh cho dân chúng miền Nam. Ông xây dựng những nhà máy làm cơ sở cho công cuộc phát triển đất nước như các nhà máy ximăng Hà Tiên-Thủ Đức, nhà máy giấy Cogido, các nhà máy dệt Vinatexco và Vimitex, nhà máy thủy tinh, nhà máy đường Hiệp Hòa v.v. Trong vỏn vẹn có 9 năm cầm quyền, vừa xây dựng trên một đống tro tàn đổ nát, lại vừa bị CS phá hoại mà đem lại được một thành tựu như vậy không phải là quá sức tưởng tượng đối với một người bình thường sao?
 
     Trong chủ trương và đường lối của TT Diệm, có 3 vấn đề mà bọn người thù ghét ông, bọn VC giả dạng thầy chùa, bọn trí thức xôi thịt nhắm vào công kích ông, thứ nhất là TT Diệm phản bội lại bạn bè thuở hàn vi, thứ hai là ông độc tài gia đình trị, và thứ ba ông thiên vị công giáo và kỳ thị Phật giáo.
 
-  Thứ nhất, TT Ngô Đình Diệm hại bàn bè - Điển hình là gia đình nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Việc tự tử của nhà văn này không do TT Diệm gây ra, mà ông Nhất Linh tự ý đi tìm cái chết để tránh phải đối chất trước tòa với đàn em của ông về việc ông đã tham gia vào cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 của nhóm Vương Văn Đông, Hoàng Cơ Thụy. TT Diệm có tìm cách để giúp đỡ bà quả phụ nhà văn Nguyễn Tường Long, em của Nhất Long chết vì bệnh tim tại Hương Cảng năm 1946.
 
-  Thứ hai, TT Diệm độc tài, gia đình trị - Chuyện này thì chỉ là vu cáo ác ý và có mưu đồ, bởi vì các anh em của TT Diệm không có ai giữ chức vụ gì chính thức trong guồng máy quốc gia. Do đó họ thực sự không có một hành động hoặc quyết định gì ảnh hướng đến vấn đề lãnh đạo. Có hai lý do đưa đến lời tố cáo này. một, TT Diệm là một con người cứng rắn, khi đã quyết định rồi thì rất bảo thủ ý kiến, dù ý kiến của ông đại sứ Hoa Kỳ ông cũng gạt phăng, vì thế ông bị tố cáo là độc tài. Hai là vì có những chức sắc trong chính phủ hay quân đội tỏ ra khiếp nhược, xun xoe, và bợ đỡ những người trong gia đình Tổng Thống một cách quá đáng, chẳng hạn tướng Tôn Thất Đính qùi tháo giầy cho ông Ngô Đình Luyện. Nhất là bà Ngô Đình Nhu là một con người quá ngay thẳng và bộc trực. Hiện tượng này làm ngứa mắt những người tự trọng. Những kẻ thù địch với chế độ và TT Diệm lợi dụng để tung ra những lời tố cáo.
 
-   Thứ ba, TT Diệm thiên vị công giáo, kỳ thị và đàn áp Phật giáo - Đây là một luận điệu hoàn toàn bịa đặt và vu khống. Lời tố cáo TT Diệm đàn áp Phật Giáo là một đòn nặng nề nhất do đám sư sãi VC Ấn Quang đưa ra để triệt hạ cho bằng được TT Diệm và chế độ của ông. TT Ngô Đình Diệm có đàn áp Phật Giáo hay không thì thiết tướng báo cáo của phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc tưởng đã quá đủ để trả lời cho vấn đề. Về chuyện TT Ngô Đình Diệm ưu ái hay kỳ thị tôn giáo này, tôn giáo nọ, thì chúng tôi chỉ nhắc lại một cách tổng quát những chứng liệu được ghi trên sách vở và các bài viết đầy dẫy trên báo chí. Cụ Mai Thọ Truyền Hội Trưởng Hội Phật Học Nam Việt, một số nhà sư thuộc phái Ấn Quang xác nhận, trong những năm cầm quyền của TT Ngô Đình Diệm, Phật Giáo VN được phát triển chưa từng thấy, chùa chiền được trùng tu và xây cất rất nhiều do chính Tổng Tống hoặc chính quyền tài trợ, nhiều tu sĩ Phật Giáo được chính quyền cho đi du học, việc mở trường học và làm Phật sự được hoàn toàn tự do…. Trong khi đó công giáo không được hưởng những sự giúp đỡ như thế. Nếu có là do các giáo hội Tây Phương giúp đỡ mà không phải do chính quyền của TT Ngô Đình Diệm. Cần công tâm thừa nhận rằng, TT Diệm trị quốc theo tinh thần gia chủ nên chính quyền của ông đẻ ra nhiều loại người bợ đỡ, xu nịnh, trong gia đình thì quá coi trọng quyền huynh thế phục, nên đã để cho Đức cha Ngô Đình Thục ảnh hướng nhiều vào lãnh vực chính trị, từ đó dung túng cho một số chức quyền và con buôn qua mặt làm bậy. Đó là những lỗi lầm tệ hại nhất của chính quyền Ngô Đình Diệm.
 
     Chính sách và đường lối cai trị của TT Ngô Đình Diệm xuất phát từ lý thuyết Nhân Vị. Lý thuyết này lấy con người làm cứu cánh để phục vụ. Nó ngược hẳn lại với lý thuyết Marxit phủ nhận những giá trị nhân bản và quyền lợi của con người để phục vụ tập thể, cụ thể là đảng cộng sản mang cái nhãn hiệu giai cấp công nhân. Chính vì thế 9 năm cầm quyền của TT Diệm là 9 năm người dân VNCH được sống trong thanh bình, thịnh vượng, và đất nước phát triển. Mặc dù luôn luôn bị VC khuấy đảo, nhưng đà tiến triển của VNCH thời đó không thua, và còn có thể nói là vượt trên nhiều quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á Châu và trên thế giới. Khi TT Diệm bị sát hại và Chính Thể Đệ I VNCH bị lật đổ thì cả thế giới bàng hoàng thương tiếc, từ TT Tưởng Giới Thạch của Đài Loan đến TT Nerhu của Ấn Độ, đến TT Sukarno của Indonesia v.v. đều phải bàng hoàng và sững sờ. Cả đến những kẻ thù của ông cũng vậy. Hồ Chí Minh tuyên bố: Ông Diệm là người yêu nước dù là theo cách riêng của ông. Mao Trạch Đông đưa ra một lời bình phẩm rất chính xác trong khi tiếp kiến một phái đoàn dân biểu Pháp thăm Bắc Kinh: Tại sao lại phải giết hai người ái quốc của miền Nam VN? Rồi lấy ai để thay thế họ? Tướng VC Trần Văn Trà phó chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng nói với ký giả Wilfred Burchett: Dù phạm nhiều lỗi lầm, nhưng ông Diệm đã thành công trong suốt 9 năm cầm quyền, duy trì được một quân lực, một hệ thống hành chánh, và ngay cả một bộ máy chính trị vững mạnh. Người em của ông, dù nổi tiếng vô địch chống cộng, nhưng bị người Mỹ coi là cứng đầu, hoặc như ngựa bất kham, lúc nào cũng cứng đầu nói không khi người Mỹ ra lệnh, nhất là vào thời gian cuối.
 
     Trong bài viết của tôi "Nguyên nhân cái chết của TT Diệm" tôi đã chứng minh người Mỹ dùng tay sai là nhón tướng tá tham tiền và phản bội giết TT Ngô Đình Diệm. Chủ trương của Mỹ là dành quyền lãnh đạo cuộc chiến theo đường lối vụ lợi của tư bản Mỹ. TT Ngô Đình Diệm chết đi, VNCH đã mất chủ quyền, chỉ còn điều hành mà không còn lãnh đạo. Sau khi TT Diệm bị lật đổ, về hình thức, tuy chính quyền VNCH vẫn còn tồn tại nhưng không còn ai thực sự lãnh đạo quốc gia, kể cả TT Nguyễn Văn Thiệu. Người Mỹ điều hành cuộc chiến đấu chống cộng bằng cách viện trợ cho VNCH, số viện trợ và quân viện co thắt, ít nhiều, làm sao cho phù hợp với từng giai đoạn theo kế hoạch đi đêm của họ với thế giới CS, cụ thể là Tầu cộng. TT Nguyễn Văn Thiệu đã không hiểu chuyện đó. Ông tin vào người Mỹ không bỏ miền Nam, và cuối cùng khi biết ra thì đã quá muộn.
 
     Điều sai lầm lớn nhất của cuộc chính biến ngày 2-11-1963 là người ta đã triệt hạ biểu tượng của sự lãnh đạo đất nước. TT Diệm không phải là ông thánh, nhưng ông là nguời yêu nước, ông quyết tâm giữ vững chủ quyền quốc gia, ông có nhiệt huyết kiến tạo một đất nước có trật tự, tự do, dân chủ và phú cường. Chế độ của ông không phải là một chế độ hoàn hảo, nhưng là một chế độ tốt đẹp nhất, ít nữa là trong vòng một thế kỷ qua. Giết ông đi, người ta đã tiêu diệt luôn những lợi thế vừa nói. Giả sử TT Diệm có tội, ngưòi ta nên đem ông ra tòa án. Nếu tội đáng chém đầu, nên đưa ông ra trước pháp trường cát bắt ông phải đền tội một cách công khai. Đó mới là cách bảo toàn quyền lãnh đạo của đất nước. Ngày 2-11-1963, TT Diệm đã nạp mình cho bọn tướng lãnh, bọn khốn nạn này đã dấm dúi giết chết ông một cách vô cùng hèn hạ, và giết chết cả dân tộc VN. Giá bọn côn đồ này không nhận túi bạc của người Mỹ ban cho, và ít năm sau đó, những ông thầy chùa Ấn Quang không cung thỉnh bọn xâm lược vào Saigon thì ngày nay chúng còn có cơ may gỡ tội được. Nhưng lịch sử là lịch sử. Không ai thay đổi được lịch sử.
 
III.  Vấn đề lãnh đạo trong các cộng đồng tỵ nạn
 
     Từ sau khi TT Diệm bị giết, người dân VNCH đã bị mất quyền lãnh đạo đất nước. Chạy ra nước ngoài tránh nạn CS, người tỵ nạn không còn lãnh đạo là hệ quả tất yếu của việc đất nước mất lãnh đạo nói chung, cụ thể là việc TT Ngô Đình Diệm bị giết. Chuyện này rõ ràng như ban ngày, không có gì phải thắc mắc nữa. Đáng lý ra, những ông lớn của ta khi chạy ra nước ngoài phải nghĩ ngay đến việc qui tụ cộng đồng về một mối, đoàn kết mọi người lại, vì lúc đó, thân phận tỵ nạn, tình trạng xa quê hương, và nhất là mối hờn vong quốc là sợi giây hữu hiệu và bền chặt nhất để gắn bó mọi người lại với nhau, và dễ dàng để đặt ra vấn đề lãnh đạo lúc đó. Nhưng tiếc thay, thay vì đặt căn bản là đoàn kết cộng đồng để lo cho tương lai, thì người ta lại vội vàng làm một bước nhẩy vọt là tổ chức "Kháng chiến". Chiến đấu với kẻ thù hung hãn đang say men chiến thắng, mình đủ cân lượng sao? Hậu phương là một khối tỵ nạn trên răng dưới củ lấy gì để yểm trợ cho việc đem quân về nước, mà quân quốc ở đâu mà đem về?  Nước Mỹ ư? Bọn tư bản man rợ Mỹ đã cố tâm trừ khử VNCH, bây giờ họ giúp chúng ta sao? Chuyện "kháng chiến" rõ ràng hoặc là quá sức ngu muội, hoặc là cố tình bịp bợm. Cũng chỉ tại vì không có óc lãnh đạo!
 
    Còn như bây giờ mà đi tìm vấn đề lãnh đạo cộng đồng là chuyện mò kim dưới đáy biển, không được nữa rồi. Bây giờ người tỵ nạn, cá nhân chống cá nhân, đoàn thể chống đoàn thể, tổ chức chống tổ chức, đảng phái chống đảng phải, tất cả là cá mè một lứa, không ai bảo được ai, thì làm sao mà đoàn kết, làm sao mà lãnh đạo? Những người có tâm huyết đều trùm chăn lánh mặt. Ló mặt ra là bị trát bùn lên mặt tức thì. Chúng tôi không vơ đũa cả nắm, nhưng dám nói rằng chỉ còn những tên chống cộng bát nháo mặc sức múa gậy vườn hoang. Chúng ta vẫn có các ban đại diện cộng đồng đấy, nhưng thực sự họ chẳng đại diện cho ai? Có chăng chỉ một nhóm nhỏ rất ít người. Đúng ra ban đại diện cộng đồng phải được bầu lên từ số đông, có quyền hành xử như một thứ chính quyền địa phương của mỗi cộng đồng, có tiếng nói và quyền hạn trên các hội, các đoàn thể khác trong cộng đồng. Nhưng khi ban đại diện cộng đồng cũng chỉ ngang vai, ngang vế như các hội đoàn khác thì điều đó có ý nghĩa gi, làm được gì cho cộng đồng?
 
     Tình trạng cộng đồng bị phân hóa dĩ nhiên và nhất định còn có bàn tay VGCS nhúng vào để lũng đoạn. Chuyện này khó chứng minh nhưng lại là một sự thật hiển nhiên, không cần phải bàn cãi gì cả. Cơ quan tình báo nội địa Hoa Kỳ FBI thỉnh thoảng có ra thông cáo kêu gọi đồng bào tỵ nạn tố cáo những tên VC trà trộn để quậy phá cộng đồng. Nhưng báo cáo rồi cũng chẳng thấy gì. Tình trạng VC quậy phá càng ngày càng gia tăng. Thế nghĩa là sao? Thái độ của chính quyền Mỹ đối với cộng đồng tỵ nạn là thế nào? Họ giúp người VN công dân Mỹ hay giúp VGCS? Có nên đặt ra nghi vấn rằng chính quyền Hoa Kỳ đang tiếp tay với VGCS để giúp chúng thôn tính nốt cộng đồng tỵ nạn chúng ta không?
 
     Muốn cứu đất nước thoát khỏi bàn tay CS và thoát khỏi sự đô hộ của Tầu cộng, người VN nhất định phải đoàn kết lại. Đoàn kết thôi thì thật là vô nghĩa, mà phải là đoàn kết dưới sự lãnh đạo sáng suốt của những người có lòng yêu nước thực sự. Vấn đề lãnh đạo phải đặt lên trên vấn đề đoàn kết. Cha ông ta đã truyền lại một câu rất khôn ngoan về vấn đề này: Đánh rắn thì phải đánh đầu. Đánh đầu tức là đánh vào lãnh đạo. Dân tộc có đoàn kết mấy mà không được lãnh đạo cũng coi như không. Các thế lực thù địch của dân tộc đã tiêu diệt người lãnh đạo của đất nước là TT Ngô Đình Diệm rồi chia phần xương máu của nhân dân ta. Điều đáng buồn là chính những thành phần cốt cán trong nhân dân là trí thức, lãnh đạo tôn giáo, và quân nhân lại là những người không hiểu được sự quan trọng của vấn đề lãnh đạo, đã tiếp tay ngoai bang tiêu diệt quyền uy quốc gia.
 
     Vấn đề lãnh đạo chúng tôi đặt ra hôm nay là một vấn đề muôn thuở của mọi tổ chức, mọi đoàn thể, và mọi quốc gia. Nó nằm trong cuốn Chính Đề VN của ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Tôi xin mượn lời của ông cố vấn Ngô Đình Nhu để kết thúc bài viết này. Ông Nhu viết: "… nếu không có phương tiện của mình thì còn có thể tìm phương tiện khác, chớ nếu không có người lãnh đạo, thì dù có phương tiện cũng không sử dụng được. Vì vậy cho nên, đối với một quốc gia mà nền độc lập bị đe dọa hay đã mất, thì phương pháp hữu hiệu nhứt và điều kiện thiết yếu nhứt để chống lại ngoại xâm là nuôi dưỡng và phát triển sự lãnh đạo".
 
     Ý thức được vấn đề đất nước cần phải có lãnh đạo, người dân VN trong cũng như ngoài nước, hiện đang từng bước làm sống lại và phát huy cái mà người ta gọi là "Tinh thần Ngô Đình Diệm". Tinh thần Ngô Đình Diệm là lòng trung thành và tinh thần trách nhiệm đối với Tổ Quốc, yêu nước thật lòng, quyết tâm giữ gìn và bảo vệ đất nước, giữ vững chủ quyền quốc gia, đặt quyền lợi của Dân Tộc lên trên hết, không ngại xả thân để đối phó với bất cứ một mưu toan xâm lược nào.
 
     Nguyện xin Trời Cao, hồn thiêng sông núi, anh linh các bậc anh hùng tử sĩ, hương hồn TT Ngô Đình Diệm và bào đệ của Ngài là ông cố vấn Ngô Đình Nhu nhìn xuống đất nước VN và phù hộ cho Dân Tộc VN.
 
Viết cho ngày 2-11-2014
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Công lao Tổng thống Ngô Đình Diệm cần được tôn vinh


Lê Công Định - Lúc thiếu thời đi học, nhắc đến cố Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, đa số thầy cô dưới mái trường XHCN của tôi đều gọi là “thằng Diệm” và “thằng Thiệu”. Về nhà tôi kể lại cho ba mẹ nghe. Ông bà nghiêm nghị cấm tôi không nên bắt chước thầy cô, vì như thế là vô lễ và bất kính đối với các bậc tiền nhân. Sau này, trưởng thành, có dịp đi làm việc ngang vùng Ninh Thuận, một đồng nghiệp lớn hơn tôi vài tuổi hỏi: “Nghe nói vùng này là quê hương của thằng Thiệu?” Tôi cau mày, đáp: “Dù sao ông Nguyễn Văn Thiệu cũng đáng bậc cha chú của anh mà! Nếu mình đi đến vùng Nghệ An, em nói đây là quê hương của thằng Hồ, anh sẽ cảm thấy thế nào?” Anh ấy chống chế: “Xin lỗi, thói quen thôi mà!” Từ đấy anh ấy xem tôi là “phản động” (!). Tôi hãnh diện về tiếng “phản động” đó, vì nhớ đến lời giáo huấn đạo làm người của cha mẹ tôi.

Ba tôi, một người tham gia phong trào cộng sản, vẫn luôn bày tỏ lòng kính trọng đối với cố Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. Ông thường nhận định với tôi rằng dân tộc này sẽ tốt đẹp hơn nhiều, thậm chí có thể sánh ngang với Nhật Bản ở Á châu, nếu cụ Diệm lèo lái con thuyền đất nước đến được bờ bến mà cụ tâm niệm và tranh đấu cả một đời. Khi tôi tỏ vẻ ngạc nhiên vì sao ông chưa bao giờ bày tỏ sự tôn trọng tối thiểu đối với bất kỳ lãnh tụ cộng sản nào, ba tôi lắc đầu trả lời: “Ba chọn lầm đường!” Và ông luôn căn dặn tôi: “Thế hệ của con không được quyền lạc lối như ba.”

Mỗi sáng mùng một Tết hàng năm lúc tôi còn là học sinh tiểu học và trung học, sau khi sang chúc Tết ông nội về, ba mẹ thường đưa anh em chúng tôi đến nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi viếng mộ dượng sáu tôi là ký giả Vân Sơn Phan Mỹ Trúc, Chủ bút nhật báo Đông Phương ở Sài Gòn trước 1975. Bao giờ cũng vậy, trước khi đến mộ dượng tôi, ba tôi luôn dừng lại thắp hương, còn mẹ tôi (một giáo dân Công giáo) đọc kinh cầu nguyện trước mộ Tổng thống Ngô Đình Diệm, Cố vấn Ngô Đình Nhu và bà cụ cố thân sinh của hai ngài. Anh em chúng tôi phải đứng chấp tay, cúi đầu. Điều đó đã trở thành thông lệ của gia đình tôi ngày xưa.

Năm 1998, sang Pháp học, tôi đọc một quyển sách về Tổng thống Ngô Đình Diệm và biết rằng sau khi nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi bị giải tỏa năm 1985, hài cốt của ba vị cùng với ông Ngô Đình Cẩn được thân nhân chuyển về nghĩa trang Lái Thiêu. Tết năm 1999, nhân dịp trở về Việt Nam dự chương trình Orientation dành cho sinh viên nhận học bổng Fulbright du học Hoa Kỳ, tôi chở ba tôi đi Bình Dương tìm nghĩa trang Lái Thiêu, mà ông còn nhớ tên gọi xưa là “Nhị Tì Quảng Đông”. Chúng tôi dò hỏi những người dân gác mộ xung quanh đó, thì được hướng dẫn tận tình và đưa đến tận nơi. Họ còn nhắc nhở chúng tôi viếng nhanh rồi về, vì buổi trưa các du kích xã đi ăn cơm nếu không chúng tôi có thể bị mời về xã đội điều tra lý do viếng mộ ông Ngô Đình Diệm (?).

Theo quyển sách tôi đọc, bia mộ của cố Tổng thống ghi “Giacôbê Đệ”, còn bia mộ của ông Cố vấn ghi “Baotixita Huynh”, do thân nhân lúc cải táng cố tình tráo hai chữ “huynh” và “đệ” để kẻ gian nhầm lẫn. Tôi không rõ thực hư việc này, nhưng quả nhiên thấy rõ những dòng chữ ấy. Giữa mộ hai ngài là mộ của bà cụ cố thân sinh. Cách một quãng xa, ngôi mộ có tấm bia dựng cao ghi chữ “Can” và năm mất 1964, chính là mộ phần của ông Ngô Đình Cẩn. Hai cha con tôi kính cẩn làm lễ, thắp hương, đọc kinh cầu nguyện và chụp ảnh lưu niệm. Suốt đoạn đường về ba tôi trầm ngâm, muộn phiền trước cảnh một nhân vật từng có sự nghiệp vĩ đại nhất của dân tộc ở thế kỷ 20 mà cuối đời chỉ còn nắm tro tàn vùi chôn tại một nơi và theo một cách thức không tương xứng với tầm vóc và đóng góp của ông. Nỗi buồn của ba lây sang cả tôi.

Trở lại Paris năm đó, tôi tìm đến thăm trường Ecole des Chartres, một trong những trường danh giá nhất của Pháp, nơi ông Ngô Đình Nhu từng theo học. Ngôi trường ấy tọa lạc gần trường luật Panthéon-Assas của tôi. Tôi vẫn nể phục ông Nhu như một nhà tư tưởng lớn hiếm hoi của Việt Nam đương thời. Từ chuyến đi năm 1999 trở về sau, lúc thì vào dịp Tết, lúc nhân ngày giỗ hai ông, tôi âm thầm đến viếng mộ phần của bốn vị đều đặn. Giữa năm 2007, một buổi chiều cuối tuần, đón tiếp luật sư Lê Quốc Quân vào Sài Gòn, tôi đưa anh và hai vợ chồng luật sư đồng nghiệp cùng đến nghĩa trang Lái Thiêu. Chúng tôi đã tổ chức một buổi lễ tôn nghiêm dành cho các vị, với nguyện ước một ngày không xa công lao và danh dự của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm sẽ được phục hoàn và tôn vinh tương xứng với sự nghiệp vĩ đại của ông.

Tiếc rằng giờ đây đang trong thời gian quản thúc, ngày mai tôi không thể đến viếng mộ phần của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và ba vị tiền nhân như mong ước, hy vọng lời chia sẻ này thay cho nén hương tưởng niệm để tỏ lòng kính trọng và niềm tiếc thương của tôi dành cho nhân vật lịch sử đã từng tranh đấu và ngã xuống vì quốc gia Việt Nam.

Lê Công Định
Facebook

Sau khi đăng bài viết về cố Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm đêm hôm qua, sáng nay tôi nhận được từ một người bạn tấm ảnh chụp trong chuyến đi viếng mộ năm 2007 cùng luật sư Lê Quốc Quân, mà tôi đã đề cập. Đây là mộ phần của ông cố vấn Ngô Đình Nhu, dù tấm bia ghi là "Gioan Baotixita Huynh".

Bài Xem Nhiều