We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 3 November 2014

Tản Mạn Mùa Tảo Mộ : hay Một Thời Để Thương, Một Thời Để Nhớ…


Tản Mạn Mùa Tảo Mộ : hay Một Thời Để Thương, Một Thời Để Nhớ…
Il ya un temps pour tout, …un temps pour aimer,…
un temps pour faire la guerre, un temps pour la paix. –
Chúng ta có một thởi cho mọi viêc, …một thời để thương,
một cho chiến tranh, một thời cho hòa bình.
Sách Ecclésiaste 3 : 1 -8
1/ Mùa Tảo Mộ, Lễ Các Thánh : Thương, Nhớ và Trân Quý :
burningcandles.gif picture in Beautiful inspirational graphics
Hôm nay, ngày 31 tháng 10, đã hơn nửa mùa Thu rồi mà thời tiết như mùa hè nóng bức. Năm nay thời tiết của arrière-saison - tiếng Pháp không dùng tên gọi  été indien để chỉ một đầu mùa Thu đẹp – quá đặc biệt, ấm và đẹp ! Quả nhiên, đầu Thu năm nay, Pháp đẹp thiệt !  Lá đỏ ửng hồng trên một bầu trời xanh trong sáng, với những buổi chiều đầy nắng ấm. Các bãi biển vẫn đầy người, vẫn còn người tắm, vẫn còn người phơi nắng ; các sân vỉa hè-terrasses  trước các tiệm càphê  khách ngồi đầy, cà kê thưởng thức, nhâm nhi kẻ ly bia, người ly cà-rem, ly nước ngọt giải nhiệt, ngắm người qua lại, nói chuyện trời trăng. Trái với thông hường mùa nầy, không còn terrasses, khách hàng chen chúc, co ro vào tận trong cùng các quán  càphê, kẻ tách nhỏ cà phê nóng uống vội, người tà tà ôm trọn tách cối chôcôla sữa nóng trong lòng hai bàn tay, vừa thổi vừa uống.…
Và chiều nay, chiều thứ sáu cuối tuần, bắt đầu ba ngày mùa tảo mộ, ba ngày lễ Toussaints-lễ Các Thánh.  Đúng vậy, xứ Pháp chúng tôi, truyền thống Thiên chúa Giáo La-mã giành ngày đầu tháng 11làm ngày Tảo mộ. Khác với truyền thống Á Đông văn hóa Hán thuộc ( Tàu, Nhựt, Hàn, Việt ?),  lễ tảo mộ vào tiết Thanh Minh đầu tháng ba mùa Xuân : « Thanh Minh trong tiết tháng ba, lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh ..(Kim Vân Kiều, Nguyễn Du). Ngày 1/11 còn được Công luật và luât Lao động Pháp biến thành ngày nghỉ lễ-jour férié, ở nhà ăn lương. Riêng ngày 2 tháng 11, luật đạo Thiên Chúa đặt thêm ngày lễ Ngày Lễ cho các Người Chết – Fête des Morts,  được các giáo hữu Thiên Chúa Giáo La mã chuyển dịch thành lễ Toussaints - Ngày Lễ Các Thánh – làm như ai chết cũng thành thánh cả !  
Do đó ngày thứ sáu hôm nay, giao thông Pháp bị nạn kẹt xe tùm lum. – các con cháu lo trở về làng xã, nơi có mồ mả cha mẹ tổ tiên  để tảo mộ, sơn quét dọn dẹp và đặt hoa trên mồ mả ông bà. Các cửa hàng bán hoa tha hồ hốt bạc bán  hoa, loại  đặc biệt cho mùa tảo mộ là hoa Cẩm chướng, tiều đoá hoặc  đại đóa– Chrysanthème. Hoa chrysanthème – hoa tượng trưng cho Hoàng Gia Nhựt bổn ( mầu trắng ) - ở Pháp đủ mầu, là hoa chỉ giành riêng cho các mồ mả, không ai chưng ở nhà cả, mà cũng chẳng ai trồng trong vườn cả, nên muốn có Chrysanthéme đành phải đi mua thôi !.
Riêng phe Việt Nam Cộng Hòa ta, ngày 1 tháng 11 cũng là ngày kỷ niệm cuộc lật đổ đệ nhứt Cộng hòa và khai sanh đệ nhị Cộng hòa. Cũng có lúc ngày 1 tháng 11 cũng được làm Ngày Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa. Theo thiển nghĩ, chúng ta nên biết trọng nhau, để qua một bên một trang sử đau buồn của miền Nam Việt Nam. Hãy quên đi tôi phò ông Bảo Đại, trách ông Diệm, bác phò ông Diệm, Cần Lao, chống ông Thiệu và các Tướng lãnh. Chẳng qua là gặp thời thế, thế thời phải thế. Chúng ta nên trân trọng tất cả những cố gắng, những đóng góp của các tiền nhơn, đi tìm Độc lập cho Việt Nam, đi tìm lại một quốc gia Việt Nam Thống nhứt,  Độc lập, Tự do của tất cả những người quốc gia yêu nước.
Hãy trở lại cái khởi thủy- la génèse- trở lại cái khai sanh của tinh thần Quốc gia Việt Nam, cái thành hình của Quốc gia Việt Nam cụ thể và thật sự : Với Hiệp Ước Élysée ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Vincent Auriol nhơn danh Cộng Hòa Pháp trả độc lập lại cho Việt Nam cho cựu Vua Bảo Đại.
Pháp cướp Độc lập Việt Nam trong tay Vua nhà Nguyễn – Vua Tự Đức năm 1885, trả Độc lập năm 1949 trong tay vua Nhà Nguyễn-Vua Bảo Đại. Một biểu tượng phải trân quý : Tham khảo, đối thoại , ký kết, ngoại giao, không đổ máu, không hiềm khích, tranh chấp đất đai, giữa những gentlemen với nhau. Đây là một văn bảng ngoại giao, một văn kiện lịch sử, một gentlemen agreement, giữa hai lãnh đạo hai quốc gia, một bên Tổng thống Pháp, một bên một cựu lãnh đạo đã được nhơn hào dân sĩ và tất cả các đảng phái chánh trị quốc gia nhiệt liệt ủng hộ và đồng tâm bầu lên, ngày 27 tháng 5 1949 tại HongKong.   
Với lá Quốc kỳ vàng ba sọc đỏ, với Quốc ca Tiếng gọi Công dân, với Thủ đô Sài gòn, Quốc Gia Việt Nam ra đời ngày  ngày 1 tháng 7 năm 1949.
  . Cựu Hoàng Bảo Đại là Quốc Trường đầu tiên. Thủ đô là Sài-gòn.
Sài gòn thủ đô, sau Huế và Hà nội, để nói lên cái thống nhứt ba miền, cái tân thời của NamViệt do cuộc Nam Tiến tạo thành, cái phì nhiêu của vùng đất mới. Đất miền Nam là đất mới, sung mãn, tương lai, cởi mở. Sài gòn cũng  là bến cảng, là thương mại, ngoại thương, là cửa ngõ ra Thế giới. Đối lại với Hà nôi ngàn năm văn vật, đối lại với Huế cổ kính, Thần kinh,  nhưng cả hai là những thủ đô của thời quân chủ xa xưa,  đóng kín, bế môn tỏa cảng, và cũng đã là thủ đô của hai vùng tranh chấp Đàng Trong Đàng Ngoài,  200 năm nội chiến phân tranh.  
Chánh phủ lâm thời chuyển tiếp là Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân. Và ngay sau đó là chánh phủ Bảo Đại, Vua Bảo Đại vừa Quốc trưởng vừa  là Thủ tướng khai mạc mở màn vận nước từ nay Độc lập, Tự do và hoàn toàn không Cộng sản.
  . Quốc ca là bài Tiếng gọi Công dân
  . Quốc kỳ Quốc gia Việt Nam mầu vàng ba sọc đỏ phất phới từ Ải Nam Quan đến Mủi Cà mau từ 1 /07/1949 đến 20/7 /1954.

Thề chế Quốc gia Việt Nam kết thúc ngày 26 tháng 10 năm 1955. Tuy nhiên, sau ngày 20/7/ 1954, đất nước ranh giới Quốc gia Việt Nam, dủ chỉ còn nửa nước, nhưng tinh thần quốc gia  và sau nầy dù có đổi tên chế độ thành Cộng hòa vần được duy trì, vẫn tâm huyết ngày đêm tiếp tục đến ngày 30 tháng 4, ngày mất nước và vẫn sống mãi đến tận ngày hôm nay, năm 2014, công khai, trong sáng, hợp pháp trên  xứ tỵ nạn, hợp lý trên quê người, ở Hải ngoại, và âm thầm,  và giấc mơ  của người dân quốc nội.
Tinh thần quốc gia đã tạo thành Quốc gia Việt Nam. Tinh thần Quốc gia cũng    sau nầy, tiếp tục chuyển sang tạo thành  Việt Nam Cộng Hòa dưới  hai chánh thể :  26 /10/1955 – 1/11/63 Đệ Nhứt Cộng Hòa, và 1/11/63 – 30/04/1975 Đệ Nhị Cộng Hòa

Hôm nay Mùa Tảo mộ, chúng ta nên giành một khoảng thời gian để thương, để nhớ, để trân quý :
Giổ ngày mất của cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm, và ông Ngô Đình Nhu đã đành. Sao ta không nhơn cơ hội làm một cuộc giổ lớn cho tất cả những anh hùng Vị quốc Vong Thân cho Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa ?  Quốc Gia trong nghĩa rộng.
Bài học ngày 1/11/63 cũng là bài học để thầy đây là tinh thần Dân chủ.
Dân bầu được thì dân lật được.
Bao nhiêu người lãnh đạo, một thời gian cầm quyền, say máu ngà, quên dân chủ,  bắt đầu độc tài, ở lì, ở miết, dân nổi dậy lật đỏ.
Mùa Xuân Ả Rập, Cách mạnh Mầu, … tất cả là những bài học Dân chủ.

2/ Một Thời Để Thương, Một Thời Để Ghét :
autumncandel.gif picture in Beautiful Inspirational Graphics II

Cách đây hai tuần chúng tôi có viết một bài tham luận nói quan điểm chúng tôi sau khi đọc cuốn Đèn Cù của tác giả Trần Đĩnh. Thú thật, sống và lớn lên ở Nam Việt Nam, được giáo dục trong tinh thần công dân một Quốc gia Việt Nam, làm việc, hoạt động trong không khí văn hóa tự do dân chủ của Việt Nam Cộng Hòa,  được huấn luyện và đào tạo bởi một gia đình và một đại gia đình đảng viên Đại Việt, cá nhơn chúng tôi không « hạp » với Công sản, với ý thức hệ cộng sản, với con người của những đảng viên Cộng sản, cũ hay mới, tại chức hay về hưu, xét lại, hay tỉnh ngủ, giả dối hay ngây thơ, Atêka, hay đi B… Trường Sơn Đông hay Trường Sơn Tây… và kể luôn cả não trạng, văn hóa, văn phong, nói tóm lại, tôi hổng chơi, dẹp, và để qua một bên, không thèm để ý.

Tôi sở dỉ lên tiếng về cuốn Đèn Cù vì tự nhiên tôi thấy thiên hạ « khen » một cuốn sách của một nhơn vật, bổng nhiên tỉnh ngủ và kể chuyện đời xưa, và đập phá thần tượng, nên tôi đâm ra nghi ngờ, nên tôi phải lên tiếng cảnh giác, mở Đèn Warning thay thế Đèn Cù, cảnh báo bà con cô bác họ hàng, chiến hữu, bằng hữu gia đình thằng tui.  Trần Đĩng đập phá thần tượng ? Thần tượng nào ? Chủ tịch nước ? Thủ tướng nước ngày nay ? Đâu có phải thần tượng của bây giờ đâu ? Thần tượng hồi đó … hồi tác giả đã thấy, đã sống ngay hồi cái thời xa xưa ấy rồi, chẳng những sống, phục vụ, điếu đóm thần tượng mà tác giả còn thuộc loại công tử quý phái, ăn trên ngồi tróc nữa ! Và tôi khinh cái tỉnh ngủ trễ tàu, cái tỉnh ngủ theo thời đại,  cái tỉnh ngủ viết để  bán sách, để ngưyời ta biết mình, xu thời, vớt vát, lợi dụng. Thà như Tô Hoài dám tự nhận mình là thằng hèn. Nhưng cũng phải chờ đến 80 tuổi mới nhận mình hèn.
Kính mời quý độc giả nếu có dịp đọc bài tham luận « Đừng để ánh sánh Đèn cù che lấp Quyền nổi dậy lật đổ Bạo quyền » của chúng tôi, quý vị sẽ nhận rõ quan điểm của chúng tôi.  
Với tôi, Đèn Cù là một hiện tượng « Xã Xúp báp » có chỉ đạo. Người đọc Đèn Cù, lòng dạ hả hê, được đọc cái tố, được đọc cái chưởi, nghe người chười, và ăn có mình cũng chưởi theo, quên rằng cái thằng cha chưởi và thằng cha bị chưởi,  hai thằng cùng cá bè một lứa, đã từng cùng nhau bóc lột, lợi dụng ta, lợi dụng người dân.
Tôi cũng không thích và tôi ghét. Khi tôi ghét là tôi ghét  tôi ghét cả,  văn phong, cách viết, cách xài từ, cách phát biểu. Tôi lớn và sống trong Nam, trong chế độ Việt Nam Quốc Gia, Việt Nam Cộng Hòa, tôi không nói và viết tiếng việt như vậy,  vi đấy là không phải văn hóa của tôi. Tôi không cùng văn hóa, nên tôi không cùng  não trạng. Không xách mé, không úp mở. Không nói nữa chừng xuân, không nói lóng, không nói xa, nói gần. Không dùng tên giả, tên bịa, tên láo. Không ngày giả tháng láo, không bịa ngày sanh, tạo ngày chết.  

Và có một ông độc giả báo Việt Luận – Sydney – Úc châu, đọc bài tôi, không bằng lòng bèn viết vào mục độc giả góp ý. Tôi không đăng lại lời ông độc giả. Bài trả lời của tôi nói rõ cái ý kiến, và quan niệm của tôi đối với bài viết, văn phong của tôi và quan niệm chữ nghĩa của tôi.
Đôi lời kính gởi quý độc giả, gọi là chia sẻ. Xin lỗi trước tất cả những bạn nào bảo rằng đây là chuyện riêng giữa cá nhơn tôi và người độc giả báo Việt Luận. Thiển nghĩ rằng không,  vì tôi mong được chia sẻ cùng quý độc giả đã cùng tôi trao đổi những nhân định, nhơn sanh quan và quan niệm từ mấy năm nay.

3/ Đôi lời cảm ơn những góp ý của ông Trần Văn Cầm, độc giả báo Việt Luận ở Sydney–Úc đại Lợi.
pcp_download_040-2
Kính thưa ông Trần Văn Cầm,

Trước hết cho phép tôi gởi đến ông những lời cảm ơn chơn thành và nồng nhiệt nhứt, sau đó đôi lời cám ơn đặc biệt báo Việt Luận đã mở mục ý kiến độc giả cho  hai bài góp ý của ông Trần Văn Cầm. Đó là một vinh hạnh lớn cho người viết. Bất cứ một tác giả bài tham luận nào cũng rất hân hạnh được hồi đáp, phản biện, đóng góp, từ các độc giả. Tôi cố tình dùng từ Tham luận chứ không dùng từ bình luận, vì tôi tham gia luận bàn với các độc giả báo Việt Luận hay với các độc giả các báo điện tử (tôi hoàn toàn không biết rằng từ tham luận chỉ dành riêng cho c ác hội nghị, đúng hay sai xin chỉ giáo) Thiển nghĩ rằng tất cả chúng ta họp thành một bàn tròn rộng lớn trên thế giới, tham gia suy nghĩ bàn luận đến những vấn đề chúng cần quan tâm hay tò mò để hiểu biết hay tham gia đóng góp, trao đổi, giải trí kiểu chuyện tiếu lâm hay thời sự văn hóa. Vì vậy tôi đánh dấu hỏi trên tựa đề, vì đây là một đề nghị chứ không là một xác định, kêu gọi. hay yêu cầu. Tôi đề nghị cái nhìn của tôi, gợi sự tham gia, đồng ý hay không là việc thứ. Vì vậy tham luận.

Còn bình luận ? cao siêu quá ! cá nhơn tôi không dám phê bình phân tách một văn phẩm hay một bài viết của ai cả, tôi chỉ là một cựu thầy giáo, không phải là một người viết văn, haymột người viết  phê bình văn học Mà nghề thầy  giào là chia sẻ kiến thức, chuyển đạt hiểu biết thông tin văn hóa, khoa học hay nghề nghiệp. Bài viết chỉ phát biều ý kiến, nói tôi không thích hay tôi thích. Khi tôi thích, thích tất cả, kể cả những cái tật, khi tôi không thích, tôi không thích tất cả kể những cái, có thể là tốt đối với người khác ý kiến tôi.  Cho phép tôi dùng một ngạn ngữ ngoại quốc để nói lòng tôi đối với quốc gia tôi « It’s right, it’s wrong it’s my country ! ». Và Việt Nam Cộng sản ngày nay không phải là country-quốc gia của tôi. Tôi sanh trưởng ở Nam Việt Nam, giọng nói, cách hành văn, phát câu của tôi do cha mẹ thầy giáo giảng dạy tôi sao, bây giờ tôi nói và viết vậy. Ngày mất nước-nước của tôi là nước Việt Nam Cộng Hòa- tôi hụt hẩng hẳn khi phải làm việc với Ban K9 Quân Quản của Quân đội (Cộng sản)  chiếm đóng, tôi nhiều lần phải phụ  đề  « bắc việt cộng ngữ » thí dụ tôi nói « tôi xin thuyết trình », xong tôi dịch luôn « tôi xin thuyết minh » cho họ hiểu ý rằng họ đang ở trên đất người, họ tuy phải nghe tiếng người, nhưng được tôi « chuyển ngữ » ra  « tiếng họ » để họ hiểu. .. Tôi đúng tôi sai ?  tôi đã trả giá bằng 4 năm tù rồi, và tôi vẫn hãnh diện với thái độ ấy. Giá phải trả quá rẽ, rẽ hơn giá tù đày của thằng em trung úy quân vận của tôi (9 năm).  Trần Đĩnh, với tôi, không nói, không viết tiếng mẹ đẻ của tôi, vì vậy văn  phong Trần Đĩnh tôi không hiểu.  Mong ông Trần Văn Cầm và quý bạn thông cảm tôi và tôn trọng quyền lựa chọn của tôi. Tôi nhờ Ơn Chúa và cha mẹ, nhờ ráng học, nên nay tôi viết và nói được Pháp ngữ, Anh ngữ để nuôi thân. Nhưng tội nghiệp tôi, đừng buộc tôi học thêm Việt Cộng ngữ. Tôi không cần học « tiếng nói cộng sản » để chống Cộng – như ông đã dạy tôi - vì  tôi chỉ biết chống bọn xâm lăng  Hán ngụy đang đô hộ nước tôi thôi !  và tôi không viết cho địch, tôi viết cho người dân trong nước những nạn nhơn của bọn Hán ngụy, nên tôi không cần học chữ viết và cách hành văn Hán ngụy ! Tôi quá khích chăng ? Có thể, vì từ năm tôi bị trục xuất, từ năm 1980, tôi không về lại Sài gòn, cha chết, mẹ mất cũng không về chịu tang. Bất hiếu ? hay quá khích ?  
Xin ông Trần Văn Cầm thông cảm cũng đừng bắt bí tôi rằng « Cộng Hòa » là một thể chế, và tên nước ta là nước Việt Nam ngắn gọn hai từ thôi, và ông nói đúng !  Nhưng cái đau khổ của người Việt chúng ta là nước Việt Nam của chúng ta đang bị xâm chiếm, bị đô hộ, nên với tên Việt Nam đơn thuần, người ta sẽ hiểu lầm. Việt ngữ không có những tiếp-vĩ -ngữ để tạo một từ mới, tất cả dùng chung chung một từ « người Việt », bất kể đó công dân Việt Nam (Cộng sản), hay đó người Việt Nam tỵ nạn ở hải ngoại, chưa kể có kẻ còn lạm dụng ức hiếp chúng tôi, người Việt tỵ nạn cộng sản một cách vũ phu, chúng tôi « bị gọi là Việt Kiều » ! Sự chiếm đóng của thế lực và quân đội ngoại lai – quân đội cộng sản quốc tế  được việt hóa - hay lai ngoại quốc (ngày nay lai Tàu) - nầy không giúp cá nhơn tôi nhìn nhận cái đất nước nơi chôn nhao, cắt rún của tôi, với đất, biển, lãnh thổ, lãnh hải ấy là quê hương tôi. Nhưng đó là quan niệm riêng của tôi, tôi chỉ nói, gọi là tự giới thiệu, không chia sẻ và cũng không kêu gọi.
Tôi tiếp tục dùng những từ ngữ, ngữ vựng và cả văn phạm của người Đàng Trong, quê hương từ thế kỷ thứ 17 của gia đình giòng họ tôi. Những từ ngữ nầy theo tôi vẫn có mặt trong những án văn của những nhà đại văn hóa Việt Nam  của tôi như Cụ Đồ Chiểu, Cụ Hồ Biểu Chánh, … xin phép chỉ nói riêng đến hai Cụ thôi. Thiết nghĩ nếu từ « nhơn » thay cho « nhân » mà các sanh viên học sanh trong nước xem là « xa lạ » thì tội nghiệp cho việt ngữ và tiếng việt của tôi quá ! Tiếp tục viết văn với giọng văn của nơi sanh quán của mình là để chứng minh cái phong phú, giàu có của việt ngữ. Tại sao ta phải tự bắt buộc và chấp nhận chỉ dùng những từ ngữ hay ngữ vựng hay cú pháp do văn hóa đô hộ  (ngày nay là cộng sản Bắc Việt) sắp đặt, với những « đăng ký, chất lượng, ùn tắc, khẩn trương, giải phóng mặt bằng, có vấn đề,  rất ấn tượng »…chúng tôi xin ghi nhận, không phủ nhận và có thể dùng  như đã dùng những ngữ vựng vay mượn « cà phê, manivên, xàrông, mãtà, bẻghi, lốp xe hay cu li, xích lô, lô can, tapi, hủ tiếu, xíu mại, mạidô, phôngtên, bẻcua, lấy le, áo đầm, sơmi, quần sọt..xìlíp, xúchiêng.. » của văn hóa thuộc địa Tây vậy ! Tất cả nên thêm, không nên cột lại. Ông trách tôi viết sai với lý do là không tôn trọng tiêu chuẩn văn hóa, ký tự , văn phạm ! tiêu chuẩn nào ? thước đo ở đâu ? Tại sao phải viết theo tiêu chuẩn Bắc Việt,  chuẩn văn phải là  Tự lực Văn đoàn, chuần thơ phải là  Kiều của Nguyễn Du ? mà không là thơ với Nguyễn Đình Chiểu với Lục Văn Tiên ?, hay văn với Hồ Biểu Chánh ? … Tại sao khi hát tân nhạc phải hát giọng Bắc ? Hãy nghe Trần Văn Trạch hát Chiều Mưa Biên Giới của Nguyễn Văn Đông với giọng Nam. Và hãy nghe kép Hoàng Giác, của gánh Kim Chung, Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô, ca Vọng cổ với giọng Bắc ! Nhưng xin lỗi báo Việt Luận, xin lỗi Ông Trần Văn Cầm tôi đã lạc đề-ọt rơ hors jeu

Phan Văn Song 

PHẠM QUỲNH, NHÀ TRÍ THỨC DẤN THÂN


Phạm Quỳnh (1892-1945) đậu thủ khoa kỳ thi Cao đẳng tiểu học (Diplôme d’Études primaires supérieures, tương đương với Brevet Élémentaire) tại Hà Nội năm 1908, rồi đi làm tại Trường Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ (École Française d’Extrême Orient).  Trở thành công chức của Trường Viễn Đông Bác Cổ, Phạm Quỳnh có thể hưởng thụ một cuộc sống sung sướng đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần so với thuở hàn vi.  Đồng lương công chức thời Pháp thuộc khá cao so với vật giá đời sống hàng ngày lúc đó.

TỪ VIỄN ĐÔNG BÁC CỔ QUA NAM PHONG TẠP CHÍ

Trường Viễn Đông Bác Cổ là nơi dễ học hành, nghiên cứu, thích hợp với sở trường của Phạm Quỳnh.  Ông có thể sống thảnh thơi thoải mái trong không khí đó, nhưng ông đã mạnh dạn dấn thân vào hoạt động văn hóa để mở mang dân trí như những nhà duy tân đi trước ông đã làm.  Từ bỏ nơi chốn yên ấm là Trường Viễn Đông Bác Cổ để tiến vào trường văn trận bút, không phải là chuyện dễ dàng ai cũng làm được, nhất là trong buổi giao thời như giai đoạn Phạm Quỳnh.

Trước khi Phạm Quỳnh xuất bản tờ Nam Phong (1917), chữ Quốc ngữ mới phôi thai.  Chữ Quốc ngữ tuy đã được các tu sĩ Ky-Tô giáo Tây phương cùng các giáo dân và chức sắc Ky-Tô giáo Việt Nam sáng chế từ thế kỷ 17, nhưng chính quyền nhà Nguyễn, mãi cho đến thời vua Khải Định vẫn còn dùng chữ Nho trong văn thư hành chánh chính thức.  Bên cạnh đó, chính quyền bảo hộ chỉ dùng chữ Pháp.  Sự xuất hiện của báo Nam Phong năm 1917 đã giúp "những người trong nước chỉ xem quốc văn mà mở mang trí thức được".(Lời của giáo sư Dương Quảng Hàm)

Nhiều người dựa vào việc Louis Marty, giám đốc Phòng An ninh và Chính trị phủ Toàn quyền Đông Dương, đã yểm trợ cho Phạm Quỳnh xuất bản tờ Nam Phong, để kết luận rằng tờ Nam Phong là công cụ của chính quyền Pháp. Một điểm cần nói rõ trước tiên là toàn bộ những hoạt động, cơ sở trong thời Pháp thuộc không thể dễ dàng đánh giá là tay sai cho Pháp, mà cần lượng định từng việc một trong khuôn khổ đô hộ của người Pháp; những người nào đã làm gì có lợi hay có hại cho đất nước.  Tờ Nam Phong, dầu cho người Pháp giúp thành lập hay tài trợ, nhưng bài vở không phải là cái loa của Pháp, mà đều là những kiến thức cần thiết cho dân chúng lúc đó.  "Ngày nay, mở nó ra ta thấy phản ảnh hết cả những vấn đề của người trí thức thời ấy, thấy hầu hết những tác giả đã có sự nghiệp cũng như những văn phẩm đã có giá trị.  Khảo luận, tiểu thuyết, thi ca, những sản xuất tiêu biểu của giai đoạn đều từng ra mắt ở đó...Nam Phong là một trường học quốc văn hiệu nghiệm..." (Nhận xét của giáo sư Phạm Thế Ngũ).

Khi đang còn là chủ bút tạp chí Nam Phong, trong cuộc tháp tùng phái đoàn vua Khải Định sang Pháp, diễn thuyết ngày 22-7-1922 tại Viện Hàn lâm Pháp, Phạm Quỳnh nói: "Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng được đâu.  Chúng tôi là một quyển sách đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai, đã mấy mươi thế kỷ nay.  Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ được.  Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được cái học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi làm cho chúng tôi mất giống đi, mất cái quốc tính của chúng tôi làm thành một dân tộc vô hồn, không còn tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy cái thuộc địa cổ của người Pháp kia."  (Phạm Quỳnh, Tuyển tập và di cảo, Kỷ niệm 100 năm ngày sinh, Paris:  An Tiêm, 1992, tt. 382-383.)

Một nhà báo trẻ, khoảng 30 tuổi, của một nước thuộc địa, diễn thuyết trước viện Hàn lâm của cường quốc thực dân đang cai trị nước mình, viện Hàn lâm lại gồm những tinh hoa của nước đó, là một sự kiện khá đặc biệt.  Nhà diễn thuyết đó lại dám nói thẳng với thính giả rằng từ lâu đời, người Việt có truyền thống văn hóa riêng, quốc học riêng không thể hủy diệt; người Việt sẵn sàng học thêm những điều mới lạ nhưng vẫn muốn bảo vệ quốc hồn của người Việt.  Phải có niềm tin tưởng mãnh liệt vào truyền thống và di sản văn hóa dân tộc, lòng yêu nước cao độ, và sự can đảm tuyệt vời, Phạm Quỳnh mới tỏ thái độ táo bạo đến liều lĩnh như vậy. 

Chủ trương văn hóa của Phạm Quỳnh không khác gì chủ trương của những nhà ái quốc trong phong trào Duy tân vào đầu thế kỷ 20, chỉ khác ở chỗ Phạm Quỳnh nhẹ nhàng hơn, mượn công cụ của người Pháp để hoạt động, nương theo đà người Pháp để đưa nền văn hóa nước ta vượt lên, chứ không cưỡng chống lại để bị vấp ngã.  Sự thất bại của phong trào Duy tân là bài học quý giá từ đó Phạm Quỳnh rút kinh nghiệm tìm đường khác để phát triển văn hóa và học thuật nước nhà.  Ngày nay, nếu đọc lại Thượng Chi văn tập gồm những bài viết chính yếu của Phạm Quỳnh trên Nam Phong tạp chí, độc giả sẽ thấy chủ trương nầy xuyên suốt từ đầu đến cuối đời Phạm Quỳnh.

TỪ NAM PHONG VÀO TRIỀU ĐÌNH

Trước khi vào Huế làm quan năm 1932, Phạm Quỳnh đã rất nổi tiếng không phải riêng ở Hà Nội và Bắc Kỳ, mà khắp trên toàn quốc.  Bổng lộc của ông ở tòa báo Nam Phong lớn hơn rất nhiều so với lương thượng thư triều đình Huế lúc bấy giờ. (Phạm Quỳnh, Tuyển tập và di cảo, tr. 415.)  Nói như thế có nghĩa là Phạm Quỳnh đã thành danh, tiếng tăm lừng lẫy, và đã giàu sang sung sướng trước khi ra làm quan.  Không còn vì danh, không còn vì lợi, thế thì tại sao Phạm Quỳnh lại vào Huế theo lời yêu cầu của vua Bảo Đại? 

Về việc nầy, Phạm Quỳnh đã tâm sự với nhà báo Nguyễn Vạn An tại biệt thự "Hoa Đường" (ở An Cựu, Huế) sau khi rút lui khỏi triều đình năm 1945, và trước khi bị Việt Minh sát hại: "...Trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng..." (Phạm Quỳnh, Tuyển tập và di cảo, tr. 399.)

Điều nầy có nghĩa là Phạm Quỳnh âm thầm hy vọng hoạn lộ là con đường thiết thực giúp ông thực hiện lý tưởng chính trị mà ông hằng hoài bão, đó là chủ nghĩa quốc gia chân chính.  "...Muốn theo chủ nghĩa quốc gia chân chính, thì hai vấn đề là cần.  Về đường tinh thần phải gây lấy một nền quốc học xứng đáng, về đường chính trị phải ban bố một cái hiến pháp phân minh.  Quốc học là để bồi bổ tinh thần trong nước, hiến pháp là để định rõ về quyền lợi chính trị trong nước, hai đàng đều là tổ chức lấy một đời quốc gia (vie nationale) cho có thể thống..." ("Quốc học và chính trị", Nam Phong số 165, 8-9-1931.)

Trong sách Con rồng Việt Nam, cựu hoàng Bảo Đại kể rằng: "Phạm Quỳnh được biết đến sau vụ Yên Bái năm 1930 nhờ bốn bài xã luận đăng trên báo France-Indochine ở Hà Nội, mà bài đầu tiên nhan đề: "Tiến tới một Hiến pháp".  Ông ta chỉ muốn trở lại cơ cấu tốt đẹp cũ.  Nằm trong tinh thần hiệp ước bảo hộ, là nên trả lại cho chính phủ hoàng gia sự cai trị nội bộ với Hội đồng Dân biểu.  Tuy nhiên, các thượng thư chỉ chịu trách nhiệm trước Đức Vua mà thôi.  Muốn thực hiện cải cách ấy, cần phải có sự tham gia của phái trẻ và tân học." (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 90.)

Nên chú ý là trước vụ xử tử hình 13 liệt sĩ Yên Bái, khi Việt Nam Quốc Dân Đảng mở cuộc khởi nghĩa ngày 10-2-1930, Pháp đã phản ứng mãnh liệt, cho máy bay đến oanh tạc đốt cháy làng Cổ Am và huyện Vĩnh Bảo ngày 17-2-1930, nơi đặt căn cứ quan trọng của Quốc Dân Đảng.  Lúc đó, võ khí chiến tranh chưa tối tân như ngày nay, dùng máy bay tàn phá làng mạc là một hành vi khủng khiếp gây rúng động mạnh nơi dân chúng không phải riêng huyện Vĩnh Bảo mà cả tỉnh Hải Dương và trên toàn quốc.  Làng Cổ Am ở gần làng Lương Ngọc, nguyên quán của Phạm Quỳnh.  Chắc chắn Phạm Quỳnh biết rõ vụ nầy và rất xúc động nên sau sự hy sinh của 13 liệt sĩ Yên Bái (17-6-1930), ông liền viết bài xã luận trên báo France-Indochine như cựu hoàng Bảo Đại đã thuật trên đây.

Sau đó, năm 1931 ông Paul Reynaud đang làm bộ trưởng bộ Thuộc địa Pháp, sang kinh lý Việt Nam.  Phạm Quỳnh từ Hà Nội gởi cho Paul Reynaud một lá thư không niêm (tức thư công khai), đăng trên báo France-Indochine, số ngày 6-11-1931, lời lẽ như sau:

"...Chúng tôi đang đi tìm Tổ Quốc mà không thấy Tổ Quốc ở đâu.  Thưa Ngài Bộ trưởng, Tổ Quốc ấy đối với chúng tôi nhất định không phải là nước Pháp.  Lời nói đó xin Ngài đừng mếch lòng.  Nó không hề có cái gì bất lương cả.  Chính nó là tiêu biểu của sự thực đích xác.  Người Việt Nam không thể coi nước Pháp là tổ quốc được đâu, vì trước đã có Tổ Quốc của mình rồi, mà cái Tổ Quốc đó, nước Pháp có thể vì chúng tôi khôi phục lại được là ban cho chúng tôi một cái hiến pháp thế nào cho cái quan niệm quốc gia của chúng tôi được phát triển, cho chúng tôi cũng được làm cái đời dân của một quốc gia xứng đáng..." (Phạm Quỳnh, Tuyển tập và di cảo, tt. 401.)

Một lần nữa, sau cuộc nói chuyện ở Viện Hàn lâm Pháp năm 1922, nhà báo Phạm Quỳnh đã nói thẳng sự thật với viên bộ trưởng Pháp là dầu Pháp đã bảo hộ Việt Nam và tổ chức cai trị gần 50 năm, người Việt Nam vẫn nhớ đến tổ quốc của mình, và tha thiết muốn có một tổ quốc để phụng sự.  Đây là một thái độ can đảm hiếm thấy nơi những nhà trí thức làm văn hóa lúc đó và cả sau nầy nữa, đặt thẳng vấn đề một cách minh bạch với kẻ cầm đầu bộ Thuộc địa Pháp.  Chủ trương chính trị của Phạm Quỳnh không có gì là khó hiểu hoặc mơ tưởng xa xôi.  Chủ trương nầy rất thực tế và quan trọng nhất là ông can đảm thẳng thắn công khai trình bày ý kiến của ông với những người cầm quyền Pháp. 

Khi vào Huế làm việc với vua Bảo Đại năm 1932, Phạm Quỳnh không được một số người ưa thích, nếu không muốn nói là đố kỵ, vì họ cho rằng ông là người bắc, từ bạch đinh bỗng chốc lên làm lớn nhờ được người Pháp bảo cử.  Người ta tránh chuyện phân biệt địa phương hay giai cấp, nên càng nhấn mạnh khai thác rằng ông là người được Pháp cài vào để theo dõi vua Bảo Đại hoặc triều đình Việt Nam.  Phạm Quỳnh biết điều nầy và tỏ ra rất tế nhị giữa các thế lực chính trị lúc đó.  Sau đây là tâm sự của Phạm Quỳnh qua lá thư viết từ Huế ngày 30-12-1933 gởi người bạn là Louis Marty:

"...Người ta không ý thức và hiểu được rằng một người Pháp và một người Việt Nam có thể có cảm tình với nhau, một tình thân hữu chân thành, mà không phản lại nước mình.  Điều đó vượt qua tâm thức của họ.  Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi.  Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông.  Tôi là giao điểm giữa Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị do sự chiếm đoạt gây nên, tất nhiên với căn bản xấu xa của nó, và một "trật tự" mới tôn trọng nhân phẩm hơn, nhưng không phải trong chốc lát mà tạo ra được; tôi đã sống giữa tất cả những mâu thuẫn đó, đã cố gắng hài hòa để đi đến một sự triển khai khôn ngoan, thực hiện được sự tổng hợp trọn vẹn, lẽ tất nhiên tôi đã vấp vào bức tường “thiếu cảm thông”.

Tôi vẫn tự an ủi bằng niềm tin chắc chắn vào nhiệm vụ cần thiết tôi đang đảm nhận.  Hiện nay tôi chỉ cảm thấy "thân phận nô dịch", nhưng rất có thể nó cũng sẽ có phần cao quý của nó. 

Đã hẳn rằng tôi có thể lánh mình trong tháp ngà, tự mãn trong đời sống yên hàn êm ấm của một đạt nhân văn gia theo nguyện vọng thiết tha của lòng tôi.  Nhưng tôi nhận thấy có bổn phận phải rời bỏ tâm ý đó...Tôi trái ư?  Tôi phải ư?

Thành ra tôi lâm vào một cuộc mạo hiểm phiêu lưu như sau :

Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tội, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự chúng!

Là một thân hữu chân thành với Pháp, một đằng khác, người Pháp đã trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần quốc gia cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp!
Và cái "trường hợp" của tôi làm cho thiên hạ khó chịu; họ tìm cách giải thích, thuyết minh đủ lối, và họ vẫn không hiểu.

Có lẽ họ chỉ có thể hiểu khi hoàn cảnh cho phép tạo dựng được một "thỏa hiệp án" giữa "chủ nghĩa quốc gia Việt Nam" và "chế độ thực dân Pháp”.

Tôi tin rằng sự dung hòa có thể thành công được.  Nhưng trong khi "thỏa hiệp án" ấy chưa được thực hiện, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi không khỏi có một tính cách thảm thương.".. (Phạm Quỳnh viết bằng chữ Pháp, Đoàn Văn Cầu dịch năm 1997, trong "Dẫn nhập" không đề trang, Hành trình nhật ký.)
 
Đây chính là bi kịch trong cuộc đời hoạt động chính trị của Phạm Quỳnh, và cũng là của tất cả những người hoạt động văn hóa, chính trị phục vụ dân tộc trong hoàn cảnh đất nước bị trị, không theo con đường bạo động không khoan nhượng chống Pháp, chấp nhận thế thỏa hiệp để lo việc lâu dài cho đất nước.  Chủ trương chính trị của Phạm Quỳnh một mặt ít hấp dẫn  người Việt vì ôn hòa, không có tính kích động, và vì chấp nhận khuôn khổ hòa ước 1884, một mặt khác cũng chẳng được người Pháp hưởng ứng, vì tuy không quá khích, nhưng lại đòi hỏi cởi trói cho triều đình Việt Nam và trả lại cho nhà vua quyền nội trị như sự quy định của điều 16 hòa ước 1884.

Giữa các luồng dư luận khác nhau về mình, Phạm Quỳnh vẫn giữ vững niềm tin và lập trường chính trị của ông, tiếp tục hợp tác với Pháp để yêu cầu Pháp cải tiến nền hành chánh tại nước ta được chừng nào hay chừng đó.  Phạm Quỳnh lợi dụng mọi cơ hội để vận động một cách kín đáo.  Khi vua Khải Định Pháp du năm 1922, Khải Định đã theo đề nghị của Phạm Quỳnh, "đòi hỏi cho người Việt Nam được tham gia nhiều hơn trong sinh hoạt chính trị, qua các thể chế cải tân dưới sự bảo hộ của người Pháp". (Nguyễn Thế Anh,  Việt Nam thời Pháp đô hộ, tr. 321.  Tuyển tập và di cảo, trích đăng lại, tr. 406.)

TẦM NHÌN RỘNG RÃI

Năm 1937 và 1938, tức là lúc đang làm thượng thư bộ Học, Phạm Quỳnh cho ấn hành liên tiếp hai tập tiểu luận bằng tiếng Pháp nhan đề là Essais franco-annamites (31-5-1937), và Nouveaux essais franco-annamites (30-6-1938).  Hai tập tiểu luận nầy đề cập đến những vấn đề chính trị Pháp Việt, và phản ảnh chủ trương quân chủ lập hiến mà Phạm Quỳnh đã đưa ra từ trước khi tham chính.  Đối với người Pháp, ông cho biết: "Chúng tôi là một dân tộc bị chinh phục.  Có thể sự chinh phục nầy đem đến cho chúng tôi vài lợi ích.  Nhưng những lợi ích nầy không bao giờ đền bù được việc chúng tôi bị mất độc lập...Các ông đã hiện diện trên đất nước nầy bằng quyền chinh phục.  Các ông đã chinh phục mảnh đất nầy.  Còn một cuộc chinh phục cao cả khác các ông cần phải thực hiện tiếp: đó là cuộc chinh phục khối óc và con tim."(Trích dịch từ bài "Les conditions du rapprochement franco-annamite" của Phạm Quỳnh, Essais franco-annamites (1929-1932), Nxb. Bùi Huy Tín, Huế 1937, tt. 359-367; và đăng lại trong Phạm Quỳnh, Le Vietnam, tome 2, Nxb. Ý Việt, Paris, 1985, tt. 221-229.)

Nhìn về tương lai, ông tiên đoán: "Thế giới ngày nay trở thành một khối, những biến động xảy ra ở bên kia quả đất có thể vang dội cho đến bên nầy, và bằng những lý do mạnh mẽ, có thể nói ảnh hưởng của chúng gây sức ép đối với chúng ta ngay trước cửa nhà chúng ta.  Trung Hoa là một ẩn số đáng ngại, nạn dịch cộng sản thật khủng khiếp, chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản rất ghê gớm, đó là những yếu tố một ngày kia sẽ gây rối loạn làm đảo ngược mọi tính toán và xáo trộn mọi suy đoán khôn ngoan và tài tình nhất của chúng ta.  Không kể một cuộc xung đột có thể diễn ra ở Thái Bình Dương và một đại hỏa hoạn mới ở Âu Châu mà hậu quả không thể đo lường được...." (Trích dịch từ bài "Ce que sera l' Annam dans cinquante ans" trong Essais Franco-Annamites, sđd. tt. 500-509.)  Lịch sử sau đó đã chứng minh những dự đoán của Phạm Quỳnh khá chính xác. 

Trước viễn cảnh đó, Phạm Quỳnh đưa ra đề nghị: "Nước Pháp ắt sẽ tạo cho [Việt Nam ] những quy chế rộng rãi, nhờ đó Việt Nam sẽ có cuộc sống đích thực, xuát hiện như một nhà nước tân tiến có vị trí nổi bật trong cộng đồng các quốc gia.  Đối với nước bảo hộ [Pháp], Việt Nam sẽ giữ vị thế ví dụ như nước Gia Nã Đại đối với Anh Quốc.  Đứng trong Cộng đồng Thịnh vượng Pháp, Việt Nam sẽ vẫn giữ được bản sắc quốc gia, và diện mạo riêng của nước Việt.  Việt Nam sẽ là một quốc gia tự do trong khuôn khổ Đế quốc Pháp."   (Essais Franco-Annamites, sđd. tt. 500-509.) 

Các tiểu luận chính trị được ông viết bằng Pháp văn vì muốn tranh đấu với người Pháp ở Đông Dương cũng như ở tại chính nước Pháp, thì phải viết bằng chữ Pháp.  Có thế người Pháp mới đọc và hiểu nguyện vọng của người Việt. 

Năm 1939, vua Bảo Đại sang Pháp dưỡng bệnh.  Phạm Quỳnh liền góp ý với nhà vua yêu cầu người Pháp bãi bỏ thỏa ước Monguillot ngày 5-6-1925, trở lại hòa ước 1884, trả Bắc Kỳ về cho triều đình và trả một số thực quyền lại cho Việt Nam.  Sau đây là lời của Phạm Quỳnh nói với ký giả Nguyễn Vạn An vào tháng 4 năm 1945, một tháng sau khi ông rời chức vụ và năm tháng trước khi ông bị giết: "Hồi sang Pháp, tôi có vận động để bên chánh phủ Pháp thi hành đúng hiệp ước 1884, mục đích thâu chủ quyền về cho Nam triều trên thực tế.  Tôi đã giãi bày rất nhiều với ông Mandel (bộ trưởng Thuộc Địa).  Nhưng việc đó cũng không thành."  (Phạm Quỳnh, Tuyển tập và di cảo, tr. 400.)

Sự mềm mỏng và khôn khéo của Phạm Quỳnh cũng không thể qua mắt được người Pháp.  Người Pháp thẳng tay đàn áp những cuộc chống đối bằng võ lực, và người Pháp cũng rất e ngại và canh chừng những vận động văn hóa ôn hòa, vì những vận động nầy về lâu về dài sẽ có tác dụng sâu xa trên dân chúng.  Sau đây là báo cáo ngày 8-1-1945 của viên khâm sứ Pháp tại Huế Haelewyn gởi toàn quyền Đông Dương Jean Decoux (từ 19-7-1940 đến 9-3-1945) về Phạm Quỳnh:

"Một lần nữa, viên thượng thư Lại bộ [chỉ Phạm Quỳnh] lại cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản... Ông [Phạm Quỳnh] đòi hỏi chúng ta, trong thời hạn ngắn nhất, thực thi lời hứa thể hiện sự khai phóng lũy tiến trong một tiến trình rõ rệt, và chúng ta phải cam kết trả lại cho triều đình những biểu tượng của quyền uy tối thượng quốc gia bao trùm Bắc Kỳ và Nam Kỳ.  Phạm Quỳnh đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn, nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với hoàng đế Bảo Đại một quy chế chính trị mới, thay thế chế độ "Bảo hộ" bằng một thể chế "Thịnh vượng chung", trong đó những chức vụ chính được giao cho người bản xứ.  Nói một cách khác, Phạm Quỳnh đòi chúng ta ban bố chế độ tự trị cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ, bãi bỏ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và tạo dựng một quốc gia Việt Nam.  Tôi xin lưu ý Ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, ông nầy là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập, và chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của ông ta, một tinh thần chân thành và không hề lay chuyển, bằng cách bổ nhiệm ông vào một chức vụ danh dự được hưởng nhiều bổng lộc.  Cho đến nay, ông là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp ... Chúng tôi xin chờ chỉ thị của Ngài. (Nguyên bản bằng chữ Pháp, Đoàn Văn Cầu dịch năm 1997, đăng trong phần "Dẫn nhập", Hành trình nhật ký , sđd, không đề trang.)

Trong hoạt động chính trị, Phạm Quỳnh không tạo ra những biến cố nổi bật ở dạng bùng nổ.  Ông cố gắng thu mình thật mềm mỏng, âm thầm bền bỉ và cương quyết theo đuổi một chủ trương chính trị xem ra khiêm nhường và ngắn hạn đối với nhiều người, nhưng thiết thực đem lại chủ quyền cho triều đình.  Dầu thế, chủ trương nầy vẫn khó thực hiện được trước tham vọng quá to lớn của người Pháp.  Chủ trương của Phạm Quỳnh có thể xem là bước đầu để đòi hỏi thêm những quyền lợi khác cho đất nước.  Người Pháp đã thấy trước việc nầy, nên viên khâm sứ Haelewyn liền kiếm cách chận đứng ngay.  Người Pháp chưa kịp có thái độ gì với Phạm Quỳnh thì chế độ Pháp thuộc bị sụp đổ khi Nhật đảo chánh ngày 9-3-1945.

TRẦN GIA PHỤNG

Bài Xem Nhiều