We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 17 November 2014

TÔI BÊNH ĐIẾU CẦY

Dieu Cay

Cứ mỗi lần có một người phản tỉnh hay bất đồng chính kiến từ trong nước vược thoát được ra ngoại quốc, dù bằng cách nào, người Việt hải ngoại tỵ nạn cộng sản cũng chia làm hai phe: phe hoan hô, phe chống đối. Điều này làm cho ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam rất mừng vì đây chính là điều mong muốn của chúng. Hầu hết các bài viết của cả hai phe  điều viết theo cảm tính hoặc theo thành kiến đã có sẵn trong đầu. Blogger Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải cũng không thoát khỏi cuộc chiến này. Vừa bước chân đến Phi Trường Los Angless, vừa mới được đoàn người Việt tỵ nạn Cộng Sản đón tiếp như một vị anh hung, anh đã được nghe, hai bên chống nhau kịch liệt. Người đả kích anh cũng nhiều, nhưng kẻ bênh anh cũng lắm.
Anh Điếu Cầy là ai?
Anh sang Mỹ với mục đích gì?
Tại sao anh lại không nhận Cờ Vàng? Taị sao anh không muốn đứng chung với người Việt tỵ nạn Cộng Sản để cùng nhau chống lại bọn Cộng Sản độc tài, dã man Hà Nội?
1/ Điếu Cầy là ai ? 
Điếu Cầy là bút hiệu của anh Nguyễn Văn Hải. Anh là bộ đội phục viên, sanh năm 1952. Anh viết các bài báo của mình qua một blog cá nhân của anh nên anh được gọi là Blogger Điếu cày. Anh là một trong những thành viên sáng lập "Câu lạc bộ Nhà báo Tự do" vào tháng 9 năm 2007. Năm 2008, anh tham gia vào các cuộc biểu tình của người Việt Nam trong nước chống lại Thế vận hội Mùa hè 2008 được tổ chức ở Bắc Kinh vì Trung Cộng xâm lấn lãnh hải Việt Nam. Anh đã bị chính phủ Việt Nam truy tố tội trốn thuế và tội "phổ biến thông tin cùng các tài liệu chống nhà nước".
Ngày 20 tháng 4 năm 2008, anh Nguyễn Văn Hải bị bắt tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10 tháng 9 năm 2008, anh bị tòa án truy tố tội "trốn thuế" và bị xử phạt 30 tháng tù giam. Đáng lẽ anh được phóng thích vào ngày 20 tháng 10 năm 2010. Nhưng vào ngày đó thì bản án của anh bị gia hạn "để điều tra thêm". Tháng 4 năm 2012, anh bị tòa án xét xử thêm về tội "tuyên truyền chống nhà nước" theo điều 88 Bộ Luật Hình sự cùng với các blogger Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải. Trong phiên toà này, Nguyễn Văn Hải đã không nhận là mình có tội. Anh còn   bị buộc tội là đã cùng Phan Thanh Hải tham dự một cuộc huấn luyện do đảng Việt Tân ở hải ngoại tài trợ.
Anh Điếu Cầy đã nhận được nhiều giải thưởng như giải thưởng Nhân Quyền do Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam trao tặng vào năm 2008 sau khi ông vào tù, giải Hellman/Hammett do Tổ Chức “Theo Dõi Nhân Quyền” trao tặng vào năm 2009, giải Tự Do Báo Chí do Uỷ ban Bảo vệ Nhà báo trao tặng và giải “One Humnanity” do Văn bút Canada trao giải vào năm 2013. Tháng 4 năm 2012, tổ chức Những Người Bảo Vệ Quyền Công Dân (Civil Rights Defenders) đã tặng ông Hải danh hiệu "Người bảo vệ quyền Công dân".
 
Ngày 6.3.2012, cựu dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ Cao Quang Ánh đã tổ chức một cuộc vận động ngoài hành lang cho Nguyễn Văn Hải, linh mục Nguyễn Văn Lý, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, cùng nhiều tù nhân chính trị Việt Nam khác và kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ của tổng thống Barack Obama cũng như Quốc hội Hoa Kỳ phải lên tiếng bênh vực họ mạnh mẽ hơn. Ngày 17.4.2012 một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã kêu gọi chính phủ Cộng Sản Việt Nam thả ông Hải cùng các blogger khác vì họ "đã không làm gì khác hơn là thực thi quyền tự do ngôn luận của họ mà cả thế giới đã  công nhận".
Tháng 5 năm 2012 tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã phát biểu là "chúng ta không thể quên những nhà báo như blogger Điếu Cày, người bị bắt năm 2008 trong vụ đàn áp lớn lao việc làm báo của công dân ở Việt Nam"
Tháng 9 năm 2012, trong phiên tòa chỉ kéo dài 1 ngày xử 3 nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải. Anh Nguyễn Văn Hải đã bị tuyên án nặng nề nhất là 12 năm tù giam vì anh không nhận tôi. Các công tố viên nói rằng 3 người này đã "xuyên tạc sự thật về Nhà Nước và Đảng, tạo ra sự hiểu lầm trong dân chúng, và ủng hộ các âm mưu nhằm lật đổ chính quyền".
Vào ngày 21 tháng 10 năm 2014, anh Nguyễn Văn Hải bất ngờ được chính quyền Cộng Sản Việt Nam tuyên bố ngưng thi hành án và trả tự do cho anh nhưng đưa anh ra sân bay Nội Bài đi sang Hoa Kỳ.
2/ Điếu Cầy sang Mỹ với mục đích gì?
Nói rằng anh Điếu Cầy bị tống xuất sang Hoa Kỳ là không đúng. Việt Cộng có quyền tống xuất anh đi bất cứ nơi nào ở trong nước nhưng chúng không có quyền tống xuất anh sang bất cứ một nước nào nếu không có sự đồng ý của nước đó cho anh nhập cảnh. Thứ đến, phải có sự đồng ý của người bị trục xuất tức của anh. Hoa Kỳ là nước tôn trong quyền tự do cá nhân nhất thế giới, Hoa Kỳ không bao gìơ chấp nhận cho Điếu Cầy nhập cảnh nếu anh không đồng ý. Điều này đài VOA cũng cho biết tại một cuộc họp báo, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, bà Marie Harf nói: “Chúng tôi hoan nghênh quyết định của giới hữu trách Việt Nam, trả tự do cho tù nhân lương tâm này. Ông đã quyết định lên đường sang Hoa Kỳ sau khi được phóng thích khỏi nhà tù, và sẽ tới Hoa Kỳ vào ngày hôm nay, thứ Ba 21 tháng 10. Chính ông đã quyết định sang Hoa Kỳ”.
Vậy anh sang Mỹ với mục đích gì? Theo anh Điếu Cầy thì anh sang Hoa Kỳ với 2 mục đích sau:
            * Để kết nối truyền thông trong và ngoài nước để đẩy mạnh làn thông tin trao đổi giữa hai bên. 
* Để kiện chính quyền Hà Nội ra tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép anh và các
thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do (VOA 27/10/2014).
Có lẽ anh tin rằng, đối với anh, mục đích “Để kết nối truyền thông trong và ngoài nước để đẩy mạnh làn thông tin trao đổi giữa hai bên” không khó. Bởi vì, ở trong nước dưới sự kìm kẹp của ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam, anh còn kết nối được thì sang tới Hoa Kỳ, việc làm ấy, đối với anh không khó. Có khó chăng là những người Việt tỵ nạn Cộng Sản ở hải ngoại có tin anh hay không, chắc anh đã thấy.
Đối với những người còn ở trong nước, khi anh còn ở trong nước, anh kết hợp được họ dễ dàng. Nay anh ra được ngoại quốc, liệu họ có còn tin anh nữa không? Chắc chắn sẽ có những người đặt câu hỏi: “Những người như Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, tội còn nhẹ hơn anh, lại biết ăn năn, nhận tội, tại sao không được thả, không được đi Mỹ? Còn anh, tội nặng hơn, lại ngoan cố, nhất định không nhận tội, lại được trả tự do sớm và lại còn được sang Hoa Kỳ?
Muốn thuyết phục được người Việt hải ngoại cũng như người trong nước, trước hết, anh phải kiện chính quyền Hà Nội ra trước tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép anh và các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do và anh phải thắng vụ kiện này. Liệu anh có thắng được không?
Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ xét riêng trường hợp của anh.
Muốn kiện nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam, anh Điếu Cầy phải có tố quyền. Muốn có tố quyền, anh phải có quyền lợi. Quyền lợi của anh là thể xác anh đã bị giam giữ, khiến anh bị thiệt hại về vật chất (tài chánh) vì không làm ăn gì được. Về tinh thần, anh cũng bị mất vì phải ở trong tù. Điều này đã rõ ràng, anh không cần chứng minh và nguỵ quyền Cộng Sản Viết Nam cũng không  thể chối cãi. Bản án tuyên phạt anh 12 năm tù và anh đã ở tù được 6 năm 6 tháng (20/4/2008 – 20/10/2014).
Tuy nhiên, muốn thắng, anh phải chứng minh là anh không có tội. Việc anh nhất định không nhận tội “Tuyên truyền chống phá nhà nước và ủng hộ  các âm mưu nhằm lẫt đổ chính quyền” trước toà án không đủ nếu nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam chứng minh được là anh có tội. Bởi vậy, mỗi cử chỉ, mỗi hành động, mỗi lời nói của anh, anh đều phải cân nhắc kỹ càng.
Ở trong nước, bọn nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam chỉ cần suy đoán, cũng có thể kết tội anh. Nhưng ở trước toà án quốc tế, chúng không thể làm thế được. Ít nhất chúng cũng phải có một bằng chứng nào đó rõ ràng, mới có thể suy đoán được. Chúng không thể nói Điếu Cầy chống Trung Cộng là chống chúng, là âm mưu nhằm lật đổ chúng vì chúng tuân phục Trung Cộng, Trung Cộng là ông cố nội của chúng. Chúng không thể nói Điếu Cầy đã đòi hỏi tự do, nhân quyền là tuyên truyền chống phá chúng vì chúng đã ký công nhận bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền khi chúng gia nhập Liên Hiệp Quốc . Nhưng nếu chúng chưng được bằng cớ rõ ràng Điếu Cầy cầm Cờ Vàng như những hình ảnh anh Đặng Chí Hùng khoác Cờ Vàng trên vai, cầm Cờ Vàng trên tay và tuyên bố rõ ràng anh “sẽ cùng đồng bảo hải ngoại tranh đấu để lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam thì Điếu Cầy thua là cái chắc. Đó là lý do tại sao anh không cầm Cờ Vàng, anh không tuyên bố sẽ cũng đồng bào hải ngoại tranh đấu để lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam như anh Đặng Chí Hùng khi vưà bước chân tới phi trường Toranto, Canada.
Nếu anh Điếu Cầy thắng được vụ kiện này thì chắc chắn phong trào dòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam sẽ dâng cao và Việt Cộng sẽ phải nhượng bộ Mỹ trong vấn đề nhân quyền và tình hình Việt Nam sẽ thay đổi. 
Chính vì vậy mà chúng ta không nên kết luận vội là Điếu Cầy có chống Cộng hay không, có âm mưu nhằm lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam hay không hay chỉ là một tên chống Cộng cò mồi được Mỹ và Việt Cộng toa rập với nhau để chuẩn bị cho một tình thế mới cho VIệt Nam.
Lê Duy San

Chuyện Thuở Giao Thời


tieu-tu-305.jpg
NHÀ VĂN TIÊU TỬ  :Tên thật Võ Hoài Nam, sanh năm 1930, quê Gò Dầu ( Tây Ninh )
Tốt nghiệp trường kỹ sư Marseille (Pháp) năm 1955, dạy P. Ký 1955/1956, làm việc cho SHELL VN từ 1956 đến ngày mất nước.Vượt biên rồi định cư ở Pháp từ năm 1979 đến nay.
**************
Chuyện Thuở Giao Thời





Tháng 3, rồi tháng 4 năm 1975, thiên hạ chạy di tản rần rần từ miền trung vào trong nam, rồi từ đất liền « chạy » ra biển, nhốn nháo hỗn loạn chẳng biết « trời trăng » gì hết, chỉ có một ý nghĩ rõ rệt ở trong đầu là « Ở lại với tụi nó là chết ! ». Vậy rồi giai đoạn di tản đó chấm dứt vào ngày 30 tháng 4…<
…Giữa tháng 4, một thằng bạn gọi điện thoại cho tôi, nói : « Mầy đừng đi di tản. Ở lại đi ! Không có sao hết ! Tao bảo đảm ». Thằng nầy làm lớn trong « Tổng Nha », nó nói « chắc như bắp » ! Lại một thằng bạn khác – thằng này người Pháp, làm việc ở sứ quán Pháp – nói trong điện thoại, giọng rất bình thản : « Mầy đừng đi đâu hết ! Mọi việc đều đã thoả thuận trước rồi ! Yên tâm ! ». Riêng tôi, tôi nghĩ : « Mình làm việc cho hãng dầu ngoại quốc trực thuộc hãng quốc tế SIPC ( Shell International Petroleum Company – Anh Quốc ) chắc không sao ! ». Vậy là tôi quyết định ở lại…


…Ngày 30 tháng tư năm 1975 ! Việt cộng vào « đớp » hết, công tư gì cũng đớp hết, thượng vàng hạ cám gì cũng đớp hết. Họ gọi hành động đó bằng một danh từ nghe cũng…văn chương :« Tiếp Quản ». Không biết hai thằng bạn tôi kể ở trên có…tức hộc máu hay không khi thấy mình bị gạt dễ dàng như con nít ? Riêng tôi, tôi thấy như tôi từ trên trời rơi xuống, thấy những gì xưa nay mình học, mình hỏi, mình hiểu biết, mình suy luận v.v…đều sai bét đối với « cái gọi là cách mạng » !

Hãng dầu tôi làm việc bị tiếp thu bởi…«ê-kíp » có bí số K7. Những người nầy mặc đồ đen đội mũ tai bèo đen. Mấy tay có vẻ « xếp » mang túi dết ngang hông và bao súng lục nằm…sau đít ! Họ chiếm kho dầu Nhà Bè và văn phòng trung ương ở đường Thống Nhứt. Hai hôm sau, có tin bộ đội vào kho Nhà Bè « vít » K7 ra ngoài, vì kho dầu không thuộc quyền quản lý của mấy cha K7. Vậy là trong cái tổ chức rất là…« cách mạng » nầy, cái « đầu não » của công ty không còn dính với cái thân mình là kho dầu nữa ! Phải nói thiệt : tôi làm việc cho hãng dầu hơn 19 năm, đã đi thăm viếng nhiều hãng dầu ở các quốc gia khác, nhưng chưa thấy một tổ chức hãng dầu nào…khùng như vậy !

Qua sáng ngày thứ ba, tôi được chở xuống kho Nhà Bè để hướng dẫn một ông tướng VC đi viếng kho ( Có lẽ mấy tên « nằm vùng » đã cho bọn « cách mạng » biết rằng tôi…rành kho dầu này lắm ! ) Đến kho, tôi được « ông » bộ đội xếp kho cho biết ông tướng là « xếp » cục hậu cần. Tôi tưởng tượng sẽ gặp lão ta với bộ quân phục thẳng nếp và một ngực mề đai như thường thấy ở mấy tướng các nước cộng sản !

…Xe ông tướng đến. Bước xuống là một người cao lớn mặc bộ đồ « xá xẩu » tàu bằng lụa màu ngà, đội nón Panama trắng, miệng ngậm ống đót có điếu thuốc đang cháy dở. Được giới thiệu, ông ta không bắt tay tôi, chỉ gật nhẹ đầu, nói :« Ta đi thôi ! ». Tôi lưu ý ông ta đừng hút thuốc trước khi vào kho. Ổng gạt bỏ mẫu thuốc nhưng vẫn ngậm ống đót trên môi…

Kho Nhà Bè lớn lắm. Ngoài bốn cầu tàu chiếm hết mặt sông, trên bờ có khu bồn chứa và các khu nhà máy trộn nhớt, trộn hoá chất, sản xuất thùng thiếc 20 lít đựng dầu hôi, châm dầu vào thùng 200 lít, nhà máy nhựa đường.v.v…

« Phái đoàn » đi viếng gồm có ông tướng, hai người hộ vệ và xếp kho. Vì kho dầu không làm việc nên tôi chỉ đưa họ đi…phớt phớt vòng ngoài các khu nhà máy. Tôi có ý đợi họ đặt câu hỏi, nhưng không nghe cha nào nói một tiếng. Sau nầy, tôi mới biết rằng ngoài bắc không có những gì chúng tôi có ở trong nam, cho nên họ không biết…khỉ gì để mà hỏi !

Đến khu bồn chứa, bỗng ông tướng chỉ một cái bồn, hỏi : « Cái bể nầy bao nhiêu khối ? ». Tôi trả lời : « Mười lăm ngàn m3 ». Hỏi : « Mỹ nó làm cho các anh đấy à ? ». Trả lời : « Không có thằng Mỹ nào vô đây hết ! Toàn là dân Việt Nam thực hiện ».

Nghe vậy, lão ta cười khẫy : « Làm gì có ! Ở ngoài ta, trên 2000 khối là phải ông Liên Xô hay ông Trung Quốc thực hiện cơ ! ». Cái cách thằng chả nghi ngờ lời tôi nói đã chạm mạnh tự ái của tôi, đồng thời cũng cho tôi thấy rằng miền bắc của mấy chả nó dở ẹc hà ! Tôi nhấn mạnh : « Tất cả ba mươi mấy cái bồn nầy, lớn nhỏ gì cũng do nhà thầu thực hiện với thầy thợ hoàn toàn người Việt.)) Tôi đưa mấy người đến xem cái bồn mới làm xong cách đây mươi hôm. Đó là cái bồn lớn nhứt kho Nhà Bè, 30000 m3, do nhà thầu Việt Nam EVS thực hiện, nó lớn bằng nửa cái sân banh !. Từ đó, mấy chả làm thinh luôn cho đến về văn phòng để họp với mấy anh em cấp chỉ huy cũ theo ý muốn của ông tướng !

Sau khi nghe mấy anh em lần lượt trình bày lý lịch, cấp bậc, phần việc và lương bổng của mình, ông tướng nói : « Các anh yên tâm : Đảng và Nhà Nước sẽ trả lương các anh y như cũ. Cứ yên chí phục vụ ! ». Nghe giọng ông ta rất tin tưởng vào những gì ổng nói, mình cũng thấy tin tưởng theo…

…Thời gian sau, hãng dầu đường Thống Nhứt được mang tên « Công Ty Xăng Dầu Khu Vực Hai ». Hỏi « Khu Vực Một » ở đâu thì được trả lời « Chưa có, nhưng đã có Tổng Công Ty ở Hà Nội » ! Cách mạng có khác !

Rồi là « xếp thang lương », nghĩa là mỗi ngành mỗi nghề đều được xếp cấp bậc trên từng thang lương, từ đó lãnh lương mỗi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ nửa lương. Tôi được xếp « kỹ sư bậc 2 trên 6 », nghe…khoẻ re. Thang lương có 6 bậc mà mình nằm gần trên đĩnh rồi, họ cũng biết…chấm điểm đó chớ ! Ai dè khi lãnh lương mới…té ngửa : mấy chả xếp thang lương ngược , hạng nhứt là bậc 6 nằm trên hết, rồi tuột lần xuống dưới chót là hạng một. Tôi bậc 2 trên 6, là hạng…áp chót ! Mẹ !…



Tôi lãnh 80 đồng tiền mới ( Vậy là thằng cha tướng Tổng Cục Hậu Cần đã nói láo ! ) Bực mình, chạy đi gặp thủ trưởng, ảnh nói : « Trời đất ! Bác Hồ chủ tịch nước mà chỉ lãnh có 200 đồng. Còn anh, anh lãnh tới 80 đồng còn muốn gì nữa ? ». Thấy thằng chả đem « Bác Hồ » ra…làm chứng, tôi biết có cãi cũng vô ích. Rồi tôi nhớ ra là anh tài xế cũ của tôi bây giờ lãnh 90 đồng, tôi…đánh đòn chót : « Vậy thôi anh cho tôi làm tài xế, đi ! ». Thằng chả cười, thấy như tôi sao quá khùng, nên vừa lắc đầu vừa trả lời : « Đâu được ! Anh là Kỹ Sư đâu làm tài xế được ! ». Tôi làm thinh, bước ra khỏi văn phòng thủ trưởng mà thấy như mình từ trên trời rơi xuống !


* * *



…Tôi « chịu trận » với cái gọi là « cách mạng » hết ba năm. Vượt biên thất bại hết ba lần, qua lần thứ tư đi thoát, để bây giờ – ba mươi mấy năm sau – ngồi viết mấy dòng nầy nhân ngày 30 tháng tư thứ 37…mà thấy không phải tôi đã từ trên trời rơi xuống, chính mấy thằng cha « cách mạng » mới là từ trên trời rơi xuống !


Tiểu Tử

Nhìn lại nền Giáo dục VNCH : Sách xưa sự tiếc nuối vô bờ bến ...

 Trang trong sách Địa Lý lớp Ba

Nhìn lại nền Giáo dục VNCH : Sự tiếc nuối vô bờ bến Sách giáo khoa thời VNCH

Các viện đại học tư thục
Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975  viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.
Viện Đại học Đà lạt
Viện Đại học Đà lạt
 
Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinhviên.
Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973
Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973
 
Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam QuốcTự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng. Viện Đại học Phương Namcó 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.
Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn
Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn
 
Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.
Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài.
Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công Giáo điều hành.
Các học viện và viện nghiên cứu
Viện Pasteur Nha Trang
Viện Pasteur Nha Trang
Học Viện Quốc Gia Hành Chính:Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận10, Sài Gòn. Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.
Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.
 
Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.
Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.
Các trường đại học cộng đồng:
Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở  Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.
Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán. Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.
Các trường kỹ thuật và huấn nghệ:
Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tươngđương với cấp đại học.
Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.
Trường Cao đẳng Điện học
Trường Cao đẳng Điện học
Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức
Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia:Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.
Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia
Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia
Các trường nghệ thuật:
Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.
Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu Trần Thanh Tâm (đờn kìm) Phan Văn Nghị (đờn cò) Trương Văn Đệ (đờn tam) Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh)
Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm (đờn kìm), Phan Văn Nghị (đờn cò), Trương Văn Đệ (đờn tam), Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh).
Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.
Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật: Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940).
Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60
Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60
Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ  (1954-1966).
Sinh viên du học ngoại quốc:
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA

Trang trong sách Địa Lý lớp Ba
Trang trong sách Địa Lý lớp Ba
Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa xuất bản năm 1967
Năm 1958, chính phủ Đệ nhất Cộng hòa cho lập Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]
 
Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba
Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba
Trang bìa cuối sách Địa Lý lớp Ba
 
Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo. Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.
 
KohoReader

Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lập Ủy ban Quốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

NHÀ GIÁO

Đào tạo giáo chức:

Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế.  Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères
Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế.
Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères
 
Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu
khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường cao đẳng sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên. Ngoài ra còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc 
Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt. Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học. Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm). Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp
.
Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn
Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn
Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như AnhPhápHoa KỳNhậtĐức, v.v…
Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ 
Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa.
Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên  dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Đời sống và tinh thần giáo chức:

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà. Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.
Scan_Pic0046
Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm.

THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

Chứng chỉ Tú Tài 1
Chứng chỉ Tú Tài 1
Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp.
Chứng chỉ Tú tài 2
Chứng chỉ Tú Tài 2
 
Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng (tức bộ trưởng) và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:
Phan_Huy_Quat
Ông Phan Huy Quát

ĐÁNH GIÁ

hocba1950
Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950
 
Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:
Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.” ( Trích từ nguồn Blog Lý Toét )
 
Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 ( tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.” Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) vàPhạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[104]
Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt,[105] nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Tôi là con của một cán bộ Việt Minh– tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…[106]
Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê: “Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.[107]
 
(Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen)
Huỳnh Minh Tú (biên tập và thêm hình ảnh sưu tầm từ Internet)
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam
 
-----------

........
Đời một Tổng Thống:
http://www.mediafire.com/view/o7d1a4cd41a1kyf/Doi-mot-TongThong-NgoDinhDiem.pdf

Thi vào lớp 6 (1971):
http://www.mediafire.com/view/mnmqzrn2b5qxepj/Thi-vao-lop-6(1971).pdf

Công dân giáo dục lớp 11 (1969):
http://www.mediafire.com/view/x0m5royi9l7xk95/GiaducCongDan-lop-11-(1969).pdf

Tập làm văn lớp 5 (1971):
http://www.mediafire.com/view/bbdi9481p9j8bmq/Taplamvan-lop-5-(1971).pdf

Toán pháp lớp 5 (nhà xuát bản Lửa Việt - 1972):
http://www.mediafire.com/view/dkstb94id2ctxv3/Toanphap-lop-5-(LuaViet)-1972.pdf

Tâm lý học lớp 12ABCD (1967):
http://www.mediafire.com/view/w6atnj9j7aje3hy/Tamlyhoc-12ABCD-1967.pdf

Chính trị phổ thông (niên khóa 65-66):
http://www.mediafire.com/view/ejedfr2hjh1147s/Chinhtri-phothong-1965-1966.pdf

Quốc văn tân biên lớp 5 (1971):
http://www.mediafire.com/view/siso22999ocud9y/Quocvan-Tanbien-(1971).pdf

Kỹ thuật tuyên truyền chính trị:
http://www.mediafire.com/view/7r9n738p55mxqa9/Kythuat-tuyentruyen-chinhtri-1969.pdf

Lịch sử VN và thế giới (lớp đệ tứ - 1959):
http://www.mediafire.com/view/v6bfg2dufwpj1zl/Lichsu-VN-thegioi(lop-deTu-1959).pdf

Minh Tâm Bửu Giám (1968):
http://www.mediafire.com/view/aim5k4895c8a64f/MinhTamBuuGiam-1968.pdf

Đông lai bác nghị (1973)
http://www.mediafire.com/view/h7omam8a42rhoct/DongLaiBacNghi-1973.pdf

Sử địa lớp đệ Nhất (1969):
http://www.mediafire.com/view/h3ve25fvaec6ysp/SuDia-lopDeNhat-1969.pdf

Sách xạo: Những hòang đố không ngai (1983):http://www.mediafire.com/view/bfd6qb2nsoo9p93/sachxao-Hoangdekhongngai.pdf

Việt văn đệ Nhị (1953) – mất bìa.
http://www.mediafire.com/view/x5jork77588fzr1/VietVan-deNhi-1953.pdf

Hình học không gian lớp 11 ban A (1965):
http://www.mediafire.com/view/5f9l02ep2mjk9sb/Hinhhockhonggian-11A(1965).pdf

Đại số học lớp 11 ban A (1965):
http://www.mediafire.com/view/9262631w3oshf4i/Daiso-11A(1965).pdf

Vạn vật học đệ nhị (1969)
http://www.mediafire.com/view/a1w5bovji3w7045/VanVathoc-deNhi-1969.pdf

Một đời TT Ngọ Đình Diẹm:
http://www.mediafire.com/download/o7d1a4cd41a1kyf/Doi-mot-TongThong-NgoDinhDiem.pdf

Một Số Ý Kiến Về Người Tù Điếu Cày Nguyễn Văn Hải



Ngày 21 tháng 10, 2014, xảy ra một sự kiện khiến cộng đồng người Việt TNCS tại hải ngoại rất quan tâm, nhất là tại Hoa Kỳ.  Nhà báo Nguyễn Văn Hài tự Điếu Cày (viết blog trên hệ thống internet), người đang thụ án 12 năm tù giam tại VN vì tội tuyên truyền chống nhà nước, đột nhiên được CSVN trả tự do, và đã được chính phủ Mỹ đưa sang định cư tại Hoa Kỳ.  Tại phi trường Los Angeles, California, tối hôm đó, ông ĐC đã được đồng bào hải ngoại tiếp đón nồng hậu, với hoa, biểu ngữ, và một rừng cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH.  Có một sự việc đã gây ra nhiều tranh luận: có người đưa tặng ĐC một lá cờ nhỏ VNCH; người thì nói ĐC gạt ra không nhận; người thì bảo ĐC có nhận nhưng bị nhân viên an ninh người Mỹ lấy đi?  10 ngày sau, ngày 31 tháng 10, 2014, tại buổi Hội Luận Truyền Thông do đài truyền hình SBTN của nhạc sĩ Trúc Hồ tổ chức, ĐC xác nhận việc ông ta không nhận lá cờ VNCH.  Từ đó, có nhiều ý kiến của đồng hương, nhất là trên các diễn đàn internet về các vấn đề sau đây: ĐC có lập trường chính trị nào, ĐC có cùng mục tiêu tranh đấu như người Việt TNCS tại hải ngoại hay không, ĐC có thể cùng sinh hoạt với khối người Việt TNCS tại hải ngoại hay không, hoạt động của ĐC tại hải ngoại có gây tác hại cho cuộc tranh đấu của cộng đồng người Việt TNCS nhằm dân chủ hóa Việt Nam hay không?  Tôi xin có một số ý kiến về người tù Điếu Cày Nguyễn Văn Hải như sau:

1-Điếu Cày Nguyễn Văn Hải là ai?
ĐC là một bộ đội trong Quân Đội Nhân Dân VN (quân đội CS) thời gian từ 1971 đến 1976.  Có người nói ĐC thuộc Sư Đoàn Sao Vàng của CSVN đã tham chiến trong cuộc chiến xâm lược miền Nam.  Sau khi giải ngũ, ĐC vào miền Nam năm 1976, sinh sống bằng nghề sửa chữa điện tử, cho thuê nhà, và mua bán bất động sản.  Năm 2008, xảy ra vụ CSVN cho rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh qua thành phố Sài Gòn.  ĐC tham gia các cuộc biểu tình chống việc rước đuốc TVH, và sau này là các cuộc biểu tình chống Tàu Cộng xâm phạm chủ quyền biển, đảo của VN (chiếm Hoàng Sa, Trường Sa).  ĐC cũng thành lập Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, lập trang blog để phổ biến các bài viết chống Tàu xâm lược, hô hào bảo vệ chủ quyền dân tộc…

Năm 2008, CSVN bắt ĐC, tuyên án ông ta 30 tháng tù giam về tội trốn thuế (vì có nhà cho thuê mà không đóng đủ thuế quy định).  Bản án này chấm dứt năm 2010, nhưng CSVN không thả ĐC, mà vẫn tiếp tục giam giữ ông ta.  ĐC bị đưa ra tòa lần thứ hai, lần này bị tuyên án 12 năm tù giam, với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”.

Thời gian ĐC ở tù, người Việt TNCS tại hải ngoại, nhất là ở Hoa Kỳ, không ngừng vận động các giới lập pháp, hành pháp Mỹ, các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền…hỗ trợ cho người tù mà họ cho là “một tù nhân lương tâm”, can đảm vì dám “chống Tàu xâm lược, dám đòi hỏi tự do phát biểu cho các nhà báo VN…”

2- Tại sao ĐC đột ngột được trả tự do, và được đưa sang Mỹ?
Sau khi ĐC được CSVN trả tự do, ông ta không được về nhà, mà bị công an áp tải ra phi trường Nội Bài, Hà Nội; được viên chức Bộ Ngoại Giao Mỹ tiếp đón; và đáp chuyến bay sang Mỹ ngay.  Trường hợp xuất cảnh của ĐC khiến nhiều người thắc mắc.  CSVN thì tuyên bố “tạm thi hành án tù, cho ĐC xuất cảnh vì lý do nhân đạo”.  Bộ Ngoại Giao Mỹ tuyên bố “ông ĐC quyết định đi Mỹ”.  Bản thân ĐC tuyên bố “tôi không hiểu tại sao chính phủ VN lại trục xuất tôi khỏi VN, việc làm của tôi chỉ là muốn cho VN tốt đẹp hơn, việc ra đi này là trái với nguyện vọng của tôi…”  Khi trả lời phỏng vấn của hãng thông tấn Associated Press, ĐC cho biết “tôi chọn đi Hoa Kỳ để có điều kiện tranh đấu tốt hơn”.  Trong một cuộc phỏng vấn khác, ĐC cho biết “nhà cầm quyền VN yêu cầu ông ta viết đơn nhận tội, xin khoan hồng, và sẽ cho ông sang Mỹ để học về báo chí, nhưng ông không viết đơn nhận tội, và xin tha”.  Mỗi bên nói một cách.  Chúng ta chưa biết sự thật về lý do xuất cảnh sang Mỹ của ĐC.  Tuy nhiên điều chúng ta biết chắc chắn: ĐC được nhận vào Mỹ là kết quả đàm phán giữa 2 chính phủ Mỹ và CSVN.  Chi tiết cuộc thương lượng không được công bố.

3- Hoạt động của ĐC sau khi  đến Mỹ:
Dù trải qua nhiều năm bị tù đầy trong lao tù CS, lại bị đưa ra khỏi nhà tù và xuất cảnh sang Mỹ một cách vội vã (không được chuẩn bị quần áo cho tươm tất, không được gặp người thân, bạn bè…), ĐC vẫn có đủ sức khỏe, và tinh thần để trả lời phỏng vấn của nhiều cơ quan truyền thông; đặc biệt là tham gia cuộc Hội Luận Truyền Thông do đài truyền hình SBTN của nhạc sĩ Trúc Hồ tổ chức vào ngày 31-10-2014 tại Quận Cam, với sự tham gia của một số viên chức người Mỹ, và nhiều giới đồng hương Việt: đại diện một số tổ chức cộng đồng, đoàn thể, giới truyền thông, đông đảo đồng bào…ĐC đã bình tĩnh trả lời các câu hỏi do 2 luật sư của SBTN đặt ra, và các câu hỏi do đồng bào các nơi gửi về Ban Tổ Chức Hội Luận.

Tại buổi Hội luận nói trên, ĐC đã làm rõ một số thắc mắc của đồng bào:
- Tuyên bố của ĐC về lá cờ vàng ba sọc đỏ được trao tặng tại phi trường Los Angeles tối ngày 21-10-2014”: “Việc tôi không nhận lá cờ thì sự thật đã rõ, nhiều người đã thấy khi xem clip”.
- Quan niệm của ĐC về lá cờ VNCH: “Trước tiên chúng ta phải thấy rằng lá cờ chỉ là biểu tượng.  Chúng ta đấu tranh là vì mục tiêu tự do, dân chủ cho đất nước, không phải vì biểu tượng một lá cờ.  Bởi vì biểu tượng thì có thể thay đổi, nhưng mục tiêu đấu tranh thì không bao giờ thay đổi.  Lá cờ vàng ba sọc đỏ đã có từ thời nhà Nguyễn, là cờ của tổ quốc, đại diện cho tự do, dân chủ.  Lá cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của một thể chế độc tài, áp bức.  Chính chế độ độc tài đó đã cắt đi tiếng nói của người dân VN.  Do đó, đối với tôi, bất kỳ biểu tượng nào tượng trưng cho tự do, dân chủ tôi đều trân trọng và hãnh diện đứng dưới nó…Khi chúng ta đoàn kết và chọn ra biểu tượng chung và nếu 90 triệu người dân đồng ý về biểu tượng chung đó thì tất cả cùng đứng chung dưới biểu tượng chung ấy…”

Qua lời ĐC trả lời một số cuộc phỏng vấn sau khi đến Hoa Kỳ, chúng ta cũng biết được một số điểm sau đây:
-Hoạt động trong thời gian sắp tới tại Hoa Kỳ: ĐC nói “Tôi sẽ tiếp tục đấu tranh cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận…cho những người còn đang ở trong tù, và cho tất cả những ai đang còn đấu tranh cho tự do ngôn luận ở Việt Nam…Tôi sẽ tiếp tục đấu tranh cho những tù nhân lương tâm tại Việt Nam.  Họ không cất lên được tiếng nói thì tôi sẽ thay họ cất lên tiếng nói…Truyền thông trong nước có nhiều khuyết tật, người dân không có đủ thông tin nên không biết sự thật, tôi sẽ phối hợp với truyền thông hải ngoại để tạo nên truyền thông nhiều chiều đa dạng, giúp cho dân chúng hiểu rõ sự thật vốn đã bị chế độ bưng bít nhiều năm…Khi truyền thông hai bên được cân bằng thì sự thông hiểu giữa hai bên dễ hơn, cảm thông với nhau nhiều hơn…từ đó mang đến sự đoàn kết và sức mạnh cho dân tộc Việt Nam…Bây giờ cũng là lúc bắt tay vào hợp tác và phát triển với bạn bè trên cộng đồng quốc tế.  Vì vậy chúng ta hãy xếp lại quá khứ, xếp lại sự khác biệt để cùng đấu tranh vì một mục đích vì tương lai của dân tộc…”
- Phương thức tranh đấu:  ĐC cho biết “sẽ sử dụng phương tiện internet để kết nối truyền thông trong và ngoài nước, để tập hợp các nhóm cùng chung mục đích, để chỉ rõ các khuyết tật của xã hội Việt Nam…”

4-Nhận định về phát biểu và hành động của ĐC sau khi đến Mỹ:
a- Về lá cờ VNCH, biểu tượng của người Việt TNCS tại hải ngoại:
Việc ĐC không nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ do một đồng hương Việt trao tặng cho ông tại phi trường Los Angeles, cho thấy ông từ chối đứng vào hàng ngũ của người Việt TNCS tại hải ngoại, dù cả 2 bên: người Việt TNCS hải ngoại, và ông ĐC, đều tuyên bố tranh đấu cho cùng một mục tiêu là “tự do, dân chủ, nhân quyền”.   Người Việt TNCS, những người coi lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của tự do, dân chủ; là căn cước tỵ nạn chính trị của họ; đem biểu tượng trân quý của họ đi đón ông, dù họ biết ông không phải là người đã cùng chiến tuyến với họ, thậm chí còn có thể đã giết hại đồng đội và đồng bào của họ trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam của CS Bắc Việt.  Điều đó chứng tỏ họ “đã quên cái quá khứ tiếp tay cho tà quyền CS gây tội ác với quân, dân miền Nam” của ông rồi, họ đã nhìn ông là “một chiến hữu” trên mặt trận chống bạo quyền CS độc tài, họ nhìn ông là một người yêu nước đáng noi gương.  Họ đã dùng cái “tình” để đối với ông, như nhiều năm nay họ đã từng làm.  Nhưng, ông đối với họ không bằng cái tình, mà bằng cái “lý”.  Ông phân biệt rạch ròi: chừng nào lá cờ “tự do, dân chủ” của người Việt hải ngoại được toàn thể 90 triệu người dân Việt trong nước công nhận là biểu tượng của tự do, dân chủ thì ông mới chấp nhận đứng dưới lá cờ ấy (đây là một cuộc trưng cầu dân ý không bao giờ có thể xảy ra, và kết quả 100% đồng ý cũng không bao giờ có được).  Lời tuyên bố này khiến người Việt TNCS nghĩ ông ta đang tiếp tay cho CSVN thực hiện chiến dịch “xóa bỏ cờ vàng” tại hải ngoại.

Việc ĐC không nhận lá cờ VNCH khiến đồng hương Việt đặt ra câu hỏi: Vậy ông ĐC đứng dưới lá cờ nào để tranh đấu?  Hiện nay, trong thế cuộc tranh đấu của người Việt, chỉ có 2 lá cờ đại diện cho 2 khối:

Thứ nhất: lá  cờ vàng ba sọc đỏ của quốc gia VNCH, một quốc gia tuy không còn hiện hữu đã gần 40 năm, nhưng linh hồn của quốc gia đó vẫn tồn tại, biểu tượng của quốc gia đó vẫn còn được những công dân ngày xưa của quốc gia này tôn trọng và bảo vệ.  Đối với người Việt TNCS, lá cờ này là lá cờ di sản tự do, dân chủ.   Nhiều năm qua, lá cờ này được người Việt TNCS vận động các giới lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ công nhận, và hiện nay nó được 14 tiểu bang, và hàng trăm các hội đồng thành phố, quân, hạt, các tổ chức chính đảng…công nhận là cờ đại diện cho khối người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ.

Thứ hai: lá cờ đỏ sao vàng, đại diện cho Đảng CSVN, tổ chức đảng phái đã du nhập chủ thuyết ngoại lai Mác-Lênin áp đặt lên một nửa nước VN vào năm 1945, và toàn nước VN sau khi miền Nam VN rơi vào tay Bắc quân CS năm 1975.  Lá cờ đỏ sao vàng cũng được Đảng CSVN rêu rao là “ngọn cờ chính nghĩa của tổ quốc xã hội chủ nghĩa, sẽ đem đến độc lập, tự do, hạnh phúc cho toàn dân Việt”.  Dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, cả triệu người dân miền Bắc đã “được chết” cho ngọn cờ “chính nghĩa” này, cả triệu người dân miền Nam cũng “bị chết” bởi ngọn cờ “chính nghĩa” này.  Bên nào chẳng nói là mình có chính nghĩa.  Nhưng tình trạng VN ngày nay đã cho thấy lá cờ nào mới là lá cờ “chính nghĩa”.

Một sinh viên VN đang đi du học, anh Lê Trung Thành, đã tuyên bố trong một bài viết “Còn cờ đỏ sao vàng thì không thể có tự do, hạnh phúc”.  Đặng Chí Hùng, một thanh niên xuất thân từ một gia đình cha mẹ đều là đảng viên CS, đã cất công tìm hiểu về lịch sử VN, về Đảng CSVN, và đi đến kết luận dứt khoát “cờ vàng ba sọc đỏ mới xứng đáng là lá cờ của quốc gia VN, vì nó đại diện cho tự do, dân chủ, nhân quyền đích thực của VN”.  Hai nhân vật trên tuổi còn trẻ hơn ông ĐC rất nhiều, nhưng họ đã có nhận thức đúng đắn về hai lá cờ của VN.  Ông ĐC chưa có được nhận thức đúng đắn như vậy.  Làm sao người Việt TNCS tại hải ngoại có thể tin tưởng ông để nhận ông vào hàng ngũ tranh đấu cùng với họ, ở vào thời điểm tranh đấu một mất một còn giữa Quốc và Cộng (giữa tự do và độc tài) như hiện nay?  Họ nhận định ông “vẫn còn ôm lá cờ đỏ sao vàng trong tim” sau nhiều năm sống và cống hiến cho chế độ CS.

b- Về việc tranh đấu của ông ĐC tại Hoa Kỳ:
Khi còn ở VN, ông ĐC hô hào “chống Tàu Cộng xâm lược, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của VN”.  Trên trang blog cá nhân, ông phổ biến nhiều bài viết chống Tàu Cộng xâm lược.  Khi lập Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, ông cũng hô hào tranh đấu để bảo vệ quyền của các nhà báo…

Khi sang đến Mỹ, ĐC nhấn mạnh đến việc “kết nối truyền thông trong và ngoài nước, cân bằng truyền thông hai bên, sửa đổi khuyết tật của truyền thông trong nước, để người dân hai bên hiểu nhau hơn; từ đó sẽ xóa bỏ sự khác biệt trong quá khứ, đoàn kết để tạo sức mạnh xây dựng đất nước tự do, dân chủ; tranh đấu cho nhân quyền của người dân, cho những bạn tù của ông, là những người bị chế độ giam tù một cách sai trái…”  Không thấy ông ĐC nhắc đến việc chống Tàu, bảo vệ chủ quyền đất nước nữa!  Mục tiêu tranh đấu này giống như công việc mà CSVN muốn ông thực hiện tại Mỹ: đi học về báo chí (tức là làm công tác truyền thông để giúp trong nước và hải ngoại hiểu nhau hơn).

Thứ nhất, ĐC nghĩ rằng đồng bào trong và ngoài nước chưa hiểu nhau đầy đủ hay sao?  Người Việt hải ngoại đã dùng “sức mạnh truyền thông” nhiều năm nay, đưa tin tức từ hải ngoại về VN, giúp đồng bào hiểu được tình cảnh của họ, giúp họ nhìn ra lý do vì sao đất nước VN lâm vào tình trạng tuyệt vọng như hiện nay: chủ quyền đất nước sắp mất hẳn vào tay Tàu Cộng vì giới lãnh đạo CSVN đã ký mật ước Thành Đô dâng VN cho Tàu Cộng; người dân Việt khốn khổ trăm bề vì bị tư bản đỏ chiếm đất, chiếm nhà, mất cả nhân quyền lẫn dân quyền… Một cô sinh viên trẻ tuổi như Nguyễn Phương Uyên còn nhìn ra vấn đề của đất nước.  Cô tuyên bố “Tàu Khựa cút khỏi Biển Đông”, và “Đảng CSVN đi chết đi”.  Một nhạc sĩ trẻ như Việt Khang, sinh sau cuộc chiến VN, chưa hề biết đến chế độ tự do, dân chủ của miền Nam VN, còn nhìn ra vấn đề của đất nước.  Anh băn khoăn viết ra lời nhạc “VN còn hay  đã mất…giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta…và (kêu gọi) phải chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước VN…” ĐC, một nhà “tranh đấu” một “người yêu nước”, lại không nhìn ra vấn đề đích thực của đất nước VN?  Vấn đề đó nằm ở cái “Đảng CS bán nước buôn dân đang cầm quyền”; và chính cái cơ chế này cần phải bị giật sập mới mong VN được thực sự giải phóng.  Tôi chưa thấy ĐC dứt khoát tư tưởng về vấn đề then chốt này.

Thứ hai, giữa người Việt yêu tự do trong nước và người Việt yêu tự do ở hải ngoại, không có vấn đề gì hiểu lầm nhau, không hề có sự khác biệt để cần được “hòa giải” bằng sự “cân bằng truyền thông” do ĐC chủ xướng.  Họ đều ý thức một điều: tự do, dân chủ là khát vọng của người dân; và tự do dân chủ đích thực chỉ có được khi Đảng CS không còn độc quyền cai trị đất nước.  Chính vì ý thức như vậy, nhiều năm nay, người Việt TNCS tại hải ngoại dốc tâm sức hỗ trợ cho các nhà tranh đấu dân chủ tại VN, với mục đích là giúp họ có chỗ dựa vững chắc, có đủ niềm tin đứng lên tranh đấu cho nước nhà có tự do, dân chủ, nhân quyền thực sự.

Các nhà tranh đấu dân chủ VN cũng phải ý thức một điều “muốn có tự do, dân chủ đích thực, muốn cứu nước thoát khỏi nạn Hán hóa, họ phải có mục tiêu tranh đấu đúng đắn, và phải chọn con đường đúng. Họ mới là người cần quên cái quá khứ “hào hùng, đánh thắng 3 đế quốc sừng sỏ: phát xít Nhật, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ”, để dứt khoát giật sập cái chế độ đương quyền, và cứu lấy chính mình.  Nếu không, họ sẽ chỉ bước vào con đường mòn của “dân chủ cuội, đối lập dỏm”, như nhiều người Việt hải ngoại nhận định, và như vậy là họ đã chọn “con đường đi mà không đến”, sẽ làm tiêu hao lực lượng của chính mình; làm giảm niềm tin của người Việt hải ngoại, và làm chậm lại cuộc cách mạng giải phóng nước nhà.

Thứ ba, việc “cân bằng truyền thông trong nước và ngoài nước” là một điều rất khó thực hiện.  Trong nước, nhà cầm quyền CS kiểm soát toàn bộ hệ thống truyền thông: 700 tờ báo, các đài truyền thanh, truyền hình đều chỉ cất lên tiếng nói của Đảng.  Việc thông tin giữa trong nước và hải ngoại đều bị CSVN kiểm soát chặt chẽ; có nghĩa là chỉ tin tức trong nước được truyền ra hải ngoại, còn tin tức từ hải ngoại khó lòng lọt vào trong nước.  Mục đích “cân bằng truyền thông trong nước và hải ngoại” không khéo lại chỉ giúp cho cái loa tuyên truyền của VC tại hải ngoại thì thật tai hại!


Thứ tư: việc ĐC tuyên bố “cần xóa bỏ khác biệt, để cùng nhau đoàn kết xây dựng đất nước” khiến chúng ta nhớ đến tinh thần của Nghị Quyết 36, một kế sách quỷ quyệt do VC đặt ra nhằm khống chế khối người Việt TNCS tại hải ngoại, kêu gọi họ “quên quá khứ (tội ác của CS), xóa bỏ hận thù, cộng tác với chúng để xây dựng quê hương… Nghị quyết này được tung ra làm kim chỉ nam cho VC và tay sai VC tại hải ngoại vào tháng 3, 2004; đến nay đã được đúng 10 năm, nhưng thành quả VC thu được chẳng đáng là bao; vì người Việt TNCS rất cảnh giác đối với âm mưu thâm độc của kẻ thù CS.  Người dân Việt ở trong nước, hay vì hoàn cảnh phải sống đời lưu vong tại hải ngoại, đều có sự đồng cảm, nếu có cùng một mẫu số chung về nhận thức, và hoài bão.  Nếu cùng có tinh thần dân tộc, yêu đất nước, yêu giống nòi, yêu văn hóa dân tộc Việt; yêu công bằng, chuộng chân lý, yêu các giá trị cao đẹp như tự do, dân chủ; họ đều thấy rất gần gũi với nhau.  Một thi sĩ của miền Bắc, đã viết bài thơ “Cảm Tạ Miền Nam”, với lời thơ chân thành, gây xúc động cho người đọc.  Người dân dù thuộc hai chế độ vẫn có thể đồng cảm với nhau dễ dàng.  Hiện nay, chỉ có sự khác biệt duy nhất giữa những người dân Việt yêu nước, yêu tự do, và tập đoàn lãnh đạo Đảng CS độc tài, bán nước, buôn dân.  Sự khác biệt này sẽ bị xóa bỏ nếu người dân cùng chung sức đánh sập thế lực phản động này.  Đây chính là trọng trách  của những nhà dân chủ chân chính tại VN.

Thứ năm:  Khi ĐC xác nhận “không nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ”, nhiều người Việt TNCS không vui, thất vọng; vì tưởng lầm ĐC cùng một chiến tuyến “chống cộng” như họ.  Sự thực, những điều ĐC làm trong nước, không chứng tỏ ông là người chống lại chế độ CS.  Tất cả những gì ông làm, tuy là những điều khiến nhà cầm quyền CS khó chịu: biểu tình chống Tàu Cộng chiếm biển, đảo của VN; kêu gọi nhà cầm quyền cho người dân tự do phát biểu ý kiến; lập Câu Lạc Bộ Nhà báo Tự Do….  Tất cả những điều này không vi phạm pháp luật của VN.  Đảng CS từng giáo dục người dân về lòng yêu nước chống ngoại xâm.  Ông ĐC chống Tàu xâm phạm chủ quyền của VN, có gì là sai?  Hiến pháp VN cũng công nhận cho mọi người được quyền tự do ngôn luận; cả nước có đến 700 tờ báo, và biết bao nhiêu đài truyền thanh, truyền hình !…Ông Phạm Chí Dũng cũng lập được Hội Nhà Báo Độc Lập, đâu có bị giam tù!  Với CS, thế là tự do ngôn luận đấy!  Chính vì thế, CSVN không thể ghép tội được ông ĐC, và nhiều nhà tranh đấu dân chủ khác.  Họ chỉ kiếm những cớ vu vơ để đưa họ vào tù.  Cho nên, chỉ dựa vào những việc ông ĐC làm trong nước mà nghĩ rằng ông ĐC “chống chế độ CS” là sai lầm.  Chính ông tuyên bố “tôi không hiểu tại sao chính phủ VN muốn trục xuất tôi ra khỏi nước, vì những điều tôi làm chỉ là muốn cho VN tốt đẹp hơn thôi”. 

Đây cũng chính là điểm ngăn cách khối người Việt TNCS tại hải ngoại, và đa số những nhà tranh đấu cho dân chủ gốc CS, đang có mặt tại hải ngoại, dù họ có mặt tại hải ngoại bằng nhiều cách khác nhau (tự họ trốn đi ra nước ngoài rồi xin tỵ nạn như Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Chính Kết; được chính phủ Pháp can thiệp đi chính thức như Dương Thu Hương; được gia đình bảo lãnh như Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Viết Hoạt; được chính phủ Mỹ can thiệp rồi bị VC tống xuất thẳng từ nhà tù sang Mỹ như Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày).

Thứ sáu:  Nhiều người cho rằng CSVN muốn tống xuất các nhà tranh đấu dân chủ mà họ cho là nguy hiểm cho chế độ ra nước ngoài.  Điều này hoàn toàn đúng.  Đây là một biện pháp để làm sạch sẽ chế độ; họ không muốn sự có mặt của các thành phần mà họ cho sẽ là mầm mống của bất ổn chính trị, của nổi loạn: những người cứ đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền; là những thứ họ không thể cho người dân!  Nếu cho người dân những quyền đó, họ đâu còn nắm giữ được quyền bính tối thượng, và làm sao bảo đảm được sự sống còn của Đảng?  Chính sách cho các viên chức, sĩ quan của VNCH từng bị CS giam tù đi sang Mỹ theo chương trình HO ngày xưa cũng để thực hiện ý đồ này.  Chính sách tống xuất các công dân của chính chế độ CS, bị tù vì bất đồng chính kiến, vì các phản kháng ôn hòa của họ đối với các hành động sai trái của chính phủ cũng có cùng mục tiêu.

Những nhà dân chủ XHCN này, sau khi ra nước ngoài, hầu hết không phát huy được hào khí tranh đấu của họ như khi còn trong nước.  Lỗi có phải là tại người Việt TNCS tại hải ngoại đối xử với họ thiếu tình người, tàn độc như sự ví von của một nhà văn quân đội TNCS tại Nam California “như đàn cá sấu vồ lấy miếng thịt tươi bị vất xuống hầm”?  Người Việt TNCS hải ngoại là các công dân của VNCH, sản phẩm của một nền giáo dục “nhân bản, và khai phóng” không độc ác như vậy.  Ví von như vậy là không đúng, và đầy ác ý.  Một số nhà dân chủ gốc XHCN bị chỉ trích, và không được người Việt TNCS tại hải ngoại chấp nhận trong hàng ngũ của họ; mỗi trường hợp mỗi khác.

Lấy thí dụ trường hợp nhà báo Bùi Tín, cựu đại tá quân đội CS, cựu phó tổng biên tập báo Nhân Dân của CS, người có mặt tại Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975.  Tại đây, ông ta tuyên bố những lời hết sức láo xược đối với ông Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng  của VNCH.  Sang Pháp tỵ nạn chính trị, ông ta vẫn còn sỉ nhục lá cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH, gọi đó là cờ của thực dân Pháp; vẫn coi Hồ Chí Minh là cha già dân tộc; vẫn hãnh diện là đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng miền Nam?!  Người Việt TNCS hải ngoại có thể đứng chung hàng ngũ với một người dứt khoát chọn “lá cờ đỏ sao vàng” như Bùi Tín hay không?

Trường hợp giáo sư Đoàn Viết Hoạt:  tuy bị CS cầm tù nhiều năm vì các đòi hỏi dân chủ, nhưng sang đến Hoa Kỳ lại cổ võ cho việc treo cả 2 lá cờ: cờ vàng ba sọc đỏ, và cờ đỏ sao vàng tại trường đại học Fullerton, California nhiều năm trước đây.  Người Việt TNCS có thể chấp nhận đường lối tranh đấu dân chủ của một người như vậy hay không?

Trường hợp nhà văn Dương Thu Hương:  tuy sớm nhận ra mình bị một chế độ man rợ (VNDCCH) đánh lừa đi “giải phóng” một nền văn minh (VNCH), tuy chửi các lãnh đạo CS bằng những chữ rất nặng nề, vẫn công nhận “Đảng CSVN có công giành độc lập cho tổ quốc bằng một cuộc chiến tranh thần thánh”, vẫn công nhận “Hồ Chí Minh là đỉnh cao chói lọi”.  Nhận thức như vậy mà bảo chúng ta chấp nhận bà này trong hàng ngũ chống cộng ư?  DTH chống cái bọn cán bộ CS ngu dốt, thối nát đang ngồi ở vị trí lãnh đạo đất nước, phá hoại đất nước và làm khổ người dân; làm hỏng cái “hào quang sáng chói của HCM”, chứ DTH có nhìn thấy thảm họa của dân tộc là do HCM gây ra đâu.  Vậy bảo người Việt TNCS phải chấp nhận bà ta sao?

Trường hợp nhà văn Trần Khải Thanh Thủy: bà đến California định cư cách đây khoảng hơn 2 năm, có lẽ do sự vận động của Đảng Việt Tân.  Bà là người tranh đấu cho quyền lợi của người dân oan mất đất, mất nhà, phải nhọc nhằn đi khiếu kiện nhiều năm.  Khác với nhiều nhà dân chủ gốc CS, bà không ca tụng HCM.  Thậm chí bà còn viết sách tố cáo sự gian manh của nhân vật CS số một này: cuốn “HCM, nhân vật trăm tên, nghìn mặt”.   Cho nên tôi nghĩ bà không phải là người phản tỉnh cuội, như nhiều người khác bị kết tội.  Tuy nhiên vì ngay khi đến Mỹ, bà công khai nhận mình là đảng viên Việt Tân, nên nhiều người xa lánh bà.  Họ không thể chấp nhận đường lối tranh đấu “chống cộng” cuội của VT, mà họ cho là có chủ trương hòa hợp, hòa giải với chế độ CS đương quyền (VT chủ trương dùng phương thức bất bạo động để tháo gỡ độc tài, để CSVN chấp nhận đa đảng, đa nguyên).  Tuy nhiên thời gian gần đây, bà TKTT đã công bố ra khỏi VT, và còn can đảm vạch ra những sai trái của đảng này nữa.

Trường hợp tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ: thái tử đỏ, con của Cù Huy Cận, một công thần của chế độ CS.  Ông này được du học tại Pháp và đậu 2 bằng tiến sĩ: luật và văn chương.  Vài năm trước đây, ông phản đối nhà cầm quyền CS vì cho Tàu vào khai thác bauxite tại Tây nguyên, và không cứng rắn trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước trước sự ngang ngược của Tàu.  Ông viết đơn kiện thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng.  Kết quả ông bị tuyên án tù 7 năm.  Chưa thi hành xong bản án, ông được vận động cho sang Mỹ “chữa bệnh”.  Tại Mỹ, ông tuyên bố “tôi không chống Đảng CS, tôi chỉ đòi hỏi nhà cầm quyền phải thực hiện tự do, dân chủ cho người dân; phải có đường lối ngoại giao đúng đắn vào lúc này là liên minh quân sự với Hoa Kỳ để cứu nước, chống sự bành trướng của Tàu…”  Một người tranh đấu cho dân chủ như thế có thể đứng chung hàng ngũ với chúng ta không?

Trường hợp mới nhất: nhà viết blog Điếu Cày.  Ông này không bị tiếp đón bằng “trứng thối”.  Ông được tiếp đón nồng hậu bằng hoa, biểu ngữ, và một rừng cờ vàng, như nghi thức tiếp đón một “nhân vật lãnh đạo cộng đồng”, một “anh hùng chống Tàu”.  Cái mà người chủ nhà nhận được từ vị khách phương xa là một gáo nước lạnh: ông ĐC không nhận món quà của đồng bào trao tặng: lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của khối người Việt TNCS tại hải ngoại.  Vậy họ đáng trách (vì phê bình ông không nhận cờ), hay ông đáng chê (vì bất lịch sự, hay vì muốn thể hiện một điều gì đó)?

Sau đó, ông ĐC lại đến dự buổi Hội Luận Truyền Thông do đài truyền hình SBTN tổ chức, giúp ông ra mắt các giới đồng hương tại vùng đất ông sẽ sinh sống, và làm việc sau này.  Đây là một buổi sinh hoạt chính trị của đồng bào Việt hải ngoại (với đa số là người TNCS), thường bao giờ cũng có treo cờ Mỹ-Việt Nam Cộng Hòa, có nghi thức chào cờ, hát quốc ca, mặc niệm vv… Lần này, có lẽ để chiều lòng ông ĐC, Ban Tổ Chức Hội Luận đã bỏ hết các hình thức trang trí thường có, và các nghi thức mở đầu thường thấy trong các sinh hoạt cộng đồng tại Little Saigon, thủ đô của người Việt tỵ nạn CS.  Ông Trúc Hồ, giám đốc SBTN, là người sử dụng cờ vàng ba sọc đỏ tối đa trong các băng DVD thương mại của ông ấy, há lại quên mất lá cờ tiêu biểu của người Việt TNCS?  Hẳn chúng ta vẫn chưa quên lời tuyên bố năm 2012 của ông Trúc Hồ “không chủ trương lật đổ chế độ CS, vì lật đổ là sai…ông chỉ xin nhà nước CHXHCHVN trả nhân quyền cho người dân..”  Hai năm đã trôi qua sau lời tuyên bố mà những người ủng hộ ông TH cho là “sai chỉ vì cách ăn nói lắp bắp của TH”, ông TH vẫn không lên tiếng đính chính.  Điều đó chứng tỏ lời tuyên bố này là đúng ý của ông, chứ ông không nói lộn.  Lời tuyên bố của ông ĐC “sẽ hợp tác chặt chẽ với SBTN” trong việc kết nối truyền thông trong và ngoài nước khiến người Việt TNCS đặt một dấu hỏi về lập trường tranh đấu của ông ta tại hải ngoại.

Sau buổi Hội Luận tại SBTN, ông ĐC đã đến thăm tòa soạn báo Người Việt, một tờ báo đã bị hơn 150 tổ chức cộng đồng, đoàn thể cả quân nhân lẫn dân sự ra tuyên cáo khai trừ khỏi sinh hoạt của người Việt TNCS tại Nam California, vì không có lập trường quốc gia, có nhiều hành động làm lợi cho CS, và làm hại cho người Việt TNCS…

Ông ĐC tuyên bố tiếp tục tranh đấu cho tự do, dân chủ; nhưng qua sự lựa chọn các cộng sự viên, người Việt TNCS thấy ông không phải là người đứng chung một chiến tuyến với họ.  Họ nêu các quan tâm của họ về ông ĐC.  Đây là đất nước tự do, ông ĐC có toàn quyền chọn lựa điều ông muốn về: lập trường chính trị, mục tiêu tranh đấu, phương thức hoạt động, nhân sự cộng tác… Vì ông là một nhà “tranh đấu xã hội”, một “nhân vật của cộng đồng”, nên cộng đồng có quyền có ý kiến, và phê phán những điều ông nói, hay những việc ông làm.  Đây là nguyên tắc sinh hoạt của một xã hội dân chủ.  Ông ĐC chắc cũng hiểu nguyên tắc này.  Chính ông nói ông chấp nhận những ý kiến khác nhau của dư luận.

Vậy mà không hiểu tại sao một số người trong cộng đồng người Việt TNCS, những người vẫn tự nhận thuộc hàng ngũ quốc gia, là những người chống cộng; lại chụp mũ những người có ý kiến phê bình ông ĐC là “tay sai CS, là làm lợi cho CS, là thay CS đánh phá, vùi dập ông ĐC, là có đầu óc tiểu nhân, ti tiện, là ganh tị, là ghen ghét, là ngu xuẩn, là đẩy một chiến hữu chống cộng về với kẻ thù CS, là phá hoại sự đoàn kết trong cộng đồng…”  Ở một đất nước như Hoa Kỳ, có nhiều tự do thật, nhưng chẳng ai có thể  “đánh phá”, và “làm hại” được ai nếu vi phạm luật pháp.  Vấn đề là chúng ta làm đúng, hay sai; chứ không phải chúng ta nói nhiều, nói to, nói dữ dằn, nói độc địa…là khiến người khác phải sợ.

Để kết luận, người Việt TNCS có thể ủng hộ ông ĐC trong kế hoạch tranh đấu về truyền thông của ông tại hải ngoại hay không?
Ông ĐC mới đến Mỹ tỵ nạn được ba tuần lễ.  Nhiều người còn chờ xem ông hoạt động ra sao rồi mới có thái độ thích ứng.  Chúng ta nên cho ông thêm chút thời gian để ông thích ứng với đời sống mới chăng?  Là một nhà tranh đấu dân chủ bị dứt khỏi môi trường sống và tranh đấu quen thuộc của mình trong nước; nơi ông có sự hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè, chiến hữu; nơi ông có thể dùng tiếng mẹ đẻ để sinh hoạt trong mọi lãnh vực; nay ông phải đổi sang một môi trường hoàn toàn khác biệt; nơi ông phải học nhiều thứ mới để thích ứng với cuộc sống mới; ngôn ngữ mới, văn hóa mới, cách ứng xử mới…, quả thực là một chuyện rất khó khăn!

Vì chưa hiểu rõ môi trường sinh sống, và tranh đấu phức tạp tại hải ngoại; chưa hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của đồng hương tại vùng đất mới, nên ông ĐC đã có những lời nói, và hành động vội vàng, thiếu tế nhị?  Hay ông có nhiệm vụ nào đó cần hoàn thành?  Họ chưa tin tưởng ông là đúng.  Đừng trách người Việt Tỵ Nạn CS tại hải ngoại khó khăn với ông.  Cũng như ông, họ là những người tranh đấu.  Trong cuộc chiến chống Bắc quân CS (1954-1975), họ đã đổ xương máu để bảo vệ miền Nam tự do.  Sau khi VNCH sụp đổ, họ trải qua nhiều năm bị đọa đầy trong các nhà tù CS (hơn hẳn thời gian ở tù 6 năm, 6 tháng, 2 ngày mà ông ĐC nhắc đến rất nhiều lần).  Để đến được vùng đất tự do, nhiều người phải trải qua các thảm cảnh đầy máu và nước mắt, một sống chín chết.  Đừng trách họ tại sao quá thận trọng, tại sao không hỗ trợ ông “vô điều kiện” như khi ông còn trong nước?  Bởi vì, tại vùng đất sống của họ hiện nay, họ cần phân biệt rõ “bạn và thù” để khỏi mắc sai lầm như trong quá khứ. Nếu không sáng suốt, phạm sai lầm một lần nữa; phòng tuyến chống cộng tại hải ngoại sụp đổ; họ sẽ chẳng còn miền đất nào để dung thân, để đi tỵ nạn CS nữa.  Họ không thể mất cảnh giác để bị lợi dụng, để nhân lực, tài lực…. sẽ bị phí phạm cho một cuộc tranh đấu dân chủ nửa vời, và để cuối cùng không đạt được mục tiêu tối hậu là “giải thể chế độ CSVN, dân chủ hóa thực sự nước nhà”.

Ông ĐC sẽ được người Việt TNCS chấp nhận hay không?  Thời gian sẽ cho chúng ta câu trả lời. Chúng ta không nên quên câu chuyện về nàng Mỵ Châu, con gái An Dương Vương trong truyện lịch sử Việt.  Nàng Mỵ Châu, vì đặt tình cảm trên lý trí, đã khiến bản thân mất mạng; khiến vua cha mất vương nghiệp, bị bức tử; và khiến người Việt mất nước.  Lý do chỉ vì, nàng Mỵ Châu “trái tim lầm lẫn để lên đầu”.  Người Việt TNCS đã bị CS lừa bịp nhiều lần; họ không thể để hàng ngũ của mình bị kẻ thù CS lũng đoạn, và đường lối tranh đấu bị chệch hướng!
Nguyễn Quốc Đống
Khoá 13 Trường Võ Bị

Bài Xem Nhiều