We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 21 November 2014

GIỌNG HUẾ - GẦN CẢM, XA THƯƠNG

vtt-35-phamtran
Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá,
Đò về Vỹ Dạ, thẳng ngã ba Sình.
Là đà bóng ngả trăng chênh,
Giọng hò xa vọng, nặng tình nước non.
**********

GIỌNG HUẾ - GẦN CẢM, XA THƯƠNG


I. Những chuyện bên lề:

1. Cô gái Huế hỏi: Bài " Giọng Quảng - Gần thương xa nhớ" của anh, em đã đọc nhiều lần, nhưng lần nầy đọc lại vẫn bị cuốn hút vào câu chuyện ! Giọng Quảng thì gần thương xa nhớ, còn giọng Huế thì ra răng anh hè? Anh lậm tình cô gái Quảng rứa chơ có lậm tình với O gái Huế mô không? Có phải như người ta thường nói "Huế đi để mà nhớ, chứ không phải ở để mà ..." !

Chàng trai Huế trả lời: “Giọng Huế thì gần cảm, xa thương” em à. Ở gần nghe giọng Huế thấy thấm, có thấm mới cảm thương …nàng. Trai gái Huế thì " xa càng nhớ, ở càng thương" giống như anh với em ri nì!

Cô gái Huế nói: “ Anh nói rứa cho vừa lòng em thôi, chứ giọng Bắc sắc sảo, trau chuốt, chuẩn mực giọng nói như rót mật vào tai, giọng Nam ngọt như mía lùi như tai được rót mật răng anh không nói cảm nói thương mà cảm và thương chi “giọng Huế trọ trẹ của miềng” hở anh?

Chàng trai hơi lúng túng một chút trước câu hỏi ngược bất ngờ của cô gái, rồi cũng tìm được câu trả lời: “ Người dân ở xứ nào cũng yêu mến giọng quê của mình. Dù là người Bắc, người Nam hay người miền Trung cứ nghe giọng nói quê mình là thấy động lòng. Người Quảng động lòng giọng Quảng, người Huế động lòng giọng Huế.. Giọng quê qua miệng nói, qua tai nghe rồi đi qua tim. Giọng quê theo máu đi đến toàn thân, len lỏi qua từng tế bào rồi đi đến trú ngụ trong tâm hồn của mỗi con người.

Giọng quê miền nào cũng được người dân miền đó xem là vốn quý. Vốn quý đó được truyền thừa, bảo lưu và có tính chất bảo thủ. Như thế, giọng nói riêng của từng vùng miền không bị đồng hóa, mai một, hòa lẫn, hòa tan vào một giọng nói miền khác.

Mình là người Huế nên giọng Huế được nghe, được nói, được thấm trong máu thịt từ thuở nằm nôi. Trong gia đình và ngoài xã hội, người Huế được tưới tẩm tâm hồn bằng giọng Huế. Lớn lên đi học, giao tiếp cũng nghe cũng nói giọng Huế. Yêu cô gái Huế cũng nghe thỏ thẻ giọng Huế, cũng tỏ tình bằng giọng Huế… Như rứa, người Huế cảm giọng Huế là chuyện bình thường như mối liên hệ giữa sự sống và hơi thở. Thiếu hơi thở thì sự sống ngất ngư, thiếu chất giọng quê mình thì như người thiếu đói, què quặt. Đôi khi người ta ơ thờ với chuyện thở và sự sống đến khi tắt nghẻn hơi thở, mạch nguồn sự sống cũng đảo điên, khi đó người ta mới giật mình. Ví như người Huế xa quê chợt nghe lại giọng Huế đâu đó, cảm thấy thương giọng nói của quê mình, lòng bỗng dưng ấm áp như được nối lại với mạch nguồn xứ Huế, rồi chợt bồi hồi xúc cảm thân thương.”

Em đọc mấy câu thơ trong bài “Mơ tình xứ Huế    ” của nhà thơ Trần Dzạ Lữ thì thấy liền:

Cứ mỗi lần nghe giọng của em
Anh lại nhớ vô cùng giọng mạ
Cố đô mình trong trái tim mô lạ
Răng thẩn thờ như thuở mới quen ?

Câu đầu “nghe giọng của em” là gần cảm. Câu hai “nhớ vô cùng giọng mạ” là xa thương đó em à.

Cô gái nghe chàng trai nói về “giọng Huế của miềng” có “ gần cảm, xa thương” ra chiều cảm khái… trái tim non chợt rung lên nhè nhẹ, hơi loạn nhịp!

Mẫu đồi thoại ở trên là của một cô gái và một chàng trai Huế chay, cả hai cũng xấp xỉ…bảy mươi tuổi rồi!!



2. Năm 1970, trong thời gian đi quân trường Thủ Đức, tôi ở trong nhóm 6 người họa sĩ của tiểu đoàn. Khi tôi dẫn một người bạn trong nhóm đó là họa sĩ Nguyễn Trí Hải, người Sài gòn tốt nghiệp trường Mỹ thuật Gia Định đến thăm một cô bạn gái Huế sống ở khu Trương Minh Giảng, quận 3, cô gái rất vui, nói chuyện tíu tít. Anh chàng ngại ngùng không biết nói chuyện chi đành ngồi nghe hai chúng tôi nói chuyện bằng giọng Huế. Khi ra về, chàng ta nói: “ Ông nói thì tui còn nghe được, chứ cô ấy nói tui chỉ nghe như tiếng chim hót ríu ra ríu rít chứ chẳng biết cô ấy nói chi!”. “ Nhưng ông có thích không?” “ Thích quá đi chứ! Gái Huế nói năng dễ thương thật”. Không nghe được chi cả mà vẫn kết luận gái Huế nói năng nhẹ nhàng, dễ thương, nghe như rứa thiệt là mát lòng mát dạ.

Trí Hải sau này cưới được một cô vợ người Huế, cũng là họa sĩ tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Huế. Cô gái Huế này- một O Tôn Nữ, là cô giáo dạy môn hội họa, bạn thân cùng dạy một trường với em gái anh ấy. Gia đình Hải rất quý cô dâu này vì ngoài những phẩm chất tốt đẹp của một người đẹp xứ Huế thuộc con nhà gia giáo, nề nếp, với cốt cách sang trọng quý phái, tánh nhu mì, biết ăn biết ở, nội trợ đảm đang còn góp cho không khí gia đình họ một giọng Huế thanh tao dịu dàng nữa. Còn Hải thì hàng ngày được gần gũi giọng nói êm tai nghe như tiếng chim hót ríu ra ríu rít và đã biết cô ấy nói chi …khỏi đoán mò!



3. Năm 1973, hai vợ chồng chúng tôi lên Đà Lạt lần đầu. Một buổi sáng, chúng tôi vào chợ Đà Lạt. Chợ vắng người. Chúng tôi đến một quầy bán trái cây, hỏi thăm một người bà con trong họ Lê. Bà xã tôi vừa nói đúng một câu: “ Bác ơi, bác cho con hỏi thăm, bác có biết Mụ Bưởi cũng bán trái cây ở chợ ni, ngồi chỗ mô không?”. Không trả lời trực tiếp vào câu hỏi, bác ấy hỏi ngay, không một chút ngần ngừ: “ Cháu là dân Kế Môn phải không?”

Thật là lạ, bà xã tôi theo mẹ “lên Dinh” từ hồi nhỏ xíu, lúc mới ba, bốn tuổi, giọng nói nghe ra giọng Dinh rõ ràng, vậy mà một người xa lạ chưa hề quen biết vẫn nhận ra giọng nói quê gốc Kế Môn của bà xã tôi dù giọng quê đó chỉ còn sót lại chút xíu. Tài thật.



4. Nhà văn Võ Hương An viết bài “ Tiếng Huế-một ngoại ngữ” có đoạn: Trong bài viết Áo Rộng Khăn Vành, Tiếng Sông Hương 1990, Túy Hồng có một nhận xét rất đúng: "Giọng Huế không phải là giọng nói trước đám đông, mà có thể chỉ là một giọng nói trong phòng khách”. Nói trước đám đông thì dở nhưng rỉ rả trong phòng khách thì rất dễ lọt tai.



5. Giới thiệu CD nhạc Trịnh Công Sơn “Một cõi đi về” Nguyễn Hạnh Hoài Vy viết vào tháng12/2001( trích, ghép ý bài viết) đề cập đến một người “thuyết văn” bằng giọng Huế ở Paris. …Đó là giọng nói của anh Cao Huy Thuần… Thuyết văn, là dùng lời nói văn chương để làm sáng tỏ tính chất của mỗi bài nhạc. Mà lời nhạc Trịnh Công Sơn, như mọi người đã đồng ý, là những lời thơ –là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, cho nên sự làm tỏ sáng lời nhạc là công việc cần thiết. Qua đó, người nghe mới hiểu hết cái ý sâu sắc của cách dùng lời.

Người thuyết văn có giọng nói của miền sông Hương, núi Ngự. Nói tới giọng Huế, người ta hay nói là giọng "trọ trẹ". Có thể mượn ý của nhạc sĩ Phạm Duy để mô tả đó là một "âm vực cạn hẹp", do "tiếng trầm và bổng không quá cách biệt" trong quảng âm Ngũ Cung . Đó là thứ giọng nói "bình thản!".

Trong sự "bình thản" ấy, giọng Huế có thể xoay chiều: dõng dạc như tướng quân giữa chốn sa trường hay tiếng thầm thì bên tai người yêu dấu.

Giọng "thuyết văn" của anh Cao Huy Thuần lơ lửng giữa hai cực nói trên. Cho nên, người nghe đã gặp phải cái cứng cỏi thứ gỗ quý của rừng nhiệt đới, xen với cái mượt mà sâu lắng của giòng sông Hương….



6. Thời gian vừa qua, việc Biên tập viên Anh Phương dẫn chương trình thời sự bằng giọng Huế trên VTV(Đài truyền hình VN) đã tạo nên nhiều ý kiến trái chiều của khán giả.

Anh Phương , sinh năm 1987, đã tốt nghiệp Đại học kinh tế Huế và nhận bằng thạc sỹ Kinh tế năm 2012. Cô vừa được chuyển ra công tác ở Đài truyền hình trung ương tại Hà nội một thời gian.

Ngoài vẻ đẹp dịu dàng, nữ tính, Anh Phương còn là một người đa tài. Cô biết chơi nhiều nhạc cụ như: piano, organ… Đặc biệt, cô có thể chơi được nhiều môn thể thao như bơi lội, tennis, bóng bàn, khiêu vũ, taekwondo.

Ngay sau khi chương trình thời sự được phát sóng, nhiều ý kiến tranh luận được đưa ra. Bên cạnh một số ít những ý kiến cho rằng, chương trình thời sự của đài quốc gia cần phải sử dụng giọng chuẩn Hà Nội thì đa phần những ý kiến khác đều tỏ ra thích thú với sự xuất hiện của một BTV nữ nói giọng Huế….

Theo Thuỳ Phương (Gia đình & Xã hội)



7. Nhận xét chung: <Trích bài viết Các đặc-điểm ngữ-âm của tiếng Huế của tác giả Vương-Hữu-Lễ- Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1, năm 1992>

Tóm lại, các đặc điểm nổi bật của tiếng Huế là:

- Những khoảng cách phân biệt các thanh điệu là nhỏ bé, cao độ thì không bổng quá cũng chẳng trầm quá, khiến cho giọng nói nghe đều đều đơn điệu.

- Sự chuyển hoá âm lại có xu hướng thu hẹp độ mở, làm giảm đi âm lượng khiến cho độ vang sút kém…

- Các phụ âm cuối lợi(?) được thay bằng các âm mạc(?) khiến cho giọng nói không bị dằn mạnh.

Tất cả những đặc điểm đó tạo ra một hiệu quả âm học chung là “nhỏ nhẹ”, một từ khá chân xác thường được người ở các vùng khác dùng để miêu tả tiếng Huế theo sự cảm nhận bình thường của họ.

Phải chăng đặc trưng “nhỏ nhẹ” đó một phần nào là do hoàn cảnh xã hội đặc biệt của Huế. Phú Xuân xưa đã từng là thủ phủ của các chúa Nguyễn trong khoảng 200 năm, và Huế là kinh đô của một triều đại phong kiến lớn nhất trong lịch sử nước ta từ đầu thế kỷ XIX. Ở đây, con vua cháu chúa rất nhiều, quan lại lớn nhỏ cũng không ít, chắc chắn cách sinh hoạt của tầng lớp quý tộc thượng lưu đó – trong đó có cách ăn nói của họ – đã gây một ảnh hưởng đáng kể..

…Hơn nữa, từ đầu thế kỷ XIX, tiếng Huế chịu tác động rất mạnh của phương ngữ Nam. Vua Gia Long, người sáng lập ra nhà Nguyễn, đã sống ở miền Nam suốt cả cuộc đời lưu lạc của mình; vả lại, “từ đời Minh Mạng trở xuống, các bà vợ vua phần lớn là người Nam, vì các công thần hầu hết là người Nam cho nên đã dâng con lên cho vua” và chính vua “Minh Mạng sinh trưởng ở miền Nam, cho rằng giọng nam nhẹ nhàng dễ nghe, cho nên vua bắt ai nấy phải nói giọng lơ lớ nửa Nam nửa Huế” vì thế “trong Đại Nội không được nói hoàn toàn theo giọng Huế mà phải nói giọng Phường Đúc [*], nghĩa là giọng Huế pha giọng Nam”.

(*) Chú thích về giọng phường Đúc: “Phường Đúc là khu quần cư tập trung các người thợ đúc đồng tài giỏi do triều đình tuyển từ Bắc vào hoặc trong Nam ra. Họ là tác giả của chuông chùa Linh Mụ, Cửu vị Thần Công và Cửu Đỉnh ở Huế. Những sản phẩm của họ dãi nắng, dầm mưa, trải bao tuế nguyệt đến nay vẫn chẳng chút nứt rạn hay có tì vết gì. Họ mang theo gia đình ra làm ăn sinh sống lâu ngày ở Huế nên hòa đồng ngôn ngữ với dân địa phương. Dân Phường Đúc không nói rặt một giọng nào mà pha trộn nửa nọ, nửa kia. Các cung phi trong Nội phải bắt chước giọng Phường Đúc, nghĩa là vừa nói nửa Trung, nửa Nam, ai không tuân thì bị tội. Tại sao lại có hiện tượng này? Kể cũng khó hiểu. Và lệnh này có từ đời nào? Có người đưa ra giả thuyết: có lẽ chuyện này xuất phát từ thời bà Từ Dũ vốn là một phụ nữ Nam Bộ, con gái của Đại thần Phạm Đăng Hưng, người Gia Định, bà được phong Nghi Thiên Chương Hoàng hậu, lấy vua Thiệu Trị, đứng đầu bộ phận “hậu cần” của Hoàng đế, có nhiều quyền uy đối với các cung phi khắp ba cung, sáu viện. Có lẽ và muốn những người dưới tay mình phải dùng giọng nói pha âm sắc Nam Bộ để trao đổi cho dễ hiểu chăng, bởi vì người Tân Hòa-Gia Định nghe giọng Huế “đặt sệt” có thể không hiểu mô tê chi cả.”




II. Các đặc điểm của giọng Huế:

1. Phân vùng địa lý các chất giọng Huế:

Theo các trích dẫn bài viết nhiều tác giả và các mẫu chuyện cá nhân ở phần trên, chúng ta ghi nhận các nhận xét về giọng Huế trái chiều như sau:

- Nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng hay dõng dạc, hùng biện (?).

- Trọ trẹ hay dễ nghe.

- Mượt mà sâu lắng hay nặng nề, thô ráp.

- Giọng phòng khách hay giọng trước đám đông.

- Giọng dịu dàng hay cứng cỏi.

- Giọng dở hay giọng hay.

- Giọng nặng hay giọng nhẹ.

Qua từng cặp đối lập ở trên người ta thường chỉ nói đến một vế trong cặp đối lập đó. Chê thì nói giọng Huế trọ trẹ, dở, nặng, giọng phòng khách. Khen thì nói giọng Huế nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng, dễ nghe, hùng biện.

Trong những cặp đối lập đó, thực tế giọng Huế đều có đủ mọi tính chất. Điều đó hầu như đúng với mọi phương ngữ nếu chúng ta so sánh giọng từng vùng miền trong địa phương đó. Giọng người ở nơi thị tứ thường nhẹ hơn giọng người ở nơi vùng ven. Giọng người ven thành phố nhẹ hơn giọng người ở vùng trung du, núi non hay ven biển, ven đầm phá.

Ở Huế có giọng Dinh ( đất kinh đô, nơi thị tứ), giọng miền biển, giọng miền ven núi hay miền núi và giọng trung gian.

a. Giọng Dinh hay giọng phố là chất giọng của người Huế - sinh ra và lớn lên ở ngay trong thành phố Huế . Giọng Dinh nói chung là nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng, thanh tao.

Giọng Dinh có những tính chất đó do các "vĩ thanh" - âm đuôi, ở chữ cuối cùng trong câu nói - chỉ có độ kéo dài chừng mực. Nó không co lại và cứng dần như giọng người dân về hướng Bắc Thừa Thiên, tiếp giáp Quảng Trị...

Mặt khác, giọng Dinh cũng không có lắm vĩ thanh dài, mềm mại như giọng người dân phía Nam Thừa Thiên.

Nhiều bài viết cho rằng giọng Huế “nhỏ nhẹ”. Có lẽ người viết đang nói đến giọng Dinh của Huế. Họ gắn chất giọng của người Huế với nguồn nước sông và mạch nước giếng, có lẽ họ quan sát hai bên bờ sông Hương, sông An Cựu, sông Bồ, sông Truồi..có nhiều người đàn ông lịch lãm, nhiều con gái đẹp, nhu mì, nói năng nhẹ nhàng, chậm rãi, chừng mực rồi vội vã kết luận như thế? Thật ra, các phủ đệ của các vương tôn, quan lại và các gia đình gia thế, người danh giá, người giàu có của Huế phần nhiều nằm dọc hai bờ sông. Những vùng nổi tiếng bên bờ sông có nhiều phù đệ và biệt thự vườn cảnh là Kim Long, Nguyệt Biều, Xuân Hòa, Phú Mộng, An Cựu, Vỹ Dạ. Những khu vườn này hoặc là được ban, được cấp hay người ta bỏ số tiền lớn ra mua sắm.

Nếp sống, nếp nghĩ, lối ăn nói, cách ứng xử hàng ngày của họ được người dân xung quanh ngưỡng mộ. Cung cách khoan thai, đường bệ, sang trọng; phong thái ung dung,hòa nhã; ứng xử, giao tiếp bặt thiệp và lời ăn tiếng nói nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng, từ tốn là vốn quý của văn hóa Huế, con người Huế mà những nếp nhà gia phong, giáo dục con cái học tập và giữ gìn. Những điều tốt đẹp đó có khả năng cảm hóa và lan tỏa như “ hữu xạ tự nhiên hương” trong xã hội, dần dần thành những mực thước trong đời sống của người Huế.

Tôn giáo nói chung và Đạo Phật nói riêng cũng có vai trò tích cực trong việc hình thành nhân cách và hun đúc những phẩm chất tốt đẹp của con người Huế trong đó có giọng nói nhỏ nhẹ, hiền hòa.

b. Giọng người Huế ở ven biển, ven đầm phá thường có những vĩ thanh trĩu xuống khác thường. Nhất là những từ có thanh bổng, mang "dấu sắc"... Những từ nầy khi nói ra, người ven biển thường có thanh âm thiên về "dấu nặng" hơn là "dấu sắc". Ví dụ, khi nói mắm ruốc thì họ phát âm thành mặm ruộc .

Giọng Huế ở đây thường trầm thấp hơn cách phát âm của chất giọng Dinh. Đại đa số người dân các miền biển Thừa Thiên, nhất là Trung Thừa Thiên đều có chất giọng đặc biệt - vĩ thanh trầm - như thế.

c. Chất giọng người dân ven núi hay miền núi nói chung có điểm nghịch với chất giọng của người dân ở miền biển. Thay vì các phần vĩ thanh - âm cuối, chữ cuối câu - đột ngột hạ xuống thấp so với tự nhiên, thì bây giờ chất giọng của họ lại đột ngột được nâng cao, rất bổng. Ngoài ra, vĩ thanh "bổng" ấy rất thường được "nhấn" y như một "trọng âm" cuối vần và ngay cả cuối câu. Với chất giọng nầy, câu nói của người ven núi hay miền núi gần như một tiếng hô thán, gây ấn tượng thân tình hơn, sôi nổi hơn.

d. Giọng trung gian giữa giọng Dinh và hai chất giọng của người ven biển và người ven núi: Những làng xóm ở quanh thành phồ Huế, người dân nói giọng nặng hơn dân thành phố nói giọng Dinh một chút. Càng xa thành phố, giọng Huế của người dân quê càng nặng dần.

Ở Thừa thiên, có làng Mỹ Lợi nằm phía bên kia sông Vinh Mỹ ( thuộc xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc), trên một vùng chắn bãi ngang của biển Vinh Mỹ. Người dân ở đây nói giọng Quảng Nam, nên không xếp được vào giọng nào trong bốn giọng Huế nói trên.

( dựa ý bài “Chất giọng Huế có mấy sắc thái” của Trần Hạ Tháp)



2. Những thành tố của giọng Dinh: Giọng Dinh hình thành dựa trên các yếu tố sau: giọng nhỏ nhẹ, khoan hòa, từ tốn ( chậm rãi nhưng không rề rà ), câu chữ rõ ràng, mạch lạc, khúc chiết, khẩu âm đi theo đúng cao độ của các dấu bình thanh, sắc, huyền, nặng và hỏi ngã( thường không phân biệt rõ trong giọng Huế). Giọng Dinh thường hướng tới lời nói và câu chữ theo chuẩn mực tiếng Việt trong giọng Nam, giọng Bắc hiện hành.

Giọng Dinh thường gắn liền với xuất thân, nơi ăn chốn ở và tầng lớp trong xã hội của mỗi người.

Những gia đình quyền quý, gia thế, những gia đình giàu có, giới trí thức thường gọt dũa giọng nói của mình để có giọng Dinh. Giọng Dinh cũng có ãnh hưởng rõ rệt trên những người quê nhung7 học tập và làm việc trong thành phố Huế. Nghĩa là họ làm cho giọng nhẹ hơn bằng cách làm mềm chữ (lối nói phụ âm cuối chữ T thành C, N thành NG, ví dụ: hát thành hác, cắt thành cắc: hoan lạc thành hoang lạc…) và gạt đi những phương ngữ Huế quê rặt, để câu nói nhẹ nhàng hơn, thanh cảnh hơn.



3. Những thành tố của giọng biển, giọng núi:. Môi trường âm thanh và điều kiện sống có ảnh hưởng không nhỏ tới giọng nói. Người vùng biển suốt ngày vật lộn với sóng to, gió lớn không thể có giọng nói nhỏ nhẹ,nhẹ nhàng của các cô gái chốn lầu son. Người miền quê quanh năm tất bật làm ăn, tâm lực dồn vào cuộc mưu sinh trong nắng lửa và tiếng gào réo của những trận lụt lội triền miên, thì ngôn ngữ hằng ngày mục đích chính là truyền đạt thông tin nên thường ngắn gọn có khi dẫn tới cộc lốc. Hoàn cảnh ấy kéo dài hàng trăm, hàng ngàn năm thì mới hình thành một chất giọng trầm thô, mộc mạc khó lẫn với những vùng quê khác. ( nhà thơ Vương Trọng)

Quê mùa thường đi với cục mịch. Giọng biển, giọng núi có thể nói nôm na là “Giọng quê rặt”. Tính chất nặng, thô, khan, vang, đục là những thành tố của giọng quê rặt.

Hãy xem một đoạn diễu giọng nói sau đây: (người có giọng quê rặt Bình Trị Thiên hầu như dùng từ quê rặt giống nhau)

“Bựa ni tui mới ra đàng, chộ hai mụ sương triêng độộc độộc đập chắc, tụi chộ rứa can ra bơ mụ tê vác đòn triêng hoại dầm vô trôốc cúi, tính lọi cẳng eng nờ.”

Dịch: Hôm nay tôi mới ra đường đã thấy hai bà gánh chum vại đánh nhau, thấy vậy nên hòa giải, không ngờ một bà cầm đòn gánh đánh vào đầu gối suýt nữa gãy chân anh ơi.

Câu trên được dẫn chứng cho vui nhưng trong thực tế, khi sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, người dân các vùng quê xa thành phố còn dùng nhiều từ, nhiều phương thổ ngữ mà ngay chính những người Huế còn không hiểu được, huống hồ là người ngoài xứ.

Có người nói vui “Tiếng Huế- một ngoại ngữ” có lẽ họ nói về chất giọng quê rặt và trong câu nói sử dụng nhiều phương ngữ quê mùa, cục mịch nên người xứ khác nghe không hiểu được. Đi song hành, vẫn có một tiếng Huế-giọng Dinh trong trẻo, nhẹ nhàng, khoan hòa, dễ nghe.



III. Kết:

Tôi lấy bốn câu Kiều của thi hào Nguyễn Du tả sắc thái thanh âm tiếng đàn của Thúy Kiều khi đàn cho Kim Trọng nghe trong buổi đầu tương ngộ làm lời kết.
………….
481. "Trong như tiếng hạc bay qua
Ðục như tiếng suối mới xa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
485 Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa"
………..

Giọng Huế tùy vùng mà có giọng trong, giọng đục và có giọng khoan, giọng nhặt.

Có giọng Huế Dinh nhỏ nhẹ, thanh tao, dễ nghe, có giọng Huế quê rặt nặng, thô, khan , vang, đục khó nghe.

Nhìn chung, giọng nói của người Huế không dõng dạc, hùng biện. Điều đó do âm vực hẹp nên giọng nói nghe đều đều, ngang ngang và ngữ điệu không diễn cảm, uyển chuyển theo ngữ trạng và ngữ cảnh như giọng Bắc , giọng Nam.

Đã có rất nhiều người mê tiếng nói Dạ Lan, sau này mê giọng đọc của Bích Huyền trên làn sóng điện dù chẳng thấy người, nhưng chưa nghe có một giọng đọc hay giọng nói nào nổi tiếng của người Huế khiến nhiều người say nghe.

Thực tế, như nhận xét của nhiều người, khi nói giọng Dinh, giọng người đàn ông Huế nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng và giọng con gái Huế thì nhỏ nhẹ thanh tao. Chất giọng như thế cọng với sự trầm mặc của đàn ông Huế và sự dịu dàng e ấp của con gái Huế đã tạo một nét riêng của người Huế.

Dù trong, dù đục, dù khoan, dù nhặt, dù Dinh hay quê rặt, giọng Huế vẫn là giọng nói được nhiều người yêu mến. Có chê là giọng trọ trẹ, giọng nặng thì cũng là cách nói thương, nói mến. Có khen giọng nhỏ nhẹ thanh tao thì cũng là lời khen thật tình.

Không kể giọng Huế, phần nhiều người ta thương mến Huế là thương mến cả cảnh quan hữu tình với một bề dày văn hóa đậm chất nhân văn và con người Huế với nhiều tố chất đậm nét nhân bản.

Giọng Huế- Gần cảm, xa thương.

Lê Duy Đoàn,

Hải Ngoại Đập Ruồi : Chết con nầy "lồi" con khác!!

Đội cứu hỏa ra sức chữa cháy cho Điếu Cày


Đập ruồi Thông thường, người ta dễ dàng dập tắt một đám cháy, khi ngọn lửa mới chớm bùng lên một đám nhỏ; còn một khi ngọn lửa đã bùng cháy quá lớn rồi, thì dù có đội lính cứu hỏa với vòi rồng lớn đến cỡ nào, cũng rất khó chế ngự được đám cháy. Do đó, để tránh bị hỏa hoạn, người ta phải có những cách phòng ngừa khác nhau.

Riêng Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, vì đương sự quá tự tin rằng mình là “người tù nổi tiếng”, đã được Hoa Kỳ can thiệp để công an Việt cộng “áp giải” lên máy bay và cho sang xứ Cờ Hoa, dù với “sứ mạng” là phải triệt hạ lá Cờ Vàng, thì người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, cũng phải công kênh mình lên làm “lãnh tụ”.

Là người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa, có ai mà không biết: Sau ngày 30/4/1975, khi Cộng sản Bắc Việt đã “thành công” trong cuộc xâm lăng và cưỡng chiếm đất nước VNCH, đảng Cộng sản đã bỏ tù, giết hại, đày đọa vô số người lên những vùng “kinh tế mới”, đẩy người dân đến bước đường cùng, phải đánh đổi cả mạng sống của mình, để đi tìm tự do, mà con số người đã chết trên con đường chạy trốn Cộng sản không làm sao biết được một cách chính xác.

Thế nhưng, cho tới hiện nay, dường như đa số đã quên đi tất cả. Nhưng có một điều rất “lạ”. Đó là, trước đây, có rất nhiều vị Sĩ quan QLVNCH đã từng ở trong các trại tù “cải tạo” của Việt cộng trên dưới mười năm, hai mươi năm; nhưng khi được đến Hoa Kỳ theo diện HO, thì không hề có những người từng là chiến hữu, đồng đội mang lá Cờ Vàng đi đón mừng các vị, như cuộc đón rước một “bộ đội” Điếu Cày Nguyễn Văn Hải. Chưa nói đến những người đã ở tù trên hai mươi năm, khi ra tù vẫn ở trong nước, không được Hoa Kỳ đón nhận, và cũng không được các tổ chức “tranh đấu nhân quyền” của người Việt Nam nhắc đến, mà rõ ràng, họ chỉ ra sức đánh trống, thổi kèn đối với những kẻ đã từng ở trong “thành phần phản chiến” tại miền Nam - từng ở trong bộ máy cầm quyền hoặc trong hàng ngũ của đội quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt!

Nói cho rõ ràng hơn, là các tổ chức “đấu tranh” này, chỉ tôn vinh những kẻ, dù ở miền Nam, hay miền Bắc; nhưng phải “có công” với đảng Cộng sản. Và xin đừng quên, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đã tuyên bố: Chừng nào 90 triệu người dân Việt đều chấp nhận lá Cờ Vàng, thì đương sự mới chấp nhận đứng chung dưới lá cờ ấy.

Nên biết, ở bất cứ một quốc gia nào thuộc thế giới tự do, trong những cuộc tranh cử Tổng thống, phần thắng sẽ thuộc về người có số phiếu quá bán, nghĩa là có số phiếu đạt trên 50/%, hoặc nếu có một “Dự luật” nào đó, kể cả việc muốn thay đổi quốc kỳ, quốc ca cũng phải được đưa ra trước Lưỡng viện Quốc hội, thì phần thắng cũng thuộc về bên có số phiếu đa số, hay có thể là có số phiếu “áp đảo”; sau đó, sẽ được “thông qua” thành “Đạo Luật”, chứ không bao giờ có được con số 100/%, như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đã đưa ra, là con số TUYỆT ĐỐI, như một điều kiện 90 triệu người dân Việt đều chấp nhận lá Cờ Vàng. Do vậy, mọi người cần phải biết tại sao “bộ đội” Điếu Cày Nguyễn Văn Hải lại dám thách thức những người Việt Quốc Gia yêu nước chân chính, là nạn nhân dưới những bàn tay đẫm máu, vô cùng tàn khốc của đảng Cộng sản Việt Nam phải hạ lá Cờ Vàng, để tiếp rước Điếu cày Nguyễn Văn Hải ?

Điều này, đã cho thấy, chính Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đã biết trước sẽ có những cuộc tiếp rước này, cho nên đương sự đã chuẩn bị “khâu” lá thư của một người “đồng tù” vào vạt áo, nhất là chuẩn bị những câu tuyên bố về “Mục đích tôi sang đây…”. Đồng thời, phía chính phủ Hoa Kỳ cũng cho biết Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đã quyết định sang Mỹ, chứ không có chuyện “bị Việt cộng trục xuât”.



Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải (2) "hồ hởi" chỉ vào cái mũ cờ đỏ sao vàng của cộng sản Việt Nam
Xin nhắc lại: “Blogger Điếu Cày trình bày, “Mục tiêu của tôi sang đây là vì tôi đã nhìn thấy rõ khuyết tật của truyền thông Việt Nam. Bởi vậy, tôi sang đây là để làm việc kết nối truyền thông trong và ngoài nước để đẩy mạnh làn thông tin trao đổi giữa hai bên. Khi thông tin cân bằng thì sự thấu hiểu, thông cảm giữa hai cộng đồng trong và ngoài nước dễ dàng hơn, từ đó dẫn đến việc hàn gắn, xây dựng tình đoàn kết trong ngoài.”

Việc “nối kết tuyền thông trong và ngoài nước”, thì không phải bây giờ, mà ngay khi còn ở trong nước, kể cả lúc “đang ở tù” Điếu Cày Nguyễn Văn Hải cũng đã “nối kết” được rồi, mà “nối kết” rất chặt chẽ nữa, vì nếu không, thì làm gì có những tin tức như chuyện “bị chặt mất tay trong tù – chuyện tuyệt thực 28 ngày trong tù – chuyện khâu lá thư của một người bạn đồng tù …”. Và khi vừa đặt chân đến đất Hoa Kỳ, thì đã có mặt con gái từ Canada sang gặp bố, rồi được các “cơ quan tuyền thông” hạ lá Cờ Vàng, để tiếp rước, phỏng vấn…

Về việc “thấu hiểu, thông cảm, hàn gắn, xây dựng đoàn kết”, thì thực ra, giữa người Việt Nam với nhau làm gì không có sự “mất đoàn kết”, mà cần phải “xây dựng, hàn gắn”. Bằng chứng là hàng năm người Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại đều gửi tiền về giúp đỡ người thân và cả những người nghèo khổ, những nạn nhân thiên tai nữa.

Thế nhưng, chỉ riêng đảng Cộng sản Việt Nam và người Việt Quốc Gia yêu nước chống Cộng thật sự, là không bao giờ có cái chuyện “thấu hiểu, thông cảm, hàn gắn, xây dựng” được. Nguyên nhân chính, vì đảng Cộng sản đã và đang bán nước, buôn dân – dùng bạo lực để bỏ tù, cướp bóc, giết hại đồng bào vô tội trong suốt gần 40 năm tại miền Nam, và 70 năm tại miền Bắc!


Ngày mai, 20/11/2014: Đội “cứu hỏa” sẽ chữa cháy cho Điếu Cày

Thật vậy, “thua keo này, bày keo khác”. Những tổ chức “đấu tranh” đã hết lòng, hết sức dàn dựng cho Điếu Cày Nguyễn Văn Hải để trở thành “ánh sáng – anh hùng”, đã thấy được những phản ứng của người Việt Quốc Gia yêu nước chống Cộng. Vì vậy, họ phải thay đổi “sách lược” là phải tổ chức những cuộc tiếp rước khác, nhưng phải có “Phiếu trình” trước, là sẽ có chào cờ Vàng, hát quốc ca, và sẽ tặng cho Điếu Cày một lá Cờ Vàng, để có đủ thời gian cho Điếu Cày Nguyễn Văn Hải chuẩn bị tinh thần, chuẩn bị những câu trả lời, và có thể cũng sẽ chào Cờ Vàng, nhận Cờ Vàng, đội Cờ Vàng, hát Quốc Ca VNCH.
Đội cứu hỏa ra sức chữa cháy cho Điếu Cày



Nhưng, xin mọi người hãy nhớ cho rằng: Từ nay cho tới những tháng năm kế tiếp, nếu Điếu Cày Nguyễn Văn Hải có đội lá Cờ Vàng trên đầu, thì Điếu Cày cũng chỉ là một Hoàng Cái tân thời, đã và đang thi hành Khổ nhục kế mà thôi. Và cũng nên nhớ, những cuộc tiếp rước sắp tới, chỉ là một thiểu số, chứ không phải là con số TUYỆT ĐỐI, là 100/% người Việt, trong đó, bắt buộc phải có toàn đảng Cộng sản, kể cả những đảng viên già đã về hưu, và những gia đình, thân nhân, con cháu, chắt của đảng Cộng sản VN đều “chấp nhận” lá Cờ Vàng, thì Điếu Cày mới “được phép” đứng dưới lá Cờ Vàng, như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đã tuyên bố trước các “cơ quan tuyền thông”.


Kết luận:


Chỉ cần căn cứ vào chính những lời tuyên bố của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, nên thời gian sắp tới, cho dù đương sự bằng hình thức có đứng chào, có nhận lá Cờ Vàng ba sọc của người Việt Quốc Gia, thì chẳng qua là một phép lịch sự, như nhiều “chính khách” trên thế giới, họ cũng đã từng nhận lá cờ của những quốc gia khác đem tặng, mỗi khi đến thăm viếng đất nước đó, chứ không phải họ chấp nhận đứng dưới lá cờ ấy như tôn kính biểu tượng thiêng liêng, cao quý cho tinh thần tôn trọng tự do, dân chủ…

Điếu Cày Nguyễn Văn Hải cũng thế, cho nên ngày mai, hay trong những năm tháng kế tiếp, Điếu Cày dù có hát quốc ca VNCH, có chào, có nhận lá Cờ Vàng; nhưng vì không bao giờ có đủ với túc số là “90 triệu người dân Việt đều chấp nhận lá Cờ Vàng”, nên Điếu Cày Nguyễn Văn Hải không bao giờ cùng chung lý tưởng với người Việt Quốc Gia yêu nước, chống Cộng, tranh đấu cho Đại Cuộc Chung: Giải thể chế độ buôn dân bán nước, là đảng Cộng sản đang cướp quyền cai trị trên đất nước Việt Nam.

Anh quốc, 19/11/2014
Cao Lân

 http://hon-viet.co.uk/CaoLan_20112014DoiCuHoaChuaChayChoDieuCay.htm

Những cách ăn chơi sa đọa của cán bộ cộng Sản VN

Nữ sinh bị yêu râu xanh là bố của bạn thân làm hãm hiếp
1* “Làm gì cũng được nhưng không cho cởi quần à nghen!”

“Làm gì cũng được nhưng không cho cởi quần à nghen!” Đó là một trong những tiếng la hét cười giởn vang dậy cả một khúc sông trong ngày 20-8-2011, giữa những cô gái trẻ và những người đàn ông, đưa đến cái chết của người con gái 20 tuổi tên Đinh Thị Kim Phượng. Ông Trần Văn Út, tự Út Lùn, một nhân chứng thuật lại với một nhà báo như thế. Vụ việc xảy ra trên sông Vàm Cỏ Đông, thuộc huyện Tân Trụ tỉnh Long An.

Nhân chúng Út Lùn kể tiếp: “Khoảng 3 giờ chiều, chiếc phà chạy đến và neo cách xuồng của tôi khoảng 15m, dưới bóng mát của cây cổ thụ de ra sông. Trên phà lúc ấy có đông người đang nhậu nhẹt, cười giởn vang dội cả một khúc sông. Một lát sau, 3 thanh niên trên phà lội xuống đến xuồng tôi, hỏi mượn con dao đi chặt dừa nước. Tôi hỏi: “Sao bây không nhậu nhẹt mà lại đi chặt dừa?”. Họ đáp: “Trên đó toàn là đại gia không hà!, mấy ổng biểu tụi cháu đi khỏi phà.”.

Sau đó, nhóm người trên phà nhảy xuống sông tắm. Mấy cô gái mặc nguyên quần áo, đàn ông cởi áo quần, mặc quần lót”.

Khoảng 3 giờ rưởi, tôi không muốn thấy những cảnh tượng “ngứa mắt”, nên chèo xuồng qua bờ bên kia để giăng lưới.

Tôi nghe loáng thoáng sau lưng một giọng nữ la lên “Đừng kéo tôi! Tôi không biết bơi, trong túi có điện thoại ướt hết”.

Một giọng đàn ông nói “Xuống sông, họ tắm với nhau vui lắm. Họ chơi đủ trò lạ mắt, mới thấy lần đầu. Chơi như vậy mới gọi là đại gia chứ”. Tôi không ngó lại cảnh họ đang đùa giởn.

Sau đó, nhóm người la lên “Mất con Phượng rồi. Mất con Phượng rồi”. Biết có chuyện, tôi liền chèo xuồng trở lại và lên phà hỏi thăm sự việc. Nghe câu chuyện mà thấy đau lòng. Nhóm người đó nhờ tôi lặn mò tìm nạn nhân, tôi từ chối vì nước ở đó rất sâu.

Họ dự định cho phà chạy đi, tôi yêu cầu họ neo phà lại, và tôi chạy ngay lên bờ, đến báo công an xã Nhựt Thịnh. Khi công an đến, chiếc phà được kéo vào bờ. Nhiều người dân kéo đến xem rất đông.

Khi phà cập bờ, một người đàn ông nhảy lên bờ và kêu xe ôm của anh Nguyễn Văn Đồ chở ra bến đò Xã Bảy. Đoạn đường dài 2 km mà người đó trả 100 ngàn đồng, anh Đồ chỉ lấy 20 ngàn.

2* Các đại gia và cán bộ nhậu nhẹt trên sông

                           Chiếc phà được thuê để tổ chức ăn nhậu trên sông Vàm Cỏ

Qua lời khai của các nhân chứng, phối hợp với tuyên bố của cơ quan điều tra công an huyện Cần Giuộc tỉnh Long An, thì đây là một vụ ăn nhậu chơi bời được tổ chức khá chu đáo, đầy đủ các mục, từ ăn nhậu trên tàu, nhảy xuống lội sông rồi lên bờ “lội cạn”.

Thành phần tham dự gồm 6 đại gia, 6 cô gái trẻ và 2 cán bộ lãnh đạo huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Nguyên nhân cái chết của cô gái trẻ 20 tuổi còn nhiều bí ẩn. Vụ việc như sau.

Ngày 20-8-2011

Nguyễn Thành Trung, “đại gia” kinh doanh bất động sản Quận 7, Sài Gòn, rủ ông Nguyễn Nhật Tuấn, Bưu điện Cần Giuộc, có nghề tay trái là kinh doanh nhà đất, đi nhậu.

Sau đó, họ liên lạc mời ông Nguyễn Kim Đoạn, Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân (VKSND) huyện Cần Giuộc và mời ông Nguyễn Hương Giang Viện Phó.

Khi được 2 cán bộ VKSND đồng ý tham dự, thì ông Nguyễn Thành Trung đem xe đến tận nơi rước cả hai ông Trưởng và Phó.

Phần ông Đào Ngọc Hương, một thương gia thuộc hàng đại gia của huyện Cần Đước, Long An, lái xe 7 chỗ ngồi chở ông Trần Thanh Lâm, tư vấn hảng bảo hiểm, và ông Lê Văn Phố, thương gia huyện Cần Giuộc.

Những chiếc xe chạy đến bến phà. (miền Nam gọi là bến Bắc), như “Bắc Mỹ Thuận”. Phà là tàu chở xe cộ và hành khách “sang ngang” qua sông. Xà lan là tàu kéo ghe và các tàu khác, thường di dọc theo dòng sông.

Bến phà nầy thuộc huyện Cần Đước tỉnh Long An. Nhóm người nầy thuê một chiếc phà (xà lan) loại 60 tấn, dài 30m với giá 2 triệu đồng.

Cả nhóm ngồi chờ dựng rạp che mát, che mưa, sắp xếp 1 cái bàn tròn nhỏ và ghế, đưa bếp gas và lò than mà họ mang theo xuống phà để nấu nướng.

Ngồi chờ hơn 30 phút, thì bạn gái của đại gia Lê Văn Phố, một thương gia Cần Giuộc, là cô Nguyễn Thị Hoa , 30 tuổi lái xe gắn máy chở Đinh Thị Kim Phượng, 20 tuổi đến nhập bọn.

Tài công lái tàu là Lâm Văn Chía, 21 tuổi, con của chủ phà. Hai cậu bán vé số là Nguyễn Quang Công 17 tuổi, và  Hiếu, 17 tuổi, được thuê xuống phà để nướng đồ nhậu.

Chiếc bàn tròn nhỏ duy nhất, nên 14 người phải ngồi sát bên nhau. Ăn nhậu tưng bừng từ trưa đến xế chiều, uống hết 3 thùng bia, ăn hết 3 kí tôm, rồi cùng nhảy xuống sông tắm, và chết đuối xảy ra.

Trên phà có 14 người. 6 đại gia, 6 cô gái và 2 cán bộ lãnh đạo VKSND huyện Cần Giuộc.

Nạn nhân là Đinh Thị Kim Phượng. Sanh năm 1991, ngụ tại xã Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, ly thân với chồng, có con 18 tháng tuổi. Kim Phượng nghỉ việc ở một công ty giày ngoại quốc trong tỉnh.

Các đại gia.

    Nguyễn Kim Đọan, Viện trưởng VKSND Cần Giuộc
    Nguyễn Hương Giang, Viện phó VKSND
    Nguyễn Thành Trung, đại gia kinh doanh bất động sản, Q.7, Sài Gòn.
    Nguyễn Nhật Tuấn, Bưu Điện Cần Giuộc, nghề tay trái là mua bán nhà đất.
    Lê Văn Phố, thương gia Cần Giuộc.
    Ông Quang, chủ cơ sở kinh doanh xe gắn máy.
    Nguyễn Hoàng Nhã, thương gia Gò Vấp, Sài Gòn.
    Trần Thanh Lâm, tư vấn hãng bảo hiểm.

6 cô gái trẻ

    Nguyễn Thị Mỹ Hằng, 18 tuổi, tiếp viên quán nhậu Phương Thanh, Cần Giuộc.
    Nguyễn Thị Hồng Cẩm, 25 tuổi, tiếp viên quán nhậu Phương Thanh.
    Mai Thị Ngọc, 18 tuổi.
    Đào Ngọc Hương, buôn bán.
    Nguyễn Thị Hoa, 30 tuổi
    Đinh Thị Kim Phượng, 20 tuổi, nghỉ việc.

3* Khám tử thi

Ông Quang, một đại gia chủ cửa hàng kinh doanh xe gắn máy Cần Giuộc là người đã mời Kim Phượng đi chơi, ông bỏ ra 15 triệu thuê nhóm thợ lặn tìm xác nạn nhân, và đến 8 giờ tối thì vớt được tử thi.

Kết luận khám nghiệm:

Đinh Thị Kim Phượng chết do ngạt nước.

Trong túi quần nạn nhân có 2 điện thoại di động, 1 đồng hồ và tiền mặt. (do mấy cô gởi trước khi xuống tắm.)

4* Những chi tiết đưa đến nghi vấn về nguyên do cái chết

    Lan can của chiếc phà khá cao, nạn nhân không thể tự rơi xuống sông được.
    Điện thoại, đồng hồ và tiền mặt trong túi chứng tỏ nạn nhân không xuống tắm sông.
    Những tiếng la lớn mà nhân chứng Trần Văn Út nghe được: “Đừng kéo tôi. Tôi không biết bơi. Trong túi quần có điện thoại ướt hết”.
    Người đàn ông nói: “Xuống sông, họ tắm vui lắm vui lắm. Họ chơi đủ trò lạ mắt, mới thấy lần đầu. Chơi như vậy mới là đại gia chứ.”
    Công an điều tra cho biết, những người tham gia ăn nhậu đều khai rằng nạn nhân tự té xuống sông chết đuối. (nhưng không ai chính mắt thấy Kim Phượng té như thế nào cả).
    Một trong 6 cô gái cho phóng viên biết: “ họ không biết những gì xảy ra, bởi vì sau khi “lội sông”, họ lên “bãi đáp” trên bờ cách phà chửng 30 m để “lội trên cạn”.
    Nhân chứng Trần Văn Út cho biết, ông là người chứng kiến cảnh nhậu nhẹt trên phà, cũng là người đầu tiên lên phà khi biết có vụ chết đuối. Cũng chính ông chạy đi báo công an xã, thế nhưng công an diều tra huyện không tiếp xúc hỏi ông về vụ việc.

5* Người đàn ông ấy là ai?

Cứ dự đoán.

“Xin đừng kéo tôi. Tôi không biết bơi”. Nếu đó là một người buôn bán bình thường trong huyện, hoặc một người lạ ở Sài Gòn xuống chơi, thì công an điều tra đâu cần phải che giấu? Vậy có phải là một trong hai cán bộ của VKSND đã chèo kéo cô Phượng hay không?

6* Không khởi tố vụ án

Ngày 1-9-2011

Một tuần lễ sau vụ chết đuối, ông Nguyễn Công Pha, Phó Viện trưởng VKSND Tỉnh Long An trả lời báo chí về 2 cán bộ lãnh đạo VKSND huyện Cần Giuộc như sau:

“Thì bắt họ làm tường trình thôi, chớ đâu có gì.”

Ngày 2-9-2011

Vụ chết đuối xảy ra ở huyện Tân Trụ, nên công an Tân Trụ phụ trách điều tra. Công an Tân Trụ xác định:

“Đây chỉ là một vụ té sông chết đuối bình thường, không có dấu hiệu phạm tội, không có dấu hiệu hình sự, nên không khởi tố.”

Ngày 5-9-2011

Sau cuộc họp buổi sáng, cơ quan điều tra  công an huyện Tân Trụ, một lần nữa khẳng định:

“Đây là một vụ chết đuối bình thường nên không khởi tố vụ án. Lời khai của 12 người có mặt trên thuyền đều cho rằng chị Phượng tự té xuống sông chết đuối. Riêng hai ông Nguyễn Kim Đọan, Viện trưởng và ông Nguyễn Hương Giang, Viện phó VKSND huyện Cần Giuộc thì đang ghi lời khai.”

Nhân chứng Trần Văn Út lập lại với phóng viên, “Công an điều tra huyện không hề gặp tôi để lấy lời khai, mà chỉ có công an xã hỏi thăm vài câu rồi về.”

Chính ông là người lên phà đầu tiên khi có người chết đuối, cũng chính ông yêu cầu phà phải đậu lại chờ ông chạy báo cho công an xã, bởi vì họ dự tính cho phà ra đi.

Ông Út cho biết, “Đây không phải là một tai nạn, mà có sự níu kéo, xô đẩy làm cho nạn nhân té xuống sông.”

    Nói qua về Viện Kiểm Sát Nhân Dân

VKSND Cần Giuộc nơi ông Đoạn với ông Giang công tác

VKSND Cần Giuộc nơi ông Đoạn với ông Giang công tác

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao (VKSND/TC) trực thuộc Quốc Hội. Chức vụ Viện Trưởng do QH bổ nhiệm với sự đề cử của Chủ tịch nước. Đó là lý thuyết, trên thực tế, tất cả các chức vụ nhà nước đều do đảng phân chia nhau nắm giữ.

Chức năng của VKSND.

    Kiểm sát hoạt động tư pháp của quốc gia.
    Thi hành quyền công tố. Tức là khởi tố những tội danh, từ việc cho bắt giam, điều tra, khởi tố ra toà xét xử.

VKSND có từ cấp quận, huyện đến Trung ương. Bộ phận công an điều tra dưới quyền VKSND, cho nên vị thế và quyền lực của các KSND địa phương rất lớn.

7* Gia đình “bức xúc” và khiếu nại

Báo chí đưa tin, dư luận ở Long An rất bức xúc, vì đã hơn 10 ngày sau cái chết của cô gái trẻ mà 2 cán bộ VKSND huyện Cần Giuộc, ăn chơi trác táng, sa đọa, đến nay chưa được xử lý.

Ông Đinh Tấn Phước “bức xúc”: “Cháu tôi chết rất bất thường. Tôi sẽ gởi đơn yêu cầu làm sáng tỏ nguyên nhân gây ra cái chết tức tưởi của cháu Phượng và yêu cầu xem xét lại nhân cách đạo đức của hai cán bộ liên quan.”

8* Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao đang nắm sự việc

Ngày 31-8-2011

Viện KSND/TC đã điện thoại cho cơ quan điều tra huyện Tân Trụ để nắm tình hình vụ việc, và đề cập sự liên quan đến 2 cán bộ của VKSND huyện Cần Giuộc.

9* Về việc kỷ luật hai cán bộ

          Ông Thái Văn Ô công bố kết quả kiểm tra sai phạm với 2 lãnh đạo VKS huyện

Huyện Ủy Cần Giuộc tỉnh Long An xác định, hai cán bộ ngành KSND nhậu nhẹt với các cô gái trên phà, rồi nhảy xuống sông tắm chung, cười giởn ồn ào là vi phạm đạo đức về lối sống của đảng viên, nên sẽ phải thi hành kỷ luật nghiêm khắc. Theo điều 17 trong Quy định số 115, thì 2 đảng viên Nguyễn Kim Đọan và Nguyễn Hương Giang đã vi phạm vào những điều nói trên.

Nói thì nói, nhưng chưa thấy thi hành như thế nào cả.

Nguyên nhân vụ chết đuối của cô gái trẻ có lẻ cũng cho “chìm xuồng” thôi, vì thông thường, chết đuối là do chìm xuồng. Chìm xuồng đi chung với chết đuối là “lô gíc”.

Đề cập đến những vụ việc ăn chơi bê tha, sa đọa trong thành phần cán bộ đảng viên, thì không thể nào bỏ qua được những điển hình độc đáo của thầy trò quan thứ trưởng Giao thông Vận tải Nguyễn Việt Tiến và Tổng Giám Đốc Bùi Tiến Dũng được.

11* Căn phòng sa đọa của Bùi Tiến Dũng

                             Bùi Tiến Dũng bị dẫn giải đến cơ quan điều tra và ra tòa

Theo đơn tố cáo của một nữ sinh viên, thì quản lý nhà hàng Phố Núi đường Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, Hà Nội, là phụ nữ tên Trang, đã dành phòng ngủ của vợ chồng bà để Tổng Giám Đốc Bùi Tiến Dũng tổ chức ăn nhậu và đánh bạc, cho nên rất kín đáo. Từ đó, nơi nầy biến thành “Tổ quỷ”, thường xuyên diễn ra những “buổi tiệc quỷ” với những màn vui chơi sa đọa “vô tiền khoáng hậu” trong làng ăn chơi.

Căn phòng cực kỳ sang trọng, luôn luôn có 4 cô rất đẹp do chính quản lý dùng tay kiểm soát và tuyển chọn để phục vụ. Họ chỉ mặc quần lót mỏng tanh và để ngực trần.

Con bạc nào vận đen thì ngậm đầu nhũ hoa của các cô phục vụ để lấy hên. Nếu vận quá đen, thua liền mấy ván, thì “xả xui” bằng cách làm tình với cô phục vụ công khai ngay tại chiếu bạc.

Người nào hên, vừa thắng canh bạc, gom tiền thì nhét vào quần lót các cô, khi thì tờ 100 đô, khi thì vài tờ 500 ngàn. Cho đến khi chiếu bạc ngừng sát phạt nhau, thì mấy cô mới được phép cổi quần lót lấy tiền ra đếm.

Nhiều con bạc vừa có máu mê cờ bạc, vừa có thói đa dâm, dùng thuốc kích dục, cả đêm “xổ xui” đến 4 lần.

Có trường hợp nữ sinh viên đi làm thêm kiếm tiền, không chịu được việc quan hệ tình dục công khai và miễn phí như thế, phản đối, nên bị quản lý Trang chửi bới thậm tệ, có người bị đánh đập nữa. Có một lần, quan Tổng Bùi Tiến Dũng đãi tiệc các quan lớn lãnh đạo nhà nước, bắt toàn bộ nhân viên nhà hàng phải ăn mặc thật đẹp, luôn luôn tươi cười và tận tâm phục vụ, sau bữa tiệc, tất cả nhân viên mỗi người được thưởng 100 đô, riêng quản lý tên Trang được thưởng chiếc Camry 3.0. mang số 29X-179.

Chủ nhà hàng Phố Núi nguyên là một nữ công nhân lao động hợp tác ở Liên Xô tên Đ. Đ đã ăn ở như vợ chồng với một quan chức VN qua tu nghiệp bên đó, và được ông cán bộ gộc nầy đưa về cho giữ chức Phó giám đốc một công ty du lịch. Sau đó, bà Đ thôi việc vì kỷ luật, và ra mở nhà hàng Phố Núi. Thấy nhân viên phục vụ tên Trang, 32 tuổi, người Nghệ An nầy có sắc đẹp nổi bật nhất, có khả năng tổ chức và quản lý, nên bà Đ. giao cho Trang toàn quyền quản lý nhà hàng nầy. Trang cũng phục vụ cho Tổng Dũng đúng theo ý muốn, nên được Dũng chọn làm nơi ăn chơi trác táng như trên. Cũng có dư luận cho rằng quản lý nầy là tình nhân của Tổng Dũng, nhưng chồng của bà Trang là ông Hồng Tuấn, 46 tuổi xác nhận dư luận đó không đúng sự thật.

Quản lý Trang rất mê cá độ bóng đá. Mỗi lần bị thua thì luôn mồm chửi mắng nhân viên bằng những lời lẻ tục tĩu vô học thức, vì có Tổng Dũng chống lưng cho nên không ai dám chống đối.

Thói ăn chơi sa đọa, bê tha không chỉ có một Tổng giám đốc PMU-18 Bùi Tiến Dũng, quản lý một tài khoản nợ quốc gia đến hàng tỷ đô la, mà còn là một phong trào “đại trà” lan rộng trong giới cán bộ đảng viên trên cả nước, chứng tỏ sự tha hoá, suy đồi cùng cực của đảng viên CSVN.

Bùi Tiến Dũng lấy tiền “chùa” để cung phụng, lo lót cấp trên để được tự do lộng hành, ăn chơi xả láng. Cờ bạc, cá độ bóng đá, lấy tiền bao gái, chỉ trong một tháng mà đốt đến 1.8 triệu đô la.

Trong một trận xem bóng đá, Bùi Tiến Dũng cá với đàn em, “nếu tao hút thuốc, tao mất cho mầy 10 ngàn đô. Sau đó, hắn ta bình thản lấy thuốc ra hút, rồi “vẫy tay” cho đàn em 10 ngàn đô mà không thèm bận tâm.

Về gái đẹp, họ Bùi có gần 20 “chân dài” gồm diễn viên ca múa, ca sĩ, người mẫu, sinh viên. Trong đó có 4 chân dài được đại gia ưu ái thưởng cho biệt thự, căn hộ chung cư hoặc xe hơi.

Thầy nào trò đó

Bùi Tiến Dũng và hàng loạt các nhân vật trong “liên minh ma quỷ” đã từng nướng vào trò đỏ đen hàng triệu đô la, mà nhiều người chỉ nghe nói đến, nhưng ít có ai chứng kiến tận mắt những cách ăn chơi sa đọa đến bịnh hoạn của các quan tham đó. Một điển hình là ông thầy của Dũng là Nguyễn Việt Tiến. Thầy trò đúng là một cặp bài trùng,”thầy nào trò đó” ở vào trường hợp nầy quả không sai tí nào cả.

12* Thói ăn chơi bịnh hoạn của Nguyễn Việt Tiến

Cựu thứ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải Nguyễn Việt Tiến được tuyên bố trắng án ngày 25 tháng 3, 2008.

Nguyễn Việt Tiến là Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải. Cái ngông cuồng bịnh hoạn của thứ trưởng nầy được nhắc đến trong một bữa tiệc “rửa ghế thứ trưởng” tại nhà hàng Karaoke có “tay vịn” ở đường Bưởi.

Hôm đó, thứ trưởng cùng 5, 7 thuộc hạ, khi nhậu đã “mát trời ông địa” bằng rượu Tây đắt tiền, bắt đầu uống bia để “chữa lửa”. Ông Tiến bắt 4 cô phục vụ, trần truồng 100% ngồi trong những cái chậu, rồi thầy trò tưới bia để tắm những người đẹp. Khi các em đã được tắm rượu bia thỏa thích, ông trùm và các đệ tử dùng ly, cốc múc bia trong chậu, giơ lên cao, cùng nhau hô dzô dzô 100% , nốc cạn.

Mấy cha nội đó ngà ngà chếnh choáng say, cho dù có em nào nhịn không nổi, tè đại trong chậu bia, các quan vẫn không hay biết gì cả. Thông thường, khi thay đổi cảm giác bất ngờ giữa lạnh và nóng tác động vào cơ thể, thì con người mắc tiểu. Vì thế, ở các hồ bơi, mọi người đều phải đi qua những vòi nước lạnh để tiểu trước khi xuống hồ.

Chỉ có những tay giang hồ gan lì mới dám chơi bạo theo kiểu dơ bẩn đó mà thôi.

13* Lãnh đạo nổi máu anh hùng

Một hôm, Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến cùng đàn em đến nhà hàng Karaoke có “tay vịn”. Chủ nhà hàng đã đổi “tay vịn” đến 3 lần nhưng quan cán bộ khó tính vẫn chưa ưng ý, cô thì bị chê là “thô”, cô bị chê là không cao, “tay vịn” bị chê là có nước da bánh mật…Ông Tiến yêu cầu tất cả các “tay vịn” phải ra trình diện để ông chọn, thế nhưng cuối cùng, ông không chấm được cô nào cả. Bị mất hứng, ông nhấp 1 chai bia rồi dùng chai giáng một cú thần sầu vào mặt làm cho chủ nhà hàng Nguyễn Văn Hiền gảy mấy 2 cái răng cửa. Ông bảo rằng đó là bài học để rút kinh nghiệm kinh doanh về sau.

Vụ việc bị ém nhẹm. Chủ nhà hàng bị gảy răng nhưng phải ngậm bồ hòn với ít tiền bồi dưỡng vì thân phận của người dân thấp cổ bé miệng.

Những người đã từng ca ngợi đảng CSVN quang vinh, cán bộ là đầy tớ của nhân dân, là đại diện của giai cấp vô sản, của người lao động…phải ngượng miệng và không còn mạnh dạn to tiếng tự ca ngợi mình như trước kia nữa. Đội tiên phong của giai cấp vô sản đã mục rã và biến thái.

14* Ăn chơi sa đọa của hiệu trưởng Sầm Đức Xương

                                 Bị cáo Sầm Đức Xương trong phiên tòa

Sầm Đức Xương là cán bộ giáo dục, hiệu trưởng trường Trung học Phổ thông Việt Vinh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Sầm “nọc trư” là một thầy giáo hoang dâm vô độ. Trong một thời gian dài đã liên tục quan hệ tình dục với gần 10 học sinh, trong đó có nhiều bé gái ở tuổi vị thành niên.

Mua dâm học sinh, rồi biến học sinh thành những người môi giới, dẫn dắt những em khác vào việc bán trinh. Thầy “Nọc Trư” nầy còn dùng văn phòng làm nơi hành lạc, thật là vô giáo dục và mất dạy. Cả thế hệ học trò dưới mái trường Xã hội chủ nghĩa của thầy, cả thầy lẫn trò đều vô giáo dục, vì thầy không dạy mà còn làm hư hỏng con người XHCN tương lai của chế độ.

Thật là chưa có thời kỳ nào trong lịch sử ngành giáo dục VN lại xuống cấp một cách tệ hại đến như vậy cả.

15* Cán bộ đảng viên luôn luôn rèn luyện theo gương đạo đức bác Hồ

Hội Nghị Trung Ương 6 khoá VIII bàn về việc cấp bách trong việc xây dựng đảng. Quyết định mở một cuộc vận động chỉnh đốn đảng.

Văn kiện Đại Hội X của đảng nêu ra cụ thể như sau:

“Tình trạng thoái hóa về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, bịnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chạy theo danh vọng, mua bán chức quyền… vẫn còn khá phổ biến trong bộ phận cán bộ đảng viên.”

Bộ Chính Trị Khoá X đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 17-11-2006 về việc tổ chức một cuộc vận động “Học tập và làm theo gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chính vì học tập theo gương bác Hồ vĩ đại, mà cán bộ hư hỏng đến như thế. Cụ thể là về gái, bác đã có ít nhất 5 người vợ không bao giờ cưới. Bác chuyên môn chơi chạy. Không dám nhận trách nhiệm làm chồng, làm cha. Một con người bỏ vợ, từ con, coi phụ nữ chỉ là một món đồ chơi để thoả mãn dâm dục. Chơi xong lại bỏ, Bộ Chính Trị luôn tìm gái cho bác. Cũng có nguồn tin, đảng bộ miền Nam đã có gởi ra Hà Nội cho bác “hai trái vú sữa” miền Nam, nhưng trên đường đi, đồng chí Võ Văn Kiệt, đã cầm lòng không đậu, nên đã phổng tay trên, “xơi táí” 2 trái vú sữa”.

Chính bác là người đã chà đạp nhân phẩm phụ nữ và được xếp vào hạng xếp sòng trên thế giới.

16* Kết

Trong khi cán bộ đảng viên trở thành những đại gia tư bản đỏ, tiền rừng bạc bể do tham ô, làm ăn bất chánh, sống xa hoa phung phí đến sa đọa, bằng cách vung tiền qua cửa sổ, trước cái nghèo đói của nông dân và người lao động, thì một thế hệ tiếp nối hình thành, đó là các “thiếu gia.”

Cách ăn chơi của các thiếu gia là những tấm gương xấu lôi kéo đám thanh thiếu niên đua đòi, vào đời sống trụy lạc, biến xã hội VN ngày nay đạo đức dân tộc suy đồi đến cùng cực. Không ai hành xử có trách nhiệm đến sinh mạng của người khác, sống chết mặc bây tiền thì cứ bỏ túi.

Tác dụng của đảng CSVN thật là nguy hại vô cùng cho dân tộc. Đảng CSVN cũng thừa hiểu rằng quần chúng nhân dân không còn tin tưởng vào những khẩu hiệu của đảng nữa, cho nên đảng cai trị bằng chế độ công an trị, thẳng tay trấn áp bằng bạo lực và tiến hành một chính sách bưng bít, lừa bịp.

Đảng nhìn trong quần chúng nhân dân, chỗ nào cũng có “những thế lực thù địch” cả, ngay cả những tướng lãnh, văn nghệ sĩ và thành phần ưu tú của xã hội VN là các trí thức chân chính, một lòng yêu nước, cũng bị xem như thế.

Cái sai đậm của đảng CSVN là buộc cán bộ đảng viên học tập theo gương đạo đức của một “thần tượng đã bị sụp đổ”, một pho tượng trống rổng chỉ còn làm cái bia để cho miệng đời mai mỉa.

Cán bộ đảng viên ăn chơi, nhậu nhẹt sa đọa là do tham nhũng. Cán bộ tham nhũng không còn là một điều lạ, mà điều lạ là cán bộ không tham nhũng.

Thật là hết thuốc chữa!

Trúc Giang MN –
Minnesota ngày 20-11-2011

Bài Xem Nhiều