We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 27 November 2014

Hồi Ký Vương Mộng Long " Cuối Đường "

Khóc cho những người nằm xuống

NLG73 Lê Phú Nhuận

 

Hôm nay đã là 2 tháng 5 - 2012. Thế mà những dư âm của ngày 30-4 Quốc Hận vẫn như còn đầy ắp , với những sôi động trong cộng đồng Việt Nam khắp thế giới . Thế rồi một cơn chấn động vụt ào đến làm nổ tung tâm trí , cả một vùng trời kỷ niệm đau thương như oà vỡ , và cứ thế nước mắt trào tuôn không cần kềm chế , vô phương kìm hãm , khi nhận được hồi ký của người chiến hữu Vương Mộng Long , cựu Thiếu Tá Tiểu đoàn trưởng 82 Biệt Động Quân . Trận đánh cuối cùng của các chiến hữu BĐQ vào đúng ngày 30-4-1975,  khi Dương văn Minh ra lệnh buông súng , bàn giao ! Thân xác của bao chàng trai anh dũng đã tan tác trên những vũng máu chan hoà, trên mãnh đất miền Nam hiền hoà.

Chúng tôi không  hề tiến quân ra  Bắc. Chúng tôi chỉ muốn sống trong thanh bình trên vùng đất của chúng tôi , nhưng không có cách  nào khác là phải cầm súng tự vệ , chống lại kẻ xâm lăng .

Khẩu súng của người tự vệ khác với khẩu súng của quân xâm lược . Viên đạn của chúng tôi chỉ muốn đẩy lui quân xâm lược . Vì thế , bất cứ sự chết chóc đau thương nào xãy ra trên mãnh đất bị xâm lược này xuất phát từ kẻ chủ chiến. Cái chết của quân xâm lược không thể đổ lỗi cho ai ngoài cấp lãnh đạo của chúng . Xương máu của chúng tôi đổ ra là cái giá phải trả  của người tự vệ để gìn giữ mảnh đất của chúng tôi , và là tội ác của quân xâm lược . Tội ác ấy của cộng sản VN chồng chất suốt bao nhiêu năm . . .

Và thời thế đã đưa đẩy chúng tôi vào một bàn cờ oan nghiệt , kết thúc vào ngày 30-4-1975 . Bao nhiêu đồng bào và chiến hữu của tôi đã chôn vùi tuổi trẻ trong núi xương , biển máu ấy.  Thời gian tưởng chừng như có thể làm phai nhoà đi một thời lửa đạn , nhưng không , nó chỉ nằm im , ém lại đâu đó , rồi chỉ một cái bật nút , nó lại bung ào ra như một trái pháo vừa được  kích hoả.  Hôm nay , nút bấm đó là mẫu tự truyện của Đường Sơn Đại Huynh Vương Mộng Long. Chào bạn VML trong tư thế chào của người lính . Và những giòng nước mắt này xin dành cho những người đã nằm xuống , không chỉ riêng trên đoạn cuối đường của quốc lộ 1 năm ấy , mà còn trên khắp nẻo đường đất nước thân yêu của chúng ta . Máu xương ngập lối , uất hận ngút trời . Tiếng thét kêu trời của bạn cũng là tiếng thét thoát ra khỏi lồng ngực của bao người đồng cảnh ngộ. Thượng đế hỡi có thấu cho Việt Nam này . . .

(NLG73 Lê Phú Nhuận)


 

Xin mời đọc hồi ký " Cuối Đường " để chia xẻ với chúng tôi :

 

-----------
 

Cuối Đường

thelastsoldier

“Vinh quang một đời của người cầm quân là một món nợ.
Nợ với tổ quốc, với đồng bào, và với thuộc cấp của mình!”
Bảy giờ sáng ngày Ba Mươi tháng Tư 1975, tôi dừng quân trên một tọa độ cách thủ đô Sài-Gòn hơn hai chục cây số.  Nơi đây là đoạn cuối của quốc lộ 1.  Chỉ còn một quãng đường ngắn ngủi nữa thôi, quốc lộ 1 sẽ chấm dứt.  Tối qua, 29 tháng Tư chúng tôi rút về tới Long-Bình thì Bộ chỉ huy Liên đoàn 24 Biệt Động Quân đã di chuyển đi đâu mất rồi.  Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân của tôi như con gà con lạc đàn.  Tôi vào máy gọi Liên đoàn 24 BĐQ, gọi Tiểu đoàn 81 BĐQ, gọi Tiểu đoàn 63 BĐQ, và gọi cả Sư đoàn 18 BB/ HQ trên tần số riêng.  Tần số nào cũng rối loạn.  Tôi không bắt liên lạc được với ai.  Nửa đêm, thình lình máy vô tuyến đưa lệnh, chẳng hiểu của giới chức nào, chỉ vắn tắt một câu:
- “Các đơn vị cấp tốc rút về phòng thủ Sài-Gòn!”tan-cong
Mờ sáng Ba Mươi tháng Tư, chúng tôi bỏ Long-Bình, rồi từng bước, rút về hướng thủ đô, để “phòng thủ thủ đô”.  Cuối cùng, lết bộ tới Cầu Hang (Biên-Hòa) thì mỏi mệt quá, tôi cho quân dừng lại nghỉ.  Trên quốc lộ 1, cách Cầu Hang chừng hai trăm mét, hơn sáu chục người lính sống sót cuối cùng của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân bơ vơ.  Vào giờ này, quân số Tiểu đoàn 82 BĐQ bách thắng của Quân khu 2 còn lại chừng nửa đại đội, với bốn sĩ quan là tôi (Thiếu tá Vương mộng Long), Thiếu úy Thủy, Trung úy Trâm, Chuẩn úy Thiều cùng hơn sáu mươi binh sĩ.  Ông Đại úy Ngũ văn Hoàn (TĐP) chết đêm 28 tháng Tư.  Trung úy Đăng mất tích.  Thiếu úy Châu đi thụ huấn chưa về. Thiếu úy Học, Thiếu úy Hoàng vắng mặt từ chiều 27 tháng Tư, trước khi tiểu đoàn vào vùng.  Chuẩn úy Gấm, Chuẩn úy Trung, hai ông Chuẩn úy Phước (Lê văn Phước, Nguyễn văn Phước) cùng Trung úy Phước (Trần văn Phước) thất lạc trên đường rút lui từ Hố-Nai về Long-Bình ngày hôm qua.  Từ nửa khuya, những đơn vị đồn trú ở Long-Bình đã bắt đầu theo cơ giới rút đi.
Lúc tôi tới Cầu Hang thì những vị tu hành áo vàng của ngôi chùa Theravada bên kia lộ đang lên xe chạy về hướng Sài-Gòn.  Giờ này họ đã quay trở lại.  Họ trở lại chùa, vào phòng, khóa chặt cổng ngoài.  Có một điều lạ lùng, khác với những lần rút lui từ Quảng-Đức và từ Long-Khánh, đó là, trong lần rút bỏ Biên-Hoà này, tôi không thấy dân chúng bồng bế nhau chạy theo quân đội.  Chiếc xe nhà binh sau cùng di chuyển qua Cầu Hang đã khuất bóng từ lâu.  Khoảng tám giờ sáng thì không còn ai đi sau chúng tôi nữa.  Sau lưng chúng tôi, thành phố Biên Hòa có lẽ đã rơi vào tay Cộng Quân.  Trước mắt chúng tôi là quốc lộ 1, dài mút mắt, hướng Sài-Gòn. arvnsoldier51 Cuối trời hướng tây có từng cột khói đen cuồn cuộn bốc lên.  Trong vài túp lá, quán cóc bên đường xe lửa, xác những người bạn Nhảy Dù chết cách đó một vài ngày còn nằm trên sạp tre.  Họ đã hi sinh khi nhổ chốt địch để lấy lại đoạn đường quanh Cầu Hang.  Tôi không còn tâm trí đâu mà lo chôn cất cho những người bạn đã kiêu dũng nằm xuống này.  Chính tôi cũng không rõ số phận chúng tôi sẽ như thế nào trong vài giờ sắp tới.
Mười giờ sáng Ba Mươi tháng Tư năm 1975.  Tôi thẫn thờ rời cái quán cóc bên đường.  Chiếc xe Jeep của Thiếu tướng Lê minh Đảo,Tư lệnh Sư Đoàn 18 BB đã khuất dạng nơi khúc quanh có vườn cây xanh, về hướng Thủ-Đức.  Tư lệnh đã quay lại tìm tôi, nhưng giây phút cuối cùng, chúng tôi không kịp gặp nhau.  Vào giờ phút này, trên máy thu thanh, ông Dương văn Minh đang oang oang ra lệnh cho chúng tôi buông súng.  Ông Dương văn Minh gọi kẻ thù của chúng tôi là “những người anh em”.  Chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ, buổi sáng Ba Mươi tháng Tư năm 1975, cuộc chiến tranh Việt-Nam hai mươi năm đi vào trang chót.  Đứng trên đường tà vẹt, tôi bàng hoàng, ngỡ ngàng tự hỏi:
- “Có phải ta đang trong cơn ác mộng hay không?”
-”Sao chiến tranh lại có thể kết thúc một cách đột ngột, vô lý, và thê thảm như thế này?”
Chua xót thay!  Tôi không mơ.  Tôi đang sống với thực tế phũ phàng.  Thằng Y Don Near nắm chặt sợi dây ba chạc của tôi, nó khóc sướt mướt:
- “Thiếu tá ơi!  Sao lại thế này?  Thiếu tá ơi!  Hu…hu …hu…”bdqksanh
Từ chiếc máy PRC 25, trên lưng nó, trong tần số liên đoàn, có nhiều giọng đàm thoại lạ.  Những hiệu đài không quen, gọi nhau, chửi thề, quát tháo, than van…
Trước mắt tôi, bên kia đường, lá cờ ngũ sắc trong sân chùa bay phất phới.  Hai bên quốc lộ, những bộ rằn ri còn bố trí, thế tác chiến sẵn sàng.  Những người lính Biệt Động đang chăm chú nhìn cấp chỉ huy của họ.  Họ nhìn tôi với ánh mắt của những đứa con nhỏ đang nép mình trong lòng mẹ, vào những buổi ngoài trời giông bão, mịt mù sấm sét.  Cảnh này quen thuộc lắm.  Những khi tình hình nghiêm trọng, thuộc cấp của tôi thường chờ đợi quyết định của tôi với những cái nhìn kính cẩn, tin tưởng và thương yêu như thế này.  Trong mười năm chiến trận, đã có đôi lần tôi bị bỏ lại đàng sau.  Đôi lần đơn vị tôi bị dồn vào tình trạng vô cùng nguy khốn, thập tử nhứt sinh, nhưng thấy con chim đầu đàn còn hiện diện, những người lính dưới quyền tôi vẫn không xiêu lòng, không bỏ vị trí.  Nhưng sáng nay, trước mắt họ, người chỉ huy của họ đã trở thành một hình nhân, bất động.  Thực sự, tôi không biết phải làm gì bây giờ.  Radio chỉ có một chiều; tôi chỉ nghe được; không trả lời được; không hỏi lại được.  Có ai cho tôi biết ông Dương văn Minh lên chức Tổng thống lúc nào đâu?  Tôi biết hỏi ai rằng ông Tổng thống này là thiệt hay giả?  Theo tôi biết, ông tướng này, sau khi giết cụ Diệm để tiếm chức, đã bị các nhóm khác hất cẳng về vườn lâu rồi.  Sao tự nhiên ông ta trở thành Tổng thống VNCH được nhỉ?  Sao một thường dân có thể lên làm Tổng thống dễ dàng thế nhỉ?  Đùng một cái, sáng nay, ông ta ra lệnh cho tôi buông súng.  Đầu hàng?  Đầu hàng cách nào?  Đầu hàng ở đâu?  Đầu hàng với ai?  Giữa đồng không, tôi đứng chết trân.  Mặt trời lên, thày trò chúng tôi lặng lẽ nhìn nhau.  Những bàn tay đen đủi Bana, Jarai, Rhadé đưa lên quệt nước mắt.
Hướng Tân-Uyên có tiếng trống múa lân thùng! thùng!…thùng… thùng… nghe lớn dần… lớn dần.  Tới Cầu Hang, đoàn múa lân quẹo phải, về tây.  Tôi thấy một cán binh Cộng-Sản vai quàng AK, vác lá cờ Mặt Trận Giải-Phóng Miền Nam đi đầu, tiếp đó là cái đầu lân nhảy múa, rồi một đoàn người điên cuồng, la hét, hoan hô, đả đảo, nối theo sau.  Tiếng loa vang vang,
- “Hoan Hô Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam!”
- “Hoan hô!…Hoan hô!”
Thùng… thùng…  Hoan hô… Hoan hô… Thùng… thùng…  Tiếng loa và tiếng trống lân dập dồn theo gió.  Lá cờ Giải-Phóng khổng lồ, xanh đỏ, uốn éo trong gió.
- “Đù má tụi mi!  Tụi mi chọc giận ông phải không?”  Chửi thề xong, ông Hạ sĩ Phi xả hết một dây đạn M60 về hướng đoàn múa lân.  Chỉ là bắn dọa.  Đạn bay cao.  Đoàn múa lân như ong vỡ tổ, chạy tán loạn.  Chiếc đầu lân bị vứt chỏng chơ giữa đường.  Thằng VC vác cờ cũng quăng cờ, bò lê, bò càng tìm chỗ tránh đạn.
- “Thôi!  Ta đi!” Tôi ra lệnh cho những người lính cuối cùng của đơn vị.
- “Mình đi đâu bây giờ, Thiếu tá?”  Thiếu úy Thủy băn khoăn hỏi.
- “Thì cứ đi về hướng Sài-Gòn, tìm xem có ai ở đâu đó, mình nhập vào với họ.”  Tôi trả lời Thủy.  Mà chính tôi cũng chẳng biết mình sẽ dẫn đơn vị đi về đâu!  Không mục tiêu, chúng tôi đi rất chậm.
- “Thùng… thùng…hoan hô…hoan hô”.  Chúng tôi đi được chừng nửa cây số thì đoàn múa lân lại tiếp tục theo sau lưng.
- “Hoan hô!  Hoan hô cái mả cha tụi mi!”  Hạ sĩ Phi lại đổ quạu.
- “Cành!  Cành!  Cành… cành… cành!  Cành!”  Một dây đạn đại liên M60 lại quét ngược về đàng sau.  Vẫn chỉ là bắn dọa.  Đạn bay cao.  Thằng VC vác cờ lại vội quăng cờ núp đạn.  Cái đầu lân lại bị ném chỏng chơ trên mặt đường.  Đoàn múa lân lại tán loạn chạy chết.  Chúng tôi tiếp tục lê gót theo đường, về hướng Sài-Gòn.  Cứ đi được vài trăm mét, chúng tôi lại dừng chân nghỉ mệt.  Có mục tiêu nào cho chúng tôi tìm tới đâu mà phải vội vàng?  Khi đi ngang khu núi đá vôi Bửu-Long thì thằng Don đưa ống nghe cho tôi:
- “Có Hai Lẻ Bảy (207) gọi Thái Sơn!”bdq_loisuoi2
Tôi nghe tiếng Trung tá Hoàng kim Thanh, Liên đoàn trưởng LĐ24/BĐQ:
- “Thái Sơn!  Đây Hai Lẻ Bảy!  Anh cho hai chiếc xe tới đón chú và con cái về Đường-Sơn Quán.  Các đơn vị đang tập trung ở đây chờ lệnh!”
Giọng anh Thanh vẫn bình tĩnh, từ tốn, không có vẻ gì là lo lắng.
Nghe ba tiếng “Đường-Sơn Quán”, tôi chợt nhớ thời 1971-1973, ở BCH/BĐQ/QK2 có một biệt đội Biên-Vụ (Viễn Thám) do tôi thành lập, huấn luyện, và trực tiếp chỉ huy.  Sáu toán Biên-Vụ trang bị AK, dép râu, nón tai bèo, nghênh ngang, xuôi ngược trên các tuyến đường Hồ chí Minh, dọc theo biên giới Việt, Miên, Lào, trong căn cứ địa 609, 613, 701, 702, 740.  Những cú nổ mìn phá ống dẫn dầu, phá xe tải, bắt cóc cán binh, dọc Trường-Sơn Đông, phá Ngầm 24 trên sông Sésan là một mối đe dọa kinh hoàng hàng ngày đối với đoàn quân xâm lăng vào từ phương bắc.  Chuyện chúng tôi xuất, nhập các mật khu, huấn khu địch, xảy ra như cơm bữa.  Những tay súng dưới quyền tôi cũng yêng hùng, ngang tàng như các hiệp sĩ trong phim Hồng-Kông.  Họ quen gọi tôi là “Anh Hai”.  Bất cứ giờ nào, dù đang lội trong rừng gai mây Plei-Trap Valley hay trong rừng khọt Nam Lyr (Cambốt), họ vẫn nghe được tiếng “Anh Hai” của họ, từ một đỉnh núi cao nào gần đó.  Thỉnh thoảng, “Anh Hai” lội rừng chung với họ để thi hành những nhiệm vụ gay go do Quân-Đoàn 2 giao phó.  Tôi và họ, thương nhau như anh em cùng mẹ, cùng cha.  Khi cuốn phim “Đường-Sơn Đại-Huynh” được chiếu trên màn ảnh các rạp Diệp-Kính, Diên-Hồng, Thanh-Bình, ở Pleiku, thì đàn em của tôi gán cho tôi biệt danh “Đường-Sơn Đại-Huynh” chỉ vì tôi có cái tên Long, trùng với tên ông Lý tiểu Long, tài tử chính của phim này.  Sau khi “Anh Hai” vào Plei-Me nhận Tiểu đoàn 82/BĐQ/BP, đơn vị này bắt đầu đánh giặc với cái phong thái “Đường Sơn” khiến quân thù vừa nghe tên đã khiếp vía…  Tôi ở Cao-Nguyên mút mùa, làm sao biết được ở Sài-Gòn cũng có cái quán được đặt tên như trong phim võ hiệp của Tàu?  Tôi mở miệng định hỏi anh Thanh tọa độ của Đường-Sơn Quán thì máy liên đoàn đã cúp.  Tôi đành cho anh em ngừng lại bên đường, chờ đợi.  Chừng nửa giờ sau, hai chiếc xe be từ hướng Thủ-Đức chạy lên.  Xe ngừng, ông tài xế ló đầu ra lớn tiếng hỏi,
- “Có phải Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân đó không?”
- “Phải rồi! 82 đây!”
- “Lên xe đi!  Tôi chở các ông về Đường-Sơn Quán!”
- “Có ai ở đó không?”
- “Đông lắm!  Có lẽ các ông là những người tới sau cùng”
Xe trở đầu, chúng tôi lên xe.  Tôi, Trung úy Trâm và thằng Don ngồi trên cabin chiếc xe đi đầu.  Chú Thủy và chú Thiều đi xe sau. T hành xe be thấp hơn thành xe GMC, không có thế để đứng, những người lính đành phải ngồi chồm hổm.  Ông tài xế xe be, cười rất tươi,
- “Hòa bình rồi!  Hòa bình rồi!  Hết đánh nhau rồi các anh ơi!”
Tôi là một người lính nhà nghề, nên dù cho “hòa bình” có ở ngay trước mắt, hiệu lệnh phản phục kích xe vẫn được tôi ân cần nhắc nhở cho thuộc cấp.  Hai khẩu M60, một của Hạ sĩ Phi, một của Trung sĩ Tài, được đặt trên nóc buồng lái của hai chiếc xe be.
Xe đang bon bon trên con lộ vắng thì khựng lại, bò từ từ.  Trên mặt lộ, đàng xa, có người dang tay phất phất lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, ra hiệu cho xe chạy chậm lại.  Tới gần, tôi nhận ra một du kích Việt- Cộng, quân phục xanh, mũ tai bèo, dép râu.  Tên du kích cột lá cờ trên cánh tay phải, cờ phất lia, phất lịa. Tay trái nó dương họng khẩu AK 47 hướng vào đầu xe của tôi.  Xe vừa ngừng thì hai bên đường có tiếng la,
- “Bắn!  Bắn!…  Không cho đứa nào chạy thoát!”
Rồi thì tiếng súng đủ loại rộ lên.  Những người lính Việt-Nam Cộng-Hoà trên hai chiếc xe be vừa ngừng trên mặt quốc lộ trở thành những cái bia sống.  “Hòa bình” rồi.  Tại sao người ta nỡ đang tay giết chúng tôi, khi chúng tôi đang trên đường về điểm tập trung để buông súng?
- “Choác! Choác! ….Choác!”
Tôi tối tăm mặt mũi vì loạt đạn bất ngờ.  Tấm kiếng che gió của chiếc xe tôi đang ngồi lãnh cả chục viên AK của loạt đạn đầu tiên.  Mảnh thủy tinh văng rào rào trên đầu, cổ, mặt mũi tôi.  Ông tài xế gục trên vô lăng.  Thùng nước xe bể, hơi nước phun “phì…phì…” che kín đầu xe.  Tôi phóng nhanh xuống đường.  Sau một cái lạng mình, tôi đã ở đàng sau thành xe.  Tôi rút khẩu Colt 45, vẩy một viên về hướng thằng du kích.  Viên đạn trật mục tiêu.  Một BĐQ vừa nhảy khỏi xe, té trên mặt đường.  Hình như anh ta bị trúng đạn, không ngồi dậy được.  Tôi giựt khẩu M16 trên tay anh,
- “Đưa tao!”arvn_soldier51
Tôi kéo cơ bẩm.  Đạn tuôn ra khỏi nòng.  Tên du kích giãy giụa trên vũng máu.  Lá cờ Mặt-Trận phủ trên mình thằng du kích.  Tôi ghếch mũi súng về lề phải con đường, nơi hàng chục họng AK và B40 đang đua nhau nã đạn vào hai chiếc xe be.  “Oành!”.  Một trái B40 nổ ngay trước mặt tôi.  Tôi cảm nhận rõ ràng nhiều mảnh B40 và đá, sỏi đã ghim vào cẳng mình.  Chủ nhân khẩu M16 mà tôi đang xử dụng bị bay mất cái đầu.  Máu từ cổ anh xịt thành vòi; phần thân thể còn lại của anh giựt giựt trên mặt lộ.  Khẩu B40 cách tôi chỉ vài sải tay, ngay bên kia đường.  Tôi nhắm đầu thằng xạ thủ B40 quạt một tràng M16.  Ngón tay tôi tiếp tục siết cò.  Địch đông lắm.  Chúng đứng lố nhố trong vườn có những luống đậu, dây leo.  Một băng đạn ria đại vào đây cũng có thể hạ gục cả chục tên.  Chúng tôi không dự trù sẽ vướng vào một cuộc giao tranh vừa bất ngờ vừa điên cuồng này.  Chúng tôi ở vào cái thế không biết xoay trở cách nào để phản công.  Thôi, đành liều mạng!  Ai đang ở đâu nằm tại đó, chống trả.  Cũng may, đêm qua, ở Long-Bình, chúng tôi có cả kho đạn lận lưng cho ngày hôm nay.
Đạn địch từ hai bên đường trước mặt tôi tưới như mưa vào những người lính còn đứng trên xe.  Những thân hình rằn ri rơi rụng xuống mặt lộ.  Có người chân vừa chạm đất, đã lăn ra chết.  Có đôi người vừa nhảy ra khỏi sàn xe, còn lơ lửng trên không, tay đã bóp cò, nã đạn về hướng địch.  Hầu như ai cũng lo bóp cò.  Không ai để ý đến thân thể mình đã trúng thương nơi đâu.  Hạ sĩ Đinh Lít nằm nghiêng dưới gầm xe, tay trái anh đã trúng đạn, xuội lơ, tay phải ôm cứng khẩu M16.  Anh nằm trên vũng máu, mặt anh tỉnh như không.  Mặc cho đạn địch cài dày dặc xung quanh.  Với một tay còn lại, anh liên tục bắn hết băng đạn này, tới băng đạn khác.  Lựu đạn miểng, lựu đạn nổ, lựu đạn cay, B40, M72, chớp nhoá, “Cành!  Cành!…”  – “Choác!  Choác! … “  – “Xoẹt!  Xoẹt!…”  – “Oành!  Oành!..”   Hai bên đường, địch vẫn tiếp tục ào ra.  Xác Việt-Cộng đè lên nhau từng lớp, ngổn ngang.
- “Cành! Cành! Cành!…”  Trên xe, Hạ sĩ Phi vừa rải từng tràng M60 về phía quân thù, vừa la rú như người mất trí,
- “Đù má tụi mi ! Chết cùng chết!  Ông chết!  Tụi mi cũng chết!”bb161
Trưa Ba Mươi tháng Tư, trên đoạn cuối của quốc lộ 1, một cuộc hỗn chiến loạn đả xà bần đã diễn ra giữa thanh thiên, bạch nhựt.  Dân chúng tràn ra đường, xem hai bên đánh nhau.  Có đôi ba người dân thường, liều mạng chạy vào khu giao tranh, mang vác những Biệt Động Quân bị thương đem đi cứu cấp.  Khẩu đại liên của Trung sĩ Tài trên xe thứ nhì đã được di chuyển xuống lề đường.  Điều lạ là, hai phụ xạ thủ của Tài lại là hai em bé trai, tuổi khoảng mười hai, mười ba.  Như vậy có nghĩa là, người phụ xạ thủ và tải đạn của Tài đã bị loại ra ngoài vòng chiến.  Đạn nổ rền trời.  Đạn bay qua.  Đạn bay lại.  Việt-Cộng chết.  Biệt Động Quân chết.  Dân chúng cũng chết!  Những người lính Biệt Động cuối cùng của Plei-Me, vùng 2, ruột đổ lòng thòng vẫn ôm súng bắn như khùng, như điên.  Hết đạn, những con cọp giãy chết đành dùng tất cả những gì cha mẹ ban cho để tự vệ: Nắm đấm, gót chân, đầu gối, khuỷu tay và cả…răng cũng được xử dụng.  Trong phút giây tuyệt vọng, những chiến sĩ Việt-Nam Cộng-Hoà lăn xả vào địch, la hét, vật lộn, đấm đá, cào cấu, cắn xé…  Binh nhứt Liêu chí Cường (gốc Chợ-Lớn) trước khi chết, còn cố ôm cứng một thằng địch để cắn vào mặt nó . Tôi biết chắc người đó là chú Cường, vì cái khăn len xanh cố hữu, bốn mùa quấn trên cổ chú (cái khăn của người tình phụ).
Tôi đã bắn hết số đạn mang theo trên lưng người lính nằm chết dưới chân tôi.  Tôi vừa rướn người, quơ quào được một băng M16 trên sàn xe thì đạn 12,7 ly của địch từ xa ào ào bắn tới.  Có tiếng trung úy Trâm thét lên, bên hông trái xe,
- “Thái Sơn ơi!  Hình như tank tới !”
- “Làm gì có tank!  Chỉ có 12,7 ly thôi!”
Đạn phòng không của Việt-Cộng quét sát mặt đường nhựa, toé lửa khi nổ lần thứ hai.  Những viên 12,7 ly nổ “đúp” (hai lần), chui qua thân người bị đạn, hất thân mình người đó lên khỏi mặt đất, đục những lỗ to như bàn tay trên thân thể nạn nhân.  Trên mặt lộ là cả chục xác Biệt Động Quân không toàn thây.  Khẩu M60 của Hạ sĩ Phi đã gãy nát.  Hạ sĩ Phi vỡ óc.  Hạ sĩ Đinh Lít cũng vỡ óc.  Sáu bánh xe be xẹp lép.  Chiếc xe nằm bẹp xuống mặt đường.  Trên sàn xe, trên mặt lộ, chỗ nào cũng ngập máu.  Máu đọng thành vũng, máu chảy tràn xuống ruộng.  Bên tôi, không còn khẩu M16 nào hoạt động.  Những Biệt Động Quân đi trên xe thứ nhứt có lẽ đã chết gần hết.  Những người đi trên xe thứ nhì đang là mục tiêu cho khẩu 12,7 ly. T ôi thấy họ rút vào ruộng mía bên phải quốc lộ.  Đám dân đứng xem đánh nhau, bị trúng đạn cũng nhiều.
Súng của tôi lại hết đạn rồi.  Tôi trườn ra giữa đường để nhặt khẩu AK và giây đạn của tên du kích.  Khẩu đại liên của Trung sĩ Tài đã gãy làm đôi.  Hai em bé tải đạn cho Tài đều chết vì trúng đạn 12,7 ly.  Trung sĩ Tài đang lăn lộn trên vũng máu.  Tôi lăn mình vài vòng, tới bên Tài.  Tài nhìn tôi, thều thào,
“Chạy đi!…  Ông thày…  chạy đi!…”cautancang
Tôi định xốc Tài lên để dìu anh vào lề đường thì hai mắt anh đã lạc.  Đạn bay xém bên mình tôi, nổ “toang toác!” trên mặt lộ.  Chợt ai đó nắm sợi dây ba chạc sau lưng tôi, lôi tôi chạy về bờ ruộng bên trái quốc lộ.
- “Anh em chết hết rồi . Chạy đi, thày ơi!”   Đó là tiếng Trung úy Trâm.
“Toác!  Toác!”  – “Chíu! Chíu!”  đạn địch đuổi theo.  Tôi cắm đầu chạy.  Chạy được một đỗi thì tôi đuối sức, lảo đảo.  Trâm bèn ghé vai, vác tôi lên lưng.  Trâm khỏe như một đô vật.  Trâm cõng tôi, nhanh chân lẩn vào rặng dừa bên trái lộ.  Hết vạt dừa, Trâm đặt tôi xuống đất.  Chúng tôi lội trên mảnh ruộng vừa gặt xong.  Chân tôi vướng gốc rạ.  Tôi ngã bổ nhào trên mặt ruộng.  Trên mặt ruộng có những đồ chơi của trẻ con vương vãi đó đây.  Một con búp bê bằng nhựa, một cái xe hơi bằng nhựa, những chén bát nhỏ tí, cũng bằng nhựa, màu mè xanh đỏ.  Tôi chợt nhớ tới gia đình vợ con tôi ngoài Ban Mê Thuột.  Chắc vợ con tôi đã chết hết.  Tôi nghĩ tới đất nước tôi.  Đất nước tôi đã mất.  Đơn vị tôi đã tan tác.  Một phút bất thần, phẫn uất, tôi rú lên như con thú,
- “Ôi!…  Ôi!…  Ông Trời ơi!…  Ông Trời ơi! …ơi. ..ơi…”
Tôi rút khẩu súng Colt ra, kê nòng súng vào mang tai mình, bóp cò.  Bàn tay như sắt nguội của Trung úy Trâm phạt ngang một cú Karaté.  Viên đạn bay lên trời.  Khẩu Colt văng trên mặt ruộng.
- “Trâm ơi!  Làm ơn! …  Cho anh chết!  Trâm ơi!…”   Nước mắt dàn dụa, tôi thất vọng, van lơn.  Chẳng nói chẳng rằng, Trung úy Trâm lầm lì, xốc vai tôi bước đi.  Ngoài lộ vẫn còn lác đác tiếng đạn bắn qua, bắn lại và tiếng lựu đạn nổ.  Trâm lột sợi dây ba chạc của tôi, của anh, mũ sắt của tôi, của anh, vứt trên một gò mả.  Trâm từng bước dìu tôi về hướng xóm làng gần đó. soldier21 Giờ đó tôi như con sên yếu đuối, mặc cho chú Trâm tha lôi đi đâu thì đi.  Chúng tôi vừa đụng đầu một con lộ đất thì một nông dân đạp xe tới chặn đường,
- “Ông thiếu tá bị thương hả?”
Thói quen, ngược đời, đi trận tôi thường đeo lon trắng.  Về nhà tôi lại đeo lon đen.  Người dân đã nhìn thấy cặp lon trắng của tôi.  Ông cụ có vẻ động lòng,
- “Ông trung úy lấy xe này đưa thiếu tá chạy đi!  Luẩn quẩn ở đây lâu không tốt đâu!”
-”Cám ơn cụ!”  Trâm lanh tay nhận chiếc xe đạp thồ từ tay người dân tốt bụng.
Con lộ đất dẫn tới một văn phòng Hội Đồng Xã, cửa đóng, khóa ngoài.  Rồi con lộ đất dẫn vào một ngôi nhà thờ xứ đạo.  Trong sân nhà thờ, lố nhố nhiều người đang tập trung.  Một cái rờ-moọc xe GMC chất đầy súng ống nằm ngay giữa sân.  Đó đây, từng đống quân trang, quân phục VNCH vừa bị cởi bỏ.  Trâm dựng cái xe đạp ngay giữa sân.  Chú đứng quan sát một phút, rồi thở dài,
- “Cởi quân phục vứt đi thì chỉ còn cái áo mayor với cái quần xà-lỏn.  Mình làm sao đây, Thái Sơn?”
Tôi rờ rẫm những khẩu M16 trên chiếc rờ-moọc, “Lên đạn. Dựng khẩu súng thẳng đứng. Đưa nòng súng vào dưới cằm.  Lách ngón chân vào cò súng. Nhấn ngón chân xuống. Thế là xong!”  Tôi đang suy nghĩ, sắp thử một cú tự giải thoát nữa, thì chú Trâm van lơn,
- “Thày ơi! Thôi đi thày ơi! Đừng bỏ em, thày ơi! “quando41
Trung úy Trâm ôm chặt vai tôi, khóc nức nở như một đứa bé.  Thày trò tôi ôm nhau. “Hu … hu… hu….”  Những người đứng gần đó, bị nỗi đau đớn chung lôi cuốn, cũng ôm mặt khóc theo.  Như giữa đám ma, cả một khu sân nhà thờ xứ đạo vang lên tiếng khóc.  Một đám ma không có người chết, mà những người đang đứng đây, chẳng có họ hàng gì với nhau, nhìn nhau, ôm nhau, cầm tay nhau, chúng tôi khóc vùi.
Một thanh niên cưỡi chiếc Honda 90 từ hướng quốc lộ 1 phóng tới. Anh kè sát bên tôi, nói nhỏ :
- “Thiếu tá lên xe, em chở đi trốn.”
Trâm đẩy tôi lên yên sau xe, chú leo lên theo.
- “Chúng nó (VC) chết nhiều lắm!  Chúng nó bắt được mấy anh lính bị thương, tra khảo họ xem cấp chỉ huy của họ là ai, đâu rồi?  Họ khai có ông thiếu tá, chắc chết rồi.  Chúng kiểm xác chết.  Không có xác thiếu tá.  Chúng đang túa đi lùng.  Em sẽ đưa thiếu tá đi dấu.  Không để cho chúng nó bắt.”
Xe chạy trong đường làng quanh co một đỗi thì ngừng.  Anh thanh niên dựng xe, đập cửa một căn nhà gỗ, mái dừa,
- “Mẹ ơi!  Con đây!  Hải đây!  Mẹ mở cửa cho con!”
Cánh cửa hé mở, một bà già, tiếng Bắc Di Cư:
- “Đánh nhau, súng nổ ầm ầm mà mày cứ nhơn nhơn ra đường.  Về nhà đóng cửa lại cho tao đỡ lo!”
- “Vâng con về ngay.  Mẹ cho con gửi hai anh này.  Có ai hỏi, mẹ cứ nhận là hai con của mẹ.  Anh Cả, anh Hai đi lính vắng nhà lâu rồi, chòm xóm không nhớ mặt đâu!  Mẹ làm ơn, làm phúc.  Con đi một chút nữa con về ngay.  Mẹ đừng lo!”
Bà mẹ nhìn tôi và Trâm, bà biết ngay hai đứa chúng tôi là sĩ quan QLVNCH đang bị truy đuổi.  Bà cụ không dài dòng hỏi han.  Cụ đưa tay chỉ cho tôi cái tủ đứng góc nhà,
- “Hai đứa lấy quần áo ‘si-vin’ của thằng Hải mà mặc vào ngay đi!  Đưa quần áo nhà binh cho tao đi dấu!”  Thoáng chốc, tôi và Trâm thành hai anh dân sự.  Bà cụ Bắc Kỳ đã chôn hai bộ rằn ri dưới bùn ruộng muống sau nhà.
Trước sân, anh thanh niên (Hải) con bà cụ đang bơm lốp xe.  Tôi và Trâm ngồi uống nước vối nóng, nghe ngóng động tĩnh.  Chợt, ngoài đường có tiếng đối đáp,
- “Anh kia!  Anh có thấy hai thằng lính rằn ri Ngụy chạy qua đây không?”  một giọng Nghệ-Tĩnh gặng hỏi.
- “Có! Chúng nó chạy thẳng sang hướng Thủ-Đức.  Đấy!  Con đường quẹo phải!  Chổ cây dừa nghiêng…”
Tên Việt-Cộng chỉ huy liếc mắt vào trong nhà. Thấy tôi và Trâm, nó hỏi trống không,
- “Chứ hai anh kia làm chi rứa?”
- “Anh Cả và anh Hai của tôi đó!”  Hải nhanh miệng.
- “Thưa ông, hai thằng con tôi đi lính ngoài miền Trung.  Tụi nó mới đào ngũ về nhà được mấy tuần.  Xóm này ai cũng biềt.”   Bà cụ phân trần.
Thằng Việt-Cộng hết nghi, quay sang đồng bọn, nó ra lệnh,
- “Nhanh lên!  Đuổi theo chúng nó nhanh lên!  Hướng cây dừa nghiêng.  Đừng cho chúng nó chạy thoát!  Các đồng chí cẩn thận đấy!  Tụi nó có súng!”
Rồi tiếng chân người huỳnh huỵch chạy đi, xa dần.  Bà già lấy khoai lang luộc đưa cho chúng tôi ăn đỡ lòng.  Anh Hải rồ máy xe.  Nửa giờ sau anh trở về,
- “Thiếu tá đi được rồi!  Quân của chúng nó đi hết rồi.”
- “Hai con có còn tiền để đi xe về quê không?  Nếu không mẹ cho!” bà cụ ân cần.
- “Cám ơn bác.  Chúng cháu còn tiền đây.  Chúng cháu mới lãnh lương.  Mải lo đánh nhau, chưa tiêu đồng nào.”  Tôi cảm động nói không nên lời.  Bà già nhìn chúng tôi, ánh mắt bà chứa ẩn một tấm tình thương xót bao la.
- “Thưa Mẹ!  Con đi!”
- “Thưa Mẹ!  Con đi!”
- “Anh đi nhé, Hải!  Cám ơn Mẹ và em vô cùng!”
Lần đầu tôi gọi một người không sinh ra tôi là Mẹ.  Tôi gọi bà là Mẹ, không ngại ngùng, như thể bà đã là Mẹ tôi, đã sinh ra tôi.  Tôi và chú Trâm bước ra vườn sau, theo bờ ruộng rau muống, leo lên con lộ đá đi về hướng Thủ-Đức.  Tôi biết sau lưng tôi, Mẹ và chú Hải còn trông theo.BE026033
Hai đứa tôi nhanh chân nhập vào dòng người hướng về Thủ-Đức.  Chợt sau lưng tôi có tiếng gọi, “Thái Sơn ơi! Trâm ơi!”    Thì ra người gọi chúng tôi là Thiếu úy Trần văn Thủy . Ba thày trò tôi không dám lớn tiếng hỏi han nhau về những gì đã trải qua.  Chúng tôi đi như những người dân chạy loạn đang tìm đường về nhà, sau khi im tiếng súng.  Chúng tôi vào Thủ-Đức.  Nhà nhà, cửa đóng kín mít.  Vài chiếc xe Cảnh-Sát cháy dở dang.  Vài tiệm buôn bị đốt phá.  Trong phố đã xảy ra cướp bóc, hôi của.  Cổng Trung-Tâm Cải-Huấn Thủ-Đức mở toang.  Sân nhà lao vắng tanh.  Tội phạm mới ra khỏi khám đang lộng hành (?)  Nhiều người tay mang băng đỏ chở nhau trên Honda, trên xe Ford Cảnh-Sát.  Xe chạy nhanh như bay, qua lại nhiều lần trên đường phố.  Tới chợ Thủ-Đức, chúng tôi may mắn đón được chiếc xe Lamb chạy đường Thủ-Đức, Thị-Nghè, giá sáu trăm đồng một người.  Chiếc xe Lamb bò ì ạch vì quá tải.  Xe chúng tôi qua mặt từng đoàn người bận quần đùi, áo thun, chân đất, đang chen vai nhau, đi về hướng thủ đô.  Tôi nhận ra, trong đoàn người áo thun, quần xà lỏn đang đi dưới đường, có Thiếu tá Nguyễn hữu Tài, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 81 Biệt Động Quân.  Có lẽ anh ta cởi bỏ quân phục nơi Đường-Sơn Quán (?)
Còn cách ngã ba xa lộ Đại-Hàn chừng hơn trăm mét, chúng tôi phải xuống xe đi bộ vòng qua một khu ao cá và ruộng nước bên trái quốc lộ, vì giữa đường có một chiếc tank T54 đang cháy.  Có vài cán binh Cộng-Sản Bắc-Việt ôm AK chặn không cho bộ hành và xe cộ qua lại đoạn đường này.  Lội hết vạt ruộng thì thày trò tôi tới xa lộ Đại-Hàn.  Lúc này, trên xa lộ, tank T54 và xe chuyển quân của CSBV đang nối đuôi nhau hướng về Sài-Gòn.  Sau khi cuốc bộ một đỗi, chúng tôi tới cây cầu đúc.  Qua cầu, chúng tôi lẫn trong biển người xuôi ngược.
Chúng tôi về tới Thị-Nghè thì mặt trời xế bóng.  Giữa cầu Thị-Nghè là một chiếc M41 đứt xích vì B40. C hiếc chiến xa nằm bẹp, bụng xe đè sát mặt cầu.  Trên pháo tháp, có vết máu đã khô, nhưng không thấy xác người chết.  Bên cạnh đó, vương vãi vài bộ quân phục Việt Nam Cộng Hòa, dây đạn, nón sắt, ba lô…horrible_boulevard_original
Tôi không dám về nhà mẹ tôi, sợ trong lúc tình hình lộn xộn, chòm xóm biết mình là sĩ quan QLVNCH, sinh chuyện không hay.  Để hai người đàn em chờ trên cầu, tôi đi kiếm nhà người quen, xin cho chúng tôi tá túc.  Nhà anh bạn Nguyễn gia Hân của tôi nằm ngay chân cầu.  Bạn tôi là sĩ quan Cảnh-Sát, Trưởng đoàn phòng vệ Toà Đại-Sứ Hoa-Kỳ.  Nhà khóa cửa.  Có lẽ gia đình bạn tôi đã di tản rồi.  Tôi trở lại cùng Trâm và Thủy.  Qua cầu, chúng tôi tiếp tục đi.  Bây giờ, trong phố, người qua lại nườm nượp.  Bên lề đường, sát tường rào Sở Thú, những người đi hôi của đang bày bán đủ thứ, chăn màn, quần áo, chén bát, sách truyện, tranh ảnh, rượu bia…
Quên đời?  Chỉ còn cách uống rượu.  Năm trăm đồng một chai Hennessy.  Ba thày trò tôi kẹp nách mỗi người một chai.  Tôi vẫy tay chận một chiếc xích lô máy để vào Chợ-Lớn, về nhà Trung úy Trần văn Phước; vừa có nơi lạ để nghỉ qua đêm; xóm giềng không biết mình là ai; vừa tìm xem chú Phước còn hay mất.  Chiều rồi, nhưng nhà chú Phước còn mở cửa.  Trước nhà là cái bảng hiệu “Chiêm-Tinh Gia Trần-Cẩm, Chuyên Bói Bài, Coi Chỉ Tay, Đoán Vận-Mệnh”.  Bác Cẩm là thân sinh của chú Phước.  Xe ngừng, tôi vừa bước xuống đất thì Phước từ trong nhà ào ra ôm chầm lấy tôi, “Ôi! Anh Hai! Anh Hai! Mừng quá! Anh Hai ơi!”  Thì ra trong cuộc lui binh dưới mưa pháo ngày 29 tháng Tư, Phước bị tụt lại đàng sau, mất liên lạc với tiểu đoàn. Phước không biết chúng tôi rẽ vào Long-Bình.  Phước đi thẳng một lèo, theo xa lộ về tới Sài-Gòn.xe-phao-ma
Đêm 30 tháng Tư bốn anh em tôi ngồi bên nhau, cạn ba chai rượu.  Chú Thủy cho tôi biết rằng, ngay đợt tấn kích đầu của địch, chiếc xe thứ nhì đã bị thương và chết khá nhiều.  Nhiều BĐQ bị thương đã được dân chúng di tản đi cứu cấp.  Thiếu úy Thủy đã cố gắng mở một mũi bọc hông phải để giải tỏa áp lực địch nhưng không thành công, vì địch quá đông.  Đến lúc khẩu phòng không 12,7 ly của địch tham chiến thì Thủy cho anh em phân tán chạy vào nhà dân.  Sau đó Thủy được dân chúng cưu mang, cho quần áo cải trang rút chạy.  Chú Thủy nói, hình như chú Thiều bị thương ngay từ phút đầu, không rõ số mệnh ra sao . Sáng Mồng Một tháng Năm 1975, tôi cho Thủy và Trâm một số tiền để làm lộ phí về quê.  Từ dạo ấy, anh em chúng tôi không còn dịp gặp lại nhau nữa.
Thời gian trôi . . . mười ba năm sau, cũng vào ngày Ba Mươi tháng Tư, đầu làng, cuối xóm, rợp bóng cờ đỏ sao vàng.  Nơi nơi, loa vang vang, bài ca “Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh”.  Có một anh Bắc-Kỳ, tuổi lửng lơ, nửa già, nửa trẻ, đạp xe thồ, đèo theo một cái giỏ, đi rao bán cá khô trong khu ngoại ô Thủ-Đức.  Tới căn nhà gỗ, mái dừa, anh bán cá khô vừa mở miệng hỏi thăm, một bà người Xứ Quảng đã mau mắn trả lời :
- “Đi rồi!  Bán nhà, vượt biên.  Năm, sáu năm rồi!”
- “Xin cám ơn bà.  Xin cám ơn Trời!”  Anh Bắc-Kỳ mừng rỡ.  Bà chủ nhà . . . nghệt mặt, giương mắt nhìn anh chăm chăm, mà chẳng hiểu ý anh.
Anh bán cá khô lên xe, đạp từ từ theo con lộ đất.  Xe tới cổng nhà thờ.  Gác chuông lặng câm.  Sân nhà thờ vắng ngắt.  Trên thánh giá, Chúa cúi đầu.  Không biết Chúa có còn nhận ra anh không?  Qua văn phòng Ủy-Ban Nhân-Dân Xã, đến quốc lộ 1, anh quẹo phải, ngừng lại bên đường ngồi nghỉ.  Nơi đây chỉ cách Đường-Sơn Quán vài cây số.  Cũng ngày này, mười ba năm trước, các chiến sĩ của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân đã tả xung hữu đột trong trận đánh đẫm máu bi hùng cuối cùng.  Những người nằm xuống đã sang thế giới bên kia trong quân phục rằn ri, với cái huy hiệu đầu beo, phía trên phù hiệu đó là một bệt tím có chữ số “82″ màu vàng.  Trưa nay, có lẽ dân chúng trong vùng còn nhớ tới họ, nên cắm vội bên đường đôi bó nhang, hương khói.
Anh bán cá khô ngồi xẹp trên lề cỏ, rưng rưng,
- “Các chú tha lỗi cho anh…”
Hai bên quốc lộ là rừng bạch đàn.  Những cây bạch đàn lớn lên từ lòng đất từng thấm đẫm máu của những anh hùng Plei-Me.  Hình như trong gió, thoảng như ru, có tiếng ai, thiết tha, não nuột:
-”Thày ơi!  Chạy đi!…  Thày ơi!…”nghiatrang_bienhoa1
Ngồi bên bìa rừng, đôi mắt Đường-Sơn Đại-Huynh đẫm lệ…
Hồi Ký cuả Vương Mộng Long, Khóa 2
* Trích Tập San BĐQ Số 20

http://ongvove.wordpress.com/2009/04/28/cu%E1%BB%91i-d%C6%B0%E1%BB%9Dng/

Những cái Nhất của thằng Hồ chí Minh



Hồ Chí Minh là một
thằng đặc biệt, điều ấy không phải bàn cãi, thậm chí còn là thằng cực kỳ đặc biệt có một không ai vì chính hắn ta là người phải chịu trách nhiệm chung nhất, chịu trách nhiệm nặng nhất và chịu trách nhiệm cuối cùng cho thời đại đau thương nhất, dối trá nhất, suy đồi nhất và ô nhục nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam – chính là thời đại cộng sản hoành hành ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh có những cái nhất mà hiếm ai trong người Việt Nam bình thường cũng như người làm chính trị có được cái nhất ấy như
. Xin được liệt kê ra đây 7 cái nhất của tên Hồ Chí Minh để người dân Việt Nam có thể hiểu đúng và hiểu rõ hơn về con người này, và để đám học trò ma quỷ và lũ lâu la đầu trâu mặt ngựa của nó, hãy dày công mà HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH – góp phần sớm đưa chế độ độc tài cộng sản Việt Nam sụp đổ tan tành xác pháo.


7 cái nhất của thằng Hồ Chí Minh:
1- Hồ Chí Minh – KẺ ĐẠI BẤT NGHĨA:



Chị ruột ở quê ra thăm Hồ Chí Minh không tiếp, dù người chị ruột này cũng là người đi theo cách mạng từ rất sớm và từng bị tù đày tra tấn dưới thời Pháp thuộc. Vì vậy mối quan hệ giữa họ vừa là tình huyết thống chị em ruột thịt, vừa là tình đồng chí cộng sản. Khi chị ruột ốm nặng sắp chết ở quê báo tin ra Hồ Chí Minh cũng không về thăm. Sau đó người chị ruột này chết ở quê trong sự nghèo khó cô độc Hồ Chí Minh cũng không về đưa tang.


Có học giả người Đài Loan đưa ra giả thuyết rằng Hồ Chí Minh thật (tức người Việt Nam) đã chết trong nhà tù Trung cộng, sau đó chóp bu cộng sản Trung


Quốc và Việt Nam lúc bấy giờ họp lại và quyết định tìm người đưa vào đóng thay, cuối cùng đã tìm được một người Trung cộng vào đóng thay Hồ Chí Minh cho đến cuối đời. Vì vậy, Hồ Chí Minh sau này không dám gặp mặt trực tiếp người thân là anh chị em ruột trong gia đình vì sợ những người này nhận ra mình không phải là Hồ Chí Minh thật. Giả thuyết này có phần phiêu lưu, tác giả không theo giả thuyết này nên không còn cách nào khác khi nghĩ về việc Hồ Chí Minh né tránh tuyệt đối gặp mặt người thân trong gia đình – là việc đại bất nghĩa.
2- Hồ Chí Minh – KẺ ĐẠI BẤT HIẾU:




Trích di chúc thằng Hồ Chí Minh:

“……… phòng khi tôi đi gặp cụ Mác, cụ Lê Nin ………..”
Khi chết mà không nghĩ linh hồn mình (nhưng cộng sản tuyệt đối vô thần cơ mà nhỉ ? !) sẽ được lên thiên đàng gặp tổ tiên, ông bà, cha mẹ mà lại đi (xuống địa ngục) gặp đám tổ sư người
ngoại quốc (có người Tây tốt nhưng cũng có người Tây xấu, có người Tây thông minh nhưng cũng có người Tây điên khùng hoang tưởng) ở tận đẩu tận đâu ở thời nảo thời nao).


Đến tận lúc lập di chúc rồi mà vẫn còn ước vọng khác người như vậy thì quả thật là đặc biệt,
quả thật là đại bất hiếu!
3- Hồ Chí Minh – KẺ ĐẠI HÁO DANH:




thằng Hồ Chí Minh tự thổi kèn trong việc viết cuốn sách “Những mẩu chuyện hoạt động của Hồ Chủ Tịch” lấy tên là Trần Dân Tiên. Trong quyển sách đại bịp này Hồ Chí Minh đã tự nhận mình là “… một người khiêm nhường đến thế …”

Hồ Chí Minh thật là một kẻ háo danh và vĩ cuồng đến mức bệnh hoạn và trơ tráo.
4- Hồ Chí Minh – KẺ ĐẠI HỖN LÁO



Hồ Chí Minh lần đầu tiên tự xưng là “
Cha già dân tộc” khi mới 55 tuổi. Theo lẽ thường tập tục kết hôn và sinh con thời bấy giờ thì người 75 tuổi đã có thể là cha, người 95 tuổi đã có thể là ông của Hồ thằng. Vậy mà ông ta vẫn xưng xưng tự gọi mình là cha già dân tộc với hàng chục triệu người dân Việt Nam trong đó có hàng triệu người đáng tuổi ông tuổi bà, tuổi cha tuổi mẹ của ông ta.Hồ Chí Minh quá hỗn !
Hồ Chí Minh quá loạn ngôn !

Một số người thắc mắc điều này và tác giả cũng có chung thắc mắc với họ, tại sao truyền thông Việt nam ra rả gọi Hồ Chí Minh là cha già dân tộc mà không gọi người vợ gốc Tàu duy nhất được tạm coi là danh chính ngôn thuận của Hồ Chí Minh (nhưng cũng chỉ là danh chính ngôn thuận trong vòng bí mật của cộng sản Tàu và cộng sản Việt) – bà
Tăng Tuyết Minh, là “mẹ già dân tộc” ? !5- Hồ Chí Minh – KẺ ĐẠI TÀN NHẪN



Hồ Chí Minh chối bỏ hoàn toàn vợ (
nhiều vợ) con (nhiều con) của mình để dựng nên một hình tượng trai tân đến già, cả cuộc đời vì nước non, hy sinh tất cả vì sự nghiệp cách mạng. Đây là việc làm thừa, là dấu hiệu rõ nét của chứng háo danh, vĩ cuồng đến bệnh hoạn của ông ta và sự dối trá đến khủng khiếp vô luân của ông ta và đám học trò đệ tử để lừa đảo mị dân. Bởi vì một người đàn ông, một người làm chính trị như ông ta hoặc hơn cả ông ta như Lê Nin, Mao Trạch Đông đều có vợ (hay nhiều vợ/đời vợ) và con thì cũng là điều bình thường, nhất là ở thời bấy giờ khi mà Việt Nam vẫn thừa nhận chế độ đa thê và hôn nhân thực tế (đến tận những năm 2000 Việt Nam vẫn thừa nhận hôn nhân thực tế và thực trạng đa thê (nhiều vợ) của các cán bộ cách mạng cao cấp vì hoạt động cách mạng mà phải phân ly với gia đình cũ và có thêm gia đình mới).


Hồ Chí Minh không những chối bỏ hoàn toàn vợ con, mà khi một trong những người vợ của ông ta là bà Nông thị Xuân có ý định/đòi hỏi phải công khai, danh chính ngôn thuận quan hệ vợ chồng với mình (lúc này Nông thị Xuân đã có một con trai với Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Trung) thì ông ta đã ra lệnh/để mặc các đồng sự chóp bu và tay sai là
Trần Quốc Hoàn giết chết dã man Nông thị Xuân. Nông thị Xuân đã bị vật nặng đập vào đầu đến chết, sau đó xác bị ném ra đường đê dốc Chèm cầu Thăng Long – Hà Nội rồi cho xe cán lên giả vờ là tai nạn giao thông – 2 lần bị giết và 1 lần coi như đã chết khi Hồ Chí Minh ra lệnh/im lặng để mặc bộ chính trị chóp bu của đảng cộng sản bàn thảo kế hoạch giết người diệt khẩu man rợ khủng khiếp này. Tổng cộng bà Nông thị Xuân - người vợ yêu của Hồ Chí Minh đã bị giết đến 3 lần để bảo vệ uy tín và hình ảnh thằng của lãnh tụ Hồ Chí Minh.


Chỉ có ma quỷ và phải là ma quỷ tàn ác nhất trong các loài ma quỷ mới làm như vậy.

Về các con của mình Hồ Chí Minh không thừa nhận và không trực tiếp nuôi dưỡng bất kỳ người con nào.

Cha thường còn nỏ bằng ai,
Đòi “cha dân tộc” điên rồ lắm thay !
6- Hồ Chí Minh – KẺ ĐẠI TRỐNG RỖNG:





Trong một giây phút nịnh bợ đến mức xuất thần với đám quan thầy Tàu cộng, Hồ Chí Minh đã mất hết cả lý trí mà buột miệng nói ra một sự thật vốn được giấu kín lâu nay về kiến thức, về trình độ học vấn, về lý tưởng của mình như sau:
“Tôi không tư tưởng gì ngoài tư tưởng của Mao Trạch Đông.”
Vì vậy, tác giả bài viết này đề nghị Bộ Chính trị đảng cộng sản Việt nam, Ban tuyên giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và đào tạo phải khẩn trương sửa ngay tên “
Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thành “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Mao Trạch Đông vì Hồ Chí Minh không có tư tưởng gì trong đầu ngoài tư tưởng của Mao Trạch Đông”.


Thiết nghĩ (không hề mỉa mai chút nào!) điều này là hoàn toàn phù hợp với công cuộc bán nước và làm tay sai cho Tàu cộng mà đám cán bộ chóp bu và cốt cán của đảng cộng sản đang tích cực đẩy mạnh và công khai hóa dần.
7- Hồ Chí Minh – KẺ ĐẠI LƯU MANH:


Ai đã từng đọc Hồi ký Tháng 8 cờ bay của ông Vũ Đình Huỳnh, thư ký, người đồng chí thân cận đặc biệt của Hồ Chí Minh có lẽ không thể nào quên đoạn tác giả viết về cuộc viếng thăm nghĩa trang Công xã Paris trong thời gian rảnh rỗi khi Hồ Chí Minh đi dự hội nghị Phông ten nơ bơ lô.


Khi đến thăm nghĩa trang này, Hồ Chí Minh thể hiện sự xúc động quá thể một cách không bình thường. Ông Vũ Đình Huỳnh để ý thấy Hồ Chí Minh khóc rất nhiều và đặc biệt cứ to tướng lên mỗi khi có người Tây đi qua. Cảm thấy Hồ Chí Minh có phần xúc động thái quá mà không hiểu vì sao, ông Huỳnh mới lựa lời hỏi thưa bác sao bác lại xúc động và khóc nhiều thế.
Ông Hồ Chí Minh tỉnh queo trả lời, nước mắt cũng như cái vòi nước vậy, có thể điều khiển được, muốn nhiều có nhiều, muốn ít có ít.


Nhiều người hẳn vẫn còn nhớ vì tivi đã và vẫn đang tiếp tục chiếu đi chiếu lại hình ảnh Hồ Chí Minh khóc khi nói lời xin lỗi vì cải cách ruộng đất về cơ bản là đúng, về cơ bản là thành công, về cơ bản là thắng lợi nhưng chỉ mỗi cái là phải giết hơi bị nhiều người (đoạn này là tác giả nói !):

lang="VI">giết bằng cách chôn sống , bằng cách đánh đập vỡ đầu nát óc, bị đánh đến gẫy xương sườn dập nát ngũ tạng, bị đánh đến phọt đái phọt cứt, bị thọc gậy thọc mác từ trên họng xuống hậu môn, từ hậu môn ngược lên họng, bị cắt cổ bằng dao cùn, bị chôn sống hở cái đầu rồi bị nện bằng chày, gậy, đá vào cái đầu đang ngoi ngoi lên mặt đất, bị chôn sống hở cái đầu rồi bị trâu kéo bừa bừa đứt luôn cái đầu đang ngoi ngoi lên mặt đất đó ..v..v..




Được một viên đạn găm vào đầu mà chết như bà đại địa chủ cách mạng Nguyễn thị Năm là một diễm phúc xa xỉ trong cải cách ruộng đất ở Việt Nam!


8 - Hồ Chí Minh – KẺ ĐẠI M TẶC:

Hồ chi Minh, tên đại dâm dục đã hãm hại biết bao thiếu n, từ gái miền thượng cho tới gái Việt Nam. Vì biết tánh dâm dục và thich gái Miên Nam , nên Bô Tư lệnh kháng chiến Nam bộ lúc bấy gìờ, đã thành lập bộ phận tuyển chọn các thiếu nử đẹp miền Nam đưa ra Bắc, để cung cấp tình dục cho hắn.

Bộ phận này do Vỏ văn Kiêt phụ trách..Tất c
thiếu nữ được tuyển chọn do Kiệt quản lý, dạy dỗ trước khi đưa ra Bắc ..


Theo hồi ký « Lần gặp Bác Hồ Tôi bị mất trinh » của Huỳnh Thị Thanh Xuân :
".... Khi mà chúng tôi say sưa hát thì bác đi bóp vai những đứa con gái, tới ch tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà bác còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng đành đứng yên chiụ thôi. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái.
Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm lưỡi của bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy, ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục qúa không giống như bác Hồ mà chúng tôi học được trong miền nam ..
.


Bác nói tiếp: “Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim”. Chúng tôi đứng lên và đi xuống với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị...
Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiếu bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Lúc đó tự nhiên tôi thấy vinh dự đến lạ kỳ, một niềm vui khó tả, Bác Hồ ngồi cạnh tôi bác ôm chặc tôi, một tay choàng qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi bộ ngực mới lớn của một cô gái miền nam... Khi đèn phòng bật sáng Bác xoa đầu và hôn lên trán tôi hai cái rất lâu. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa, Con Lan và tôi thấy bàn tay của bác cũng không bao giờ chịu làm biếng .


Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn cho gặp riêng bác, có những chuyện bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông qúa bác không tiện. Chị Nhàng dẫn tôi đi tắm rữa sạch sẽ và chị nhìn tôi trong đôi mắt u buồn và tội nghiệp. Tôi được chị
N
hàng dẫn đi qua môt hành lang, và tới phòng ngủ của bác, chị nhàng gõ cữa ba tiếng cánh cửa mở ra, Chị nhàng bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi.


Khi tôi vào, Bác ôm chầm lấy hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, Bác Bóp hai bờ ngực nhỏ của tôi, bác bóp mông tôi bác bồng tôi lên thiều thào vào trong tai tôi :

- Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền nam cho bác nhé.
Bác bồng tôi lên giường hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi, Bác như một con cop đói mồi, sau một hôì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đàng năm xui tay... Hai hàng lệ một cô gái miền nam vừa tròn 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.


Những đêm sau mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói với ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoa thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình …
"

Quả thật n Hồ Chí Minh là đại m Tặc !


Thiết nghĩ, với những tội ác khủng khiếp, với sự dối trá tận cùng và sự đạo đức giả siêu hạng của Hồ Chí Minh thì gọi
Hồ Chí Minh là tên đại lưu manh vẫn còn là lịch sự.

Hà Long

Hà Nội 2-5-2009

Câu Chuyện Đau Thương: Tình Đồng Chí

TRẦN QUANG THÀNH - VIỆT NAM , CÂU CHUYỆN CỦA ÔNG CÒN ĐAU THƯƠNG HƠN CÂU CHUYỆN TRẦN QUANG THÀNH - TRUNG QUỐC

NgyThanh
Trí Nhân Media: Xấp giấy bạc ngoài cánh đồng hoang đó là tiêu đề bài đăng trên Thời báo Online.  Bài báo kể về số phận của hai con người cùng mang tên Trần Quang Thành. Người ở Việt Nam là một nhà báo năm nay đã 71 tuổi. Môt ở Trung Quốc là một luật sư khiếm thị năm nay 41 tuổi. Nhưng câu chuyện của nhà báo Trần Quang Thành còn đau thương hơn câu chuyện luật sư Trần Quang Thành.


Sau đây là câu chuyện về nhà báo Trần Quang Thành

Trần Quang Thành, một người dân Hà Nội

Nghe tới tên Trần Quang Thành, với phản ứng tự nhiên đầu tiên, chúng ta nghĩ ngay rằng nhân vật ấy là người Việt Nam. Điều ấy quả không sai. Trần Quang Thành Việt nam có thật (và câu chuyện của ông  có khi còn đau thương hơn chuyện ông Trần Quang Thành bên Tàu). Ông là một người Việt sinh sống, làm việc và phục vụ chế độ Cộng sản miền Bắc. Để chính xác hơn, chúng ta có thể gọi ông ấy là Việt Cộng, và trở thành nổi tiếng do cách đối xử cạn tàu ráo máng của chính quyền Cộng sản Việt Nam.


Sinh năm 1941, sau khi tốt nghiệp bậc trung học tại Hà Nội, năm 18 tuổi ông Trần Quang Thành gia nhập ngành truyền thông. Từ 1959 đến năm "ngừng bắn" 1973, ông là phóng viên Đài Tiếng Nói Việt Nam. Từ 1974 ông chuyển sang làm phóng viên dặc trách các đề tài thời sự, chính trị, ngoại giao, quân sự cho đài truyền hình Việt Nam suốt 22 năm. Trở về từ chiến trường Miên với một chân bị thương tật năm 1982, số phận ông tưởng đã có thể an nhàn, với nhiệm vụ "ngồi mát ăn bát vàng", lo xây dựng cơ sở hạ tầng và đào tạo phóng viên cho các đài truyền hình địa phương, và chuyên về thủ tục nhập cảng máy móc cho ngành truyền thanh truyền hình trực thuộc Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Phát thanh Truyền hình Sài Gòn.


Dưới danh xưng "nhà nước và nhân dân cùng làm, địa phương và trung ương cùng làm," cơ quan của ông Thành cố vấn cho các địa phương tiến hành xây dựng đài, lên danh sách nhập cảng máy móc và phương tiện kỹ thuật để trang bị, nhưng việc xoay sở để có ngoại tệ là việc của địa phương. Trong thực tế, sau khi cơ quan của ông Thành xin được giấy phép rồi, tập đoàn tham nhũng ở "Viện Nghiên cứu" dùng tiền vốn của các đài địa phương để nhập cảng những thiết bị theo nhu cầu tiêu thụ ngoài thị trường. Sau khi máy móc về nước, họ mang ra chợ trời Huỳnh Thúc Kháng bán lại, lấy tiền lời đút túi, còn tiền vốn tiếp tục mua sắm thiết bị nữa, cuộc kinh doanh bằng vốn kẻ khác quay vòng trên tờ giấy phép xây dựng đài truyền hình địa phương.… Khi ông Thành đặt vấn đề, lãnh đạo cơ quan thách thức ông cứ việc phúc trình. Bản báo cáo chi tiết của Trần Quang Thành dẫn đường cho công an mở cuộc điều tra, thu hồi số hàng hóa trị giá gần 30 ngàn đô của thời giá năm 1987, và dẫn đến chỗ cả bản thân ông Thành lẫn người con gái mất việc. Để hợp pháp hóa việc trói tay ông Thành, năm 1988, lãnh đạo cơ quan đẩy ông trở về Hà Nội, vẫn trong sổ lương của đài truyền hình Việt Nam nhưng ông bị vô hiệu hóa, ngồi chơi xơi nước, và lãnh trợ cấp thất nghiệp để sống qua ngày. 
Để thoát cảnh ăn không ngồi rồi, Trần Quang Thành trở lại viết báo, mở đầu là phóng sự "Đường dây buôn bán phụ nữ qua biên giới", phơi bày ra ánh sáng đường dây trải dài từ Hà Nội, Hải Phòng vào tận Nha Trang, Cần Thơ, Sài Gòn để xuất cảng chui đàn bà con gái Việt Nam qua Mã Lai, Ma Cao và Miên phục vụ thị trường tình dục. Sau khi phóng sự được truyền thanh, công an đến gặp để xin ông cung cấp tài liệu cho họ phá án. Lần này, ông Thành không cho. Tác giả bài báo tâm sự: "Tôi không còn tin công an. Tôi đã có quá đủ kinh nghiệm sau vụ chống tham nhũng lần trước ở Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Phát thanh Truyền hình Sài Gòn rồi. Lần ấy công an cũng yêu cầu tôi cung cấp tài liệu để phá án, nhưng sau khi thủ đắc tài liệu và chứng cớ, công an đã gặp riêng để thông đồng với bọn tham nhũng, và nhận chìm xuồng vụ án. Kết quả chỉ có hai bố con tôi mất việc".
Lần này, bị Trần Quang Thành từ chối, công an báo cáo cho Tổng Bí Thư Đỗ Mười; ông Mười cho thư ký xuống truyền lệnh Trần Quang Thành phải cung cấp tài liệu, vào dạo tháng 10/1989. Với tài liệu cụ thể, chỉ trong vòng 1 tuần, công an Hà Nội "phá" xong vụ trọng án, và kết quả là bọn xã hội đen bắn tin cho biết hoặc sẽ giết, hoặc sẽ làm cho anh nhà báo thân tàn ma dại. Như thế, rõ ràng chính công an đã tiết lộ cho các hung thủ biết người cung cấp tài liệu là Trần Quang Thành. 
Vài tháng sau, trùng hợp với quyết định của chủ tịch hội đồng bộ trưởng về công tác chống buôn lậu thuốc lá nước ngoài, Trần Quang Thành lại viết phóng sự "Đường dây buôn lậu thuốc lá ngoại bằng đường bưu điện và đường hàng không". Mấy hôm sau, lại cũng Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho người xuống ra lệnh cho ông cung cấp tài liệu để phía công an phá án.
Đúng là công an có "phá" án, nghĩa là thay vì bắt chính thủ phạm đưa thuốc lá từ Nam ra Bắc là Vinh Lé, Hà Nội lại cho tuyên đọc lệnh bắt Cường Ngọng, thằng bé 16 tuổi con của Vinh Lé, trong khi Vinh Lé đứng đấy xem công an lập biên bản. Trần Quang Thành phản đối. Ngày hôm sau, khi công an ầm ỹ xe pháo tới diễn vở tuồng bắt Vinh Lé, thì thằng bố đã bỏ trốn từ khuya. Tháng 3/1991, chúng đưa thằng con ra tòa, và thằng bé vô can bị tuyên án 3 năm tù. Mấy tuần sau, vào một đêm đầu tháng 4 Vinh Lé đã trở về. 12 giờ đêm, công an hình sự do trung tá Đỗ Kim Tuyến đột nhập vào nhà để bắt, Vinh Lé xuất chưởng bằng tờ lệnh 'ngưng truy nã' do Nguyễn Đức Nhanh, trung tá trưởng phòng cảnh sát điều tra xét hỏi ký. Thế là cuộc bắt giữ đã bị vô hiệu hóa. Để biết mạng lưới mafia đang ngang nhiên thao túng bên trong bộ máy chính quyền Việt Nam thế nào, chúng ta chỉ cần biết hiện nay Nguyễn Đức Nhanh là trung tướng Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục An ninh 2 thuộc Bộ Công an Việt Nam kiêm Giám đốc Công an thành phố Hà Nội kiêm đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XII Quận Ba Đình, Cầu Giấy của thủ đô Hà Nội.
Ngay sau màn công an tép riu đụng đầu lệnh 'ngưng truy nã', ký giả Trần Quang Thành phổ biến bài báo "Ông Nhanh ký nhanh quá!", trong đó tác giả nói huỵch toẹt rằng lực lượng công an chỉ bảo vệ cho bọn tham nhũng chứ không hề bảo vệ cho lực lượng chống tham nhũng. Ba tháng sau, tác giả bài báo mới thấm thía hết hậu quả của ngòi bút mình. 5g30 sáng 4/07/1991, khi ông Trần Quang Thành đang cởi trần và mặc quần xà lỏn quét sân nhà chuẩn bị cho người con gái bày hàng quán bán bún ốc, riêu cua, một thanh niên trên dưới 20 tuổi ghé vào hỏi "chú ơi cho cháu hỏi nhà báo Trần Quang Thành ở đâu?" Liền sau khi ông Thành trả lời "Là tôi đây", hắn đã hắt nguyên một ca đầy acid vào mặt Trần Quang Thành. 
Lượng acid quá nhiều tạt vào mặt và chảy dài xuống hai cánh tay ông Thành, làm nạn nhân phải đi cấp cứu và trải qua 15 cuộc giải phẫu, rồi nằm điều trị tại bệnh viện trên một năm. Ngày nay, hai cánh tay còn đầy những vết sẹo cháy dính da, mắt trái mù, mất cả miệng lẫn mũi, thương tật tới 81%, riêng khuôn mặt bị tàn phá và biến dạng đến độ ghê rợn (xem trong hình đăng kèm), mặc dù đã được tái tạo phần nào những chỗ trên khuôn mặt đã bị chất cường toan ăn mất đi.

Trong thời gian này, gia đình ông đã gửi đơn lên phòng cảnh sát điều tra của công an thành phố, để rồi được đội trọng án của công an Hà Nội và đội cảnh sát điều tra công an quận Đống Đa vào bệnh viện thăm hỏi, và báo cho nạn nhân biết "vụ án của bác đã được báo cáo lên bộ rồi. Trung Tướng Phạm Tâm Long, thứ trưởng thường trực Bộ Nội Vụ đã chỉ đạo một ban chuyên án. Sở Công An Hà Nội cũng có một ban chuyên án do ông Vũ Đình Hoành làm trưởng ban. Chúng tôi đến đây để làm nhiệm vụ thu thập bằng chứng". 

Về sau, ông Thành kể "họ giao hẹn với tôi là tuyệt đối tôi không được cung cấp tư liệu cho các báo. Vì khi các báo đăng vụ của tôi lên, nếu có người vào bệnh viện giết tôi để thủ tiêu chứng cớ thì phía công an không chịu trách nhiệm". 

Từ chỗ ông TQT đã im lặng để bảo toàn tính mạng, không một tờ báo nào trong nước biết để loan tin về vụ tạt acid này. Mười bốn tháng sau, đến khi nạn nhân Trần Quang Thành xuất viện, vụ án vẫn chìm xuồng. Tới tháng 11/1992, tờ Tuần Tin Tức đăng bài "Nỗi Đau Người Mẹ", kể về bà mẹ của Trần Quang Thành, người từ năm 1960 đã từng nhận nuôi 30 đứa trẻ mồ côi, vừa cho đi học chữ vừa học nghề. Sau ba mươi năm đóng góp, người mẹ nay chỉ có một người con trai duy nhất đang lâm cảnh tàn tật không nơi nương tựa. 

Bài báo lọt vào mắt Đỗ Mười, ông ra lệnh cho Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội và Bộ Nội Vụ 'làm rõ' vụ này. Nghe được tin này, ông Thành đến thẳng công an Hà Nội để hỏi xem về tiến triển vụ án, để được đại tá phó giám đốc công an phụ trách an ninh Phạm Chuyên cho xem toàn bộ sổ họp giao ban ngày ông Thành bị tạt acid 4/07/1991, trong đó hoàn toàn không có bất cứ báo cáo nào về trường hợp ông Thành bị đòn thù. Việc bưng bít vụ án ngay từ đầu đã thành công tuyệt diệu. 

Không tin vào mắt mình, Trần Quang Thành đến hỏi ông Nguyễn Văn Tình, phó giám đốc công an phụ trách tổ chức lực lượng, ông ta cũng thề rằng ông ta không hề biết gì cả. Chưa nản, nạn nhân xin gặp Phạm Tâm Long, thứ trưởng thường trực Bộ Công An. Ông Long cũng nói không biết gì hết. Ở chỗ riêng tư, cả hai ông Tình và Long đều xác nhận với ông Thành nếu như đừng bị bưng bít thì vụ này chỉ cần nửa tháng hay 10 ngày là tóm được thủ phạm ngay. Tiếp theo, bà trung tá Thủy, Đội trưởng Đội Trinh sát Hình sự Công an Hà Nội mời nạn nhân đến, và nhìn nhận với ông Thành là trong vụ án này công an Hà Nội "có tiêu cực". Trần Quang Thành, người dân Hà Nội, một bánh xe trong guồng máy cai trị của cộng sản đã rút ra bài học. Ông kết luận: "Tôi phản đối chuyện họ làm ăn gian dối; họ lại thách thức tôi: 'nói thật với bác, đó là cả một bộ máy có bánh xe nhỏ bánh xe to. Bác mà đi ngược bánh xe bác sẽ gãy. Kinh nghiệm của bác đấy!'"


Ngoài bản thân bị tàn phế, hành động chống tham nhũng của Trần Quang Thành còn làm con gái ông liên lụy. Cháu thất nghiệp phải đi bươn chải để nuôi một đứa con không cha, nhiều lúc cùng đường phải vào bệnh viện "hiến máu" để nhận được tiền thù lao bồi dưỡng. Rồi một lần đang cho máu thì người mẹ bị trụy tim và gục. Hôm 12/08/2004, con gái ông Thành đã vĩnh viễn ra đi, bỏ lại cho ông đứa cháu ngoại. Trần Quang Thành tìm tới gõ cửa cả nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cũng để chỉ nhận được an ủi và lời khuyên suông. 



Gần đây, sau khi trả lời phỏng vấn của các đài VOA và Á châu Tự do, trong đó vạch mặt chế độ thối nát và bất nhân, nhà báo Trần Quang Thành cảm thấy sống trong nước không còn an toàn nữa nên phải chọn giải pháp bỏ Hà Nội ra đi. Biết rằng tị nạn chính trị sẽ gây khó khăn cho con cái và thân nhân ở lại, ông Thành đã quyết định xin định cư cùng con trai ở Slovakia (một phần đất trước năm 1993 còn là lãnh thổ Tiệp Khắc) từ tháng 8/2008. 


Xuất hiện trong cuộc phỏng vấn của đài SBTN hôm 22/06/2011, ông cụ 70 tuổi Trần Quang Thành bật khóc dễ dàng như một đứa bé thơ khi kết thúc câu chuyện thương tâm của chính mình và ngỏ lời cảm ơn đồng bào Việt Nam ở hải ngoại đã quyên góp tiền bạc gửi về giúp ông trang trải trong những lần giải phẫu. Nạn nhân không đưa ra một lời hô hào chính trị nào, nhưng với chỉ một khuôn mặt tàn phá ghê rợn của ông cũng đủ để thế giới thấy bằng chứng tội ác và sự dã man của đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã cưu mang và sản sinh.

NgyThanh
http://thoibao-online.com/the-gioi/thoi-su/6400-xp-giy-bc-ngoai-canh-ng-hoang
------------- 

Bị lừa : Hãy tự giải thể 2 chử "Đồng Chí"

http://vietcongonline.files.wordpress.com/2012/02/1137.jpg
Kính mời quý vị nghe qua lời tâm tình của cựu bộ đội về đảng và nhà nước VN, quân đội vũ trang nhân dân Việt nam: nhiều tệ nạn xã hội len lỏi vào quân đội, rượu chè đĩ điếm....tố cáo nhà nước quân đội ngăn cản bộ đội tìm hiểu tình hình bên ngoài.

Rất hay. xin phổ biến

Read more: http://www.vietlyhuong.net/2012/04/bi-lua-qua-u-ung-goi-toi-la-ong-chi.html#ixzz1saEnFm3m

Chủ Đề 19.6: QLVNCH: Phù Hiệu - Cấp Bực - Huy Chương











































































http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?t=146595

Chủ Đề 19.6: LỜI BA DẠY




Ba ra đi ... khi Quê còn lửa khói
Giặc vẫn còn dày xéo nát Quê hương
Chúng buôn dân, bán đất vẫn coi thường
Thật tủi nhục bọn côn đồ, chó sói
Nước Việt ta giờ như người lỡ lói
Quằn quại đau rên xiết chẳng ai thương
Tiếng khóc than nghe đau xót đoạn trường
Loài quỷ đỏ chúng toàn phường ăn hại
Ba ra đi ... có bao giờ trở lại
Nước mắt nào vùi lấp nỗi thương đau
Xót thương thay vận Nước lệ tuôn trào
Niềm mơ ước vẫn hoài trong mơ ước
Ngày Ba đi ...con nào đâu hay trước
Khi Quê nghèo vẫn phủ một màu tang
Bọn Cộng nô chúng cướp đất dân làng
Ba đã khóc bằng vần thơ tranh đấu
Con tim Việt từng đêm dài rỉ máu
Tiếng than từ ngục tối vẫn chưa nguôi
Con sao quên giây phút cuối lìa đời
Ba đã dạy:" Đừng bao giờ lùi bước ..."
Nguyễn Vạn Thắng

Bài Xem Nhiều