We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 2 December 2014

Tin Vui: Sau 40 năm bang giao, Thụy Điển đóng cửa Tòa Đại Sứ tại Hà Nội

Sau 40 năm bang giao,
Thụy Điển đóng cửa Tòa Đại Sứ tại Hà Nội năm nay.

Bề ngoài thì đây là hậu quả của việc tái phối trí công quỹ tại Vương Quốc Thụy Điển theo đó ngân sách của chính phủ bị cắt giảm 300 triệu. Thế nhưng tin này ít nhất cũng cho thấy Thụy Điển không coi quyền lợi của họ tại VN là quan trọng.

Nguyễn Phương Nga, phái ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội, nói rằng Chính Phủ VN tạo mọi điều kiện thuận lợi để Thụy Điển có thể mở lại tòa Đại Sứ bất cứ lúc nào. (Tổng hợp)
~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Thân gởi các bạn Việt Nam trên diễn đàn này!

Đọc tin này tôi buồn ghê. Một nỗi buồn mang tên Thụy Điển ở VN Nhưng phải nhìn rõ vấn đề tìm nguyên nhân của nó. Vì sao vậy?

Thứ nhất là tại người VN của chúng ta. Chương trình nhân đạo cao đẹp của Thụy Điển đã bị VN lợi dụng một cách tồi tệ. Chỉ có con ông cháu cha mới được đến Thụy Điển và tòan là đem rắc rối cho họ. Tôi không nói chuyện các khóa học của SIDA, nhưng nói chuyện các phóng viên VN qua đây du học. Tôi biết đa số các phóng viên của báo Đại Đòan kết qua đây tu nghiệp. Tôi biết từng người.

Nhưng sự kiện chấn-động là năm 2001 bà Kiều Chinh, Biên tập viên của VTV qua Thụy Điển tu nghiệp 3 tuần. bà kiều Chinh hiện nay xuất hiện trên VTV rất nhiều, là con gái ông Tổng Giám đốc VTV Vũ Văn Hiến. Năm 2001, bà Kiều Chinh, lợi dụng chuyến đi tu nghiệp này ăn cắp rất nhiều đồ trong siêu thị tại Kalmar centrum. Bị cảnh sát bắt giam hơn 1 tuần lễ. Sau đó nhờ đường ngọai giao can thiệp bà kiều Chinh và đòan nhà báo VN về nước nhưng hình ảnh các phóng viên VN trong cái nhìn các phóng viên các nước khác là kẻ gian tham và trôm cắp. Năm 2006, được đi tu nghiệp tại Anh, bà Kiều Chinh cũng ăn cắp 1 lần nữa. Hình ảnh những lao động VN tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hải Dương…( các tỉnh miền bắc) qua Đông Âu trước sư kiện bức tường Berlin sụp đỗ. Họ chạy trốn qua Thụy Điển và hành nghề…trộm cướp. Phải nói là người miền Bắc trốn sang ở đây chỉ đi ăn cắp mà thôi.
Khi qua đây họ tìm cách giúp người thân qua bằng con đường hôn nhân giả dối. kéo cả dòng họ qua bên này đi…ăn cướp

Từ lâu Thụy Điển hạn chế visa du lịch từ VN. Ngày nay bận cầm hộ chiếu VN mà nhập cảnh vào 4 nước Bắc Âu bạn sẽ cảm nhận được vì sao người ta ”cảnh giác” với người Việt đến thế. Cái hộ chiếu Việt Nam bị người ta khinh khi vì những tội phạm của người Việt Nam trên xứ người. Đức Cha Kiệt nói câu nói rất chính xác "Tôi thấy xấu hổ khi cầm thông hành hộ chiếu VN".

Sẽ là rất nhục nhã khi thấy hình ảnh tội phạm VN trên xe bus, ngay cửa siêu thị, chỗ công cộng. Họ dán hình và không ghi tên là bà Kiều Chinh, hay Hiền Mã Ly ( dân hải phòng chuyên ăn cắp hàng siêu thị ở Getoborg) mà chỉ ghi là VIETNAMESE.

Tôi mang ơn những người Thụy Điển, nhưng tôi lấy visa không phải ở VN . Lẽ ra tôi nên tri ân những nhân viên ngọai giao của Thụy Điển ở một quốc gia khác chứ không phải ở VN. Tôi đi nhiều nước, nhưng tôi thấy người Thụy Điển đẹp và rất tốt bụng. Quê hương của các giải Nobel thật tuyệt vời. (Hình: hai cha con Vũ Văn Hiến và Vũ Kiều Chinh)

Đỗ Vũ
Trích phản hồi trên một trang mạng.
(Đỗ Văn Siêng giới thiệu)

Cờ Vàng Dân Tộc : Điếu cày nên học "NOI GƯƠNG" anh Đặng Chí Hùng



Biểu tượng

Trước kia có anh chàng phân phát nước

Tại Tao Đàn công viên của quận ba

Với tấm giấy đề "Nước nhà không bán"

"Mất nước mất sự sống"

Ai đi ngang cũng được anh mời uống nước

Tưởng chuyện dễ dàng nơi đất nước tự do

Cá nhân có quyền làm những gì không hại người khác.

Nhưng đâu dễ dàng với dân phòng, công an chìm, nổi.

Công việc anh làm bị chận đứng tức thì



Việc dễ dàng đâu dễ gì làm được

Đừng nói chi đến Hội nghị Thành đô, "Chúng tôi muốn biết".

Viết Kiến nghị thư trình đại biểu nhân dân

Cửa Quốc hội mở rộng toang tiếp dân giải thích

Viết cứ viết, đưa cứ đưa ai biết

Biết đưa ai, ai biết mà đưa

Nhưng thực tế bày ra thật rõ

Chặn cổng vào một rừng máy thâu hình

Đứng bao quanh một đàn "chó săn" mật vụ



Ngày 19 tháng 11 năm nay tại cầu Kinh tẻ

Cả quận 7 chỉ có một người mang cờ vàng đi trên phố

Bị chặn đứng bị đưa đi đâu ai biết

Như Thế vận hội Bắc Kinh trước đây cũng thế

Khi cờ Vận hội đi ngang một cờ vàng ba sọc đỏ phất lên.

Rồi người đó bị đưa đi đâu biệt tích

Đến giờ này cũng chẳng thấy tăm hơi

Cái đất nước gì tự do sao mà lạ

Quyền của người dân quyền ở chổ nào


Cái cờ vàng phải chăng chỉ là biểu tượng?

Chỉ là màu vàng ba sọc đỏ mà thôi

Đấu tranh chi giựt giành chi với nó

Ai muốn cướp muốn xé đi là quyền của họ

Đấy là lời của những kẻ có tự do

Đó không là lời của kẻ cướp có dao có súng

Với bọn họ chỉ có một màu cờ đỏ

Dù đó là cờ của bọn phương Bắc, giặc thù

Nên chống nó chống từ tâm hồn ra đến ngoài hình thức.


Đặng Quang Chính




  Cờ vàng dân tộc   


Giữa lúc cả dân tộc ta đang chịu thêm những đau đớn vì giặc Tàu đã có mặt ở hai đầu đất nước, rồi bây giờ là khúc ruột miền trung yêu dấu, đồng thời ngoài hải đảo Hoàng – Trường Sa, giặc đang tăng cường thêm các công trình quân sự. Vậy mà đau đớn thay cho một dân tộc có hơn 4000 năm văn hiến, dựng nước và giữ nước đã phải chứng kiến ông đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cất cao bài ca “chiến thắng” kiểu AQ chính truyện bên Tàu. Cũng giống như ông tổng bí thư Trọng “lú”, ông thủ tướng y tá 3X đã tuyên bố trước Quốc hội của những anh nghị “gật” rằng: “Với Trung Quốc, dù mưa nắng hay bão lũ, Việt Nam cũng là láng giềng, mãi mãi là láng giềng, nên Việt Nam mong muốn sự chân thành hợp tác để cùng phát triển vì hòa bình, để thực hiện một cách thực chất, hiệu quả phương châm “16 chữ”, tinh thần “4 tốt”, để mang lại lợi ích cho cả 2 bên”. Và ông thủ tướng “2bao cao su đã qua sử dụng” cũng chẳng quên thêm vào ngôn từ đao to búa lớn“vừa hợp tác vừa đấu tranh”.
Đấu tranh gì đây? Hợp tác gì đây? khi giặc cướp Hoàng Sa, Trường Sa, giết hại binh lính, ngư dân của chúng ta. Thật chẳng có từ ngữ gì khác để diễn tả sự nhu nhược và đểu giả của những kẻ tự xưng “đỉnh cao trí tuệ loài người” đối với dân tộc Việt Nam. Biết nói gì đây khi đất nước đã thật sự lâm nguy khi chính những ông bà nghị chỉ biết ăn tiền mồ hôi nước mắt của người dân đã thừa nhận:” Lao động người nước ngoài ở Việt Nam, ngoài lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật, vẫn còn lao động không có chuyên môn nghiệp vụ. Phần đông trong số đó là người Trung Quốc đi theo con đường du lịch vào Việt Nam”. Hợp tác và đấu tranh của đảng phải chăng chỉ là cái cúi đầu tuân phục đến rạp cả người của TrươngTấn Sang ?. Có lẽ là như vậy !. Bởi vì đảng cộng sản Việt Nam đã và đang bán những phần đất cuối cùng của quê hương Việt Nam cho giặc.
Nhưng, có lẽ là hồn thiêng sông núi đã không thể nhắm mắt làm ngơ. Song hành cùng các cuộc đấu tranh trên khắp các nẻo đường tổ quốc của dân oan, trí thức, sinh viên, các tôn giáo, các tổ chức đấu tranh đòi dân chủ và ngay cả một số đảng viên thức tỉnh thì hồn thiêng sông núi đã phù trợ cho lá cờ của dân tộc trở lại.
Người dân tại Sài Gòn đã chụp được ảnh một Người âm thầm mang cờ vàng trên vai giữa phố xá Sài Gòn. Hình ảnh dưới được chụp sáng nay lúc 7g15 phút ngày19/11/2014 tại Cầu Kinh Tẻ Quận 7. Người đàn ông vô danh này đã chợt làm tôi nhớ lại lần 2008 khi ngọn đuốc “ô nhục” của Thế Vận Hội Bắc Kinh do Tàu Cộng đăng cai đi qua Sài Gòn thì cũng có một người cũng đã phất cờ vàng Dân Tộc bị bắt rồi biệt tăm. Và hôm nay, tôi lại nhìn thấy hình ảnh lá Cờ Vàng Dân Tộc của tôi trên ngay mảnh đất quê hương Việt Nam đang điêu tàn dưới ngọn roi của tử thần cộng sản. Tôi nghĩ rằng, lá cờ dân tộc đang âm thầm trở lại. Và sẽ có một ngày nó được tung bay trên khắp ba miền đất nước. Vì đơn giản đó chính là lá cờ chính nghĩa, lá cờ của tự do, lá cờ của dân chủ và trên hết nó là lá cờ của Dân Tộc mà chính tôi và rất nhiều thế hệ đã hãnh diện khi được đứng dưới cờ.

covantrolai1Người đàn ông “Vô danh” thì nay đã có tên “Anh Hùng”

Nhưng chúng ta cần nhiều người dũng cảm như người đàn ông vô danh mà tôi đã nhìn thấy trên hình mà kể từ giờ phút này, anh đã là người có tên trong lòng tôi. Đó là cái tên thật giản dị “Anh Hùng”. Cho dù anh có bị những kẻ đầu trâu mặt ngựa cướp phá, và cho đến giờ phút này, chúng ta vẫn chưa biết anh sẽ ra sao. Nhưng đơn giản, anh đã đem hồn thiêng sông núi trở lại. Anh là một người Hùng.
covangtrolai3covangtrolai2
Muốn để cho lá cờ của Dân Tộc trở lại thật sự, chúng ta phải làm nhiều hơn nữa để vạch mặt chính sách ”ngậm máu phun người” và xuyên tạc về sự thật lịch sử thật tài tình để chống phá tự do, dân chủ của đảng cộng sản. Ngay cả lá cờ vàng của dân tộc trải qua rất nhiều thăng trầm lịch sử cũng bị đảng cộng sản bôi nhọ.Cho đến hôm nay, rất nhiều thế hệ người Việt Nam vẫn bị nhầm về lịch sử của lá cờ Việt Nam Tự Do nền vàng ba sọc đỏ, họ cứ tưởng rằng lá cờ này mới có từ thời chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Và rất nhiều người lầm tưởng như cộng sản tuyên truyền rằng đó là lá cờ “Ngụy”. Nhưng thực chất lá cờ vàng 3 sọc đỏ chính là lá cờ xuất phát lâu đời hơn rất nhiều cờ đỏ sao vàng của cộng sản và còn là lịch sử của dân tộc. Tuyên truyền chính xác cho người dân về lá cờ sẽ giúp chúng ta có được sự đoàn kết nhất trong việc cùng đứng về phía quốc gia dân tộc để lật đổ cộng sản.
Trong thời Bắc thuộc, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Tô Định năm 40, Hai Bà Trưng đã mặc áo giáp vàng cưỡi voi ra trận dưới bóng cờ vàng. Suốt gần một ngàn năm Bắc thuộc, lá cờ dân tộc dưới hình thức này hay hình thức khác vẫn xuất hiện trong những cuộc khởi nghĩa chống lại quân Hán như của Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, nhưng phải đợi đến thời Ngô Quyền đánh tan quân Hán trên sông Bạch Đằng gây dựng nền độc lập năm 938, lá cờ dân tộc mới lại phất phới tung bay. Trải qua các triều đại tự chủ tiếp theo như Đinh, Lê, Lý, Trần, nước ta luôn có quốc kỳ hình vuông hoặc chữ nhật gồm có nhiều màu viền quanh theo màu của ngũ hành, ngoài cùng là tua răng cưa và có hình con rồng hoặc một chữ Hán chỉ tên triều đại ngay chính giữa.Và tất cả các lá cờ từ Hai Bà Trưng đến nay đều là lá cờ có nền vàng. Vì màu vàng là màu quốc thổ và cũng là màu da của giống nòi Việt Nam.Theo vũ trụ quan của người Việt, màu vàng còn thuộc về hành thổ và có vị trí trung ương, tượng trưng cho lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia. Chính vì thế mà vua chúa thời xưa thường xưng là Hoàng Đế và mặc áo có tên Hoàng bào.
Còn về sọc đỏ, màu đỏ thuộc hành hỏa và là màu của phương Nam. Đây là biểu tượng của một dân tộc bất khuất, anh hùng, và độc lập trong cõi trời Nam, tách biệt hẳn với nước Tàu ở phương Bắc. Ba sọc đỏ còn tượng trưng cho ba miền: Bắc, Trung, và Nam. Tuy gọi là ba miền (ba sọc đỏ) nhưng chúng có cùng chung một nhà (nền vàng). Đó là nhà Việt Nam, con dân muôn đời thương yêu đùm bọc lẫn nhau.Như vậy là lá cờ có nền Vàng có nguồn gốc lịch sử lâu đời của dân tộc; thứ hai đó là lá cờ nền Vàng 3 sọc đỏ xuất hiện chính thức lần đầu từ thời Vua Thành Thái cho đến Khải Định. Và lần thứ hai thì lá cờ vàng xuất hiện là thời kỳ Vua Bảo Đại cho đến đệ I, Đệ II Cộng Hòa. Nhưng xen lẫn giữa hai thời kỳ đó cũng có một lá cờ vàng 3 sọc hình quẻ ly của chính phủ ông Trần Trọng Kim bị cộng sản cướp đoạt trái phép.

Màu vàng là da vàng, sọc đỏ là máu đỏ. Màu vàng biểu tượng của vương quyền phương Nam, hành thổ là đất nuôi sống toàn dân. Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba ba kỳ (ba miền) là ba anh em Nam Trung Bắc cùng chung sống hài hòa, an lành trên dải đất Việt Nam. Ba sọc đỏ song song là biểu tượng của ba anh em đồng hành, đồng quyền, tương kính, không được quyền lấn lướt, hà hiếp, hãm hại nhau, cùng chung nhau xây dựng, phát triển, bảo vệ mảnh đất màu vàng Việt Nam để cùng cộng sinh và cộng hưởng. Ba sọc đỏ còn là biểu tượng của tam quyền phân lập (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) và là ba biểu tượng của Tự do, Dân chủ, Nhân quyền mà Hoa kỳ và các quốc gia tự do đang áp dụng, kể cả VNCH lúc trước.
Cờ Việt Nam Tự Do được hun đúc bằng khí thiêng trời đất và tinh thần quật khởi của dân tộc Việt suốt gần hai ngàn năm lịch sử. Nó tượng trưng cho hồn thiêng sông núi, cho vận hội thái hoà, và cho sự thành công vĩnh cửu của giống nòi Việt Nam. Kể từ năm 40 Tây lịch, thời Hai Bà Trưng, lá cờ Việt Nam Tự Do đã được cải tiến để có hình dạng màu sắc như hiện nay. Thật quả là một ý nghĩa cao cả và đáng được hãnh diện. Lá cờ Việt Nam Tự Do đã thăng trầm với lịch sử oai hùng của dân tộc, nhuốm khí thiêng sông núi, tượng trưng cho dân chủ tự do nhân quyền, cho ý chí kiêu hùng của nòi giống Việt, cho thái hòa thịnh trị của muôn dân, và cho đoàn kết trong việc giữ nước và dựng nước của tổ tiên ta.
Như vậy có thể thấy Lá cờ Vàng 3 sọc đỏ chính là lá cờ của Việt Nam Tự Do không phải là của riêng một chế độ hay của riêng một chính phủ nào mà là của chung cho cả dân tộc Việt. Lá Cờ Việt Nam Tự Do là linh hồn của cả dân tộc Việt. Lá cờ còn, chính nghĩa còn. Lá cờ còn, tinh thần chiến đấu còn, vì nó là tín bài để chúng ta nhận diện những người Việt Tự Do. Chỗ nào có lá cờ Việt Nam Tự Do thì chỗ đó có tình thương, có dân chủ, có tự do, và có nhân quyền. Giờ này, đa số nhân dân yêu tự do dân chủ, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, mỗi khi nhìn thấy Lá Cờ Việt Nam Tự Do tức là như nhìn thấy vị cứu tinh dân tộc.
Lá cờ Vàng có một ý nghĩa cao cả, và đã thăng trầm với lịch sử oai hùng của dân tộc Việt. Nó nhuốm khí thiêng sông núi, tượng trưng cho Dân chủ, Tự do, Nhân quyền, cho ý chí kiêu hùng của nòi giống Việt, cho thanh bình thịnh trị của muôn dân, và cho đoàn kết dân tộc trong việc giữ nước và dựng nước của tổ tiên ta. Lá Cờ Vàng Quốc Gia Việt Nam là linh hồn của cả dân tộc Việt. Và với ánh sáng của công nghệ thông tin hiện nay, những luận điệu tuyên truyền của cộng sản sẽ ngày càng bị lột trần, ngày tàn của lá cờ đỏ bán nước sắp đến gần để có tự do, dân chủ thực sự cho dân tộc Việt Nam.
Ngày hôm nay, đảng cộng sản Việt Nam không còn gì để biện minh cho những sai lầm, tội ác của mình. Người dân Việt Nam đã hoàn toàn mở mắt khi chứng kiến nước Nhật đổ nát sau năm 1945 khi kết thúc đại chiến thế giới thứ hai đã vươn lên mà cụ thể tuần qua họ đã thử thành công tàu siêu tốc 500 km/h. Trong khi đó thì báo chí cộng sản vẫn đang tự tô vẽ cho chế độ bằng cái tít trên nhiều báo chí của đảng ” Việt Nam hạnh phúc thứ nhì thế giới”. Hạnh phúc ấy được báo đảng lý giải là “không dựa trên sự giàu có mà dựa theo mức tuổi thọ của người dân, độ hài lòng của người dân và chỉ số môi trường. Theo chỉ số này, Costa Rica là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới 2014 tiếp theo là Việt Nam.” Xin thử hỏi, người dân nào hài lòng với cuộc sống trong khi hàng ngày có cả chục ngàn dân oan trên khắp các miền tổ quốc đang rên xiết trong vô vọng ?. Xin thử hỏi, chỉ số môi trường và tuổi thọ người dân ra sao trong khi cả nước đầy rẫy những “làng ung thư” và kênh nước đen?. Có lẽ chẳng cần phải nói gì thêm vì chẳng một ai có đầu óc tỉnh táo tin vào cái chỉ số “hạnh phúc” ở một đất nước mà đến cái cột đèn cũng muốn ra đi.
Lúc này đây, Hồn thiêng sông núi đã và đảng hun đúc cho những người dũng cảm hiên ngang ôm lá cờ Vàng Dân Tộc đi giữa phố phường Sài Gòn. Sẽ là quá sớm để nói chúng ta sẽ lật đổ được chế độ cộng sản một sớm một chiều và đem lá cờ Dân Tộc trở lại. Nhưng những tín hiệu vui từ mảnh đất Việt Nam trong gông cùm cộng sản đã cho thấy chúng ta hoàn toàn có thể hi vọng vào một Việt Nam tươi sáng không cộng sản. Ngày đó, chúng ta sẽ siết chặt tay nhau cùng ca vang “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” và xung quanh chúng ta là một rừng Cờ Vàng Dân tộc.

Vâng ! Lá cờ đã trở lại, đang trở lại và sẽ trở lại. Đó chính là Cờ Vàng Dân tộc cũng là hạnh phúc đích thực của cả Dân Tộc Việt Nam !
Đặng Chí Hùng

22/11/2014
(nguồn: báo Thời Mới Canada)


Ổ Bánh Giáng Sinh

Noel, Giáng-sinh, đặt-hàng, bánh-kem, học-làm-bánh, tiền-triệu, khách-hàng.
Noel, Giáng-sinh, đặt-hàng, bánh-kem, học-làm-bánh, tiền-triệu, khách-hàng.


Thắng Cu Tí của tôi thật là "gà tồ", 14 tuổi, to cao hơn cả mẹ, nhưng vẫn trẻ thơ dễ thương khi vòi vĩnh tôi:

- Mẹ làm bánh Giáng Sinh đi, con muốn được thấy mẹ làm bánh và ăn bánh của mẹ.

Nếu đây là lời đề nghị của bố nó thì tôi sẽ chột dạ, cho là anh ta nói ...móc mỉa tôi, nhưng thằng Cu Tí hiền lành, ngây thơ thế kia, những gì nó nói ra là tiếng nói thật từ trái tim nó. Tôi hỏi lại cho chắc ăn:

- Tại sao năm nay con muốn mẹ làm bánh? Những năm trước chúng ta vẫn mua bánh ở tiệm cơ mà?

- Con có một thằng bạn thân, nó khoe với con đầy vẻ hãnh diện rằng mỗi mùa Giáng Sinh, mẹ nó đều làm bánh tại nhà, vừa vui vừa ngon hơn ở tiệm. Con nhớ, lâu lắm rồi đó, mẹ cũng đã làm bánh cho mùa Giáng Sinh, con và Bố đã ăn rất nhiều, phải không mẹ?

Tôi nhớ lại cái lần tôi lò mò làm ổ bánh Giáng Sinh, năm đó Cu Tí mới 8 tuổi. Có lẽ trong ký ức Cu Tí, cái cảnh bừa bộn trong bếp, nào máy đánh trứng, nào khay, nào thìa, nào bơ, đường, bột?Và tôi thì xắn tay áo(làm bánh mà làm như sắp sửa đỉđánh nhau) mặt dính bột, tay dính bơ, còn bố nó thì chạy đi chạy lại, lăng xăng theo mỗi lời sai bảo của tôi, đã là một cảnh tượng vui mắt chưa từng thấy trong đời, nên nó còn nhớ mãi cho đến giờ? Và nhất là ổ bánh nướng bị khét, tôi bắt hai bố con nó ăn cho bằng hết còn hơn là?vứt vô thùng rác, trong khi tôi lại kiên nhẫn đánh trứng để làm lại ổ bánh khác.

Cái bánh thứ hai, rút kinh nghiệm, không khét, nhưng tới phần trang hoàng kem mới là nhiêu khê, rách việc. Khi tôi nhìn các thợ làm bánh biểu diễn trên ti vi hay trong các cửa chợ, sao mà dễ dàng và gọn gàng thế? Còn tôi bày đủ đồ nghề ra bàn, hoa cả mắt, màu xanh màu đỏ loạn xà ngầu, tới phần trang trí những cành Hoa Hồng thì tôỉchơi tất cả các màu, xanh, đỏ, vàng, tím, hồng, cam? từ hoa tới lá, tới cành. Chồng tôi gọi đó là loại hoa ?hiếm quý? trên cõi đời vì màu sắc ?đa dạng? của nó. Vậy mà Cu Tí của tôi vẫn thích mê, vẫn sung sướng khen đẹp, khen mẹ tài ba, vì Cu Tí chưa thấy ổ bánh nào có nhiều màu sắc ?nổi bật? như thế, sặc sỡ như thế.

Tôi cảm động, thương Cu Tí quá, nó là người duy nhất khen tôi, kể từ khi tôi biết vào bếp nấu nướng cho đến giờ.

Sau mùa Giáng Sinh đó, tôi không còn hứng thú làm bánh Giáng Sinh nữa mà chỉ order ở tiệm, là sẽ có ổ bánh nhanh gọn nhất. Thế mà, năm nay Cu Tí nhớ lại và ?xúi? tôi làm bánh, lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, ai nỡ từ chối, dù tôi đã hết hứng thú làm bánh từ lâu rồi.

Tôi hớn hở nhận lời:

- Con yên trí, đêm Giáng Sinh này chúng ta sẽ có một ổ bánh ?home madẻ đàng hoàng. Cả nhà mình sẽ diễn lại cảnh vui như ngày xưa, bố sẽ phụ giúp mẹ?

Cu Tí khoái chí:

- Cả con nữa mẹ ạ. Bây giờ con lớn rồi, cũng hữu ích cho mẹ được mà.

Thế thì còn gì bằng, năm nay tôi sẽ có hai người phụ tá, hi vọng ổ bánh sẽ hoàn tất nhanh chóng và tốt đẹp hơn, và có ý nghĩa là vợ chồng, con cái được dịp quây quần vui vẻ, chuẩn bị cho đêm Giáng Sinh huyền diệu.

Hai ngày trước lễ Giáng Sinh, tôi mua về những vật liệu làm bánh cake. Chồng tôi giật mình như vừa trông thấy một điều bất bình thường:

- Hình nhửem định làm bánh hả ?

- Anh đã thấy cụ thể, lù lù ra đấy mà còn ?hình nhử cái gì nữa. Em sẽ làm bánh Giáng Sinh đấy. Rồi sao?

- Anh tưởng mấy năm qua em đã quên đi cái chuyện làm bánh rồi, tưởng anh được yên thân. Bây giờ lạỉ

Tôi trấn an, thông cảm:

- Anh đừng lo, 6 năm qua, em đã rút tỉa được nhiều kinh nghiệm từ bạn bè, sách báo, và vẫn có?

- Có anh phụ tá, chứ gì? Anh ta ngán ngẩm ngắt lời tôi.

- Chẳng những có anh mà có cả Cu Tí luôn. Chính nó đề nghị em làm bánh và hứa sẽ phụ giúp, nên lần này chắc anh sẽ đỡ?vất vả hơn lần trước.

Tôi dịu dàng tâm lý chiến:

- Cu Tí muốn thấy mẹ làm bánh, muốn được ăn cái bánh ?sản xuất? tại nhà. Chúng ta hãy làm những gì có thể làm để mang lại niềm vui cho con trong ngày lễ Giáng Sinh trọng đại này. Anh nhé!

Anh ta vẫn còn nhăn nhó:

- Có ý nghĩa thật đấy, nhưng chỉ khổ cho anh, phải dọn dẹp, rửa ráy khay, chậu, đồ nghề dính đầy bơ sữa của em, Những hình ảnh ấy vẫn còn ám ảnh anh cho đến bây giờ.

Thấy mặt tôi ?xưng? lên, anh ta vội vàng sửa lại:

- Tuy nhiên cũng? OK, nhưng lần này em nhớ chuẩn bị đúng màu trộn vào kem trang hoàng ổ bánh nhé. Cu Tí lớn rồi, không còn bé như năm xưa đâu, nó sẽ biết rằng trên khắp thế gian này không có cây hoa Hồng nào mà hoa lá cành có đủ tất cả các màu như 7 sắc cầu vồng đâu nhé.

*** *** ***

Hôm sau, tôi bày tất cả đồ nghề, vật liệu ra bàn bếp, tưởng rằng Cu Tí sẽ vui thích xà vào như ngày xưa, nhưng nó lỉnh đâu mất. Tôi không muốn để phí giây phút hạnh phúc này, chạy lên lầu tìm con, tôi ngạc nhiên thấy Cu Tí ngồi ru rú trong phòng, nó nhìn tôi bằng đôi mắt có lỗi và đầy vẻ bồn chồn khác thường:

- Mẹ ơi, con xin lỗi, con không giúp mẹ được. Nhưng mẹ cứ làm bánh đi, đó là ngày vui của gia đình mình.

- Thế con bận gì nào?

Nó leo lên giường, trùm mền, thảm sầu:

- Con không được khoẻ, con cần nghỉ ngơi là sẽ khỏi thôi. Nếu bất cứ ai đến đây tìm con, mẹ nói con ?không có nhà nhé.

Tôi không còn ngạc nhiên nữa mà hoảng hốt lên, tốc mền ra, sờ trán thằng Cu Tí:

- Con có nóng sốt gì đâu. Con bị gì? Để bố đưa con đi bác sĩ.

Cu Tí kéo mền lên lại và cương quyết:

- Khỏi cần! Con bảo đảm với mẹ là?mai con sẽ khỏi, nhưng với điều kiện như con vừa mới nói, con không muốn gặp ai.

Tôi lại chạy bay xuống nhà dưới, nước mắt ràn rụa, thông báo cho chồng:

- Anh ơi, Cu Tí nhà mình làm sao ấy? Mới mấy hôm trước, nó hớn hở đòi em làm bánh để nó tham dự cho vui. Bây giờ nó ?xù?, không thèm xuống, mà còn nói những điều em không hiểu nổỉ

Nghe tôi kể, chồng tôi cũng thắc mắc:

- Hồi nào đến giờ, bạn bè đến, nó đều vui vẻ cơ mà?

- Trông nó lo lắng, khác thường lắm anh ạ. Cu Tí nằm trùm mền, chán đời như một thằng vừa bị lay off, vợ bỏ, và nhà cửa, xe cộ, bị nhà băng kéo vậy đó.

Chồng tôi chợt reo lên như nhà phát minh vừa tìm ra đáp số:

- Anh biết rồi, Cu Tí đang yêu!

- Nó mới 14 tuổi, ngây thơ trong trắng. Con em, em biết mà?

Chồng tôi vẫn khăng khăng:

- Nó đang tương tư đấy em ơi. Thằng con trai cao lớn, đẹp trai như Cu Tí thiếu gì con gái theo, làm gì mà nó không xúc động?

- Thế thì chán quá, em chẳng còn tâm trí nào làm bánh nữa, trong khi con em đang đau khổ vì một con ranh con nào đó. Hừ! để em phải hỏi nó cho ra lẽ?

Tôi lại hồng hộc chạy lên lầu, nhưng cửa phòng Cu Tí đã đóng chặt, bên trong im lìm, tôi không thể làm gì khác hơn là đi xuống nhà. Chồng tôi nhìn đống vật liệu bừa bộn trên bàn và ?sung sướng? đưa ra ý kiến:

- Hay là dẹp làm bánh đi, em nhé?

Từ rầu rỉ tôi vùng lên:

- Chuyện đâu còn đó, kế hoạch làm bánh đã lập ra, vật liệu đã chất một đống đây, thì em phải làm . Cu Tí vẫn muốn được ăn bánh của em cơ mà.

Tuy vậy tôi vẫn bắt tay làm bánh với tâm trạng hoang mang, đầu óc nghĩ lung tung, không biết chuyện gì đang xảy ra cho con tôi? Cầm máy đánh trứng làm sao mà để bắn tung toé trứng vào cả mặt, cả tóc tôi. Chồng tôi đứng bên cạnh, may mà anh ta ?né? được, nên không bị gì, nhưng cũng cằn nhằn:

- Em cẩn thận kẻo văng xuống sàn nhà, đừng trách sao lại có kiến, có dán.

- Cho dù em có làm văng xuống sàn nhà, nhưng lỗi là tạỉanh không lau chùi sạch sẽ. Tôi cãi và tiếp tục sai bảo:

- Thôi, anh chuẩn bị cân cho em 200 gram đường, 250 gram bột mì, và lấy giùm em 1 gói va ni trong cái hộp nho nhỏ màu trắng, đặt giữa cái hũ màu vàng và màu xanh, để ở cái tủ gỗ phía bên phải, gần cái oven đấy.

- Trời ơi, gói va ni mà em cất giữ như kho tàng quý báu ấy, muốn tìm được cũng điên đầu. Em mà hối quá, anh cân lộn bột mì thành đường bây giờ.

- Nếu thế thì chết em đấy, thiếu bột khi nướng bánh sẽ xẹp. Đã mấy lần anh phải ăn bánh xẹp kiểu ấy rồi. Anh chưa ngán à ?

Chồng tôi đang cân đong, đo đếm, thì đúng lúc đó chuông cửa reo, khách nào mà ?không biết điều, đến ngay vào lúc cả hai vợ chồng tôi đều bận bịu thế này?

- Ai thế nhỉ? Chắc có liên quan đến thằng Cu Tí? Để anh ra xem?

Chồng tôi nói và bỏ mặc đường bột bơ vơ trên bàn, hối hả ra mở cửa. Một lát anh ta quay vào:

- Có hai đứa bạn gái cùng lớp Cu Tí, đòi gặp Cu Tí.

- Anh có hỏi tụi nó chuyện gì không?

- Anh chưa hỏi, vì tụi nó nói chỉ có thể nói chuyện này với con mình thôi. Em là phụ nữ, chắc sẽ dò hỏi tụi nó dễ hơn.

Đến lượt tôi bỏ mặc thố trứng đang đánh dở dang, nằm bơ vơ bên cạnh đống đường bột cũng đang bơ vơ nhu thế, lau sơ mặt và tay, tôi bước ra phòng khách. Hai cô bé xinh xẻo, tuổi cỡ Cu Tí đang ngồi đợi ở ghế sôfa.

- Cháu chào bác ạ.

Hai đứa cùng đứng dậy chào tôi. Tôi đáp lại:

- Bác chào hai cháu, hai cháu là ai?

- Thưa bác, hai cháu là bạn thân của nhau và cũng là bạn cùng lớp của Steve. Cháu tên là Amanda Nguyễn và bạn đây là Cindy Nguyễn. Chúng cháu muốn gặp Steve có chuyện khẩn cấp.

Tôi hồi hộp thầm đoán, chắc đây là nguyên do Cu Tí có thái độ ?trùm mền? hôm nay. Tôi phải điều tra cho ra ngọn nguồn mới được, xem đứa nào là ?thủ phạm? đã làm trái tim con tôi ?rướm máu?, con tôi ?đau khổ? như thế.

Tôi hỏi:

- Amanda và Cindy muốn gặp Cu Tí có chuyện gì?

Con Amanda mở tròn đôi mắt to đen hạt huyền của nó lên. Đẹp thế, mà tôi cũng chẳng lòng dạ nào mà khen:

- Cu Tí là ai hả bác??

Rồi đến lượt con Cindy cũng tròn vo đôi môi cong cong, xinh xẻo lên mà hỏi:

- Cu Tí nghĩa là gì hả bác?

- Cu Tí nghĩa là?

Tôi đâm ra bối rối, biết giải nghĩa tên ?Cu Tí? thế nào bây giờ? Những nick name người Việt Nam đặt dễ thương thật đấy, nhưng giải nghĩa ra thấy ?kỳ kỳ làm sao! Như Cu Tí, Cu Tèo, Gái Lớn, Gái Nhỏ. Ở xóm tôi tại Việt Nam khi xưa, có nhà đặt tên con là ?Thằng Vẹo?(vì chân nó có tật, đi xiêu vẹo một chút) con Ù ( mập ù) con Nị ( vì bé tí nị) Gọi từ bé cho đến lớn thì chết tên luôn, dù bây giờ anh Vẹo đã chữa đôi chân bớt vẹo, có vợ đẹp con khôn. Còn con Ù, con Nị, đã là hai cô gái xinh đẹp, có khối chàng đang theo đuổi.

Tôi giải thích:

- Cu Tí là cái tên Việt Nam bác gọi ở nhà của thằng Steve ấy mà. Thế hai cháu muốn gặp Steve chuyện gì thì cứ nói với bác, bác sẽ giúp cho. Steve dặn bác là hôm nay nó không muốn tiếp ai hết.

Hai con bé nhìn nhau, rồi cùng thì thầm với nhau gì đó. Con Amanda lên tiếng:

- Steve không muốn tiếp tụi cháu thật hả bác?

Tôi dỗ dành hai con bé:

- Bác là mẹ Steve. Hãy coi bác như một người để tâm sự đi. Bác sẽ hiểu hai cháu muốn gì và biết đâu sẽ giúp được hai cháủ

Cindy nói:

- Nếu Steve không muốn gặp tụi cháu, thì tụi cháu phải nói ra thôi, và nhờ bác nói lại với Steve nhé.

Tôi lại hồi hộp như sắp sửa phải nghe một chuyện?kinh dị. Cindy tiếp:

- Cháu và Amanda cùng?yêu Steve, tụi cháu muốn gặp gỡ tay ba, để Steve muốn chọn ai thì chọn. Thẳng thắn, rõ ràng như vậy, còn hơn là hai đứa cứ yêu và Steve cứ im lặng.

Thôi chết rồi, đây là một chuyện tình, mà lại là chuyện tình tay ba, mối tình ?tam giác? mới éo le. Tôi kinh hoàng nhớ đến những chuyện tình tay ba gây án mạng, đổ máu đã từng đăng trên báo. Tôi cố trấn tỉnh để hỏi tiếp hai con nhỏ nhãi ranh đang yêu kia:

- Các cháu yêu Steve hồi nào? Sao lại đòi Steve lựa chọn vào đúng dịp lễ này?

Con Amanda lại mở to đôi mắt đẹp của nó:

- Có tình yêu vào mùa lễ Giáng Sinh mới vui chứ bác. Tụi cháu sẽ có lí do tặng quà cho nhau, sẽ hẹn nhau đi chơi phố .

Tôi nghĩ thầm, hai con bé này ảnh hưởng ti vi, phim ảnh quá rồi. Còn Cu Tí, dưới sự dạy bảo và kiểm soát của tôi, tôi vẫn tin nó là một thằng ? ngốc nghếch? không hơn không kém.

Với tâm hồn của một người mẹ, của một người phụ nữ, tôi dịu dàng nói chuyện với hai con bé rằng: hai cháu và Steve, còn rất trẻ, tương lai ở phía trước, các cháu phải ngoan ngoãn, chăm lo học hành. Ở tuổi này, mọi thứ, từ ăn ở, học hành, đều lệ thuộc vào cha mẹ, gia đình, thì yêu nhau để được gì? Sẽ ảnh hưởng đến việc học, đến tư cách của các cháu. Thay vì Amanda và Cindy dành nhau trái tim của Steve, tại sao cả ba không là tình bạn? Các cháu sẽ không mất gì cả, hai cháu vẫn là đôi bạn thân và cùng có Steve. Khi nào các cháu khôn lớn trưởng thành, tình yêu mới đích thực là tình yêu

Hai con bé lại nhìn nhau, ánh mắt trao đổi như công nhận tôi nói có lý, sẽ không ai mất gì cả, còn hơn là sẽ mất một người bạn, và mất cả người mình thương.

Cindy nói:

- Vâng chúng cháu sẽ vâng lời bác. Bác cũng nói với Steve như thế nhé?

- Chúng cháu hứa sẽ cùng là bạn với Steve. Amanda nói tiếp.

Tôi thở phào, nhẹ nhỏm:

- Vậy tối mai là Christmas Eve. Bác mời hai cháu đến đây ăn mừng lễ Giáng Sinh với gia đình bác, với bạn Steve nhé?

Hai con bé vui mừng nhận lời và chào tôi ra về.

Tôi lên lầu, để nói chuyện với Cu Tí, dù vẫn tin tưởng ở con mình, nhưng nếu tôi đã lầm, thì đây cũng là dịp để tôi dạy dỗ, chỉ bảo Cu Tí như đã làm với Amanda và Cindy.

Có lẽ Cu Tí đã biết nãy giờ tôi tiếp hai khách của nó, nên cửa phòng đã mở. Thấy tôi vào, nó thò đầu ra khỏi tấm mền, hỏi ngay:

- Hai con đó về chưa mẹ?

Tôi ngồi xuống bên cạnh con:

- Chúng nó đã về rồi. Con hãy nói cho mẹ nghe đi, có phải hai đứa nó yêu con không?

Cu Tí gật đầụTôi hỏi tiếp:

- Vậy con yêu đứa nào?

Tức thì Cu Tí trợn mắt lên, phản đối:

- Ai nói với mẹ thế? Hai con đó thích con, nhưng con không thích con nào hết.

Tôi nhìn cử chỉ và nhìn sâu vào đôi mắt Cu Tí, tôi sung sướng biết là Cu Tí ngây thơ vô tội trong ?chuyện tình? này.

- Hai con này cứ theo con hoài, con chẳng biết làm sao, vì con chỉ coi chúng nó như những đứa bạn cùng lớp thôi. Hôm qua, nó đưa con tờ giấy nàỷ

Cu Tí móc túi áo, đưa tôi tờ giấy có ghi mấy hàng chữ: ?Steve, Chiều mai Amanda và Cindy sẽ đến nhà Steve để chúng ta cùng nói chuyện. Trước mặt ba người, Steve phải lên tiếng chọn, ai sẽ là người yêu của Steve nhé?.

Đúng là trẻ con thời đại này, và ở xứ Mỹ này, biết yêu sớm và thẳng thắn như Mỹ. Trong khi Cu Tí đã được chúng tôi dạy dỗ theo phong tục rất Việt Nam, đã biết yêu là gì đâu, ngoài chuyện học hành. Hèn gì thằng Cu Tí sợ, phải lập kế giả bệnh, trùm mền để trốn tránh.

Tôi kể cho Cu Tí nghe Amanda và Cindy đã hiểu ra, và sẽ giữ tình bạn với con như trước. Cu Tí vui mừng ôm chầm lấy tôi:

- Mẹ giỏi quá! Vậy mà con đã lo âu suốt từ hôm qua đến giờ, vì chẳng biết tính sao.

Rồi nó tung mền, vùng dậy:

- Bây giờ con xuống bếp phụ mẹ làm bánh đây.

** * *** ***

Đêm Christmas Eve, chúng tôi sửa soạn bày tiệc ra bàn, ổ bánh Giáng Sinh tôi làm được đặt ngay chính giữa, tuy màu sắc không tréo ngoe, nhưng cũng?không đẹp hơn ổ bánh cách đây 6 năm là bao. Chắc tài cán tôi chỉ cỡ đó, không?thụt lùi là may rồi. Ổ bánh có công của Cu Tí rất nhiều, nó đã chia sẻ một nửa sự vất vả mà 6 năm trước bố nó phải gánh chịu một mình. Tuy bề ngoài ổ bánh trông ?vô duyên? thế, nhưng tôi hi vọng chất lượng bánh thơm ngon, vì bơ để làm kem, tôi mua loại đắt tiền, với chủ ý lấy nội dung ?cứu bồ? cái hình thức, mà tôi đã tiên đoán trước, không thể nào sai được.

Đúng giờ, hai con bé Amanda và Cindy đến, chúng khệ nệ bưng theo một ổ bánh Giáng Sinh đã mua từ cửa tiệm nào đó để làm quà. Chồng tôi mở hộp bánh ra và đặt cạnh ổ bánh của tôi. Dĩ nhiên, ai cũng thấy ?Hai khung trời khác biệt? giữa hai ổ bánh, một bên thì lộng lẫy, hoa mỹ, một bên thì vụng về, méo mó.

Chồng tôi nói với riêng tôi:

- Cái ổ bánh kia đẹp xấu không quan trọng bằng trong ngày lễ tươi vui này, chúng ta biết rằng con chúng ta vẫn ngoan ngoãn, trong sáng,và em đã giúp được hai con bé kia thoát ra được cái vòng tình yêu vụng dại, ngớ ngẩn. Thắt chặt lại tình bạn bè của ba đứa nó.

Trẻ con thường mau quên, nhìn Amanda và Cindy cùng nói chuyện tíu tít với thằng Cu Tí, tôi hiểu chúng nó vẫn chỉ là ba đứa trẻ, ba đứa bạn học cùng lớp. Tôi ngắm nhìn hai ổ bánh Giáng Sinh và thì thầm một mình:

- "Hỡi hai ổ bánh Giáng Sinh, một đẹp, một xấu kia! Cả hai đều là tấm lòng chân thành, thương mến với Steve, với thằng Cu Tí và gia đình chúng tôi đêm nay. Đây mãi mãi là hai ổ bánh Giáng Sinh đẹp nhất trên cõi đời này.".

Nguyễn Thị Thanh Dương

Nửa Cuốn Sách Cuội




Tại một thị trấn miền Trung, trong căn nhà gạch, An bóc tờ lịch ghi ngày 5 tháng 5 năm 1960, và nói với Tâm là bạn thâm giao:

“Hôm nay bạn đúng mười chín tuổi, con đường học vấn của tương lai còn xa hun hút. Bạn muốn kê vai chống đỡ trời. Phải tự liệu sức mình trước, rồi mới dự phóng cho mộng tưởng mai sau. Bạn thử tự nhìn lại mà xem. Thân thể bạn xanh xao yếu đuối, xem bộ trói gà không chặt. Lá gan bạn cũng không lớn bao nhiêu, cứ thấy con gái là run sợ xanh mặt, ăn nói lắp bắp, bọn chúng có ăn thịt bạn đâu mà sợ đến thế? Hiểu biết và sức học của bạn, thì cũng mới qua khỏi trung học, chưa ra cơm ra khoai gì cả. Thế mà bạn cứ tự dằn vặt tâm trí làm chi. Bạn chưa làm được việc gì to tát, thì cũng bình thường mà thôi. Bạn mơ mộng chuyện đội đá vá trời, muốn thay đổi cục diện cả thế giới? Khổ chưa?”

Tâm liếc qua An, rồi ấp úng nói:
“Xưa nay các bậc anh hùng, ban đầu có ai ra gì đâu? Cả cái ông Hitler đã chọc trời khuấy động địa cầu, ban đầu cũng chỉ là một gã thợ vẽ quèn, ốm yếu, đi lính thì mới có là hạ sĩ quan, học hành cũng chẳng là bao. Vua Tàu dựng nên nhà Minh  ngày xưa, là một kẻ chăn trâu thất học. Và ông Mao Trạch Đông ngày nay, thời gian học hành gom lại cũng chỉ được mấy năm lẻ mà thôi..”

An cắt ngang lới bạn:

"Bởi thế nên gây khổ đau cho nhân loại, làm chết chóc hàng trăm triệu người, và cả nhiều tỉ người quằn quại trong gông cùm áp bức. Bạn muốn gì? Muốn tên tuổi bạn được lừng lẫy, không lý gì đến khổ đau của người khác?

Tâm đỏ mặt trả lời:

“Không, không phải. Tôi chỉ muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp. công bằng tuyệt đối . Không có người bóc lột người. Ai ai cũng  đều được sung sướng, ấm no, hạnh phúc.”
An cười đáp lời bạn:

“Tuyệt đối công bằng? Ngay cả trên thiên đường cũng chưa có. Thượng Đế thì ngồi chểm chệ thoải mái trên ngai vàng, tiên nữ mặt đẹp như ngọc cũng ôm ống nhổ đứng hầu cho rã lưng ra. Ông thánh còn phải làm nghề gác cửa.  Mình ở trong thế gian nầy, thì phải chấp nhận cái tương đối để vui sống. Đòi hỏi cái tuyệt đối chỉ tổ làm khổ bản thân, bất mãn. Thời nào cũng có nhiều kẽ nghĩ là họ sinh lầm thế kỷ. Làm chi có tuyệt đối trên cõi đời trần tục khốn khổ nầy. Bạn có biết không, khi một người Ả Rập dệt được một tấm thảm mà không có một sơ sót nào, thì họ dùng dao cắt một  sợi chỉ trên thảm, để cho nó mất cái hoàn hảo, vì sợ đụng chạm đến Thượng Đế, vì chưa chắc ngài đã được hoàn hảo. Bây giờ, giả sử bạn được nắm hết quyền hành trên toàn cõi đất nước nầy, liệu bạn có thực hiện được bao nhiêu phần trăm những điều bạn mơ ước cho xã hội?”

Tâm tần ngần ấp úng:

“Ít nhất cũng xóa bỏ được tất cả mọi bất công hiện tại. Bạn thử nhìn qua bên kia vĩ truyến 17, ở miền Bắc họ xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bằng và no ấm hơn. Không có áp bức, khủng bố.”

An nóng cả mặt, nói lớn:

“Ai bảo với bạn như thế? Bạn đã sống trong xã hội đó chưa mà cho là công bằng, no ấm hạnh phúc? Bạn có nghe và biết những đấu tố giết người oan uổng trong cuộc cải cách ruộng đất, đàn áp và khủng bố nhóm nhân văn giai phẩm ..."

Tâm khoát tay và cắt ngang lời nói của An:

“Toàn cả những tuyên truyền ấu trỉ, lếu láo, trẻ con nghe cũng không tin được. Trên đời nầy, làm chi có chuyện con cái đấu tố cha mẹ, làm chi có chuyện văn nghệ sĩ bị đàn áp vì vài ba bài văn, bài thơ.”

Tâm rút trong hộc bàn mấy cuốn sách viết về lý thuyết cọng sản đưa cho An xem. Tâm gật gù:

“Tôi cho bạn mượn về đọc. Bạn sẽ thấy, càng nghiền ngẫm, càng thấm thía và muốn dấn thân ngay. Tôi ước mơ được đem tâm huyết, đem tuồi trẻ hiến dâng cho lý tưởng cao đẹp, phục vụ cho công bằng, bác ái. Xây dựng cho đất nước mau chóng được rạng rỡ hơn.”

An biết không thuyết phục được bạn, và hiểu rằng, khi tuổi trẻ say mê lý tưởng, thì còn hơn  say mê tình yêu. Yêu là mù quáng, không mù quáng thì không yêu. Kẻ say mê lý tưởng, còn mù quáng gấp nhiều lần hơn. Nếu được chết cho lý tưởng, họ cũng sẵn sàng và cam lòng. An nói:

“Tôi có đọc sơ về lý thuyết cọng sản. Thấy mê lắm. Nhưng thực tế thì khác hẳn. Tôi có một người bà con, nay cụ đã hơn 95 tuổi. Cụ từng học hành, lớn lên và sinh sống tại nước Nga từ thời Nga Hoàng, thời cách mạng 1917, và cả thời trước sau đệ nhị thế chiến. Cụ biết rõ ràng cái thiên đường mơ ước của bạn. Nếu bạn muốn, tôi sẽ dẫn bạn đi thăm và thỉnh ý cụ. Sau đó, may ra bạn được sáng suốt hơn trong việc đi tìm lý tưởng cho tương lai.”

An và Tâm lặn lội đi tìm thăm cụ Long. Từ miền Trung lấy xe lửa về Nam, chuyển xe đò xuống miệt Long Xuyên, rồi chèo ghe nhỏ qua sông lạch, vào đến quận lỵ xa xôi vắng vẻ, đi bộ thêm vài cây số đường thì đến nhà ông cụ.

Tâm được dẫn vào bái kiến cụ Long, một ông già gầy gò, ngồi co ro nửa thức nữa ngủ.  Râu cụ lưa thưa, tóc có nhiều cọng còn đen, hai hàm răng phía trước gần như nguyên vẹn, đóng bợn nâu vàng. Nhìn thấy dáng dấp bên ngoài của cụ, không có vẻ gì là tiên phong đạo cốt như Tâm đã vẽ vời trong trí, Tâm cũng hơi thất vọng trong lòng. Tự nhiên, niềm trân trọng trong lòng cũng hao hớt rất nhiều.  Cái náo nức đi tìm lời khuyên dạy vàng ngọc cũng nguội bớt .

Trong một buổi mạn đàm uống trà, ăn bánh ngọt. Tâm do dự thưa:

“Cháu nghe nói nói cụ đã từng mòn gót chân phiêu lảng khắp năm châu bốn biển. Đã từng gặp gỡ và là bằng hữu của những nhân vật làm nên lịch sử hiện đại. Xin cụ vui lòng cho cháu biết cơ duyên nào đưa đẩy bước chân của cụ đi xa quê hương vạn dặm, đi ra xứ người trong một thời gian dài như vậy không?”

Cụ già Long khoát tay, lắc đầu nói:

“Thôi, thôi, đừng nhắc những chuyện xa xôi đó nữa, không ích lợi gì, thêm bận lòng già. Nay ta cũng đã 95 tuổi, thời gian còn thấy bóng mặt trời không lâu nữa. Ta muốn vùi chôn thật sâu miền quá khứ. Nhiều lúc ta cũng mãi ân hận không nguôi, có lẽ ta cũng đã góp phần không ít, làm đau khổ di lụy đến hàng trăm triệu sinh linh trên thế giới nầy.”

Tâm nghĩ là ông già đã lẫn, nói chuyện mê sảng trong khi thức. Con người tầm thường như ông, làm sao mà di lụy đến hàng trăm triệu sinh linh được. Tâm nói:

“Thưa cụ, làm sao mà cụ lại lưu lạc trôi dạt qua tận nước Nga xa xôi lạnh lẽo đó. Khi ra khỏi nước, cụ đã bao nhiêu tuổi?  Ở bên Nga, cụ đã làm gì?”

2- Tâm sự tuổi già.

Cụ Long nhìn Tâm với ánh mắt thương xót mà nói:

“Tôi nghe cháu An nói anh đang đi tìm lý tưởng, và muốn chết cho lý tưởng anh đang tôn thờ. Đáng ra tôi im lặng, nhưng phải nói để anh biết, và sáng suốt hơn, khỏi đi lạc đường, nguy hiểm lắm. Tôi ra khỏi nước do một sự tình cờ. Nguyên ông cụ thân sinh tôi làm quan võ dưới triều vua Tự Đức, bị hàm oan phải bỏ xứ ra đi. Khi đó tôi vừa 15 tuổi, nhưng đã làu thông kinh sử, đang chuẩn bị về kinh đô tham dự kỳ thi hội. Sợ bị bắt tội, ông cụ tôi hốt cả kho đụn công khố, lấy tiền vàng trả cho chủ tàu Hòa Lan, đem vợ con đi ra khỏi xứ, khi đó chưa biết đi đến đâu. Trên tàu, nhờ có võ nghệ, ông cụ tôi đã khóa tay, và giựt được con dao của một người say rượu, cứu mạng và bảo vệ  cho một thương gia người Nga khỏi bị thương tích. Ông nầy có cơ sở kinh doanh tại thành phố Saint Petersburg. Vị thương gia người Nga nầy đề nghị cho cụ tôi hợp tác kinh doanh, trông nom một cửa hàng tạp hóa tại thành phố ông ở. Nhờ có đem theo nhiều vàng ngọc, của cải nên chẳng bao lâu, ông cụ tôi đã làm chủ riêng được  một cơ sở kinh doanh tại Kazan. Cụ làm ăn rất mau phát đạt nhờ cần cù, chăm chỉ, lương thiện, nên có được uy tín. Sau đó, bắt chước đám Do Thái, mở thêm tiệm cho vay, cầm đồ. Dân nghèo địa phương kháo nhau về nơi cho vay không cắt cổ quá đáng, không bóc lột như các nơi khác.”

Cụ Long ho một hồi dài, nước bọt phun ra bay trong nắng. Cụ tiếp :

“Chính nơi đây, nhiều nhà cách mạng Nga khi còn long đong, hàn vi đói rách, đã là thân chủ trung thành của tiệm cầm đồ. Có khi vay non tiền lương để vợ con bớt nheo nhóc đói khát, dài cổ trông chờ bánh mì hẩm nguội. Cũng tại đây, mà tôi quen ông Vladimir Ulianov, tức ông Lê Nin. Một hôm ông  đến cầm đồ, và nhận ra tôi là bạn chung trường tại đại học Kazan, tôi học trên ông hai lớp ở phân khoa Luật học. Dạo đó vào khoảng năm 1887, khi đó tôi đã 22 tuổi, và ở nước Nga đã được bảy năm. Khi đã nhận ra bạn chung trường, chung khoa, tôi thường cho ông nầy mượn chút tiền lẽ, mà ít khi thấy ông thanh toán lại sòng phẳng.  Nhưng tôi không cần đòi nợ, vì tiền do cha mẹ làm ra, không phải là mồ hôi nước mắt của riêng mình nên không tiếc.  Giao tình giữa tôi và ông ấy từ đó mà thân thiết hơn.”

Cụ Long mơ màng, đưa tay vuốt mặt, rồi nói:

“Bẵng đi một thời gian chừng hơn một năm, tôi mới gặp lại ông Vladimir nầy, trông bộ gầy gò xơ xác. Đói. Ông cho biết đã bị đuổi học, và bị phát lưu đến miền Kokushino. Ông hỏi mượn tiền, và đưa một cuốn sách cũ nát làm của thế chấp. Được biết cuốn sách nầy là vật gia bảo truyền đời từ hơn nhiều ngàn năm. Không biết ông nầy có thấy tôi là người sang nên bắt quàng làm họ hay không. Ông nói rằng, tổ tiên bốn đời trước của ông cũng là người Việt, họ phò tá một vị vua mất ngôi chạy sang Tàu. Mưu sự không thành, rồi trôi dạt lên miền Ngoại Mông, Tây Bá Lợi Á, cuối cùng qua Nga lập nghiệp, lấy vợ bản xứ, sinh con đẻ cái. Ông Vladimir cho biết tên Việt của ông là Lê Ninh. Tổ tiên nguyên họ khác, nhưng vì có công giúp vua Lê Lợi khởi nghĩa, nên được đặc ân đổi thành họ Lê. Tôi nghĩ là ông nầy túng bấn, muốn mượn tiền, nên bày đặt câu chuyện làm quà mua vui. Nhưng có điều khó hiểu, là làm sao ông nầy biết được một phần của lịch sử nước Việt mình mà nói như thật. Khi mở lớp da bao bên ngoài cuốn sách, thì tôi giật mình vì thấy mấy giòng chữ Nôm ghi: “Đừng mở và đọc tập sách nầy, vì có thể gây đại họa cho bách tính”. Sách đã cháy xém nhiều nơi. Bên trên cuốn sách, cũng có một câu phiên dịch bằng tiếng Nga, với ý nghĩa tương tự.  Sau nầy truy cứu, tôi mới biết đây là nửa cuốn sách còn lại của ông Cuội trong truyện cổ tích, khi bà vợ Cuội đem sách nói dối ra đốt. Ông Cuội về kịp dập tắt, còn lại nửa cuốn.”

Tâm nháy mắt  nhìn An, nghi ngờ lời nói của cụ Long là chuyện tếu của ông  già lẩm cẩm. Cụ Long vẫn bình tỉnh kể tiếp:
“Tôi bằng lòng cho ông Vladimir mượn tiền, nhưng không giữ cuốn sách lại. Thấy tôi đọc được phần chữ Nôm bên ngoài, ông Vladimir hớn hở muốn biết nội dung của cuốn sách gia bảo truyền đời. Tôi cũng tò mò, dở ra xem, thì thấy sách nguyên thủy viết bằng loại chữ loăng quăng như dun bò, loại chữ viết của dân Việt trước thời kỳ Bắc thuộc, nay đã bị bỏ quên. Nhưng bên cạnh có chua bằng chữ Nôm, chữ li ti rất nhỏ. Có nơi nét  đã nhòe, nếu không vững về Hán tự, thì khó mà đọc được. Tôi phiên dịch cho ông nghe vài đoạn, ông thích thú la hoảng lên như bắt được vàng. Thế là từ đó, ông cứ quấy rầy tôi mãi, đến nhờ tôi phiên dịch từng trang, và cẩn thận,  trân trọng ghi chú vào cuốn sách riêng của ông. Tôi cũng khá bực mình, vì nội dung cuốn sách toàn những mánh khóe nói dối, lừa gạt, gian xảo. Thế mà ông Lê Nin mê say như  tìm được chân lý chói lòa. Bây giờ tôi cứ gọi ông Lê cho tiện, không Vladimir, Vladi-miếc gì nữa. Tôi cũng tức cười vì cái câu ghi ngoài cuốn sách, mánh khóe nói dối bịp thiên hạ, thì làm sao mà gây đại họa cho bách tính được?”

Tâm ngắt lời cụ Long:

“Thưa cụ, cụ kể chuyện đùa cho vui, hay là chuyện thật?”
Cụ Long nhíu mày nói:

“Anh nói gì? Đùa hay thật? Các anh biết, trên đời nầy, có những  chuyện thật như đùa, và có những chuyện đùa như thật. Cái ông Lê nầy khá thông minh và láu lỉnh, là một người đầy tham vọng, mưu mô. Vì bị đuổi học, nên ông mượn tôi mớ sách vở, tài liệu cũ của trường Luật mà tự học, và nhờ tôi cho đề thi cũ, nhiều đề đã làm sẵn như bài tủ, mà thi đậu như thí sinh tự do.  Khi tôi chuyển về Saint Petersburg làm việc cho một văn phòng luật sư, thì ông Lê xin đi theo. Tôi cho ông làm trợ tá pháp lý. Chuyên thu thập tài liệu, tin tức lặt vặt, như đánh ghen, tranh chấp hàng rào, đất đai, của cải nho nhỏ, mà ngày nay báo chí thường gọi là tin xe cán chó.”

Cụ Long im lặng một hồi, nhấp ngụm trà, cười ranh mảnh mà nói:

“Sau nầy các anh có gia đình, đừng có lăng nhăng, léng phéng thêm bà nầy, cô kia mà khổ. Chúng nó đeo dai như đỉa, gỡ không ra đâu.  Dạo ấy, tôi có một người bạn gái đeo riết, đó là nàng Na-Đê. Cô ta hiền lành, dễ thương và rất lý tưởng. Dù tôi đã có vợ và hai con, nhưng cũng không gỡ ra được mối oan tình nầy. May mắn cho tôi, ông Lê thầm yêu cô nầy mê mệt. Chúng tôi ba bốn người gồm ông Lê, bà Na Đê và vài bạn khác, thường cùng uống cà phê bên vỉa hè và kháo chuyện trời đất. Tôi tìm cách gán cô Na Đê qua cho ông Lê, và hai người dính nhau. Tôi thường mời cả hai đi ăn chung, và giúp đỡ tiền bạc, vật chất cho họ. Thoát ra khỏi  sức bám của cô nầy, tôi mừng lắm.  Khoảng cuối năm 1895 ông Lê lại bị bắt, và sau đó bị đưa đi đày tận miền đông bắc Siberia buốt giá của nước Nga. Sau ba năm đi đày về, ông Lê viết được nhiều cuốn sách, đem cho tôi xem thử. Đọc xong, tôi ngẩn ngơ, vì nội dung sách ông viết, đậm đặc ý tưởng trong nửa cuốn sách Cuội mà tôi đã dịch cho ông ghi lại. Tôi bảo ông nên  đem đốt hết đi, đừng nên phổ biến những tư tưởng dóc lác nầy, làm hư cái chân thiện của loài người. Ông không giận tôi, mà còn cười, cái cười đểu lắm. Bây giờ tôi vẫn  còn nhớ như in cái nụ cười đểu giả đó."

Xoa hai tay vào nhau cho nóng, rồi cụ Long vuốt mặt, trầm giọng xuống, cụ nói:

“Tôi vẫn ngấm ngầm giúp đỡ tài chánh cho hai vợ chồng ông Lê. Dù sao, bà Lê cũng là bạn cũ thân thiết của tôi. Sau nầy, ông Lê viết thêm được nhiều tập sách khác nữa. Nội dung cũng không ra ngoài nữa cuốn sách Cuội mà ông có. Nghĩa là bịp, bịp bợm. Ông uốn nắn cái duy vật biện chứng của ông Mác,  một thứ triết lý không tưởng, ác độc, và nhuần nhuyển kết hợp với tư tưởng ông Cuội để làm căn bản cho những sách của ông viết, và những điều ông nói. Phần tôi, làm ăn càng ngày càng khấm khá. Còn ông Lê cứ bị truy lùng, và phiêu dạt nay đây, mai đó, khi ra ngoại quốc, khi lẻn về nước Nga. Tôi thường an ủi bà Na-Đê, vợ ông, vì số  phận bà hẩm hiu. Đừng nghĩ là tôi có tò te với bà nầy vì tình cũ không rũ cũng tới. Nhưng tôi đã nhiễm luân lý Khổng Mạnh, nên không làm điều thất thố với vợ bạn được. Thế giới chiến tranh lần thứ nhất bùng nổ, tình hình nước Nga dạo ấy rối ren khủng khiếp. Thực phẩm khan hiếm, đã lạnh mà còn đói nữa, khổ lắm. Lòng dân như một nồi nước sôi bí hơi căng cứng, chờ dịp bùng nổ. Ông Lê biết vậy, và nói với tôi: "Cứ la toáng lên, hứa hẹn đại rằng, sẽ có công ăn việc làm, có bánh mì  ăn, áo mặc, công bằng, hạnh phúc, sung sướng.  Sẽ có đủ thứ, thì thợ thuyền, dân nghèo ùn ùn chạy theo. Thanh niên mới lớn, lòng đầy lý tưởng bác ái, nhân đạo, nghe được những điều đó, thì mê tơi củ kiệu. Có chết cho lý tưởng, cũng hãnh diện, cam lòng”. Nhiều người cho tôi biết rằng, nước Đức đã tài trợ, cung cấp phương tiện, đưa ông Lê về để quấy động làm suy yếu nước Nga. Ông Lê cũng biết vậy, nhưng cơ hội đến, thì cứ nắm bắt và lợi dụng. Ông Lê cũng cất dấu bớt một số tiền lớn làm của riêng, nên sau nầy tôi cũng không cần giúp đở thêm cho bà Na-Đê nữa.”

An rót thêm trà vào chén cho cụ Long, cụ tiếp:

“Thỉnh thoảng ông Lê cũng có mời tôi tham gia các buổi họp kín trong nội bộ của đảng ông. Ông muốn quyến dụ tôi. Tôi đi họp vì tò mò, chứ tôi vốn không ưa chuyện chính trị. Có lẽ vì tôi chịu chi tiền, mua bánh trái, trà nước cho các buổi họp thêm phần hấp dẫn, và có lẽ nhờ có ăn uống chút chút, mà thu hút được đông đảo các đồng chí của ông hơn. Sau buổi họp, tôi thường đi uống cà phê với họ. Do đó mà tôi quen biết nhiều với các tay gộc trong nhóm cầm quyền nước Nga sau nầy. Các tay gộc nầy, sau khi nắm được chính quyền, xâu xé tranh dành nhau dữ dội. Đa số bị giết chết vì nội bộ thanh toán, một số nhỏ chạy thoát ra ngoại quốc ẩn mình, thế mà cũng bị truy lùng tận diệt. Sau khi hoàng gia Nga bị xử bắn, ông Lê nắm được chính quyền và lên làm lãnh tụ, ông cho thanh toán và khủng bố dữ dội. Nước Nga bao trùm trong sợ hãi. Tịch thu tài sản của người giàu. Nhà cửa bị sung công cho dân nghèo chia nhau trú ngụ. Bọn đồ điếu tha hồ tung hoành, tác oai tác quái. Trí thức bị trù dập, bắt bớ, tù đày. Nạn đói còn khủng khiếp hơn trước thời chiến tranh. Sau đó, lương thực được phân phối theo khẩu phần, thành ra ai cũng đói cả.”

Ngưng nói, cụ Long nhìn về phía xa xăm thở dài:

“Trong lúc cả nước đều khốn khó, vì đói khát, khủng bố, lo lắng, bắt bớ, tù đày, thì gia đình tôi vẫn sung túc, nguyên vẹn, nhà cửa không bị tịch thu, trưng dụng, của cải không hề bị đụng chạm mảy may. Bởi tôi đã có quen biết, ân nghĩa nhiều với các Ủy Viên trong toàn Bộ Chính Trị đang cầm quyền. Có mấy ông đảng ủy địa phương không biết cái thế của tôi, đòi tịch thu nhà cửa, của cải, tài sản. Mấy ông nầy đều bị bắt, và đưa đi đày ở miền Tây Bá Lợi Á cả. Tôi không biết họ bị đi đày, tưởng đâu họ chỉ bị chuyển công tác qua vùng khác mà thôi.”

Tâm ngần ngại hỏi:
“Thế thì trong chế độ đó, cũng còn có thế thần, quen biết nữa sao?”

Cụ Long cười:

“Đâu mà không có thế thần. Trong chế độ nầy, bè phái và thế thần còn hơn ở xứ nào cả. Khi nước Nga chìm đắm trong sợ hãi, ngột ngạt, khủng bố trắng, khủng bố đen, một hôm tôi hẹn gặp ông Lê, hai người nằm chung giường, gác chân lên nhau mà tâm sự chuyện đời đến khuya. Tôi nói cho ông biết tình hình thực sự trong xã hội, vì e rằng, ông ở chức vụ cao, nghe báo cáo sai không đi sát thực tế. Thì ra ông biết rõ hết.

Tôi hỏi ông: “Tại sao không đoàn kết toàn xã hội mà xây dựng đất nước, bày ra làm chi phân chia và đấu tranh giai cấp, lấy thợ thuyền làm chủ và lảnh đạo”.

Ông cười và bảo rằng: “Anh mới biết một, mà không biết hai. Vì thợ thuyền đa số đều ngu dốt, cho một chút quyền hành, thỏa mãn cái thèm khát thấp hèn trong lòng họ, thì bảo gì, cũng nghe theo, nói gì cũng tin tưởng. Hăng hái làm theo mệnh lệnh. Có thế mới củng cố được địa vị của tôi và đảng tôi”.

Tôi hỏi tiếp: “Chính sách khủng bố, thanh toán, có nên chấm dứt sớm, để cho nhân dân bớt sợ hãi, bớt lo lắng mà yên lòng làm ăn không?” 

Ông cười lớn, vỗ vai tôi, nói rằng: “Thế thì anh chưa hiểu được cái ý nghĩa của mấy chữ 'bạo lực cách mạng' do tôi bày ra. Phải khủng bố, và khủng bố nhiều hơn nữa, càng nhiều càng tốt, khủng bố cho đến khi dân chúng sợ hãi cực độ, hoàn toàn mềm nhủn ra, không còn một sức đối kháng nào, thì đảng, và chính quyền cùng địa vị của tôi thêm bền vững, chắc chắn".

Tôi hỏi thêm: “Liệu các chính sách kinh tế, xã hội của ông có cơ may nào đem no ấm hạnh phúc cho dân chúng như ông đã từng hứa hẹn, lặp đi lặp lại thường ngày hay không?” 

Ông cười, nụ cười rất đểu, đáp: “Hứa hẹn thì cứ hứa hẹn, dân chúng có ấm no hạnh phúc hay không thì mặc họ. Dân càng đói, càng dễ trị. Cứ nắm chặt cái bao tử dân, cho ăn lưng lửng bụng, thì mọi người đều khuất phục, vì họ sợ mất cái phần ăn ít oi kia đi, khổ lắm. Mình cứ hứa hẹn tương lai cho họ nghe sướng lỗ tai là đủ. Chứ cho dân ăn no, thì cũng dễ sinh ra loạn lạc.” 

Tôi nghe mà buồn và thở dài.

Ông mỉa mai: “Lòng dạ anh còn yếu đuối như đàn bà.” 

Tôi hỏi thêm: “Tại sao vô số người hiền lương bị thanh toán, bị đi đày oan ức tội nghiệp?”. 

Ông cười: “Muốn được yên ổn, thì hy sinh chừng bấy nhiêu triệu người, cũng chẳng đáng là bao”.

Tôi đem điều lo lắng nhất trong lòng ra tâm sự cùng ông: “Nhiều năm qua, nhân tâm suy đồi lắm. Con người cứ lấy dối trá ra mà cư xử nhau, nhà nước cũng nói toàn điều không thật. Đó là điều nguy hại cho nhiều thế hệ mai sau”.

Ông Lê vùng dậy bật đèn lên, lấy cuốn sổ tay cũ kỹ trên kệ, phất phất trước mặt tôi, và hỏi có nhớ cuốn nầy không? Ông cười toe toét thỏa mãn lắm. Tôi nhận ra đó là cuốn sách ghi lời dịch của tôi từ nửa cuốn sách Cuội. Ông Lê nói lớn thêm rằng:
“Tôi sẽ thống trị thế giới nhờ cuốn sổ tay nầy.”

Ngừng lại một lúc, cụ Long lom khom đi ra vườn sau, vạch quần vung vãi nước vào bụi chuối. Cụ trở lại và nói tiếp:

“Mấy năm sau, ông Lê bị tai biến mạch máu não, nửa người tê liệt, nằm trên ghế dựa, méo mồm, tay chân co quắp,  thế mà vẫn hung hăng con bọ xít. Bà Nê-Đa vợ ông, tận tâm, không quản ngại mệt nhọc, chăm sóc ngày đêm. Ông vẫn đưa mệnh lệnh, vẫn thanh toán người nầy, cất nhắc người kia qua trung gian của ông Stalin. Đáng ra trong tình trạng bệnh hoạn đó, con người phải biết cái lẽ sai đúng của trời đất mà tỉnh ngộ, thôi làm điều ác. Tôi có đến thăm ông Lê mấy lần, miệng ông chảy dãi lòng thòng, nói ngọng, khó khăn, thế mà vẫn còn nhắc đến chuyện ngày xưa những khi cùng đi đến chỗ yêu hoa lầu hồng du hí. Nói chuyện đó, mắt ông ấy rực sáng lên khoái trá.”

Thở một hơi dài, cụ Long nói:

“Người ta xầm xì rằng, hôm đó bà vợ ông Lê có công chuyện đi vắng. Ông Stalin vào trình báo công việc, thấy ông Lê đang há hốc miệng nằm ngáy, cuốn sổ tay rơi nằm trên sàn nhà. Ông Stalin mở sổ ra xem, càng xem ông càng hớn hở.  Rồi động tâm cơ, ông Stalin dấu cuốn sổ vào túi áo vét, và lấy c

Tràm Cà Mau

Bài Xem Nhiều