We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 5 December 2014

Đọc mà thấy nhục: Nghe Chuyện Hà Nội Xã Hội Chủ Nghĩa

vtt-35-phamtran
Nghe Chuyện Hà Nội Xã Hội Chủ Nghĩa

Tôi sinh truởng và lớn lên ở miền Trung, và có vợ nguời miền Bắc (Hà Nội). Nỗi uớc mơ của tôi là có dịp về thăm quê vợ ở Hà nội; nhưng tiếc thay đã 38 năm kết hôn với nàng, tôi vẫn chưa đạt đuợc ý nguyện. Nhân có anh bạn thân mới về thăm Hà Nội trở lại Hoa kỳ. Anh có đến thăm tôi, và kể chuyện về thăm Hà Nội. Tôi náo nức nghe anh kể, và trung thực thuật lại không thêm bớt, để hầu bạn đọc.

- Anh biết không. Tôi ăn mặc cốt sạch sẽ, thoải mái chứ không phải cho sang trọng, ăn diện bên ngoài khi đi ra phố. Tới Hà nội, tôi về ngụ tại nhà ông anh ruột tôi, chị dâu tôi nguời Hà nội. Anh chị tôi có chương trình cho tôi đi thăm viếng Hà nội ngày hôm sau. Nhưng tôi tranh thủ thời gian, muốn đi loanh quanh gần nhà truớc đã. Tắm rửa thay quần áo xong, tôi muợn chiếc xe đạp của đứa cháu đạp lẫn quẫn quanh khu phố gần nhà cho giãn gân cốt, và quan sát quanh đó xem có gì lạ không.

Đi mấy quãng đuờng, tôi thấy có cái tiệm ăn bên ngoài để nhiều chậu hoa, cây kiểng trông hấp dẫn quá. Tò mò, tôi cẩn thận khóa xe, và buớc vào tính kiếm cái gì ăn lót dạ. Một cô có lẽ là nhân viên nhà hàng, mặc áo dài xanh có hoa thêu nơi ngực, đứng cạnh một cậu con trai, mặc đồng phục nhà hàng. Cả hai nhìn tôi chăm chú từ đầu đến chân, cô gái buớc lại gần, mặt cứ vênh lên, cất tiếng hỏi: - Bác vào đây tìm ai? - Xin lỗi, chứ đây không phải là nhà hàng ăn sao cô? - Ờ! Nhà hàng ăn đấy, nhưng bác đi lộn chỗ rồi. - Sao lạ vậy? - Chúng tôi nghĩ Bác không đủ "tiêu chuẩn để phục vụ".


Trong lòng tôi thấy lạ lắm nhưng cung cố hỏi để nghe thử cô bé nói gì nữa. Trong bụng tôi nghĩ, không lẽ ở Việt nam hiện nay còn kỳ thị hơn thời nội chiến Nam Bắc ở Mỹ cách đây hơn 200 năm truớc sao? Tôi nhỏ nhẹ hỏi:


-Xin cô vui lòng giải thích: Tại sao tôi lại không đủ tiêu chuẩn để phục vụ? Cô nhà hàng chưa kịp trả lời thì bên phải cửa phòng xịch mở, một nguời đàn ông buớc ra, tay cầm xấp giấy, mặc bộ vest đen, áo sơ-mi trắng, cổ thắt nơ, để râu mép, chân mang giày da bóng láng; tiến lại chỗ tôi và hất hàm bảo: - Nhà hàng nầy chỉ bán cho Việt kiều, khách Ngoại, và cán bộ nhà nuớc có đặt bàn truớc. - À! Ra là thế. Không lẽ, tôi nói tôi là Việt kiều đây. Khi không lại xưng danh tánh ra làm gì...

Nguời Việt trong nuớc hay nguời Việt ở nuớc ngoài cũng là cùng một dân tộc, một màu da, một tiếng nói mà. Sao có sự phân biệt lạ lùng như vậy. Hình như một số nguời ở Hà nội bây giờ họ quan niệm Việt kiều là phải mập mạp, phương phi, trắng trẻo, bụng to, nhiều đô la, ăn mặc sang trọng, tiêu tiền như quăng qua cửa sổ. Họ đâu có biết rằng ở Mỹ dù làm bất cứ một việc gì đi nữa, một giờ đáng một giờ, và phải làm việc hết sức mình mới mong đạt đuợc kết quả. Dù là nguời chủ cũng vất vả không thua gì công nhân. Các nguời trong tiệm nhìn thấy tôi gầy ốm, nuớc da lại đen, những ngón tay sần sùi, thô kệch, lại ăn mặc quá đơn giản, nếu không muốn nói là lôi thôi, áo bỏ ra ngoài, lè phè, chân mang dép Nhật cho mát, họ không muốn tiếp tôi chăng?

Tôi thấy cũng không thiết ăn uống nữa, nên chào họ rồi lặng lẽ quay lưng ra cửa, tay trái vừa giơ lên vừa kéo cánh cửa để buớc ra đuờng. Tôi loáng thoáng nghe sau lưng tiếng nói trống không; giọng đàn ông còn rất trẻ, có lẽ của cậu đứng gần cô gái lúc nãy: -Nhìn cái "thằng " đó tiền bạc đâu mà đòi vào đây ăn. Ăn rồi nó "lỉnh" ngay đấy. Mình lại phải bận gọi công an. Tụi đó chỉ có ăn khoai thì có! Rõ "phén" cho rồi! Tôi xem như không nghe biết gì, và cứ buớc ra chỗ để chiếc xe đạp lúc nãy mà trong lòng nghĩ ngợi lung lắm.

Tôi cứ ngỡ là tôi đã đi lạc vào một xứ lạ không phải là quê hương Việt Nam ! Tôi là nguời Việt nam mà! Dù tôi ở Mỹ đã gần ba mươi năm rồi, nhung những cử chỉ, những suy nghĩ, những thức ăn uống, những tập tục, tập quán hàng ngày đâu có gì thay đổi mấy trong tôi đâu! Cậu làm việc trong nhà hàng nói câu vừa rồi, gọi tôi bằng "thằng" tuổi tác chắc cũng nhỏ hơn cháu Út nhà tôi (31 tuổi).

Tôi chán ngán buớc lại chỗ để chiếc xe đạp lúc nãy tính đạp xe về nhà, không đi nữa, nhưng tôi không thấy chiếc xe đạp đâu, nó không có cánh mà đã bay đi rồi! Tôi nghĩ hay là tôi lầm chỗ, chắc hồi nãy mình để chỗ đằng kia. Tôi vội buớc qua chỗ tôi vừa nghĩ thì gặp ngay cô bán gánh trái cây, tuổi chừng 25, 27 đang ngồi trên cái đòn gánh để duới đất, hai chân xoạt ra, chàng hảng, thoải mái, nếu cô ấy mặc váy thì thấy rõ cái quần lót, may mà cô mặc quần dài; đang móc tiền ra lẩm nhẩm đếm. Tôi buớc lại gần, ôn tồn và lễ phép hỏi: - Xin lỗi cô. Hồi nãy truớc khi vào nhà hàng tôi vừa nói, vừa lấy tay chỉ vô nhà hàng, tôi dựng chiếc xe đạp gần đây. Cô có thấy ai tới lấy không nhỉ? Cô ngưng đếm, mặt cuống lên, ngẩng nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên như nhìn nguời từ hành tinh lạ, mắt láy nháy, miệng phát ra câu trả lời nhát gừng, giọng bực tức, đặc sệt, nặng thật khó nghe. - Rõ hỏi vớ vẩn! Ai ăn không ngồi rồi ra đây ngồi gác xe cho bác phỏng! Xéo đi cho khuất mắt bà.

Tôi ngạc nhiên và nghĩ rằng vì mình thật thà hỏi thẳng, có thể cô ấy hiểu lầm tôi nghi ngờ gì chăng nên cô nổi nóng chóng như vậy. Tôi nói lời xin lỗi và tính quay đi. Cô không đáp lại, và chăm chú tiếp tục đếm bạc, xem như không có tôi còn đứng đấy, mồm nói đay nghiến: "Tiên sư nhà chúng bay! Bà đẻ ra con mà con tính "chum" với bà hả. Tờ nầy hai ngàn mà con cứ cãi với bà là đã trả tờ năm ngàn. Đồ thối. Quỉ có tha thì Ma cũng bắt. Ngày mai sẽ biết tay bà."

Tôi quả thật không hiểu cô đang rủa ai, và nói với ai. Tiếng "chum" nghia là gì! Tôi chán chuờng lặng lẽ bỏ đi, chậm rãi thả bộ về nhà. Tôi đi lạc vào khu có nhiều cửa hàng bán đồ kỷ niệm cho khách du lịch, và chú ý đến một cửa hàng bên ngoài trang hoàng rất là kiểu cọ, hấp dẫn. Tôi buớc vào. Cô bán hàng ăn mặc rất thời trang không thua gì các cô bán hàng son phấn trong các cửa tiệm Macy's, Broadways ở Mỹ. Nét mặt thật đẹp giống như nguời mẫu hay tài tử xi-nê, tuổi cỡ muời chín, hai mươi. Thấy tôi, cô vội buớc lại, tươi cuời, vồn vã hỏi, giọng nói nhẹ nhàng, êm ả, ru ngủ, dịu dàng, ngọt ngào như mía đuờng Quảng ngãi.

Cô ta nhỏ nhẹ, thỏ thẻ: "-Chào anh! Anh cần mua gì để em chọn hộ." Tôi nghĩ có lẽ mình đa đến tuổi ngễnh ngãng nên nghe lầm chăng hay cô đang hỏi cậu thanh niên nào đang đứng gần đây. Tôi nhìn quanh quất thấy không có ai, biết là cô ta nói với mình nên vờ như không nghe. Tôi cảm thấy vừa ngượng, vừa buồn cuời, tuổi mình chỉ còn hai năm nữa là tới tuổi hưu (65). Sao cô ấy gọi mình bằng anh nhỉ? Bộ mình còn trẻ lắm sao! Tôi đâu có nhuộm tóc, tôi vẫn để đầu tóc hoa râm kia mà. Tôi với lấy cái xấc tay đàn bà mân mê, săm soi, tính mua về làm quà cho bà xã Nghiệp. Cô bán hàng thấy vậy buớc lại gần hơn, mùi son phấn thơm tho dễ chịu: - "Kìa anh ! nào để em chọn hộ cho." Cô lăng xăng giới thiệu cái nầy, món kia và cứ bảo tôi mua đi. Cô tính giá hời cho. Cuối cùng cô chọn cho tôi được một cái xắc tay khá đẹp và dẫn tôi đến quầy trả tiền. Cô thu ngân nơi quầy hàng nở nụ cuời thật tươi, hỏi han, chào đón như người thân từ thuở nào, lâu năm không gặp. Đột nhiên cô hỏi: -Anh trả tiền đô hay tiền nội. Tôi ngỡ ngàng đáp: - Tiền đô! Tôi chưa có thời giờ đổi ra tiền Việt nam.
- Đuợc! Tốt lắm! Lần sau anh nhớ ghé lại cửa hàng em nhé! Tôi móc ví trả tiền, và lẩm cẩm thầm nghĩ rằng sao hai cô nầy biết mình là Việt kiều nên mới hỏi mình trả tiền đô hay tiền nội, nhưng sao những nguời ở nhà hàng ăn lúc nãy không nhận ra mình là Việt kiều nhỉ? Trả tiền xong, tôi chào hai cô, tay cầm cái xắc tay dợm buóc ra ngòai. Cô bán hàng tiễn tôi và nói cho tôi vừa đủ nghe: - Cạnh đây có chỗ "Tươi Mát", xin mời anh vào thưởng thức. Chủ là bạn em. - Cảm ơn cô. Tôi vừa mới uống nuớc giải khát xong."

Tôi tiếp tục buớc ra ngoài đường liền nghe tiếng cười khúc khích lẫn tiếng nói của cô tính tiền: "Cái lão già ấy "Liễn" rồi. Lão ta còn không biết "Tươi Mát" là gì! Mầy tốn công mời mọc cũng vô ích thôi". Tôi thật không hiểu nổi, mới vài phút truớc đây các cô rất thân mật gọi tôi bằng anh làm tôi ngượng quá, và tỏ ra vui vẻ, săn đón, chỉ có mấy phút sau thôi, họ gọi tôi là lão già, và dùng tiếng lóng làm tôi không hiểu gì cả. Tôi lững thững, lếch thếch hỏi đuờng thả bộ về nhà, vừa buớc tới cửa đã thấy anh chị tôi đứng chờ nơi đó trông vẻ nóng ruột lắm. Chị dâu tôi lo lắng : -Tôi biết chú đi lạc rồi. Sao không điện thoại về nhà? Tôi kể lại hết chuyện đi vào nhà hàng, chuyện mất xe đạp, gặp cô bán trái cây, cô bán hàng và cô thu ngân ở tiệm bán đồ kỷ niệm v..v…

Cả nhà đều cuời bò lăn ra, và tôi cũng thắc mắc hỏi anh chị tôi những chữ mà tôi vừa mới nghe đuợc như: "Lỉnh, Phén, Chum, Tươi Mát, Liễn v v… Anh tôi giải thích: - Bây giờ dân ở đây họ chế ra nhiều tiếng lóng mới lắm. Chú ở ngọai quốc lâu năm nên không rõ đó thôi.

- Lỉnh là bỏ đi, lén lút đi, lẩn đi (ý muốn nói là ăn giựt không trả tiền bỏ đi) - Phén là cút đi, đuổi đi,

- Chum là lừa gạt hay nói dối.
- Tươi Mát là chơi gái.
- Còn Liễn là bất lực, là liệt dương. Còn thái độ họ đối với chú thì cũng tùy theo đối tuợng thôi. Chú tiêu xài đô-la cho thật nhiều, diện đồ cho thật kẻng thì truớc mặt họ, chú là Vua đấy. Thôi! Chúng ta vào ăn cơm nói chuyện.

Trong bữa ăn tôi hỏi anh tôi: - Hồi còn đi học, em đọc trong sách báo thấy nói, và trong thực tế cũng đã gặp, cũng đã quen những nguời Hà nội trước năm 75 ở Sài gòn, và bây giờ ở Mỹ, họ thanh lịch lắm, ăn nói dịu dàng, ngọt ngào, cư xử rất là khả ái, cảm tình. Bạn thân em có vợ nguời Hà nội, chị ấy hiền lành, nhu mì, khuôn phép, nói năng dễ nghe lắm khác hẵn những nguời Hà nội mà em đã gặp hôm nay ở ngoài phố. Anh đang vui vẻ, bỗng nét mặt chùng hẵn xuống, đặt đôi đũa xuống bàn, ngẩng mặt nhìn vào khoảng không, đôi mắt xa xăm, giọng buồn buồn anh trả lời: - Ấy là những người Hà nội truớc năm 1954 đó chú. Sau hiệp định Geneve tháng 7 năm 1954, một số lớn họ đã di cư vào Nam, một số quá vãng hoặc vì sinh kế hay vì lý do gì đó họ đã đi ra khỏi Hà nội từ lâu rồi. Hà nội bây giờ chỉ còn lại một số ít người như xưa thôi. Đa số những người Hà nội giờ đây là từ các tỉnh, các vùng quê về lập nghiệp đó chú ạ. Số còn lại là cán bộ các cấp từ các nơi đổi về.

Anh tôi không nói gì nữa, đứng dậy nói lời xin lỗi mọi người, là đã dùng bữa xong và buớc vào nhà trong. Anh tôi đi rồi, chị dâu tôi lên tiếng nói: - Biết bao giờ mình có lại đuợc những người Hà nội năm xưa… chú nhỉ!

Nguyễn Hữu Thời 

LEGROSBOBO, 
April 10th

Giáng Sinh qua những chặng đời


Giáng Sinh khi xưa thường chỉ dành riêng cho những tín đồ trong Thiên Chúa giáo để kỷ niệm ngày “Ngôi hai nhập thể” gọi là “Emmanuel” có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Dần dần theo thời gian người ta cảm nhận được rằng sự xuống trần cứu rỗi, chuộc tội cho nhân lòai là một thông điệp nhắn nhủ con người hãy biết mở lòng vị tha bác ái, hy sinh quên mình, chia sẻ niềm vui cho người khác… Vì thế cho nên ngày nay lễ Giáng Sinh đã mặc nhiên trở thành một ngày lễ quốc tế trọng đại mà hầu như quốc gia nào hay tôn giáo nào mỗi năm cũng chào đón linh đình trọng thể. Ngòai ý nghĩa là một lễ hội thiêng liêng vinh danh Thiên Chúa, Giáng Sinh còn là một dịp tốt để sum họp gia đình, thể hiện tình thân, chung vui quây quần chúc bình an cho nhau.

Mỗi năm vào khỏang cuối tháng mười một, khi nhà nhà, đường xá, phố chợ, siêu thị tưng bừng tràn ngập những hình ảnh biểu tượng cho mùa Giáng Sinh như ông già Noel, cây thông, ngọn nến, hoa đăng hay những dây kim tuyến đủ màu rực rỡ, và đâu đó từ khắp mọi nơi trong hang cùng ngỏ hẻm vang vang lên những bài thánh ca quen thuộc chào đón ngôi hai Thiên Chúa xuống thế làm người, có ai mà không nghe lòng ấm áp rộn rã xôn xao nghĩ tới việc chuẩn bị một lễ Giáng Sinh nồng ấm hạnh phúc cho gia đình mình. Bao nhiêu năm làm người dương thế là bấy nhiêu mùa Giáng Sinh đã đến trong đời. Có những mùa Giáng Sinh đến rồi đi bình thường như cơn gió thỏang, như một cuộc vui qua đêm rồi chìm lắng, như một người lạ mặt qua đường chẳng mảy may để lại chút ký ức gì trong tâm tưởng nhưng cũng có những cuộc Giáng Sinh đầy ấn tượng đã trở thành kỷ niệm làm hành trang mang theo đời…
1-
Thuở ấy, vào đầu thập niên sáu mươi, Kiều và đứa em bạn dì tên Vân còn rất nhỏ, chỉ mới tám chín tuổi, hai đứa học trường dòng Providence (Chúa quan phòng), một trường dòng Soeur áo trắng. Mỗi ngày đi học hai buổi sáng sáng chiều chiều đều có xe trường đưa đưa rước rước khỏi sợ mưa gió nắng nôi. Nói tiếng là đi học chớ ở tuổi đó ăn chưa no lo chưa tới, ham chơi hơn ham học, học được chữ nào thì nên chữ đó chớ có biết gì đâu là cố gắng chuyên cần (bây giờ có dịp đưa rước các cháu đi học, cô Kiều cũng nhận thấy bọn nhỏ không khác gì mình ngày xưa, đi học mà đứa nào cũng cầm một hai món đồ chơi trong tay như Yoyo, Superman, Batman, hoặc là những chiếc xe đua hot wheels để chơi trong giờ ra chơi ).

Mỗi năm gần đến lễ Noel, mấy bà Soeur thường cho học trò thi đua làm hang đá máng cỏ Chúa hài đồng đem vào trường chấm điểm. Có năm thì bảo vẽ hình, làm thiệp Giáng sinh, ông già Noel hay cây thông hoặc ba vua chẳng hạn. Những chuyện thủ công “rị mọ” mất giờ đó thì hai đứa không có hứng thú và cũng chẳng thèm bận tâm làm gì, coi như “ne pas”. Hai đứa cứ giao đứt cho ba cô Kiều vốn dĩ rất cưng con, nuông chìu đủ mọi thứ, còn dặn dò ba rằng “Ba muốn làm sao đó thì làm, nhưng đừng làm đẹp quá, ma soeur mà biết người lớn làm sẽ bắt con về làm lại đó”. Còn hai đứa chỉ lo đánh đũa, nhảy dây, chơi nhà chòi với chúng bạn, có khi còn chơi tán u, tán khúc cây văng trúng đầu một ông cảnh sát u một cục. Ông ta cầm khúc cây lại mắng vốn con gái gì mà chơi tán u, thiệt coi không nên nết chút nào. Vậy mà vẫn cứ ham chơi không bỏ sót một trò chơi nào, đợi chừng nào ba làm xong là chỉ việc đem vào góp “trả nợ quỷ thần” khỏe re.

Ngòai ra nhà trường còn tổ chức làm văn nghệ gây quỹ, mời phụ huynh mua vé giúp hội cho nhà trường. Có lần Kiều và Vân bị bắt làm tuồng. Kiều thì diễn vai ông vua trong một vở kịch vui ngắn (vì trường bà không có nam học sinh cho nên Kiều phải giả trai làm vua) Nội dung vở kịch là ông vua Dagobert bị phản thần sóan ngôi phải lưu vong bôn đào. Về sau khi dựng lại giang san, muốn lên ngôi vua trở lại, Dagobert phải tự chứng minh mình với thần dân mình chính là vua Dagobert lúc xưa với cái thói quen khác người là chuyên mặc đồ…trái (đừng tưởng vậy là dị hợm, thời trang ngày nay cũng mặc bề trái ra ngòai chớ bộ). Còn nhỏ Vân thì được chọn đóng vai Đức Mẹ quỳ bên máng cỏ nhìn ngắm Chúa hài đồng trong nhạc cảnh “Đêm Giáng Sinh” .

Mỗi chiều sau khi tan học, đứa nào có vai diễn hay ca múa thì phải ở lại tập tuồng. Sợ bọn nhỏ đói nên các bà soeur lo lót… bụng mỗi đứa một trái chuối và một lát bánh mì để bọn nhỏ hăng hái tập dợt. Đối diện với trường dòng là một nghĩa địa rộng lớn khá sạch sẽ khang trang cho nên mấy bà soeur thường hay dẫn học trò qua đó tập tuồng (con nít hồi xưa rất ngoan và …ngố. Người lớn bảo sao thì nghe vậy, dẫn đi đâu thì đi đó chớ chẳng dám thắc mắc hỏi han là tại sao lại dẫn vào nghĩa địa múa hát, may là không có đứa nào bị ma nhập). Bọn nhỏ nói sợ ma quá thì ma… soeur nói “có thánh giá ở đây, ma phải sợ mình chớ sao mình lại sợ ma”.

Dợt đi dợt lại đến hơn một tháng trời cho…ma coi rồi mới tới ngày trình diễn chính thức cho người coi . Phần đầu là những màn ca vũ của mấy chị lớp lớn trung học với những màn vũ múa nón, múa quạt… Màn kịch Dagobert cũng rất thành công làm khán giả cười ngất khi Dagobert khoe ra cái quần trái chứng minh ta đây là ông vua chính hiệu thuở nào. Và cuối cùng là nhạc cảnh Chúa giáng trần. “Đức Mẹ” Vân mặc áo chòang xanh phủ gót trông rất thánh thiện khiêm nhu nhưng vì chờ tới màn chót buồn ngủ quá cở cho nên khi trình diễn xong xuống sân khấu, Vân bước thấp bước cao, xiên xiên vẹo vẹo vướng vào tùng áo thùng thình té nhào xuống gãy một bên tay. Vân đau quá khóc thét lên làm Kiều quýnh quáng không biết làm gì hơn là ôm chầm lấy Vân bật khóc theo. Mấy ma soeurs xúm lại đỡ Vân lên xúyt xoa áy náy cho sự rủi ro không lường trước được . Dì Ba, má của Vân đang ngồi dưới hàng ghế khán giả hốt hỏang chạy vội lên xót xa ôm chặt Vân vào lòng vỗ về nhưng làm sao Vân nín khóc cho được khi cánh tay bị gãy xương lặt lìa. Ngày hôm sau dì Ba đưa Vân đi tìm thầy thuốc băng bột cánh tay, còn dượng Ba thì hầm hừ nói rằng từ rày về sau không cho tụi bay múa hát làm tuồng làm tích gì nữa.

Sau đêm diễn kịch đó, Vân đi học với cánh tay bó bột gần hai tháng, bữa nào cũng bị lũ bạn chọc quê là “Đức Mẹ” gãy tay. Còn Kiều thì dở khóc dở cười với cái biệt danh là ông vua mặc quần trái. Đó là một kỷ niệm mùa Noel tuổi thơ mà Kiều và Vân nhớ mãi cả đời. Hai đứa rất khắn khít nhau nhưng tiếc rằng sau đó vì mỗi đứa một hòan cảnh, một số mệnh riêng không còn cơ hội học chung với nhau nữa, đứa đi Saigon tiếp tục học chương trình Pháp ở trường Thiên Phước, đứa thì chuyển sang chương trình Việt khi lên trung học để học cho biết văn hóa lịch sử đất nước mình cho biết với người ta.

2-
Rồi thơ ấu chắp cánh bay đi giã từ tuổi hồn nhiên vô tư lự cho xôn xao trăn trở tuổi dậy thì, cái tuổi không còn thích chạy long nhong chơi trốn kiếm hoặc nhảy lò cò mà chỉ thích ngồi thầm lặng một mình suy tư vơ vẩn, làm bạn với sách báo thơ văn. Lên trung học đệ nhị cấp, không biết thiên duyên tiền định xui khiến thế nào mà ngẫu nhiên Kiều nộp đơn xin vào học trường Taberd vốn là một trường dòng nam xưa nay chưa từng thu nhận học sinh nữ. Cũng vì thế cho nên mới ra nông nổi sự tình. Vào học chưa lâu, Kiều đã làm xao xuyến trái tim một chàng tu sĩ đa cảm còn nặng lòng trần để rồi từ đó phát sinh một mối tình lãng mạn trái ngang. Lần đầu gặp gỡ, hai người đã có cảm tưởng thân quen. Cùng với thời gian làm học trò của chàng, người trên bục giảng, kẻ dưới bàn học, có cơ hội tiếp xúc với nhau hằng ngày, cả hai ngày càng thêm quyến luyến. Tình trong như đã nhưng mặt ngòai còn e bởi vì một người trót đã được ơn thiên triệu, đã mang trên mình một sứ mạng thiêng liêng, đâu thể vì tình riêng mà bất chấp tất cả. Một người thì nghe day dứt lương tâm chẳng dám tới gần, sợ mang tôi với trời đất, hơn nữa lại ngại dư luận dèm pha, miệng đời lên án nên dám đâu mặc tình tự tọai yêu đương. Cả hai chỉ biết ngậm sầu âm thầm cầu nguyện xin Chúa sáng soi thánh ý, nếu có nợ duyên, xin cho thuyền tình suông sẻ, vượt qua được bao sóng gió thế gian để đến được bến bờ sum họp.

Giáng Sinh năm ấy, để đánh dấu một cuộc tình vừa kết nụ, chàng đã viết cho cô một lá thư kèm trong tấm thiệp Giáng Sinh dàn trải nỗi lòng với ước mơ sẽ có một ngày dừng bước độc hành về bên mái ấm bỏ những ngày giá lạnh đơn côi… Ước mơ thì ai cũng có quyền mơ ước nhưng có được tọai nguyện hay không thì không phải là do mình mà còn tùy thuộc vào định số, thiên cơ và đương nhiên có cái giá phải trả, hoặc phải đánh đổi bằng một sự chọn lựa giằng co mà sự lưa chọn nào cũng làm chết đi một khối trong lòng, được cái này thì mất cái kia vậy. Nhưng đó là chuyện tương lai, hãy để thời gian trả lời. Còn bây giờ trước mắt thì cứ xuôi theo tự nhiên. Sau thánh lễ và buổi tiệc Réveillon chung với cả lớp, chàng đưa cô về. Hai người sánh bước lặng lẽ đi chầm chậm bên nhau. Con đường sau trước vắng tanh không một bóng người, nhà nhà cửa đóng im lìm, chỉ có tiếng côn trùng nỉ non đâu đây trong lùm cây bụi cỏ và tiếng vạc ăn đêm thỉnh thỏang bay vút qua nghe xạc xào. Giờ này có lẽ mọi người đang thả hồn trong mộng mị chiêm bao, trong giấc ngủ say vùi của nửa đêm về sáng. Trời khuya sương xuống lạnh nhưng cả hai nghe lòng ấm áp, hạnh phúc ngập tràn. Cũng chẳng ai nói với ai một lời bởi ngôn từ giờ đây đã quá thừa thãi cho hai tâm hồn đang cùng một nhịp điệu yêu đương. Đến trước cửa nhà cô, cả hai đứng dừng lại nhìn nhau quyến luyến. Trong ánh mắt nồng nàn trao nhau và cái siết tay đầy thương mến, cả hai như ngầm khấn chung một lời nguyện ước rằng đêm nay là đêm thánh nhiệm mầu, cầu xin cho những gì xảy đến trong đêm nay sẽ được nhiệm mầu trong ơn Chúa và huyền diệu vĩnh cửu với thời gian cho dù vật đổi sao dời hay thương hải tang điền biến vi…

3-
Năm bảy mươi lăm, sau khi miền Nam Việt Nam bị cộng sản cưỡng chiếm, dưới chế độ độc tài đảng trị, người dân miền Nam cảm thấy như mình bị cướp đi tất cả, nhà cửa, tài sản, miếng ăn, giấc ngủ… nói cho đúng là bị cướp đi bản thân mình với hai chữ tự do. Sống mà không có tự do, cơm no áo ấm, không có chủ quyền của mình thì chẳng khác nào sống chờ chết, một cái chết dần mòn trong sự khủng bố tinh thần, trong sự đọa đày lây lất ngày này sang ngày nọ. Từ sau chia đôi đất nước, khi người miền Bắc đã rõ như ban ngày bộ mặt thật của cộng sản muốn vượt tuyến tìm tự do thì lúc đó hãy còn có mái nhà miền Nam an lành trù phú đầy tình người luôn sẵn sàng mở rộng đôi cánh cửa đón tiếp, đùm bọc, chở che. Nhưng giờ đây tòan cõi đất nước hai miền Nam- Bắc đều đã thống nhứt một nhà, một đường lối chủ nghĩa xã hội như nhau thì biết chạy đi đâu, chỉ có cách là phải chạy thật xa, chạy ra khỏi nước thì mới mong thóat khỏi màn lưới cộng sản chằng chịt bủa vây. Do đó bằng cách này hay cách khác, đường bộ hay đường tàu, đi chui hay bán chính thức ai ai cũng tìm cách ra đi với hy vọng làm lại cuộc đời.

Gia đình cô Kiều cũng nằm trong số đó, một chiều đã dắt dìu nhau lên đường vượt biển ly hương. May mắn thay chuyến tàu cô đi được ơn trên phù hộ nên sau bốn ngày bốn đêm lênh đênh trên biển cả, tàu cô đã bình yên tới Mã Lai, trôi giạt vào một trại đóng quân của thủy quân lục chiến. Ở đó, tàu cô được vị chỉ huy trưởng cứu vớt liên lạc với hội Hồng nguyệt Mã Lai (Malaysian Red Crescent) đặc trách về tị nạn đưa nhóm người trong tàu cô vào Pulau Bidong.

Khi nhập đảo là đã tháng Mười Một trong năm. Theo thứ tự kẻ trước người sau, tùy người xin đi định cư ở quốc gia nào thì phải chờ gặp phái đòan của quốc gia đó phỏng vấn quyết định. Gia đình cô Kiều xin đi Canada là first choice, second choice là nước Úc chớ không xin đi Mỹ vì Mỹ đã đắc tội bỏ Việt Nam khiến ông xã cô Kiều phát ghét, “xù” Mỹ, không thèm xin mặc dù ông xã cô làm thông dịch viên cho phái đòan Mỹ hằng ngày. Phái đòan Canda thì mỗi tháng mới tới đảo một lần, vì vậy đến cuối tháng mười một là họ về nước luôn để nghỉ lễ Giáng Sinh cho tới tháng giêng năm sau mới trở lại.

Mùa Giáng Sinh năm đó đối với những người chưa được định cư là một mùa Giáng Sinh lạc lỏng tha hương buồn bã nhứt. Không một lời thánh ca vang vọng, không một tiếng chuông giáo đường ngân đổ trong giây phút thiêng liêng báo hiệu ngôi hai Chúa cứu thế ra đời. Người người âm thầm cầu nguyện cách riêng xin được cứu rỗi, xin cho bình an đến với nhân lọai, cho tương lai tươi sáng thật gần với những ai đang thống khổ lầm than. Để an ủi khích lệ tinh thần đồng bào trên đảo, đêm đó, ông trưởng trại (không biết có phải Nguyễn Ngọc Cung không, lâu quá không nhớ nổi) kiếm đâu được bộ đồ Santa Claus mặc vào làm ông già Noel dẫn theo một đám anh em cầm đuốc soi đường đi khắp cùng các khu dân cư từ A tới F chúc bình an cho đồng bào thật cảm động. Hình ảnh đó cho đến nay đã ba mươi mốt năm qua, cô Kiều vẫn còn nhớ in trong trí. Không biết bây giờ ông Cung ở đâu, còn sống hay đã ra người thiên cổ, ông có biết rằng những người tị nạn cùng thời vẫn có người còn nhớ tới ông…

4 –
Trước khi vượt biên, thầy Tâm, ông xã cô Kiều có nhờ một ông thầy tử vi tên Trang Phi Long chấm cho một lá số tử vi. Theo lời giải trong lá số thì thầy Tâm có sao thiên mã (có số xuất ngọai, đi xa) và đặc biệt là thầy phải đi về hướng nam thì mới đúng đường, mới mong có cơ hội cầm lại cây viết và bán chữ nuôi thân. Lúc tới đảo điền đơn xin định cư thì cứ nhắm coi quốc gia nào có tiêu chuẩn nhận người dễ dãi thì xin đi quốc gia đó chớ đâu dám kén chọn theo ý mình mà được. Nghe nói Canada nhận tị nạn rất dễ và khi đóng dấu nhận rồi thì cho rời đảo rất nhanh, hơn nữa nhân viên phái đòan Canada nói rằng dân Canada rất hiền hòa thân thiện, tuy xứ lạnh nhưng con người rất nồng nhiệt chí tình cho nên ông xã cô không ngần ngại xin cho gia đình đi Canada. Có biết đâu số mệnh đã an bày là phải đi hướng nam đúng theo tử vi đã báo trước. Thế nên mặc dù đã được Canada nhận nhưng rốt cuộc tới giờ chót lại leo lên chiếc phi cơ Qantas có hình con đại thử Kangoroo bay qua châu Úc, một lãnh thổ mênh mông cheo leo một mình một cõi với cái nick name là Down Under rất quê mùa mộc mạc mà lịch sử chỉ mới hai trăm năm lập quốc ở tận cực nam của nam bán cầu.

Ngày đầu tiên tới Úc, gia đình cô Kiều tình cờ gặp gỡ một ông bác sĩ Úc, giám đốc y tế vùng phía tây Sydney lúc ông đi thanh tra bệnh viện mà nhóm người tị nạn được đưa đến để khám sức khỏe. Sau lần gặp đầu, trò chuyện với ông xã cô, ông bác sĩ cảm thấy có thiện cảm hay sao mà sau đó đã mời cả gia đình cô về nhà gặp phu nhân của ông. Từ đó, cứ thỉnh thỏang weekend, hai ông bà bác sĩ thường đưa gia đình cô du ngọan đó đây hoặc đi picnic chỗ này chỗ nọ với những bữa ăn chung rất thân tình như bè bạn lâu năm trong sự quý mến chân thành chớ không phải chỉ là lòng thương hại bố thí cho những kẻ sa cơ lạc lòai nơi đất khách.

Mùa Giáng Sinh năm đầu tiên ở Úc, hai vợ chồng cô Kiều chưa biết tập tục mừng Giáng Sinh của người Âu Mỹ ra sao và hơn nữa vì chưa có việc làm hẳn hoi nên không có tiền mua quà và tổ chức Giáng Sinh đón Chúa như bao gia đình khác. Ông bà bác sĩ tế nhị biết thế nên đã tốt bụng chia sẻ niềm vui của đêm thiêng liêng tình thánh ấy cho gia đình cô thật chu đáo. Và cũng nhân dịp này ông bác sĩ còn mời mẹ và gia đình người em gái tới dự buổi ăn khuya để giới thiệu với gia đình cô Kiều. Từ là những kẻ xa lạ ở hai bờ đại dương cách trở, hai quốc gia xa xôi vạn dặm, kẻ da trắng người da màu chưa một lần gặp gỡ quen biết mà bỗng dưng cơ duyên nào đưa đẩy để ngồi chung với nhau trong một bàn ăn thân mật vui vẻ, không chút kỳ thị tị hiềm, nhứt là lại vào ngay cái đêm Chúa xuống đời đem tình thương ban bố thế nhân thì nếu không phải là ân thánh Chúa thì biết phải giải thích như thế nào.

Dưới gốc một cây thông tươi còn thơm mùi nhựa được trang hòang lộng lẫy bằng những đèn sao nhấp nháy và những trái châu muôn màu là những gói quà sặc sỡ đẹp mắt chất cao thành đống. Mỗi người ai cũng có quà tặng trao đổi cho nhau với những lời chúc an bình tốt đẹp. Duy chỉ có gia đình cô Kiều là rất bỡ ngỡ, chỉ biết ngại ngùng làm kẻ nhận chớ chẳng có gì để đáp lại ngòai sự biết ơn. Dù xưa nay cô Kiều đã được cha mẹ dạy bảo là không được nhận không của ai một thứ gì, nhưng trong giai đọan đầu mới tới, chưa kịp an cư lạc nghiệp thì lấy đâu ra phú quý mà sinh lễ nghĩa. Thôi thì tạm thời xin chỉ nhận cho vui lòng những kẻ hảo tâm. Trong đời có ai tránh khỏi những lúc thọ ơn người khác, nhứt là một khi đã mang thân tị nạn ở xứ người, dù muốn dù không vô hình chung đã là kẻ thất thế đi gõ cửa nhà người cầu xin, xin sự sống, xin tình người. Vì vậy nếu được cho thì mình cứ nhận, cứ coi như họ đã nợ mình kiếp trước nên kiếp này phải trả lại thế thôi. Rồi một ngày nào đó biết đâu mình sẽ có cơ hội đáp đền, dù không đền trả trực tiếp những ân nhân của mình thì với những ai lỡ vận thất thời như mình hiện tại, bởi vì chung quanh mình lúc nào cũng có biết bao kẻ bất hạnh cần được cứu giúp xót thương. Điều đáng cảm kích ở đây là tình người không vụ lợi, thi ân bất cầu báo, cho đi để nhận lại niềm vui cho chính mình theo thông điệp nhắn nhủ của Chúa. Không biết dân Canada tử tế nhiệt tình ra sao nhưng tình người xứ Úc như thế này là đã quá sức tưởng tượng.

Ngòai gia đình ông bác sĩ tốt bụng này còn có những người khác cũng tận tình nâng đỡ gia đình cô trong những bước đầu chập chững ở quê hương thứ hai này. Có người đến rồi đi nhanh chóng nhưng cũng có người ở lại với gia đình cô một thời gian, giúp cô đi tìm việc, đưa con cô đi học, đi khám răng định kỳ lúc cô và ông xã bận đi làm. Đó là bà Anne, vợ của ông ca sĩ John Mac Nally, người gốc Ái Nhĩ Lan. Tuy là ca sĩ khá nổi tiếng vào thập niên tám mươi nhưng ông này cũng rất ngoan đạo, đi lễ đều đặn mỗi tuần, vì vậy rất tán thành chuyện bà vợ làm việc tông đồ. Do sự quen biết đó cho nên trong bốn năm đầu ở Úc, mỗi dịp Giáng Sinh, không nhà ông này thì nhà bà nọ, gia đình cô Kiều đều đón Giáng Sinh với những người Úc có tấm lòng nhân ái bao la…

5-
Vài năm sau, khi hai vợ chồng mua được nửa căn nhà thì cô Kiều thường tự tổ chức lễ Giáng Sinh cho gia đình và mời một số bạn bè thân sơ xa gần đến chung vui. Ngòai chuyện barbecue ăn uống, cô Kiều còn bày ra một màn phát quà thật thú vị cho ai nấy đều được vui mà không tốn kém bao nhiêu. Cô giao cho con gái cô gói mấy chục gói quà rồi đánh số lên mỗi gói. Ai bắt thăm được số nào thì lãnh gói quà mang số đó bất kể là món gì, từ món hai ba đồng cho tới mười, mười lăm đồng. Nhờ vậy, khi tàn cuộc ra về ai cũng thích chí vui cười hả hê, còn dặn cô năm sau xin đừng bỏ sót họ sau khi nói Bye bye, see you next year, merry Christmas và happy new year.

Sau đó thì cô dọn dẹp “đã đời” cho tới khuya, nhưng có hề gì, thấy người ta vui, mình cũng vui lây, nhứt là ông xã cô, lương công chức ba đồng ba cọc nhưng lại thích làm Mạnh Thường Quân. Từ khi làm việc ở những trung tâm tiếp cư người tị nạn, thầy Tâm đã gặp gỡ biết bao là đồng hương đồng bào. Vốn tánh hay thương người, ai nhờ cậy việc gì thầy cũng sẵn lòng giúp đỡ, ai than ai thở thầy cũng chở về cho uống cho ăn khiến cô Kiều cuối tuần nào cũng phải nấu nướng ê hề mệt ngất ngư. Âu đó cũng là cái nghiệp vay trả của hai vợ chồng cô, có lẽ.

Rồi một ngày kia con gái cô đi lấy chồng. Thằng rể của cô là người gốc Tây Ban Nha di dân theo cha mẹ từ lúc năm sáu tuổi. Gia đình bên sui gia chỉ có hai thằng con, ngòai ra không có thân nhân nào ở Úc cho nên từ khi làm thông gia với vợ chồng cô, mỗi năm cứ đến lễ Giáng Sinh, sui gia Tây mời sui gia Việt đón Giáng sinh chung vào đêm Chritmas Eve. Theo tập tục người Âu Mỹ, ăn Noel là phải có gà tây đút lò cho nên năm nào bà sui Tây cũng đút lò một con turkey tám chín ký, phải bốn tới năm tiếng đồng hồ mới well cooked. Quà cáp thì thôi chật cả một góc phòng, nhứt là từ khi có thêm bốn đứa cháu nội, con của hai thằng con trai, từ một cho tới bảy tuổi, đồ chơi thùng nào thùng nấy cỡ bằng nửa mặt bàn.

Về chuyện mua quà, lúc đầu cô Kiều còn tự đi mua sắm, lựa chọn món này món nọ sao cho có ý nghĩa, nhưng về sau cô hết biết mua thứ gì khi mà nhà có bao nhiêu người thì phải mua bao nhiêu thứ đồ tặng, nào cho cha mẹ cô, ông xã cô, nào cho vợ chồng con cái người em gái, em trai, nào cho con cho cháu cho rể, cho sui gia và cả gia đình thằng em của thằng rể nữa. Thiệt là phát điên được. Vì thế bây giờ cứ gần tới Noel, cô giao khóan cho con gái cô vốn là shop alcoholic, đưa tiền cho nó, bảo nó rằng con nghĩ coi mua món gì được thì mua hết giùm cho má đi, rồi gói luôn, chớ tao mà lôi ba mày đi vòng vòng là mặt ổng sẽ đen thui đen sì như Bao Công chưa phá được án, ổng làm tao stress phải uống thuốc an thần mấy bữa cũng chưa hết.

Cũng vì chuyện nhờ con gái mua quà mà tới lúc mở quà nhiều khi xảy ra những chuyện ngớ ngẩn cười ra nước mắt. Chẳng hạn như khi bà sui mở gói quà, bà chợt sáng mắt kêu lên mừng rỡ rồi chạy lại ôm cô hun một cái nói một hơi là thank you very much, I’m so happy with your present, you know what I want (cám ơn chị lắm, tôi rất thích quà của chị , chị biết ý tôi quá). Cô ngẩn người không biết mình cho bà ta cái gì mà bả vui dữ vậy. Cô cũng nói trả lễ you’re wellcome, as long as you like it (không có chi, miễn chị thích là được rồi) . Rồi cô liếc qua nhỏ con gái như thầm hỏi con mua cho bả cái gì vậy.

Đến phiên cô em dâu (cô này vốn là bạn thân học high school với con gái cô) của thằng rể mở quà của con nó ra coi, nó cầm lên ướm ướm lên người con nó rồi cười toe tóet nói it’s perfect right, thank you K. You’re so kind, every year you give us a lot, we are so lucky (thiệt là vừa, cám ơn cô nghe. Cô tử tế quá, năm nào cũng cho tụi con nhiều quà, tụi con thật có phước). Cô cũng không biết mình cho con nó cái quần cái áo gì mà nó nói vừa khít thành ra cô tương kế tựu kế nói theo. So you don’t need to change. If you want a bigger size, Agnes (tên con gái cô) still keeps the receipt (vậy là cháu không cần đổi gì hết phải không, nếu muốn đổi size lớn hơn thì Agnes còn giữ receipt kìa). Sực nhớ ra mình nói hớ cô vội khỏa lấp that’s nothing Michelle, we are family (không có bao nhiêu đâu Michelle,, mình là người nhà cả mà ).

Đến lượt cô mở quà của bọn họ, cô cũng giả bộ tấm tắc khen Wow!, What a wonderful! mà trong đầu thì đang tính coi về kiếm ai cho lại chớ nhà đã hết chỗ chứa. Đời đúng là một trường thiên bi hài kịch mà tất cả mọi người đều là diễn viên điệu nghệ không cần phải học tuồng và tập dượt trước.

Những mùa Giáng Sinh đáng nhớ trong đời cô Kiều chỉ có bấy nhiêu và tới đây có lẽ đã là chặng áp cuối. Từ đây cứ như thế mà lập đi lập lại cho đến mãn đời. Tới tuổi đời này cô đã vỡ lẽ, đã ngộ ra nhiều thứ mà lúc trẻ cô không lý giải được duy chỉ có một điều cô rất thắc mắc là tại sao tội lỗi lòai người đã được Chúa xuống trần cứu chuộc mà con người vẫn cứ mãi trầm luân trong biển khổ triền miên. Chúa vác thập tự giá chỉ một lần và chỉ một chặng đường đến đồi Golgotha trong khi lòai người phải vác thập giá suốt cả một kiếp từ lúc sơ sinh cho đến lúc lìa trần. Chắc chắn không có ai muốn sinh ra làm người nhưng vì sao lại phải hiện hữu ở cõi thế gian này để hứng chịu trăm cay ngàn đắng. “Sinh, Lão, Tử” thì cũng được đi. Từ “Sinh” cho tới “Lão” là đã trải qua biết bao nhiêu gian nan thử thách, đã đủ bầm dập tả tơi. Vậy mà còn thêm chữ “Bệnh” trước chữ “Tử” khiến thân xác con người phải chịu thêm lắm nỗi đọa đày thống khổ trước khi lết được tới bên nấm mồ để yên giấc ngàn thu. Như thế thì nhân lọai có được cứu rỗi gi đâu? Và nếu thế thì chân lý của Đấng tòan năng là thế nào? Chẳng lẽ Thượng Đế sinh ra con người chỉ để hành tội coi chơi?!… Có ai thấu đạt huyền cơ, ngộ đạo đất trời thì xin giùm giải đáp? Rất mong…

© Kim Nguyên- Người Phương Nam

Noel: Cuối tuần đọc chút điều vui


Tuy gần mà xa


Có một vị hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:
“Tại sao trong cơn giận dữ người ta thường phải hét thật to vào mặt nhau ?”

Sau một lúc suy nghĩ, một trong những đệ tử ấy đã trả lời:
“Bởi vì người ta mất bình tỉnh, mất tự chủ!”
Vị hiền triết không đồng ý với câu trả lời, ngài bảo:
“Nhưng tại sao phải hét lên trong khi cả hai đang ở cạnh nhau, tại sao không thể nói với một âm thanh vừa phải đủ nghe ?”
Các đệ tử lại phải ngẫm nghĩ để trả lời nhưng không có câu giải thích nào khiến vị thầy của họ hài lòng.
Sau cùng ông bảo:
“Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ đã  không còn ở gần nhau nữa. Từ trong thâm tâm họ cảm thấy giữa họ và người kia có một khoảng cách rất xa, nên muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to. Sự giận dữ càng lớn thì khoảng cách càng xa, họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.”
Ngưng một chút, ngài lại hỏi:
“Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào?  Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói nhỏ nhẹ, tại sao?  Bởi vì trái tim của họ cận kề nhau.  Khoảng cách giữa họ rất nhỏ…”
Rồi ngài lại tiếp tục:
“Khi hai người ấy đã yêu nhau thật đậm đà thì họ không nói nữa, họ chỉ thì thầm, họ đã đến rất gần nhau bằng tình yêu của họ. Cuối cùng ngay cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ cần đưa mắt nhìn nhau, thế thôi! Vì qua ánh mắt đó họ đã biết đối phương nghĩ gì, muốn gì ..”

Ngài kết luân:
“Khi các con bàn cãi với nhau về một vấn đề, phải giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng bao giờ thốt ra điều gì khiến các con cảm thấy xa cách nhau…
Nếu không thì có một ngày khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng xa thì các con sẽ không còn tìm ra được đường quay trở về !”


Người Hiền

GHI CHÚHiền triết hay Hiền nhân là người có đức hạnh tài năng, thông thái, tử tế, rộng lượng.  tiếng Pháp gọi là “Le Sage”, còn tiếng Ấn Độ, trong Phạn điển/S

---------------

Một câu chuyện vừa vui vừa cảm động

Một ông lão người Italy sống 1 mình tại New Jersey, Mỹ. Người đàn ông này muốn trồng những cây cà chua trong khu vườn nhỏ của mình, nhưng ông không thể làm được việc đó, vì đất trong khu vườn rất cứng và khó đào. Trước đây, con trai Vincent của ông thường giúp ông lão làm công việc này, nhưng giờ nó đã vào tù. Ông lão viết 1 lá thư gửi cho con trai mình đang ở trong tù, nội dung bức thư như sau:

“Vincent à, bố cảm thấy khá buồn vì có lẽ con không thể giúp bố đào xới khu vườn để trồng cà chua như mọi năm, bố đã quá già để làm việc đó. Nếu có con ở đây, chắc chắn mọi việc sẽ ổn, và con cũng sẽ rất vui khi giúp bố như vậy, như những ngày xưa ấy. Yêu con, papa.”

Vài ngày sau, ông lão nhận được lá thư trả lời của người con trai:

” Bố, đừng đào xới khu vườn. Con chôn những kẻ mà con giết ở dưới đất đấy.
Yêu bố, Vincent”

4 giờ sáng hôm sau, đặc vụ FBI và cảnh sát địa phương ngay lập tức tới nhà ông lão, phong tỏa mọi thứ và đào xới tung khu vườn để tìm kiếm những thi thể. Nhưng lạ thay là họ không thể tìm thấy thứ gì. Ngay hôm đó, ông lão lại nhận được lá thư của người con trai:

“Bố thân yêu, giờ bố có thể trồng cà chua được rồi đấy. Đó là điều tốt nhất con có thể làm cho bố trong hoàn cảnh này. Yêu bố, Vincent”.

Sáu mươi sáu câu Phật học làm chấn động thiền ngữ thế giới

1.     Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.


2.     Nếu anh không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho anh. Vì chính tâm anh không buông xuống nỗi.


3.     Anh hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình.


4.     Anh phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương anh, anh phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực.


5.     Khi anh vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi anh đau khổ, anh hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn.


6.     Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai.


7.     Anh có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên.


8.     Đừng lãng phí sinh mạng của mình trong những chốn mà nhất định anh sẽ ân hận.


9.     Khi nào anh thật sự buông xuống thì lúc ấy anh sẽ hết phiền não.


10.  Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.


11. Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác.


12.  Anh đừng có thái độ bất mãn người ta hoài, anh phải quay về kiểm điểm chính mình mới đúng. Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính anh.


13.  Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không bao giờ được thanh thản.


14.  Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.


15.  Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin anh “ đa khẩu hạ lưu tình”.


16. Vốn dĩ không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa anh là ai? Giả sử anh bị chó điên cắn anh một phát, chẳng lẽ anh cũng phải chạy đến cắn lại một phát?


17.  Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ nhớ đến người anh không hề yêu thích.


18.  Mong anh đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình, có như vậy người khác mới khả dĩ tiếp nhận.


19.  Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao anh lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm tại sao anh phải chứa đầy những não phiền như vậy?


20.   Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì anh hiểu nó quá ít, anh không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi anh hiểu sâu sắc, anh sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của anh.


21.  Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc, tôi không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân.


22. Tốn thêm một chút tâm lực để chú ý người khác chi bằng bớt một chút tâm lực phản tỉnh chính mình, anh hiểu chứ?


23.  Hận thù người khác là một mất mát lớn nhất đối với mình.


24.  Mỗi người ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được điều đó, thậm chí trân quý mạng sống của mình hơn. Người không hiểu được mạng sống thì mạng sống đối với họ mà nói chính là một sự trừng phạt.


25.  Tình chấp là nguyên nhân của khổ não, buông tình chấp anh mới được tự tại.


26.  Đừng khẳng định về cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đỡ phải hối hận hơn.


27.  Khi anh thành thật với chính mình, thế giới sẽ không ai lừa dối anh.


28.  Người che đậy khuyết điểm của mình bằng thủ đoạn tổn thương người khác là kẻ đê tiện.


29.  Người âm thầm quan tâm chúc phúc người khác, đó là một sự bố thí vô hình.


30.  Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu anh không phán đoán chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì mắc phải nhầm lẫn là lẽ thường tình.


31.  Muốn hiểu một người, chỉ cần xem mục đích đến và xuất phát điểm của họ có giống nhau không, thì có thể biết được họ có thật lòng không.


32.  Chân lý của nhân sinh chỉ là giấu trong cái bình thường đơn điệu.


33.  Người không tắm sửa thì càng xức nước hoa càng thấy thối. Danh tiếng và tôn quý đến từ sự chân tài thực học. Có đức tự nhiên thơm.


34.  Thời gian sẽ trôi qua, để thời gian xóa sạch phiền não của anh đi.


35.  Anh cứ xem những chuyện đơn thuần thành nghiêm trọng, như thế anh sẽ rất đau khổ.


36.  Người luôn e dè với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa.


37.  Nói một lời dối dang thì phải bịa thêm mười câu không thật nữa để đắp vào, cần gì khổ như vậy?


38.  Sống một ngày vô ích, không làm được chuyện gì, thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm.


39.  Quảng kết chúng duyên, chính là không làm tổn thương bất cứ người nào.


40.  Im lặng là một câu trả lời hay nhất của sự phỉ báng.


41.  Cung kính đối với người là sự trang nghiêm cho chính mình.


42.  Có lòng thương yêu vô tư thì sẽ có tất cả.


43.  Đến là ngẫu nhiên, đi là tất nhiên. Cho nên anh cần phải “ tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng tùy duyên”.


44.  Từ bi là vũ khí tốt nhất của chính anh.


45.  Chỉ cần đối diện với hiện thực, anh mới vượt qua hiện thực.


46.  Lương tâm là tòa án công bằng nhất của mỗi người, anh dối người khác được nhưng không bao giờ dối nỗi lương tâm mình.


47.  Người không biết yêu mình thì không thể yêu được người khác.


48.  Có lúc chúng ta muốn thầm hỏi mình, chúng ta đang đeo đuổi cái gì? Chúng ta sống vì cái gì?


49.  Đừng vì một chút tranh chấp mà xa lìa tình bạn chí thân của anh, cũng đừng vì một chút oán giận mà quên đi thâm ân của người khác.


50.  Cảm ơn thượng đế với những gì tôi đã có, cảm ơn thượng đế những gì tôi không có.


51.  Nếu có thể đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.


52.  Nói năng đừng có tánh châm chọc, đừng gây thương tổn, đừng khoe tài cáng của mình, đừng phô điều xấu của người, tự nhiên sẽ hóa địch thành bạn.


53.  Thành thật đối diện với mâu thuẩn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.


54.  Nhân quả không nợ chúng ta thứ gì, cho nên xin đừng oán trách nó.


55.  Đa số người cả đời chỉ làm được ba việc: Dối mình, dối người, và bị người dối.


56.  Tâm là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dối anh nhất thời, nhưng nó lại gạt anh suốt đời.


57.  Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng nên thoát một mình.


58.  Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ này, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.


59.  Nếu anh có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là một phúc phần rồi. Biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương của ngày mai, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành tàn phế, biết bao nhiêu người hôm nay đã đánh mất tự do, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành nước mất nhà tan.


60.  Anh có nhân sinh quan của anh, tôi có nhân sinh quan của tôi, tôi không dính dáng gì tới anh. Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được anh. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu.


61.  Anh hi vọng nắm được sự vĩnh hằng thì anh cần phải khống chế hiện tại.


62.  Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh.


63.  Người khác có thể làm trái nhân quả, người khác có thể tổn hại chúng ta, đánh chúng ta, hủy báng chúng ta. Nhưng chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ, vì sao? Vì chúng ta nhất định phải giữ một bản tánh hoàn chỉnh và một tâm hồn thanh tịnh.


64.  Nếu một người chưa từng cảm nhận sự đau khổ khó khăn thì rất khó cảm thông cho người khác. Anh muốn học tinh thần cứu khổ cứu nạn, thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn.


65.  Thế giới vốn không thuộc về anh, vì thế anh không cần vứt bỏ, cái cần vứt bỏ chính là những tánh cố chấp. Vạn vật đều cung ứng cho ta, nhưng không thuộc về ta.


66.  Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.

 

Sàigòn ​Công Lý và Hòa Bình : 500 người nghe công khai vạch trần sự dối trá của nhà cầm quyền CSVN


Bài giảng tuyệt vời của Linh mục Giuse Nguyễn​V​ăn Toản tại DCCT ​
Saigon, ngày 1 tháng 12 năm 2014 trong thánh lễ cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình

​.​
​LM​NguyễnV​ăn Toản đã vượt qua sợ hải, công khai vạch trần sự dối trá của nhà cầm quyền CSVN,​vì cha tin vào Thiên ​Chúa sẽ phù hộ, che chở cho cha
​.​Cha Toản chỉ nói sự thật cho 500 người nghe tại nhà thờ

Saigon, còn chúng ta, dù bất cứ tôn giáo nào, yêu chuộng sự thật cũng
​nên​
tiếp tay với cha phổ biến rông rãi cho mọi người khắp thế giới cùng nghe
​về ​
sự thật
​.

Mời  vào đây nghe:​
Bài giảng của Linh mục Giuse NguyễnVănToản tại Saigon

Bài Xem Nhiều