We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 11 December 2014

NOËL: Chuyện có ý nghĩa của 'Lão Panov - Leo Tolstoy"



Những câu chuyện mùa Giáng Sinh: câu chuyện có ý nghĩa nhất.



Leo Tolstoy, tức là bá tước Lev Nikolayevich Tolstoy (09 tháng 9 - 1828 - 20 tháng 11 - 1910), là một văn hào vĩ đại nhất của Nga. Ngoài hai bộ trường thiên tiểu thuyết nổi tiếng là 'Chiến Tranh và Hoà Bình' và 'Anna Karenina', ông còn viết nhiều chuyện ngắn, tiểu luận, kịch bản, và phê bình phương pháp giáo khoa. Ông là người có uy tín nhất của giòng tộc Tolstoy.

"Giáng sinh đặc biệt của Lão Panov" (Papa Panov's Special Christmas) là một chuyện ngắn do ông phóng tác lại vở thoại kịch có tựa đề là 'Le père Martin' ra văn xuôi. 'Le père Martin' do văn sĩ người Pháp tên là Ruben Saillens sáng tác, ông cũng là một mục sư Tin Lành nổi tiếng và có tước hiệu là bá tước de Noël de Ruben Saillens(24 Tháng 6 - 1855 – 5 Tháng 1 - 1942). Chủ đề là lời Chuá trong đoạn Kinh Thánh (Matthew 25:35-40) "Ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho ta uống".

Lấy cảm hứng từ hai tác giả trên, ngày nay đã có 'hẳng hà xa số' các mô phỏng cuả câu chuyên trên, bằng thơ, bằng văn, bằng video và

nhất là bằng hàng ngàn những vở kịch mà các em nhỏ học sinh thường trình diễn trong muà Giáng Sinh.

Chúng ta sẽ đọc cả hai tác giả, chuyện được biết nhiều hơn là 'Giáng sinh đặc biệt của Lão Panov cuả Leo Tolstoy' và vở kịch nguyên thủy là 'Lão Martin cuả Ruben Saillens'


Giáng sinh đặc biệt của Lão Panov - Leo Tolstoy

Hôm đó là ngày vọng (trước) Giáng sinh, Mặc dù chỉ mới có xế chiều mà đèn đã được thắp lên khắp cả, từ nhà ở cho đến các cửa tiệm trong ngôi làng nhỏ của nước Nga này, bởi vì những ngày mùa đông thì ngắn ngủi và rất chóng tàn. Những đứa bé vốn lúc nào cũng hớn hở đã chạy nhẩy lon ton ở bên trong và bây giờ, thoát ra từ những khung cửa chớp khép kín, là những âm thanh giống như bị bóp nghẹt cuả những cuộc trò chuyện và những tiếng cười đuà.

Lão Panov, ông thợ giày cuả làng, bước ra bên ngoài để có một cái nhìn rảo khắp. Những âm thanh của hạnh phúc, những ánh đèn rực rỡ và mùi vị thoang thoảng cuả những món ăn ngon muà Giáng sinh làm cho ông nhớ tới những muà Giáng sinh đã qua khi người vợ cuả ông vẫn còn sống và những đứa con vẫn còn bé bỏng. Bây giờ thì mọi người đã đi xa rồi. Khuôn mặt tươi vui tự nhiên của ông, thường đi đôi với một cặp mắt xe lại vì nếp cười, ẩn nấp sau cặp kính tròn, bây giờ trông buồn rời tợi. Tuy nhiên, ông đã bước vào trong nhà một cách dứt khoát, kéo cửa chớp xuống và đặt bình cà phê lên bếp than. Sau đó, với một tiếng thở dài, ông ngả người lên chiếc ghế bành lớn.

Lão Panov thường không đọc sách, nhưng tối nay, ông với lấy cuốn sách Kinh Thánh cũ cuả gia đình, và từ từ dùng ngón tay trỏ lân lê theo dòng chữ, ông đọc lại câu chuyện Giáng sinh. Ông đọc tới đoạn Bà Maria và Ông Giuse, mệt mỏi sau cuộc hành trình đi Belem, không tìm được một chỗ nào tại nhà trọ, phải sinh đứa con nhỏ trong một chuồng bò.

"Trời đất ơi, Trời đất ơi!" Lão Panov kêu lên, "nếu mà họ đến đây! Tôi sẽ nhường chiếc giường của tôi cho họ và tôi bảo đảm sẽ lấy tấm chăn bông của tôi để bao bọc cho đưá bé."

Khi ông đọc tiếp tới đoạn các nhà đạo sĩ đến thăm em bé Giêsu, tặng cho em nhiều món quà tuyệt vời. Thì sắc mặt cuả Lão Panov xụ xuống. "Tôi chẳng có món quà nào cho em cả," ông buồn bã nghĩ thế.

Rồi gương mặt cuả ông lại tươi lên. Ông bỏ cuốn Kinh Thánh xuống, đứng dậy và vươn cánh tay dài lên một ngăn tủ ở trên cao trong căn phòng nhỏ. Ông lấy xuống một chiếc hộp nhỏ đã phủ đầy bụi và mở ra. Bên trong là một cặp giày nhỏ bằng da hoàn hảo. Lão Panov mỉm cười hài lòng. Vâng, đôi giầy vẫn còn tốt như trước - đôi giày tốt nhất mà ông từng làm ra. "Tôi phải cho em đôi giầy này" ông định bụng như thế, rồi nhẹ nhàng cất chúng đi và ngồi xuống một lần nữa.

Ông bắt đầu cảm thấy mệt mỏi, và càng đọc thì càng buồn ngủ hơn. Những giòng chữ bắt đầu nhảy múa trước mắt cho đến khi ông phải nhắm mắt lại, để nghỉ thêm một phút. Nhưng chẳng bao lâu thì Lão Panov ngủ vùi.

Trong giấc ngủ, ông thấy một giấc mơ. Ông nằm mơ một người nào đó đang ở trong phòng của mình và ông nhận biết, giống như mọi người đều nhận biết khi ở trong những giấc mơ cuả họ, ông nhận ra ngay người đó là ai. Là Chúa Giêsu.

"Panov, nếu con muốn gặp Ta," Chuá nói một cách dịu dàng "thì hãy tìm Ta vào ngày mai. Đúng ngày Giáng Sinh Ta sẽ đến thăm con. Nhưng hãy chú ý cẩn thận, Ta sẽ không tỏ cho con biết rõ Ta là ai."

Cuối cùng thì Lão Panov tỉnh dậy, khi chuông nhà thờ reo vang và một luồng sáng mỏng manh luồn lọc qua khung cửa chớp. "Chao ôi, vui quá là vui!" Lão Panov reo lên. "Đây là ngày Giáng sinh rồi!"

Ông đứng dậy và duỗi mình cho qua cơn nhức mỏi. Rồi thì khuôn mặt cuả ông rực lên một niềm vui hạnh phúc vì hồi tưởng lại giấc mơ vừa qua. Đây sẽ là một ngày Giáng sinh đặc biệt hơn tất cả, vì Chúa Giêsu đến thăm ông. Ngài sẽ trông giống như thế nào nhỉ? sẽ còn là một em bé như lúc Giáng sinh đầu tiên? Hay sẽ là một người trưởng thành, một anh thợ mộc - hay là một vị vua huy hoàng, xứng đáng với danh phận là Con Đức Chúa Trời? Ông tự nghĩ phải cẩn thận canh chừng từng giây phút cuả ngày để có thể nhận ra Ngài khi Ngài ngự đến.

Lão Panov pha một bình cà phê đặc biệt cho bữa ăn sáng Giáng Sinh, kéo cửa chớp cuả cửa sổ lên và nhìn ra ngoài. Đường phố còn vắng tanh, không ai cả. Không ai ngoại trừ ông quét đường. Ông ta có vẻ khổ sở và bẩn thỉu hơn bao giờ hết, và cũng là đáng kiếp! Ai mà đi làm việc vào ngày Giáng sinh bao giờ- và lại làm việc trong cái lạnh cay đắng cuả lớp sương muối trong một buổi sáng như thế này?

Lão Panov mở cửa ra, một làn khí lạnh mỏng luà vào . "Vào đây!" ông hô to qua phiá bên kia đường bằng một giọng vui vẻ. "Vào đây uống một chút cà phê cho ấm bụng!"

Ông quét đường nhìn lên, gần như không tin vào tai mình. Rõ ràng ông ta đã quá sức vui mừng khi được đặt cây chổi xuống và đi vào căn phòng ấm áp. Quần áo của ông bay phất phới nhẹ nhàng trong cái hơi nóng từ bếp lò thoát ra và ông siết chặt cả hai bàn tay đỏ như gấc vì lạnh vào cái ly ấm áp và đầy an ủi.

Lão Panov hài lòng nhìn ông ta , nhưng thỉnh thoảng vẫn liếc mắt qua khung cửa sổ. Ông không muốn bỏ lỡ người khách đặc biệt của mình.

"Ông đợi ai đó?" ông quét đường sau cùng phải hỏi như thế và Lão Panov kể cho ông ta về giấc mơ của mình.

"Vâng, tôi hy vọng ông ta tới," ông quét đường nói, "ông vừa tặng cho tôi một chút niềm vui Giáng sinh mà tôi đã không bao giờ mong đợi. Tôi cũng muốn nói rằng ông xứng đáng có được một giấc mơ trở thành sự thật." Và ông ta đã mỉm cười một cách thực lòng.

Khi ông ta đi rồi, Lão Panov cắt nhỏ bắp cải đưa vào nồi súp để dọn bữa ăn, sau đó đi ra cửa nữa, quét mắt nhìn quanh đường phố. Ông vẫn không thấy ai. Nhưng thực sự ông đã nhầm. Có người đang đi đến.

Cô gái bước đi rất chậm chạp và lặng lẽ, dựa sát vào bờ tường cuả các cửa hàng và nhà ở, phải mất một thời gian dài trước khi ông nhận ra cô nàng. Cô ta trông thật mệt mỏi và đang mang một cái gì đó. Khi cô gái tiến gần ông hơn, ông nhận ra rằng 'cái gì đó' là một đứa bé, bọc trong một chiếc khăn choàng mỏng. Có một nỗi buồn u uẩn phảng phất trong khuôn mặt của cô gái và trong khuôn mặt bị ép chặt của đứa bé, đến nỗi trái tim của Lão Panov muốn rơi ra vì họ.

"Xin mời vào nhà," ông bước ra ngoài để gặp họ. "Cô và em bé cần có chút lửa ấm và chút nghỉ ngơi."

Bà mẹ trẻ để cho ông ta dẫn cô vào nhà và tới với sự thoải mái của chiếc ghế bành. Cô thở dài nhẹ nhõm.

"Tôi sẽ hâm nóng một chút sữa cho em bé," Lão Panov nói, "Tôi cũng đã có con - tôi có thể cho con bé bú." Ông lấy sữa từ bếp lò và cẩn thận cho đứa con gái nhỏ bú bằng muỗng, đồng thời hơ ấm đôi bàn chân nhỏ của nó lên bếp.

"Con bé cần có giày", ông thợ đóng giày noí.

Nhưng bà mẹ trẻ trả lời: "Tôi không có tiền mua giày đâu, tôi không có chồng để lo chu cấp cho chúng tôi. Tôi phải đi đến làng bên cạnh để tìm việc làm."

Một ý nghĩ chợt lóe lên trong trí của Lão Panov. Ông nhớ lại đôi giày nhỏ ông đã coi lại đêm qua. Nhưng ông muốn giữ đôi giầy ấy cho Chúa Giêsu. Ông nhìn xuống đôi chân lạnh cuả đưa bé một lần nữa và rồi làm một quyết tâm.

"Thử đôi giầy này cho con bé," ông vừa nói vừa đưa trả đứa bé cùng với đôi giày cho người mẹ. Đôi giày nhỏ xinh đẹp đi vào vừa vặn. Cô gái mỉm cười hạnh phúc và con bé cũng riú rít lên vì vui sướng.

"Ông tốt với chúng tôi quá", cô gái nói, và bế đứa bé lên mà đi ra. "Mong rằng tất cả những ước mơ Giáng sinh của ông trở thành sự thật!"

Nhưng đến lúc này thì Lão Panov đã bắt đầu nghi ngờ cái ước mơ Giáng sinh đặc biệt của mình có thể trở thành sự thật không. Có lẽ ông đã bỏ lỡ người khách của mình? Ông lo lắng nhìn lên các đường phố cả trên lẫn dưới. Vẫn có nhiều người đi qua nhưng toàn là những gương mặt mà ông từng quen biết. Có nhiều người hàng xóm đi gọi người nhà về. Họ gật đầu chào và mỉm cười chúc ông Giáng sinh vui vẻ! Hoặc nhửng tên hành khất - và Lão Panov vội vã gọi họ vào nhà để biếu họ một tô súp nóng và một ổ bánh mì kha khá, rồi cũng vội vã chạy ra cửa để đề phòng ông không bỏ lỡ Ngừơi Lạ Mặt Quan Trọng.

Rồi thì chẳng mấy chốc mà cảnh hoàng hôn cuả mùa đông lại rơi xuống. Khi Lão Panov đi ra cửa một lần nữa và dù có căng đôi mắt của mình ra đến mấy, ông cũng không còn nhìn thấy một ai trên đường. Mọi người đều đã về nhà. Ông chậm rãi đi vào phòng, đóng cửa chớp xuống, và ngồi xuống một cách mệt mỏi trên chiếc ghế bành.

Chỉ là một giấc mơ thôi. Chúa Giêsu nào có đến.

Nhưng bỗng nhiên ông cảm thấy ông không ở một mình trong phòng.

Điều xảy ra không phải là một giấc mơ vì ông hoàn toàn tỉnh táo. Đầu tiên, ông thấy trước mắt một hàng dài những người đã đến với ông ngày hôm đó. Ông già quét đường, người mẹ trẻ và đứa con và những người hành khất mà ông đã cho ăn.

Khi họ đi qua, họ đều thì thầm một câu: "Ông không thấy tôi à, Ông Panov?"

"Bạn là ai?" ông kêu lên, hoang mang.

Lập tức, một giọng nói khác trả lời ông. Đó là giọng nói từ giấc mơ - giọng của Chúa Giêsu.

"Ta đã đói, ngươi đã cho ăn," Chuá nói. "Ta trần chuồng và ngươi đã cho mặc. Ta lạnh và ngươi sưởi ấm cho Ta. Hôm nay Ta đến thăm ngươi qua tất cả những người mà ngươi đã mời vào mà cứu giúp."

Rồi sau đó, là một sự tĩnh mịch. Chỉ còn tiếng tíc tắc của chiếc đồng hồ lớn. Một sự bình an và hạnh phúc lớn lao lấp đầy căn phòng nhỏ, tràn ngập trái tim cuả Lão Panov đến nỗi Lão phải phá lên cười, hát vang và nhảy múa hân hoan.

"Ngài đến thật rồi!" ông chỉ nói được như thế mà thôi.

---------------------


Lão Martin (Le Père Martin) cuả Ruben Saillens

Màn 1: Người kể chuyện / Arthur / René

Người kể chuyện: Câu chuyện sau đây là chuyện của Lão Martin. Xảy ra vào tháng Mười Hai năm 1881. Lão Martin là một ông thợ đóng giày nghèo, ông sống trên tầng trệt của một tòa nhà ở góc đường Lenche và Martégales, ngay giữa khu phố cổ của Marseille. Chỉ có một căn phòng mà dùng cho đủ thứ như xưởng thợ, nhà khách, cửa hàng, nhà bếp và phòng ngủ. Ông ta sống ở đó, không quá giàu và cũng không quá nghèo. Ngồi trên chiếc ghế trong căn xưởng ấm áp của mình, ông từng sửa giày cho toàn bộ khu phố. Bên ngoài, gió bấc thổi lên và luồng gió ấy phủ một làn sương lạnh lên vai những người khách bộ hành đi trên đường.

Arthur: Chào René, ngày hôm nay lạnh quá nhỉ, không biết sẽ ra sao đây.

René: Vâng, bình thường thôi, đã là tháng 12 mà.

Arthur: Ừ nhỉ.

René: Này nhé, anh có thấy rằng Lão Martin không còn đến quán cà phê des Argonautes nữa không à.

Arthur: Vâng, đúng vậy. Hình như bắt đầu từ lúc Lão ta đi tụ tập tại nhà thờ vào những buổi tối, nơi mà anh gọi là nhà cuả 'ông Cha' ấy mà.

René: Đúng thế, Lão ta đi nhà thờ, tôi không bao giờ có thể nghĩ Lão ta sẽ trở thành như thế. Dù sao thì cũng không là quá xấu đâu, chỉ buồn cười hơn một chút nếu so sánh với tình cảnh cuả Lão trước đây.

Arthur: Anh biết không, ông già đáng thương này không có còn có một cơ hội nào nữa cả, vợ ông ta đã chết hơn hai chục năm rồi, đứa con trai thì đi làm thủy thủ trên chiếc tàu buồm Le Phocéen, đã mười năm mà không thấy mặt và đứa con gái, ông ta không bao giờ muốn nhắc đến nó.

René: Ừ nhỉ, ông ta cô độc thật.

Arthur : Thôi ! xin gửi lời chào 'bà nhà' Germaine nhá!


Màn 2: Người kể chuyện / Martin / Tiếng Nói

Người kể chuyện: Ngày hôm qua, Lão Martin đã làm việc rất siêng năng, ông hoàn tất việc sửa giày và guốc với một sự cần mẫn. Vào buổi tối, Lão ngồi trên giường và đọc một cuốn Kinh Thánh cũ của cha mẹ để lại.

Martin: Không có chỗ cho họ trong quán trọ ... Không một chỗ nào cả... Chổ ở cho Ngài à, (ông ta nhìn quanh phòng của mình) sẽ có chỗ cho Ngài ở đây ... Tôi rất ước ao Ngài đến đây. Nếu đấng cứu thế đến tối nay, liệu rằng Ngài sẽ chọn ngôi nhà của tôi không... Ngài cứ đến và tôi sẽ phục vụ Ngài, Ngài đến và tôi sẽ thờ lạy Ngài! Nhưng mà, tại sao Ngài không đến ngay hôm nay nhỉ? Vâng ... (ông bắt đầu đọc) "Một số các nhà đạo sĩ từ phương đông đến để thờ lạy Ngài," ờ, ờ đạo sĩ là gì nhỉ? "Tìm được con trẻ, họ cúi chào và dâng lên vàng, nhũ hương và mộc dược. "Tôi có thể cho Ngài cái gì? (ông ta gãi đầu, bước vào xưởng của mình). Có chứ, tôi sẽ cung cấp cho Ngài hai đôi giày nhỏ này... Nhưng sao tôi lẩn thẩn thế nhỉ ... đấng cứu thế đâu có cần căn nhà nhỏ và đôi giày của tôi đâu. (Martin ngồi xuống và ngủ thiếp đi ... Im lặng)

Tiếng Nói: Martin

Martin: Ai đó? (Giật mình, nhưng không thấy ai).

Tiếng Nói: Martin! con muốn thấy Ta à, tốt, hãy nhìn trên đường phố ngày mai từ sáng cho đến tối, con sẽ không thấy Ta tới nhiều lần đâu. Phải phấn đấu thì mới gặp Ta được, bởi vì Ta không hiện rõ ra cho con.

Martin: (dụi mắt) Đó đúng là Ngài! Ngài hứa sẽ tới! Vậy, tôi sẽ chờ. Nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy Ngài, chỉ nhìn thấy hình ở nhà thờ, nhưng thôi, tôi sẽ nhận ra Ngài. (đêm Xuống - Sáng lên - Martin đứng dậy và đi ra sau cửa sổ ).


Màn 3: Người kể chuyện / Martin / Người quét đường

Người kể chuyện: Từ sáng sớm, ông ta đứng ngay cửa sổ để tìm những người qua đường đầu tiên, bầu trời sáng lên và Lão Martin đã sớm phát hiện ra một người quét đường; ông chỉ nhìn anh ta với một cái nhìn thoáng qua: ông thực sự có một cái gì khác để làm hơn là nhìn xem một người quét đường! Nhưng bên ngoài thì rất lạnh, Lão Martin tự nghĩ:

Martin: ông này là một người tốt; trời thì lạnh và hôm nay lại là ngày lễ... nhưng anh ta thì làm gì có lễ nghỉ nhỉ? Phải chi ta hãy mời anh ta một tách cà phê! - Vào đi, vào đây cho ấm.

Người quét đường: Xin được vô phép từ chối, cảm ơn ông ... đúng là một thời buổi 'xuống chó'! Lạnh như ở bên Nga vậy.

Martin: Vậy ông uống một tách cà phê nhé?

Người quét đường: Ah! ông đúng là một người tốt bụng! Vậy xin phép ông nhá. Như thể là được ăn bữa Reveillon vậy, ăn Reveillon thì chẳng bao giờ muộn cả. (ông thợ giầy trao vội tách cà phê cho ông khách, sau đó vội vã trở lại cửa sổ và thăm dò đường phố để xem có ai đi qua không).

Người quét đường: ông nhìn ra bên ngoài làm gì vậy?

Martin: Tôi chờ ông chủ của tôi.

Người quét đường: thân chủ? Các thân chủ đến với ông cả trong ngày lễ nghỉ à?

Martin: Không, đây là một bậc thầy khác.

Người quét đường: Ah!

Martin: Một bậc thầy có thể đến bất cứ lúc nào và đã hứa sẽ đến ngày hôm nay. Anh muốn biết tên của Ngài không? ... Đó là Chúa Giêsu.

Người quét đường: Tôi có nghe nói về ông ta, nhưng tôi không biết ông ấy. Ông ấy sống ở đâu?

Người kể chuyện: Lão Martin sau đó kể vắn tắt câu chuyện ngày hôm trước cho người quét đường, thêm bớt một vài chi tiết. Trong khi nói chuyện ông vẫn quay về phía cửa sổ.

Người quét đường: Thì ra Ngài là người mà ông đang đợi! Tôi nghĩ rằng ông sẽ không nhìn thấy Ngài giống như là điều ông tưởng tượng đâu. Nhưng cũng là một việc thường tình mà thôi, ông đã làm cho tôi thấy Ngài qua ông rồi. Ông đâu có muốn cho tôi mượn cuốn sách cuả ông phải không ? Tôi đảm bảo rằng ông sẽ không lãng phí thời gian của ông sáng nay. Tạm biệt.

Martin: Tạm biệt.

Người kể chuyện: Còn lại một mình một lần nữa, Lão Martin lại ép mặt vào cửa kính.


Màn 4: Người kể chuyện / Người phụ nữ / Martin

Người kể chuyện: Một số người say sưa đi chơi về muộn, nhưng ông thợ đóng giày không nhìn vào họ. Sau đó, những thương gia đi qua trên những chiếc xe lộng lẫy. Ông biết họ quá rõ và cũng chẳng chú ý đến họ làm gì. Nhưng sau một hai giờ thì đôi mắt ông nhắm vào một người phụ nữ trẻ, ăn mặc thảm hại và bế trên tay một đứa bé. Cô ấy trông xanh xao gầy gò, trái tim của ông thợ đóng giày đã bị lay chuyển. Có lẽ ông nghĩ đến đứa con gái cuả mình. Ông mở cửa và gọi. Người phụ nữ nghèo quay lại, ngạc nhiên.

Martin: Cô trông yếu ớt quá.

Người phụ nữ: Tôi đang đi đến bệnh viện. Tôi hy vọng họ sẽ nhận tôi và con tôi nữa. Chồng tôi đang đi biển và tôi đã đợi chờ tới ba tháng rồi. Anh ta chưa trở về cho nên tôi hết tiền mà lại bị ốm. Tôi phải đi đến bệnh viện.

Martin: Cô bé xấu số. Cô sẽ phải ăn một miếng bánh mì để cho ấm người lên. Ít nhất là có một cốc sữa cho đứa bé. Xem này, đây là phần ăn cuả tôi, tôi chưa hề đụng vào. Cô cứ tự tiện sưởi cho ấm và hãy đưa đứa bé cho tôi, tôi biết phải làm gì. Chao ôi! Cô không có giày cho thằng bé à ? (Ông tìm những đôi giày ông đã cất giữ đêm trước và sỏ chúng vào chân đưá bé. Ông nén một tiếng thở dài khi phải chia tay với một kiệt tác là đôi giày của ông).

Martin: Tôi xin phép nhá. (ông ta chạy ra cửa sổ và trông nhìn về đường phố).

Người phụ nữ: Ông tìm kiếm cái gì vậy?

Martin: Tôi hy vọng gặp chủ của tôi. Cô có biết Chúa Giêsu không?

Người phụ nữ: Có chứ. Tôi vừa học giáo lý cách đây không bao lâu.

Martin: Đó là người mà tôi chờ đợi.

Người phụ nữ: Và ông nghĩ rằng Ngài sẽ đi qua đây?

Martin: Ngài đã nói với tôi như thế.

Người phụ nữ: Không cách nào! Oh tôi muốn ở lại với ông để xem ... nhưng tôi phải đi bệnh viện.

Martin: Này, giữ lấy quyển sách nhỏ này (ông đưa cho cô ta cuốn phúc âm), đọc nó một cách cẩn thận, và như thế thì sẽ gần giống như là cô đã nhìn thấy Ngài.

Người phụ nữ: Cảm ơn ông. (Ông ta đi đến cửa sổ)


Màn 5: Người kể chuyện / Martin / Đứa bé / Tiếng Nói/ Tất cả mọi người

Người kể chuyện: Nhiều giờ trôi qua, nhưng trong số những người đi ngang, Lão Martin đã không nhìn thấy Thầy: người trẻ, người già, người lao động, các bà nội trợ, các bậc phu nhân, hầu như mọi người đã đi ngang qua đây, kể cả những người ăn xin, vì cái vẻ tốt lành của ông dường như hứa hẹn cho họ một cái gì đó: và họ đã không phải thất vọng ... (ngưng) Nhưng Thầy đã không xuất hiện. Đôi mắt ông mệt mỏi, trái tim ông bắt đầu xịu xuống (ngưng.) Từ từ màn đêm rơi xuống mang theo đám sương mù. Không còn cần thiết để tiếp tục nhìn ra cửa sổ. Đáng buồn thay, ông đi vào chuẩn bị bữa ăn tối cho mình.

Martin: Đó chỉ là một giấc mơ. Dầu sao, tôi đã hy vọng.

Người kể chuyện: Ông mở cuốn sách ra và định đọc với mục đích để mà đọc mà thôi, nhưng nỗi buồn làm ông dừng lại.

Martin: Ngài không đến! Ngài không đến! Ngài không đến!

(ánh sáng bỗng chan hoà và tất cả mọi người hiện ra ).

Tất cả mọi người: Không thấy tôi sao?

Martin: Bạn là ai?

Đứa bé: Bố Martin ơi, đọc đi. (Chỉ vào cuốn sách đã mở trong tay Lão Martin).

Tiếng Nói: Ta đói, ngươi đã cho ăn ... Ta khát, ngươi đã cho uống ... Ta là một người khách lạ và ngươi đã chào đón Ta ... Tất cả mỗi khi ngươi làm việc đó cho người yếu hèn nhất, thì ngươi đã làm cho chính Ta.



Trần Mạnh Trác

Hồi ký Vương Mộng Long : NOËL ở Cẩm Nhân

NOËL ở Cẩm Nhân



             Tháng 7/1976 tàu Sông Hương cập bến Hải-Phòng. Chúng tôi, khoảng ba ngàn tù cải tạo, cựu sĩ quan của QLVNCH, được chuyển lên tạm nghỉ một ngày ở Sáu-Kho. Trong chuyến đi này, đội ngũ hành khách tù binh đã hao hụt mất hai người. Một người bị trượt chân, rớt từ sàn tàu xuống nước chìm luôn ở Tân-Cảng, Sàigòn đêm khởi hành. Người thứ nhì chết trên tàu giữa biển khơi. Trước đây, trong tháng 6/1976, cũng đã có vài chuyến tàu chuyển tù, ghé bến Sáu-Kho. Nhưng trí tò mò của dân địa phương, nhất là những đứa trẻ con, vẫn bị lôi cuốn bởi hình ảnh khác thường của đoàn hành khách mới tới.


Người từ phương Nam ra, đi từng cặp một, tay trái của người đi bên phải, còng với tay phải của người đi bên trái. Mọi người vai mang nặng, mặt mày buồn rầu, xanh xao, thân hình gầy gò, tong teo. Họ nối đuôi nhau đi thành hàng im lặng, cúi đầu không nhìn ai. Hai bên đường họ di chuyển là những họng súng AK với lưỡi lê tuốt trần. An ninh thật là nghiêm nghặt.


Đoàn tù được lùa vào khu đất rộng, có sáu cái nhà vòm dài và cao bằng tôle. Xung quanh khu nhà vòm này là bãi cỏ cháy khô, hôi thối, vì đây là bãi đại tiện lộ thiên, công cộng, của xóm dân cư lao động gần đó. Quanh đây, dày dặc hố bom B 52 khổng lồ. Nước trong hố bom màu cà phê sữa lợt, mặt nước lác đác bèo tấm. Sau khi được cởi khóa cái còng, tôi gởi ba-lô cho anh bạn tù Ngô văn Niếu giữ giùm. Tôi lang thang trên sân cỏ Sáu-Kho, rồi tạt vào căn nhà vòm của những tù binh cấp úy. Vừa bước qua cửa đã có người nhận ra tôi rồi. Anh ta ôm chầm lấy tôi, xuýt xoa,


- “Thái Sơn! Anh còn sống ư? Độ đây! Em nghe đồn anh chết ngày ba mươi. Vậy mà anh còn đây. Ôi! Mừng quá! Anh ngồi xuống đi!”


Anh Lê xuân Độ là đại úy sĩ quan chỉ-huy hậu-cứ của liên đoàn 23 Biệt Động Quân. Chúng tôi quen nhau lâu lắm rồi, từ ngày Độ mới từ Lực Lượng Đặc Biệt chuyển sang Biệt Động Quân. Độ cầm tay tôi, cao giọng giới thiệu với bạn của anh ta,


- “Đây là Thái-Sơn, đàn anh của tớ. Xin giới thiệu với các bồ, để các bồ quen biết một đàn anh, đúng nghĩa một đàn anh”


Nghe anh Độ quảng cáo ồn ào như thế, những người bạn của anh ta liền tỏ thiện cảm với tôi ngay. Họ kéo tôi ngồi xuống manh chiếu góc nhà. Họ mời tôi hút thuốc lào. Họ tíu tít hỏi tôi ở trại nào trong Nam? Tôi có quen, có gặp người này, người kia hay không? Sau khi quân đội ta tan rã, nhiều cấp chỉ huy trở thành những cái bia hứng chịu phỉ nhổ của người dưới. Tuy thế, cũng có nhiều cấp chỉ huy trở thành nỗi luyến tiếc cho thuộc cấp, mỗi khi họ nói về kỷ niệm một thời đã qua. Cũng may, cái cung cách chỉ huy nghiêm khắc tại mặt trận và thân ái hòa đồng ở hậu cứ của tôi, không làm thuộc cấp ghét bỏ hay hận thù. Vì thế mà hôm ấy, ở một nơi nghìn trùng xa Sàigòn, vào cái thời buổi không còn gì nhục nhã hơn, thật khó tin còn có người lễ phép mời mình ngồi uống ly cà phê nấu bằng cơm cháy pha với đường thẻ, rồi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm oanh liệt, vàng son. Một người vừa sà xuống chiếu, nhìn tôi gật đầu chào thân thiện. Tôi vội vàng gật đầu chào lại. Người sĩ quan này da ngăm ngăm. Má anh ta có cái nốt ruồi bằng hạt đậu. Dáng anh ta quen quen... Tôi ngờ ngợ đã gặp anh ta ở đâu đó? Anh bạn mới, giọng Bắc trầm trầm, tự giới thiệu,


- “Tôi tên là Trần gia Toản, 'ToảnThuốc Lào'. Tôi là em ruột của Trần gia Toàn cùng khóa với anh. Tôi là bạn thân của Độ. Tôi có rất nhiều bạn Biệt Động Quân. Bạn tôi ai cũng thương anh và phục anh lắm. Tôi đã nghe tên anh nhiều lần. Nay có dịp gặp anh, thật là hân hạnh.”


Tôi chợt hiểu, thì ra anh ta là em ruột của Trần gia Toàn, bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi. Anh em nhà này giống nhau quá, hèn nào tôi thấy anh ta trông quen quen. Những người tuổi trẻ thích nói thật, không vòng vo, quanh co. Hiểu nhau rồi thì chúng tôi dễ trở thành thân. Từ hôm ấy tôi có thêm một số bạn. Những người bạn mới lấy mì gói ra, giấy bao mì gói trở thành củi, cái lon Guigoz trở thành nồi, vỉ cơm cháy trở thành cà phê. Bỗng nhiên, tôi thành người khách quý của nhóm bạn tù cấp úy trong góc một căn vòm Sáu-Kho hôm ấy. Ăn mì xong, chúng tôi chuyền tay nhau ca cà phê cơm cháy. Uống cà phê mà không kèm theo khói thuốc thì không đúng “gu”. Anh em mời tôi hút thuốc lào. Khi biết tôi chưa tập hút được thuốc lào, thì chỉ nháy mắt sau tôi đã có một bao thuốc lá Sàigòn Giải-Phóng. Qua trao đổi với họ, tôi được tin tức của vài sĩ quan cấp úy cùng đơn vị như chú Lý ngọc Châu, chú Trần cao Chánh, chú Nguyễn ngọc Khoan... Tôi cũng có tin những bạn cũ đã chết vì vượt trại như Quách hồng Quang và Lê hữu Thịnh. Buổi chiều, chúng tôi bị lùa xuống các hố B52, nước màu cà phê sữa, để tắm rửa. Lúc lên bờ, đỉa đói còn bám từng chùm, lủng lẳng trên vế trên đùi, chúng tôi giựt mãi chúng không chịu nhả ra. Sau khi được phát mỗi người một gói lương khô Trung-Cộng, đoàn tù được lệnh chuẩn bị đội ngũ chờ xe lửa để lên đuờng. Nghe đâu, người ta sẽ đưa chúng tôi lên mạn ngược, vùng biên giới Trung-Hoa, thuộc tỉnh Yên-Bái, Thái-Nguyên, Tuyên-Quang...


Chuyến xe lửa Hải- Phòng Yên- Bái khởi hành lúc nửa đêm. Chúng tôi được dồn lên những toa chở súc vật. Cứ bốn mươi người một toa, khóa trái bên ngoài. Diện tích của toa xe chỉ đủ chỗ cho chúng tôi ngồi hoặc đứng chứ không thể nằm. Mỗi toa có bốn cái cửa tò vò to bằng bàn tay xoè nơi bốn góc. Tôi chui vào chiếm một góc và thò mũi ra lỗ cửa tò vò để thở. Ngồi kế tôi là thiếu tá Hoàng đình Mẫn nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 81 Biệt Động Quân. Thiếu tá Mẫn là vị tiểu đoàn trưởng già nhất của liên đoàn tôi. Ông Mẫn với tôi thương nhau như anh em. Xe chạy được khoảng một giờ thì không khí trong toa bắt đầu ngột ngạt. Lúc lên xe, trưởng đoàn vệ binh có chỉ định anh cựu đại úy tên là Thu làm trưởng toa. Từ đầu hôm, anh Thu chiếm cái góc có thùng phuy vệ sinh. Giờ này, thùng cứt đái bắt đầu bốc mùi. Anh Thu bước tới góc cuối toa, và ra lệnh cho tôi nhường chỗ cho anh. Tôi chưa kịp phản ứng thì anh Thu đã dện một đạp vào mặt ông già Mẫn để dành cái cửa sổ. Lúc đó ông Mẫn đang ghé mũi vào cửa tò vò hít khí trời. Ông Mẫn vừa ôm mặt khóc, vừa chửi rủa. Anh Thu có dáng dấp của một võ sĩ. Anh không cao lắm nhưng rất “đô” con. Anh cởi áo và vắt những dòng mồ hôi vừa nóng vừa nồng trên đầu tôi vì lúc đó tôi ngồi dưới chân anh. Rồi anh ngồi xuống bên tôi, thò mũi ra lỗ tò vò. Mồ hôi của anh nồng kinh khủng. Tôi nhè nhẹ đẩy anh ra xa tôi một chút. Anh hậm hẹ,


- “Đù mạ! Lộn xộn ăn đòn à con! Mày nhỏ con, tao cho ngồi cạnh để đỡ choán chỗ. Biết điều thì ngồi êm! Cục cựa ông bẻ răng à!”


Anh Thu ngồi chồm hổm, nách anh choàng qua gáy tôi. Mùi hôi nách làm tôi tắc hơi. Tôi lách đầu cho mũi tôi ghé vào một góc cửa sổ. Tôi hít lấy, hít để cái không khí thơm mùi đòng đòng, lúa mới ngoài kia. Chợt anh trưởng toa hẩy mạnh vai, mặt tôi đập vào thành xe nghe “kịch!” một cái, đau tới hoa cả mắt.

- “Ê ...ê...ê...anh này chơi ác quá vậy?”


Trong lúc quýnh quáng, tôi quýu lưỡi, nói xàm như một đứa bé. Chưa xong, hai bàn tay hộ pháp của tên du côn chẹt cổ tôi, tống tôi vào góc xe,


- “Ngồi im! Cục cựa ông bóp chết!”


Tôi chợt cảm thấy có cái gì đó ứ nơi cổ. Mặt tôi nóng dần. Tay tôi run run. Tôi hít vào một hơi dài, rồi thở ra từ từ. Tôi ra chiều ngồi êm, nhưng tay tôi mò tìm... mò tìm... Tôi tìm được nó rồi! Cái nĩa U.S bằng inox, tôi cài nó trong cái túi bên hông balô... Cú đâm quyết định bị trệch mục tiêu vì thế ngồi quá chật. Cái nĩa đâm sượt mắt trái của anh võ sĩ, rạch một vết rách sâu trên trán anh. Tay trái tôi hất mạnh một cái cùi chỏ ngay cằm anh. Anh chưa kịp la lên thì cái nĩa đã nằm dưới yết hầu. Tôi ghì ngược cái nĩa bằng cả hai tay ngay yết hầu kẻ thù. Nhiều lần đánh lộn thời học sinh, cũng như trong chiến trận sau này, tôi đã áp dụng thành thạo những đòn cận chiến học từ tuổi lên mười ở Trung-Tâm Huấn-Luyện Nhảy Dù Chèm Vẽ (1951-1954). Hồi đó nhà tôi ở sát cạnh bãi tập thể chất của lính Nhảy Dù Liên Hiệp Pháp trước cổng Đông làng Vẽ. Ngày ngày chứng kiến tân binh học cận chiến, tôi thuộc nằm lòng những thế dao găm đâm ngang, đâm dọc, đâm ngược, đâm xuôi... Hơn hai mươi năm sau, trong một góc toa xe chở súc vật, tôi phải xử dụng cái thế đâm ngược lợi hại này, với một cái nĩa, để hạ một đồng đội. Tôi chỉ cần nhấn mạnh thêm năm phân, rồi xoay hai tay theo chiều kim đồng hồ là cái yết hầu của thằng du côn sẽ bị móc ra khỏi cần cổ nó. Tôi nghe tiếng,


- “Em lạy anh, tha cho em!”


Tôi lơi tay, nhổ nước miếng vào mặt anh võ sĩ và nói nhỏ,


- “Cút về bên cái cầu tiêu của mày mà ngồi. Tên tao là Vương mộng Long, tao đã từng là tiểu đoàn trưởng Biệt Động Quân. Sau khi xuống ga, mày có thể tìm tao bất cứ lúc nào.”


Ông võ sĩ trưởng toa ôm trán đầy máu bò về hướng đầu toa, trả lại cái cửa tò vò cho mười anh tù ở cuối toa thay phiên nhau ló mũi ra để hít chút không khí mà sống.


Tàu đi ngang cầu Phú-Lương, Hải-Dương, tôi xin anh em cho tôi được ngồi lâu hơn một chút nơi cửa sổ để ngắm nhìn cây cầu tuổi thơ của tôi. Tôi đã đi qua cây cầu này bằng đôi chân trần tuổi lên sáu, từ vùng “Tề” chạy giặc trở về thành phố Hải-Dương đổ nát điêu tàn. Trong trí nhớ non nớt của tôi chỉ còn: cầu Phú-Lương đồng nghĩa với cầu Đen. Cầu dài lắm, những cái vài khổng lồ sơn đen, lính gác cầu cũng là lính Marốc da đen. Tôi qua cầu một ngày cuối năm 1948. Từ ấy tôi không còn thấy nó. Cho mãi tới đêm nay, tháng 7/1976 tôi mới có dịp qua cầu lần nữa. Hôm nay, cầu Phú-Lương có vẻ đen hơn ngày xưa, vì tôi qua đó vào lúc nửa đêm, trời tối đen như mực. Tôi nhìn cây cầu nơi chôn nhau cắt rốn từ cái cửa tò vò của một toa xe chở súc vật. Trong toa xe chở súc vật này là những sinh vật ưu tú của một dân tộc anh hùng. Những sinh vật ưu tú ấy đang bị chuyển hóa thành súc vật. Những con vật này đang tranh sống. Chúng đang giết lẫn nhau để sống. Toa xe lao nhanh. Động cơ hơi nước phì phà “xình xịch!...xình xịch!...” Bánh sắt rít trên tà vẹt nghe “ken két!...ken két!” rợn người. Những thanh sắt vài cầu loang loáng sát thành xe. Rồi tôi không nhìn được gì thêm, nước mắt đã rơi, nước mắt bốc thành hơi, đôi mắt cay...


Trời mờ sáng thì tàu đi ngang Vĩnh-Phúc-Yên, những hố bom B52 còn như rất tươi trên ruộng lúa, dọc hai bên đường tàu. Những đoạn đường sắt ở đây cũng thấy như mới được đắp vá. Không khí trong xe ngột ngạt hơn. Chúng tôi thay nhau cái lỗ tò vò với tốc độ mau hơn, quyền được thở giảm bớt. Người được thở tự đếm, “một, hai, ba, bốn, năm,sáu, bảy, tám, chín, hết!” rồi ngồi nhích sang một bên, nhường cho người kế tiếp. Chúng tôi chia nhau từng giây không khí để sinh tồn. Đôi người đã khóc, đôi người vẫn cười. Giờ phút ấy có lẽ không ai còn nhớ đến vinh quang. Nơi góc cuối của một toa xe chở súc vật, mười sĩ quan QLVNCH chia sẻ nhục nhằn để sống. Ba góc còn lại của toa xe không có cái trật tự tự nguyện này. Đã có chuyện không hay. Có ai đó nơi đầu toa bị ngộp thở. Tiếng người nói xôn xao,


- “Làm hô hấp cho anh ấy đi!” Có tiếng la to,


- “Anh bộ đội ơi! Có người xỉu! Anh bộ đội ơi!”


Tàu vẫn chạy xình xịch, xình xịch...tiếng kêu cứu loãng trong không gian, không lời đáp lại.


Xế trưa hôm đó chúng tôi vào ga Yên-Bái. Đang phiên thở hít của tôi, tôi nghe tiếng người gọi nhau,


- “Tù tới! Tù tới!”


Tôi thấy vài người dân vội vàng cúi lượm những viên đá xanh lót đường tà vẹt. Thấy không ổn, tôi thụt mũi vào trong toa. Tôi nói với thiếu tá Trần ngọc Báu, trưởng phòng 2 Tiểu khu Pleiku là người kế phiên hít thở,


- “Đừng ló mặt ra, dân nó ném đá đó!”


Anh Báu không tin. Vì tôi ngồi sát cửa với Báu, tôi nghe rõ tiếng reo,


- “Thằng Mỹ mày ơi!”


Rồi anh Báu ôm mặt. Mặt anh đầy máu. Một cục đá xanh đập vỡ mũi anh. Hình như hai cái răng cửa đã nhảy ra khỏi miệng anh. Khuôn mặt Tây lai của anh biến thành cái mặt nạ máu me bầy nhầy. Cái cửa được bít lại ngay bởi cái thùng đựng đạn trung liên chứa nước của ông già TĐT/TĐ81/BĐQ. Đoàn xe lửa bị một trận mưa đá tới tấp tấn công. Cho tới khi vài viên đá lạc vào toa xe của vệ binh thì tôi nghe tiếng súng bắn chỉ thiên. Rồi tiếng đá chạm thành toa cũng ngưng. Đoàn xe ra khỏi ga chừng hai trăm mét thì ngừng bánh. Tù được lệnh xuống xe. Tôi là một trong những người đạp đất sớm nhứt. Không đội ngũ, đoàn tù bị lùa lên xe Zin chở về nơi nào đó đã định. Hai bên đường, có những người dân mặc trang phục Dao, Tày, Thái, Mán, Thổ, Mường... ngơ ngác trông theo. Tới một ngã ba, cứ một xe rẽ về trái, thì xe kế tiếp rẽ về phải. Thì ra, đoàn tù được chia làm đôi, một nửa đi về đông bắc qua hồ Thác-Bà, nửa còn lại qua sông Hồng đi về hướng tây. Chiếc xe chở tôi đi về hướng đông bắc. Anh bạn cùng khóa, cùng binh chủng, Ngô văn Niếu cũng ngồi trên cùng một xe với tôi.


Đoàn 776 không đủ phương tiện đưa hết đoàn tù đi trong ngày. Chúng tôi được chia ra thành nhiều đợt lên ca nô vượt hồ. Toán của tôi là toán chót, lên ca nô sau toán đầu hai ngày, hai đêm. Hồ Thác-Bà rộng lắm, mỗi chiều cả chục cây số. Ca nô đưa chúng tôi đi ngược lên đầu nguồn sông Chảy, lướt chậm trên di tích của một thung lũng cổ. Trong đám đọt cây khô giữa làn nước trắng, một gác chuông thánh giá đứng lẻ loi, phần dưới của nhà thờ chìm trong nước. Nắng mai từ đỉnh núi hướng đông chiếu xuống mặt hồ, làm cho những đợt sóng lăn tăn lấp lánh như dát bạc... Chúng tôi đến cuối Hồ Thác-Bà, hạ trại nơi không xa một xã người Tày. Xã đó tên là Cẩm-Nhân. Xã thuộc huyện Yên- Bình, Yên-Bái, tỉnh Hoàng- Liên- Sơn, cách biên giới Việt-Trung gần 50 km. Bên bờ hồ, nơi một bãi lau sậy được đặt tên là Trại 3 Liên Trại 4, tôi và anh bạn TĐT/ BĐQ Ngô văn Niếu nằm cạnh nhau. Lán trưởng của tôi lại là anh đại úy tên Thu đã có lần tôi gặp cách đó hai ngày, trên chuyến xe lửa Hải-Phòng Yên-Bái. Anh nhìn tôi như kẻ lạ, như chưa từng thấy nhau. Nhìn cái băng trên trán anh tôi nghĩ anh thật là chóng quên. Tối đầu tiên ở đây, anh Nguyễn tuyên Thùy (k10VB) cho tôi biết một tin buồn: Có ông thiếu tá dược sĩ tên là Duy vừa uống thuốc tự tử. Dược sĩ Duy được bó chiếu chôn bên cạnh hồ. Như vậy, trong Nam, gia đình anh Duy sẽ là những người đầu tiên biết chồng con họ đang ở đâu. Anh Nguyễn tuyên Thùy đến đây từ tháng trước. Anh còn nói rằng,


- “Nghe đâu, có vài ba người chết ngộp trên chuyến xe lửa từ Vinh ra Yên-Bái hồi tháng trước...”


Anh nói chuyện người chết, người sống nghe nhẹ như không. Mà thực vậy, lúc này sinh mạng một người tù thua trận nhẹ như không...


Sáng hôm sau anh Thu tập họp đồng đội trước lán để truyền lại nội quy của trại cho những người mới tới. Anh phân tích rõ tội nào sẽ bị hình phạt gì. Những tội cải thiện linh tinh sẽ bị cảnh cáo, cúp phần ăn. Tội phát ngôn bừa bãi có thể bị cùm, bỏ đói... Tội vượt trại có thể bị xử bắn...vân vân. Anh cảnh cáo rằng nếu ai đụng vào chai dầu lửa treo ở đầu giường anh thì sẽ biết tay anh.


Tôi đi quanh trại, la cà trò chuyện cùng vài người quen. Những vị này, thời chiến tranh Đông-Dương, đã có dịp qua đây, như trung tá Nguyễn hữu Phú cựu tham mưu trưởng BCH/BĐQ/QLVNCH, thiếu tá Hoàng đình Mẫn tiểu đoàn trưởng TĐ81/BĐQ, thiếu tá Bùi ngọc Long tiểu đoàn trưởng Địa Phương Quân Tiểu khu Quảng Đức, thiếu tá Nguyễn tuyên Thùy TCCTCT/TTM. Nhưng những đàn anh lớn tuổi này cứ duỗi ra mỗi khi tôi hỏi họ về địa thế, dân tình quanh khu Thác-Bà.


- “Đường xa diệu vợi lắm! Đừng dại mà trốn trại! Mất mạng đó em ơi!”


Tôi cứ nghe các anh ấy can ngăn như thế mỗi khi tôi tỏ ý muốn...đi. Cuối cùng tôi gặp Đặng quốc Trụ, người bạn cùng khóa, anh ta đã từng là tiểu đoàn trưởng của trung đoàn 48/SĐ18 Bộ Binh. Nghe tôi ngỏ ý tìm bạn đồng hành để đi Lào, anh Đặng quốc Trụ hưởng ứng ngay...


Chúng tôi chưa biết rõ xã Cẩm-Nhân nằm ở nơi nào trên bản đồ Việt-Nam thì toán trốn trại đầu đã nhổ neo. Bốn đại úy gồm hai ông ở Tổng Thống Phủ và hai ông pilots trực thăng. Đi được ba ngày thì bốn Papillons bị bắt lại. Toà án giữa đồng được thiết lập. Không có lời buộc tội nào từ phía cai tù, mà chỉ có quân ta kết tội lẫn nhau. Nghiêm khắc nhất là một cải tạo viên, nguyên là phi công trực thăng, đã đề nghị xử bắn những người đi trốn để anh ta được “yên tâm cải tạo” (!) Vài người nữa lên phát biểu ý kiến xin trại phạt nặng những kẻ vô kỷ luật để làm gương cho những kẻ khác. Ban chỉ huy trại cũng không ý kiến. Tòa giải tán. Không ai dám hé răng bàn tán về những gì đã xảy ra. Bốn anh trốn trại bị cùm trên đồi, gần ban chỉ huy trại. Hai ngày sau, toán trốn trại thứ hai ra đi. Toán này gồm có hai người và được coi là có “kí lô”. Họ là đại úy Biệt Kích Trần trung Ginh và đại úy Nhảy Dù Tôn thất Ủy (Ủy là tùy viên của tướng Lưỡng, Tư lệnh SĐ Dù /QLVNCH). Sau khi phát giác có thêm một vụ trốn trại nữa, cán bộ Chính Trị Trại 3 tập họp tất cả chúng tôi lại, răn đe,


- “Các anh sẽ phải trả giá. Không ai thoát khỏi mạng lưới của nhân dân. Cứ trốn đi! Tôi thách các anh đấy!”


Giữa đêm đó Vương mộng Long và Đặng quốc Trụ khăn gói lên núi. Cái bật lửa của bác BĐQ già Hoàng đình Mẫn nằm trong hành trang của tôi, và chai dầu lửa của anh đội trưởng tên Thu cũng nằm trong hành trang của tôi. Vài ngày sau khi tôi và Trụ vượt trại, Trại 3 Liên Trại 4 bị giải tán, tù nhân được chia cho các trại 5,7,9 kế bên. Một đoàn tù từ bên hướng tây sông Hồng được đưa về đây xây Trại 3 mới.


Cái đêm 08/08/1976, tôi và Đặng quốc Trụ trốn trại lần đầu là một đêm mưa, khởi đầu trận bão số 6 khốc liệt. Trận bão này gây nên mưa gió kéo dài hơn một tuần lễ. Mười ngày sau chúng tôi bị mất hướng, luẩn quẩn trong rừng tre, rồi bị vây bắt lại. Tên Việt-Cộng chấp cung tôi đã thẩm vấn tôi câu đầu,


- “Có phải anh Thu cho anh chai dầu lửa để anh đi trốn hay không?”


Tôi “thành khẩn” khai báo,


- “Thưa cán bộ không ạ! Tôi ăn trộm nó khi anh đội trưởng còn ngủ. “


Tên cán bộ ngạc nhiên lẩm bẩm,


- “Lạ nhỉ? Vậy là anh Thu bị phạt oan, nhưng không hiểu tại sao anh ấy không tự biện bạch?”


Từ đêm chui rào khỏi Trại 3, tôi không có dịp gặp lại anh Thu, không rõ đã có hậu quả gì đến cho anh sau khi tôi đi.


Tôi và Trụ được đưa về nhốt ở Trại 4 Liên Trại 4. Tại đây đã có 2 “đồng bọn” đang nằm cùm, đó là Trần trung Ginh và Tôn Thất Ủy. Cuối năm ấy tụi tôi được tha ra khỏi cùm để về đội lao động. Nhiều dân trốn trại đã được qui tụ về đây trước đó. Trong số ấy có một băng Võ-Bị, gồm Trần tấn Hòa (Dù k20), Nguyễn văn Nghiêm (Dù k20), Trần đăng Khôi (Dù k16), Hồ văn Hòa (BĐQ k16), Chu trí Lệ (SĐ23 k16), Nguyễn văn Huệ (PTT k16) Trần đình Bính (PTT k14). Anh Đặng quốc Trụ được đưa về đội 10 dưới quyền đội trưởng Lâm kỳ Sáng (cựu trung tá). Tôi về đội 11 dưới quyền Đặng kim Bảng (cựu đại úy). Vừa chui vào lán, tôi đã nghe giọng Bắc Kỳ quen,


- “Mừng đại ca, đại ca có nhận ra em không?”


Dù lúc đó là buổi chiều mùa đông, trong lán tranh tối tranh sáng, tôi vẫn nhận ra ngay Toản Thuốc Lào.


- “Quên sao được hả chú! Mới tháng trước đây, chúng mình chia tay nhau ở Sáu-Kho...”


Ngay lúc ấy người đội trưởng bước vào, anh ta nói tôi sẽ được cử đi gánh gạo tiếp tế chiều nay cùng với đội ở bên Cẩm-Nhân.


Sau nhiều ngày nằm cùm, mới đi được hai cây số đường đồi tới chợ Cẩm-Nhân, chân tôi đã muốn rã ra rồi. Đến Hợp-Tác Xã Nông-Nghiệp tôi gặp hai anh bạn cùng khóa là Nguyễn xuân Hoè và Minh Vồ, mừng mừng tủi tủi, hai anh này ở trại khác, cũng đi gánh gạo chiều nay. Bên kia đường, tôi thấy có người đưa tay vẫy tôi. Tôi tìm trong óc xem có phải anh ta cùng khóa với mình không? Không! Hoá ra đó là anh Thu! Thấy anh, tôi nhớ chuyến tàu hôm nào từ Hải-Phòng đi Yên-Bái. Tôi nhớ ra chai dầu lửa anh cố tình treo trên lối ra vào của lán tù Trại 3. Đêm vượt trại, chỉ cần dơ tay, tôi đã nẫng được chai dầu một cách nhẹ nhàng. Tôi định đưa tay vẫy lại cái vẫy tay của anh Thu, thì đoàn tù gánh gạo ấy đã đi xa rồi.


Hôm đó, tiêu chuẩn chung của trại, trọng lượng cân đo, đúng 150 kg cho một chuyến hai người. Toản cao hơn tôi, Toản đi sau, tôi đi trước. Chúng tôi phải hò “Dô ta!” để lấy đà đứng lên. Toản hò “Dô... ta!” rồi, nhưng Toản không đứng lên. Toản cúi xuống lượm cái gì đó. Tôi hỏi,


- “Sao không đi Toản?”


- “Em có quà cho đại ca.” Toản cười,


Anh ngước mắt lên, vui sướng đưa cho tôi cục kẹo đường đen,


- “Em lượm được cục kẹo, anh ăn cho hồi sức đã mất trong nhà cùm.”


Tôi cảm động, nhận cục kẹo đường đen to bằng đầu ngón tay út. Toản cười,


- “Anh có nhớ hôm nay là Noẽl đó không?”


Tôi cắn cục kẹo làm hai, đưa cho Toản một nửa,



Chiếc gậy kẹo - “Merry Christmas!”


Thấm thoắt đã mấy chục năm đi qua. Tôi thấy buồn khi nhìn Noẽl trở lại. Tôi thấy buồn khi nhớ ra, bây giờ tôi không còn sức để gánh chung cùng bạn một gánh gạo nặng 150kg trên đoạn đường đồi dài 2 km nữa rồi! Noẽl nào tôi cũng nhớ tới buổi chiều đi gánh gạo, nhớ cái vẫy tay của anh Thu, nhớ chai dầu lửa, nhớ cục kẹo đường đen ở Cẩm-Nhân, và nhớ Trần Gia Toản cùng những người bạn tù thuở ấy...


(Hồi ký của Vương Mộng Long)

Thượng Viện Canada Mở Hội Nghị Về Dùng Hòa Ước Paris 1973 Giải Quyết Tranh Chấp Biển Đông

CANADA  -- Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng Hoà, sắp qua năm thứ 40 ngày Việt Nam Cộng Hoà bị CS Bắc Viết đánh chiếm, Canada, một trong mưới mây nước kỳ Hoà Ước Paris 1973, Thượng Viện Canada mở hội nghị về một giải pháp dùng Hoà Ước Paris 1973 giải quyết tranh chấp Biển Đông, trả lại công bằng cho VNCH, cho dân VN dược quyền tự quyết trong cuộc bầu cử tự do có Liên hiệp Quốc giám sát, đúng tinh thần pháp chế quốc tế và tinh thần cam kết trong hoà ước.

Sư kiện lịch sử này là do cuộc vận động kiên nhẫn và và điều họp khéo léo của Thượng Nghị sĩ Ngô thanh Hải, một người Việt tỵ nạn CS ở Canada được công cử làm Thượng Nghị sĩ của Canada. Hội nghị này được Thượng Viện Canada bảo trợ, họp ngay trong toà nhà Thượng Viện của Quốc Hội Lưỡng Viện Canada, khu Parliament Hill, Center Block, Room 160-S, suốt ngày Thứ Năm 5 tháng 12, năm 2014.

Về phía Thượng Viện Canada có TNS Ngô thanh Hải, TNS Lang, Chủ Tich Uỷ ban Quốc Phòng và An Ninh, TNS White Chủ Tịch UB Nội Qui, Thủ Tục và Năng Quyền Quốc Hội, TNS Andeychuk, Chủ Tịch UB Ngoại vụ và Ngoại Thương, Ngài Tim Uppal, Bộ Trưởng Bộ Đa Văn hoá của chánh quyển liên bang Canada, Ngài Deepak Obhrai, Bộ Trưởng Ngoại Vụ và Nhân quyền, Ngài David W. Kilgour, Cựu Chủ Tich Viện Dân biểu và Bộ Trưởng đặc trách Á châu và Thái bình dương của chánh quyển Canada.

Phía Việt Nam Cộng hoà có phái đoàn quân dân cán chính VNCH đến từ các cộng đồng người Canada gốc Việt trong nước Canada, các miền lớn Montreal, Toronto, Ottawa trên 20 người, trong đó có chủ tich cộng động, nhân sĩ trí thức, chuyên gia sáu bảy luật sư đang hành nghề và luật gia Canada chánh tông và Canada gốc Việt, tiêu biểu như Luật sư Lâm chấn Thọ, Ls Trịnh quốc Toàn, luật gia Benoit Bénéteau, David Lamenti, Tiến sĩ Bá ngọc Đào và Ts Nguyễn thế Bình.

blank
Hình ảnh trong Hội nghị.

Phái đoàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hoà đến từ Mỹ có 8 người Giáo sư Nguyễn ngoc Bích, Ts Binh thế Nguyễn đến từ Miển Đông Mỹ, nhà báo Vi Anh, Cựu dân biểu VNCH, Nhạc sĩ Hồ văn Sinh, thường vụ của VNCF Foundation dến từ Miền Tây Mỹ.

Chương trình làm việc, sau phần nghi thức, giới thiệu bắt đầu hội nghi với phát biểu của TNS Ngô thanh Hải của Thương Viện Canada. Hình thức làm việc có tính liên hợp giữa điều trần và chất vấn. Phái đoàn VNCH Người Việt hải ngoại điều trần, đề nghị quí vị nghị sĩ và viên chức chất vấn và giải thích liên quan đến viêc dùng Hoà Ước Paris để đem lại công bằng, chân lý cho VNCH bị TC đánh lấy đảo năm 1974 và CS Bắc Việt dành lấy VNCH ở Miển Nam và giải quyết những tranh chấp biển đảo đang xảy ra ở Á châu Thái bình dương. Trường hợp này đã có tiền lệ, thành viên Hoà Ước Paris 1973 đã triệu tập lại lên án CS Bắc Việt đã đánh chiếm Campuchia, bị các nước ký hiệp ươc này trừng phạt cấm vận và buộc phải rút quân về VN.

Những diễn giả chánh có Gs Nguyễn ngọc Bích, Ls Lâm chấn Thọ, Nữ Ts Bình thế Nguyễn đọc bức thư của Ô Lê trọng Quát, Cựu Bộ Trưởng VNCH, Cựu Chủ Tich Uỷ ban Nội vụ và Quốc Phòng Hạ Viện, VNCH. Trong điều trần, chất vấn và hội luận có hai vấn đề chánh bàn luận rất gay go, sâu sắc nhưng đa số quí vị thượng nghi sĩ chuyên trách về ngoại giao Canada, quí vị luật gia và luật sư gốc Việt có mặt có chung nhận định đều về những điểm cốt lõi sau. Chiếu hiến chương Liên hiệp Quốc, VNCH còn tồn tại trên phương diện pháp lý. Hiệp ước Paris 1973 vẫn còn giá trị, chưa có nước nào chánh thức rút ra. Các nước đã ký hãy còn trách nhiệm vói chánh quyền và nhân dân VNCH. TC và CS Bắc Việt tiền thân của chế dộ CSVN bây giờ đã vi phạm thô bạo hiệp ước Hoà Bình Paris 1973: TC đánh chiếm Hoàng sa của VNCH năm 1974, CS Bắc Việt đánh chiếm VNCH năm 1975.

Nhà báo Vi Anh, Cựu Dân biểu VNCH đúc kết, nói suốt gần hai một buổi thảo luận nhưng vị có thẩm quyền của Canada và những viên chức VNCH và đại diện cộng đồng, đoàn thế dân chính, chánh đảng và nhân sĩ, trí thức có mặt đã trình bày: rõ ràng TC, CS Bắc Việt đã vi phạm Hiệp ước và Định Ước Hoà Đàm 1973, dùng lực lương võ trang đánh chiếm lấy Hoàng sa của VNCH, chiếm lãnh thổ VNCH một cách thô bạo. Canada là một nước có ký trong hiệp ước. Vì tinh thần thượng tôn quốc tế công pháp, vì trách nhiệm và nghĩa vụ cam kết ngoại giao, vì công lý cho nhân dân VN, vì chủ quyền chánh đáng của quốc gia dân tộc VN, xin chủ toạ đoàn cho biểu quyết. Để có một văn kiện quan trọng, và long trọng trên phương diện luật pháp và thực tế để tạo một tiến trình. Hầu chánh quyển Canada có chứng cớ đặt vấn đề với các nước đã ký trong hiệp ước năm 1973. Và để người Việt hải ngoại chứng lý tiếp tục vận động các nước khác đã ký trong Hiệp ước.

blank
Hình ảnh trong Hội nghị.

TNS Hải chủ toạ cho ngưng thảo luận và biểu quyết đồng ý hay không đồng ý trên nguyên tắc dự thảo Nghị Quyết do Ls Thọ và một số luật gia của Canada đúc kết nguyện vọng của hội nghi đã trình bày. Cả trăm vị trong chánh quyền Canada, VNCH, và quí vị có mặt trong hội nghị đồng ý chấp thuận dự thảo trên nguyên tắc, với đa số tuyệt tuyệt đối. Chủ Toạ TNS Hải còn thận trọng cho biểu quyết ngược lại, ai không đồng ý xin giơ tay: không ai giơ tay cả. Coi như tuyệt đối đồng thuận thông qua dự thảo Nghị Quyết.

Càng thận trong hơn, TNS Hải đề nghị hội trường cử ra 5 vị nhuận sắc bản văn dự thảo. Hội nghị đề cử TNS Hải, Gs Bích, Ls Thọ, DB Vi Anh, Nữ Ts Bình nhuận sắc dư thảo Nghị Quyết của hội nghị để TNS Hải với tư cách là một người Việt hải ngoại và thương nghị sĩ của Canada trình bày với Thượng Viện, chuyển trình Hạ Viện và những chức trách liên quan trong chánh quyền Canada- càng sớm càng tốt.

Sau đây là dự thảo đã dược 100% hội nghị biểu quyết thông qua, bản gốc bằng tiếng Anh, xin tạm dịch ra tiếng Việt như sau: “Nên những thành phần tham dự yêu cầu và kêu gọi chánh quyền Canada, thông qua Bộ Trưởng Ngoại Giao, tham khảo với các nước đã ký Định ước của Hoà Ước Paris để tìm một giải pháp để nhân dân Việt Nam Cộng hoà ở Miền Nam VN có thể thực hiện quyền tự quyết qua bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên hiệp Quốc; hay một giải pháp khác mà chánh quyền các nước đã ký xem là cần thiết, để triệu tập một hội nghị quốc tế về VN trong đó có mặt của các đại diện của các nước đã ký Định Ước, thể theo Điều VII (b) của Định Ước, để giải quyết nhưng tranh chấp Biển Nam Trung Hoa, bằng cách mời thêm một số nước có liên quan tham dư hội nghị này.”

Ngày làm việc được chấm dứt bằng một cuộc viếng thăm Quốc Hội lưỡng viện của Canada, do các phu tá và công cán uỷ viên của văn phòng TNS Ngô thanh Hải hướng dẫn. Và khoảng 8 giờ tất cả tế tựu dến Việt Nam Restaurant của Ottawa dự bữa cơm thân mật do TNS Hải khoản đãi. Còn bữa ăn trưa làm việc khi hôi nghị do Thượng Viện mời. Và đêm trước phái đoàn VN từ các công dổng Việt ở Canada và Mỹ đến thì Tiến sĩ Lê duy Cấn của Cộng đồng Ottawa khoản đãi và một số văn nghệ sĩ giúp vui chào mừng VNCH và đồng bào các nơi đến lo việc nước, chuyện dân VNCH.

 Vi Anh

Thượng viện Canada đã thông qua Dự luật “Hành trình tìm Tự do”



OTTAWA – Thượng viện Canada đã thông qua dự luật ít người biết do một Thượng nghị sĩ đảng Bảo Thủ [đương cầm quyền] bảo trợ là trung tâm của cuộc tranh cãi ngoại giao ngày càng tăng giữa Canada và Việt Nam.
Ảnh Thượng viện Canada trong một phiên họp. Nguồn: CP
Ảnh Thượng viện Canada trong một phiên họp. Nguồn: CP

Chính phủ CS Việt Nam đang phản đối dự luật kể trên, cảnh báo rằng nó có thể gây bất lợi cho quan hệ thương mại và đầu tư của Canada với Việt Nam.

Dự luật này công nhận 30 tháng 4 là một ngày quốc lễ để kỷ niệm làn sóng di tản của người tị nạn cộng sản Việt Nam và việc họ được Canada chấp nhận sau khi Sài Gòn sụp đổ cuối tháng Tư 1975, rơi vào tay lực lượng cộng sản Bắc Việt – kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Chính phủ Harper đã đặt ưu tiên việc phát triển sâu sắc thêm quan hệ kinh tế với châu Á, và Việt Nam chắc chắn là một lực lượng trong khu vực.

Việt Nam là thành viên của các tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và là một trong những quốc gia đang tham gia các cuộc đàm phán thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Dự luật Senate Bill S-219 do Thượng nghị sĩ (TNS) Đảng Bảo thủ Ngô Thanh Hải bảo trợ, đã được thông qua đêm thứ Hai với tỉ số 45 thuận-4 chống-14 không bỏ phiếu. Sau đó, dự luật này sẽ được chuyển đến Hạ viện, và không rõ khi nào hay ngay cả việc nó có được đem ra thảo luận hay không.

Nếu dự luật này được Hạ Viện Canada thông qua, ông Vũ Việt Dũng, một nhân viên ngoại giao của Đại sứ quán CS Việt Nam tại Ottawa, cho biết nó sẽ

Hide message history

“Có tác động xấu đến quan hệ song phương đang phát triển giữa Việt Nam và Canada, cũng như những nỗ lực nằm để mở rộng và làm sâu sắc thêm mối quan hệ của chúng ta, gồm cả quan hệ đầu tư và thương mại.”

Trong một trả lời bằng email, ông Vũ Việt Dũng nói thêm,

“Nó sẽ gửi thông điệp sai đến quần chúng Việt Nam và cộng đồng quốc tế về thiện chí của Canada đối với đất nước của chúng tôi.”

Đại sứ Việt Nam Tô Anh Dũng bày tỏ “quan tâm” với Bộ trưởng Ngoại giao John Baird về dự luật này gần đây nhất là vào đêm thứ Hai tại một buổi tiếp tân ở Quốc hội Canada, ông Vũ nói.

“Chính phủ Việt Nam (kể cả đại sứ quán) đã trình bày nhiều lần với đại diện các cấp khác nhau của chính phủ Canada và giới lãnh đạo của Quốc hội bày tỏ mối quan tâm nghiêm trọng của chúng tôi về ngôn từ và mục đích của dự luật này,” ông nói.

Phát ngôn viên của Bộ trưởng Baird, Adam Hodge, nói Việt Nam là một “đối tác mạnh và dược quý trọng”, kể cả trong các cuộc đàm phán TPP.

Đại sứ Việt Nam tại Canada và Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Bình Minh đã viết thư riêng cho chính phủ Canada để bày tỏ sự quan tâm của họ.

Trong một bức thư gửi cho Ủy ban nhân quyền của Thượng viện, Hội đồng Thương mại Canada-Việt Nam đã cảnh báo rằng dự luật này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến khát vọng kinh tế của chính phủ vì nó sẽ gây chia rẽ giữa người Canada gốc Việt.

Giám đốc của Hội đồng Thương mại Canada-Việt Nam, bà Nguyễn Đài Trang viết,

“Dự luật này không những chỉ làm hỏng mối quan hệ ngoại giao với Việt Nam, mà còn có tác động tiêu cực mạnh mẽ hơn nữa là gây chia rẽ thêm một cộng đồng đã bị khủng bố và rạn nứt. Rồi nó lần lượt sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Canada, do vai trò quan trọng của người dân Canada gốc Việt trong việc hỗ trợ các liên kết thương mại.”

[Bà Đài Trang không khai triển thêm ai đã khủng bố cộng đồng người Canada gốc Việt và những gì đã làm rạn nứt cộng đồng này – ]

Ông Dũng nói dự luật này phản ảnh quan điểm của ít hơn 5% số dân Canada gốc Việt và cổ xúy một cái nhìn “của quá khứ, của hận thù, của phiền não, đưa đến việc bỏ bê hạnh phúc của các thế hệ tương lai.”

[ không xác định được “kết quả thăm dò” (5%) mà ông nhân viên ĐSQ nước CHXHCNVN tuyên bố.]

Chủ tịch đảng Tự do ở thượng viện, TNS James Cowan, cáo buộc phe chính quyền đã chặn không để Đại sứ CHXHCN Việt Nam điều trần trước Thượng viện về mối quan tâm của ông ta.

Trong tuyên bố ở thượng viện vào đêm thứ Hai, nghị sĩ Cowan cho biết ông không có ý kiến về dự luật, thuận hay chống, nhưng ông sẽ không bỏ phiếu để phản đối cung cách dự luật này đã được nghiên cứu.

“Chính phủ chỉ cho phép nhân chứng ủng hộ dự luật đó ra điều trần trước ủy ban. Nhiều cá nhân, kể cả Đại sứ của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đã yêu cầu được cơ hội điều trần, và chính phủ đã không cho họ cơ hội đó.”

Những Thượng nghị sĩ đảng Bảo thủ đã không lên tiếng phản biện nhận định của nghị sĩ Cowan.

Trong một cuộc phỏng vấn hôm thứ Ba, TNS Cowan đặt vấn đề làm thế nào chính phủ có thể chấp thuận thông qua một dự luật gây tranh cãi như vậy khi họ đang cố gắng để phát triển kinh tế trong khu vực châu Á, có cả Việt Nam. Ông nói,

“Chúng ta đang cố gắng để cải thiện quan hệ với Việt Nam. Chúng ta đã ký một bản ghi nhớ để tăng cường thương mại và kết nối văn hóa. Tại sao người ta lại muốn khuấy động chia rẽ? Tôi không hiểu.”

Một nghị sĩ khác cùng đảng Tự do, TNS Jim Munson, một ký giả hồi hưu đã từng đưa tin, phỏng vấn người Việt tị nạn cộng sản tạm trú ở Hong Kong và rất thông cảm với họ và hiểu rõ tại sao Canada đã đọn nhận thuyền nhân Việt Nam tị nạn cộng sản, nhưng ông cũng không bỏ phiếu để phản đối Ủy ban Nhân quyền Thượng viện Canada đã chối từ quyền tự do ngôn luận. TNS Munson cho biết đây là lần đầu tiên ông không bỏ phiếu suốt 11 năm trong trách nhiệm một TNS Canada. Ông không bỏ phiếu không phải vì mục đích của TNS Ngô Thanh Hải khi đệ trình dự luật này.

Ông Hodge, phát ngôn viên của Ngoại trưởng Baird, đã nhắc lại một bình luận trước đây là dự luật đó “không phải là một dự luật của chính phủ” và tất cả dân biểu và thượng nghị sĩ đều có tự do để trình dự luật tư nhân.

Bốn phiếu chống dự luật S-219 là của các TNS, Art Eggleton (Tự do), George Furey (Tự do), Céline Hervieux-Payette (Tự do), và Serge Joyal (Tự do).

Thượng viện Canada hiện có 53 TNS đảng Bảo thủ, 30 TNS đảng Tự do, 6 TNS độc lập, 16 ghế trống, tổng cộng 105 ghế TNS.

Phó chủ tịch Hạ viện, dân biểu Joe Comartin (đảng Tân Dân Chủ) hôm 8 tháng 12 đã loan báo tại hạ viện là ông đã nhận được tin nhắn từ thượng viện rằng Dự luật S-219, công nhận ngày 30 tháng Tư hàng năm là ngày cả nước đánh dấu làn sóng người Việt Nam tị nạn cộng sản và được Canada đón nhận sau khi Sài Gòn sụp đổ và dự luật này cần được sự tán thành của hạ viện.

Trong phiên họp thông qua dự luật S-219 tại hành lang khách còn có một phái đoàn trong giới lãnh đạo cộng đồng Người Canada gốc Viêt ở trnh bang Ontario. Họ là khách mời của nghị sĩ Ngô Thanh Hải.

Mike Blanchfield 

-------------------------

Nguồn:
– Bill That Offended Vietnamese Government Passed By Senate. By Mike Blanchfield, The Canadian Press, 9/12/2014.
– Debates of the Senate (Hansard)


-----------
 
DỪNG NGAY LẠI HỠI Ý ĐỒ ĐEN TỐI
(Ngày 30/4/1975 là ngày Việt Cộng bức tử nốt miền Nam Việt Nam và đưa toàn dân Việt Nam vào bao nỗi tù tội, chết chóc, điêu linh, thống khổ, vì thế, những nạn nhân Vc đều gọi là NGÀY QUỐC HẬN.  Thế mà lại có những người đã và đang âm mưu thay tên Ngày Quốc Hận bằng những cái tên vô nghĩa để mong thực hiện xóa bỏ hận thù, làm mờ lằn ranh Quốc Cộng và tạo cho thế hệ trẻ VN có cái nhìn sai lệch về lịch sử, đồng thời giúp Việt Cộng xóa tội giết dân bán nước hơn nửa thế kỷ qua. Mong Quí Vị phổ biến rộng rãi giùm.  Tác giả vô vàn cảm tạ.)
 
 
Xin nói rõ về một ngày thống hận
Ngày oan hờn tang tóc của quê hương
Ngày kết cuộc của nhiều năm xâm lấn
Ngày cộng mở đầu vạn nỗi đau thương
 *
Ngày mở đầu của bao màn bi kịch
Của tang thương, chết chóc, của lao tù
Của ngờ vực giữa họ hàng thân thích
Của cha con, hai chiến tuyến nghịch thù !
 *
Ngày hỏa ngục, ngày đau thương ly biệt
Người chết ven đường, kẻ chết biển khơi
Già trẻ, gái trai, xác nằm la liệt
Đạn xé, lửa thiêu không vẹn hình người !
 *
Ngày mở đầu của gạt lừa, gian dối
Bắt vợ xa chồng, con phải lìa cha
Ngày tan nát, ngày nhục nhằn, hận tủi
Máu lệ cùm gông tràn ngập sơn hà
 *
Ngày mở đầu cướp của dân nhà, đất
Nhưng cắt Hoàng Sa - Nam - Giốc dâng Tàu
Coi mạng con người không bằng con vật
Đời sống dân lành thua kiếp ngựa trâu ...
 *
Ngày mở đầu của hờn đau chất ngất
Ngày dân Nam gục xuống bởi bạo tàn
Người yêu nước gọi là "NGÀY QUỐC HẬN"
Bởi thương giống nòi và xót giang san
 *
Thương lính kiên cường, phục người trai Việt
Sống đã hiên ngang chết cũng anh hùng !
Thành dù mất nhưng anh linh tuấn kiệt
Mãi muôn đời bất tử với non sông
 *
Chỉ kẻ không tim, bất lương, tán tận
Mới quên hờn dân tộc, Tháng Tư Đen
Mới đổi tên ngày đau thương, quốc hận
Thành những từ vô nghĩa để mờ quên !
 *
Nghe rõ nhé, cộng còn gieo oan khuất
Còn giết dân và dâng đất cho Tàu
Thì mỗi ngày sẽ là ngày quốc hận
Không chỉ một ngày cuối tháng Tư đâu !!!
 *
Này, Việt cộng mới lập lờ, gian xảo
Mới mị lừa và qủy quyệt thế thôi
Dừng ngay lại hỡi ý đồ đen tối
Nếu thật thiện lương và óc, tim người

Ngô Minh Hằng

Vài ghi chép về văn học miền Nam


Viên Linh-
  Tuần lễ đầu Tháng Chạp một văn hữu đang chủ trương một tờ báo ảo trên mạng www (world wide web) ghé thăm tòa soạn tờ báo người viết này đang làm việc, nói vài ba chuyện văn nghệ, trong đó có văn học nghệ thuật miền Nam. Chúng tôi không nói nhất định về một điều gì, một vấn đề gì, nói cả về người sống lẫn kẻ đã ra đi, kẻ còn người mất.



Một sạp báo trên đường Nguyễn Huệ Sài Gòn khoảng thập niên ’60.
(Hình do tác giả cung cấp)


Có lúc anh nhắc đến báo này báo nọ của miền Nam, có lúc anh hỏi miền Nam có bao nhiêu tờ báo, hải ngoại có bao nhiêu tờ, Sài Gòn còn bao nhiêu nhà văn lớp trước, Little Saigon có được bao người cũ nay còn hiện diện. Khi anh hỏi liệu miền Nam có mấy chục tờ báo, tôi bào hàng trăm. Khi anh hỏi trên khắp Âu Mỹ có bao nhà văn ta đang sống lưu vong, tôi bảo vài ba chục người. Anh lắc đầu, giơ bàn tay ra đếm. Anh chỉ đếm được không quá bốn người. Anh bạn tôi không phải dân ở thủ đô tị nạn, anh là người ở Minnesota cả hai ba chục năm nay. Anh Trần Văn Phê chợt nói anh có bà xã ngồi ngoài xe, tôi bảo anh cứ về đi, tôi sẽ cố ghi xuống giấy cho anh tên các tờ báo, tên mấy chục nhà văn rồi sẽ gửi cho anh. Anh về rồi tôi nghĩ có khi đó là một ý nghĩ hay, nên phổ biến rộng ra, biết đâu nhờ đó mà các sinh viên sau này để ý tìm tòi, rồi viết được một điều gì đó về báo chí cũng nên.

Tên những tờ báo ở miền Nam

Tên những tờ báo, đôi khi cũng là tên những nhà xuất bản của miền Nam trước đây:

A. Á Châu, An Tiêm, Ánh Sáng, Âu Cơ.

B. Bách Khoa, Bình Minh, Báo Đen, Buổi Sáng, Bốn Phương, Bút Thép.

C. Chân Trời Mới, Chiến Sĩ Cộng Hòa, Chỉ Đạo, Chính Luận, Chiêu Dương, Chính Văn, Công Báo VNCH, Công Luận, Cười, Con Ong, Chọn Lọc.

D. Da Vàng, Dân, Dân Chủ, Dân Đen, Dân Ta, Dân Tiến, Dân Chúng, Dân Ý, Diễn Đàn, Diều Hâu, Duy Tân, Duy Dân, Đa Minh, Đại Học, Đại Đoàn Kết, Đất Đứng, Đất Mới, Đất Sống, Đất Tổ, Đen Trắng, Đi Và Sống, Điện Ảnh, Điện Tín, Đời Mới, Đông Phương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Độc Lập, Đuốc Nhà Nam, Đường Sáng.

G. Giao Điểm, Gió Mới.

H. Hải Triều Âm, Hành Động, Hiện Đại, Hòa Bình, Hóa Giải [dấu sắc], Hồng, Hồng Lĩnh, Hương Quê, Hoàn Cầu, Huyền Bí, Học Báo.

K. Khởi Hành, Kịch Ảnh , Kỷ Nguyên Mới, Khai Phá.

L. Lá Bối, Lập Trường, Lẽ Sống, Lên Đường, Liên Minh.

M. Màn Ảnh, Mây Hồng, Minh Tinh, Minh Tâm, Mùa Lúa Mới.

N. Ngày Nay, Ngày Mới, Ngôn Luận, Người Dân, Nguồn Sáng, Nhân Loại, Nhân Chủ,

P. Phổ Thông, Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Đẹp, Phụ Nữ Tân Tiến, Phương Đông.

Q. Quan Điểm, Quyết Tiến, Quật Khởi, Quật Cường, Quyền Sống.

R. Rạng Đông.

S. Sài Gòn Mới, Sáng Tạo, Sáng Dội Miền Nam, Sinh Lực, Sóng Thần, Sống, Sống Mới, Sống Đạo.

T. Tân Văn, Tân Phong, Tia Sáng, Tin Mới, Tin Sớm, Tin Văn, Tiến, Tiếng Chuông, Tiếng Vang, Tranh Đấu, Thách Đố, Thanh Niên, Thẳng Tiến, Thân Dân, Thần Chung, Thế Kỷ 20, Thi Ca, Thời Đại, Thời Luận, Thời Tập , Thời Báo, Thủ Đô, Tìm Hiểu, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Trình Bày, Trinh Thám, Trời Nam, Tự Do, Tư Tưởng.

V. Vạn Hạnh, Văn, Văn Hóa Tập San, Văn Hóa Ngày Nay, Văn Mới, Văn Nghệ, Văn Nghệ Tập San, Văn Nghệ Mới, Văn Học, Văn Hữu, Văn Hữu Á Châu, Văn Nghệ Học Sinh, Văn Nghệ Tiền Phong, Văn Nghệ Tự Do, Văn Xã, Văn Chương, Vấn Đề, Vận Hội Mới, Vui Sống.

X. Xây Dựng,

Y. Ý Thức, Yêu, Yiễm Yiễm Thư Trang.

Các nhà văn nhà thơ dịch giả miền Nam ở hải ngoại

Nói chung là các cây bút từng có tiếng trước 1975, đang còn sống và viết tại hải ngoại, kể cả Ân Châu, Bắc Mỹ qua miền Nam và miền Tây Hoa Kỳ: Trần Thiện Đạo, Thái Văn Kiểm (có thể đã về Huế), Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Đỗ Khánh Hoan, Vi Khuê, Tuyết Linh, Uyên Thao, Nguyễn Hữu Hiệu, Mặc Đỗ, Đặng Phùng Quân, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Thạch Chương, Túy Hồng, Hà Huyền Chi, Nhất Tuấn, Ký Giả Lô Răng Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp, Nguyễn Văn Sâm, Diên Nghị, Duy Thanh, Nhật Tiến, Viên Linh, Đỗ Tiến Đức, Trần Văn Nam, Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam, Doãn Quốc Sỹ, Cao Thế Dung, ...

Một Nền Văn Học của Những Người Vắng Mặt

Vài ý nghĩ của người viết bài này. Văn Học Việt Nam Hải Ngoại trong những năm đầu tiên, sau khi miền Nam sụp đổ, là Một Nền Văn Học của Những Người Vắng Mặt. Sách truyện được bày bán trên các quầy sách báo trong các tiệm thực phẩm Á Đông, hay trong một số tiệm sách kiêm tiệm băng nhạc Việt ngữ ở Bắc Mỹ và Âu Châu hồi ấy, và cả sau này, hầu hết là sách truyện được viết từ trước 1975, khi tác giả và độc giả còn cùng sống trên một lãnh thổ. Sau 30.4 họ ở trong tù. Và tác phẩm của những tác giả ấy đi theo độc giả ra khỏi nước, được sao chép phổ biến lại, còn họ thì vắng mặt. Một số ít những người viết có mặt cùng độc giả của mình, trong cộng đồng lưu vong, đã không thể có những tác phẩm mới trong những năm đầu. Đa số hiện diện qua những cuốn sách cũ - chuyện trò với độc giả bằng tác phẩm và tâm tư cũ; mà tác phẩm cũ không thể làm nên hiện diện mới - do đó họ cũng chẳng khác gì những người vắng mặt. Văn học hải ngoại cuối thế kỷ XX là nền văn học của những người vắng mặt.


TRĂM DÒNG

Sinh ở đâu mà giạt bốn phương
Trăm con cười nói tiếng trăm dòng
Mai sau nếu trở về quê cũ
Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.
(Thơ Viên Linh)

Bài Xem Nhiều