We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 17 December 2014

Giữa mùa Giáng Sinh


1-noelChỉ còn vài ngày nữa là đến ngày lễ Giáng Sinh, còn mươi hôm nữa là Tết Tây, người người nô nức đi mua sắm tại các cửa hàng cửa hiệu, tưng bừng rộn rã, tống cựu nghinh tân, năm cũ đi, năm mới lại, giòng đời vẫn lặng lẽ trôi nhanh.
Mấy năm trước đây, tôi dọn về ở khu phố này đúng vào mùa Giáng Sinh, một khu nhà ở trung bình, bên phải tôi là một ông trắng, bên trái là một ông đen, ông nào cũng vui vẻ cả. Tôi và ông trắng hay đậu xe phía sau nhà nên thỉnh thoảng có gặp nhau. Dọn nhà được mươi ngày tôi gặp ông lần đầu, hôm ấy tôi ghé vào sau nhà ông hỏi thăm xã giao cho có tình hàng xóm. Đó là một ông già gần bảy mươi to, cao, vạm vỡ, hôm ấy ông nói đã về hưu mấy năm rồi, hồi xưa trong binh đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Ông già ở một mình, tôi được biết vợ ông nay ở tiểu bang khác, ông không có con, cụ thân sinh còn sống, ở cách đây gần hai chục dặm, nhà này ông mua lâu rồi. Người ta nói ông này ở dơ lắm.
Khoảng nửa năm sau, bỗng dưng không thấy ông đâu cả, vắng nhà mấy tháng ông lại trở về, gặp tôi ông đều chào hỏi:
- How are you today? Anh mạnh giỏi chứ?
Được biết ông đi nằm bệnh viện giải phẫu đầu, não gì đấy, ông bị tâm thần. Lúc này mới biết ông bị bệnh, chắc là một chứng nan y. Ông già có thái độ bất cần đời, nghĩ rằng mình chẳng còn sống bao lâu, cỏ mọc trước sân cao đến đầu gối, ông cũng mặc kệ, tòa tỉnh cảnh cáo mấy lần ông mới chịu kêu người cắt, tôi có cắt dùm ông một lần. Không bao giờ ông tưới cỏ, nắng Texas như đổ lửa, nứt cả đất, cháy cả cỏ ông cũng thây kệ, muốn đến đâu thì đến.
Qua năm sau, tôi thấy ông suy yếu rõ rệt. Trông ông có vẻ khá giả vì thấy ông đi xe mới, người to cao nên mỗi lần chui vào xe khó khăn lắm, xe bị đụng mấy lần, sửa đi sửa lại. Sau ông mua chiếc xe Cadillac to lớn, trông bề thế, loại xe đắt tiền, ít lâu sau lại bị đụng xe, phải kéo đi tiệm sửa. Ông gõ cửa nhà tôi mượn điện thoại, điện thoại nhà ông bị hư. Giời ơi, lúc này tôi mới để ý, ông lão hôi quá, hôi như tổ cú vậy, quần áo ông nhàu nát cũ kỹ, cả tháng không giặt, ông ra khỏi nhà tôi cả buổi rồi mà mùi hôi vẫn còn nằm trong phòng khách. Ông cho biết gọi điện thoại cho bố nhờ giúp đỡ. Mấy hôm sau tôi thấy cụ thân sinh ông ở đằng sau nhà, một ông cụ trạc chín mươi nhưng trông tỉnh táo hơn, người thấp thấp. Tôi thở dài nghĩ bụng: “Trời ơi ! Ông bố đã chín mươi cái xuân còn phải đi lo cho ông con bảy mươi, thật là báo đời báo kiếp! báo đến già vẫn chưa hết”.
Lúc này thấy ông ngày càng bệ rạc hơn trước, quần áo hôi hám, xộc xệch. Có lần ông châm thêm nhớt xe ở sau nhà, tự nhiên quần tụt xuống, ông cũng thây kệ, tôi nói cho ông biết nhưng ông chỉ cười xoà. Tóc tai ông lão rũ rượi, râu ria lởm chởm, nước da ông vàng bủng như người sốt rét ngã nước, đôi mắt ông nhìn xuống đượm mầu chán chường tuyệt vọng, thoáng một vẻ đau đớn về tinh thần và thể xác. Có lẽ biết mình chẳng còn sống bao lâu nữa nên ông chẳng còn thiết gì đời, ăn mặc dơ dáy lắm. Ông cất bước đi vào nhà một cách nặng nề, đôi chân lê trên mặt đất thật chậm chạp vì phải mang một tấm thân to lớn. Hôm nay ông cũng không quên chào tôi “How are you today?”. Mỗi lần nhìn ông tôi lại thấy nổi lên trong lòng một nỗi u hoài khó tả vì phải chứng kiến một cảnh đời bi thảm, một cảnh bi thảm tại một xứ văn minh sung túc, tôi biết chắc ông ấy cũng sắp về Nước Chúa đến nơi rồi. Cuộc đời là bể khổ, Đông với Tây chỗ nào cũng thế.
Một hôm đi làm về, tôi đậu xe đằng trước. Thấy tôi, ông vội chạy ra nhờ chở đi chợ Kroger mua đồ ăn, xe ông lại bị đụng phải đem đi sửa. Bất đắc dĩ phải chở ông đi chợ. Giời đất ơi, tôi muốn chết ngạt vì cái mùi hôi bốc ra từ quần áo của ông. Bước vào xe ngồi, xe tôi như nghiêng hẳn đi vì ông nặng quá. Lúc về tôi bực lắm, quyết từ nay không bao giờ giúp ông ấy nữa. mùi hôi cứ ở lỳ trong xe tôi mãi mới hết. Có người bạn tình cờ vào nhà ông ấy nói nó hôi thối y như cái chợ cá, thùng rác ngay đầu giường, chuột, gián… tùm lum. Mà thật vậy, mỗi lần ông mở cửa sau, cái mùi chợ cá xông ra tận bên nhà tôi, thật không ngờ một ông Mỹ trắng lại ở dơ đến thế.
Từ đấy tôi nhất quyết không cho mượn điện thoại, dứt khoát như vậy. Một hôm đang chăm sóc mấy cây hoa hồng đằng trước, tôi bỗng thấy mùi hôi, rồi ông ta hiện ra hỏi mượn điện thoại, tôi từ chối nói sắp phải đi ngay, ông buồn rầu bước sang nhà khác. Nhìn vẻ mặt thất vọng của ông tôi cũng ái ngại lắm, tôi lại tự trách mình sao ác quá, ông ấy hỏi mượn cái điện thoại mà cũng từ chối. Nhưng dù ái ngại tôi cũng cương quyết không cho ông ấy vào nhà, giúp ông rồi ông sẽ nhờ mãi, phiền lắm.
Tôi bèn viết thư cho tòa tỉnh city.
Thưa quí Tòa
Ông hàng xóm tôi, cựu chiến binh già lão lắm, không bà con bạn bè, không xe cộ, điện thoại, rất cần giúp đỡ… Ông ấy khổ lắm… xe hư , điện thoại cũng hư. Ông mượn điện thoại hàng xóm người ta không cho mượn vì ông ấy hôi quá!… Nhà ông hôi như cái chợ cá , một tổ vi trùng! Tôi có giúp ông ấy vài lần, nay không thể giúp được nữa. Xin quý tòa giúp cho ông để cải thiện cuộc sống cho ông ấy đỡ khổ.
Xin đa tạ quí Tòa.
Mấy hôm sau có một ông nhân viên gọi điện thoại trả lời tôi, ông cho biết đã chuyển thư sang ban xã hội, hội từ thiện gì đấy. Lúc này ông không hỏi mượn điện thoại nữa, mặc dù bị tôi từ chối nhưng mỗi khi gặp nhau ông vẫn chào hỏi vui vẻ How are you today? Anh mạnh giỏi chứ? Tự nhiên tôi lại cảm phục tấm lòng bao dung, độ lượng của ông, của những người Mỹ không bao giờ biết giận là gì, tôi cư xử với ông ấy hơi tệ thế mà ông vẫn vui vẻ như thường, thật đáng kính phục thay. Tôi cũng cảm thấy một chút hổ thẹn ở lương tâm về cách xử sự của mình với ông ấy.
Độ này không thấy ông nhờ tôi, bốn năm tháng sau mới thấy ông mượn cái kìm, cái búa, hay xin chút đồ ăn vì xe hư không đi mua được. Rồi thỉnh thoảng lại thấy ông đi mượn điện thoại các nhà hàng xóm, tức quá tôi lại viết thư lên tòa tỉnh, kể lể dài hơn.
Thưa quí tòa
Ông hàng xóm của tôi khổ quá, xe hư lại không điện thoại…
………………………………………..
Xin quý tòa giúp ông ấy!
Mấy hôm sau, một bà nhân viên gọi điện thoại cho tôi, bà phụ trách về vấn đề hàng xóm, bà hỏi tôi một số chi tiết về ông già và cho biết bà sẽ cố liên lạc với ông ấy. Mấy tháng sau, người ta mở cửa trước, cửa sau nhà ông để tổng vệ sinh, mùi hôi hám ghê sợ tỏa ra khắp nơi, họ thay thảm cho ông, thu dọn rác rưởi trong nhà, nào ấm sứt vòi, ly tách bể, ghế ba chân… cho vào bao, rồi vất cả đống ra đằng trước vườn. Nhà ông được quét dọn sạch sẽ, tôi mừng cho ông mà cũng mừng cho tôi nữa.
Tuần trước thấy xe ông bị đụng bể cả cửa kính. Độ này thỉnh thoảng mới gặp ông ở chỗ đậu xe sau nhà, thấy ông suy nhược lắm, nét mặt đau khổ đáng thương, tôi có cảm tưởng như ông phải miễn cưỡng kéo lê cái tấm thân tàn này cho đến chết và có lẽ ông cũng mong Tử Thần đến đem đi cho rảnh cái nợ đời. Mỗi lần nhìn ông tôi lại chợt nghĩ đến ý nghĩa của nhân sinh: Đời là bể khổ? Chết là giải thoát?
Chỉ còn vài ngày nữa là đến lễ Giáng Sinh. Tối qua thức khuya đi mua sắm đồ đạc, sáng nay tôi ngủ dậy trễ. Lúc chín giờ rưỡi sáng tôi nghe thấy tiếng nhiều người nói chuyện trước nhà, ngủ thiếp đi một lúc cả giờ đồng hồ vẫn thấy họ nói chuyện, cười cợt. Tôi lấy làm lạ sao họ nói chuyện gì mà lâu thế nên bèn hé mành nhìn ra thấy vài ba xe cảnh sát, một xe truck đậu trước nhà tôi và nhà ông, mấy người cảnh sát đứng nói chuyện um sùm. Biết là có chuyện chẳng lành, tôi vội khoác áo lạnh chạy ra vườn trước nhà, tôi thấy hai người khiêng xác ông ấy từ trong nhà đi ra đút vào trong lòng một chiếc xe cứu thương đậu ở bên kia đường.
Lạ thay, khi tôi ngủ li bì thì không thấy họ khiêng ông ấy, lại đợi đến khi tôi chạy ra, chắc là ông nhắc tôi chạy ra để nhìn thân xác ông một lần chót, chắc hẳn là như vậy. Mọi người vẫn nói cười vui vẻ. Người Mỹ lúc nào cũng thản nhiên như không, dẫu cho gió bão chết còn, đổ đình đổ chùa hay cháy nhà hàng xóm họ vẫn bình chân như vại. Tôi chạy lại hỏi một chị cảnh sát Mỹ đen đang đứng trước vườn nhà tôi:
- Ông ấy làm sao thế?
- Ông ấy chết rồi, tối hôm qua.
- Thế à!
Nhìn vẻ mặt xúc động của tôi, chị cảnh sát hỏi:
- Anh thấy ông ấy lần chót hôm nào?
- Mấy tuần trước, tuần rồi thấy xe ông ấy bị đụng bể cửa kính.
- Đụng hôm thứ sáu, ông lái về nhà được. Sáu hôm sau mới chết. Ông ấy biết trước là chết nên đã gọi ông cụ thân sinh, ông cụ kia kìa!
Vừa nói chị vừa chỉ tay về chiếc xe truck đậu ngay trước cửa nhà tôi.
Tôi chạy lại xe hỏi thăm ông cụ bố nay cũng độ ngoài chín mươi, cụ vui vẻ hỏi tôi:
- Anh ở bên cạnh hả?
Rồi cụ thẫn thờ suy tư như nhớ lại bảy mươi năm trước đây cụ đã bế trên tay một đứa trẻ sơ sinh mở mắt chào đời, nâng niu ôm ấp một cái mầm sống thân yêu, nó là nguồn hạnh phúc của đời cụ. Thời gian trôi qua, đứa trẻ lớn lên, sống những ngày tươi đẹp của tuổi hoa niên rồi già lão, bệnh hoạn và bây giờ nhắm mắt lìa đời. Bảy mươi năm trôi qua đánh vù một cái, nó tuy ngắn ngủi nhưng cũng quá đủ để chấm dứt một kiếp người.
Thế rồi mọi người vội vã lên xe đóng cửa rầm rầm để đưa ông ấy đi, không kèn, không trống, không một tiếng khóc than, không một giọt lệ sầu mà chỉ thấy toàn là những tiếng cười. Tôi không biết họ đưa ông ấy đi đâu, lên nhà thương? nhà quàn? hay ra nghĩa địa? Ở cái xứ sở giàu có sung túc nhất thế gian này con người vẫn chưa thoát khỏi những nỗi khổ ải, trầm luân. Trong lòng tôi cũng thầm mừng cho ông nay đã rũ sạch nợ trần.
Họ vẫy tay chào tôi rồi vội vã lái xe chạy vùn vụt về cuối phố.
Mặt trời đã lên cao tỏa ánh nắng vàng rực rỡ trên các mái nhà, cành cây, ngọn cỏ. Đường phố lúc này vắng tanh vắng ngắt không một bóng người. Thiên hạ nô nức đua nhau đi mua quà chúc mừng ngày lễ đã gần kề, chỉ còn lại một mình tôi đang đứng ngẩn ngơ nhìn về cuối phố, trong lòng xót xa vô hạn.
Một nỗi buồn mênh mang thấm thía và một niềm ân hận bàng bạc ở đâu kéo đến xâm chiếm lấy tâm hồn tôi giữa một mùa Giáng Sinh tưng bừng rộn rã….
Trọng Đạt

Cái chết của những con đom đóm


Hoang Sa Truong Sa ơi
Khi ánh nắng hoàng hôn không còn tần ngần trên những ô cửa kính, bầu trời sậm xuống và bóng tối từ từ đi lên là khoảng thời gian mà những người tha hương thường hay nhớ về quê nhà.

Tôi nhớ về Huế vào khoảng thời gian của thập niên 50 nơi căn nhà hương hỏa của bà nối ở Bầu Vá. Cứ mỗi lần nghĩ đến là mỗi lần khao khát trở lại tuổi thơ không muộn phiền và cuộc đời như một cánh đồng hoa thơm ngát.
 
Tôi nghe trong tôi nhiều cảm xúc khi nhớ về quê nhà nơi căn nhà tuổi thơ tôi đã sống, và thích nhất là nhìn cảnh những con đom đóm bay từng đàn trong đêm với từng chùm ánh sáng lập lòe.

Có lan Tôi đọc câu chuyện The Knight and The Firefly mà trong đó nhân vật chính là cậu bé Oliver. Oliver rất dũng cảm về ban ngày nhưng khi màn đêm buông xuống Oliver lại cảm thấy sợ hãi. Nỗi bí ẩn lo sợ bóng tối trong tận cùng vực thẵm của tâm can đã làm Oliver khát khao khắc phục.

Cho đến một đêm kia với sự giúp đở của đom đóm Phineas, Oliver nghe tiếng gọi mơ hồ như bừng lên quyết tâm khắc phục sự sợ hãi bóng đêm của mình. Sau khi vội vả ăn xong bửa cơm tối Oliver cầm nhanh cái lọ chạy vào bóng đêm và đuổi theo đàn đom đóm đang nhảy múa trong vườn

Đom đóm thuộc loại côn trùng có cánh sản xuất một thứ ánh sáng lạnh không có hồng ngoại hoặc tia cực tím, từ dưới bụng.

Sự sản xuất ánh sáng của những con đom đóm là do một loại phản ứng hóa học được gọi là quang sinh học. Phát quang sinh học của đom đóm dường như là một tín hiệu cảnh cáo cho những kẽ săn mồi muốn xâm nhập vào vùng lãnh thổ của chúng

Thường thường thì những con đom đóm nam giới bay còn đom đóm nữ giới thì nằm trên cây

Oliver nghĩ rằng khi cậu ta tóm hết những con đom đóm bỏ vào cái lọ thì với ánh sáng của đom đóm cậu ta sẽ trở thành lãnh tụ của bóng đêm và thu gọn tất cả ánh trăng của bầu trời.

Khi cái lọ đầy ắp những con đom đóm cùng với ánh sáng lập lòa Oliver vội vả trở về nhà để cái lọ đom đóm trên bàn ngủ của mình xử dụng ánh sáng của loài đom đóm như cây đèn trên bàn ngủ. Nhưng khi ánh sáng của loài đom đóm mờ dần, mờ dần đã làm Oliver nhận ra rằng không có một thứ ánh sáng nào vĩnh cửu như ánh sáng của Thượng Đế

“Ánh sáng của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải” cũng là một thứ ánh sáng mà quí vị đang bỏ vào lọ hy vọng cũng sẽ lập lòe mãi trong đêm

Quí vị cho rằng những ai lên tiếng phản đối về thái độ chính trị không chấp nhận cờ Vàng của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải là đã đẩy Điếu Cày ra khỏi Tập Thể Người Việt Ty Nạn cs tại hải ngoại?

Nói một cách thật thà thì không ai đánh phá Điếu Cày cả. Bằng chứng là khi tập thể người ty nạn cs tại HN đón rước Điếu Cày tại Los Angeles Chúng ta thấy họ đã dâng hiến cho cho ĐC với những tấm lòng ngưỡng mộ. Họ nhiệt tình dâng hiến sự ngưỡng mộ đó đối với Điếu Cày bằng cách đó nắm tay thân mật cùng với tấm lòng chân chất mộc mạc đưa lá cờ Vàng là một biểu tượng thân thương tôn thờ của họ cho Điếu Cày trong một tấm lòng hân hoan khúc nhạc “Anh Đã Về Đây”.

Nhưng cái khoát tay từ chối cầm lá cờ Vàng của Điếu Cày một cách phủ phàng đã làm họ ngỡ ngàng tê tái. Phản ứng từ chối nắm lấy lá Cờ Vàng của Điếu Cày như một cái tát tai nẫy lửa vào mặt họ làm lòng họ chùng xuống như một nốt nhạc buồn rơi lạc điệu. Cái âm thanh lạc điệu đó đã làm lòng họ nặng nề thêm trên nỗi hân hoan chào mừng vừa mới nhóm.

Sự từ chối cầm lá cờ Vàng cùng với lời tuyên bố của Điếu Cày “Việc tôi không nhận lá cờ thì sự thật đã rõ… nhiều người đã thấy khi xem clip”.

Và Điếu Cày khẳng định thái độ chính trị rõ ràng là nếu muốn Điếu Cày chấp nhận lá Cờ Vàng thì phải có điều kiện ắt có và đủ là:

“Nếu 90 triệu người dân đồng ý về biểu tượng chung đó thì tất cả cùng đứng chung dưới biểu tượng chung ấy...”

Với thái độ chính trị dứt khoát không chấp nhận lá Cờ Vàng của Điếu Cày là CHÍNH ĐIẾU CÀY TỰ ĐÁNH MÌNH RA KHỎI HÀNG NGŨ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CS. KHẲNG ĐỊNH RÕ RÀNG MINH BẠCH LẬP TRƯỜNG CHÍNH TRỊ LÀ KHÔNG ĐỨNG VÀ CŨNG KHÔNG NÚP DƯỚI LÁ CỜ VÀNG.

Như vậy cái hành động của quí vị khi quàng cái khăn quàng bằng hình ảnh lá cờ Vàng vào cổ của Điếu Cày là có phải quí vị đã áp đặt tư tưởng chính trị vào Điếu Cày phải không?

Ờ xứ tự do dân chủ không ai có quyền áp đặt tư tưởng chính trị của mình vào người khác.

Ở đây không có chuyện Ai Chiến Thắng Ai và cũng không có chuyện Ai ĐÁNH phá Ai mà ở đây tập thể Người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại chỉ khẳng định một thái độ chính trị rõ ràng và một lập trường minh bạch trên tôn chỉ LẰN RANH QUÔC/CỘNG. THẾ THÔI.

Quí vị ủng hộ Điếu Cày vẫn tiếp tục thóa mạ những ai không nhìn thấy”Ánh Sáng Đom Đóm của Điếu Cày” nhất là khi Ban Đại Diện của Cộng Đồng Việt Nam vùng D.C., Maryland, và Virginia ra thông cáo không Tổ chức gặp gỡ Điếu Cày,cũng không liên quan đến việc tổ chức gặp gỡ Điếu Cày của đài SBTN Vào chiều Chúa Nhật 23/11/2014 cũng như không tham dự.

Vì thế những ban đại diện của các tổ chức cộng đồng nào tổ chức tiếp đón Điếu Cày tức là họ đang dùng môi trường chính trị của Cộng Đồng để hoạt động cho đảng phái chính trị của họ trên mục tiêu hòa hợp hòa giãi trong ngoài.

Thảm hại hơn nữa quí vị lại biến “anh hùng dân tộc Điếu Cày” trở thành món hàng trả giá trong việc tiếp nhận Điếu Cày vào Tập Thể Người Việt QG bằng cách quàng lá Cờ Vàng vào cổ Điếu Cày để make a deal “Này quí ông bà đòi hỏi phải có Cờ Vàng thì bây giờ chúng tôi đã quàng cờ Vàng vào cổ Điếu Cày đấy, có thấy không? Hay còn thắc mắc gì nữa?

Thê thảm hơn cho Điếu Cày khi không trở thành con rối nhảy múa trong những màn xiếc do các nhà điều khiển điều hành trên sân khâu để mua vui cho thiên hạ. Có đúng không quí vị?

Năm 1960 khi thực hiện âm mưu xâm lấn miền Nam, đảng csVN đã dấu mặt để cho các văn nô bồi bút tập kết ra Bắc được hồi cư vào Nam để thực hiện mục tiêu biến họ thành những người dân tự phát thi hành những công tác chỉ đạo để phá rối sự ổn định của xã hội miền Nam lúc bấy giờ.

Đến thời điễm hôm nay VC lại xào nấu chiêu bài cũ cứ lâu lâu “xuất cảng” một con chốt sang sông để gây phân hóa trong tập thể Ngưới Việt Tỵ nạn CS qua Ý kiến tung hứng ĐỒNG VÀ DỊ

Nhưng VC đã thất bại vì gần một thế kỶ qua, sự tiến hóa của thế giới như bão táp. Những Ý thức Duy Vật đã suy tàn và những quan niệm mới đã nẩy sinh do đó sự hiểu biết của Người Việt TỴ nạn CS đã trưởng thành, đã chửng chạc hơn trên sự lừa bịp lịch sử của VC

Vì thế khi Điếu Cày đến Vùng đất hải ngoại đã không update vẫn xài bản chất “đỉnh cao trí tuệ” cũ là cái gì của ta cũng tốt cũng nhất (như “bộ đội VC đã thắng Pháp và đã đánh cho MỸ cút Ngụy nhào”) Và cái gì của “địch” đếu là đồ dỏm.

Như vậy làm sao mà Điếu Cày phải chấp nhận lá Cờ Vàng trong khi trên
vùng ky ức quá khứ của Điếu Cày đang chập chùng những hình ảnh tấn công cướp đồn và mau chóng treo lá Cờ Máu.

Chính vì lẽ đó mà chúng ta cần phải đặt lại vấn đề có nên tranh luận về Điếu Cày nữa hay không? một khi cái quan hệ chủ nghĩa Mảc Lenine và công tác tiến tới Xã Hội Chủ Nghĩa của Điếu Cày vẫn còn đó. Vì thế Điếu Cày đã thi hành công tác chỉ đạo là đang đặt lại cái giá trị của những nguyên lý Về HAI LÁ CỜ

Điều quan trọng trong cuộc tranh luận này không phải NHÂN VẬT ĐIẾU CÀY mà là một chiến thuật có kế hoạch tạo hoang mang trong Tập Thể Người Việt tỴ nạn CS tại hải ngoại trên công tác lý luận của VC trong
âm mưu xóa bỏ Lá cờ Vàng.

Chính vì cái công tác lý luận KHÔNG CHẤP NHẬN LÁ CỜ VÀNG của Điếu Cày đã giúp cho Tập Thể Người Việt TỴ Nạn CS tại hải ngoại đã sớm nhận ra cái cốt lõi bên trong của cả một công cuộc vận động hiện thực của đảng csVN trong mục tiêu xóa bỏ lá Cờ Vàng.

Từ đó dưới cái vỏ bọc bên ngoài là tranh đấu để “LIÊN KẾT TRUYỀN THÔNG TRONG VÀ NGOÀI NƯƠC” đã làm họ nhìn ra được mục tiêu qui luật của vấn đề. Do đó họ không hời hợt, không bối rối trước những hiện tượng ngụy trang ngụy biện lừa bịp của VC.

Riêng về sự phẫn nộ của quí vị về việc Tập Thể Người Việt Tỵ Nạn CS tại hải ngoại không công kênh Điếu Cày, không tung hô Điếu Cày là “anh hùng dân tộc”, chúng tôi hoàn toàn thông cảm. Nhưng thưa quí vị cái ánh sáng mà quí vị đang trùm cho Điếu Cày tỏa sáng chỉ là thứ ánh sáng của loài đom đóm trong đêm đương nhiên sẽ mờ dần trong lọ.

Quí vị hãy như Oliver nên quyết định gấp khi thứ ánh sáng ấy đang mờ dần trong lọ, là nên thả những con đom đóm ấy ra để chúng bay về trong đêm làm hoạt cảnh nhảy múa cho nhi đồng hay quí vị ngồi chờ cái chết của những con đom đóm đang gần kề.

Tôn Nữ Hoàng Hoa
     

Giáng Sinh: Chuyện thê lương làm thức tỉnh lương tâm Âu Châu.

Những câu chuyện mùa Giáng Sinh: Câu chuyện thê lương làm thức tỉnh lương tâm Âu Châu.


[​IMG]
Hans Christian Andersen (02 tháng tư - 1805 - 04 tháng 8 -1875) là một nhà văn Đan Mạch nổi danh về những câu chuyện trẻ em. Những bài thơ và văn xuôi của ông đã được dịch sang hơn 150 thứ tiếng, là nguồn cảm hứng cho nhiều bức tranh, vở kịch, vũ điệu ballet, và phim ảnh.

Những câu chuyện nổi danh nhất mà người VN cũng biết tới là "Người cá" ("The Little Mermaid",) "Nữ hoàng tuyết" ("The Snow Queen",) "Con vịt xấu xí" ("The Ugly Duckling", ) "Chim sơn ca" ("The Nightingale",) và "Bộ áo mới cuả hoàng thượng" ( "The Emperor's New Clothes" ).

Cùng với câu chuyện 'Oliver Twist' cuả Charles Dickens viết ra 9 năm trước đó, câu chuyện 'The Little Match Girl' đã soi thêm một chút ánh sáng lương tâm vào một ngõ tối u uẩn mà xã hội Âu Châu thời bấy giờ làm ngơ, đó là tình cảnh cuả những đứa trẻ yếu ớt con nhà nghèo, phải đi lao động sớm, bị hành hạ ngược đãi nhưng chỉ biết im lặng chiụ đựng.


Con bé bán diêm quẹt (The Little Match Girl) - Hans Christian Anderson
Lạnh chưa từng thấy; tuyết lại rơi, bầu trời u ám, và màn chiều đã kéo xuống-- buổi chiều cuối cùng của năm. Trong cái bóng tối và gió lạnh tê tái, con bé nghèo nàn thất thểu đi dọc theo ven đường, đầu để trần, chân đi đất. Hồi nó rời nhà sáng nay, nó cũng có guốc đấy chứ, thật thế; nhưng đôi guốc nào có giúp ích gì cho nó đâu? Đôi guốc rộng quá khổ, mẹ nó vẫn còn đi; rộng đến nỗi; con bé khốn khổ đánh rớt mất khi nó phải nhẩy ra ngoài đường để tránh hai chiếc xe ngựa lộng lẫy đang phóng như bay trên đường phố.

Một chiếc guốc mất tiêu ở đâu rồi; còn chiếc khác thì bị một tên ranh con nhặt lấy, rồi chạy biến mất; Thằng ranh con có lẽ nghĩ rằng chiếc guốc to đủ để dùng làm nôi cho con cháu cuả nó sau này. Vì vậy, con bé phải lết đi với đôi chân trần nhỏ bé, đôi chân đỏ lên và tím bầm vì lạnh. Con bé mang theo một lô diêm quẹt, một số để ở trong tuí yếm, một số cầm trên tay. Không ai mua diêm cuả nó cả, cả một ngày dài; Và cũng chẳng có ai cho nó một đồng xu.

Nó đi rón rén, run rẩy vì lạnh và đói - một hình ảnh đau lòng, con bé thật đáng thương!

Nhiều cụm tuyết bám vào mái tóc dài của nó, những lọn tóc quăn và đẹp lượn quanh chiếc cổ nhỏ bé. Nhưng ngay cả hình ảnh cuả làn tóc, nó cũng chưa bao giờ được biết tới. Lúc đó, tất cả các cửa sổ đã thắp nến lên, lấp lánh, và mùi vị ngỗng rôti lan ra thơm phức, vì bạn phải biết rằng đây là đêm giao thừa sắp bước qua năm mới; đúng vậy, nó cũng nghĩ thế.

Tới một cái góc do hai căn nhà tạo ra, vì một căn nhà xây lấn ra đường nhiều hơn căn nhà nọ, con bé ngồi xuống và co rúm người lại. Đôi chân gầy guộc của nó áp thật chặt vào người, nhưng nó vẫn thấy lạnh, ngày càng lạnh thêm, mà nó lại không dám phiêu lưu trở về nhà, vì nó chưa bán được một cái que diêm nào cả và một xu ăn mày nó cũng không có: Cha nó chắc chắn sẽ cho nó một trận đòn tơi bời, mà ở nhà thì cũng lạnh, nhà chỉ là một cái mái, gió rít từng hồi, dù cho các khe hở lớn đã có rơm và giẻ rách chẹn vào.

Hai bàn tay nhỏ bé cuả nó gần như tê cóng lại. Ô! một cái diêm cháy có thể sẽ mang đến một chút thoải mái, nếu nó dám lấy một que diêm ra, trong cả một bó diêm, thì nó sẽ quẹt vào tường, và sửa ấm những ngón tay. Thế rồi nó lấy một que diêm ra. "Xoạt!" que diêm sáng rực, cháy bùng! Một ngọn lửa sáng lên, ấm áp, giống như một ngọn nến, nó hơ tay lên trên: thât là một ánh sáng tuyệt vời. Giống như nó đang được ngồi trước một lò sưởi lớn, một cái lò có chân bằng đồng thau sáng chói và nắp củng bằng đồng thau trạm trổ. Ngọn lửa cháy mang lại một nguồn hạnh phúc lớn lao; mang lại một hơi ấm kỳ diệu. Con bé duỗi chân ra để sưởi; Nhưng - ngọn lửa tắt phụt, lò sưởi biến mất: chỉ còn lại một chút than tàn đang lụi tắt trong tay.

Nó quẹt một cái diêm khác vào tường: que diêm cháy sáng rạng ngời, và ở đâu mà ánh sáng chiếu lên tường, ở đó bức tường trở nên trong suốt như thể người ta nhìn qua một tấm màn che, và nó có thể nhìn vào căn phòng. Đã có một cái bàn trải khăn trắng như tuyết; trên bàn chén bát lộng lẫy bằng sứ đã dọn sẵn, và một món ngỗng rôti có nhồi táo và mận khô hấp dẫn đang bốc khói. Nhưng điều bất ngờ xảy đến là, con ngỗng đã nhảy xuống bàn, lăn trên sàn sàn nhà với cả con dao và cái nĩa cắm sẵn trên ngực, lăn cho đến khi tới gần con bé nghèo; Thì - cái diêm lại tắt và chẳng còn thấy gì nữa ngoài cái tường dầy, lạnh, ẩm ướt. Nó quẹt một cái diêm khác. Bây giờ thì nó ngồi ngay dưới một cây giáng sinh lộng lẫy: một cây giáng sinh còn lớn hơn, và trang trí nhiều hơn là cái cây mà nó nhìn thấy qua cửa kính cuả một nhà thương gia giàu có.

Có hàng ngàn ngọn đèn sáng rực trên cành cây xanh, và có nhiều bức hình màu sắc, giống như là nó đã thấy trên cửa sổ cuả các gian hàng. Con bé giơ tay với lên cây giáng sinh thì - Cái diêm lại tắt. Ánh sáng cây Giáng sinh bay bổng lên cao và cao hơn, cho tới khi trông giống như những vì sao trên trời; một vì sao rớt xuống và sẹt đi thành một vệt sáng dài.

"Một người nào đó vừa mới chết!" con bé nói một mình; đó là điều mà bà ngoại già cuả nó, người duy nhất yêu thương nó, nhưng nay thì không còn nữa, đã nói với nó, rằng khi có một ngôi sao rơi, là có một linh hồn bay lên với Chúa.



Nó quẹt thêm một que diêm nữa: Lại một lần nữa có ánh sáng, và trong vừng hào quang hiện ra bà cuả nó, tươi sáng và rạng rỡ, rất dịu dàng, đầy vẻ thương yêu.

"Bà ơi!" Con bé kêu lên. "Ô, dẫn con tới với bà đi! Đừng đi mất khi cái diêm tắt; đừng đi giống như cái lò sưởi, như con ngỗng thơm ngon, như cây Giáng sinh tuyệt vời!" Và nó vội vàng cọ hết bó diêm vào tường, nó muốn chắc chắn rằng bà ngoại ở lại với nó. Và bó diêm đã loè lên một ánh sáng thật rực rỡ, sáng hơn cả buổi trưa ban ngày: bà cuả nó cũng trở nên tươi đẹp và cao lớn hơn bao giờ hết. Bà bế con bé lên tay bà, và cả hai cùng bay bổng trong ánh sáng và niềm vui, lên cao, lên thật là cao, và rồi thì không còn lạnh nữa, cũng không còn đói nữa, cũng không còn lo lắng nữa - vì họ đi lên nhà cuả Chúa.

Vào buổi sáng bình minh lạnh lẽo ngày hôm sau, tại cái góc nhà, con bé vẫn còn bất động ngồi ở đó, với một đôi má hồng và một nụ cười tươi, thân mình vẫn còn dựa vào tường -- nó chết vì lạnh trong đêm cuối cùng cuả năm. Cái xác đông cứng còn ngồi bên cạnh một lô diêm, một bó đã cháy hết. "Nó cố sưởi ấm," người qua đường thờ ơ nói. Nhưng không có ai nghĩ ra về những điều đẹp đẽ mà con bé đã nhìn thấy; Thậm chí không có ai đã dám mơ ước đến cái lộng lẫy huy hoàng, mà nó cùng bà đã đón mừng một năm mới.

 Trần Mạnh Trác

Bài Xem Nhiều