We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 18 December 2014

Đảng Ba Đình: : Quan to chiếm nhà, quan nhỏ chiếm đất


Quan to chiếm nhà, quan nhỏ chiếm đất




Biệt thự của quan chức, 'siêu lừa' bị kê biên - 7
Biệt thự của quan chức, 'siêu lừa' bị kê biên - 7

Viết từ Sài Gòn ngày 15.12.2014:

Vụ gia đình ông cựu tổng thanh tra Trần Văn Truyền có quá nhiều nhà đất với khối tài sản kếch sù vừa được phát hiện vẫn tiếp tục khuấy động sự bất mãn của dư luận làm lan ra cả những ông khác. Đúng là ông này làm hại “anh em,” cháy nhà mình làm cháy cả nhà háng xóm.

Cái nhà to quá giữa khu đất vàng nên ông Cựu chủ tịch Hà Nội chưa chịu trả

Sau vụ ông Truyền, người bị “văng miểng” đầu tiên cũng từng là một quan to giữa thủ đô. Ngay tuần này, lại um xùm vụ ông Hoàng Văn Nghiên, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội sau khi rời chức vụ được 8 năm vẫn chưa chịu trả lại nhà cho nhà nước. Ngoài ra theo báo Tiền Phong: Cựu chủ tịch “chê” chung cư, “thích” xài biệt thự, nói rõ hơn là ông còn đặt vấn đề phải thuê cho ông cái nhà sang mới chịu dời đi. Đúng là “cha thiên hạ” thật.

Câu chuyện tưởng như đã xong từ 8 năm trước (năm 2006) khi thành phố Hà Nội thông báo không bán biệt thự cho cựu chủ tịch thành phố Hoàng Văn Nghiên. Thế nhưng chỉ vỉ một điều khoản nhỏ là phải tìm nhà cho ông Nghiên trước khi thu hồi biệt thự của nhà nước kéo dài gần chục năm bỗng quá khó như… lên trời. Làm rúng động cả đến Ủy Ban Nhân Dân và nhân dân thành phố.


alt
Ông Hoàng Văn Nghiên nguyên chủ tịch UBND TP Hà Nội

Sự thật trước khi bước lên ghế chủ tịch TP Hà Nội, ông Nghiên không phải là dân vô gia cư mà ông có nhà cửa đàng hoàng. Theo ông Phạm Sỹ Liêm – nguyên thứ trưởng Bộ Xây Dựng, ông phó chủ tịch UBND TP Hà Nội – trước khi tới sinh sống tại biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa (của nhà nước), ông Hoàng Văn Nghiên sinh sống ở một ngôi nhà thuộc phường Bách Khoa (quận Hai Bà Trưng).

alt
Biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa, Hà Nội


Không những thế, hiện nay bản thân ông Hoàng Văn Nghiên không sống tại căn biệt thự số 12 đường Nguyễn Chế Nghĩa của nhà nước mà chỉ có con trai ông là Hoàng Hữu Nam cùng vợ con sống tại đó. Còn ông Nghiên hiện đang sống tại căn biệt thự nằm ở quận Hoàn Kiếm, trung tâm nhất của thủ đô. Đó là căn biệt thự tại khu đô thị Ciputra hạng sang ở Hà Nội.

Căn biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa rộng hơn 400 m2 mà cựu Chủ tịch TP Hà Nội Hoàng Văn Nghiên chưa chịu trả nằm giữa “khu đất vàng” tại phường Hàng Bài – Hà Nội. Trong khi các căn nhà lân cận cho thuê với giá từ $1000 USD trở lên (tương đương với 30 m2 trở lên) thì căn biệt thự mà ông Nghiên thuê trên thửa đất rộng 411 m2 với giá chỉ gần 460 nghìn đồng ($22 đô)/tháng, chỉ có giá bằng 10 tô phở.

Theo ông Liêm, lãnh đạo TP Hà Nội đang có sự lúng túng trong việc thể hiện thái độ kiên quyết thu hồi biệt thự này. “Có thể ông Nghiên cũng biết thế nên chây ì ra.” Cái sự chây ì của ông Nghiêm một phần lớn là do sự thiếu cương quyết, thiếu minh bạch của cơ quan quản lý.
Tại sao phải vất vả đi tìm nhà đổi cho ông Nghiên?
Để trả lại ngôi biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa, ông Hoàng Văn Nghiên sẽ được thuê và mua ngôi nhà tại dự án phía Đông hồ Nghĩa Đô (thuộc quận Cầu Giấy) trị giá trên dưới 30 tỉ đồng.

alt
Khu Đô thị Nam Thăng Long (Ciputra) là nơi ông cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội Hoàng Văn Nghiên đề nghị thành phố mua đất xây biệt thự để ông thuê ở.

Việc cơ quan chức năng TP Hà Nội tìm nhà rồi “đàm phán” để thuyết phục nguyên Chủ tịch UBND TP Hà Nội Hoàng Văn Nghiên trả lại ngôi biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa đang gây chú ý. Nhiều ý kiến cho rằng không cần thiết vì quy định pháp luật không bắt buộc phải cấp nhà công vụ đối với cán bộ là người địa phương.
Ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam, cho biết Luật Nhà ở có hiệu lực từ năm 2006 đã quy định rõ việc quản lý, bàn giao, thu hồi nhà ở công vụ và ông Nghiên là Chủ tịch UBND TP Hà Nội giai đoạn 1994 – 2004 và bắt đầu thuê căn biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa vào năm 2001, tức là trước khi Luật Nhà ở ra đời.
Ông Hùng nhấn mạnh: “Tuy vậy, dù trong bất cứ giai đoạn nào thì nguyên tắc chung là nhà ở công vụ đều phải trả lại cho nhà nước bởi đây là tài sản được dùng với mục đích công; nếu mua, bán, cho ở thuê, ở nhờ không phải vì mục đích công là đều sai.”
Không đồng tình với việc ông Hoàng Văn Nghiên chần chừ trả nhà công vụ và đòi hỏi TP Hà Nội phải bố trí chỗ ở khi thực tế ông không khó khăn về nhà ở, ông Phạm Sỹ Liêm, nguyên thứ trưởng Bộ Xây Dựng, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội, cho rằng việc ông Nghiên được cấp ngôi biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa để ở theo dạng nhà công vụ và nay được cho thuê lại với giá 459,688 đồng ($22 đô)/tháng là không thỏa đáng. Ông Liêm dẫn chứng hiện biệt thự thì đã được gia đình con trai ông Nghiên sinh sống từ lâu, có nghĩa là ông không hề khó khăn về nhà ở.

Ông Liêm nói, “Việc Hà Nội cấp nhà đất cho ông Nghiên thuê như vậy có khác gì cấp chỗ ở cho con trai ông Nghiên. Mà tại sao lại vừa cấp đất, rồi lại bỏ tiền xây dựng nhà cửa hoành tráng như thế được chứ ?”
Khu đất để xây biệt thự phía Đông hồ Nghĩa Đô là “khu đất vàng” của quận Cầu Giấy, giao thông rất thuận tiện. Khu dự án biệt thự này nằm trên đường Nguyễn Văn Huyên, rộng khoảng 0,4 ha, chỉ xây dựng 19 căn biệt thự với diện tích từ 140-200 m2/căn. Hiện ở đây có 5 căn biệt thự đã xây thô xong, trong đó có 2 căn đang hoàn thiện nội thất. Căn biệt thự diện tích đất 163 m2 được UBND TP Hà Nội dự định mua và cho ông Hoàng Văn Nghiên thuê, sau đó có thể mua lại.
Theo giới kinh doanh địa ốc và người dân địa phương, giá đất ở khu vực này giai đoạn “sốt” là khoảng hơn 200 triệu đồng/m2, hiện nay giảm còn khoảng 130-170 triệu đồng/m2. Như vậy, chỉ riêng với lô đất có diện tích 163 m2 mà UBND TP Hà Nội chấp thuận mua và xây nhà biệt thự để nguyên chủ tịch UBND TP Hà Nội Hoàng Văn Nghiên thuê và có thể mua, có giá bán hơn 27 tỉ đồng. Còn nếu tính cả chi phí xây dựng, có thể lên đến trên dưới 30 tỉ đồng.
Người dân Hà Nội chê ngài cựu chủ tịch tham lam quá đáng nhưng 8 năm nay ngài vẫn tỉnh bơ? Đến nay bị dư luận chê bai, rồi mới chịu trả, đúng là kiểu gặm không trôi phải nhả ra.Tại sao ngay cả UBND Thành Phố cũng lúng túng? Nể nang hay ví chút uy quyền chằng chéo còn sót lại của ngài chủ tịch TP?
Nhà của dân khi cần thu hồi thì làm cái rụp là ra đi liền. Không trả thì cưỡng chế, có thế thôi hà cớ gì phải băn khoăn, họp bàn tới bàn lui cho mất thì giờ. Vậy mà ngài Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng Trịnh Đình Dũng cho rằng cho rằng như thế không phải là tham nhũng. Còn thế nào mới gọi là tham nhũng đây? Chẳng trách tham nhũng cứ cái đà này thì chỉ có thể tham thêm chứ không hy vọng gì bớt.
Hãy nhìn ra nước ngoài
Tổng thống thứ 40 của Mỹ là Ronald Reagan trước khi nghỉ hưu vào năm 1989 đã phải đi tìm nhà ở cho mình. Trước đó ông sống trong dinh thống đốc tiểu bang California khi giữ cương vị này trong nhiều năm.

Còn người tiền nhiệm, tổng thống thứ 39 Jimmy Carter, khi mãn nhiệm đã chuyển về sống tại ngôi nhà mà ông mua trả góp từ năm 1960 khi còn làm cố vấn luật tại hãng chuyên kinh doanh đậu phộng của gia đình và cuối cùng trở thành chủ nhân thực sự của căn nhà.
Tổng thống thứ 42, Bill Clinton, danh tiếng lừng lẫy nhưng, cho đến lúc sắp về hưu không có nhà riêng và hai vợ chồng phải “thắt lưng buộc bụng” để gom đủ $1.7 triệu USD, tính ra tiền Việt vào lúc đó là khoảng 34 tỷ đồng, để mua một ngôi nhà tại thành phố nhỏ Chappaqua, tiểu bang New York.

Còn ở Anh, cứ ông nào lên làm thủ tướng thì dời về số 10 phố Downing ở thủ đô London. Hết nhiệm kỳ hoặc mất chức lập tức phải dọn đi. Có lần, thủ tướng mới dọn đồ về ở trong khi người tiền nhiệm còn đang tất bật chằng buộc chăn đệm, vali chuẩn bị rời đi.

Tội nghiệp các quan ở cơ quan quản lý!
Đó là chuyện ở nước ngoài, càng làm lớn người ta càng minh bạch và luôn đặt lòng tự trọng trước danh dự của mình. Nhìn thấy các quan chức nước người mà chán cho nước mình. Lòng tự trọng đi chơi vắng đâu mất tiêu rồi. Và các cơ quan quản lý nhà quan ở VN cũng mua lấy sự vất vả vào mình, nguyên cái việc chạy đi tìm nhà cho quan về hưu thuê đã mướt mồ hôi rồi còn làm được việc gì nữa. Gặp quan ủng oẳng như ông Nghiên nay chấp thuận nhà này, mai yêu cầu thuê chỗ khác mới chịu ở còn phải “điều đình, trao đổi” toát mồ hôi. Tội nghiệp! Dân è cổ đóng thuế nuôi các quan “vờn” nhau chơi.
Thật ra thì tại khu nhà công vụ của chính phủ ở nhiều nơi cũng đang gặp tình trạng “lùng bùng” như thế. Như khu Hoàng Cầu (ngõ 61 Trần Quang Diệu, quận Đống Đa, Hà Nội), có 59 cán bộ nghỉ hưu ở nhà công vụ, song chỉ 11 người làm thủ tục trả nhà. Thế cho nên dư luận đặt câu hỏi “Còn biết bao ông Nghiên, ông Truyền khác?.”

Đàn anh lì lợm nên đàn em “học hỏi.” Mới nhất lại là chuyện của Phó chủ tịch tỉnh lấn chiếm 400 m2 đất công và mới hơn là chuyện Tướng công an xây biệt thự lụi. Xin kể chuyện quan phó chủ tịch trước.
Vừa mới nghỉ hưu hồi tháng 11-2014 đã lấn chiếm đất công
Ông Hà Hòa Bình, nguyên Phó chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc mới nghỉ hưu từ 1-11-2014 vừa qua đã bị phát hiện lấn chiếm đất công gần 400 m2 và xây dựng biệt thự có tiếng ở Thành Phố Vĩnh Yên.

alt
 Biệt thự của ông Hà Hòa Bình, Phó chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc

Đáng chú ý, tổ công tác cho biết quá trình lập hồ sơ xử lý đã gặp vướng mắc khi có 3 gia đình dân lấn chiếm ra khu vực đất của dự án, gồm: ông Phùng Quốc Huy lấn 27.6 m2; ông Nguyễn Trường Tiến lấn 53.6 m2; ông Hà Hòa Bình lấn 399.2 m2. Trường hợp ông Hà Hòa Bình (khu phố Vĩnh Thịnh 4, phường Tích Sơn) khiến người dân địa phương và chính quyền địa phương chú ý hơn cả, bởi ông Bình là phó chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc vừa mới nghỉ hưu từ ngày 1-11 vừa qua.

Theo xác minh của UBND phường Tích Sơn, trên diện tích lấn chiếm gần 400 m2, gia đình ông Hà Hòa Bình đã cho xây dựng một lầu ngũ giác để ngắm cảnh, một dãy tường gạch kiên cố dài hàng trăm mét, nhiều cây cảnh… Khu nhà có tường gạch xây bao quanh đang trong giai đoạn hoàn thiện dài 112.32 m (cao 1.8m, có 42 trụ cao 2m), 2 trụ cổng có mái lợp ngói,…
Vụ này có nhiều chi tiết lằng nhằng giữa ba anh em ông phó chủ tịch. Nhưng tựu chung vẫn là sự lấn chiếm đất công.

Ông Nguyễn Duy Báu, Phó chủ tịch UBND Tích Sơn tiết lộ: “Khi triển khai dự án thì họ mới lấn chiếm. Do dự án không làm đồng loạt nên có khi họ tổ chức xây dựng lấn chiếm vào buổi trưa, buổi tối nên phường không ngăn chặn được hết.”

Rõ ràng ông Báu đã cố tình che giấu sự thật. Việc ông Bình công khai lấn đất công rồi xây dựng trên đất đã tách thửa rõ ràng là có sự thiếu trách nhiệm từ chính quyền và cơ quan chức năng ở TP Vĩnh Yên. Bởi công trình xây dựng lớn như thế, giữa thanh thiên bạch nhật như thế chứ có phải cây kim cọng chỉ trong bọc đâu mà khó thấy? Cần biết dân TP Vĩnh Yên chỉ cần đổ đống cát, vài trăm viên gạch sửa cái nhà dột cũng đã có cán bộ đến “hốt” ngay. Sau đó ông Bình lại đổ tội cho con trai làm chứ ông không hề biết. Rõ ràng là cả hai ông lớn đều quanh co đổ tội cho con, đúng là thứ chuyện khôi hài ấu trĩ, đáng xấu hổ
Đến tướng công an xây biệt thự lụi
Nguyên giám đốc Công an (vừa nghỉ hưu tháng 9-2014) tỉnh Quảng Nam là Thiếu tướng Phan Như Thạch từ khi đương chức đã xây biệt thự tráng lệ không phép ngay bìa rừng Nam Hải Vân nhưng không bị xử lý rốt ráo làm dân phẫn nộ. Người dân càng phẫn nộ hơn khi nhà của công nhân từng trồng rừng Nam Hải Vân (phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng) và người dân cơi nới thì bị các cơ quan chức năng buộc tháo dỡ, cấm xây dựng.

alt
Toàn cảnh biệt thự xây dựng “lụi” của tướng công an Thạch.

Khu biệt thự “hoành tráng” của tướng Thạch ở đường vào Suối Lương, rộng 17.750 m2. Khuôn viên biệt thự này được xây bờ tường cao vút, bên trong công nhân đang thi công biệt thự, nhà rường, nhà cổ… cùng các kiến trúc khác. Khu vực biệt thự này được thi công nhiều năm nay nhưng vẫn chưa xong. Xe chở đất cát, gỗ, vật liệu xây dựng vẫn liên tục ra vào.
Đại tá Thái Thanh Hùng, đại biểu HĐND TP Đà Nẵng, Chủ tịch Hội Cựu Chiến Binh TP Đà Nẵng, nhận định: “Cái này nếu làm không xin phép thì phải xử lý theo pháp luật.” Ông Hùng cho biết tại khu vực của tướng Thạch xây dựng biệt thự có trường hợp ông Nguyễn Như Tiến chỉ làm nhà tranh thôi nhưng báo, đài lên tiếng rồi bị tháo dỡ. “Ông Tiến làm thế thì bắt tháo dỡ, còn giờ anh làm to thế mà không tháo dỡ.” Cũng theo ông Hùng, cử tri sẽ thắc mắc là họ lấy tiền đâu ra mà xây biệt thự to thế.
Chưa hết, ngoài khu đất biệt thự này, gia đình tướng Thạch mua gom giấy tay nhiều hecta đất lâm nghiệp từ các gia đình dân trồng rừng Nam Hải Vân, nằm gần Hạt kiểm lâm quận Liên Chiểu (thuộc Chi cục kiểm lâm TP Đà Nẵng).

Theo cơ quan chức năng quận Liên Chiểu thì khu đất này gia đình tướng Thạch bán lại cho đại gia tên Quang, chuyên khai thác vàng ở tỉnh Quảng Nam. Hiện khu đất này đã mọc lên một quần thể biệt thự, nhà sàn, nhà rường cổ… cùng các công trình nguy nga khác có giá trên 100 tỉ đồng. Quần thể này cũng bị cơ quan chức năng nhiều lần lập biên bản vì xây không phép, lấn đất rừng đặc dụng Nam Hải Vân.

alt
Khu vực quần thể biệt thự, nhà sàn gỗ của tướng Thạch bán cho đại gia tên Quang.

Tuy nhiên, đến nay quần thể biệt thự đã được xây kín, tường rào bao quanh cao tới khoảng 3 m và bao bọc bởi dây thép gai như biệt phủ. Hiện hằng ngày có hàng chục công nhân cưa xẻ, đục đẽo, xây dựng, xe chở vật liệu nườm nượp ra vào. Cả quần thể biệt thự được xây dựng liên tục nhiều năm nay nhưng vẫn chưa xong, mọc lên tại khu vực dân còn nghèo khó khiến người dân choáng ngợp.

Chủ tịch UBND quận Liên Chiểu, cho biết: “Đã mời tướng Thạch làm việc nhiều lần!” nhưng cũng chẳng giải quyết được gì. Ngoài ra, theo ông phó chủ tịch quận thì vì tướng Thạch là em phó bí thư Đà Nẵng (?!)
Trong khi đó, ông Huỳnh Đức Thắng (Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất quận Liên Chiểu) khẳng định: “Hiện tại các hộ dân tại khu vực đó sử dụng đất nhưng không có hợp đồng giao đất, kể cả ông Thạch. Nếu là đất rừng thì phải cấp, giao đất còn trường hợp này là ông Thạch tự tung tự tác. Không có nhà nào là đất ở hết. Mà cũng không được cấp luôn. Chúng tôi không thể giải quyết cấp sổ được vì ở khu vực đó không có ai có hợp đồng giao đất hết. Đất ở đây từ trước đến nay không chuyển đổi, không cấp phép.”
Bất hợp tác, địa phương bó tay
Ông Nguyễn Xuân Hoài, Đội trưởng Đội Quy tắc đô thị quận Liên Chiểu, thì lắc đầu: “Khi chúng tôi đi kiểm tra nhà ông Thạch, thợ ở trong đó nhiều nhưng kêu cửa không ai mở. Gọi chỉ thấy có chó chạy ra thôi. Phường có lập biên bản, anh em chúng tôi hỗ trợ. Vô kiểm tra, nhà đó xây dựng không phép thì buộc phải tháo dỡ nhưng họ đâu có hợp tác. Họ không đưa bất cứ một giấy tờ gì, mời ổng lên làm việc nhiều lần nhưng cũng không được.”
Câu chuyện dài kiểu “nhân dân tự vận” này vẫn chưa có hồi kết. Chưa biết chính quyền địa phương sẽ giải quyết ra sao khi quan to về hưu nhưng còn vô số quyền hành “ngầm” đứng sau lưng. Thôi thì nhân dân ráng chờ vậy.
Tham nhũng đất đai không còn là chuyện lạ nhưng tham nhũng đất đai kiểu Bình Phước thì quả đúng là lạ, đáng được ghi vào kỉ lục Guiness.
Xà xẻo đất rừng ban phát cho quan chức
Qua hai ba đời chủ tịch, rừng tự nhiên của Bình Phước từ chỗ có tới 127.800ha đã tụt xuống còn 58.600ha hiện nay. Tức lá mất biến luôn quá nửa 69.200ha. Vậy đất “chạy” đi đàng nào?

alt
Ở những lô đất rừng trồng cao su được các quan lấy vẫn còn dấu tích của những cây cổ thụ khi xưa bị chặt bỏ nay chỉ còn trơ gốc. Ảnh chụp tháng 10, 2014 tại rừng phòng hộ Tà Thiết, huyện Lộc Ninh)

Số là, năm bảy năm về trước, lãnh đạo ở địa phương này đã từng có nghị quyết hẳn hoi về việc ban phát đất rừng cho các quan chức cấp tỉnh. Thực chất đó là một sự chia chác, xẻ đất rừng cho cá nhân sử dụng, mà ở đây là rừng phòng hộ Tà Thiết (huyện Lộc Ninh) có vị trí đắc địa về mặt giao thông, nằm ven trục quốc lộ 13, cách thị xã Bình Long không xa. Toàn là những mảnh đất hái ra tiền.
Những ai được ưu ái đặc biệt như vậy?
Xin thưa, họ là những cán bộ cao cấp của tỉnh như viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, trưởng phòng tổ chức – hành chính Văn phòng UBND tỉnh, phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc VN tỉnh, trưởng Ban văn hóa – xã hội HĐND tỉnh, phó chánh Thanh tra tỉnh; là các cán bộ thuộc Tổ chức Tỉnh ủy, Công an tỉnh, Sở Kế hoạch – đầu tư, Sở Nội vụ, Văn phòng UBND tỉnh…

Họ không phải là đối tượng cần đất để mưu sinh như 8000 gia đình dân nghèo rớt mùng tơi của tỉnh đang khát đất như khát nước.
Kỳ lạ hơn, trong danh sách cấp phát còn có cả vợ con của lãnh đạo: vợ quyền chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, vợ giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường, vợ giám đốc, phó giám đốc Sở NN&PTNT, con nguyên chủ tịch UBND tỉnh…

Chả trách, trong vòng 10 năm, qua hai ba đời chủ tịch, rừng tự nhiên của Bình Phước từ chỗ có tới 127.800ha đã tụt xuống còn 58.600ha hiện nay.
Hơn một nửa diện tích rừng đã biến mất. Liệu cái nửa non còn lại còn tồn tại được bao lâu khi mà các vị lãnh đạo địa phương tiếp tục vin vào những “căn cứ pháp lý hai năm rõ mười” và tính “hợp hiến hợp pháp” kỳ lạ theo kiểu “phép vua thua lệ làng” để xà xẻo?

Còn nhiều chuyện “cướp đất kỳ lạ” hơn nữa, kỳ sau tôi tường thuật cùng bạn đọc.

Văn Quang

VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC BẰNG CỬA SAU


Kiện China


Kiện China
1* Mở bài

“Việt Nam đã lách vào vụ kiện Trung Quốc bằng cửa sau” là nhận xét của GS Carl. Thayer, một chuyên viên về Việt Nam người Úc.

Cộng Sản Việt Nam đã tham khảo vụ kiện Trung Cộng với Tổng thống Philippines là Benigno Aquino, và mới đây ngày 23-6-2014, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã ký hiệp định xác nhận tư cách pháp lý của Toà Trọng Tài Thường Trực (The Permanent Court of Arbitration-PCA).

Việc làm nầy được những người binh vực giải thích rằng sẽ mở đường để Việt Nam kiện Trung Cộng trong tương lai. Giải thích nầy không ổn vì về nguyên tắc khi muốn kiện thì chỉ cần đâm đơn vào toà là đủ. Không cần phải trình diễn những màn chuẩn bị, mở đường mở hơi gì cả.

Thật ra những hành động của Việt Nam chỉ rề rà, quanh co câu giờ mục đích tuyên truyền chánh trị để bịp nhân dân, cho rằng Đảng luôn luôn có quyết tâm cao độ trong việc bảo vệ lãnh thổ, chống lại những cáo buộc đã phát sinh trong quần chúng về truyền thống bán nước của đảng CSVN.

Lý do là, đã có biết bao nhiêu lần, biết bao nhiêu năm qua Đảng đã từng bày tỏ lòng trung thành với “người thầy, người đồng chí và người anh em” là Trung Cộng.

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng luôn luôn tuyên bố công khai chính sách nhất quán của Việt Nam, dựa trên cơ sở 4 tốt và 16 chữ vàng, là Việt Nam dứt khoát không đa phương hóa, không quốc tế hoá mà tranh chấp Biển Đông phải được giải quyết song phương.

Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng đã nhiều lần tuyên bố, Việt Nam không dựa vào một nước khác để chống lại Trung Quốc.

Đó là những bằng chứng cho thấy Việt Cộng đã rề rà, câu giờ chỉ để tuyên truyền chính trị mà thôi.
2* Một màn siêu bịp

 

Chủ trương bám biển của đảng
Chủ trương bám biển của đảng

Màn bịp bắt đầu từ ngày 22-5-2014, thủ tướng Việt Nam đã tham khảo vụ kiện Trung Cộng với tổng thống Benigno Aquino của Philipines. Một tháng sau, ngảy 23-6-2014 thứ trưởng ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã ký hiệp định với Tổng thư ký Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA, xác nhận tính cách pháp lý của tòa nầy. Việc xác nhận là dư thừa và vô ích nhưng vì sao mà Việt Cộng đã làm như thế?

Dư thừa. Vì tòa PCA nầy đã hoạt động công khai trên thế giới suốt 115 năm qua. (thành lập năm 1899)

Việt Nam có xác nhận hay không xác nhận, thì bản chất của tòa luôn luôn là như thế. Không có gì biến đổi cả.

Người binh vực thì cho rằng động thái nầy của Việt Nam là dọn đường, mở lối cho Việt Nam kiện Trung Quốc trong tương lai. Về luật pháp, khi muốn kiện thì việc đơn giản nhất là đâm đơn vào tòa là xong, không cần rề rà quanh co dọn đường mở lối gì cả.

GS Carlyle A. Thayer nhận xét hành động của Việt Nam như sau: “Việt Nam đã lách vào vụ kiện Trung Quốc bằng cửa sau”.

Cụm từ “lách”, “bằng cửa sau” chỉ thái độ lòn lách, lén lúc, len lỏi vào một cách không công khai. Có câu, người quân tử đi đại lộ về đại lộ, trái lại, tiểu nhân.

Việt Nam ký hiệp định có nội dung phản bác tất cả những luận điểm của Trung Cộng về vùng biển hình lưỡi bò, thế nhưng không dám chỉ đích danh của quan thầy Trung Cộng.

Tóm lại đó chỉ là một màn kịch được nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng và thực hiện có lớp lang mục đích cho nhân dân biết rằng Đảng luôn luôn dùng mọi phương tiện để bảo vệ tổ quốc, chống lại dư luận phát sinh trong quần chúng về việc bán nước của Đảng.

Ông Carl. Thayer cũng nêu nhận xét như thế, ông nói: “Tuyên bố mục đích xoa dịu những người chỉ trích trong nước. Bản văn không phải là một đơn kiện (Statement of Claim) và được nạp với tư cách không phải là nhân chứng.

Việc đi cửa sau và không chỉ đích danh Trung Cộng chỉ là thái độ ỡm ờ để chừa một con đường rút lui sau nầy, khi không dám đưa đơn kiện Trung Cộng.
3* Chiến thuật câu giờ để tuyên truyền chính trị


Cây đinh và chiếc búa
Cây đinh và chiếc búa

3.1. Kiện dễ ợt

Kiện Trung Cộng là chuyện dễ ợt, đâu có khó khăn gì mà phải rề rà, quanh co câu giờ như thế. Philippines là một nước nhỏ, yếu hơn Việt Nam mà đã đâm đơn kiện Trung Cộng cả năm nay rồi.

Nếu như đỉnh cao trí tuệ trong Bộ Chính trị không có tay nào hiểu biết về luật quốc tế, thì Việt Nam còn cả trăm GS, PGS, TS dạy môn công pháp ở các trường Đại học Luật trong nước, họ có thể thực hiện việc kiện quan thầy bành trướng Bắc Kinh.

Việt Nam có nhiều tiến sĩ hơn cả Nhật Bản, nhưng nếu bằng cấp dỏm, cả nước không có nhân tài thì chỉ cần đăng báo tìm người thì có khối người tài giỏi nhất thế giới xung phong vào làm thuê cho Việt Nam trong dịch vụ nầy.

Philippines đã thuê hai người Mỹ là GS Bernard H. Oxman và LS Foley Hoag, và một người Anh là GS Philippe Sands tham gia vụ kiện.

Một bằng chứng nữa là bản “Thiết kế khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng” do công ty Mỹ Skidmore, Owings & Merrill thực hiện.

Thiết kế nầy đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế như sau:

    Giải Kiến Trúc Đô Thị lần thứ 42 của Tạp Chí Kiến Trúc Tiến Bộ Mỹ, năm 1995.

    Giải Danh dự của Viện Kiến Trúc, năm 1997.

    Giải Danh dự về Quy Hoạch Xuất Sắc của Urban Land Institute, trao tặng năm 2012.

Tóm lại, bất cứ cái gì cần thiết thì chỉ hú lên một tiếng thì có cả khối tài năng quốc tế xin vào làm thuê. Việc kiện Trung Cộng là chuyện nhỏ, nếu thật sự muốn kiện thì không có gì trở ngại và khó khăn cả.

3.2. Tham khảo với Tổng thống Philippines về vụ kiện Trung Cộng

Ngày 22-5-2014, đài RFI dẫn lời của Kyoto News cho biết, trong chuyến công du Manila, Nguyễn Tấn Dũng đã “tham khảo” với Tổng thống Benigno Aquino về vụ kiện Trung Cộng. Ông Dũng cho biết Hà  Nội  theo dõi sát sao vụ  kiện”

3.3.  Ký Hiệp định với Toà Trọng Tài Thường Trực The Hague (Hòa Lan)

Ngày 23-6-2014, một tháng sau khi Nguyễn Tấn Dũng tham khảo vụ kiện, thì Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn ký hiệp định xác nhận tư cách pháp lý của Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA với ông Tổng thư ký của tòa nầy.

Vị giáo sư Đại học Maine, ông Ngô Vĩnh Long, giải thích rằng: “Đó là động thái cần thiết của Việt Nam nhằm tạo cơ sở cho việc kiện Trung Quốc trong tương lai… một bước khởi đầu để Việt Nam kiện Trung Quốc”.

3.4. Việc câu giờ không cần thiết

Việc Hồ Xuân Sơn ký hiệp định xác nhận tư cách pháp lý của toà nầy là dư thừa, tào lao, không cần thiết. Lý do là toà nầy đã được thành lập và hoạt động công khai trên thế giới từ 115 năm nay. (1899-2014). Ai ai cũng biết tư cách pháp lý của tòa nầy, đâu có cần Việt Nam phải xác nhận thì nó có tính cách pháp lý.

CSVN có ký hay không ký hiệp định thì nó vẫn thế. Rõ ràng là một hành động quanh co, giàn giá câu giờ để tuyên truyền chính trị.

Việt Nam không có tư cách pháp lý nào đối với vụ kiện của Philippines khi ký hiệp định nầy.

Không phải là nhân chứng mà cũng không phải là nguyên đơn trong vụ kiện. Nếu cần nhân chứng thì Philippines hoặc tòa  sẽ tống đạt giấy mời, nhưng trường hợp tranh chấp nầy không cần nhân chứng. Tòa chỉ làm trọng tài, căn cứ vào luật mà giải quyết tranh chấp giữa hai bên.
4* Vài nét tổng quát về Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA)


4.1. Tòa Trọng Tài Thường Trực

                            


                             Permanent Court of Arbitration - Cour permanente d'arbitrage.svg http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fb/International_Court_of_Justice.jpg/220px-International_Court_of_Justice.jpg

                         Cung Điện Hòa Bình (The Peace Palace) ở The Hague của Hòa Lan.


Tòa Trọng Tài Thường Trực (The Permanent Court of Arbitration-PCA) là một tổ chức quốc tế có trụ sở tại The Hague (tiếng Pháp. La Haye) Hòa Lan (Netherlands). Tòa được thành lập vào năm 1899 tại Hội Nghị Hòa Bình lần đầu tiên (The first Hague Peace Conference) cùng năm 1899.

Tòa PCA nầy giúp các quốc gia giải quyết các tranh chấp bằng cách hỗ trợ trong việc thành lập các tòa án trọng tài.

Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) khác với Tòa Án Công Lý Quốc Tế (The International Court of Justice-ICJ) vì cả hai cùng có trụ sở chung tại Cung Điện Hòa Bình (The Peace Palace) ở The Hague của Hòa Lan.

Đến tháng 11 năm 2014, Tòa PCA có 116 thành viên, trong đó có Việt Nam.

4.2. Cách tổ chức của toà PCA

Theo nghĩa thông thường thì tòa PCA không phải thuần túy là một tòa án, nhưng nó là một tổ chức hành chánh thường trực, sẵn sàng phục vụ các bên tranh chấp bằng những thủ tục như giúp đỡ các bên đăng ký về trọng tài quốc tế và ngay cả những thủ tục liên quan như về tiền hoa hồng của cuộc điều tra và tiền về chi phí trong công việc hòa giải.

4.3. Điều kiện thụ lý của tòa PCA  

Cả hai bên cùng đồng ý nhờ tòa đứng ra làm trọng tài giải quyết tranh chấp và cam kết sẽ tuân thủ phán quyết của tòa.

Như vậy việc tranh chấp về vùng biển hình lưỡi bò giữa Philippines và Trung Cộng không đủ điều kiện để tòa trọng tài xét xử, vì Trung Cộng không nhờ tòa và cũng không tham gia việc xét xử.

Nguyên tắc chung về giải quyết tranh chấp thì phải có hai bên đồng ý và nhất trí nhờ tòa xét xử thì mới mở hồ sơ xử kiện được. Thông thường thì bên nào cũng tự cho rằng mình là phải, là đúng vì thế mới sanh ra tranh chấp. Tòa đóng vai trọng tài công bằng thì cần phải có hồ sơ của hai bên mới xét xử được. Trung Cộng tuyên bố không tham gia, không gởi đại diện đến tòa, không nạp hồ sơ thì vụ kiện kể như huề.
5* Philippines kiện Trung Cộng ra Tòa Trọng Tài PCA


Philippines muốn đẩy nhanh vụ kiện với Trung Quốc
Philippines muốn đẩy nhanh vụ kiện với Trung Quốc

5.1. Vụ kiện

     


      alt

                Bãi ngầm Scarborough/Hoàng Nham


Ngày 22-1-2013, Bộ Ngoại giao Philippines gởi công hàm đến Sứ quán Trung Cộng ở Manila, tuyên bố Phi khởi kiện Trung Cộng ra Tòa Trọng Tài Thường Trực, liên quan đến việc tranh chấp tài phán hàng hải trên Biển Đông.

Ngày 19-2-2013, Trung Cộng trả lại công hàm của Phi và kèm theo một thông báo cho biết, Trung Cộng khẳng định không chấp nhận và không tham gia vụ kiện. Trung Cộng nêu lý do, theo luật quốc tế thì mỗi quốc gia được tự do lựa chọn phương tiện giải quyết tranh chấp, do đó Trung Cộng không tham gia Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA là đúng theo luật quốc tế, và quyền tự do lựa chọn đó của Trung Cộng phải được tôn trọng.

Ông khựa nầy lập luận cũng có lý và đúng luật. Cho dù Philippines có kiện ở bất cứ tòa nào khác đi nữa, thì ông khựa cứ bổn cũ soạn lại, khư khư nêu một câu như thế thì cũng huề, vì không ai có quyền bắt buộc một quốc gia phải tham gia một tòa nào cả. Tòa mà ông khựa lựa chọn nằm trong vòng bí mật mang số “không không có” (00-NO).

Viễn ảnh của Phi là như thế. Con kiến kiện củ khoai. Trái lại Việt Nam thì càng đen tối hơn bởi vì các đồng chí luôn luôn ca tụng 4 tốt và 16 chữ vàng, cộng thêm biết bao nhiêu lời hứa quyết tâm là chỉ giải quyết song phương thôi.

Quý vị nào cho rằng Việt Nam dọn đường đi kiện Trung Cộng thì coi chừng bị hố to đó.

5.2. Thành phần của tòa PCA trong vụ kiện của Philippines

1). Thành phần của Tòa Trọng Tài Thường Trực

        Các thành viên tòa án trọng tài xét xử vụ Philippines kiện Trung Quốc. Ảnh: Kiện Trung Quốc ra Toà trọng tài thường trực, những lưu ý cho Việt Nam
        Các thành viên tòa án trọng tài xét xử vụ Philippines kiện Trung Quốc. Ảnh: Kiện Trung Quốc ra Toà trọng tài thường trực, những lưu ý cho Việt Nam

              Các thành viên tòa án trọng tài xét xử vụ Philippines kiện Trung Quốc

Chủ tịch: Thẩm phán Thomas A. Mensal.

Các thẩm phán của tòa

    Jean-Pierre Cot

    Stanislaw Pawlak

    Riideger Wolfrum

    Alfred H. A. Soons

2). Đại diện Philippines tại tòa

Các luật sư:

- Francis H. Jardeleza

- Paul S. Reichler

- Foley Hoag (Người Mỹ)

- Bernard H. Oxman (Mỹ)

- Philippe Sands (Người Anh)

3). Đại diện của Trung Cộng.

Không có.

Trung Cộng không gởi đại diện nào cả. Ngày 1-8-2013 Trung Cộng gởi một giác thư đến tòa PCA, khẳng định Trung Cộng quyết định không tham gia tòa PCA, và cho biết lý do là Philippines không có tư cách pháp lý nào trong việc nạp đơn đi kiện họ cả.

Trung Cộng cáo buộc Philippines dã vi phạm nội dung của Bản Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC=Declaration on Conduct of the Parties in the South China Sea) mà Trung Cộng đã ký với tổ chức ASEAN tại Phnom Penh ngày 4-11- 2002 nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8.

Tuyên bố DOC ghi rõ, tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán sẽ được giải quyết thông qua đàm phán và tham vấn hữu nghị giữa các bên liên quan trực tiếp. Nói chung là giải quyết song phương.


6* Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS

UNCLOS
Hiện tại có ba tòa án quốc tế giải quyết về tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải đó là:

    Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA (The Permanent Court of Arbitration-PCA) như đã nói trên.

    Tòa Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice-ICJ)

    Tòa Án Quốc Tế Về Luật Biển ITLOS (The International Tribunal for the Law of the Sea-ITLOS).

Cả ba tòa án quốc tế nêu trên đều dựa theo căn bản pháp lý là Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea-UNCLOS)

6.1. Tổng quát về Công Ước LHQ về Luật Biển

        

         https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcS022_Aqex6GyuLg6WkpG00AiAfm58ZSXPEfYwII14D6EhPkQg_ Tìm hiểu về Luật Biển Việt Nam
Công Ước LHQ về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea-UNCLOS) thành lập năm 1982, có hiệu lực kể từ 16-11-1994.

Các quốc gia công nhận và tự nguyện ký tên, cam kết thi hành, ngoại trừ Hoa Kỳ và một số nước khác. Nói chung, quốc gia không công nhận, không ký tên, không phê chuẩn, thì không cần phải thi hành. Đó là điểm yếu nhất của các Công ước LHQ, vì nó không có tính cưỡng chế, không có biện pháp chế tài.

Những quy định căn bản của Công Ước:

    Lãnh hải quốc gia (Territorial sea): 12 hải lý, nếu có bờ biển rộng.

    Vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous zone) : 24 hải lý tính từ bờ biển trong đất liền

    Vùng Đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone) : 200 hải lý từ bờ biển

    Thềm lục địa (Continental Shelf): 350 hải lý tính từ bờ biển. Ngoài 350 hải lý thuộc về vùng biển quốc tế (International Waters).

6.2. Luật Biển của Vùng Đặc Quyền Kinh Tế (EEZ)

Trong Vùng Đặc Quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone-EEZ), Công Ước Luật Biển có quy định những quyền của các quốc gia như sau:

1). Tự do hàng hải.

Là tàu thuyền dân sự của các quốc gia khác, có quyền lưu thông trong vùng biển cách bờ 200 hải lý.

2). Tự do hàng không và tự do đặt ống dẫn ngầm và dây cáp.

Công Ước LHQ về Luật Biển là căn bản pháp lý của Toà án QT về Luật Biển.

7*

 Trúc Giang MN

Truyện từ Bách khoa :Người lính & nỗi buồn chiến tranh

Trần Hoài Thư – người lính & nỗi buồn chiến tranh- nhân đọc lại “Truyện từ Bách khoa”

Chẳng phải bây giờ tôi mới đọc truyện của Trần Hoài Thư qua mấy tác phẩm anh góp nhặt và in lại từ Văn và Bách khoa. Mà do nhu cầu công tác tôi được kể là ‘chuyên viên đọc’ khi phụ trách về điểm báo và chủ biên tin tức chiến sự cho một cơ quan tư tưởng đầu não của quân đội vào thời cao điểm của cuộc chiến, thì một nhà văn trẻ đầy triển vọng kiêm phóng viên chiến trường chịu lặn lội vùng đồng bằng sông Cửu có bút danh Trần Hoài Thư không thể ra ngoài ‘tầm ngắm’ của chúng tôi.

Tình cờ khi viết bài cảm nghĩ về Những tháng năm cuồng nộ của Khuất Đẩu (đăng trên Da Màu), tôi ước mong tác phẩm được xuất bản ở hải ngoại để quần chúng cùng thưởng thức, thì không ngờ trong một lời bình của độc giả, nhà văn Trần Hoài Thư cho biết Thư Quán Bản Thảo đã làm việc này. Tôi mau mắn gửi mua và được anh tặng thêm cho hai cuốn trong đó có Truyện từ Bách Khoa anh vừa xuất bản (2011). Tôi cứ băn khoăn vì được tặng chứ không mất tiền, dù anh nói chưa quen nhưng có đọc một số bài của tôi.

Đọc xong cứ để đó, thỉnh thoảng tôi lại xem. Định viết cảm nghĩ nhưng thấy nhiều cây bút uy tín trong đó có cả bạn anh đã viết nhiều về anh và khi nhìn lại khối lượng đồ sồ về những tác phẩm anh viết và xuất bản sau thời Bách Khoa cùng công việc anh miệt mài cho sinh hoạt văn học nghệ thuật tại hải ngoại mấy thập niên gần đây mới thấy công trình này đã ‘phủ bóng’ lên những tác phẩm đầu tay của người viết văn kiêm người lính trận năm xưa.

Suy nghĩ như vậy có vẻ lô-gích, nhưng hình như không phải cách nhìn của Trần Hoài Thư, thực sự anh vẫn trân trọng những tác phẩm đầu đời, được viết bằng tâm tư giằng xé và trải nghiệm sinh tử của người lính trẻ, được chắt lọc và hình thành từ những chất liệu sống pha đầy máu, mồ hôi và nứơc mắt của nhiều số phận trong một thời đất nước điêu linh, được lưu lại bằng những trang giấy học trò nhòe nhoẹt nhàu nát ghi vội trên đường hành quân mà nhiều khi bản thảo chưa đến tay chủ biên thì người viết đã được tản thương về một trạm quân y hay một nhà quàn dã chiến một nơi heo hút (trích ý viết trong Lời mở của sách).

Những vốn quí này không thể mua mà có, không thể có rồi dễ quên, không thể quên rồi chối bỏ, mà đã trở thành tư liệu vật thể trong văn học khi những người lính vừa chiến đấu vừa cầm bút để thuật lại những gì họ thấy, họ cảm nhận như những nhân chứng sống để rồi viết lại, chia sẻ với người cùng thời và các thế hệ sau.

Dù cho lịch sử có sang trang, quân đội có tan hàng, lòng người có ly tán, nhưng mãi mãi các tác phẩm văn học trong thời chiến vẫn là những đóng góp và ảnh hưởng nhất định cho ‘hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975’ vốn bị nhà cầm quyền trong nước tìm mọi cách cấm đoán và triệt tiêu từ sau biến cố 30-4 nhưng may mắn thay những người sống sót sau cuộc chiến ở hải ngoại mới đây đã tập hợp, nhìn lại và đánh giá đúng mức qua một cuộc hội thảo văn học vừa qui mô vừa tầm vóc do hai tờ nhật báo lớn của quận Cam và hai diễn đàn văn học mạng uy tín phối hợp tổ chức.

Cũng phải kể những tờ như Bách Khoa, như tờ Văn của một thời Sài gòn vang bóng đã có công tạo sân chơi cho các cây viết triển vọng và các chủ biên giàu lương tâm nghề nghiệp (như Lê Ngộ Châu) đã khích lệ văn nghệ sĩ hãy sống và viết như họ đang sống. Nhiều bài viết nhiều câu chuyện đã thực, sống động đến nỗi lưỡi hái kiểm duyệt của cơ quan thông tin miền Nam phải cắt xén để khỏi dao động tinh thần chiến đấu của binh sĩ.

Môt số truyện ngắn của THT cũng nằm trong trường hợp này, tôi hiểu và không lấy làm lạ ngay trong truyện ngắn đầu tay của anh đăng trên BK ‘đã bị kiểm duyệt bỏ trắng nhiều đoạn’ ngoài ý muốn của tác giả và chủ biên tòa soạn. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, các nhà văn nhà báo họ có một giác quan thứ sáu rất bén nhạy, họ biết chỗ nào sẽ bị cắt và họ vẫn né tránh được lưỡi hái làm hại chữ nghĩa để rồi cuối cùng những gì họ muốn gởi gấm vẫn đến tay bạn đọc.

Quay lại chủ điểm của bài viết, mấy tháng gần đây người ta hay viết và nhắc nhiều đến Trần Hoài Thư, một cây bút được nhiều cảm tình của những người lính cựu, một nhà văn được vị nể của những bạn văn và độc giả yêu văn chương. Tôi phục chị Hải Hà đã mở miệng được anh để có một cuộc trò chuyện khá thú vị. Qua đó tôi mới hiểu về anh nhiều hơn, mới biết một con người vốn chiến đấu can trường chưa đầy ba tháng thương tích hai lần trong đơn vị thám kích của một sư đoàn bộ binh đóng dọc phía đông Trường Sơn lại là người sĩ quan tự đào ngũ để vào quân lao tỏ thái độ phản kháng những phi lý của cuộc chiến tranh mà trước đó dù bị đẩy đưa vào chỗ chết anh vẫn chiến đấu hết mình trong tác phong và trách nhiệm của người lính.

Cũng may là tôi chưa viết về anh vào thời điểm khi đọc xong cuốn sách, chứ chỉ dựa vào văn phong, vào nội dung của từng cốt chuyện, vào nhân vật không gian và thời điểm, vào những gì tác giả muốn gởi gấm, qua cách nhìn bình thường của người điểm sách thì quả là hời hợt khi chưa nắm bắt được tâm tư tác giả, quá trình bản thân, hoàn cảnh sống, môi trường được đào luyện, động cơ sáng tác, những quan hệ bạn bè, những mối tình lớn nhỏ, những vùng đất đi qua, những dấn thân, hy sinh, những thử thách, thành công và thất bại của cuộc đời, nói chung là những chi tiết mà bạn bè bạn văn của anh tình cờ hé lộ qua chân dung đích thực của một nhà văn. Chẳng vậy mà khi muốn phê bình hoặc quảng bá cho một cuốn sách mới ra mắt người ta có thói quen tìm và trò chuyện với tác giả, nhưng chẳng phải dễ khi tiếp cận được những tác giả vừa có tài vừa quá khiêm tốn.

Tôi chưa có dịp gặp anh, nhưng cứ nhìn hình ảnh từ thời áo lính thư sinh qua tấm bìa của sách so với hình hài mai một qua những ký họa lúc về chiều, rồi liên hệ với thực tế cuộc đời, Trần Hoài Thư quả là một con người ‘thép’. Có ai trong chúng ta từ thơ ấu đến tuổi lập thân do tình cờ của số phận đã trải qua trại mồ côi, rồi nhà trường, quân trường, chiến trường, quân lao trước chiến tranh, rồi trại tù cộng sản, nhà tù lớn, trại tỵ nạn trên Biển Đông sau chiến tranh, rồi làm lại từ đầu nơi xứ người cũng bắt đầu từ nhà trường trở thành kỹ sư thảo chương, miệt mài lao động suốt 25 năm cho một công ty hàng đầu của Mỹ. Vừa lao động trí óc vừa lao động chân tay, vừa sáng tác vừa in ấn, vừa biên tập vừa phát hành, bảy mươi vẫn chưa nghỉ, vẫn chẳng hưu và lo cho bản thân, dù thân xác đã ghim đạn của VC và những chứng bệnh kinh niên không hẹn mà gặp lúc tuổi về già.

Tôi cũng có thời mặc áo lính và trải qua 12 năm trong trại tù cộng sản nhưng vẫn ‘chóng mặt’ khi đọc những trải nghiệm của anh, một người lẽ ra phải được thư nhàn thanh thản như cái tên Trần Quí Sách cha mẹ đặt cho rồi Trần Hoài Thư do tự chọn vì yêu và trăn trở với chữ nghĩa.

Tôi đoán là anh cũng muốn yên thân khi chọn cho mình nghiệp nhà giáo (giáo sư toán của một trường trung học đất Tam kỳ, quê của các bạn văn Trần Yên Hòa, Nguyễn Lương Vỵ). Nhưng họ đưa anh vào lính, mà lẽ ra độ mắt cận thị của anh theo luật thì được miễn hoặc hoãn. Anh bị thương hai lần không chết, anh đã sống và tồn tại theo cách riêng của anh.

Đọc những bút ký chiến trường của anh trong Bách Khoa bỗng dưng tôi thấy thương hại anh khi cứ phải mầy mò tìm kính lau kính vì chiếc poncho không đủ kín để che những giọt mưa của của một thời tiết sáng nắng chiều mưa đêm về lội ruộng khi anh đi theo những cánh quân của các đơn vị vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Có lúc người cầm máy cho anh khi chỉ huy chết trên tay anh, toán quân tản lạc vì bị phục kích, anh vẫn mang vết thương rỉ máu băng rừng về được nơi tải thương và các câu chuyện nằm trong quân y viện trở thành những trải nghiệm sống mà ít nhà văn viết được khi chính tác giả là thương binh và đối mặt với những cái phi lý khi các đồng đội của anh phải mất đi một phần thân thể, phế tật hay chuyển xuống nhà xác trước dòng nước mắt tiếc thương của những người vợ trẻ và ánh mắt thơ ngây vô tội của các trẻ thơ. Nỗi buồn chiến tranh làm anh trăn trở từ đây.

Càng thấy những bất công phi lý của chiến tranh anh quay sang tỏ thái độ phản kháng, dù tiêu cực và hệ lụy cho bản thân. Anh muốn làm Hà Thúc Nhân, người bác sĩ quân y chống tham nhũng cùng vào quân lao với anh. Nhân chết, Thư sống. Còn may cho anh lẽ ra từ quân lao phải ra đơn vị tác chiến dưới dạng ‘lao công chiến trường’ nhưng nhờ sự duyệt lại hồ sơ của con ngựa chứng và biết khiếu viết lách của anh, cơ quan tôi đã ‘bốc’ anh về Vùng 4 chiến thuật để làm…‘phóng viên chiến trường’ hết lội suối giờ lội sình để tường thuật và gởi các bản tin sốt dẻo cho các cơ quan báo chí quân đội cấp quân đoàn và trung ương.

Có điều thú vị khi đọc mấy chuyện của anh từ cuốn sách này, ta thấy lẽ ra trong tư cách phóng viên và nhu cầu công tác anh phải tường thuật các cuộc hành quân theo tiến trình (xin phép dùng tiếng Anh) Who, What (and) Where, nhưng vì là nhà văn anh lại đặt nặng theo cảm tính và luôn đào sâu khía cạnh How (and) Why. Anh ghét các con số báo cáo tổn thất địch ta, số vũ khí tịch thu vô tri vô giác, những buổi thuyết trình hành quân buồn tẻ mà lại hay ‘chạy đầu, đi đầu để săn nhặt những hình ảnh sống động’ và quan sát những tình huống bên lề, từ trên trực thăng nhìn xuống, có khi là em bé đang thả diều trong cảnh yên bình của một đồng cỏ xanh chỉ ít giờ sau chỉ còn con diều và cuộn chỉ,

Ngày hôm nay, tôi lại bay qua cánh đồng cỏ cũ. Trời vào hè, nắng vàng rực rỡ, chói lòa cả những áng mây xa. Con tàu như quen thuộc hạ xuống 100 bộ. Tôi không còn thấy em bé thả diều nữa. Chỉ còn cánh đồng cỏ màu vàng sậm mênh mông bát ngát. Tôi nghe một nỗi buồn đến đắng cay đầu lưỡi. Một nỗi buồn tê tái như khi nhớ lại chiếc cặp với trái soài non, những chiếc nắp ken, và con diều, cuộn chỉ vấy máu trên sân trường…(trích bút ký chiến trường Cánh Diều trên đồng cỏ tháng 3/74).

Còn rất nhiều chuyện hay và cảm động, có dịp bạn đọc xin tìm sách của anh để đọc lại như một hoài niệm, để cùng suy nghĩ về trải nghiệm của một nhà văn kiêm phóng viên, do tình cờ của lịch sử và đưa đẩy của số phận trở thành cây viết tài tử trong chiến tranh rồi thành cây bút chuyên nghiệp tài hoa sau chiến tranh.

Tiện đây người viết cũng xin tỏ lòng khâm phục người lính Trần Hoài Thư, chúc anh chân cứng đá mềm lo cho văn học, quên đi nỗi buồn chiến tranh một thời trăn trở. Cũng không quên gởi lời thăm hỏi đến chị Yến hiền thê của anh, một cái bóng phụ nữ nếu không có chị chắc khó đoán cuộc đời ‘con ngựa chứng’ sẽ trôi về đâu. (THT tuổi Ngọ)



Đỗ Xuân Tê

Cali, tháng 12-2014

Mùa Giáng Sinh xưa :Hát tù ca trong Đêm Thánh

Hát tù ca trong Đêm Thánh




Ðứng tựa ban-công trên sân thượng lầu ba một tòa nhà nằm kín đáo trong con hẻm cụt chạy dọc theo bờ tường của ngôi trường trung học mang tên Hoàng Hoa Thám nơi vùng đất Hàng Keo, Gia Ðịnh quê nhà, Hoàng đảo mắt một vòng lên khoảng trời cao rộng trên đầu trước khi hạ tầm mắt ngang hường về đỉnh tháp của ngôi nhà thờ nằm bên con lộ, ngay lối vào hẻm.



Ðó là ngôi nhà thờ địa phương lớn nhất trong vùng anh ở, chỉ kém một chút vẻ bề thế của ngôi nhà thờ cổ kính do người Pháp xây cất không biết từ lúc nào, chắc là xưa lắm, ngay phía sau dãy chợ Bà Chiểu trên đường Bùi Hữu Nghĩa. Ngôi nhà thờ này, với Hoàng, suốt nhiều năm trong thời niên thiếu cho đến tận bây giờ vào tuổi trung niên, vẫn còn là hình ảnh đậm nét, khó phai mờ trong tâm khảm anh, cho dù anh có lưu lạc bất cứ phương trời nào. Thật ra Hoàng chẳng có một chút kỷ niệm nào với ngôi giáo đường này cả. Thậm chí cũng chưa từng bước vào khoảng sân rộng trống trải trước mấy bậc tam cấp dẫn lên thềm tiền sảnh để vào bên trong nhà thờ lần nào. Dễ hiểu vì gia đình anh theo đạo Phật. Tuổi ấu thơ anh vẫn thường theo mẹ hoặc bà ngoại đi lễ chùa vào những dịp mùng Một hoặc Rằm lớn. Còn đi nhà thờ, tất nhiên người trong nhà không có ai trong một lần nào dẫn anh đi cả. Nhưng vì sao anh vẫn giữ mãi trong lòng hình ảnh ngôi nhà thờ Bà Chiểu mà không là một giáo đường nào khác; như nhà thờ Ðức Bà giữa trung tâm Sài Gòn chẳng hạn, chẳng uy nghi tráng lệ hơn sao?… Dĩ nhiên, chỉ có chính Hoàng mới trả lời được điều này. Anh có những lý do rất riêng của mình. Lý do mà chỉ duy nhất có người trong cuộc mới cảm thấu, mới động nỗi lòng riêng.



Tầm mắt Hoàng dừng lại khá lâu nơi vùng ánh sáng rực rỡ tỏa lên quanh ngọn tháp có gắn một cây thập tự trắng vươn lên trời cao của ngôi nhà thờ ngoài đầu ngõ. Nơi khoảng sân phía trước ngôi nhà thờ này, trong đêm nay sẽ có cuộc hành lễ ngoài trời mừng Chúa ra đời. Hoàng biết điều này vì lúc đi ngang qua, nhìn vào thấy một sàn gỗ rộng với bục giảng đã được dựng lên bên cạnh một hang đá lớn có nhiều vòng dây đèn đủ màu nhấp nháy liên tục chung quanh. Chỉ biết vậy thôi chứ Hoàng không có ý nghĩ sẽ tham dự đêm Thánh lễ này. Bởi anh chưa phải là con chiên, mặc dù trong quá khứ, thỉnh thoảng anh có theo chân một vài người bạn Công Giáo dự lễ Chúa Nhật. Thậm chí, có một khoảng thời gian dài trước 75, khi còn tại ngũ, anh vẫn thường xuyên dự lễ Chúa Nhật vì… lỡ có người yêu là một con chiên ngoan đạo. Chiều lòng người yêu, đến giáo đường mãi, lâu dần, một số bài kinh đọc trong khi Linh mục làm lễ Hoàng thuộc lúc nào không hay. Những bài kinh Công Giáo nghĩ mới thật là hay! Ðã thuộc rồi thì dù rất lâu sau nhiều tháng năm không còn có dịp đọc nữa, hoặc ở trong hoàn cảnh nào, cũng không thể quên được. Càng gặp nghịch cảnh khốn cùng, càng rơi vào bi kịch đen tối bao nhiêu càng dễ nhớ đến những lời của Chúa bấy nhiêu. Dường như Chúa không bao giờ bỏ rơi bất cứ ai khi người đó nghĩ tới Ngài. Hoàng có kinh nghiệm bản thân về chuyện này suốt nhiều tháng năm dài trong ngục tù "cải tạo" của cộng sản. Cũng có thể nhờ đó mà tâm hồn Hoàng luôn giữ được sự bình an trong nhiều tình huống đen tối nhất của đời "cải tạo" cho đến ngày về…



- Thưa thầy, tiệc đã dọn xong. Mẹ con mời thầy vào.



Hoàng giật mình quay lại. Cô học trò nhỏ đang vòng tay rất lễ phép trước mặt anh. Một thoáng bối rối vì mắt Hoàng chạm phải ánh mắt thật dịu dàng của một thiếu nữ chừng ngoài hai mươi có gương mặt thật hiền thục và mái tóc thề buông dài quá lưng, đứng sau đứa học trò của mình. Ðó là người cô ruột của học trò anh, mới ngoài Huế vào tuần trước khi anh vừa đến dạy tại đây tròn tháng. Thú thật, ngay từ lúc được cô học trò nhỏ hí hửng giới thiệu với mình người cô mới từ quê nội vào thăm, tâm hồn Hoàng bỗng xao xuyến lạ. Tự dưng trong anh có những mộng mơ bay bổng nhiều đêm liền, không khác chi thời thanh niên gặp người con gái hạp nhãn đầu đời. Từ sau hôm đó, trong những buổi sáng đến dạy, Hoàng nhận ra ngay gian phòng học của cô học trò nhỏ của mình có nhiều thay đổi. Ngoài việc căn phòng nhỏ, cửa sổ trông xuống một khu vườn trồng một vài loại hoa sau nhà, trở nên ngăn nắp hơn, trên bàn học luôn có một lọ hoa tươi, một ly đá chanh, đôi khi là cà phê, đặt sẵn. Chừng như chủ nhà vừa mang ra trước khi Hoàng tới năm ba phút.



Lần đầu Hoàng rất đỗi ngạc nhiên. Nhưng chưa kịp hỏi, cô học trò đã mau mắn khai liền:

“Thưa thầy, o em bảo em mời thầy dùng.”



Sự việc này càng khiến lòng Hoàng vui rộn, anh đâm ra tưởng tượng nhiều hơn. Mà tưởng tượng mơ mộng cũng phải thôi! Ai bảo tuổi trung niên không còn mộng mơ? Nhất là khi người ta còn độc thân.



Hơn nữa, lại vừa trải qua một thời gian quá lâu trong những chốn rừng sâu núi thẳm, ma thiêng cùng cốc, không hề có bóng dáng thiếu nữ, đàn bà. Tình thật, trong những năm bị lưu đày ra miền Bắc, thỉnh thoảng Hoàng cũng có thoáng ngó thấy bóng đàn bà con gái. Nhưng một là mấy ả người thiểu số vai mang gùi, gương mặt bèn bẹt mũi tẹt với dáng đi tất tả, hơi chồm về phía trước. Hai là, không ai khác hơn mấy mụ công an bản mặt sắt đanh, trông lâu thấy chỉ muốn… toẹt vào mặt!



Nhưng, hiện tại thì chênh lệch một trời một vực. Trước mặt Hoàng là một thiếu nữ miền Nam. Chính xác hơn, một người con gái của đất Thần Kinh, của sông Hương núi Ngự mơ màng. Hoàng biết thêm, nàng là con nhà danh giá, có học. Chẳng may do thế cuộc đổi dời bởi vận nước chung, gia đình ly tán và xuống dốc.



Anh ruột, vì là sĩ quan chế độ cũ như Hoàng nên cũng phải đi "học tập cải tạo". Sau vài năm được thả về, đã đưa gia đình vào ở nơi căn nhà hiện tại, do một bà cô "xuất cảnh" sang Pháp để lại. Nhưng cái đám nhà đất và công an quận đã làm khó dễ, chỉ cho phép gia chủ ở mỗi trên tầng ba. Còn hai tầng dưới chúng xẻ ra cho đám người của chúng vào ngang nhiên chiếm ngụ. Riêng ông thân sinh của thiếu nữ, nguyên là một Luật sư, lại dính líu đảng phái, nên cũng không tránh khỏi lên đường học tập “trả nợ máu nhân dân” hết mấy năm…



“Em và cô vào trước đi, thầy sẽ vô ngay.”



Phải mất mười giây Hoàng mới lấy lại được vẻ thư thái nói với đứa học trò nhỏ.

Thiếu nữ khẽ mỉm cười với Hoàng sau cái gật đầu chào. Hai cô cháu nắm tay đi ngược về phía sau, nơi có một gian phòng lớn mà Hoàng biết mọi người đã sẵn sàng vào tiệc. Hoàng nghĩ bụng, thật cho bõ những ngày cải tạo thiếu ăn, thiếu uống! Trong đêm nay, Hoàng đã nhận lời tham dự tiệc hai nơi, đều là chỗ phụ huynh học trò của anh. Chỗ này, tiệc bắt đầu khi trời vừa sụp tối. Còn chỗ kia, lúc mười giờ đêm. Một chỗ vì có chút tâm tình riêng tây. Còn một chỗ vì thâm tình bè bạn. Nên không thể bỏ một nơi nào trong hai.



Lúc Hoàng bước vào mọi người đã vào chỗ. Dường như chỉ có anh là chậm nhất vì mọi người có vẻ như chờ đợi. Anh cúi đầu chào một lượt cả thảy, tỏ ý xin lỗi về sự chậm trễ. Sau vài lời tuyên bố của gia chủ, buổi tiệc được bắt đầu trong sự hoan hỉ vui vẻ của tất cả thực khách. Trước đó, Hoàng được chủ nhà đặc biệt giới thiệu trước khách khứa về “sự ngiệp cải tạo” và nghề nghiệp hiện tại của anh. Có một chút ngượng ngùng nơi Hoàng, nhưng chắc chẳng ai để ý. Gần cuối buổi tiệc, có ý kiến của ai đó trong số thực khách đề nghị nên có văn nghệ bỏ túi giúp vui. Ðứa học trò mang cây đàn guitar đến trao tận tay Hoàng. Em cười rất vui vừa ghé sát tai nói nhỏ một câu đủ để anh nghe: “O Xuân Lan yêu cầu thầy đàn và hát một bài tù ca, được không thầy?”… Hoàng chúa ghét đàn ca hát xướng giữa hoặc sau các buổi tiệc tùng nhậu nhẹt tổ chức tại tư gia. Một phần do người nghe thường trong tư thế no say nghiêng ngửa, không mấy chú ý nghe người chịu khó giúp vui. Phần khác, bản thân người có chút nghề đàn hát vặt vãnh cũng có thể bụng dạ đã đày, tất nhiên cảm thấy mệt, cần nghỉ ngơi. Còn ca hát nỗi gì! Nhưng đã lỡ nhận đàn từ tay học trò; hơn nữa, người yêu cầu Hoàng hát lại là người cô thùy mị khả ái của đứa học trò mà Hoàng trót có cảm tình, nên anh không đủ can đảm thoái thác, từ chối. Vả lại, cũng an ủi và cổ vũ anh được phần nào nhờ chủ đề Tù Ca người yêu cầu muốn nghe. Chẳng giấu gì. Thời gian đầu mới ra tù cho đến nay, rất nhiều lần nhiều lượt, ghé đâu thăm hỏi hàn huyên chuyện mới cũ, y như rằng Hoàng đều được bạn bè thân quen đề nghị hát tù ca nghe chơi. Ừ, nghe chơi thì nghe, Hoàng sẵn sàng đáp ứng ngay chứ tai vách mạch vừng, không phải không nguy hiểm, rất dễ chuốc họa vào thân! Tù bảy, tám năm, quá sức rồi! Vô cớ vì mấy bài tù ca hát lúc hứng chí lại bị “tái bản” chuyện lên đường học tập, nghe ngán tận óc! Dù sao, lúc mới ra tù "hào khí cải tạo" còn chất ngất, nên mỗi khi được hát tù ca, Hoàng hát rất “bốc.” Những người nghe đều bảo rất “đã,” tán thưởng nhiệt liệt.



Sau vài giây trù trừ, Hoàng dạo đàn hát một hơi mấy bài ruột do anh sáng tác từ những năm còn trong trại tù với vài lời mào đầu tạo không khí, đồng thời để mọi người chú tâm.



Trong khi hát Hoàng chẳng chú ý ai. Nhưng khi chấm dứt thanh âm tiếng đàn phụ đệm và lời ca cuối cùng, trong tiếng vỗ tay rào rào của mọi người hiện diện, Hoàng cố dõi mắt tìm bóng người con gái yêu cầu anh hát tù ca. Nhưng chẳng thấy đâu. Thất vọng, bất chợt Hoàng cảm thấy mệt mỏi, chán nản ngang xương. Anh đứng dậy chào mọi người, ngỏ ý xin phép ra ngoài với ý định cáo từ chủ nhà rồi về luôn. Hoàng rời bàn tiệc với cây đàn vẫn còn cầm trong tay. Lúc đến cửa mới sực nhớ đặt trả lại một bên tường. Vừa mở cửa bước ra khoảng hành lang ngắn hẹp dẫn tới cầu thang đi xuống tầng dưới để ra lối sân sau, bất ngờ Hoàng chạm mặt người thiếu nữ yêu cầu anh hát đang đứng một mình. Lần này đến lượt cô gái bối rối, nhưng lại chủ động lên tiếng trước:

“Ủa, sao thầy về sớm ri?”

“A à…xin lỗi, tôi phải về sớm vì có hẹn.”



Hoàng lúng ta lúng túng. Cuối cùng lại nói ra cái lý do phải rời sớm cuộc tiệc một cách dở khẹt. Lỡ nói, Hoàng không có cách chi nấn ná thêm năm ba phút chuyện trò cùng người thiếu nữ mà anh bắt đầu thấy mên mến đi bên cạnh.



“Thầy hát thiệt là hay. Nhất là lời ca. Bữa nào thầy chép và dạy Lan hát, thầy hỉ?”



Hoàng chỉ gật đầu với thiếu nữ trong tư thế hơi né nửa mình cho cô bước qua. Nhưng thiếu nữ lại đề nghị đưa Hoàng ra cổng. Hai người cùng đi xuống, bước ra khoảng sân sau hơi tối, rồi hướng về cổng trước. Một mùi hương dịu dàng, không rõ có phải từ một vài loại hoa kiểng trồng dọc hai bên ven tường hay từ hương tóc thiếu nữ, phảng phất thoảng qua mũi Hoàng, gây cho anh một cảm giác khoan khoái dễ chịu xen lẫn hạnh phúc. Hoàng rời căn nhà với bước chân lâng lâng mang theo ánh mắt long lanh của người thiếu nữ nhìn anh lần cuối khi đưa tay khép chiếc cổng hờ.



Vội về hóa ra lại hơi sớm nếu đi thẳng đến chỗ hẹn cuộc tiệc sau. Còn những nửa giờ hơn. Hoàng tạt vào quán cà phê Phong Lan quen thuộc nơi đầu hẻm, nơi anh vẫn thường xuyên đến uống mọi buổi sáng, trước khi bắt đầu một ngày đi dạy rong. Cô gái chạy bàn thấy anh vào, mấy phút sau mang ngay ra một tách cà phê pha sẵn quen thuộc, bay mùi thơm phức, không chờ anh gọi. Cô ta vốn quá rành cái “gu” duy nhất của Hoàng. Ngồi nhấm nháp ly cà phê, ngắm người qua kẻ lại lũ lượt trên đường trong niềm vui rạng rỡ chuẩn bị đón mừng đêm Chúa ra đời, Hoàng cảm thấy vui lây; cùng lúc nhiều ý tưởng lơ mơ nẩy sinh, ẩn hiện trong đầu anh.


Cuộc tiệc thứ nhì mà anh sắp tới dự, tổ chức tại nhà một người bạn học cũ thời trung học, cùng lớp cùng trường. Chính xác là trường trung học Hồ Ngọc Cẩn ở gần chợ Bà Chiểu.



Tư thất của anh bạn này nằm trên con đường lớn, ngay đầu ngõ dẫn vào xóm nhà Hoàng, trong khu gia binh của tiểu khu Gia Ðịnh trước kia. Từ nơi anh đang ngồi uống cà phê, băng ngang mặt tiền ngôi nhà thờ, đi bộ khoảng năm phút là tới. Người bạn này, trước 1975 là một Chuẩn úy bộ binh. Anh ta chỉ bị học tập tại chỗ mười bữa nửa tháng gì đó chứ không lên đường dài hạn. Sau đó, nhờ gặp được bà vợ giỏi giang, bản thân người bạn này lại khéo ngoại giao xoay xở nên hai vợ chồng “lên” được một cơ sở sản xuất, làm ăn khấm khá. Bản thân Hoàng khi mới "cải tạo" về, do một dịp ghé thăm bạn, người bạn kêu anh làm cho "cơ sở" của anh ta với vai trò "trưởng một ca sản xuất". Nhưng, không lâu sau đó, cũng nhờ người bạn này mà Hoàng ngẫu nhiên đổi nghề. Số là, trong dịp dự sinh nhật trưởng nữ của người bạn, anh ta hỏi Hoàng còn đàn địch gì như hồi còn đi học không. Hoàng trả lời gì gì thì bỏ chứ đàn địch ca hát thì không! Vậy là anh ta bảo đứa con gái mang ngay cây guitar của nó ra, yêu cầu anh đàn hát giúp vui mấy bài. Sau đó, người bạn dề nghị, mỗi ngày sau ca làm việc, anh nán lại một hai giờ để dạy con anh ta đàn và hát. Kế đến, thêm mấy đứa cháu của anh ta đến học. Dĩ nhiên Hoàng được nhận thêm học phí.



Do “nghề lành” đồn xa, dần dà Hoàng nhận được rất nhiều mối dạy tư gia. Thu nhập anh tăng cao, vượt trội hơn hẳn lương công nhân. Thế là anh theo đuổi luôn nghề dạy đàn…bất đắc dĩ, theo kiểu nghề chọn người chứ không phải người chọn nghề!…



Nô-en đêm nay là Giáng Sinh đầu tiên kể từ ngày Hoàng ra khỏi trại tù hồi giữa năm. Anh được bạn mời dự tiệc Réveillon tại "cơ sở sản xuất". Người bạn chờ anh nơi cửa. Thực khách tới trước chắc khá đông vì Hoàng thấy bãi đậu xe trước nhà chật ních. Tất cả đều tập trung nơi sân thượng vì tiệc thết đãi trên đó. Vào tiệc Hoàng không cảm thấy hào hứng, thoải mái lắm. Một phần, trong buổi tiệc trước, dù chỉ ăn uống cầm chừng, nhưng do khoảng thời gian cách nhau quá sít, anh không buồn muốn động đến bất cứ món ăn nào được bày la liệt trên bàn. Phần khác, do đầu óc anh vẫn còn mơ màng đến giọng nói và ánh mắt của người thiếu nữ trong buổi tiệc trước dành cho anh lúc tiễn chân. Vì vậy Hoàng chỉ thỉnh thoảng nhắp chút bia từ chiếc lon đang cầm trong tay để gọi là, và ậm ừ cho có chuyện với một tay thanh niên luôn ba hoa ngồi bên cạnh.



Vào lúc giữa tiệc, hằng loạt sâm-banh được mở nút. Những tiếng “bốc bốc” phát ra do việc khui chiếc nút bấc của chai, kèm theo là những tia bọt rượu trắng tinh vọt trào ra khỏi miệng chai tạo trạng thái hưng phấn, khoái trá cho tất cả thực khách hiện diện. Nhiều tràng cười hể hả thỏa thê vang lên từ nhiều phía. Tự dưng Hoàng cảm thấy lạc lõng. Bất chợt anh nhớ lại nhiều đêm Giáng Sinh, hồi còn ở trong trại "cải tạo" bên bạn đồng tù. Một cảm giác xót xa buồn bã trào dâng lên mắt. Giờ này, không biết các bạn tù còn trong trại, ra sao?…



Giữa lúc Hoàng miên man nghĩ ngợi, tay bạn chủ cơ sở với gương mặt đỏ gay, lù lù bước tới ấn vào người Hoàng cây gui tar: “Nào, xin mời nhạc sĩ giúp vui một bài ca Nô-en đi.”



Hoàng sực tỉnh. Thấy cây đàn, anh hiểu ngay bạn muốn gì. Tay nhận đàn, Hoàng nói ngay, không suy nghĩ: “Ðược. Nhưng mà tôi sẽ hát tù ca!’” Người bạn trợn mắt: “Tù ca? Hát tù ca trong đêm Nô-en?!”… Anh ta tỏ vẻ khoái chí cười ha hả một tràng dài, gật đầu: “Cũng hay. Hấp dẫn đấy!” Rồi vừa vỗ tay vừa giục Hoàng: “Bắt đầu đi, bạn.”



Hoàng ôm đàn vào lòng, rải nhẹ một hợp âm để thẩm định sự chính xác. Một thoáng tich tắc anh nghĩ về những bài tù ca của mình. Rồi anh quyết định chọn ngay một bài có nội dung viết về Sài Gòn, thành phố đang mất tên, để hát. Không giới thiệu dông dài, Hoàng cất ngay lên tiếng hát với tiếng đàn phụ đệm của mình. Giai điệu bài nhạc Hoàng hát có lúc trầm buồn chậm rãi, có lúc nhanh dồn vút cao. Lời ca chất chứa bao nỗi niềm nhớ thương đau xót chen lẫn những điều phủ dụ vỗ về, động viên kêu gọi mọi người hãy gắng vượt qua tai ương quốc nạn, hẹn cùng nhau ngày mai sẽ dựng lại Cờ Vàng, lấy lại tên Sài Gòn cho thủ đô yêu dấu. Khi tiếng hát Hoàng chấm dứt với hơi ngân kéo dài thống thiết, có một khoảng thời gian ngắn, tất cả người nghe lặng thinh trong một bầu không khí dường như có chút nặng nề. Sau đó, lác đác có tiếng vỗ tay rời rạc. Người thanh niên ngồi cạnh buột miệng: “Chú hát thật xuất thần. Nghe bi thiết làm sao!”



Hoàng cảm nhận ngay bài hát của mình không hợp người, hợp cảnh ở đây. Anh uể oải đứng dậy sau khi đưa cây đàn cho người thanh niên mà không cần biết anh ta có chơi được hay không.



Hoàng rời bàn tiệc bước về phía cầu thang, chậm chạp đi xuống. Người bạn ngồi ở đầu bàn hỏi vói: “Về à?” “Không. Mình xuống nhà dưới rửa mặt một chút thôi.” Thực ra Hoàng cũng có ý đó vì lúc hát, do để hết tâm hồn vào lời ca, khi chấm dứt anh cảm thấy xốn xang trong lòng, nước mắt cứ chực ứa ra. Lúc xuống đến bậc thang cuối, Hoàng ngoảnh lại vì nghe có tiếng chân ai đó hơi dồn phía sau lưng mình. Ðó là một người đàn ông trung niên, điệu bộ chững chạc, nhưng hơi cứng. Anh ta chìa tay ra cho Hoàng bắt và nói ngay: “Chào anh. Bài nhạc anh vừa trình bày tuyệt quá!…” Và không chờ để Hoàng kịp nói gì, người đàn ông tiếp ngay: “Nghe nói anh đang dạy đàn cho con anh Ðiện, anh thu xếp cho thằng con tôi cùng học, có được không?” Hoàng ngần ngừ mấy giây: “Ðược thôi. Nhưng anh nói giùm với anh Ðiện một tiếng.” Người đàn ông vui lộ: “Tôi vừa nói với ảnh xong,” rồi bắt tay Hoàng lần thứ hai trước khi quay lui trở lên.

Hoàng chui vào phòng tắm rửa mặt. Nước lạnh làm anh cảm thấy tươi tĩnh dễ chịu, trạng thái u hoài tan biến. Vừa mở cửa bước ra đã thấy người bạn đứng chực sẵn: “Sao? Mệt rồi à? Thấy lâu, tưởng bạn định về luôn nên tớ xuống tiễn.” Lúc vào rửa mặt Hoàng không nghĩ gì cả. Giờ, nghe bạn nói thế, anh gật đầu. Chợt nhớ, anh hỏi luôn: “Cái tay đàn ông vừa hỏi mình cho con anh ta học đàn chung với con bạn, quen với bạn ra sao, làm gì vậy?” Người bạn lấy vẻ nghiêm nghị nhưng giọng trả lời thì không giấu được sự đùa cợt: “Quen ra…tiền chứ chẳng ra…sao đâu! Còn….làm gì hả? Hắn chỉ làm phường trưởng… công an quèn thôi!” Hoàng há hốc. Chúa ôi! Vậy mà anh ta không báo động trước. Dân tù "cải tạo" mới về. Lại còn trong thời hạn "quản chế". Dám giỡn mặt công an sao?!… Tay bạn hiểu ý, phá lên cười ha hả: “Yên tâm. Bạn là bạn của tớ. Hắn không dám đá động tới đâu.” Rồi khoái chí, anh bạn tiếp: “Cái bọn này tớ chỉ dùng cụ Hồ dí vào mồm chúng, kèm theo rượu thịt chè chén nữa là xong hết. ‘Bình an dưới thế’ hết cả nút! Mình hú một tiếng là tới ngay cả lũ trên ấy đấy! Bạn không biết đấy thôi!” Hoàng toát mồ hôi. Người bạn quá chủ quan. Hơn nữa, cái đám ấy chỉ vâng dạ với anh ta chứ với mình thì… Hiểu tâm trạng Hoàng, tay bạn nói: “Thôi, về nghĩ đi. Ngày mai nhớ ghé ăn sáng.”



Lúc đưa Hoàng ra cửa, tay bạn còn chỉ một chiếc Honda “cúp cáu cạnh", dựng nổi bật trước sân, giữa một hàng xe khác: “Xe của anh ta đấy. Nhưng là tiền của tớ! Có thế tớ mới dám bảo đảm cho bạn!”…



Hoàng nhìn đồng hồ tay. Ðã gần 11 giờ. Không biết giờ này lễ nhà thờ có còn không. Nhưng điều này không quan trọng. Anh chưa phải là con chiên. Anh chỉ cần một chút bình an trong tâm hồn lúc này. Hoàng nhớ lại, dường như anh đều mãn nguyện, lấy lại được trạng thái thanh thản mỗi khi có điều phiền muộn, bất an lo lắng trong lòng tìm đến nhà thờ, đứng yên một lúc trước hang đá có tượng Ðức Mẹ Maria. Chỉ là thói quen. Mặc dù tự bản thân, Hoàng không sao lý giải được điều này.



Hát tù ca trong Ðêm Thánh có tội lỗi gì không? Hay Chúa muốn trừng phạt một con người ngoại đạo, xem thường Chúa nên xui cho có một lũ “lu-xi-phe” hiện diện khi mình hát. Nhất định không. Chúa luôn đứng về phía những người chịu khổ nạn và lắng nghe họ gọi Ngài cầu xin. Ngài sẽ dang rộng vòng tay ra đón nhận và che chở. Nhất định vậy. Mà mình là dân tù cải tạo. Không phải là thành phần chịu khổ nạn tột cùng trên quê hương mình hay sao qua bao mùa Giáng Sinh trong ngục tù tăm tối, không được nghe tiếng chuông ngân, không được nghe những bài Thánh ca hát lên từ các thanh niên sáng láng trong ca đoàn, dưới ánh sáng Phúc âm rực rỡ, đẹp như những thiên thần!…



Hồ Hoàng Hạ

Bài Xem Nhiều